1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đối chiếu các từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng anh và tiếng việt

168 1,6K 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 168
Dung lượng 1,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

chỉ màu sắc trong tiếng Anh và tiếng Việt để nghiên cứu với hi vọng sẽ có thể đưa ra những kiến giải có tính chất gợi mở, tìm hiểu kĩ về khả năng tạo từ và ngữ nghĩa của các từ chỉ màu s

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ PHƯƠNG THẢO

ĐỐI CHIẾU CÁC TỪ NGỮ CHỈ MÀU SẮC TRONG

TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu

Mã số: 9222024

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

1 PGS.TS Hà Quang Năng

2 PGS.TS Hoàng Tuyết Minh

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép của ai Các kết quả khảo sát và miêu tả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Lê Phương Thảo

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 6

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 6 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 6

1.1.1 Tình hình nghiên cứu về từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Anh 6

1.1.2 Tình hình nghiên cứu về từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Việt 9

1.2 Cơ sở lí luận 11

1.2.1 Khái niệm về từ 12

1.2.2 Nghĩa của từ 15

1.2.3 Từ chỉ màu sắc trong tiếng Anh và tiếng Việt 28

1.2.4 Văn hóa và mối quan hệ giữa văn hóa, ngôn ngữ và tư duy 35

1.2.5 Nghiên cứu đối chiếu từ vựng, ngữ nghĩa 42

CHƯƠNG 2

ĐỐI CHIẾU KHẢ NĂNG TẠO TỪ VÀ NGỮ NGHĨA CỦA TỪ CHỈ MÀU SẮC CƠ BẢN TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 46

2.1 Khảo sát tần số xuất hiện của các từ chỉ màu sắc tiếng Anh và tiếng Việt trong tác phẩm văn học Anh và văn học Việt Nam 46

2.2 Khả năng tạo từ của từ chỉ màu sắc trong tiếng Anh và tiếng Việt 48

2.2.1 Khả năng tạo từ của từ chỉ màu sắc trong tiếng anh 48

2.2.2 Khả năng tạo từ của từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt 53

2.2.3 Đối chiếu khả năng tạo từ của từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt 60

2.3 Đặc điểm ngữ nghĩa của các từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt 64

2.3.1 Thống kê các tính từ chỉ màu cơ bản và các tính từ phái sinh từ màu sắc cơ bản 65

Trang 4

2.3.2 Đối chiếu ngữ nghĩa của các tính từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt 69

CHƯƠNG 3 93

ĐỐI CHIẾU CÁC THÀNH NGỮ CÓ TỪ CHỈ MÀU SẮC CƠ BẢN TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 93

3.1 Khái niệm về thành ngữ 94

3.1.1 Quan niệm về thành ngữ trong tiếng Anh 94

3.2 Ngữ nghĩa của các thành ngữ có từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt 95

3.2.1 Ngữ nghĩa của các thành ngữ có từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh 95 3.2.2 Ngữ nghĩa của các thành ngữ có từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Việt 115

3.3 Đối chiếu ngữ nghĩa của các thành ngữ có từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt 128

3.3.1 Những điểm tương đồng về ngữ nghĩa của thành ngữ có từ chỉ màu sắc trong tiếng Anh và tiếng Việt 136 3.3.2 Những điểm khác biệt về ngữ nghĩa của thành ngữ có từ chỉ màu cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt 139

KẾT LUẬN 147

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 151

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CÓ NỘI DUNG LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 163

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH

Bảng 1.1 Một số ứng dụng của Ngũ hành 33

Bảng 1.2 Từ chỉ màu cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt 34

Bảng 2.1 Tần số xuất hiện của các từ chỉ màu sắc cơ bản trong cáctác phẩm văn học Anh 47

Bảng 2.2 Tần số xuất hiện của các từ chỉ màu sắc cơ bản trong cáctác phẩm văn học Việt Nam 47

Bảng 2.3 Từ chỉ màu phái sinh được tạo ra theo các phương thức 60

Bảng 2.4 Các nhóm từ ngữ chỉ màu sắc là từ ghép trong tiếng Anh và tiếng Việt 61

Bảng 2.5 Bảng thống kê các tính từ chỉ màu sắc cơ bản và các tính từ phái sinh chỉ màu trong tiếng Anh 65

Bảng 2.6 Bảng thống kê các tính từ chỉ màu sắc cơ bản và các từ, ngữ chỉ màu sắc phái sinh từ các màu cơ bản trong tiếng Việt 66

Bảng 2.7 Bảng đối chiếu số lượng tính từ chỉ màu phái sinh từ các màu cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt 67

Bảng 2.8 Ngữ nghĩa của tính từ white (trắng) trong tiếng Anh 69

Bảng 2.9 Ngữ nghĩa của tính từ black (đen) trong tiếng Anh 70

Bảng 2.10 Ngữ nghĩa của tính từ red (đỏ) trong tiếng Anh 72

Bảng 2.11 Ngữ nghĩa của tính từ green (xanh lá cây) trong tiếng Anh 73

Bảng 2.12 Ngữ nghĩa của tính từ yellow (vàng) trong tiếng Anh 74

Bảng 2.13 Ngữ nghĩa của tính từ blue (xanh lam) trong tiếng Anh 75

Bảng 2.14 Ngữ nghĩa của tính từ brown (nâu) trong tiếng Anh 76

Bảng 2.15 Ngữ nghĩa của tính từ purple (tím) trong tiếng Anh 76

Bảng 2.16 Ngữ nghĩa của tính từ pink (hồng) trong tiếng Anh 77

Bảng 2.17 Ngữ nghĩa của tính từ orange (cam) trong tiếng Anh 78

Bảng 2.18 Ngữ nghĩa của tính từ grey (xám) trong tiếng Anh 78

Bảng 3.1 Số lượng thành ngữ có chứa từ chỉ màu cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt 129

Bảng 3.2 Các nghĩa biểu trưng xuất hiện trong thành ngữ chứa từ chỉ màu cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt 131

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Màu sắc là một trong những thuộc tính của vật thể tồn tại trong thế giới xung quanh chúng ta mà thị giác con người có thể nhận biết được Màu sắc tồn tại trong thế giới vật chất nhưng lại gắn bó chặt chẽ với đời sống tinh thần của con người, góp phần làm cho cuộc sống trở nên sinh động và tràn đầy sức sống Những màu sắc khác nhau với những ý nghĩa khác nhau đã mang lại những sắc màu phong phú cho cuộc sống

Các dân tộc trên thế giới cảm nhận màu sắc trong tự nhiên và đánh dấu chúng bằng một hệ thống chỉ màu sắc riêng Do sự khác biệt về loại hình ngôn ngữ, sự cách biệt về địa lí, sự không đồng nhất về điều kiện sinh hoạt và môi trường, nên cách thể hiện và diễn đạt các khái niệm ngôn ngữ không như nhau Từ vựng của một ngôn ngữ là nơi có thể thể hiện rõ nét nhất bản sắc văn hóa dân tộc Các thành

tố văn hóa dân tộc đều được thể hiện rõ qua bình diện nội dung của từ Việc nắm vững văn hóa của một ngôn ngữ sẽ tạo điều kiện cho việc cảm nhận một cách sắc sảo và tinh tế các từ mà ngữ nghĩa của chúng thể hiện đặc trưng văn hóa dân tộc

Dù số lượng từ ngữ chỉ màu sắc trong mỗi ngôn ngữ khác nhau, ngôn ngữ có thể hạn chế số lượng từ vựng gọi tên cho màu sắc cụ thể đó nhưng cộng đồng người sử dụng ngôn ngữ đó vẫn nhận ra sự khác biệt về các loại màu sắc Đặc trưng văn hóa dân tộc được thể hiện rõ nét trong ý nghĩa biểu trưng của các sắc màu trong từng nền văn hóa Ở các quốc gia khác nhau, các nền văn hóa khác nhau, màu sắc cũng thể hiện các ý nghĩa khác nhau Mỗi dân tộc với những bức tranh ý niệm khác nhau sẽ hình thành bức tranh ngôn ngữ thế giới khác nhau và như thế, từ ngữ về màu sắc sẽ không nằm ngoài qui luật chung đó

Lớp từ ngữ chỉ màu sắc có số lượng không nhỏ và mang ý nghĩa phong phú,

đa dạng và được thể hiện trong nhiều phong cách văn bản, đặc biệt là trong phong cách ngôn ngữ văn chương Vì thế, lớp từ chỉ màu sắc trở thành đối tượng được ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu từ nhiều góc độ, trên nhiều bình diện, nhất là

về đặc điểm ngữ nghĩa, tính biểu trưng hay về đặc điểm tri nhận

Với những nhận thức như trên, chúng tôi chọn đề tài Đối chiếu các từ ngữ

Trang 7

chỉ màu sắc trong tiếng Anh và tiếng Việt để nghiên cứu với hi vọng sẽ có thể đưa

ra những kiến giải có tính chất gợi mở, tìm hiểu kĩ về khả năng tạo từ và ngữ nghĩa của các từ chỉ màu sắc cơ bản, cách thể hiện và cảm nhận thế giới màu sắc của người Anh và người Việt để tìm ra những tương đồng và dị biệt về nhóm từ ngữ này trong quá trình nhận thức và biểu đạt các màu trong hai ngôn ngữ Việc nghiên cứu đề tài này sẽ góp phần phục vụ cho thực tiễn giảng dạy tiếng Anh cho người Việt cũng như trong công tác dịch thuật của các nhà biên phiên dịch

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu đối chiếu nhằm mục đích:

- Tìm ra những điểm giống nhau và khác nhau về khả năng tạo từ và ngữ nghĩa của các tính từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt;

- Làm sáng tỏ một số đặc trưng văn hóa thông qua cách sử dụng từ chỉ màu sắc cơ bản trong thành ngữ tiếng Anh và tiếng Việt;

- Góp phần vào công tác giảng dạy ngoại ngữ, công tác biên phiên dịch Anh-Việt, Việt-Anh và công tác biên soạn từ điển của các học giả

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được những mục đích trên, chúng tôi thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Tổng quan tình hình nghiên cứu và xác định cơ sở lí luận cho luận án;

- Thống kê số lượng từ chỉ màu sắc cơ bản trong một số tác phẩm văn học Anh, văn học Việt Nam và từ điển thành ngữ tiếng Anh và tiếng Việt để tìm ra tần số sử dụng của từng màu sắc cơ bản trong hai ngôn ngữ;

- Miêu tả và phân tích khả năng tạo từ và đặc điểm ngữ nghĩa của từ, ngữ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt để tìm ra những điểm giống nhau và khác nhau về mặt cấu trúc, ngữ nghĩa trong việc liên hệ với văn hóa hai dân tộc;

- So sánh, đối chiếu ý nghĩa của từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt thông qua các thành ngữ có yếu tố từ chỉ màu sắc cơ bản trong mối liên hệ với đặc trưng văn hóa dân tộc của ngôn ngữ và tư duy

Trang 8

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là những tính từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt dưới góc nhìn của ngữ nghĩa học

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu là khả năng tạo từ và đặc điểm ngữ nghĩa của 11 tính

từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và 9 tính từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Việt dựa trên 1065 lượt từ chỉ màu sắc cơ bản được thống kê từ 950 trích đoạn của

8 tác phẩm văn học Anh, 1189 lượt từ chỉ màu sắc cơ bản được thống kê từ 925 trích đoạn của 11 tác phẩm văn học Việt Nam và 295 thành ngữ tiếng Anh, 339 thành ngữ tiếng Việt được thống kê từ 11 cuốn từ điển thành ngữ tiếng Anh và 9

cuốn từ điển thành ngữ tiếng Việt

- Luận án cũng tập trung nghiên cứu ý nghĩa biểu trưng của các thành ngữ có

từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt

- Trong luận án, tiếng Anh được sử dụng như là ngôn ngữ cơ sở và tiếng Việt

là ngôn ngữ đưa vào đối chiếu, có nghĩa là so sánh đối chiếu một chiều và theo chiều Anh - Việt

