1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hỗ trợ khởi nghiệp DNNVV theo pháp luật việt nam từ thực tiễn thành phố hồ chí minh

84 236 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 896,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặt khác, trong thời gian vừa qua các quy định của pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp được nhà nước ban hành để điều chỉnh, tuy nhiên chưa thực sự đáp ứng kịp thời theo tinh th

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS HỒ XUÂN THẮNG

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những thông tin, số liệu được sử dụng trong chuyên đề này

là xác thực và không bị chỉnh sửa Các tài liệu được sử dụng để phục vụ cho quá trình xây dựng đề tài là những tài liệu được phép công khai minh bạch Tôi xin chịu mọi trách nhiệm liên quan tới tính xác thực và tính công khai của các tài liệu được

sử dụng trong chuyên đề Ngoài ra, chuyên đề này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi, vì vậy mọi đánh giá, nhận xét được đưa ra dựa trên quan điểm cá nhân của tôi Tôi chịu trách nhiệm về các đánh giá này nhưng không chịu trách nhiệm về tính khách quan của các đánh giá và phân tích trong chuyên đề này do các đánh giá, phân tích được đưa ra dựa trên đánh giá chủ quan của cá nhân người viết là tôi Tất

cả các nội dung của đề tài được xây dựng dựa trên những khảo sát và đánh giá của tôi, do vậy, các thông tin trong tài liệu có thể trùng lặp với thông tin hiện có Nhưng tôi xin cam đoan, mọi đánh giá, phân tích, nhận xét cũng như các ý tưởng, đề xuất trong chuyên đề này là do tôi tự xây dựng và nghiên cứu và cam kết không có sự sao chép từ bất cứ một nguồn tài liệu nào Tôi xin chịu trách nhiệm cho toàn bộ những vấn đề đã được cam kết ở trên trước Học viện, Khoa Luật và giảng viên hướng dẫn PGS.TS Hồ Xuân Thắng

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 1 tháng 3 năm 2018

Tác giả luận văn

Phạm Hữu Nghĩa

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và hình thành Luận văn này, tôi nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của quý thầy cô, các bạn trong lớp Cao học Luật khóa 1 2016 Thông qua bài viết này cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ban Giám đốc Học viện, Quý thầy cô đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt nhiều kiến thức bổ ích cho tôi trong suốt quá trình học tập

Đặc biệt, xin trân trọng cảm ơn PGS TS Hồ Xuân Thắng, giảng viên hướng dẫn nghiên cứu khoa học, người đã nhiệt tình hướng dẫn, định hướng cho tôi trong suốt quá trình hoàn thành Luận văn

Xin kính chúc Ban Giám đốc Học viện Khoa học xã hội, Quý thầy cô, các bạn Lớp cao học Luật khóa 1 2016 và PGS TS Hồ Xuân Thắng luôn khỏe mạnh và thành công

Mặc dù đã rất cố gắng hoàn thành tốt luận văn này, nhưng sẽ không tránh khỏi thiếu sót, rất mong nhận được sự quan tâm đóng góp của Quý thầy cô để có thể giúp tôi hoàn thành luận văn và bổ sung thêm nhiều kiến thức quý báu

Xin chân thành cảm ơn

Tác giả luận văn

Phạm Hữu Nghĩa

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 Cơ sở lý luận pháp lý về hỗ trợ khởi nghiệp doanh nghiệp nhỏ và vừa theo pháp luật Việt Nam 9

1.1 Khái niệm, đặc điểm, và tầm quan trọng của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế thị trường 9

1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa 9

1.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa 14

1.1.3 Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa đối với nền kinh tế thị trường 17

1.2 Khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc và vai trò của hỗ trợ khởi nghiệp doanh nghiệp nhỏ và vừa 18

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của hỗ trợ khởi nghiệp doanh nghiệp nhỏ và vừa 18

1.2.2 Nguyên tắc của hỗ trợ khởi nghiệp doanh nghiệp nhỏ và vừa 20

1.2.3 Vai trò của hỗ trợ khởi nghiệp doanh nghiệp nhỏ và vừa trong giai đoạn hiện nay 21

1.3 Quy định hiện hành về hỗ trợ khởi nghiệp doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước ta 24

1.3.1 Qúa trình hình thành và phát triển quy định pháp luật về hỗ trợ khởi nghiệp doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước ta 24

1.3.2 Quy định của pháp luật hiện hành về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa 29

Chương 2 Thực trạng áp dụng quy định pháp luật hỗ trợ khởi nghiệp doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh từ 2009 đến nay và một số kiến nghị hoàn thiện 41

2.1 Thực trạng áp dụng quy định của pháp luật về hỗ trợ khởi nghiệp doanh nghiệp nhỏ và vừa tại thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2009 đến nay 41

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội thành phố Hồ Chí Minh 41

2.1.2 Kết quả áp dụng pháp luật về hỗ trợ khởi nghiệp doanh nghiệp nhỏ và vừa tại thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2009 đến nay 42

2.1.3 Nguyên nhân của những bất cập trong việc hỗ trợ khởi nghiệp doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian quan 62

2.2 Một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật hỗ trợ khởi nghiệp doanh nghiệp nhỏ và vừa 64

KẾT LUẬN 73 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

HSBC Ngân hàng Hồng Kông – Thượng Hải

NN &PTNT VN Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam

QBLTD Quỹ Bảo lãnh tín dụng

Techcombank Ngân hàng Kỹ Thương

UBND Ủy ban nhân dân

VCCI Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam

VDB Ngân hàng phát triển Việt Nam

Vietcombank Ngân hàng TMCP Việt Nam

Vietinbank Ngân hàng Công thương Việt Nam

WTO Tổ chức thương mại quốc tế

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đảng và Nhà nước ta đã coi trọng phát triển Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là một nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam DNNVV đã và đang trở thành một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam Với số lượng chiếm 96% tổng số doanh nghiệp trên cả nước, các DNNVV đóng góp đáng kể vào Tổng thu nhập quốc dân, tạo công ăn việc làm, huy động các nguồn vốn trong nước cho hoạt động sản xuất kinh doanh, giải quyết các vấn đề xã hội Ngoài ra, trong quá trình vận hành, các DNNVV đã tạo ra một đội ngũ doanh nhân và công nhân, với kiến thức và tay nghề dần được hoàn thiện, đáp ứng được các yêu cầu mới trong cạnh tranh Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, các DNNVV gặp không ít những khó khăn: thiếu vốn, trình độ công nghệ còn yếu, khó khăn trong việc gia nhập thị trường, phân biệt đối xử, cạnh tranh gay gắt của các doanh nghiệp nước ngoài khi sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Đặc biệt là tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới khiến cho các DNNVV càng gặp nhiều bất lợi trong hoạt động sản xuất Yêu cầu đặt ra là cần phải thực thi cơ chế chính sách cụ thể để hỗ trợ các DNNVV ở Việt Nam nói chung và doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nói riêng phát triển, vượt qua những khó khăn kinh tế, nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường trong nước và quốc tế

Thành phố Hồ Chí Minh với vị trí, vai trò là một trung tâm kinh tế thương mại lớn và có tầm chiến lược phát triển mạnh nhất trong cả nước có nhiều lợi thế là một thành phố trẻ năng động, sáng tạo, có nhiều điều kiện về vốn và công nghệ do

đó việc khuyến khích khởi nghiệp DNNVV là rất cần thiết Tuy nhiên việc thúc đẩy tốc độ khởi nghiệp của các DNNVV tại TP Hồ Chí Minh trong thời gian qua chưa thật sự ổn định, số doanh nghiệp đã thành lập nhận được sự hỗ trợ trong khởi nghiệp là chưa đồng bộ, còn rất nhiều khó khăn bất cập Do đó, các doanh nghiệp

Trang 8

này chưa thực sự phát huy hết thế mạnh của mình để đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội của thành phố nói riêng và đất nước nói chung

