Nhiệm vụ nghiên cứu - Tổng quan tình hình nghiên cứu và xác định cơ sở lí luận cho luận án; - Thống kê số lượng từ chỉ màu sắc cơ bản trong một số tác phẩm văn học Anh, văn học Việt Nam
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ PHƯƠNG THẢO
ĐỐI CHIẾU CÁC TỪ NGỮ CHỈ MÀU SẮC TRONG
TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu
Mã số: 9222024
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1 PGS.TS Hà Quang Năng
2 PGS.TS Hoàng Tuyết Minh
HÀ NỘI - 2018
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Hà Quang Năng
Phản biện 1: GS TS Lê Quang Thiêm
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện khoa học xã hội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Màu sắc là một trong những thuộc tính của vật thể tồn tại trong thế giới xung quanh chúng ta mà thị giác con người có thể nhận biết được Màu sắc tồn tại trong thế giới vật chất nhưng lại gắn bó chặt chẽ với đời sống tinh thần của con người, góp phần làm cho cuộc sống trở nên sinh động và tràn đầy sức sống Những màu sắc khác nhau với những ý nghĩa khác nhau đã mang lại những sắc màu phong phú cho cuộc sống
Dù số lượng từ ngữ chỉ màu sắc trong mỗi ngôn ngữ khác nhau, ngôn ngữ có thể hạn chế số lượng từ vựng gọi tên cho màu sắc cụ thể đó nhưng cộng đồng người sử dụng ngôn ngữ đó vẫn nhận ra sự khác biệt
về các loại màu sắc Đặc trưng văn hóa dân tộc được thể hiện rõ nét trong ý nghĩa biểu trưng của các sắc màu trong từng nền văn hóa Ở các quốc gia khác nhau, các nền văn hóa khác nhau, màu sắc cũng thể hiện các ý nghĩa khác nhau Mỗi dân tộc với những bức tranh ý niệm khác nhau sẽ hình thành bức tranh ngôn ngữ thế giới khác nhau và như thế, từ ngữ về màu sắc sẽ không nằm ngoài qui luật chung đó Lớp từ ngữ chỉ màu sắc có số lượng không nhỏ và mang ý nghĩa phong phú, đa dạng và được thể hiện trong nhiều phong cách văn bản, đặc biệt là trong phong cách ngôn ngữ văn chương Vì thế, lớp từ chỉ màu sắc trở thành đối tượng được ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu từ nhiều góc độ, trên nhiều bình diện, nhất là về đặc điểm ngữ nghĩa, tính biểu trưng hay về
đặc điểm tri nhận
Một số công trình đã đề cập đến vấn đề này Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu đối chiếu từ ngữ chỉ màu sắc trong hai ngôn ngữ Anh và ngôn ngữ Việt, tìm ra các nét tương đồng và dị biệt về nhóm từ này trong quá trình nhận thức và biểu đạt các màu trong hai ngôn ngữ
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan tình hình nghiên cứu và xác định cơ sở lí luận cho luận án;
- Thống kê số lượng từ chỉ màu sắc cơ bản trong một số tác phẩm văn học Anh, văn học Việt Nam và từ điển thành ngữ tiếng Anh và tiếng Việt để tìm ra tần số sử dụng của từng màu sắc cơ bản trong hai ngôn ngữ;
Trang 4- Miêu tả và phân tích khả năng tạo từ và đặc điểm ngữ nghĩa của từ, ngữ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt để tìm ra những điểm giống nhau và khác nhau về mặt cấu trúc, ngữ nghĩa trong việc liên
hệ với văn hóa hai dân tộc;
- So sánh, đối chiếu ý nghĩa của từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh
và tiếng Việt thông qua các thành ngữ có chứa từ chỉ màu sắc cơ bản trong mối liên hệ với đặc trưng văn hóa dân tộc của ngôn ngữ và tư duy
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những tính từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt dưới góc nhìn của ngữ nghĩa học
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu là khả năng tạo từ và đặc điểm ngữ nghĩa của
11 tính từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và 9 tính từ chỉ màu sắc
cơ bản trong tiếng Việt dựa trên 1065 lượt từ chỉ màu sắc cơ bản được thống kê từ 950 trích đoạn của 8 tác phẩm văn học Anh, 1189 lượt từ chỉ màu sắc cơ bản được thống kê từ 925 trích đoạn của 11 tác phẩm văn học Việt Nam và 295 thành ngữ tiếng Anh, 339 thành ngữ tiếng Việt được thống kê từ 11 cuốn từ điển thành ngữ tiếng Anh và 9 cuốn từ điển
thành ngữ tiếng Việt
- Luận án cũng tập trung nghiên cứu ý nghĩa biểu trưng của các
thành ngữ có từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt
-Trong luận án, tiếng Anh được sử dụng như là ngôn ngữ cơ sở và tiếng Việt là ngôn ngữ đưa vào đối chiếu, có nghĩa là so sánh đối chiếu
một chiều và theo chiều Anh - Việt
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Phương pháp miêu tả: Phương pháp này được sử dụng để miêu tả khả
năng tạo từ và ngữ nghĩa của các từ chỉ màu sắc cơ bản
- Phương pháp phân tích thành tố nghĩa: Phương pháp này được sử
dụng nhằm phân tích các đặc điểm ngữ nghĩa các từ chỉ màu sắc cơ bản cũng như ý nghĩa biểu trưng của chúng được thể hiện trong các thành ngữ tiếng Anh và tiếng Việt nhằm tìm ra các nét nghĩa của các từ ngữ này xuất hiện trong hai ngôn ngữ
- Phương pháp so sánh đối chiếu: Đây là một phương pháp được
sử dụng để tìm ra những tương đồng và dị biệt trong ngôn ngữ và văn hóa, tư duy của người Anh và người Việt thông qua các từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt
- Thủ pháp thống kê, phân loại: Mục đích của phương pháp này
nhằm thống kê và phân loại các từ chỉ màu sắc cơ bản trong từ điển tiếng Anh và tiếng Việt để làm tư liệu cho việc nghiên cứu
Trang 55 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án là công trình nghiên cứu có hệ thống và chuyên sâu về từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Anh và tiếng Việt dưới góc nhìn của ngữ nghĩa học
6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án đóng góp cho công tác nghiên cứu ngôn ngữ, công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu của giáo viên và học viên, đồng thời phục vụ cho công tác dịch thuật của các nhà biên, phiên dịch cũng như công tác biên soạn từ điển Anh- Việt, Việt- Anh
7 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án được triển khai trong 3 chương:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận
Chương 2 Đối chiếu khả năng tạo từ và ngữ nghĩa của các từ chỉ màu sắc cơ bản và từ chỉ màu phái sinh trong tiếng Anh và tiếng Việt
Chương 3 Đối chiếu ngữ nghĩa của thành ngữ có chứa từ ngữ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Anh