- Luận án tiếp cận đối tượng nghiên cứu dưới góc độ ngữ nghĩa học Các từ chỉ màu cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt được nghiên cứu từ các phương diện: khả năng tạo từ; các nét nghĩa (từ nghĩa gốc, nghĩa phái sinh, đến nghĩa chuyển); sự khu biệt nghĩa của các nghĩa phái sinh và các hướng chuyển nghĩa; đặc biệt, từ khối liệu thành ngữ có chứa từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt, luận án phân xuất, chỉ ra các hướng nghĩa biểu trưng của thành ngữ có chứa từ chỉ màu sắc trong hai ngôn ngữ, đối chiếu để tìm ra những điểm tương đồng và dị biệt, từ đó làm rõ mối liên hệ mật thiết giữa bộ ba ngôn ngữ - văn hóa và tư duy trong mỗi

cộng đồng ngôn ngữ

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

Để thực hiện nhiệm vụ của luận án, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính sau:

- Phương pháp miêu tả: Phương pháp này được sử dụng để miêu tả khả năng

Trang 9

tạo từ và ngữ nghĩa của các từ chỉ màu sắc cơ bản

- Phương pháp phân tích thành tố nghĩa: Phương pháp này được sử dụng

nhằm phân tích các đặc điểm ngữ nghĩa các từ chỉ màu sắc cơ bản cũng như ý nghĩa biểu trưng của chúng được thể hiện trong các thành ngữ tiếng Anh và tiếng Việt nhằm tìm ra các nét nghĩa của các từ ngữ này xuất hiện trong hai ngôn ngữ

- Phương pháp so sánh đối chiếu: Đây là một phương pháp được sử dụng

để tìm ra những tương đồng và dị biệt trong ngôn ngữ và văn hóa, tư duy của người Anh và người Việt thông qua các từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh

và tiếng Việt

- Thủ pháp thống kê, phân loại: Mục đích của phương pháp này nhằm thống

kê và phân loại các từ chỉ màu sắc cơ bản trong từ điển tiếng Anh và tiếng Việt để làm tư liệu cho việc nghiên cứu

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Luận án là công trình nghiên cứu có hệ thống và chuyên sâu về từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Anh và tiếng Việt dưới góc nhìn của ngữ nghĩa học

Luận án đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ lí luận về từ, nghĩa của từ, từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt, mối quan hệ giữa văn hóa, ngôn ngữ

và tư duy thể hiện trong ngữ nghĩa của các từ chỉ màu sắc cơ bản

Trên cơ sở miêu tả, phân tích và đối chiếu khả năng tạo từ và ngữ nghĩa của

từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt, luận án tìm ra các điểm giống

và khác nhau về khả năng tạo từ và ngữ nghĩa của nhóm từ này trong hai ngôn ngữ, đưa ra các nhận xét và rút ra một số đặc trưng văn hóa dân tộc của hai dân tộc Anh

và Việt Nam thể hiện trong các thành ngữ có chứa từ chỉ màu sắc cơ bản

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án

6.1 Ý nghĩa lí luận

Luận án đóng góp những cơ sở lí luận về việc nghiên cứu từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Anh và tiếng Việt, chỉ ra những nét tương đồng và khác biệt về khả năng tạo từ và ngữ nghĩa của 11 từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và 9 từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Việt, đồng thời rút ra một số đặc trưng văn hóa dân tộc được thể hiện qua khả năng tao từ và ngữ nghĩa của các từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng

Trang 10

Anh và tiếng Việt dưới góc nhìn của ngữ nghĩa học

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận án đóng góp cho công tác nghiên cứu ngôn ngữ, công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu của giáo viên và học viên, đồng thời phục vụ cho công tác dịch thuật của các nhà biên, phiên dịch cũng như công tác biên soạn từ điển Anh- Việt, Việt- Anh

7 Cơ cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án được triển khai trong 3 chương:

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận

Chương 2 Đối chiếu khả năng tạo từ và ngữ nghĩa của các từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt

Chương 3 Đối chiếu ngữ nghĩa của thành ngữ có chứa từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Trong chương này, chúng tôi sẽ tổng hợp các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước về từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Anh và tiếng Việt để có được cái nhìn toàn diện về các khía cạnh và hướng nghiên cứu của nhóm từ này trong tiếng Anh và tiếng Việt, đồng thời tìm ra những khoảng trống, những điểm chưa được đề cập đến hoặc đi sâu để chúng tôi có thể tiếp tục nghiên cứu trong luận án

1.1.1 Tình hình nghiên cứu về từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Anh

Lịch sử nghiên cứu về các từ chỉ màu sắc đã phát triển qua ba giai đoạn chính: giai đoạn đối đầu của hai trường phái Tương đối [Sapir-Whorf (1921-1956)] và Phổ niệm [Berlin & Kay (1969)]; giai đoạn hậu Berlin & Kay với những tranh luận phê phán Berlin & Kay và ủng hộ Berlin & Kay và giai đoạn hiện nay là những hướng nghiên cứu từ ngữ chỉ màu sắc theo tri nhận luận, kinh nghiệm luận và văn hóa luận

Từ trước đến nay, các từ chỉ màu sắc được xem là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều

ngành khoa học như Vật lí học, Tâm lí học và đặc biệt là Ngôn ngữ học

Các nghiên cứu về màu sắc trên phương diện Tâm lí học: Nội dung cơ bản

của các nghiên cứu về các từ chỉ màu sắc là đưa ra những giả thuyết tâm sinh lí học

về sự khác biệt trong văn hóa qua việc nhìn thấy và gọi tên màu sắc và xem xét những khía cạnh phổ quát trong việc tìm hiểu việc mã hóa các màu sắc [96]

Tác giả Hardin trong bài báo Explaining basic color catergories (giải thích các loại từ chỉ màu sắc cơ bản) in trong tạp chí Nghiên cứu đa văn hóa đãkhảo sát một

số nhóm minh chứng cho thấy sự gắn kết chặt chẽ giữa các cơ chế cảm nhận màu sắc, các màu cơ bản theo cảm quan và việc đặt tên các màu cơ bản Tuy nhiên, những câu hỏi quan trọng vẫn tồn tại liên quan đến các thuộc tính chung của con người về nhận thức màu sắc và sự phát triển và cấu trúc của các loại màu cơ bản đa văn hóa [115]

Nghiên cứu về màu sắc trên phương diện Vật lý học: Trong bài viết Colour

categories are not universal: Replications and new evidence from a stone-age

Trang 12

culture, các tác giả Roberson, Davies, and Davidoff (2000) đã tìm cách tái tạo và mở

rộng công trình của Heider (1972) với việc so sánh người Papua, New Guinea, những người nói tiếng Berinmo mà ngôn ngữ của họ chỉ có 5 thuật ngữ cơ bản chỉ màu Việc xác định tên và bộ nhớ cho các kích thích vật lí và phi vật lí với độ bão hòa thấp

đã được khảo sát Họ đã tìm ra việc các màu đã bão hòa bị ảnh hưởng bởi nhóm từ vựng màu Các hiệu ứng nhận thức phân loại đối với cả tiếng Anh và Berinmo đã được tìm thấy, nhưng chỉ ở ranh giới của các thể loại ngôn ngữ hiện có [141]

Nghiên cứu về màu sắc dưới góc độ Văn hóa học: Trong công trình đồ sộ

Dictionnaire des symboles: mythes, rêves, coutumes, gestes, formes, figures, couleurs, nombres (Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới), với phụ đề “Các huyền thoại, chiêm mộng, phong tục, cử chỉ, dạng thể, các hình, màu sắc, con số” Chevalier

và Gheerbrant (1997) đã trình bày khá chi tiết về biểu tượng màu sắc của các nước trên thế giới Các từ chỉ màu sắc trong cuốn từ điển này đã được các tác giả miêu tả bao quát được nhiều khu vực văn hóa trên thế giới liên quan đến các phương tiện Dân tộc học, Xã hội học, Tâm lí học, Thần thoại học, Tôn giáo học [15]

Nghiên cứu về màu sắc dưới góc độ Ngôn ngữ học: từ năm 1969, hai nhà

nghiên cứu Berlin & Kay của Trường đại học California ở Berkerly đã tiến hành nghiên cứu tổng kết toàn bộ tư liệu, kinh nghiệm về từ ngữ chỉ màu sắc của các dân

tộc khác nhau trên thế giới Berlin & Kay đã xác lập “phương pháp giai đoạn tiến hóa đối với sự xuất hiện những từ ngữ chỉ màu sắc” Gần như toàn bộ phương pháp này đã được trình bày vào năm 1969 với Basic Color Terms (Những thuật ngữ màu

cơ sở) Trong công trình này, hai tác giả đã tìm hiểu và nghiên cứu từ ngữ chỉ màu

sắc trong 98 ngôn ngữ của các dân tộc khác nhau trên thế giới Tác giả đã kết hợp giữa tính khái niệm và tính thực tiễn, liên quan đến vấn đề mối quan hệ giữa màu sắc và văn hóa Từ sự khái quát thực tế dựa trên các ngôn ngữ khác nhau, Berlin &

Kay đã kết luận: Mọi ngôn ngữ ít nhất cũng có 2 từ chỉ màu đen và màu trắng, có 3

từ thì có thêm màu đỏ, có 4 từ thì có thêm màu xanh lá hoặc vàng, có 5 từ thì thêm

cả màu xanh lá và vàng, có 6 từ thì thêm màu xanh da trời, có 7 từ thì có thêm màu nâu, có trên 7 từ thì có thêm màu tím, hồng, da cam, xám hoặc hỗn hợp những màu

này Ở một mức độ nhất định, có thể coi đó là chìa khóa mở ra nhiều công trình

Trang 13

nghiên cứu và thực tế đã có rất nhiều công trình nghiên cứu trên cơ sở tư tưởng của Berlin và Kay Công trình của Lakoff (1987) cũng ủng hộ quan điểm của Berlin &

Kay với tiêu đề “Women, fire and dangerous things” (Đàn bà, lửa và những thứ

nguy hiểm) Trong công trình này, Lakoff đã chứng minh rằng các phạm trù chỉ màu sắc đều có các phần từ trung tâm, và vì vậy, có thể thực hiện việc so sánh các phạm trù chỉ màu sắc trong các ngôn ngữ khác nhau [131] Cùng quan điểm với

Berlin & Kay, trong nghiên cứu với tựa đề “Metaphor of anger, pride and love”

(Ẩn dụ chỉ sự giận dữ, niềm kiêu hãnh và tình yêu) Kovecses (1986) đã khẳng định: Trong miền ngữ nghĩa của các từ chỉ màu sắc có những điểm trung tâm hơn và các

thuật ngữ chỉ các điểm trung tâm này được gọi là các từ chỉ màu cơ sở [128] Năm

1978, Kay và Chad đã đặt vấn đề và nghiên cứu: Liệu ngôn ngữ có thêm khả năng tri nhận sắc thái về màu sắc của chúng ta hay không? Hay nó ảnh hưởng theo cách nào khác? Các tác giả này đã có những kết luận vô cùng thú vị: Quá trình nhận biết màu sắc bắt đầu từ phần não bên phải và truyền sang bên trái thông qua sự tiến triển của ngôn ngữ, đồng thời những nhận thức màu sắc của chúng ta được liên kết chặt chẽ với ngôn ngữ của chúng ta [123]

Tiếp theo hướng này, tác giả Quinion (1996), trong bài viết The fugitive names

of hues (Những tên gọi nhất thời của màu sắc) đăng trên trang English in the British viewpoint (Tiếng Anh theo quan điểm của người Anh) đã nghiên cứu từ ngữ chỉ màu sắc tiếng Anh bằng phương pháp từ nguyên học Ông đã xác định màu từ màu xanh da trời (blue) bắt nguồn từ tiếng Pháp, xanh lá cây (green) có cùng gốc với