Mặt khác, trong thời gian vừa qua các quy định của pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp được nhà nước ban hành để điều chỉnh, tuy nhiên chưa thực sự đáp ứng kịp thời theo tinh thần làm quy tắc xử sự chung để các DNNVV phát triển mang lại hiệu quả về mặt kinh tế cho thành phố Hồ Chi Minh và cho đất nước Những chính sách hỗ trợ chưa phù hợp với quá trình khởi nghiệp, đặc biệt là chính sách về tài chính để hỗ trợ DNNVV Vấn đề áp dụng các quy định liên quan đến hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp chưa thực hiện đồng bộ, còn tồn tại rất nhiều khó khăn vướng mắc Ngày 12 tháng 6 năm 2017, Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ

và vừa được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 3 thông qua Từ ngày 1-1-2018, Luật Hỗ trợ DNNVV có hiệu lực với 7 chính sách hỗ trợ chung, bao gồm: Hỗ trợ tiếp cận tín dụng; hỗ trợ thuế, kế toán; hỗ trợ mặt bằng lãi suất; hỗ trợ công nghệ, cơ sở ươm tạo, cơ sở kỹ thuật và khu làm việc chung; hỗ trợ mở rộng thị trường; hỗ trợ thông tin, tư vấn và pháp lý; hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực Bên cạnh đó, Luật DNNVV có 3 chương trình hỗ trợ mục tiêu, như hỗ trợ DNNVV chuyển đổi từ hộ kinh doanh, hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo

và tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị Những quy định này hoàn toàn mới, lúng túng trong cách hiểu và thực hiện đối với việc hỗ trợ khởi nghiệp DNNVV trong cả nước

Nhằm góp phần thúc đẩy hiệu quả hỗ trợ khởi nghiệp cho các DNNVV, tối

đa hóa tiềm năng về vốn, lao động, kỹ thuật tại thành phố Hồ Chí Minh, việc phân tích chứng minh để làm rõ thực trạng hỗ trợ khởi nghiệp DNNVV trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay là rất cần thiết Tác giả đã quyết

định chọn đề tài “Hỗ trợ khởi nghiệp DNNVV theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” để làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ luật

học chuyên ngành Luật kinh tế của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Trang 9

Trong nhiều năm gần đây, các khía cạnh liên quan đến sự hỗ trợ DNNVV được nhiều cá nhân, tổ chức quan tâm nghiên cứu Trong đó, đã có nhiều nghiên cứu về vai trò của Nhà nước trong việc đưa ra quyết định, chính sách hỗ trợ DNNVV, có thể điểm qua các nội dung đã nghiên cứu như:

Sách tham khảo, bài báo khoa học:

- Đổi mới cơ chế và chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam đến năm 2005, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2000, PGS.TS

Nguyễn Cúc chủ biên Tài liệu tham khảo này, Tác giả đã đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật cũng như thực tiễn phát triển hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước ta cho đến năm 2005, giai đoạn chuẩn bị hội nhập kinh tế thế giới Ngoài ra Tác giả cũng đưa ra những kiến nghị căn cơ nhằm đổi mới cơ chế và chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam đến năm 2005 làm tiền

đề cho sự nghiệp tiếp tục đổi mới kinh tế thị trường ở nước ta

- Phát triển DNNVV, kinh nghiệm nước ngoài và phát triển DNNVV ở Việt Nam, NXB Thống kê, Hà Nội 2001, Vũ Quốc Tuấn - Hoàng Thu Hoà Tác giả

nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới cho việc xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế, trong đó có liên quan đến các quy định về sự Phát triển DNNVV, một đội ngũ doanh nghiệp đầy tiềm năng trong tương lai

- Tài chính hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, NXB Tài Chính, Hà

Nội năm 2002 của GS.TS Hồ Xuân Phương, TS Đỗ Minh Tuấn và Chu Minh Phương Tài liệu này nhóm tác giả viết dưới góc độ kinh tế học mô tả sâu hơn về sự phát triển loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế thị trường ở nước ta, trong đó vấn đề cơ bản vẫn là việc hỗ trợ về mặt tài chính để tháo gỡ sự phát triển trì trệ đối với DNNVV ở Việt Nam

- Xúc tiến xuất khẩu của Chính phủ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, NXB

Lao động – Xã hội, Hà Nội 2003, Viện nghiên cứu Thương Mại Bài báo khoa học này Tác giả nghiên cứu theo phương diện phân tích, đánh giá sự tác động các quy định của Chính phủ trong việc thúc đẩy xúc tiến xuất khẩu đối với các DNNVV hoạt động thương mại

Trang 10

Luận án, luận văn:

- Luận văn thạc sỹ: Doanh nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai - thực trạng và giải pháp phát triển, của Nguyễn Thanh Bình, bảo vệ năm

2005 tại Viện Quản lý kinh tế - Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Tác giả trình bày thực trạng phát triển DNNVV trên địa bàn tỉnh Đồng nai theo pháp luật doanh nghiệp năm 1999 điều chỉnh, qua đó Tác giả đưa ra một số giải pháp cơ bản

để nhằm khắc phục những hạn chế vướng mắc trong quá trình hình thành và phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

- Luận văn thạc sỹ: Hoàn thiện chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Hà Nội trong giai đoạn hiện nay, của Phạm Minh Tuấn, bảo vệ năm 2005 tại

Viện Quản lý kinh tế - Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Đề tài này Tác giả nghiên cứu trong giai đoạn hoàn thiện quy định của pháp luật về doanh nghiệp, mà

cụ thể là dự thảo luật doanh nghiệp 2005 sâu rộng trên cơ sở hợp nhất hai văn bản luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003 và luật doanh nghiệp tư năm 1999

- Luận văn thạc sĩ Nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp nhỏ

và vừa ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Nguyễn Xuân Trường,

bảo vệ năm 2005 tại Đại học Ngoại thương Hà Nội Đây là một đề tài nghiên cứu của Thạc sỹ liên quan đến việc nâng cao sức cạnh tranh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước ta trong quá trình chuẩn bị hội nhập nền kinh tế quốc tế

- Luận văn thạc sĩ Phát triển DNNVV trên địa bàn Tỉnh Đăk Lăk, Nguyễn

Văn Nhơn, bảo vệ năm 2015 tại Đại học Đà Nẵng Với tầm nhìn phổ quát thực trạng DNNVV tại một địa phương Tây nguyên của nước ta, Tác giả đã hệ thống các quy định của pháp luật kinh doanh về sự phát triển DNNVV đồng thời kết hợp với thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về DNNVV để đưa ra những kiến nghị phù hợp với sự phát triển doanh nghiệp này ở tỉnh Đăk Lăk phù hợp với quy định hiện hành

- Luận án Tiến sỹ: DNNVV ở Thành phố Hồ Chí Minh sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO, Thái Văn Rê, 2011 tại Học viện Chính trị -

Hành chính quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Dưới góc nhìn của người nghiên cứu

Trang 11

về kinh tế học, Tác giả luận án đã nêu rõ bức tranh hình thành và phát triển của loại hình DNNVV trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh cho phù hợp với yêu cầu hội nhập kinh tế thế giới WTO mà Việt Nam là thành viên thứ 150 Bên cạnh đó Tác giả đề xuất những giải pháp cơ bản để đội ngũ doanh nhân này vững mạnh, tự tin hội nhập vào ngôi nhà chung Thương mại thế giới (WTO)

- Luận án Tiến sỹ: Giải pháp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Tiến Dũng, 1995 tại trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ

Chí Minh Luận án đánh giá thực trạng phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và đưa ra những giải pháp cơ bản để phát triển loại hình odanh nghiệp này cho phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế xã hội ở nước ta

Tuy nhiên, từ khi luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa ra đời thì tại thành phố

Hồ Chí Minh chưa có tác giả nào đi sâu nghiên các chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với các DNNVV trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh

tế quốc tế; nhất là những giải pháp hỗ trợ việc khởi nghiệp của DNNVV Đây là một vấn đề lớn đòi hỏi cần có những đầu tư nghiên cứu cụ thể

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đánh giá thực trạng áp dụng quy định của pháp luật về hỗ trợ khởi nghiệp DNNVV trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong những năm qua, đề ra những kiến nghị hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp phù hợp với sự phát triển kinh tế của đất nước Trên cơ sở phân tích về mặt lý luận của khoa học pháp lý liên quan đến sự phát triển loại hình DNNVV ở Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Làm rõ cơ sở lý luận về hỗ trợ khởi nghiệp DNNVV

Đánh giá thực trạng áp dụng quy định pháp luật về hỗ trợ khởi nghiệp DNNVV ở Thành phố Hồ Chí Minh

Các kiến nghị để DNNVV phát triển mạnh và bền vững

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 12

Nghiên cứu quy định của pháp luật về hỗ trợ khởi nghiệp DNNVV cũng như thực trạng các DNNVV hoạt động khởi nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