Lịch sử nghiên cứu về các từ chỉ màu sắc đã phát triển qua ba giai đoạn chính: giai đoạn đối đầu của hai trường phái Tương đối (Sapir-Whorf,1921-1956) và Phổ niệm (Berlin & Kay,1969) Giai đoạn hậu Berlin & Kay với những tranh luận phê phán Berlin & Kay và ủng hộ Berlin & Kay Giai đoạn hiện nay là những hướng nghiên cứu từ ngữ chỉ màu sắc theo tri nhận luận, kinh nghiệm luận và văn hóa luận Từ trước đến nay, các từ chỉ màu sắc được xem là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều ngành khoa học như Vật lí học, Tâm lí học và đặc biệt là Ngôn
ngữ học
Trang 6Các nghiên cứu về màu sắc trên phương diện Tâm lí học: nội
dung cơ bản của các nghiên cứu về các từ chỉ màu sắc là đưa ra những giả thuyết tâm sinh lí học về sự khác biệt trong văn hóa qua việc nhìn thấy và gọi tên màu sắc và xem xét những khía cạnh phổ quát trong việc tìm hiểu việc mã hóa các màu sắc…
Tác giả Hardin (2005) trong bài báo Explaining basic color
catergories (giải thích các loại từ chỉ màu sắc cơ bản) in trong tạp chí Nghiên cứu đa văn hóa đã khảo sát một số nhóm minh chứng cho thấy
sự gắn kết chặt chẽ giữa các cơ chế cảm nhận màu sắc, các màu cơ bản theo cảm quan và việc đặt tên các màu cơ bản Tuy nhiên, những câu hỏi quan trọng vẫn tồn tại liên quan đến các thuộc tính chung của con người
về nhận thức màu sắc và sự phát triển và cấu trúc của các loại màu cơ bản đa văn hóa
Nghiên cứu về màu sắc trên phương diện Vật lý học: Trong bài
viết Colour categories are not universal: Replications and new evidence
from a stone-age culture, các tác giả Roberson, Davies, and Davidoff
(2000) đã tìm cách tái tạo và mở rộng công trình của Heider (1972) với việc so sánh người Papua, New Guinea, những người nói tiếng Berinmo
mà ngôn ngữ của họ chỉ có 5 thuật ngữ cơ bản chỉ màu Việc xác định tên và bộ nhớ cho các kích thích vật lí và phi vật lí với độ bão hòa thấp
đã được khảo sát Họ đã tìm ra việc các màu đã bão hòa bị ảnh hưởng bởi nhóm từ vựng màu Các hiệu ứng nhận thức phân loại đối với cả tiếng Anh và Berinmo đã được tìm thấy, nhưng chỉ ở ranh giới của các thể loại ngôn ngữ hiện có
Nghiên cứu về màu sắc dưới góc độ Văn hóa học: Trong công
trình đồ sộ Dictionnaire des symboles: mythes, rêves, coutumes, gestes,
formes, figures, couleurs, nombres (Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới), với phụ đề “Các huyền thoại, chiêm mộng, phong tục, cử chỉ, dạng thể, các hình, màu sắc, con số” Chevalier và Gheerbrant (1997) đã trình
bày khá chi tiết về biểu tượng màu sắc của các nước trên thế giới Các từ chỉ màu sắc trong cuốn từ điển này đã được các tác giả miêu tả bao quát được nhiều khu vực văn hóa trên thế giới liên quan đến các phương tiện Dân tộc học, Xã hội học, Tâm lí học, Thần thoại học, Tôn giáo học
Nghiên cứu về màu sắc dưới góc độ Ngôn ngữ học: từ năm
1969, hai nhà nghiên cứu Berlin & Kay của Trường đại học California ở Berkerly đã tiến hành nghiên cứu tổng kết toàn bộ tư liệu, kinh nghiệm
về từ ngữ chỉ màu sắc của các dân tộc khác nhau trên thế giới Berlin &
Kay đã xác lập “phương pháp giai đoạn tiến hóa đối với sự xuất hiện
những từ ngữ chỉ màu sắc” Công trình của Lakoff (1987) cũng ủng hộ
quan điểm của Berlin & Kay với tiêu đề “Women, fire and dangerous
things” (Đàn bà, lửa và những thứ nguy hiểm) Cùng quan điểm với