“grow” và xuất xứ từ tiếng Đức, màu đỏ (red) được vay mượn từ tiếng Hy Lạp, màu hồng (pink) cùng gốc từ với tiếng Hà Lan,…[140] Cách nghiên cứu của tác giả đã

mở ra thêm một hướng tiếp cận khác trong tiến trình nghiên cứu từ ngữ chỉ màu sắc trên thế giới nói chung và tiếng Anh nói riêng Có thể nói, ở một mức độ nhất định, Berlin & Kay (1969) là những người tiên phong trong việc nghiên cứu các từ chỉ màu sắc nói chung hay các từ chỉ màu cơ bản nói riêng để sau đó nhiều các công trình khoa học đã lấy đối tượng nghiên cứu là từ chỉ màu sắc

Nghiên cứu của hai tác giả Soriano và Valenzuela (2009) trong bài báo Emotion and colour across languages (Cảm xúc và màu sắc qua các nền văn hóa) đã khám

Trang 14

phá ra các lí do tại sao các từ màu sắc và từ biểu đạt cảm xúc thường liên quan đến các ngôn ngữ khác nhau trên thế giới Một trong số đó là sự chồng chéo giữa thuật ngữ chỉ màu sắc và thuật ngữ chỉ cảm xúc Một phương pháp thử nghiệm mới được

sử dụng để khảo sát cấu trúc ẩn dụ của các thuật ngữ chỉ màu cơ bản về phương diện ngữ nghĩa Các kết quả cho thấy một bản so sánh với các công trình trước đây, ngoại trừ giá trị của một số thuật ngữ chỉ màu Những điểm tương đồng và khác biệt

đã được đưa ra để kiểm tra những ảnh hưởng của ngữ nghĩa đối với từ chỉ màu sắc

và từ chỉ cảm xúc [145]

Sau giai đoạn này, một số các công trình nghiên cứu dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận hoặc liên ngành ngôn ngữ học tâm lí đã đưa ra các hướng giải quyết vấn đề về những đặc điểm chung trong việc gọi tên màu sắc như công trình của Kay và Regier (1997) [127], hoặc những điểm phổ quát trong tri nhận màu sắc của Wierzbicka (1989) [154], Lucy (1997) [133], Lindsey, & Brown (2004) [132]

1.1.2 Tình hình nghiên cứu về từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Việt

Các nghiên cứu về từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt chủ yếu tập trung trên

phương diện ngôn ngữ học Các nghiên cứu về từ chỉ màu sắc tập trung nhiều ở bình diện cấu trúc luận, chủ yếu tiếp cận về cấu trúc nghĩa, đặc điểm cấu tạo, đặc điểm ngữ nghĩa của từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt Đào Thản (1993) trong bài “Hệ thống từ ngữ chỉ màu sắc tiếng Việt trong sự liên hệ với mấy điều phổ quát”, đã viết

về việc nhận thức về màu và phân chia dải màu trên cảm nhận thị giác và quan điểm truyền thống của từng cộng đồng người về màu sắc [68] Tác giả Trịnh Thị Thu

Hiền với các bài viết “Một số đặc điểm của các đơn vị từ chỉ màu sắc cơ bản tiếng Việt”, “Một vài đặc điểm của các từ chỉ màu phụ trong tiếng Việt” và “Đặc điểm của hai từ chỉ màu sắc xanh và đỏ trong tiếng Việt” bước đầu đã lần lượt khảo sát,

đưa ra một số đặc điểm của các từ chỉ màu sắc cơ bản và màu phụ trong tiếng Việt

và đi sâu khảo sát hai từ xanh và đỏ [40,41] ; Phạm Văn Tình (2004) với các bài viết: “Hai từ xanh và xanh xanh; phấn trắng, bảng đen, tóc trắng- hình tượng đẹp

về người thầy” [81]; Lê Thị Vy (2006) với “Đặc trưng văn hóa dân tộc thể hiện qua các từ chỉ màu sắc” [93] Các bài viết này đã đề cập đến một màu (hoặc nhiều màu)

như biểu tượng của văn hóa hoặc nét đặc thù của dân tộc Tuy nhiên, các tác giả chỉ

Trang 15

điểm qua mà chưa đi sâu vào nghiên cứu ảnh hưởng của ngôn ngữ và văn hóa đến cách sử dụng các từ chỉ màu sắc

Biện Minh Điền (2000) với bài viết Về tính từ chỉ màu sắc trong thơ Nguyễn Khuyến [25] đã thống kê tỉ lệ từ ngữ chỉ màu sắc trong thơ và câu đối của Nguyễn

Khuyến và đã xác định tỉ lệ màu sắc tươi chiếm ưu thế, đặc biệt là cách dùng màu

xanh và tương tự, trong bài Màu xanh trong thơ Nguyễn Bính, Nguyễn Thị Thành

Thắng (2001) [70] đã khái quát được sự đa dạng về nghĩa của cùng một màu xanh trong thơ Nguyễn Bính, từ đó, nêu bật vài điểm trong phong cách nghệ thuật của

Nguyễn Bính Trên tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống số 8 năm 2006, Hà Thị Thu Hoài viết: “Từ chỉ màu sắc để miêu tả thiên nhiên trong tác phẩm Truyện Tây Bắc của nhà văn Tô Hoài” Qua khảo sát, tác giả bài viết đã phân tích nét đặc sắc sáng tạo trong việc tạo ra nhiều sắc độ của màu trắng, đỏ, vàng trên những trang văn Tô

Hoài.[45]

Cũng có một số công trình (các luận án, luận văn thạc sĩ) đi sâu nghiên cứu

kĩ hơn về về các từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Việt như luận án của Chu Bích Thu

(1996) với công trình “Những đặc trưng ngữ nghĩa của tính từ tiếng Việt hiện đại”

Tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích thành tố nghĩa để phân tích các nhóm tính từ trong đó có nhóm tính từ chỉ màu sắc Tuy nhiên, trong luận án, khi đề cập đến tính từ chỉ màu sắc, tác giả chỉ mới dừng lại ở chỗ phân tích cấu trúc ngữ nghĩa

Trang 16

tiếng Việt để tìm ra sự giống nhau và khác nhau về đặc điểm, ngữ nghĩa của các lớp

từ này [33]

Cũng bàn về từ ngữ chỉ màu sắc, Trịnh Thị Minh Hương (1999) đã tiến hành khảo sát và phân tích nghĩa biểu trưng của từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Việt dựa trên ngữ liệu là các văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ văn chương [49] Luận văn

đã nghiên cứu phương thức tạo tính biểu trưng cho các từ ngữ chỉ màu sắc và đồng thời cũng giới thiệu một số thành ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Việt và tiếng Anh nhưng chưa đi sâu vào so sánh đối chiếu từ ngữ chỉ màu sắc trong hai ngôn ngữ Anh – Việt

Các nghiên cứu về từ chỉ màu sắc theo hướng tiếp cận so sánh, đối chiếu giữa hai ngôn ngữ, có thể kể đến một số công trình của các tác giả như: Hoàng Văn Hành (1982) [37] với tiêu đề “Về cấu trúc nghĩa của tính từ tiếng Việt (trong sự so sánh với tiếng Nga)” Trần Thị Thu Huyền (2001) với bài “Hoa cỏ và màu sắc trong thành ngữ- tục ngữ tiếng Anh và tiếng Việt” [48] Bùi Thị Thùy Phương

(2004) đã nghiên cứu một số đặc điểm hình thức, cấu trúc nghĩa của từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt nói chung cũng như tần số xuất hiện của chúng trong thơ ca và thống kê, phân tích cấu trúc ngữ nghĩa của lớp từ chỉ màu sắc trong tiếng Anh và tiếng Hán [64]Trong các công trình kể trên, từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Việt và tiếng Anh đã được đề cập đến về mặt cấu trúc và ngữ nghĩa với những phạm vi khác nhau cũng như tần số xuất hiện của chúng dựa vào ngữ liệu là những văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ văn chương Một số công trình chỉ đi vào hệ thống các từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt, số khác chỉ nghiên cứu hai trong số các màu sắc cơ bản

Tóm lại, việc so sánh đối chiếu từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt dưới góc nhìn của ngôn ngữ, văn hóa và tư duy chưa được nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện Tuy nhiên, những công trình trên là những tài liệu tham khảo quan trọng để chúng tôi tiếp tục đào sâu, bổ sung và đi tiếp việc nghiên cứu về các từ ngữ chỉ màu sắc dưới góc nhìn của ngôn ngữ học so sánh đối chiếu

1.2 Cơ sở lí luận

Trong mục tiếp theo, chúng tôi sẽ tập trung vào các vấn đề lí thuyết liên quan đến đề tài và cụ thể là các khái niệm về từ, ngữ, nghĩa của từ, ý nghĩa biểu trưng,

Trang 17

các quan điểm về từ ngữ chỉ màu sắc, về văn hóa, mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa trong tiếng Anh và tiếng Việt Các khái niệm sẽ được tổng hợp, phân tích

và chúng tôi sẽ đưa ra quan điểm của mình trong việc sử dụng khái niệm hoặc định nghĩa làm cơ sở cho luận án

1.2.1 Khái niệm về từ

1.2.1.1 Định nghĩa về từ

a Định nghĩa về từ trong tiếng Anh

“Từ” (word) xuất hiện như là một khái niệm đơn giản, nhưng để trả lời câu hỏi “Từ là gì?" lại không hề dễ, nhiều nhà ngôn ngữ đã đưa ra các định nghĩa khác nhau về từ Theo Bloomfield (1933), “Về mặt cú pháp, từ được định nghĩa là một câu ngắn nhất”

Theo Saussure (1973), mặc dù khó có thể đưa ra định nghĩa chính xác về từ nhưng ông khẳng định trong toàn bộ cơ cấu của ngôn ngữ, từ vẫn là một đơn vị trung tâm.[65]

b Định nghĩa về từ trong tiếng Việt

Hoàng Văn Hành (2008) đã vận dụng năm tiêu chuẩn để xác định từ Năm

tiêu chuẩn đó là: (i) Từ ngữ âm: Đó là những đơn vị được thống nhất với hiện tượng

ngữ âm nào đó Đối với Việt ngữ, hiện tượng âm đều đặt trên ngữ lưu có thể dùng

làm tín hiệu phân giới chính là âm tiết; (ii) Từ chính tả: Đó là những khoảng cách

giữa hai chỗ trống trên chữ viết, tức là những đơn vị được viết liền thành một khối;

(iii) Từ hoàn chỉnh: Đó là những cấu trúc ổn định, không thể tách hoặc hoán vị các thành tố của chúng; (iv) Từ từ điển học: Đó là đơn vị mà căn cứ vào đặc điểm ý nghĩa của nó phải xếp riêng trong từ điển; (v) Từ biến tố: Đó là những đơn vị luôn

luôn gồm hai phần: một phần nhân từ, biểu hiện ý nghĩa đối tượng, còn một phần biến tố biểu thị mối liên hệ của từ đó với các từ khác trong câu Thực chất tiêu

chuẩn này muốn nói đến đặc điểm ngữ pháp của từ - Từ ngữ pháp [38, tr 21]

Theo Nguyễn Thiện Giáp (2010), “Từ là đơn vị tồn tại hiển nhiên, sẵn có của ngôn ngữ Do tính chất hiển nhiên, có sẵn của các từ mà ngôn ngữ của loài người bao giờ cũng được gọi là ngôn ngữ của các từ Chính tổng thể của các từ là vật liệu xây dựng mà thiếu nó thì không thể hình dung được một ngôn ngữ Có thể chấp nhận một định nghĩa chung về từ như sau: Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập về ý nghĩa và hình thức.” [31, tr 440]