DNNVV được Tác giả đề cập trong luận văn bao gồm các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế theo pháp luật doanh nghiệp của Việt Nam hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế thị trường Tuy nhiên những doanh nghiệp này là tổ chức kinh tế có trụ sở chính hoạt động trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

- Phạm vi nghiên cứu về thời gian của đề tài là từ năm 2009 đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Là phương pháp phân tích lý

thuyết thành những mặt, những bộ phận, những mối quan hệ theo lịch sử thời gian

để nhận thức, phát hiện và khai thác các khía cạnh khác nhau của lý thuyết từ đó chọn lọc những thông tin cần thiết phục vụ cho đề tài nghiên cứu Là phương pháp nhận xét những mặt mạnh, những điểm yếu, những mối quan hệ thông tin từ các lý thuyết đã thu thập được và đánh giá thực tiễn, suy luận vấn đề về hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh từ đó đề ra một số kiến nghị hoàn thiện Phân tích và tổng hợp là hai phương pháp có quan hệ mật thiết với nhau tạo thành sự thống nhất không thể tách rời: phân tích được tiến hành theo phương hướng tổng hợp, còn tổng hợp được thực hiện dựa trên kết quả của phân tích

- Phương pháp thống kê: Luận văn thu thập và xử lý số liệu về DNNVV, nghiên cứu các khó khăn, vướng mắc của DNNVV từ đó kiến nghị giúp hỗ trợ khởi

Trang 13

nghiệp DNNVV trong thời gian tới

- Phương pháp so sánh: Là phương pháp tìm những nét tương đồng, sự khác biệt tiêu chí xác định DNNVV của nước ta và một số nước phát triển, đang phát triển trên thế giới và so sánh trong chính sách hỗ trợ khởi nghiệp DNNVV của một

số nước trong khu vực và Châu Á từ đó đề xuất các giải pháp hỗ trợ khởi nghiệp DNNVV ở Việt Nam

- Phương pháp luận nghiên cứu: Trên cơ sở phương pháp luận nghiên cứu, Luận văn dựa trên các quan điểm, đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các nghị quyết của thành phố Hồ Chí Minh về phát triển DNNVV, kết hợp phương pháp logic và lịch sử, phân tích và tổng hợp, thống kê, so sánh, cũng như một số phương pháp khác đang được sử dụng nghiên cứu trong khoa học pháp lý

6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

Luận văn có những đóng góp mới sau đây:

- Góp phần hệ thống hoá và làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận về hỗ trợ khởi nghiệp DNNVV bằng việc bổ sung phân tích chứng minh những quy định hiện hành về hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp ở nước ta

- Phân tích, đánh giá thực trạng hỗ trợ khởi nghiệp DNNVV trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2009-2017 từ đó nhận diện được những thành công, hạn chế và nguyên nhân căn bản

- Đề xuất một số kiến nghị thúc đẩy việc hỗ trợ khởi nghiệp DNNVV trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với tiềm năng đóng góp về mọi mặt của những doanh nghiệp này cho sự phát triển chung của thành phố

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 2 chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận pháp lý về hỗ trợ khởi nghiệp DNNVV theo pháp

luật Việt Nam

Trang 14

Chương 2: Thực trạng áp dụng quy định của pháp luật về hỗ trợ khởi nghiệp

DNNVV trên địa bàn thành Hồ Chí Minh từ 2009 đến nay và một số kiến nghị

Trang 15

Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 200 người và nguồn vốn 20 tỷ trở xuống, còn doanh nghiệp vừa có từ 200 đến 300 lao động nguồn vốn 20 đến 100 tỷ

Ở Việt Nam, theo Điều 3, Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ, quy định số lượng lao động trung bình hàng năm từ 10 người trở xuống được coi là doanh nghiệp siêu nhỏ, từ 10 đến dưới 200 người lao động được coi là Doanh nghiệp nhỏ và từ 200 đến 300 người lao động thì được coi là Doanh nghiệp vừa

Thực chất, trong thực tiễn tổ chức và hoạt động trong nền kinh tế thị trường

ở nước ta, DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn Tức

là tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp hoặc số lao động bình quân năm, trong đó tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên

Theo Luật hỗ trợ DNNVV hiện hành thì không có khái niệm như thế nào là DNNVV, tức là không được định nghĩa như thế nào là là DNNVV mà các nhà làm

Trang 16

luật sử dụng cụm từ “bao gồm” như chỉ liệt kê nhận dạng theo kiểu doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm

xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau đây: Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng” [22]

Để hướng dẫn thi hành xác định khoa học hơn về tiêu chí xác định DNNVV ngày 11 tháng 3 năm 2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định 38/2018/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật hỗ trợ DNNVV, trong đó có xác định tiêu chí DNNVV như sau: “DNNVV được phân theo quy mô bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa”

Một là: Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng

Hai là: Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản

và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều 6 của nghị định

Ba là: Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản

và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng

Trang 17

hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 6 của Nghị định Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 6 Nghị định”

Tiêu chí xác định DNNVV trên thế gới

Hầu hết các nước trên thế giới đều nghiên cứu tiêu chí phân loại DNNVV theo 2 nhóm tiêu chí phổ biến dùng để phân loại, đó là: tiêu chí định tính và tiêu chí định lượng

Tiêu chí định tính: Dựa trên những đặc trưng cơ bản của DNNVV như không

có vị thế độc quyền trên thị trường, chuyên môn hoá thấp, số đầu mối quản lý ít… các tiêu chí này có ưu thế là phản ánh đúng của vấn đề nhưng thường khó xác định trên thực tế Do đó, nó chỉ được làm cơ sở để tham khảo mà ít được sử dụng trên thực tế để phân loại

Tiêu chí định lượng: Thường sử dụng các tiêu chí như là số lao động thường xuyên và không thường xuyên trong doanh nghiệp, giá trị tài sản hay vốn, doanh thu, lợi nhuận Trong đó: - Số lao động có thể là lao động trung bình trong danh sách, lao động thường xuyên, lao động thực tế - Tài sản hoặc vốn có thể dùng tổng giá trị tài sản (hay vốn), tài sản hay vốn cố định, giá trị tài sản còn lại - Doanh thu có thể là tổng doanh thu trong một năm, tổng giá trị gia tăng trong một năm(hiện nay có xu hướng sử dụng chỉ tiêu này)

Nghiên cứu về các tiêu chí xác định DNNVV ở một số nước trên thế giới có thể nhận thấy: Dựa theo quy mô có thể phân loại doanh nghiệp thành doanh nghiệp

có quy mô lớn, vừa và nhỏ Trong đó, việc xác định các tiêu chí và định mức để đánh giá quy mô của một DNNVV có sự khác biệt ở các quốc gia trên thế giới Ngay trong cùng một quốc gia, những tiêu chí này cũng có thể được thay đổi theo thời gian vì sự phát triển của doanh nghiệp, đặc điểm nền kinh tế hay tốc độ phát

Trang 18

triển kinh tế của quốc gia đó Tuy nhiên, các tiêu chí phổ biến nhất được nhiều quốc gia sử dụng là: số lượng lao động bình quân mà doanh nghiệp sử dụng trong năm, tổng mức vốn đầu tư của doanh nghiệp, tổng doanh thu hàng năm của doanh nghiệp

Thứ nhất: Nhóm các nước đang phát triển

- Hoa kỳ cũng phân loại DNNVV có số lượng lao động từ 1 đến 500 lao động,

về quy mô vốn và doanh thu của doanh nghiệp, pháp luật của Hoa Kỳ không quy định

- Đối với Nhật Bản, quốc gia này phân loại DNNVV theo 03 loại: - Đối với ngành sản xuất, có số lượng lao động từ 01 đến 300 lao động, vốn đầu tư phải từ 1 đến 300 triệu Yên, doanh thu khô, , ng quy định; - Đối với ngành thương mại số lượng lao động bình quân từ 01 đến 100 người, vốn đầu tư không quá 100 triệu Yên, doanh thu không quy định ; - Đối với ngành dịch vụ phỉa có số lượng lao động bình quân từ 01 đến 100 lao động, vốn đầu tư từ 01 đến 05 triệu Yên, doanh thu không quy định

- Úc (Australia), phân loại doanh nghiệp là DNNVV có số lượng lao động dưới

200 người, không quy định về vốn đầu tư cũng như doanh thu của loại hình doanh nghiệp này