Trang 7Berlin & Kay, Kovecses (1986) đã khẳng định: Trong miền ngữ nghĩa của các từ chỉ màu sắc có những điểm trung tâm hơn và các thuật ngữ
chỉ các điểm trung tâm này được gọi là các từ chỉ màu cơ sở Năm 1978,
Kay và Chad đã đặt vấn đề và nghiên cứu khả năng tri nhận sắc thái về màu sắc
Tiếp theo hướng này, tác giả Quinion (1996 đã nghiên cứu từ ngữ chỉ màu sắc tiếng Anh bằng phương pháp từ nguyên học Nghiên cứu của hai tác giả Soriano và Valenzuela (2009 đã khám phá ra các lí do tại sao các từ màu sắc và từ biểu đạt cảm xúc thường liên quan đến các ngôn ngữ khác nhau trên thế giới
Sau giai đoạn này, một số các công trình nghiên cứu dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận hoặc liên ngành ngôn ngữ học tâm lí đã đưa ra các hướng giải quyết vấn đề về những đặc điểm chung trong việc gọi tên màu sắc như công trình của Kay và Regier (1997), hoặc những điểm phổ quát trong tri nhận màu sắc của Wierzbicka (1989), Lucy (1997), Lindsey, & Brown (2004)
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Việt
Các nghiên cứu về từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt chủ yếu tập trung
trên phương diện ngôn ngữ học Các nghiên cứu về từ chỉ màu sắc tập
trung nhiều ở bình diện cấu trúc luận, chủ yếu tiếp cận về cấu trúc
nghĩa, đặc điểm cấu tạo, đặc điểm ngữ nghĩa của từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt như công trình của Đào Thản (1993), Biện Minh Điền (2000), Nguyễn Thị Thành Thắng (2001), Phạm Văn Tình (2004), Lê Thị Vy (2006); Hà Thị Thu Hoài (2006), Trịnh Thị Thu Hiền (2015)…
Cũng có một số công trình (các luận án, luận văn thạc sĩ) đi sâu nghiên cứu kĩ hơn về về các từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Việt như
luận án của Chu Bích Thu (1996); Nguyễn Khánh Hà (1995); Trịnh Thị Minh Hương (1999)
Các nghiên cứu về từ chỉ màu sắc theo hướng tiếp cận so sánh, đối chiếu giữa hai ngôn ngữ, có thể kể đến một số công trình của các tác giả
như: Hoàng Văn Hành (1982); Trần Thị Thu Huyền (2001); Bùi Thị Thùy Phương (2004)
sử dụng quan điểm của A S Hornby làm cơ sở cho luận án “Từ là một
đơn vị của ngôn ngữ có nghĩa và có thể được sử dụng để nói hoặc viết”
(Hornby A S., 2005, tr.1695) Trong tiếng Việt, chúng tôi sử dụng quan
điểm của Đỗ Hữu Châu Theo ông, “Từ của tiếng Việt là một hoặc một
Trang 8số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt.” (Đỗ Hữu Châu, 2005, tr.471)
1.2.1.2 Phương thức cấu tạo từ
Khi nghiên cứu đặc điểm cấu tạo tiếng Anh và tiếng Việt, một điểm đáng chú ý đó là tiếng Anh là một ngôn ngữ phi đơn lập còn tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập Sự khác biệt này đã khiến cho tiếng Anh và tiếng Việt có những cách cấu tạo từ không giống nhau Nói cách khác tiếng Anh có phương thức tạo từ mà tiếng Việt, một ngôn ngữ đơn lập, không có, ngược lại tiếng Việt có một số cách cấu tạo từ mà tiếng Anh không thể nào có được
1.2.2 Nghĩa của từ
1.2.2.1 Khái niệm về nghĩa từ vựng của từ
Theo tác giả Goddard C và Wierzbicka A (2014), ngữ nghĩa cũng được xem như một thành phần của ngôn ngữ học hơn là một quan điểm về ngôn ngữ và ngôn ngữ học Tuy nhiên, ý nghĩa chính là tất cả những gì ngôn ngữ diễn đạt Đối với hầu hết người dùng ngôn ngữ,