Trang 18

Các nhà ngôn ngữ học người Anh và người Việt có các quan điểm khác nhau

về định nghĩa của từ Tuy nhiên, trong tiếng Anh, chúng tôi sử dụng quan điểm của

Hornby A S (2005) làm cơ sở cho luận án: “Từ là một đơn vị của ngôn ngữ có nghĩa và có thể được sử dụng để nói hoặc viết” [119, tr 1695] Trong tiếng Việt, chúng tôi sử dụng quan điểm của Đỗ Hữu Châu (2005): “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt.” [14, tr 471]

1.2.1.2 Phương thức cấu tạo từ

Khi nghiên cứu đặc điểm cấu tạo tiếng Anh và tiếng Việt, một điểm đáng chú ý đó là tiếng Anh là một ngôn ngữ phi đơn lập còn tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập Sự khác biệt này đã khiến cho tiếng Anh và tiếng Việt có những cách cấu tạo từ không giống nhau Nói cách khác tiếng Anh có phương thức tạo từ mà tiếng Việt, một ngôn ngữ đơn lập, không có, ngược lại tiếng Việt có một số cách cấu tạo từ mà tiếng Anh không thể nào có được

a Phương thức cấu tạo từ trong tiếng Anh

Theo Sidney Greenbaum (1996), tiếng Anh có các phương thức tạo từ chính

đó là phương thức phụ tố (affixation), phương thức ghép (compound) và phương thức chuyển loại (conversion) Phương thức phụ tố bao gồm phương thức thêm tiền

tố (prefixation) và phương thức thêm hậu tố (suffixation)

(i) Phương thức phụ tố (affixation)

Phương thức phụ tố là phương thức sử dụng phụ tố để bổ sung ý nghĩa từ vựng cho chính tố để tạo nên một từ mới Nó cũng có thể được sử dụng để biểu thị

ý nghĩa ngữ pháp của từ Ví dụ, trong tiếng Anh, từ “happy” (hạnh phúc) có thể

thêm tiền tố un hoặc hậu tố ness để tạo nên các từ phái sinh (derived words) như unhappy, happiness

(ii) Phương thức ghép (compounding)

Bên cạnh phương thức sử dụng phụ tố, phương thức ghép (compound) cũng rất phổ biến trong tiếng Anh Trong hệ thống từ vựng tiếng Anh, các từ là những từ

đa tiết Vì vậy, các từ trong tiếng Anh khi đi cùng nhau để tạo thành từ ghép có thể

được đặt thành một từ như: schoolgirl; hai từ nối nhau bằng gạch ngang: record- player; hoặc hai từ riêng lẻ: flower garden… Từ ghép trong tiếng Anh cũng được

Trang 19

chia thành hai loại: Từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ

Trên thực tế sử dụng, hầu hết các từ ghép trong tiếng Anh đều có quan hệ chính

- phụ Không giống tiếng Việt, yếu tố chính thường đứng trước: vườn hoa, trong tiếng Anh, yếu tố chính thường đứng sau flower garden Trật tự của từ ghép quyết định nội dung ý nghĩa của từ đó: schoolboy (nam sinh) khác với boyschool (trường

dành cho con trai)

Những từ ghép cũng có thể quan hệ đẳng lập với nhau trong từ ghép: secretary- driver (thư kí- lái xe); bitter - sweet (đắng - ngọt)… Những từ ghép này không có

yếu tố phụ thuộc vào yếu tố khác, và nghĩa của nó thường có nội dung của cả hai từ:

secretary - driver (thư kí và lái xe, để gọi một người có thể kiêm cả hai vị trí chứ

không phải đây là từ ghép để gọi tên một loại lái xe)

Ngoài 2 phương thức trên, theo Greenbaum (1996), tiếng Anh còn sử dụng các phương thức khác như phương thức chuyển loại (conversion), phương thức kết hợp (combining form), phương thức rút gọn (clipping), phương thức viết tắt

(shortening) Tiếng Anh cũng sử dụng phương thức láy âm (alliteration) như ping pong (bóng bàn) và láy vần (rhyme) như drain brain (chảy máu chất xám), hurry- scurry (hối hả, bận rộn)… nhưng để tạo nên các từ chỉ màu sắc, tiếng Anh chỉ sử

dụng các 2 phương thức: phương thức phụ tố (tiền tố) và phương thức ghép nên luận án chỉ miêu tả và phân tích các phương thức này làm cơ sở lí luận cho luận án

b Phương thức cấu tạo từ trong tiếng Việt

Trong tiếng Việt, đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa là hình vị Các hình vị được dùng để cấu tạo ra các từ theo các phương thức cấu tạo từ của tiếng Việt, hay dựa trên các phương thức tạo từ, ngôn ngữ tác động vào các hình vị để sản sinh ra

các từ Theo Đỗ Hữu Châu (2005), tiếng Việt có ba phương thức cấu tạo từ là từ hóa hình vị, ghép hình vị và láy hình vị [14, tr 480]

Phương thức từ hóa hình vị là phương thức tác động trực tiếp vào hình vị để tạo cho nó các đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa của từ, biến hình vị thành từ mà không thêm bớt gì vào hình thức của hình vị Phương thức ghép là phương thức kết hợp hai hoặc hơn hai hình vị có nghĩa để tạo ra một từ mới mang đặc điểm ngữ pháp và

ý nghĩa như một từ Phương thức thứ ba là phương thức láy Phương thức này tác động vào một hình vị cơ sở để sinh ra một hình vị láy giống nó toàn bộ hay bộ phận

về âm thanh Cả hình vị cơ sở và hình vị láy tạo thành một từ, hay có đặc điểm ngữ

Trang 20

pháp và ngữ nghĩa của từ

Khi nghiên cứu để phân loại từ đã có một số ý kiến khác nhau Phần lớn tác giả đều căn cứ vào số lượng hình vị để chia thành từ đơn và từ kép (từ phức hợp) Các từ phức hợp lại được chia thành từ láy và từ ghép Căn cứ vào quan hệ cú pháp,

từ ghép lại được chia thành ghép đẳng lập và ghép chính phụ

Khi phân loại các từ về mặt cấu tạo cần phải chú ý đến tất cả các nhân tố tham gia cấu tạo từ Phân loại từ không chỉ là để sắp xếp các từ thành loại mà còn

để phát hiện ra cách thức cấu tạo, tạo điều kiện cho quá trình nhận thức từ… Do vậy, nói một cách đơn giản, chúng ta có thể phân chia từ tiếng Việt về mặt cấu tạo thành từ đơn và từ phức, trong đó từ phức bao gồm từ láy và từ ghép Từ đơn được tạo thành từ phương thức từ hóa, từ láy từ phương thức láy và từ ghép từ phương thức ghép Từ việc phân loại này, chúng ta có thể hình dung ra các phương thức để sản sinh từ mới từ từ đơn gốc trong tiếng Việt

1.2.2 Nghĩa của từ

1.2.2.1 Khái niệm về nghĩa từ vựng của từ

Theo tác giả Goddard và Wierzbicka (2014), ngữ nghĩa cũng được xem như một thành phần của ngôn ngữ học hơn là một quan điểm về ngôn ngữ và ngôn ngữ học Tuy nhiên, ý nghĩa chính là tất cả những gì ngôn ngữ diễn đạt Đối với hầu hết

người dùng ngôn ngữ, người nói và người nghe, nhà văn và người đọc - từ là luôn

luôn “sống”(alive) và "xanh" (green), trong khi các hình thức, biểu tượng và các công thức trừu tượng có thể dần dần mất đi hoặc không được dùng nữa.[111]

Các nhà Việt ngữ học có nhiều quan điểm và định nghĩa khác nhau về nghĩa của từ Tuy nhiên, có thể chia thành 3 nhóm như sau:

(i) Quan niệm thứ nhất coi nghĩa của từ là một bản thể nào đó “Nghĩa của từ

là sự vật, hành động, tính chất ngoài thực tế khách quan mà từ biểu thị”

(ii) Quan niệm thứ hai coi nghĩa của từ là một quan hệ nào đó Theo Saussure

(1975), nghĩa, là quan hệ của cái biểu hiện (significant) và cái được biểu hiện (signifie), trong đó, cái biểu hiện không phải là bản thân tổ hợp ngữ âm

cụ thể mà là hình ảnh tâm lý của nó và cái được biểu hiện là tư tưởng [65] (iii) Theo Nguyễn Thiện Giáp (2010) “Nghĩa của từ (cũng như ở các đơn vị

ngôn ngữ khác) là quan hệ của từ với cái gì đó nằm ngoài bản thân đó

Trang 21

Hiểu nghĩa của một đơn vị nào đó là hiểu đơn vị ấy có quan hệ với cái gì, tức là nó biểu thị cái gì Có thể thấy rõ khi quan sát cách người lớn và trẻ con nắm nghĩa của từ như thế nào Đối với người lớn, khi không hiểu nghĩa của một từ nào đó, người ta tra từ điển Nghĩa của từ chưa biết được phát hiện thông qua lời giải thích trong từ điển…Khi trẻ con nắm ngôn ngữ lần đầu tiên thì phải liên hệ âm thanh của từ với sự vật” Theo tác giả, cần phân biệt nghĩa của từ với sự hiểu biết vì trong nhận thức của

con người không tồn tại bản thân nghĩa của các từ mà chỉ có sự hiểu biết, nghĩa của từ tồn tại khách quan trong lời nói, còn trong nhận thức chỉ có

sự phản ánh những nghĩa đó mà thôi [31,tr 261]

(iv) Quan niệm thứ ba coi nghĩa của từ là một thực thể tinh thần Ở Việt Nam,

Đỗ Hữu Châu chính là người nghiên cứu tập trung nhất về nghĩa của từ Ông đã đưa ra hình tháp nghĩa hình học không gian thay thế tam giác hình học phẳng của Stern Khắc phục những thiếu sót của Stern trình bày trong tam giác hình học, Đỗ Hữu Châu (2005) cho rằng: Ở đỉnh cao nhất

của hình tháp là từ (trừu tượng) với hai phần hình thức và ý nghĩa (cũng

trừu tượng) Hai phần này quy định lẫn nhau và đều thuộc về từ Ở mỗi đỉnh của đáy là năm nhân tố góp phần làm thành ý nghĩa, lần lượt là: sự vật, hiện tượng; những hiểu biết của tư duy (khái niệm); nhân tố người sử dụng (nhân tố lịch sử - xã hội); chức năng tín hiệu học và cấu trúc ngôn ngữ Số lượng các đỉnh của đáy sẽ tăng lên tùy theo số lượng những nhân

tố được phát hiện thêm Có thể nói, ưu điểm của hình tháp này là, một mặt tách được những thực thể đang xem xét (từ các nhân tố) ra khỏi nhau, đồng thời vạch ra được mối quan hệ giữa chúng [14, tr 750]

Trang 22

Sơ đồ: Tháp nghĩa hình học không gian [Đỗ Hữu Châu (2005) tr 750]

Cùng quan điểm với Đỗ Hữu Châu, tác giả Đỗ Việt Hùng (2013) cũng cho

rằng: “Nghĩa của từ là một thực thể tinh thần có quan hệ ổn định với hình thức từ”

[47, tr 37]

Ở bình diện khái quát, thoát khỏi các ngôn ngữ cụ thể, có thể nhận thấy cách nhìn nhận về nghĩa là ngữ nghĩa học cấu trúc-chức năng luận quan hệ với ngữ nghĩa học tri nhận

Theo hướng ngữ nghĩa học cấu trúc chức năng hướng đến ngữ nghĩa học tri

nhận, Lê Quang Thiêm (2015) hiểu nghĩa từ vựng của từ như sau: “Nghĩa của từ, cũng như nghĩa của ngôn ngữ nói chung là một sản phẩm văn hóa tinh thần, tâm lý của con người… Nó là kết quả của sự phản ảnh, ánh xạ, tri nhận thực tại được tích hợp lại trong nội dung kí hiệu từ Nó là nội dung được biểu đạt trong kí hiệu từ mà hình thức là cái biểu đạt Nội dung này là sự kí hiệu hóa, là việc sử dụng vào giao tiếp, tư duy Đồng thời là kết quả của sự biểu trưng hóa, cấu trúc hóa trong vốn từ ngữ cũng như trong đặc điểm của ngôn ngữ dân tộc xác định.” [77, tr 27]