- New Zealand, phân loại DNNVV, có số lượng lao động dưới 50 người, không quy định về vốn đầu tư và doanh thu

- Korea, phân loại DNNVV, có số lượng lao động không quá 300 người, không quy định về vốn đầu tư cũng như doanh thu của doanh nghiệp

- Taiwan, phân loại DNNVV, phải có số lượng lao động dưới 200 người, quy định về vốn đầu tư phải có dưới 80 triệu đô la đài loan và có quy định về doanh thu

100 triệu đô la Đài loan

Thứ hai: Nhóm các nước đang phát triển

Bao gồm có 5 nước Thái Lan, phân loại doanh nghiệp là nhỏ và vừa, số lượng lao động bình quan không quy định, vốn đầu tư dưới 200 triệu baht (Tiền Thái Lan),

về doanh thu không quy định; Malaysia phân loại doanh nghiệp là đối với ngành

Trang 19

sản xuất, số lượng lao động bình quan từ không đến 150 lao động, vốn đầu tư không quy định, về doanh thu quy định RM từ không đến 25 triệu; Philippine phân loại doanh nghiệp là nhỏ và vừa, số lượng lao động bình quan dưới 200 lao động, vốn đầu tư Peso 1,5-60 triệu, về doanh thu không quy định; Indonesia phân loại doanh nghiệp là nhỏ và vừa, số lượng lao động bình quân không quy định, vốn đầu tư< US$ 1 triệu, về doanh thu có quy định < US$ 5 triệu và Brunei phân loại doanh nghiệp là nhỏ và vừa, số lượng lao động bình quân 1-100 lao động, vốn đầu tư

không quy định, về doanh thu không quy định[27]

Thứ ba: Nhóm các nước có nền kinh tế chuyển đổi

Theo nguồn trích dẫn từ sách chuyên khảo “Phát triển DNNVV, kinh nghiệm nước ngoài và phát triển DNNVV ở Việt Nam, NXB Thống kê, Hà Nội 2001, Vũ

Quốc Tuấn - Hoàng Thu Hoà thì nhóm các nước có nền kinh tế chuyển đổi, bao gồm có 4 nước Liên Bang Nga Rusia; nếu nhỏ thì số lượng lao động bình quân từ

01 đến dưới 249 người; nếu vừa thì số lao động bình quân phải đạt từ 250 đến 999 người China Trung Quốc nếu nhỏ thì số lượng lao động bình quân từ 50 đến dưới

100 người; nếu vừa thì số lao động bình quân phải đạt từ 101 đến 500 người; Poland Phần Lan nếu nhỏ thì số lượng lao động bình quân dưới 50 người; nếu vừa thì số lao động bình quân phải đạt từ 51 đến 200 người

Rõ ràng, hầu hết các quốc gia đều lấy tiêu chí số lao động bình quân làm cơ

sở quan trọng để phân loại doanh nghiệp theo quy mô Điều này là hợp lý hơn so với việc lựa chọn các tiêu chí khác như doanh thu, vốn là các chỉ tiêu có thể lượng hóa được bằng giá trị tiền tệ Các tiêu chí như doanh thu, vốn tuy rất quan trọng nhưng thường xuyên chịu sự tác động bởi những biến đổi của thị trường, sự phát triển của nền kinh tế, tình trạng lạm phát nên thiếu sự ổn định trong việc phân loại doanh nghiệp Điều này giải thích tại sao tiêu chí số lao động bình quân được nhiều quốc gia lựa chọn, tiêu chí này thường có tính ổn định lâu dài về mặt thời gian, lại thể hiện được phần nào tính chất, đặc thù của ngành, lĩnh vực kinh doanh mà doanh

nghiệp đang tham gia

Như vậy, xác định tiêu chí DNNVV ở Việt Nam các nhà nghiên cứu khoa

Trang 20

học pháp lý đã nghiên cứu một cách phù hợp, căn cứ vào điều kiện cụ thể của Việt Nam là một nước có trình độ phát triển kinh tế còn thấp, năng lực quản lý hạn chế, thị trường còn thiếu, chưa có thước đo quy mô doanh nghiệp một cách đích thực và tính đến các yếu tố tác động tới việc phân loại nêu trên như mục đích phân loại, tính chất ngành nghề, địa bàn

Việc phân loại DNNVV dựa theo 3 tiêu thức là: lao động thường xuyên và vốn sản xuất hoặc doanh thu vì lý do sau: tất cả các doanh nghiệp đều có số liệu về

3 tiêu thức này (tính phổ dụng); có thể xác định 3 tiêu thức này ở mọi cấp độ, toàn

bộ nền kinh tế, ngành, doanh nghiệp (tính khả thi) Trong điều kiện của Việt Nam, đây là 3 tiêu thức có thể xác định được chính xác trị số của chúng

Trên cơ sở những luận giải trên đây, Tác giả thống nhất với định nghĩa DNNVV quy định tại luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017: DNNVV bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau đây: Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng[22]

“Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh, bao gồm doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, nhóm công ty” Như vậy DNNVV luôn chiếm đa số trong tổng

số doanh nghiệp, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế

Trang 21

Nhìn nhận theo góc độ tham khảo thông tin các nước trên thế giới mà cụ thể

là theo số liệu được Ủy ban châu Âu công bố 8/2014, hơn 20 triệu doanh nghiệp nhỏ và vừa ở châu Âu chiếm 99% tổng số doanh nghiệp Theo báo cáo mới nhất vào tháng 1/2014 của Tradeup về tình hình tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Mỹ, nhóm doanh nghiệp này chiếm tới 99% tổng số doanh nghiệp, sử dụng trên 50% tổng số lao động xã hội, tạo công ăn việc làm cho 65% lượng lao động ở khu vực tư nhân Tại Việt Nam, theo Viện Phát triển doanh nghiệp thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam 2011 thì Việt Nam có 543.963 doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 97%, đóng góp hơn 40% GDP cả nước và sử dụng 51% tổng số lao động xã hội

Thứ hai, doanh nghiệp nhỏ và vừa có quy mô vốn nhỏ, gặp khó khăn trong

việc tiếp cận với nguồn vốn chính thức, đặc biệt là ở các nước đang phát triển

Điều này là một cản trở không nhỏ trong việc triển khai, áp dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ mới vào hoạt động thương mại nói chung và xúc tiến thương mại trực tuyến nói riêng

Thứ ba, doanh nghiệp nhỏ và vừa chịu sự cạnh tranh khốc liệt của các công

ty, tập đoàn lớn và từ chính các doanh nghiệp với nhau Trong quá trình hội nhập, các tập đoàn lớn thường có xu hướng vươn mình ra thế giới, thành lập các chi nhánh, công ty con ở các quốc gia có nhiều lợi thế, vì vậy, các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở các quốc gia này phải tìm ra những phương thức, công cụ mới trong hoạt động kinh doanh

Thứ tư, với nguồn vốn nhỏ hẹp, các doanh nghiệp này thường tập trung vào

các ngành hàng gần gũi với người tiêu dùng hơn là đầu tư vào các ngành công nghiệp nặng, sản xuất khai thác cần nhiều vốn Ở Việt Nam, theo Cục xúc tiến thương mại (2012) trong cơ cấu ngành nghề, khoảng 43% doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, 24% trong lĩnh vực thương mại và phân phối, số còn lại hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ và liên quan đến nông nghiệp

DNNVV là loại hình sản xuất các địa điểm sản xuất phân tán, tổ chức bộ máy chỉ đạo gọn nhẹ nên nó có nhiều điểm mạnh:

Trang 22

Một là: Dễ dàng khởi sự, bộ máy gọn nhẹ và năng động, nhạy bén với thay đổi của thị trường: Với một số vốn hạn chế, các điều kiện sản xuất đơn giản

DNNVV hoạt động với vòng quay sản phẩm nhanh gọn Bộ máy tổ chức gọn nhẹ linh hoạt, dễ quản lý, dễ quyết định

Hai là: Sẵn sàng đầu tư vào các lĩnh vực mới, lĩnh vực có mức độ rủi ro cao:

Do các doanh nghiệp loại này có vốn đầu tư nhỏ, sử dụng ít lao động nên sẵn sàng

mạo hiểm Trong trường hợp thất bại thì cũng không bị thiệt hại nặng nề như các doanh nghiệp lớn, có thể làm lại từ đầu được

