1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Một số tư liệu về nhà văn nhà thơ số 3

23 580 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số tư liệu về nhà văn nhà thơ số 3
Tác giả Hữu Thỉnh, Thu Bồn
Trường học Trường Đại Học Văn Hóa Nghệ Thuật Quân Đội
Chuyên ngành Văn học
Thể loại Tài liệu
Năm xuất bản 1993
Thành phố Sàigòn
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 266 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hùng và Rin bị giặc thiêu sống trước đồng bào, trước rừng núi Tây Nguyên, Thu Bồn dựng một khung cảnh bi tráng: Ùn ùn ngọn lửa cao như núi Chúng chờ nghe những tiếng rên la Nhưng lạ lùng

Trang 1

Hữu Thỉnh

Hữu Thỉnh tên thật là Nguyễn Hữu Thỉnh, sinh năm

1942, quê quán tỉnh Vĩnh Phúc Giải thưởng Văn họcASEAN năm 1999 với tập thơ "Thư mùa đông" Giảithưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật đợt 1 Hiện

là Chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam, Tổng biên tập Tuầnbáo Văn Nghệ; Đại biểu Quốc hội khóa X và khóa XI;Phó chủ tịch Ủy ban toàn quốc liên hiệp các Hội văn học nghệ

thuật Việt Nam

1936 : học trường Bảo An với thầy Lê Trí Viễn

1939 : ra Huế học tư thục với những thầy Cao Xuân Huy, Trần Đình Đàn, Hoài Thanh Nguyễn đức Nguyên, Đào duy Anh, vân vân

1940 : về Quảng Nam chăn bò

1942 : trở ra Huế, vì nhớ nhung gái Huế

1949 : nhập ngũ là bộ đội công binh Hai năm sau giải ngũ

1952 : vào Sài gòn

1955 (57) : khởi sự viết về Nguyễn Du và một vài nhận xét về Truyện Kiều và một vài nhận xét về Bà Huyền Thanh Quan, một vài nhận xét về Chinh Phụ Ngâm (TÂN VIỆT xuất bản)

1957 : TÂN VIỆT xuất bản giảng luận về Tản Đà Nguyên Khắc Hiếu, giảng luận về Chú Mạnh Trinh, giảng luận về Tôn Tho

Trường và Phan Văn Trì

Trang 2

1962 :

Tập thơ Mưa Nguồn

Tư Tưởng Hiện Đại

1963 :

Lá Hoa Cồn (thơ)

Ngân Thu Rớt Hột (thơ)

Màu Hoa Trên Ngàn (thơ)

Martin Heidegger và Tư Tưởng Hiện Đại (hai tập) (do đứa em )

1965 : nhà cháy mất trụi bản thảo

In vội vàng Sa Mạc Phát Tiết (An Tiêm)

Dialogue (viết Avantpropos (viết giúp cho Nhất Hạnh, Lá Bối) và Letre à René char) (Lá Bối in)

Sa Mạc Trường Ca (An Tiêm in bản)

Trang 3

Điên rồ lừng lẫy chết đi sống lại vẻ vang

Rong chơi như hài nhi (con nít)

Được gia đình ông Phó Chủ Tịch (482) Lê Quang Định, Hội Đồng Thành Phố đối xử thơ mộng thênh

Kính dâng Kim Thúy, Kim Hồng, Kim Hoa, đôi lời rốt cuộc

Bình sinh mộng tưởng vấp phải niềm thương yêu của Kim Cương Nương Tử, Hà Thanh Cố Nương và Mẫu Thân Phùng Khánh (tứcTrí Hải Ni Cô)

Do đâu mà ra được như thế ?

Đáp: Có lẽ đầu tiên kỳ tuyệt là do ân nghĩa bốn bề thiên hạ đi về tập họp tại Già Lam, Vạn Hạnh và Long Huê và Tịnh Xá Trung Tâm và Pháp Vân và xiết bao Chùa Chiền Miền Nam nước Việt, không biết nói sao cho hết

22-8-93

(*) Đây là tài liệu do cố thi sĩ Bùi Giáng ghi chép ngay trong cuốn

sổ tay vào một buổi trưa ngày mùng 10 tháng 11 năm 1993 tại chùa Pháp Vân, Gia Định, Sàigòn.