người nói và người nghe, nhà văn và người đọc - từ là luôn luôn “sống”
(alive) và "xanh" (green), trong khi các hình thức, biểu tượng và các công thức trừu tượng có thể dần dần mất đi hoặc không được dùng nữa
Các nhà Việt ngữ học có nhiều quan điểm và định nghĩa khác nhau về nghĩa của từ Tuy nhiên, có thể chia thành 3 nhóm như sau: (i) Quan niệm thứ nhất coi nghĩa của từ là một bản thể nào đó (ii) Quan niệm thứ hai coi nghĩa của từ là một quan hệ nào đó
(iii) Quan niệm thứ ba coi nghĩa của từ là một thực thể tinh thần
1.2.2.2 Các thành phần nghĩa của từ
Khi đưa ra hình tháp nghĩa hình học không gian, Đỗ Hữu Châu (2005) đã chỉ ra mối quan hệ giữa từ và các nhân tố góp phần hình thành
ý nghĩa Tác giả nhấn mạnh từ mối quan hệ giữa từ và sự vật hình thành
ý nghĩa biểu vật, từ mối quan hệ của từ với khái niệm sẽ hình thành các
ý nghĩa biểu niệm, từ mối quan hệ với nhân tố người dùng hình thành các ý nghĩa phong cách và liên hội, từ mối quan hệ với cấu trúc của ngôn ngữ với các từ khác sẽ hình thành các ý nghĩa, cấu trúc và quan hệ giữa
ý nghĩa với các thành phần hình thức mà hình thành các ý nghĩa cấu tạo
từ, các ý nghĩa ngữ pháp Từ sự phân định trên của tác giả Đỗ Hữu Châu, ta thấy có hai thành phần nghĩa lớn là ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp Trong đó, ý nghĩa từ vựng là ý nghĩa của riêng từng từ, còn ý nghĩa ngữ pháp là ý nghĩa mang tính đồng loạt chung cho nhiều từ
1.2.2.3 Cấu trúc nghĩa của từ
Trang 9Ngữ nghĩa học hiện đại coi ý nghĩa của từ lập thành một cấu trúc, bao gồm một số nét nghĩa (nghĩa vị) được kết hợp với nhau theo quy tắc nhất định, chi phối và quyết định lẫn nhau
1.2.2.4 Hiện tượng chuyển nghĩa của từ
Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: Để có thể phản ánh được cái vô hạn
và không ngừng phát triển của các sự vật trong đời sống cũng như sự phát triển của nhận thức con người, ngoài việc xuất hiện các từ mới với nội dung và hình thức hoàn toàn mới, sự xuất hiện các nghĩa chuyển là cách tiết kiệm nhất của ngôn ngữ để phản ánh sự phát triển không ngừng của thế giới khách quan, đời sống và nhận thức của con người Theo nghĩa hẹp, chuyển nghĩa là kết quả của hiện tượng sử dụng từ theo ẩn dụ
và hoán dụ (Nguyễn Thiện Giáp, 2010, tr.139)
1.2.3 Từ chỉ màu sắc trong tiếng Anh và tiếng Việt
1.2.3.1 Khái niệm về từ chỉ màu sắc
Từ điển Bách khoa toàn thư Oxford Learner’s Advanced
Encyclopedic định nghĩa: Màu sắc là đặc tính có thể nhìn thấy của các
sự vật được tạo ra bởi các tia sáng hoặc các bước sóng khác nhau bị
phản xạ lại Đào Thản coi “Màu sắc là một thuộc tính của vật thể, tồn tại
một cách khách quan trong thế giới vật chất, mà thị giác con người có thể nhận biết được” (Đào Thản, 1993, tr.11-15)
1.2.3.2 Phân loại từ chỉ màu sắc
Từ chỉ màu sắc được chia thành 3 nhóm: Nhóm từ chỉ màu cơ bản, nhóm từ chỉ màu phái sinh và nhóm từ chỉ màu cụ thể
1.2.4 Văn hóa và mối quan hệ giữa văn hóa, ngôn ngữ và tư duy
1.2.4.1 Khái niệm về văn hóa
Trần Ngọc Thêm cho rằng văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình (Trần Ngọc Thêm, 2000, tr.25)