Theo hướng ngôn ngữ học tri nhận thì cấu trúc của thế giới khách quan (hiện thực) được phản ánh trong ngôn ngữ là một sản phẩm của trí tuệ con người, do đó ý nghĩa thuộc phạm trù tinh thần, phạm vi ý thức, trong hiểu biết của cá nhân và cộng đồng sử dụng ngôn ngữ, dưới dạng những khái niệm tập quán, thói quen Với cách

Trang 23

tiếp cận biểu hiện này (mà không phải tiếp cận quy chiếu), nghĩa ngôn ngữ thuộc về nội dung hiểu biết, tri nhận, tri thức của người nói trong ngôn ngữ nói chung, còn nghĩa của tín hiệu nói riêng là thuộc về tri thức đời thường của người nói (khác với tri thức bách khoa, có tính khoa học)

Với quan niệm coi trọng vai trò của chủ thể con người trong việc tạo ra, sử dụng và lưu giữ nghĩa, Lê Quang Thêm cho rằng nghĩa được sử dụng trong hoạt động, bộc lộ trong quá trình tư duy - giao tiếp bằng ngôn ngữ Mặt khác, nghĩa cũng bộc lộ đặc trưng văn hóa tinh thần của người bản ngữ Khác với quan niệm qui chiếu theo hình tháp nghĩa hình học không gian của Đỗ Hữu Châu, theo đó, nhân tố

chính quy định nghĩa là ba nhân tố “sự vật”, “hệ thống ngôn ngữ”, “chức năng tín hiệu học”, trong quan niệm của Lê Quang Thiêm, nhân tố chính là “người nói”; văn cảnh”; “ngữ cảnh” và “chức năng tín hiệu học” Việc xác định nhân tố chính trong

việc qui định nghĩa đã tạo ra sự đột phá trong cách hiểu về bản chất của nghĩa cũng như về việc xác định, phân tích ngữ nghĩa: Nghĩa là một phẩm chất tinh thần biểu hiện trong tín hiệu ngôn ngữ, nghĩa được dựa trên sự tri nhận định hình ở cấu trúc, khái niệm thông tục quy ước hóa Cấu trúc ngữ nghĩa tuân theo qui luật tri nhận ánh

xạ của những phạm trù tri nhận tinh thần mà con người đã hình thành từ kinh nghiệm của mình [77, tr 68-70]

Như vậy, từ nhiều quan niệm khác nhau, theo chúng tôi, có thể xác định

cách hiểu mang tính tổng quát về nghĩa của từ như sau: Nghĩa của từ là nội dung

mà từ biểu hiện, là nội dung hiểu biết, tri nhận, tri thức đời thường của người nói, được bộc lộ trong quá trình tư duy - giao tiếp bằng ngôn ngữ, nghĩa được hình thành do sự kết hợp và tác động của nhiều nhân tố Trong số đó, có những nhân tố nằm trong và ngoài ngôn ngữ (sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan, tư duy người sử dụng) và những nhân tố nằm trong ngôn ngữ (chức năng tín hiệu học, hệ thống cấu trúc của ngôn ngữ), trong đó các nhân tố chính là người nói, văn cảnh, ngữ cảnh và chức năng tín hiệu học Nghĩa cũng bộc lộ đặc trưng văn hóa tinh thần của người bản ngữ

1.2.2.2 Các thành phần nghĩa của từ

Khi đưa ra hình tháp nghĩa hình học không gian, tác giả Đỗ Hữu Châu

Trang 24

(2005) đã chỉ ra mối quan hệ giữa từ và các nhân tố góp phần hình thành ý nghĩa Tác giả nhấn mạnh từ mối quan hệ giữa từ và sự vật hình thành ý nghĩa biểu vật, từ mối quan hệ của từ với khái niệm sẽ hình thành các ý nghĩa biểu niệm, từ mối quan

hệ với nhân tố người dùng hình thành các ý nghĩa phong cách và liên hội, từ mối quan hệ với cấu trúc của ngôn ngữ với các từ khác sẽ hình thành các ý nghĩa, cấu trúc và quan hệ giữa ý nghĩa với các thành phần hình thức mà hình thành các ý nghĩa cấu tạo từ, các ý nghĩa ngữ pháp Từ sự phân định trên của tác giả Đỗ Hữu Châu, ta thấy có hai thành phần nghĩa lớn là ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp Trong đó, ý nghĩa từ vựng là ý nghĩa của riêng từng từ, còn ý nghĩa ngữ pháp là ý nghĩa mang tính đồng loạt chung cho nhiều từ

Trong ngôn ngữ có những từ có chức năng định danh, hay còn gọi là khả năng gọi tên cho các sự vật, hiện tượng, hoạt động, tính chất, quan hệ… trong thực

tại khách quan, ta gọi đó là các từ định danh (đen, trắng, đỏ,…) Bên cạnh các từ

định danh, có các từ không có khả năng gọi tên như trên mà chỉ có vai trò thực hiện các chức năng ngữ pháp khác nhau khi tạo câu, tạo văn bản, ta gọi đó là các từ phi

định danh (vì, nên, hoặc ) Nghĩa của từ định danh không phải là một khối không phân hóa Nó là một thể thống nhất gồm bốn thành phần nghĩa: nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm và nghĩa ngữ pháp, nghĩa biểu thái (nghĩa ngữ dụng) Trong đó ba thành phần nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm và nghĩa biểu thái gộp thành nghĩa từ

vựng của từ Vì vậy, hễ nói đến nghĩa từ vựng của từ thì ta chỉ đề cập đến loại từ định danh Dưới đây, chúng ta sẽ lần lượt xem xét từng thành phần nghĩa từ vựng của từ

* Ý nghĩa biểu vật (denotative meaning): Là phần nghĩa của từ liên quan đến sự vật

hoặc phạm vi sự vật mà từ đó được sử dụng trong thế giới mà từ gợi ra khi ta tiếp xúc với nó Ý nghĩa biểu vật ứng với chức năng biểu vật Nói cách khác, ý nghĩa biểu vật của từ là các ánh xạ của các sự vật, thuộc tính ngoài ngôn ngữ vào ngôn ngữ Tuy nhiên, các ánh xạ của các sự vật, thuộc tính trong thực tế được phản ánh vào ngôn ngữ không hoàn toàn đồng nhất với các ánh xạ được phản ánh trong tự nhiên Đó là những mẩu, những mảnh, những đoạn cắt của thực tế nhưng không hoàn toàn trùng khớp với thực tế Nghĩa là, ánh xạ trong ngôn ngữ có sự cải tạo lại,

Trang 25

sáng tạo lại những cái có trong thực tế [14, tr 777]

* Ý nghĩa biểu niệm (signicative meaning): Là phần nghĩa của từ liên quan đến hiểu

biết về ý nghĩa biểu vật của từ Sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan có các thuộc tính, các thuộc tính đó được phản ánh vào tư duy và hình thành nên khái niệm Vậy nên, khái niệm là một phạm trù của tư duy được hình thành từ những hiểu biết trong thực tế Đấy là những dấu hiệu bản chất về sự vật, hiện tượng Khi các dấu hiệu bản chất đó được phản ánh vào ngôn ngữ sẽ hình thành nên các nét nghĩa Tập hợp các nét nghĩa đó trong ngôn ngữ chính là ý nghĩa biểu niệm của từ [14, tr 548]

Như vậy, ý nghĩa biểu niệm của từ là tập hợp của một số nét nghĩa chung và riêng, khái quát và cụ thể theo một tổ chức, một trật tự nhất định Giữa các nét nghĩa có những quan hệ nhất định

* Ý nghĩa biểu thái (pragmatical meaning): Là phần nghĩa của từ liên quan đến thái

độ, cảm xúc, cách đánh giá Sự vật, hiện tượng biểu thị trong ngôn ngữ đều là những sự vật, hiện tượng đã được nhận thức, được thể nghiệm bởi con người Do

đó, khi gọi tên sự vật, hiện tượng, con người thường gửi kèm theo những cảm xúc, thái độ và cách đánh giá của bản thân vào ngôn ngữ Thuộc phạm vi ý nghĩa biểu thái của từ bao gồm những nhân tố đánh giá, nhân tố cảm xúc, nhân tố thái độ… mà

từ gợi ra cho người nói và người nghe

Đỗ Hữu Châu (2005) cho rằng: Nếu như thông điệp có lõi miêu tả và bộ phận tình thái thì ở từ lõi miêu tả là ý nghĩa biểu niệm còn bộ phận tình thái chính là

ý nghĩa biểu thái của từ Do đó, ý nghĩa biểu thái có vai trò quan trọng trong việc định hướng dùng từ trong hoạt động giao tiếp cụ thể [14, tr 870]

Theo Nguyễn Thiện Giáp (2001), khi nói đến ý nghĩa trong ngôn ngữ, người

ta thường nghĩ ngay đến nghĩa riêng của từng đơn vị (từ, câu ) Ý nghĩa riêng của

từng từ được gọi là ý nghĩa từ vựng, còn ý nghĩa riêng của từng câu cũng thuộc phạm trù ý nghĩa từ vựng vì nó do ý nghĩa từng vựng của các từ trong câu trực tiếp tạo nên Bên cạnh loại ý nghĩa trên, mỗi loạt đơn vị còn có ít nhất một ý nghĩa

chung bao trùm lên Chẳng hạn 3 từ boy, pen, book đều có ý nghĩa chung là "sự vật"

và "số ít" Loại ý nghĩa chung bao trùm lên một loạt đơn vị ngôn ngữ như vậy gọi

Trang 26

là ý nghĩa ngữ pháp, là ý nghĩa chung của hàng loạt từ, hàng loạt câu, ý nghĩa ngữ pháp có tính khái quát hoá cao hơn ý nghĩa từ vựng Có thể nói, ý nghĩa từ vựng là

ý nghĩa vật thể, còn ý nghĩa ngữ pháp là ý nghĩa siêu vật thể hay phi vật thể Cũng như ý nghĩa từ vựng, ý nghĩa ngữ pháp phải được thể hiện ra bằng những hình thức nhất định Có điều, mỗi loại ý nghĩa tìm cho mình một loại phương tiện biểu hiện riêng Đối với việc biểu đạt ý nghĩa từ vựng, phương tiện ấy là phương tiện từ vựng Còn phương tiện thích hợp để biểu thị ý nghĩa ngữ pháp là phương tiện ngữ pháp

Ví dụ, các ý nghĩa từ vựng chỉ "cái bút", "quyển sách" trong tiếng Anh được thể hiện bằng những từ tương ứng; trong khi đó, ý nghĩa ngữ pháp "số nhiều" của các từ

này thì được thể hiện bằng phụ tố s, và ý nghĩa ngữ pháp "số ít" thì được thể hiện

bằng phụ tố zero [29, tr 117]

Có thể đưa ra một định nghĩa tóm lược những điểm chính yếu về ý nghĩa ngữ pháp: Ý nghĩa ngữ pháp là loại ý nghĩa chung cho hàng loạt đơn vị ngôn ngữ và được thể hiện bằng những phương tiện ngữ pháp nhất định

1.2.2.3 Cấu trúc nghĩa của từ

a Khái niệm cấu trúc nghĩa của từ

Ngữ nghĩa học hiện đại coi ý nghĩa của từ lập thành một cấu trúc, bao gồm một số nét nghĩa (nghĩa vị) được kết hợp với nhau theo quy tắc nhất định, chi phối

và quyết định lẫn nhau Trên cơ sở phân tích ngữ nghĩa của các từ đại diện, Hoàng

Phê đã đi đến kết luận: "Nghĩa của từ, nói chung:

- Là một tập hợp những nét nghĩa có quan hệ quy định lẫn nhau;

- Giá trị của các nét nghĩa không như nhau (giữa các nét nghĩa có quan hệ cấp bậc), biểu hiện ở khả năng tham gia khác nhau vào việc thực hiện chức năng thông báo;

- Các nét nghĩa có tính độc lập tương đối, biểu hiện ở khả năng độc lập tổ hợp và tác động qua lại với những nét nghĩa của những từ khác khi từ tổ hợp với nhau”.[91, tr.15]

Theo ông “Cấu trúc nghĩa của từ là một cấu trúc động Tính động của cấu trúc nghĩa từ không chỉ biểu hiện ở tính độc lập tương đối giữa các nét nghĩa, mà còn biểu hiện ở khả năng thực hiện hoá khác nhau của các nét nghĩa” [63, tr.22]

Trang 27

Nguyễn Đức Tồn (2013) cho rằng cấu trúc nghĩa của từ theo quan điểm mà

Hoàng Phê trình bày về cấu trúc ngữ nghĩa học hiện đại chỉ là "sự phân tích lời giải thích cụ thể của một cách hiểu về nghĩa của từ và cái gọi là cấu trúc nghĩa của từ như đã nêu chỉ là cấu trúc của lời giải nghĩa của từ mà thôi" Với quan niệm nghĩa của từ là "một hiện tượng tâm lí tinh thần" nên theo tác giả, cấu trúc nghĩa của từ không thể có tính chất tuyến tính mà là phi tuyến tính Cái gọi là nét nghĩa (nghĩa

vị) của từ chính là sự hiểu biết của con người về đặc trưng nào đó của cái mà từ gợi

ra Nghĩa từ nằm trong đầu con người Vì vậy, nếu có cấu trúc thì cấu trúc đó phải

là phi tuyến tính - sự hiểu biết hoàn chỉnh như một ý niệm tổng thể xuất hiện đồng thời về các đặc trưng, các thuộc tính của sự vật, hiện tượng được từ chỉ ra hoặc gợi ra [84, tr.115]

b Nét nghĩa

Theo Weinreich (1971), “Điều mong muốn phân tích một nghĩa tổng quát ra những thành tố và xác lập một quan hệ tôn ti giữa các thành tố luôn luôn là một trong những động cơ chủ yếu của nghiên cứu ngữ nghĩa học” [151, tr.317]

Đỗ Hữu Châu (1999) cho rằng sự phân tích các âm vị thành các nét khu biệt đã dẫn tới quan niệm cho rằng ý nghĩa của từ cũng có thể là một tổ hợp của những yếu tố ngữ nghĩa nhỏ nhất, không thể phân chia được nữa, và chung cho

nhiều từ trong từ vựng Những yếu tố ngữ nghĩa như vậy được gọi là nét nghĩa (hay nghĩa vị, thành tố ngữ nghĩa) “ …sự vật hiện tượng có rất nhiều thuộc tính, không phải tất cả các thuộc tính đều trở thành các nét nghĩa trong ý nghĩa biểu niệm Chỉ những thuộc tính nào tạo nên sự đồng nhất và sự đối lập mới trở thành nét nghĩa của ý nghĩa biểu niệm” [13, tr.117]

Lê Quang Thiêm (2008) đã phân biệt nét nghĩa và nghĩa vị Theo tác giả,

nghĩa vị (đôi khi vẫn được gọi tắt là nghĩa) chính là những “nghĩa được thừa nhận cương vị” Nghĩa vị chính là các nghĩa trong từ đa nghĩa và mỗi một nghĩa vị là một tập hợp của các nét nghĩa Như vậy, cấu trúc nghĩa của từ gồm: tập hợp các nét

nghĩa để tạo nghĩa vị và tập hợp các nghĩa vị để tạo thành nghĩa của từ [76, tr.70]

Theo Hoàng Phê (2010), nét nghĩa là những yếu tố ngữ nghĩa chung cho

nghĩa của các từ thuộc cùng một nhóm từ, hoặc riêng cho nghĩa của một từ, đối lập

Trang 28

với nghĩa của các từ khác trong cùng một nhóm Nét nghĩa được diễn đạt bằng từ (hoặc tổ hợp từ) Chẳng hạn, nghĩa của những từ chỉ người có quan hệ gia đình thân

thuộc như cha, mẹ, vợ, chồng, v.v… có một yếu tố ngữ nghĩa chung “nói trong quan hệ gia đình, thân thuộc (với người nào đó)” Đem đối lập với nhau, nghĩa của cha, mẹ, vợ, chồng lại có thể phân tích ra những yếu tố ngữ nghĩa: “phụ nữ”, “đàn

ông”, “đã có con”, “đã kết hôn” Mỗi nghĩa từ là một tổ hợp đặc biệt những yếu tố ngữ nghĩa [63, tr.11-12]

Luận án tiếp cận khái niệm về cấu trúc nghĩa của từ và khái niệm nét nghĩa

theo quan điểm của Hoàng Phê (2010) và Nguyễn Đức Tồn (2013), xem nét nghĩa

(nghĩa vị) là những yếu tố ngữ nghĩa chung cho nghĩa của các từ thuộc cùng một nhóm từ, hoặc riêng cho nghĩa của một từ, đối lập với nghĩa của các từ khác trong cùng một nhóm để làm quan điểm thao tác cho luận án Các từ chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Việt mà luận án lựa chọn làm đối tượng nghiên cứu cũng dựa trên sự

phân chia các nét nghĩa (nghĩa vị) trong cuốn Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê

(2010) để đảm bảo tính nhất quán trong nghiên cứu

1.2.2.4 Hiện tượng chuyển nghĩa của từ

Nguyễn Thiện Giáp (2010) cho rằng: Để có thể phản ánh được cái vô hạn và không ngừng phát triển của các sự vật trong đời sống cũng như sự phát triển của nhận thức con người, ngoài việc xuất hiện các từ mới với nội dung và hình thức hoàn toàn mới, sự xuất hiện các nghĩa chuyển là cách tiết kiệm nhất của ngôn ngữ

để phản ánh sự phát triển không ngừng của thế giới khách quan, đời sống và nhận thức của con người Theo nghĩa hẹp, chuyển nghĩa là kết quả của hiện tượng sử dụng từ theo ẩn dụ và hoán dụ [31, tr.139]

a Nghĩa gốc (original meaning)

“Nghĩa gốc là nghĩa mà từ đó phái sinh ra các nghĩa khác” [31, tr.265]

“Nghĩa gốc hay còn gọi là nghĩa cơ bản được hiểu là nghĩa đầu tiên, trên cơ

sở nghĩa đó, người ta xây dựng nên các nghĩa khác” [19, tr.173]

b Nghĩa chuyển (transferred meaning)

“Nghĩa chuyển tiếp bao giờ cũng có thể giải thích được qua nghĩa trực tiếp, còn nghĩa trực tiếp không giải thích được” [31, tr.264]

Trang 29

c Các phương thức chuyển nghĩa cơ bản

Để xây dựng, phát triển thêm nghĩa của các từ, trong ngôn ngữ có nhiều cách Tuy nhiên, có hai cách quan trọng nhất thường gặp trong các ngôn ngữ là chuyển nghĩa ẩn dụ (metaphor) và chuyển nghĩa hoán dụ (metonymy)

* Ẩn dụ

Ẩn dụ là một phương thức chuyển tên gọi dựa trên sự liên tưởng so sánh những mặt, những thuộc tính giống nhau giữa các đối tượng được gọi tên

Ví dụ: từ cánh

+ Nghĩa gốc: trên cơ sở định danh cho cánh chim, cánh bướm, nó có nghĩa

gốc là: bộ phận dùng để bay của chim, dơi, côn trùng; có hình tấm, rộng bản; tạo thành đôi đối xứng ở hai bên thân và có thể khép vào, mở ra

+ Chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ: trên cơ sở so sánh nhiều sự vật khác nhau có hình dạng tương tự (hoặc người Việt liên tưởng và cho là chúng

tương tự nhau), cánh được chuyển sang để gọi tên cho những bộ phận giống hình cánh chim ở một số vật: cánh máy bay, cánh quạt, cánh hoa; cánh cửa, ngôi sao năm cánh; kề vai sát cánh, cánh tay; cánh buồm, cánh đồng, cánh rừng (những nghĩa này đã rất khác xa so với cánh chim) [19, tr.177]

*Hoán dụ

Hoán dụ là một phương thức chuyển tên gọi dựa trên mối liên hệ lôgic giữa các đối tượng được gọi tên [19, tr.177]

Định nghĩa này có thể được thuyết minh lại như sau:

Giả sử ta có từ T là tên gọi của đối tượng Đ1 và từ này có nghĩa S1

Khi cần gọi tên cho một đối tượng Đ2 mà giữa Đ2 với Đ1 có mối liên hệ lôgic nào đó (như liên hệ giữa bộ phận với toàn thể; giữa nguyên liệu với sản phẩm tạo thành chẳng hạn) thì người ta có thể dùng T để gọi tên luôn cho cả Đ2 Lúc này

từ T được xây dựng thêm, được cấp thêm cho một nghĩa S2 Người ta bảo như thế

là đã có một phép chuyển nghĩa hoán dụ Ví dụ: vụng vá vai (áo), tài vá nách (áo)

Ở đây, tiếng Việt đã lấy bộ phận thân thể để gọi tên cho bộ phận trang phục tương ứng [19, tr.177]

Trong nghiên cứu sự phát triển ý nghĩa của từ tiếng Việt, hầu hết các nhà

Trang 30

Việt ngữ học đều thống nhất cho rằng, các nghĩa phái sinh mới của từ ngữ được sản sinh dựa trên quy luật liên tưởng tương đồng hoặc tương cận, dựa vào hai phương thức chuyển nghĩa cơ bản là ẩn dụ và hoán dụ, trong đó phương thức ẩn dụ thường chiếm ưu thế Đó cũng là kết luận của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới về phương thức ẩn dụ khi khảo sát hiện tượng chuyển nghĩa của từ Đây là một phương pháp nghiên cứu quan trọng, giúp cho việc giải thích nghĩa của từ được rõ ràng dựa vào cách chỉ ra các nét nghĩa, trật tự của các nét nghĩa hoặc là miêu tả nội dung nghĩa từ bằng một tổ hợp các thành tố ngữ nghĩa Nói một cách đơn giản, đây là phương pháp được sử dụng để tìm ra ý nghĩa của từ bằng cách phân giải các ý nghĩa ra thành những thành phần ngữ nghĩa nhỏ nhất

d Nghĩa biểu trưng

(i) Giới thuyết về biểu trưng

Khi tiếp xúc với thế giới xung quanh, con người hình thành cho mình một bức tranh về thế giới Ngoài khái niệm, con người còn tạo ra cho mình một thế giới khác nằm giữa thế giới khách quan (khách thể) và con người (chủ thể), gọi là thế giới trung chuyển, gồm những cảm nhận và tưởng tượng về thế giới khách quan thông qua hình ảnh của chúng Để tạo ra thế giới trung chuyển, phải có hành động

biểu trưng hóa (symbolization) để chủ thể có được những thuộc tính của khách thể

và khách thể có được những thộc tính của chủ thể (chẳng hạn, các vị thần, thánh, tiên … đều có hình hài giống như con người) Theo Trần Văn Cơ (2007), nhờ biểu

trưng hóa, con người tạo ra những biểu tượng (symbol) cụ thể Trong tiếng Việt, để

chỉ biểu tượng, người ta còn dùng các từ “biểu trưng”, “tượng trưng” [20]