trường của ông Trong đó Bài ca chim Chơ Rao vẫn được coi là

thành công có tính định hướng cho phong cách tiêu biểu của ông Đây là khúc ca lãng mạn ca ngợi lòng yêu tự do, ý chí bất khuất Cốt truyện đậm màu sắc lãng mạn nhưng tính cách các nhân vật chân thật, hợp lôgich Thu Bồn sử dụng tiếng hát như một biểu

Trang 4

tượng của sức mạnh chân lý Tiếng hát giúp ông mở rộng không gian trường ca: Từ không khí âm u của mấy dãy xà lim chết chóc

ở Tây Nguyên, tiếng hát gợi hình ảnh quê hương miền xuôi, miền ngược Ngòi bút Thu Bồn vốn phóng khoáng và gợi cảm được dịp tung hoành trong các khung cảnh hoành tráng, hành động, hùng

vĩ, kỳ ảo Hùng và Rin bị giặc thiêu sống trước đồng bào, trước rừng núi Tây Nguyên, Thu Bồn dựng một khung cảnh bi tráng:

Ùn ùn ngọn lửa cao như núi

Chúng chờ nghe những tiếng rên la

Nhưng lạ lùng thay hai ngọn lửa

Bỗng trầm hùng vang vọng khúc ca

Và một chi tiết sáng tạo như trong bi kịch Hy Lạp cổ xưa: Khi hai sợi dây trói đã cháy, hai người con Kinh Thượng ấy:

Hai ngọn lửa đuốc rùng rùng tiến lại

Hai vòng tay lửa gắn vào nhau

Thu Bồn có sức bút mạnh mẽ Ông viết nhanh, viết nhiều, chất lượng khá đều Ông hay trở lại với đề tài Tây Nguyên, vùng đất đánh thức trí tưởng tượng của ông từ tuổi bé thơ, khi bỏ cả ngày xuống chợ Thanh Quýt để xem người Thượng cưỡi voi về mua bán Trong kháng chiến chống Pháp, ông sống với đồng bào Tây Nguyên, xúc động trước bao tấm gương hy sinh cao cả của đồng bào Ông sử dụng nhuần nhuyễn các chất liệu Tây Nguyên, hơn thế ông kỳ ảo hóa, tạo thêm sức mê đắm hoang dại và thần kỳ Những cuộc săn thú săn người trong Ba Dan khát kỳ lạ và lôi cuốn Đất nước Campuchia hiền hòa tương phản gay gắt với hànhđộng diệt chủng man rợ, quái đản của bọn Pôn Pốt Chỗ xung đột gay gắt là chỗ Thu Bồn thường cất lên những cảm xúc mạnh mẽ, xây dựng các hình tượng có tầm vóc Ông lựa chi tiết đặc tả rất cóthần Thủ đô Phnôm Pênh trong nạn diệt chủng:

Những con chuột ăn gót chân người sống

Những con mèo hoang bị chuột tha đi

Nét hùng vĩ của cảnh và người Tây Nguyên được hình tượng hóa:Quê hương lạnh đắp chăn bằng lửa

Con đại bàng nhắm mắt ngủ trong mây

Cảnh chủ làng săn đuổi đôi trai gái (Ba Dan khát): dòng sông quặnlại/ Mặt trời đau mờ mịt dưới lòng sâu Cảnh bà mẹ Chàm có đứa con bị giết đi tìm giết mẹ tên giết người Những hành động bất ngờ của những tính cách mạnh mẽ giàu chất lãng mạn và giàu chất thơ mang tính nhân dân

Ở những bài thơ ngắn, Thu Bồn cũng viết bằng hơi trường ca Không được kể chuyện thì ông dùng tình và tứ để biểu hiện Trongnhững năm chiến tranh, Thu Bồn muốn mang thơ góp vào công

Trang 5

tác tuyên truyền cổ võ chiến đấu, mỗi sự tích ông đều biến thành một đề tài Cảm xúc và cả ý tưởng đều không theo kịp