Ba là: Dễ dàng đổi mới trang thiết bị, đổi mới công nghệ, hoạt động hiệu quả với chi phí cố định thấp: Với chiến lược phát triển, đầu tư đúng đắn, sử dụng hợp lý

các nguồn lực của mình, các DNNVV có thể đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội cao, cũng như có thể sản xuất được hàng hoá có chất lượng tốt và có sức cạnh tranh trên thị trường ngay cả khi điều kiện sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có nhiều hạn chế

Bốn là: Không có hoặc ít có xung đột giữa người thuê lao động với người

lao động, Mối quan hệ giữa người thuê lao động và người lao động khá gắn bó Nếu xảy ra xung đột, mâu thuẫn thì dễ dàn xếp

Tuy nhiên DNNVV cũng có hạn chế, các hạn chế của loại hình doanh nghiệp này đến từ hai nguồn: hạn chế khách quan đến từ thực tế bên ngoài và hạn chế đến

từ chính các lợi thế của DNNVV, cụ thể như sau:

Một là: Hạn chế đầu tiên và lớn nhất của DNNVV nằm trong chính đặc

điểm của nó, đó là quy mô nhỏ, vốn ít, do đó các doanh nghiệp này thường lâm vào tình trạng thiếu vốn trầm trọng mỗi khi muốn mở rộng thị trường, hay tiến hành đổi mới, nâng cấp trang thiết bị

Hai là: Các DNNVV thường phụ thuộc vào doanh nghiệp mà nó cung cấp

sản phẩm

Ba là: Khó khăn trong nâng cấp trang thiết bị, đầu tư công nghệ mới, đặc

biệt là các công nghệ đòi hỏi vốn lớn, từ đó ảnh hưởng đến năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và tính cạnh tranh trên thị trường Thiếu trợ giúp về tài chính và

Trang 23

tiếp cận thị trường nên các DNNVV thường tỏ ra bị động trong các quan hệ thị trường

Bốn là: Có nhiều hạn chế trong đào tạo công nhân và chủ doanh nghiệp,

thiếu bí quyết và trợ giúp kỹ thuật, không có kinh nghiệm trong thiết kế sản phẩm, thiếu đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, nói cách khác là không đủ năng lực sản xuất để đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, khó nâng cao được năng suất và hiệu quả kinh doanh

Năm là: Do tính chất của nó, DNNVV gặp khó khăn trong thiết lập và mở

rộng quan hệ hợp tác với các đơn vị kinh tế bên ngoài địa phương doanh nghiệp đó đang hoạt động Đồng thời DNNVV gặp khó khăn trong thiết lập chỗ đứng vững chắc trong thị trường

1.1.3 Vai trò của DNNVV đối với nền kinh tế thị trường

DNNVV đóng góp vào việc tăng trưởng kinh tế

Có thể nhận thấy, sự phát triển mạnh mẽ của các DNNVV ở nước ta đã khơi dậy sức sản xuất rất lớn và giải quyết một số lượng lớn lao động xã hội, kể cả ở vùng sâu vùng xa Năng lực sản xuất hàng hóa của thành phần này tăng mạnh, đóng góp đáng kể vào GDP

Đối với ngành nghề thuộc lĩnh vực xuất khẩu, với chính sách mở rộng và khuyến khích thương mại quốc tế, tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế tham gia kinh doanh xuất nhập khẩu DNNVV đã năng động đầu tư vào các ngành nghề

có nhiều lợi thế, chủ động tìm kiếm và khai thác thị trường quốc tế qua đó góp phần tích cực tăng kim ngạch xuất khẩu, thu ngoại tệ của đất nước, chủ yếu qua hình thức xuất khẩu gián tiếp nhất là các doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng thủ công – mỹ nghệ, chế biến nông sản, thủy sản

DNNVV góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Thực tiễn trong nhiều năm trở lại đây cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam như nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, dệt may, giày da… đã có sự chuyển biến rất tích cực theo hướng giảm tỷ trọng giá trị sản lượng nông nghiệp, tăng giá trị sản lượng công nghiệp và dịch vụ Có được kết quả trên là nhờ một phần đóng góp

Trang 24

không nhỏ của các DNNVV Tại vì, DNNVV phần lớn thuộc khu vực kinh tế tư nhân và hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ Do đó, sự phát triển của DNNVV thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần của Đảng, góp phần đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

DNNVV giúp giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, các vấn đề xã hội một cách mạnh mẽ

Theo thống kê của Tổng cụ thống kê, hàng năm, Việt Nam có khoảng 1,5 triệu người gia nhập thị trường lao động, ngoài ra số lao động nông nghiệp có nhu cầu chuyển sang làm việc trong các ngành phi nông nghiệp cũng thật sự có số lượng lớn và ngày một gia tăng Chính sự xuất hiện ngày càng nhiều các DNNVV ở các thành phố, địa phương, vùng nông thôn, góp phần giải quyết bài toán việc làm Lao động trong các DNNVV cũng có thu nhập cao hơn rất nhiều so với thu nhập của lao động nông nghiệp Do đó, việc thu hút lao động nhàn rỗi trong nông nghiệp của các DNNVV là một giải pháp xóa đói giảm nghèo cơ bản thiết thực và có hiệu quả

Ngoài ra, DNNVV cũng tham gia tích cực trong việc xây dựng các công trình văn hóa, trường học, đường giao thông nông thôn, nhà tình nghĩa và những đóng góp phúc lợi xã hội khác ở các địa phương trong cả nước Một số doanh nghiệp còn trực tiếp xây dựng nhà tình nghĩa tặng gia đình chính sách, gia đình hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, cung cấp học bổng cho sinh viên,v.v…

1.2 Khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc và vai trò của hỗ trợ khởi nghiệp DNNVV

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của hỗ trợ khởi nghiệp DNNVV

Theo từ điển tiếng việt, hỗ trợ là sự giúp đỡ lẫn nhau, giúp đỡ thêm vào, giúp

đỡ một cá nhân, tập thể, hay một tổ chức nào Khởi nghiệp chính là bắt đầu làm một nghề nghiệp, sự nghiệp nào đó Như vậy, Khởi nghiệp có thể hiểu theo nghĩa tiếng Việt là khi một cá nhân có ý định tự mình bắt đầu một công việc kinh doanh riêng

và tự mình làm chủ thì gọi là khởi nghiệp Cũng có thể hiểu rằng: khởi nghiệp là quá trình hiện thực ý tưởng kinh doanh, bao gồm quá trình thành lập và vận hành

Trang 25

doanh nghiệp kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu

Có thể hiểu một cách rất đơn giản nữa là “khởi nghiệp là một quá trình bắt đầu từ việc nhận biết cơ hội, từ đó thúc đẩy việc phát triển ý tưởng cho đến thành lập doanh nghiệp và cuối cùng là vận hành, duy trì và phát triển doanh nghiệp”

Do đó hỗ trợ khởi nghiệp đứng ở góc độ nào đó thì được hiểu chính là việc giúp đỡ cá nhân, tập thể thực hiện quá trình hiện thực ý tưởng kinh doanh

Luật hỗ trợ DNNVV lại đưa ra khái niệm cụm từ về “DNNVV khởi nghiệp sáng tạo” là DNNVV được thành lập để thực hiện ý tưởng trên cơ sở khai thác tài

sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới và có khả năng tăng trưởng nhanh[22] Như vậy trong pháp luật hiện hành chỉ thống nhất sử dụng khái niệm doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo là những DNNVV Khởi nghiệp sáng tạo là thành lập mới dể đi đầu sáng tạo trong cách hành động kinh doanh mang lại nhiều sản phẩm cao hơn tốt hơn cho xã hội để thúc đẩy nền kinh tế quốc gia phát triển

Hỗ trợ khởi nghiệp DNNVV có những đặc điểm cơ bản đó là tạo điều kiện thuận lợi cho các DNNVV được thành lập, phát triển, tăng hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh trên thị trường

DNNVV phát triển mạnh không thể thiếu chương trình hỗ trợ khởi nghiệp DNNVV của Nhà nước Bởi vì, chương trình hỗ trợ khởi nghiệp DNNVV của Nhà nước là chương trình mục tiêu dành cho DNNVV, căn cứ vào định hướng ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội, phát triển các ngành và các địa bàn cần khuyến khích Chương trình được bố trí trong kế hoạch hàng năm và kế hoạch 5 năm do Thủ tướng Chính phủ hoặc Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định trong các chương trình trợ giúp phát triển DNNVV