1.2.4.2 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa
Hầu hết các nhà khoa học đều thừa nhận rằng có một mối quan hệ chặt chẽ giữa ngôn ngữ và văn hóa, giữa ngôn ngữ dân tộc và văn hóa dân tộc Các phạm vi của văn hóa và ngôn ngữ gắn bó với nhau Là một
bộ phận của văn hóa dân tộc nhưng ngôn ngữ lại phục vụ cho tất cả mọi tầng lớp, mọi giai cấp khác nhau trong xã hội
1.2.5 Nghiên cứu đối chiếu từ vựng, ngữ nghĩa
1.2.5.1 Khái niệm về ngôn ngữ học đối chiếu
Ngôn ngữ học đối chiếu là một trong những phân ngành ngôn ngữ học có tính ứng dụng cao nhất, thể hiện trên nhiều phương diện Nó vừa liên quan mật thiết đến những vấn đề lí thuyết quan trọng, vừa gắn chặt với những ứng dụng thực tiễn, rất gần gũi với đời sống hàng ngày
Trang 101.2.5.2 Nguyên tắc đối chiếu
Theo Bùi Mạnh Hùng (2008, tr.131-136), trong quá trình nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ cần tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau: (i) Đảm bảo các phương tiện trong hai ngôn ngữ đối chiếu phải được miêu tả một cách đầy đủ, chính xác và sâu sắc; (ii) Việc nghiên cứu đối chiếu không thể chỉ chú ý đến các phương tiện ngôn ngữ một cách tách biệt mà phải đặt trong hệ thống; (iii) Phải xem xét các phương tiện đối chiếu không chỉ trong hệ thống ngôn ngữ mà còn trong hoạt động giao tiếp; (iv) Phải đảm bảo tính nhất quán trong việc vận dụng các khái niệm
và mô hình lí thuyết để miêu tả các ngôn ngữ được đối chiếu (v) Phải tính đến mức độ gần gũi về loại hình giữa các ngôn ngữ cần đối chiếu
1.2.5.3 Phạm vi đối chiếu
Về mặt lí thuyết, theo Bùi Mạnh Hùng (2008, tr.150), căn cứ vào phạm vi đối chiếu người ta phân biệt đối chiếu hệ thống và đối chiếu bộ phận Đối chiếu hệ thống là đối chiếu tổng thể hai ngôn ngữ với nhau Còn đối chiếu bộ phận là đối chiếu các đơn vị, phạm trù, hiện tượng cụ thể của hai ngôn ngữ
Chương 2 ĐỐI CHIẾU KHẢ NĂNG TẠO TỪ VÀ NGỮ NGHĨA CỦA TỪ CHỈ MÀU SẮC CƠ BẢN TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 2.1 Khảo sát tần số xuất hiện của các từ chỉ màu sắc tiếng Anh và tiếng Việt trong tác phẩm văn học Anh và văn học Việt Nam
Luận án sử dụng 8 tác phẩm văn học Anh và 11 tác phẩm văn học Việt Nam qua các thời kì và thống kê được 950 đơn vị có chứa 1065 lượt từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và 925 đơn vị có chứa 1189 lượt từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Việt Sau khi thống kê, chúng tôi
có các bảng số liệu và tần số xuất hiện của các từ theo tỉ lệ phần trăm được thể hiện ở bảng 2.1 dưới đây (tỷ lệ đã được làm tròn, đến hàng đơn vị)
Bảng 2.1 Tần số xuất hiện của các từ chỉ màu sắc cơ bản trong các
Trang 119 Pink (hồng) 58/1065 5%
Bảng 2.1 cho thấy trong tiếng Anh, trong tổng số 11 màu cơ bản,
màu trắng là màu được sử dụng nhiều nhất, chiếm tới 23%, đứng thứ hai
là màu đen 21% và sau đó là màu đỏ 13%, ba màu này có tần số sử dụng nhiều nhất chiếm tới 57% Trong khi đó cả 3 màu tím, cam và xám mới đạt được 8% tần số sử dụng
Bảng 2.2 Tần số xuất hiện của các từ chỉ màu sắc cơ bản trong các
tác phẩm văn học Việt Nam
Bảng 2.2 cho thấy trong tiếng Việt, trong tổng số 9 màu cơ bản,