Thu Bồn giờ đây đã vào tuổi bảy mươi Những năm gần đây, thơ ông hướng về khám phá nội tâm, đúng hơn là chiêm nghiệm lại tháng ngày ông đã sống Ông nhớ một miền quê thơ ấu, cái làng Phú Thạch, thị xã Tuy Hòa, những lam lũ vất vả một thời xưa Ôngnhớ Hà Nội, Nơi không xa cách được mà mình xa cách rồi Ông nhớ mùa đông xứ Bắc áo bông rộng thênh thang những năm tập kết Ông nhớ Những con người đi qua đời tôi chẳng bao giờ gặp lại Ông phát hiện những lẽ đời sâu nặng trong những việc thườngngày Đôi lúc thoáng qua cảm giác chua chát trước biến động của cuộc sống hôm nay Ông chia sẻ và cảm thông sâu sắc với người nông dân sương nắng tự bao đời mà hôm nay vẫn còn sương nắng Ngày úp mặt xuống cánh đồng/ Đêm úp mặt lên hai cánh tay Ông cảm nghe cuộc đời trôi nhanh, hoài bão ước mơ còn đầy

ắp mà năm tháng cạn dần tới đáy Thơ ông thâm trầm hơn nhưng vẫn đầy phóng khoáng

14- 11- 2001

Vũ Quần Phương

'Tạm biệt Huế' -Thu Bồn

“Bởi vì em dắt anh lên những ngôi đền cổ

Chén ngọc giờ chìm dưới đáy sông sâu

Những lăng tẩm như hoàng hôn

Chống lại ngày ngày quên lãng

Mặt trời vàng và mắt em nâu

Xin chào Huế một lần anh đến

Để ngàn lần anh nhớ trong mơ

Em rất thực nắng thì mờ ảo

Xin đừng lầm em với cố đô

Áo trắng hỡi thuở tìm em không thấy

Nắng minh mang mấy nhịp Tràng Tiền

Nón rất Huế mà đời không phải thế

Mặt trời lên từ phía nón em nghiêng

Nhịp cầu cong và con đường thẳng

Một đời anh tìm mãi Huế nơi đâu

Trang 6

Con sông dùng dằng con sông chảy ngược

Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu

Tạm biệt Huế với em là tiễn biệt

Hải Vân ơi xin người đừng tắt ngọn sao khuya

Tạm biệt nhé với chiếc hôn thầm lặng

Anh trở về hoá đá phía bên kia”

(Huế, 1980)

Bài thơ này được Thu Bồn viết sau chuyến đi Huế (đã được nhạc

sĩ Nhạc Xuân An phổ nhạc) bằng giọng địa phương truyền cảm

“rượu hồng đào chưa nhấm đã say”

Với chỉ chừng hai mươi câu và một trăm sáu

mươi âm tiết, thi sĩ đã là một họa sĩ phác họa

cả bức tranh thủy mặc về Huế vừa hữu tình

chất chứa vừa hữu duyên mà mở đầu bài thơ

thi sĩ đã có cái cớ “Bởi vì em dắt anh” mà cảnh

và tình ở đây nhập vào làm một Con người

Thu Bồn là sự kết hợp của những gì tưởng

chừng khó kết hợp, vừa hào sảng vừa nhiệt

tình, vừa đa tình vừa thật tính, anh có cái chất

của người rất Quảng Nam nên tình yêu cũng rất tinh tế, nhịpnhàng

Thơ kết hợp với hiện thực vì trong đó chất chứa tình cảm của mộtngười luôn nghĩ tới tình yêu, đa tình đa sầu đa cảm như vậy nênThu Bồn đã chỉ có thể “Tạm biệt Huế với em là tiễn biệt” Hìnhảnh của người đi và người ở lại, người ra đi vì một lý do kháchquan nào đó còn người ở lại trong hoài cảm “minh mang” chứkhông là “mênh mông”, “tiễn biệt” chứ không là “ly biệt”, “tạm biệt”,

“vĩnh biệt” - một vị từ thật đắt chỉ có Thu Bồn vì yêu quá mới có cáidùng từ vi diệu như thế Chỉ “một lần đến” vậy mà “ngàn lần nhớtrong mơ” So sánh như thế không gì là khập khiễng vì “Em rấtthực nắng thì mờ ảo/Xin dừng lầm em với cố đô”

Cố đô Huế là vẻ đẹp của “lăng tẩm” trầm lặng và là của thiênnhiên ban tặng cho đất thần kinh nhưng với em là vẻ đẹp của “áotrắng” thướt tha cầu Tràng Tiền trong cái gió lộng tư bề Cổ kínhnhư Huế nhưng với em thì truyền thống trong cách tân hiện đại để

có yêu, có nhớ có nên duyên vợ tình chồng thì âu đó cũng là quyluật tự nhiên vậy Thế nhưng lòng thi sĩ đã ngà ngà say men hồngđào xứ Quảng mà lảo đảo chếnh choáng hơi men tình Câu ca