Có nhiều công trình đã nghiên cứu về biểu trưng trong văn hóa và điển hình là

cuốn “Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới” của Chevalier và Gheerbrant (1997) Hai

tác giả của công trình này đã thu thập, tổng hợp các biểu tượng ở các lĩnh vực và phạm vi rất đa dạng và phong phú như về các huyền thoại, chiêm mộng, phong tục,

cử chỉ, dạng thể, các hình, màu sắc và con số trên phạm vi thế giới Các tác giả cho

rằng: “Khởi nguyên, biểu tượng là một vật được cắt làm đôi, mảnh sứ, gỗ hay kim loại Hai người mỗi bên giữ một phần, chủ và khách, người cho vay và người đi vay, hai kẻ hành hương, hai người sắp chia tay lâu dài… Sau này, ráp hai mảnh lại với

Trang 31

nhau, họ sẽ nhận ra mối thân tình xưa, món nợ cũ, tình bạn ngày trước Ở người Hy Lạp thời cổ đại, biểu tượng còn là những dấu hiệu để cha mẹ nhận ra con cái bị lưu lạc Bằng lối loại suy, từ được mở rộng nghĩa, chỉ các tấm thẻ, cầm chúng thì có thể lĩnh lương, phụ cấp hay thực phẩm; chỉ mọi dấu hiệu tập hợp, chỉ các điềm triệu hay các quy ước Biểu tượng chia ra và kết hợp lại với nhau, nó chứa hai ý tưởng phân li

và tái hợp; nó gợi lên ý một cộng đồng, đã bị chia cắt và có thể tái hình thành Mọi biểu tượng đều chứa đựng dấu hiệu bị đập vỡ; ý nghĩa của biểu tượng bộc lộ ra trong cái vừa là gãy vỡ vừa là nối kết những phần của nó đã bị vỡ ra” [15, tr.23]

Theo Fromm (2002), biểu trưng (tượng trưng) có hai loại: tượng trưng mang tính chất tập quán là ngôn ngữ sử dụng hàng ngày Giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt của loại tượng trưng này không có mối quan hệ nội tại Tượng trưng mang tính chất ngẫu nhiên cũng thế Với tư cách là một hệ thống kí hiệu ngôn ngữ cũng là những biểu trưng Chất liệu biểu trưng là cái nằm ngoài, vật chất mà nó biểu trưng lại nằm sâu trong nội tâm Ngôn ngữ biểu trưng là ngôn ngữ dùng để diễn đạt kinh nghiệm nội tại, nó hầu như là sự thể nghiệm cảm quan đó; nó là một vật nào đó do ảnh hưởng của thế giới vật lí tác động đến chúng ta [28]

Theo Lê Quang Thiêm (2008), trong ngôn ngữ có ba tầng nghĩa là tầng nghĩa trí tuệ, tầng nghĩa thực tiễn và tầng nghĩa biểu trưng Về tầng nghĩa biểu trưng, tác

giả phân biệt nghĩa biểu trưng và nghĩa biểu tượng qua định nghĩa sau “Nghĩa biểu trưng là loại nghĩa dành cho nội dung nghĩa những từ mà hình thức ngữ âm (mô phỏng âm thanh) hoặc hình thức cấu âm (mô phỏng cấu hình) như có liên hệ đến nội dung được biểu hiện của từ Nghĩa biểu tượng là hình thức ánh xạ cảm tính của sáng tạo cá nhân, nhưng nó có mối quan hệ mật thiết với những nghĩa do xã hội tạo ra đã được nêu một cách gián tiếp qua ngôn ngữ, mang nội dung xã hội và bao giờ cũng lĩnh hội được, nhận thức được” [76, tr.25-26]

Diệp Quang Ban (2010) trong “Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học” cho rằng:

“Trong kí hiệu học, một kí hiệu mà đặc tính của nó là thuần túy võ đoán hoặc hoàn

toàn quy ước, tức không có sở cứ, như màu đen hay trắng tượng trưng cho sự tang

tóc Trong ngôn ngữ, phần lớn các từ mang tính biểu trưng thuần khiết xét trong

quan hệ với vật được gọi tên, như từ gà, từ cá trong tiếng Việt không có căn cứ gì để

Trang 32

làm tên gọi con gà, con cá, điều này giải thích cho hiện tượng cùng là con cá mà

mỗi ngôn ngữ có một tên gọi khác nhau” [5, tr.67]

Theo Hoàng Văn Hành (1982), có hai loại biểu trưng hóa ngôn ngữ:

(i) Biểu trưng hóa dựa vào quan hệ tương thích giữa âm và nghĩa, là giá trị biểu trưng hóa ngữ âm Chẳng hạn, vần -oe có khả năng gợi ra những biểu tượng

về hình dạng loe ra, xòe ra, tỏa rộng dần ra của những hiện tượng hay quá trình ấy

Ví dụ: hoe, xòe, tòe, nhòe…

2) Biểu trưng hóa dựa vào quan hệ tương đồng và tương cận trong quá trình liên hội ngữ nghĩa thì gọi là giá trị biểu trưng hóa ngữ nghĩa Hình thái liên hội

ngữ nghĩa theo quan hệ tương đồng là so sánh hiện đó là tỉ dụ hóa Ví dụ: Nóng như lửa, Câm như thóc và so sánh ẩn, đó là ẩn dụ hóa: Mặt sứa gan lim; cha giăng mẹ cuội Hình thái liên hội ngữ nghĩa theo quan hệ tương cận là hoán dụ hóa: Ba chân bốn cẳng; khéo chân khéo tay [37, tr.30]

Như vậy, biểu trưng có hai mặt đó là cái biểu đạt và cái được biểu đạt Trong

đó, cái biểu đạt có thể là một vật, một hình ảnh, một âm thanh… nào đó còn cái được biểu đạt là một ý nghĩa nào đó được gợi lên trong trí não con người khi tiếp xúc bằng thị giác, thính giác mà chúng không có mối liên hệ trực tiếp với cái biểu đạt Như vậy, âm thanh, kí hiệu ngôn ngữ đã mang nghĩa biểu trưng và ký hiệu ngôn ngữ trong hành chức có khả năng tạo ra nghĩa biểu trưng mới Quá trình tạo nghĩa này có thể đi

từ cái cụ thể đến cái trừu tượng, từ nghĩa gốc sang nghĩa chuyển hay từ nghĩa đen sang nghĩa bóng và nghĩa mới khi được cộng đồng chấp nhận và dùng phổ biến theo tính ước lệ thì được gọi là nghĩa biểu trưng Nghĩa biểu trưng được hình thành từ: biện pháp so sánh và hai phương thức chuyển nghĩa là ẩn dụ và hoán dụ Chính vì tầm quan trọng của hai phương thức chuyển nghĩa ẩn dụ và hoán dụ, sau đây chúng tôi trình bày về mối quan hệ giữa hai phương thức chuyển nghĩa này với biểu trưng

(ii) Quan hệ giữa biểu trưng với ẩn dụ và hoán dụ

Bản thân ẩn dụ và hoán dụ đều mang ít nhiều ý nghĩa biểu trưng nhưng biểu trưng không phải bao giờ cũng là ẩn dụ hay hoán dụ Biểu trưng không làm mất đi ý nghĩa cụ thể, cảm tính của vật tượng trưng hoặc hình tượng nghệ thuật Trái lại, ẩn dụ

và hoán dụ có khuynh hướng làm lu mờ ý nghĩa biểu vật của lời nói Một ẩn dụ có thể

Trang 33

được dùng cho nhiều đối tượng Ngược lại, một đối tượng có thể được biểu đạt bằng nhiều ẩn dụ, hoán dụ

Như vậy, cơ sở để hình thành ẩn dụ, hoán dụ và biểu trưng là sự đối chiếu, so sánh các sự vật, hiện tượng khách quan mà chúng có những đặc điểm, tính chất tương đồng với nhau, từ đó kiến tạo ra một ý nghĩa cụ thể về sự vật, hiện tượng đó Biểu trưng ngôn ngữ chỉ được hình thành dựa trên cơ sở của các phương thức chuyển nghĩa

là ẩn dụ, hoán dụ và biện pháp so sánh Chính vì thế mà một từ khi có nghĩa biểu trưng thì nhất thiết đã được chuyển nghĩa, ngược lại, một từ khi chuyển nghĩa lại chưa chắc đã có nghĩa biểu trưng Như vậy, nghĩa biểu trưng là tầng nghĩa sâu hơn lớp nghĩa chuyển của ngôn từ, nhưng lại được xây dựng trên cơ sở của nghĩa chuyển Vì vậy, người tiếp nhận hay lĩnh hội văn bản muốn nắm bắt được nghĩa biểu trưng trước hết phải thấy được cái tầng nghĩa nằm sâu hơn lớp nghĩa chuyển và phải thấy được nghĩa khái quát, trừu tượng và đôi khi là nằm bên ngoài ngôn ngữ

Những cơ sở tương đồng giữa ẩn dụ, hoán dụ và biểu trưng như đã trình bày,

là cơ sở để chúng tôi nghiên cứu đối tượng của luận án

1.2.3 Từ chỉ màu sắc trong tiếng Anh và tiếng Việt

1.2.3.1 Khái niệm về từ chỉ màu sắc

Từ điển Bách khoa toàn thư Oxford Learner’s Advanced Encyclopedic định

nghĩa: Màu sắc là đặc tính có thể nhìn thấy của các sự vật được tạo ra bởi các tia

sáng hoặc các bước sóng khác nhau bị phản xạ lại Đào Thản (1993) coi: “Màu sắc

là một thuộc tính của vật thể, tồn tại một cách khách quan trong thế giới vật chất,

mà thị giác con người có thể nhận biết được” [68, tr.11-15]

Đỗ Tường Linh trong bài viết Bí mật của màu sắc,

(http://hufa.edu.vn/bi-mat-cua-mau-sac/) cho rằng dưới góc nhìn vật lí, không một màu nào tồn tại khách

quan trong tự nhiên Ánh sáng là một dạng năng lượng có tính nhị nguyên: vừa là hạt lại vừa là sóng điện từ với các bước sóng khác nhau Ánh sáng tự nó không có màu sắc Phổ sóng điện từ rất rộng, trải dài từ các sóng radio có bước sóng cỡ hàng trăm ngàn km, tới các sóng tia X, tia gamma với bước sóng ngắn hơn 1 phần ngàn tỉ meter (10-12 m, hay 1 phần ngàn nanometer, nm) Trong dải phổ sóng điện từ với

Trang 34

những bước sóng dài đó, phần phổ của ánh sáng mắt người có thể nhìn thấy chỉ

chiếm một phần không đáng kể, từ 780 nm xuống tới 380 nm

Các vật trong tự nhiên tự chúng không có màu sắc, mà chỉ hấp thụ, truyền tải

và phản xạ ánh sáng chiếu vào chúng Các tín hiệu về tỉ số giữa các vùng sóng và sáng - tối được truyền qua thần kinh thị giác lên não để được xử lý như các màu

khác nhau trong phổ ánh sáng nhìn thấy được như sau (dẫn theo Đỗ Tường Linh, Bí

mật của màu sắc, http://hufa.edu.vn/bi-mat-cua-mau-sac/)

1 Nguồn: Đỗ Tường Linh, Bí mật của màu sắc, http://hufa.edu.vn/bi-mat-cua-mau-sac/

Trang 35

Hình 2 Bước sóng của các tia đơn sắc trong phổ ánh sáng mắt người có thể nhìn thấy 2

1.2.3.2 Phân loại từ chỉ màu sắc

Sự nhận thức và phân biệt màu sắc hoàn toàn có tính chất chủ quan đối với từng cộng đồng người nhất định Trong các ngôn ngữ khác nhau, người ta phân chia dải màu và ghi nhận các sắc độ, sắc thái về màu sắc theo những cách riêng Vì thế,

hệ thống tên gọi màu sắc của các ngôn ngữ cũng không giống nhau Vấn đề này đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và có cả những nhà ngôn ngữ học Màu sắc được thể hiện bằng danh từ và tính từ trong hệ thống từ loại Trong đó, tính

từ chỉ màu sắc được sử dụng rộng rãi hơn cả Qua khảo sát 98 ngôn ngữ, Berlin & Kay (1969) đã có nhận xét về các màu cơ bản (basic colours) một cách phổ quát như sau:

2

Nguồn: Đỗ Tường Linh, Bí mật của màu sắc, http://hufa.edu.vn/bi-mat-cua-mau-sac/

Trang 36

- Mọi ngôn ngữ đều có hai từ chỉ màu đen và màu trắng

- Nếu có ba từ thì có thêm màu đỏ

- Nếu có bốn từ thì có thêm xanh lá cây hoặc vàng

- Nếu có năm từ thì có thêm cả xanh lá cây và vàng

- Nếu có sáu từ thì có thêm màu xanh da trời

- Nếu có bảy từ thì có thêm màu nâu

- Nếu có trên bảy từ thì có thêm tím, hồng, cam, xám hoặc hỗn hợp những

màu này [96, tr 2-3]

Từ các kết luận trên, có thể thấy rằng trong sự ghi nhận màu sắc, vấn đề xác định màu cơ bản (màu chính) và màu phụ là một thực tế đặt ra đối với nhiều ngôn ngữ Tính hệ thống của các từ ngữ chỉ màu đòi hỏi phải chỉ ra được trong một ngôn ngữ những màu nào được coi là màu cơ bản, những màu nào là màu phụ và ứng với chúng là những từ ngữ nào Đồng thời, cũng có thể suy ra: Số lượng từ chỉ màu trong các ngôn ngữ nói chung không có sự tương đương nhau, do sự ghi nhận và gọi tên màu sắc không giống nhau Có ngôn ngữ chỉ biết có hai màu, lại có những ngôn ngữ lại phân biệt đến bảy màu Như vậy, chỉ có thể nói đến việc xác định màu

cơ bản ở từng ngôn ngữ cụ thể Hơn nữa, vấn đề này cũng quan trọng ở những ngôn ngữ có từ chỉ màu phong phú như tiếng Việt Sự nhận thức về màu và phân chia dải màu để gọi tên các màu ở các ngôn ngữ thường dựa trên cảm nhận thị giác và quan điểm truyền thống của từng cộng đồng người Vì lẽ đó, một số màu được coi là cơ bản ở ngôn ngữ này lại có thể không phải là màu cơ bản ở ngôn ngữ khác Chẳng

hạn, thời xưa, ông cha ta không xem màu xanh da trời, xanh lá cây và màu da cam

là màu cơ bản trong tiếng Việt Trong khi đó, ở tiếng Anh, theo Berlin & Kay

(1969), các màu cơ bản lại là: trắng, đen, đỏ, xanh lá cây, vàng, xanh nước biển, nâu, tím hồng, da cam, xám.[96]

Trong tài liệu phổ quát trên, bảy từ chỉ màu được đưa ra không nhất thiết là những từ chỉ màu sắc của riêng một ngôn ngữ nào; cũng không phải là những màu

của cầu vồng (đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, tím) Nói cách khác, bảy màu cầu

vồng không có sự liên quan với nhóm màu cơ bản của từng ngôn ngữ hay với bảy màu của tài liệu trên Nhưng có một điểm tương đồng giữa các ngôn ngữ là màu sắc

Trang 37

được thể hiện bằng tính từ và danh từ trong hệ thống từ loại

Các từ chỉ màu trong tiếng Anh và tiếng Việt có thể được phân loại dựa trên phương thức cấu tạo cũng như cấu trúc nghĩa Nói các khác, phân loại các từ chỉ màu trong hai ngôn ngữ này có thể dựa trên phương diện từ vựng và ngữ nghĩa Áp dụng lí thuyết về các đơn vị từ vựng chỉ màu cơ bản của Berlin & Kay (1969) [96]

và kết quả nghiên cứu thực nghiệm của Jameson và Alvarado (2003) [121], chúng tôi cho rằng trong tiếng Anh và tiếng Việt có ba lớp từ chỉ màu chính đó là: Lớp từ chỉ màu cơ bản, lớp từ chỉ màu phái sinh và lớp từ chỉ màu cụ thể

từ đó (ii) Nghĩa của nó không nằm trong nghĩa của một từ chỉ màu sắc khác Theo

tiêu chí này thì trong tiếng Việt, xanh lá cây, xanh da trời không phải là từ chỉ màu sắc cơ bản vì nghĩa của chúng nằm trong nghĩa của từ xanh (iii) Nghĩa của chúng không được áp dụng hạn chế cho một phạm vi hẹp Cũng theo tiêu chí này thì xanh rờn cũng không phải là từ chỉ màu cơ bản vì chỉ được sử dụng cho cây cối ở một

thời điểm phát triển nhất định (iv) Phải nổi bật về mặt thông tin như xuất hiện đầu tiên trong danh mục, có tính ổn định về mặt thông tin và sử dụng [96, tr 6-7]

Qua nghiên cứu về từ ngữ chỉ màu sắc, hai tác giả Berlin & Kay trong cuốn

Basic colour terms đã đề cập đến khái niệm từ chỉ màu sắc cơ sở hay còn gọi là từ chỉ màu sắc sơ cấp và đưa ra một số tiêu chí để xác định những từ chỉ màu sắc cơ

sở đó Qua việc quan sát 98 ngôn ngữ, hai ông đã xác định số lượng phạm trù màu sắc cơ sở khác nhau ở mỗi ngôn ngữ Hai ông đã đưa ra một hệ thống từ chỉ màu cơ

bản trong tiếng Anh bao gồm 11 từ : white (trắng), black (đen), red (đỏ), green (xanh lá cây), yellow (vàng), blue (xanh nước biển), brown (nâu), purple (tím), pink (hồng), orange (da cam), grey (xám) [96]

Tiếng Việt là một trong những ngôn ngữ có hệ thống các từ chỉ màu tương

đối phong phú đa dạng, được chia thành 3 lớp từ chỉ màu sắc Lớp từ chỉ màu cơ

Trang 38

bản; lớp từ chỉ màu phái sinh, và lớp từ chỉ màu cụ thể.[33] Các nhà nghiên cứu

trong nước tùy theo mục đích nghiên cứu của mình đã đưa ra những số lượng các từ chỉ màu sắc cơ bản khác nhau Và số lượng này cũng thay đổi tùy theo các ngành nghề có liên quan chặt chẽ đến màu sắc như họa sĩ, thợ ảnh, các nghệ nhân gốm, nhuộm…

Theo Đào Thản (1993), sự nhận thức về màu và phân chia dải màu trên cảm nhận thị giác và quan điểm truyền thống của từng cộng đồng người nhiều hơn là dựa vào kết quả phân tích quang phổ Từ nhận xét trên, Đào Thản cũng đưa ra nhận xét về ảnh hưởng của thuyết ngũ hành đối với các từ chỉ màu cơ bản vì ngũ hành là

5 nguyên tố vật chất cấu tạo nên thế giới Ứng với 5 nguyên tố này sẽ có ngũ sắc, chính là 5 màu cơ bản nhất mà ông cha chúng ta đã từng quan niệm và ghi nhận

trong ngôn ngữ, đó là các màu xanh, đỏ, trắng, tím, vàng.[68]

Khi nghiên cứu về ngũ hành, Trần Ngọc Thêm (2000) đã khẳng định ngũ hành không phải là năm yếu tố mà là 5 loại vận động, quan hệ với tính khái quát rất cao Ngũ sắc nằm trong phạm vi ứng dụng rất rộng rãi của ngũ hành [73]

Bảng 1.1 Một số ứng dụng của Ngũ hành [Nguồn: Trần Ngọc Thêm (2000)]

các mùa

Trong số những ý nghĩa trong bảng trên, về màu biểu thì hai màu đen – đỏ

Trang 39

mang tính đối lập âm – dương rõ rệt nhất nên ứng với hai hành Thủy - Hỏa, (hai phương Bắc – Nam), hai màu xanh – trắng cũng đối lập âm dương nhưng kém rõ rệt hơn, ứng với hai hành Mộc – Kim, màu vàng ứng với hành Thổ ở trung ương

Tuy nhiên, ý kiến của Đào Thản (1993) [68] với 7 màu cơ bản trong tiếng

Việt là trắng, đen, xanh, đỏ, tím, vàng, nâu cũng như 5 màu cơ bản theo ngũ hành là đen, đỏ, xanh, trắng, vàng theo chúng tôi là chưa đủ Trong tiếng Việt, theo chúng tôi, hợp lí nhất vẫn là số lượng 9 màu cơ bản gồm: trắng, đen, đỏ, vàng, xanh, nâu, tím, hồng, xám vì những màu này thỏa mãn các tiêu chí về từ chỉ màu cơ bản của

Berlin & Kay (1969) đã nêu ra, đồng thời mang những đặc trưng riêng của các từ chỉ màu cơ bản trong tiếng Việt Các từ này cùng có chung đặc điểm: (i) là những từ được phổ biến rộng rãi; (ii) đơn giản về mặt hình thức (cả 9 từ đều là từ đơn); (iii)

về mặt ý nghĩa, cả 9 từ này đều có phạm vi biểu vật rộng lớn, được sử dụng cho một

số lượng đa dạng các sự vật hiện tượng; (iv) cả 9 từ này đều có khả năng tạo ra hàng loạt từ chỉ màu với phạm vi biểu vật hẹp hơn [96]

Như vậy, từ chỉ màu cơ bản trong hai ngôn ngữ Anh - Việt được thể hiện trong bảng sau

Bảng 1.2 Từ chỉ màu cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt

Stt Từ chỉ màu cơ bản trong

Trang 40

thảo luận vì như chúng ta đã biết, tín hiệu ngôn ngữ chứa đựng cái biểu đạt và cái được biểu đạt Trong các ngôn ngữ khác nhau, tùy thuộc vào cách tri nhận, tư duy, văn hóa… mà các yếu tố này cũng không đồng nhất Hơn nữa, thế giới màu sắc đã

và đang biến đổi không ngừng và hệ thống từ chỉ màu sắc cũng biến đổi theo Tuy

nhiên, giả thuyết này cho thấy: “Đằng sau những cấu trúc có tính đặc ngữ của các

từ chỉ màu sắc, trong từng ngôn ngữ vẫn tồn tại một cơ chế chung, cơ chế có tính phổ quát đối với mọi ngôn ngữ, cũng tức là phổ quát đối với tư duy của toàn nhân loại.” [12, tr.148]

b Từ chỉ màu phái sinh

Để tạo ra các từ chỉ màu phái sinh, tiếng Anh dùng phương thức ghép và phương thức thêm phụ tố Các phương thức này có tác dụng tạo ra các từ biểu hiện các sắc thái mới của màu cơ bản hay chuyên biệt hóa các sắc thái của những màu

này Ví dụ: yellowy brown (nâu hơi vàng); greenish (hơi xanh) Về phương diện

ngữ pháp, từ các từ chỉ màu cơ bản, tiếng Việt có thể tạo ra các từ chỉ màu phái sinh

bằng phương thức láy (ví dụ: xanh xanh) hoặc ghép (ví dụ: xanh thẫm, tím Huế)

Các từ chỉ màu trong tiếng Anh và tiếng Việt cũng có thể được phân tích theo những từ để miêu tả môi trường thiên nhiên và môi trường nhân tạo Những từ chỉ màu này có thể được chia thành các phạm vi nhỏ hơn như để miêu tả thế giới khách quan, thế giới nhân tạo, miêu tả những sắc vẻ của con người

hai ngôn ngữ Anh Việt cũng rất đa dạng và khác nhau vì có sự vật, hiện tượng rất

gần gũi với người Anh thì lại xa lạ với người Việt và ngược lại như màu cá hồi trong tiếng Anh và màu nước dưa trong tiếng Việt

1.2.4 Văn hóa và mối quan hệ giữa văn hóa, ngôn ngữ và tư duy

1.2.4.1 Khái niệm về văn hóa

Trong một thời gian dài, rất nhiều nhà khoa học đã tranh luận về mối quan hệ

Ngày đăng: 12/06/2018, 17:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w