màu đen và đỏ là màu được sử dụng nhiều nhất, chiếm tới 40%, đứng thứ hai là màu trắng và xanh chiếm 32%, màu vàng đứng thứ 3 chiếm 15% Cả 4 màu nâu, tím, hồng và xám chỉ chiếm 13% tần số sử dụng
trong các tác phẩm văn học Việt Nam đã được thống kê
Trong luận án, chúng tôi không tính đến các từ Hán-Việt đồng nghĩa
với các từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Việt như “bạch”, “hắc”,
2.2.1 Khả năng tạo từ của từ chỉ màu sắc trong tiếng Anh
Tiếng Anh mang những đặc điểm của một ngôn ngữ biến hình và
có các phương thức tạo từ như phương thức thêm phụ tố (affixation), ví
dụ: white → whitish; phương thức chuyển loại (conversion), ví dụ: to
drink → a drink, phương thức ghép (compounding), ví dụ: schoolgirl và
một số phương thức khác như phương thức viết tắt (shortening), phương
Trang 12thức rút ngắn (clipping), phương thức viết tắt (acronym) Tiếng Anh
cũng sử dụng phương thức láy âm (alliteration) như ping pong (bóng bàn) và láy vần (rhyme) như drain brain (chảy máu chất xám), hurry-
scurry (hối hả, bận rộn)… nhưng để tạo nên các từ chỉ màu sắc, theo
nghiên cứu của chúng tôi, tiếng Anh sử dụng các 2 phương thức: phương thức phụ tố (tiền tố) và phương thức ghép nên luận án chỉ miêu tả và phân tích các phương thức này làm cơ sở lí luận cho luận án
2.2.2 Khả năng tạo từ của từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt
Hai phương thức cấu tạo từ trong tiếng Việt là phương thức láy và phương thức ghép Luận án đã miêu tả phân tích khả năng tạo từ của từng màu sắc cơ bản trong tiếng Việt
2.2.3 Đối chiếu khả năng tạo từ của từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt
Bảng 2.3 Từ chỉ màu phái sinh được tạo ra theo các phương thức
Phương thức thêm
hậu tố
Láy toàn bộ
và biến đổi/giữ nguyên thanh điệu
Láy âm hoặc láy vần
1 White/ trắng Whitish (hơi trắng),
whiten (làm trắng, sơn trắng), whiteness (sắc trắng, màu trắng)
Trăng trắng Trắng
trẻo
2 Black/đen Blackish (hơi đen, đen
đen), blacken (làm đen, bôi đen), blackness (bóng tối, màu đen)
Đen đen Đen đúa,
đen đủi
3 Red/ đỏ Reddish (hơi đỏ, đo
đỏ), redden (làm cho đỏ), redness (sắc đỏ, màu đỏ)
đỏ đọc
4 Green/xanh Greenish, greeny (hơi
xanh), greenness (màu xanh, màu lục)
Xanh xanh Xanh
xao
5 Yellow/vàng Yellowish, yellowy
(hơi vàng), yellowness (màu vàng)
Vàng vàng Vàng vọt
6 Brown/nâu Brownish, browny (hơi
nâu), browness (màu
Nâu nâu
Trang 138 Purple/tím Purplish, purply (hơi
tím), purpleness (sắc tím, màu tím)
Tim tím Tím lịm
9 Pink/hồng Pinkish (hơi hồng,
hồng hồng), pinkness (sắc hồng, màu hồng)
Xam xám Xám xịt
Bảng 2.4 Các nhóm từ ngữ chỉ màu sắc được tạo ra theo phương thức
ghép trong tiếng Anh và tiếng Việt
1
từ chỉ màu cơ bản + từ chỉ
màu cơ bản, ví dụ: green
blue (màu xanh lục đậm),
green yellow (màu vàng
lục)…
từ chỉ màu cơ bản + từ chỉ màu cơ
bản, ví dụ: xanh đen, tím đỏ…
2
từ chỉ màu cơ bản + hậu tố y
hoặc ish + từ chỉ màu cơ bản,
ví dụ: yellowy red (đỏ hơi
màu cơ bản, ví dụ: grass
green (màu cỏ), moss green
colour (màu hoa đào), peach
coloured (màu hoa đào)…
“Màu” + vật đại diện, ví dụ: Màu
nõn chuối, màu cánh sen…
tượng,… ,eg tím chết, vàng