Nhà thơ Thu Bồn

và vợ là nghệ sĩ

Lý Bạch Huệ

Trang 7

dao xưa nói rất thật ở trong tình cảm nhà thơ lúc này: “Học trò ở Quảng ra thi/Thấy cô gái Huế chân đi không đành!” thật đúng quá

với Thu Bồn

Con người Huế, cảnh Huế được con mắt rất tinh của thi sĩ ThuBồn chộp lại thật đẹp trong huyền ảo bảng lãng hơi sương của “12nhịp Tràng Tiền”, Sông Hương làm nên Huế bằng lòng sông củaphá Tam Giang hợp lưu lại:

“Con sông dùng dằng con sông chảy ngược

Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu”

Từ láy “dùng dằng” của con sông là sự mềm yếu nhưng rất mạnh

mẽ “giữ mình” của cô gái Huế để khi về thi sĩ chỉ dám “hôn thầmlặng” rồi “hóa đá” Xưa nay chỉ có biểu tượng “Hòn vọng phu” chỉthiếu phụ chờ chồng chinh chiến trở về mà ôm con hóa đá NayThu Bồn vì yêu mà “hóa đá bên kia” - ở Ngũ Hành Sơn-quê hươngthi nhân chỉ cách quê em-Huế một dãy đèo Hải Vân

Như nhà thơ Chế Lan Viên thừa nhận: “Tình yêu làm đất lạ hóaquê hương” với Thu Bồn quả chẳng ngoa chút nào

Vài nét về nhà thơ Thu Bồn

Thu Bồn (tên khai sinh là Hà Đức Trọng) sinh năm 1935 tại ĐiệnThắng, Điện Bàn, Quảng Nam Ông tham gia thiếu sinh quân từnăm 12 tuổi, làm liên lạc cho bộ đội và trực tiếp chiến đấu Trongchiến tranh chống Mỹ, Thu Bồn đã liên tục có mặt ở các chiếntrường Tây Nguyên, khu V, Quảng Trị, biên giới Tây Nam , lúclàm phóng viên mặt trận, lúc làm lính xung kích, lính pháo ThuBồn mất ngày 17/6/2003

Tác phẩm đã xuất bản: Với 25 tác phẩm bao gồm

thơ, trường ca, truyện, tiểu thuyết: Bài ca chim Chơ Rao (trường ca, 1962), Tre xanh (thơ, 1969), Mặt đất không quên (thơ, 1970), Campuchia hy vọng (trường

ca, 1978), Oran 76 ngọn (trường ca, 1979), Người vắt sữa bầu trời (trường ca, 1985), Thông điệp mùa xuân (trường ca, 1985), Một trăm bài thơ tình nhờ em đặt tên (thơ, 1992)

Các giải thưởng: Giải văn học Nguyễn Đình Chiểu;

Giải thưởng văn học quốc tế của Hội Nhà văn Á Phi

Nhà thơ

Thu Bồn

(1935-2003)

Trang 8

(1973); Giải thưởng báo Hà Nội Mới (1969), Giải thưởng Nhànước về văn học nghệ thuật năm 2001

Thu Bồn là một trong những nhà thơ mở đầu thể loại trường cavới Bài ca chim Chơ Rao “không những là tác phẩm từ miền Namgửi ra khá sớm, mà còn là bản trường ca đầu tiên của văn học giảiphóng” (Hoài Anh, Tìm hoa quá bước, NXB Văn học, 2001) Xinlược trích 'Bài ca chim Ch'rao' (1962):

"Xưa kia tráng sĩ hề da ngựa

Ta nay uống cạn mấy rừng mưa

Độc huyền tráng sĩ xưa ca cẩm

Ta ôm xích đạo gãy vòng cung

Môi hôn ngọn gió thơm hoa trái

Núi cũng chiều ta đứng trập trùng.

Ta cũng không ham chi nghiệp lớn.

Bồ đào không có chẳng giai nhân

Cửa nhà thông thốc muôn phương gió

Túi rỗng nhiều phen bạn đỡ đần

Bơi qua biển lửa ta về lại.

Gọi Thái Bình Dương đến dạo đàn.

Những cung xưa cũ lời em hát.

Còn cháy lòng ta lửa thử vàng

Ta như con dế nằm trên cỏ

Đợi uống từng đêm giọt ngọc sương

Châu báu trọn đời con dâng mẹ

Là trái tim đau lấm bụi đường ”.

o

Chính Hữu

Chính Hữu tên thật Trần Đình Đắc, sinh 1926, tại Vinh, là nhà thơ quân đội thực thụ cả ở phía tác giả lẫn tác phẩm Từ lúc viết bài thơ đầu cho đến nay Chính Hữu vẫn phục vụ trong quân đội Đề tài thơ hầu hết là đề tài đánh giặc, nhân vật trung tâm là anh

bộ đội Tình cảm quán xuyến trong toàn bộ thơ Chính Hữu là tình cảm người lính, trong đó lòng yêu

Tổ quốc và tình đồng chí là hai chủ đề hay được đề cập Thơ Chính Hữu thể hiện một cá tính trầm lặng nhưng cả nghĩ

và dào dạt yêu thương, trong lòng luôn luôn có sự khắc khoải về trách nhiệm trước những nỗi gian lao của đồng bào, đồng chí Anhhay nghiêng về những hy sinh xót xa, với sự chân thành cảm phục

Trang 9

biết ơn và rất nhiều tự vấn về trách nhiệm mình Trong lễ duyệt binh, mắt nhìn những đoàn quân hùng mạnh đang tiến theo xe đại bác, tai nghe tiếng quân nhạc hùng tráng, nhưng tâm trí lại hướng

về Đồng chí thương binh trên đôi nạng gỗ và sự xúc động hướng vào nhận thức:

mới hiểu được

vì sao những lá cờ bay

theo nhịp bước

vì sao những chân đi làm rơi nước mắt

Cảm hứng lớn trong thơ Chính Hữu cũng như trong cả nền thơ chúng ta là cảm hứng ca ngợi Nhưng anh không ca ngợi dễ dãi, nhẹ lòng Anh ca ngợi với tư thế người trong cuộc, người gánh trách nhiệm trên vai Với anh, nhà thơ không thể chỉ đứng mà xuýtxoa,cảm thán trước những gian khổ hy sinh của dân tộc mà phải góp phần gánh vác những gian khổ đó Ca ngợi anh giải phóng quân, anh ca ngợi trong sự chia sẻ sâu sắc Tứ thơ Một nửa rất sáng tạo:

Tôi ôm anh

Như ôm nửa thân tôi đẫm máu

cuộc đời anh cho tôi chia một nửa

Nửa giọt mồ hôi vạt áo còn đầm

Nửa dãy Trường Sơn thác ghềnh vất vả

Nửa nắm cơm hạt muối nhọc nhằn

Trong thơ Chính Hữu chúng ta hay gặp tiếng reo nhận thức:

Ta mới hiểu, ta mới hiểu

Ta mới hiểu thế nào là đồng đội

Mới hiểu được vì sao những lá cờ bay

Mới biết chiều cao ngọn núi, chiều rộng con sông

Đó cũng là một bằng chứng để nói ý thức tự nhận trách nhiệm là một tình cảm thường trực ở Chính Hữu Có thể vì thế người ta thấy trong giọng thơ Chính Hữu một sự khắc khổ,lặng lẽ Dù sao, trên tư cách một nhà thơ quân đội, Chính Hữu đã góp phần tích cực trong việc rèn luyện tư tưởng tình cảm cho bộ đội ta từ nhữngviệc cụ thể mà mỗi người lính thường gặp Điều quan tâm lớn nhất

ở Chính Hữu là trách nhiệm người lính trước vận mệnh Tổ quốc Trách nhiệm ấy trong thơ anh được hình thành từ những yêu thương dằng dịt đối với người mẹ thắp hương cầu trời phù hộ

Trang 10

bước con đi, đối với người vợ gánh gạo đưa chồng hai vai khó nhọc, đối với đồng chí đồng đội, đồng bào Chính Hữu tìm sức mạnh của đoàn quân ở chỗ nhận thức giá từng thước đất: Bên trái

Lò Văn Sự, bên phải Nguyễn Đình Ba và sức mạnh của khẩu súngkhông phải chỉ nằm trong viên đạn khi:

tư tưởng, mà vẫn uyển chuyển, thấm thía

Thơ Chính Hữu không phải là thơ phản ánh từng sự việc, miêu tả từng hoàn cảnh Anh không quen lối viết ngay tại trận như nhiều cây bút khác Anh viết sau khi mọi việc đã lắng lại, những gì ký ức còn giữ đều đã được gạn lọc Thơ anh thiên về tổng hợp, tổng kết,

có sức khái quát rộng Thời gian để hoàn thiện một bài thơ nhiều khi khá lâu Bài Đồng chí là những rung động thu nhận được trongmột lần đi chiến dịch, nhưng phải đợi khi chiến dịch đã kết thúc, trong một đợt đi điều dưỡng Chính Hữu mới ôn lại mà viết Bài Thư nhà là kết tinh nhiều lần xúc động của tác giả Mỗi khi gặp những đoàn dân công hậu phương gánh gạo, tải đạn ra mặt trận, Chính Hữu ghi trong ký ức những trạng thái tâm tình của mình, nhưng không ghi một câu thơ cụ thể nào trên giấy Mãi cuối chiến dịch Điện Biên Phủ anh mới phác ra Thư nhà, và bảy năm sau (1961), bài thơ mới đủ chín để xuất hiện

Có lẽ vì cách làm việc như vậy nên Chính Hữu viết chậm, dù rằng trong lòng anh không lúc nào nguôi những nghĩ ngợi về thơ ChínhHữu không viết ép, thấy câu chữ nhạt, là thôi ngay Anh chỉ viết khi cảm xúc đầy đặn và chữa rất công phu Nhờ vậy thơ Chính Hữu ít trồi sụt về chất lượng

Thơ Chính Hữu có một kết cấu chặt chẽ, anh hiếm có câu thừa, ngay ở từng chữ cũng có sự cân nhắc Anh viết như người ta chạm khắc, tính toán cẩn thận, rồi mới đặt mũi dao

Nhịp điệu trong câu thơ Chính Hữu ít khi cố định, nó đổi thay theo nội dung, góp phần tạo nên nội dung Anh ít viết theo các thể thơ

ổn định, hình như không có bài lục bát nào Anh sợ quán tính của vần điệu lôi tuột cả tình ý đi

Trang 11

Có thể nói mỗi bài thơ Chính Hữu đều có một tìm tòi mới Anh giữ bản sắc dân tộc một cách sáng tạo Anh học ca dao trong hình ảnh ngọn đèn không bao giờ nhắm mắt, trong công việc của người

vợ gánh gạo đưa chồng hai vai khó nhọc Người xưa nói chia ly nơi đầu cuối một dòng sông, anh nói đoàn tụ ở hai đầu chiến

trường Câu thơ núi biên giới Núi, lại núi, lại núi phải chăng cũng phát triển từ câu thơ: Một đèo, một đèo, lại một đèo Khi học tập một cách nói tự bên ngoài, Chính Hữu cũng không sa vào lai

căng, lộ liễu, do anh biết bám chắc vào chất sống Việt Nam, tâm hồn Việt Nam

Hữu Loan

Nhà thơ Hữu Loan tên thật là Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 14.6.1919 tại làng Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, Thanh Hoá Ông đỗ tú tài Tây sau

đó đi dạy học, tham gia khởi nghĩa cướp chính quyền

ở huyện Nga Sơn Khi cách mạng thành công, Hữu Loan giữ chức Uỷ viên Thông tin tuyên truyền trong Uỷ ban lâm thời của chính quyền tỉnh Thanh Hoá

Từng công tác tại Hội nhà văn Việt Nam kiêm Chủ bút tờ Chiến Sĩ.Hữu Loan nổi tiếng với nhiều bài thơ tình lãng mạn như: Màu tím hoa sim, Tình thủ đô, Hoa lúa, Yên Mô Các tác phẩm thi ca của Hữu Loan bị thất lạc hiện đang được người con trai út Nguyễn Hữu Đán sưu tầm và lưu giữ Tuy nhiên đến thời điểm này nhà thơ Hữu Loan vẫn chưa cho ra mắt bạn đọc một tập thơ nào Ông sống trong một ngôi nhà nhỏ tại quê hương, các con của ông đã trưởng thành và có cuộc sống tương đối ổn định

Ông đã từng trải qua những năm tháng rất cơ cực, ông đi thồ đá

vợ tráng bánh bèo nuôi các con ăn học Song cho đến bây giờ như ông nói: "Tôi đã được trả lại tất cả rồi Hiện tôi đang sống bằng một khoản tiền 400 nghìn đồng do Hội Nhà văn Việt Nam trả hàng tháng"

Màu tím hoa sim

HỮU LOAN

Ngày đăng: 06/08/2013, 01:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w