Chương trình hỗ trợ khởi nghiệp đó là mục tiêu, đối tượng cụ thể DNNVV theo ngành nghề, lĩnh vực và địa bàn hoạt động, nội dung trợ giúp, nguồn lực, kế hoạch và biện pháp về cơ chế chính sách, tổ chức thực hiện Chú trọng ưu tiên chương trình trợ giúp các DNNVV do doanh nhân nữ quản lý, có nhiều lao động

nữ, DNNVV khởi nghiệp sáng tạo, được thể hiện như: Tạo môi trường thuận lợi cho việc khởi nghiệp và hành nghề của DNNVV; Cho vay vốn với điều kiện thuận

Trang 26

lợi (như nhà nước góp phần thế chấp hoặc bảo lãnh) với lãi suất thấp, với ân hạn dài, với sự trợ giúp khi gặp khó khăn trong việc trả nợ; Cho hưởng nhiều ưu đãi về thuế; Chuyển giao và giúp làm chủ công nghệ và quản lý tiến tiến; Giúp đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực, từ giám đốc đến kỹ thuật viên, nhân viên quản lý, kế toán và công nhân lành nghề; Cho nhận thầu công việc sản xuất - kinh doanh; cho đảm nhận từng dự án hoặc bộ phần dự án kinh tế (của nhà nước); cho hạn ngạch hoặc tỷ phần trong việc cung ứng hàng hoá hoặc dịch vụ cho thị trường trong nước

và cho xuất khẩu; Giúp tiếp cận thị trường, cung cấp thông tin kịp thời và chuẩn xác

về thị trường, cho tham gia nhiều hình thức thiết lập và phát triển quan hệ với các đối tác trong và ngoài nước; Đặc biệt chăm sóc và giúp đỡ: các DNNVV thiếu triển vọng; các DNNVV bị thiệt thòi hoặc gặp nhiều khó khăn; các DNNVV do phụ nữ làm chủ; các DNNVV trong một số ngành và vùng ưu tiên,…; Hoạch định, thông qua và thực hiện những chiến lược trung hạn và dài hạn, những chương trình quốc gia từng năm hoặc vài năm về phát triển DNNVV; Theo dõi tình hình, thường thì làm thống kê riêng về DNNVV, kiểm điểm việc thực hiện các luật lệ, chiến lược và chương trình nói trên, phát hiện và xử lý kịp thời các vấn đề nảy sinh để phát triển DNNVV; Lập cơ quan chuyên trách về DNNVV, thành lập và hoạt động có hiệu quả các hiệp hội DNNVV Dành cho các hiệp hội ấy cơ hội và vị trí đích đáng trong các Hội đồng, các Uỷ ban, các hội nghị quan trọng của nhà nước để hoạch định các chính sách kinh tế quốc gia

1.2.2 Nguyên tắc của hỗ trợ khởi nghiệp DNNVV

Ở nhiều nước trên thế giới, khi xây dựng các quy chuẩn hỗ trợ DNNVV khởi nghiệp họ đều đưa ra các nguyên tắc hỗ trợ khác nhau Tuy nhiên, đều có chung một mục đích là hỗ trợ tối đa cho sự phát triển của doanh nghiệp trong quốc gia của

họ

Ở Việt Nam, theo quy định tại Điều 5 Luật hỗ trợ DNNVV hiện hành thì nguyên tắc hỗ trợ DNNVV được quy định rất cụ thể và khoa học phù hợp với thực tiễn phát triển doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần ở nước

ta, bao gồm:

Trang 27

Thứ nhất: Việc hỗ trợ DNNVV phải tôn trọng quy luật thị trường, phù hợp

với điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên

Thứ hai: Bảo đảm công khai, minh bạch về nội dung, đối tượng, trình tự, thủ

tục, nguồn lực, mức hỗ trợ và kết quả thực hiện

Thứ ba: Nhà nước hỗ trợ DNNVV có trọng tâm, có thời hạn, phù hợp với

mục tiêu hỗ trợ và khả năng cân đối nguồn lực

Thứ tư: Việc hỗ trợ DNNVV sử dụng nguồn lực ngoài Nhà nước do các tổ

chức, cá nhân tài trợ được thực hiện theo quy định của tổ chức, cá nhân đó nhưng không được trái quy định của pháp luật Nguyên tắc này đề cao tính thượng tôn của pháp luật trong việc hỗ trợ DNNVV khởi nghiệp ở nước ta nhất là trong giai đoanh hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới

Thứ năm: Trường hợp DNNVV đồng thời đáp ứng điều kiện của các mức

hỗ trợ khác nhau trong cùng một nội dung hỗ trợ theo quy định của Luật hỗ trợ DNNVV và quy định khác của pháp luật có liên quan thì doanh nghiệp được lựa chọn mức hỗ trợ có lợi nhất Ngoài ra, đặc biệt ưu tiên cho DNNVV khởi nghiệp là

nữ làm chủ, nhằm bảo đảm sự bình đẳng giới trong xã hội một cách công bằng, dân chủ, văn minh “Trường hợp nhiều DNNVV cùng đáp ứng điều kiện hỗ trợ theo quy định của Luật hỗ trợ DNNVV thì ưu tiên lựa chọn DNNVV do phụ nữ làm chủ, DNNVV sử dụng nhiều lao động nữ hơn”

Thứ sáu: DNNVV được nhận hỗ trợ khi đã thực hiện đầy đủ quy định của

Luật hỗ trợ DNNVV và quy định khác của pháp luật có liên quan Về nguyên tắc này được hiểu là khi DNNVV đã nhận được hỗ trợ là khi chính doanh nghiệp đó đã thực hiện đầy đủ quy định của Luật hỗ trợ DNNVV và quy định khác của pháp luật

có liên quan Nếu doanh nghiệp đó chưa thực hiện đầy đủ quy định của Luật hỗ trợ DNNVV và quy định khác của pháp luật có liên quan thì chắc chắn không nhận được sự hỗ trợ để khởi nghiệp

1.2.3 Vai trò của hỗ trợ khởi nghiệp DNNVV trong giai đoạn hiện nay

Hỗ trợ khởi nghiệp DNNVV thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế thế giới sâu rộng hơn

Trang 28

Các chính sách hỗ trợ DNNVV khởi nghiệp như Nguồn vốn tín dụng có hỗ trợ, bảo lãnh của Nhà nước; Nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách nhà nước; Nguồn vốn

hỗ trợ từ miễn, giảm thuế, phí, lệ phí, tiền thuê đất, tiền sử dụng đất và các khoản khác phải nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật; Nguồn vốn hợp pháp từ các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài.sẽ là điều kiện tiên quyết để các doanh nghiệp xây dựng những chương trình kế hoạch phát triển sản xuất kinh doanh đến tiêu thụ sản phẩm hàng hóa cả về số lượng và chất lượng đạt yêu cầu với tiêu chí hội nhập quốc tế của nước ta mà đội ngũ doanh nghiệp đang đi tiên phong

Tất cả các nước trên thế giới khi tham gia vào tổ chức thương mại thế giới,

họ đều chú trọng vấn đề “Chuỗi phân phối sản phẩm” mang tính quốc tế từ nước này sang nước khác, từ khu vực lãnh thổ này sang khu vực lãnh thổ khác theo quy luật tự nhiên là “cung và cầu” Mà trong đó là mạng lưới các trung gian thực hiện phân phối sản phẩm của DNNVV đến người tiêu dùng do các doanh nghiệp khởi nghiệp nhỏ và vừa, tổ chức đầu tư, kinh doanh thực hiện

Do đó, Hỗ trợ khởi nghiệp DNNVV đóng một vai trò không nhỏ trong việc thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế thế giới sâu rộng hơn và thành công hơn của nước ta trong thời kỳ hoàn thành sự nghiệp hóa và công nghiệp hóa đất nước

Hỗ trợ khởi nghiệp doanh nghiệp tăng nhanh về số lượng và chất lượng doanh nghiệp

Nhìn nhận theo phương diện phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế thị trường thì Doanh nghiệp sẽ được thành lập nhiều hơn Bởi vì, Nhà nước có chính sách hỗ trợ DNNVV nghiên cứu, đổi mới công nghệ, tiếp nhận, cải tiến, hoàn thiện, làm chủ công nghệ thông qua các hoạt động nghiên cứu, đào tạo, tư vấn, tìm kiếm, giải mã, chuyển giao công nghệ; xác lập, khai thác, quản lý, bảo vệ và phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp

Xét ở góc độ “Tự thân” thì trong thực tiễn, các DNNVV cũng chưa tạo được

độ tin cậy cao, năng lực cạnh tranh kém, chưa bảo đảm về vệ sinh, an toàn và bảo

vệ môi trường Khả năng đàm phán, tiếp cận thị trường xuất khẩu, công nghệ, tiêu chuẩn môi trường nước ngoài còn nhiều hạn chế; gặp nhiều cản trở trong tận dụng

Trang 29

các cam kết, vướng mắc làm chùn bước DNNVV trong cải thiện năng lực sản xuất…Do vậy, hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp DNNVV để các doanh nghiệp vững tin cũng như đủ điều kiện để phát triển nhanh về số lượng và chất lượng hoạt động bảo đảm tính đồng bộ trong hoạt động của nền kinh tế của quốc gia

Hỗ trợ khởi nghiệp DNNVV có vai trò bảo đảm sự bình đẳng pháp lý của DNNVV trong nền kinh tế

Hỗ trợ DNNVV là bảo đảm sự bình đẳng giữa tất cả các loại hình, sở hữu và quy mô doanh nghiệp, không để họ mất cơ hội và quyền lợi đáng ra được hưởng so với doanh nghiệp lớn Vì vậy, khoản 2 Điều 9 về “cải thiện môi trường kinh doanh, cải cách hành chính”, Luật Hỗ trợ DNNVV đã quy định, nghiêm cấm cơ quan, tổ chức “ban hành quy định phân biệt đối xử về điều kiện kinh doanh, thực hiện thủ tục hành chính, tiếp cận các nguồn lực dựa trên các tiêu chí về quy mô kinh doanh, trừ khi các quy định này được luật quy định” hay “có hành vi phân biệt đối xử, sách nhiễu, gây khó khăn đối với DNNVV hoặc không thực thi công vụ theo quy định của pháp luật” Đây là những quy định hết sức hợp lý và cần thiết Hiện nay, theo quy định của pháp luật đầu tư kinh doanh, còn có 215 ngành nghề kinh doanh có điều kiện, trong khi đó, năm 2005 Luật doanh nghiệp và Luật đầu tư có hiệu lực thi hành các doanh nghiệp khởi nghiệp phải chịu gần 2000 ngành nghề kinh doanh có điều kiện Các ngành nghề kinh doanh có điều kiện có sự phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp có vốn tư nhân và vốn của nhà nước nhất là việc phải kể đến vấn đề vướng phải các yếu tố độc quyền mà doanh nghiệp nhà nước được làm còn tư nhân không được làm hoặc chưa rõ bị cấm hay không Đây có thể nói là hành lang pháp

lý của DNNVV rất bất cập, gây khó khăn để khởi nghiệp trong những năm qua

Có thể thấy, các quy định đã ban hành tại các quy phạm pháp luật về điều kiện kinh doanh dựa vào quy mô trái với quy định trên như kinh doanh xuất khẩu gạo, vận tải taxi, phân phối gas và các quy định tương tự dưới đây đã được bãi tháo

gỡ bãi bỏ ngay khi Luật có hiệu lực tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp khởi nghiệp Ví dụ: Doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu gạo phải có ít nhất 01 kho chuyên dùng với sức chứa tối thiểu 5.000 tấn thóc; 01 cơ sở xay, xát thóc, gạo với

Trang 30

công suất tối thiểu 10 tấn thóc/giờ và kho chứa, cơ sở xay, xát phải thuộc sở hữu của doanh nghiệp và phải nằm trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thóc, gạo hàng hóa xuất khẩu hoặc có cảng biển quốc tế có hoạt động xuất khẩu thóc, gạo, được quy định tại Điều 4 về “điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo”, Nghị định số 109/2010/NĐ-CP ngày 04/11/2010 của Chính phủ về kinh doanh xuất khẩu gạo; Doanh nghiệp, kinh doanh vận tải hành khách bằng xe taxi phải có tối thiểu là

10 xe; riêng đối với Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh phải có tối thiểu là 50 xe; được quy định tại khoản 7 Điều 17 Nghị định số 86/2014/NĐ-CP ngày 10/9/2014 của Chính phủ về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tài bằng xe ô tô;

Nói tóm lại: Hỗ trợ khởi nghiệp DNNVV đóng một vai trò quan trọng để bảo đảm sự bình đẳng pháp lý của DNNVV trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, trong đó các doanh nghiệp khởi nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh cũng là đối tượng điều chỉnh của quy định này

1.3 Quy định hiện hành về hỗ trợ khởi nghiệp DNNVV ở nước ta

1.3.1 Qúa trình hình thành và phát triển quy định pháp luật về hỗ trợ khởi nghiệp DNNVV ở nước ta

Hiến pháp của thời kỳ đổi mới năm 1992 thể chế hóa chủ trương chính sách

của Đảng và nhà nước về định hướng phát triển kinh tế của nước ta “Kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân được chọn hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, được thành lập doanh nghiệp không bị hạn chế về quy mô hoạt động trong những ngành, nghề có lợi cho quốc kế dân sinh Kinh tế gia đình được khuyến khích phát triển”

Như vậy các DNNVV được thành lập để khởi nghiệp ở nước ta trong những năm đổi mới là không hạn chế, bên cạnh kinh tế gia đình được khuyến khích phát triển một cách chắc chắn, bình đẳng và đồng bộ Tại Điều 22 của Hiến pháp năm 1992

thể hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp khởi nghiệp nhỏ và vừa: “Các

cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với Nhà nước, đều bình đẳng trước pháp luật, vốn và tài sản hợp pháp được Nhà nước bảo hộ Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được liên

Trang 31

doanh, liên kết với cá nhân, tổ chức kinh tế trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật”

Đối với việc hỗ trợ khởi nghiệp DNNVV trong giai đoạn hội nhập kinh tế thế giới, bản Hiến pháp năm 2013 đã kế thừa quy định của bản hiến pháp 1992, khẳng định không thay đổi định hướng phát triển các chính sách hỗ trợ khuyến khích để đội ngũ doanh nhân ngày càng phát triển gia tăng cả về số lượng cũng như chất lượng

Kể từ năm 2009 nhằm trợ giúp các DNNVV khởi nghiệp trong giai đoạn phát triển mới,Chính phủ đã ban hành Nghị định 56/2009/ NĐ – CP ngày 30 tháng

6 năm 2009 về trợ giúp phát triển DNNVV Nghị định này thay thế Nghị định 90/2001/NĐ-CP của Chính phủ trước đây, quy định 8 nhóm hỗ trợ phát triển DNNVV để các chủ thể có cơ hội khởi nghiệp vững vàng hơn, ví dụ như: Hỗ trợ tài chính, mặt bằng sản xuất; đổi mới, nâng cao năng lực công nghệ, trình độ kỹ thuật; xúc tiến mở rộng thị trường; tham gia mua sắm, cung ứng dịch vụ công; thông tin

và tư vấn; trợ giúp phát triển nguồn nhân lực; vườn ươm DN Trên cơ sở đó, các bộ, ngành, địa phương cũng đã tập trung xây dựng và triển khai những chương trình hỗ trợ khởi nghiệp DNNVV

Sau khi gia nhập tổ chức Thương mại thế giới, triển khai các chủ trương của Đảng và Nhà nước, Chính phủ, ở nước ta đã tập trung ban hành các văn bản quy phạm pháp luật có nội dung liên quan đến hỗ trợ khởi nghiệp DNNVV, cụ thể sau:

- Việc kinh doanh trong nền kinh tế thị trường không đơn giản nếu thiếu vốn

để đầu tư, đặc biệt là các doanh nghiệp khởi nghiệp cần được sự hỗ trợ từ chính sách bằng pháp luật Thủ Tướng đã ban hành Quyết định số 03/2011/QĐ-TTg ngày 10/1/2011 kèm theo Quy chế bảo lãnh cho DNNVV vay vốn tại ngân hàng thương mại, có hiệu lực từ ngày 25/02/2011 Văn bản này đã thực sự giúp đỡ các doanh nghiệp mới thành lập có sức mạnh để lấn sâu vào thị trường với nhiều kế hoạch kinh doanh có quy mô về số lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ cũng như số lượng

về doanh thu, góp phần đẩy mạnh sự phát triển kinh tế của đất nước

Trang 32

- Trong năm 2012, Thủ tướng chính phủ ban hành Quyết định 1231/QĐ-TTg ngày 07 tháng 9 năm 2012 về việc phê duyệt Kế hoạch phát triển DNNVV giai đoạn 2011 – 2015, đề ra một số giải pháp, chương trình hỗ trợ DNNVV trọng tâm sau: (i) Hoàn thiện khung pháp lý về gia nhập, hoạt động và rút lui khỏi thị trường của DN; (ii) Hỗ trợ tiếp cận tài chính, tín dụng và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn; (iii) Hỗ trợ đổi mới công nghệ và áp dụng công nghệ mới; (iv) Phát triển nguồn nhân lực cho các DNNVV, tập trung vào nâng cao năng lực quản trị; (v) Đẩy mạnh hình thành các cụm liên kết, cụm ngành công nghiệp, tăng cường tiếp cận đất đai; (vi) Cung cấp thông tin hỗ trợ DNNVV và xúc tiến mở rộng thị trường; (vii) Xây dựng hệ thống tổ chức trợ giúp phát triển; (viii) Quản lý thực hiện kế hoạch phát triển Trong đó, nhấn mạnh vào những giải pháp về thành lập Quỹ hỗ trợ, tổ chức thực hiện các Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia đến năm 2020, Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2020, Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia đến năm 2020; thí điểm xây dựng vườn ươm DN; thí điểm xây dựng

mô hình hỗ trợ toàn diện cho DNNVV trong một số lĩnh vực; thúc đẩy các liên kết kinh tế, cụm liên kết ngành

- Ngày 18/5/2016 Thủ Tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 844/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Việt Nam đến năm 2025” (có hiệu lực từ ngày 18/5/2016) - Nghị định 56/2009/NĐ-

CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển DNNVV (có hiệu lực từ ngày 20/8/2009) Cũng trong năm 2016, Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ về hỗ trợ phát triển doanh nghiệp đến năm 2020 Trong Nghị quyết 35/NQ-CP về hỗ trợ và phát triển DN đến 2020, Chính phủ nhấn mạnh: Nhà nước

sẽ có những chính sách đặc thù để hỗ trợ DNNVV, DN khởi nghiệp, DN đổi mới sáng tạo và có tiềm năng tăng trưởng cao phát triển

- Công tác đào tạo nâng cao năng lực quản trị cho các DNNVV được đưa vào kế hoạch hàng năm của các bộ, ngành và địa phương; Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia đã thu hút được sự tham gia tích cực của các địa phương, tổ chức hiệp hội DN ngành nghề, đã hỗ trợ cho hàng nghìn DNNVV; Chợ Techmart

Trang 33

và những chính sách hỗ trợ về khoa học công nghệ đã giúp DN kết nối cung - cầu, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh

- Trong năm 2017, Chính phủ đã ban hành 02 Nghị quyết rất quan trọng nhằm thể hiện xây dựng một tập thể Chính phủ kiến tạo hỗ trợ khởi nghiệp cho đội ngũ doanh nhân cùng nhau phát triển để nâng cao vị thế kinh tế chính trị của nước

ta trong khu vực và ra toàn thế giới Phải kể đến việc định hướng của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2017, định hướng đến năm 2020 tại Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 06/02/2017 Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đã ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 01 tháng 11 năm 2016 của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế và Nghị quyết số 24/2016/QH14 ngày 08 tháng 11 năm 2016 của Quốc hội về Kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2016 – 2020 bằng “Nghị quyết số 27/NQ-CP ngày 21/02/2017” Những văn bản nói trên của Chính phủ đã thể hiện rõ quyết tâm hỗ trợ khởi nghiệp DNNVV mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho nhà nước, cho chính các doanh nghiệp và cho người tiêu dùng

Vấn đề xác định địa vị pháp lý của các DNNVV cũng như làm gia tăng số lượng các doanh nghiệp được hỗ trợ khởi nghiệp DNNVV, Quốc Hội nước ta đã ban hành Luật doanh nghiệp 2015 thay thế luật doanh nghiệp năm 2005 Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13, đã được ban hành ngày 26/11/2014 và có hiệu lực thi hành kể từ 01/7/2015 Điều đáng nói là văn bản Luật này đã đưa ra các điều kiện

để thành lập doanh nghiệp khởi nghiệp trong tương lai cũng như các loại hình doanh nghiệp khi đăng ký thành lập phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế của đất nước hiện nay

Đứng ở góc độ Luật do Quốc Hội ban hành, vấn đề liên quan đến sự hỗ trợ khởi nghiệp để DNNVV hoạt động một cách có hiệu quả, Tác giả nhận thấy kể từ năm 2009 đến nay có rất nhiều văn bản luật ra đời Để điều chỉnh cụ thể hơn sự hỗ

Trang 34

trợ khởi nghiệp, nhất là việc xác định rõ khái niệm “Thương nhân” trong nền kinh

tế thị trường và “hành vi thương mại của thương nhân”, đồng thời thống nhất trong cách hiểu mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và xúc tiến thương mại phải kể đến Luật Thương mại số 36/2005/QH11 được Quốc Hội ban hành ngày 14/6/2005, có hiệu lực từ 01/01/2006

Luật Cạnh tranh số 27/2004/QH11 được Quốc Hội ban hành ngày 03/12/2004, có hiệu lực từ 01/7/2005, khẳng định hỗ trợ khởi nghiệp DNNVV trong việc khẳng định doanh nghiệp ra đòi được tự do cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường một cách bình đẳng, không có sự phân biệt đối xử và theo khuôn khổ mà pháp luật không cấm

Kế thừa văn bản Luật đầu tư hợp nhất từ hai văn bản Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1987 được sửa đổi nhiều lần và Luật đầu tư trong nước sửa đổi năm

2003 đó là Luật đầu tư năm 2005 Luật này ra đời tạo điều kiện hỗ trợ cho DNNVV khởi nghiệp được bình đẳng giữa nhà đầu tư trong và ngoài nước theo các chuẩn mực cao hơn phừ hợp cho sự hội nhập quốc tế Tuy nhiên, quá trình thực thi văn bản luật này trong thực tiễn thời gian qua có rất nhiều bất cập, nhất là việc chưa thực sự phù hợp hỗ trợ cho đội ngũ DNNVV khởi nghiệp để tham gia vào hội nhập quốc tế Ngày 26/11/2014 Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 đã được Quốc Hội ban hành, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2016 nhằm đáp ứng tốt hơn nữa cho việc hỗ trợ khởi nghiệp DNNVV Bên cạnh đó, một loạt các văn bản luật cũng được Quốc Hội thống nhất ban hành, sửa đổi bổ sung cho phù hợp với xu thế phát triển kinh tế đất nước trong đó yêu cầu hỗ trợ khởi nghiệp DNNVV cũng ngày càng đòi hỏi cấp thiết như: Luật Đất đai số 45/2013/QH13 Quốc hội ban hành ngày 29 tháng 11 năm

2013, hiệu lực ngày 01/7/2014; Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 (ban bành ngày 03/6/2008; có hiệu lực từ ngày 01/01/2009) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp Quốc hội ban hành ngày 19/6/2013; có hiệu lực từ ngày 01/01/2014; Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 107/2016/QH13 Quốc hội ban hành ngày 06/4/2016, có hiệu lực từ 01/9/2016; Bộ luật Lao động số 10/2012/QH13 Quốc hội ban hành ngày 18/6/2012,

Trang 35

có hiệu lực từ 01/5/2013 DNNVV có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta, chiếm hơn 97% tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập, là khu vực

có vai trò rất quan trọng trong tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, huy động các nguồn lực cho xã hội cho đầu tư phát triển và đóng góp vào ngân sách nhà nước, đặc biệt là nơi diễn ra nhiều hoạt động cải tiến, sáng tạo và ứng dụng trong sản xuất kinh doanh

Trên thế giới, DNNVV được xác định là “động lực tăng trưởng”, là

“xương sống”của các nền kinh tế Ngay cả các quốc gia đã phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore…hay các quốc gia đang phát triển trong khu vực như Malaysia, Thái Lan, Trung Quốc…đều coi trọng việc hỗ trợ phát triển DNNVV là một trong những trọng tâm trong chính sách phát triển kinh tế của các quốc gia này Vấn đề này, trên thế giới được đề cập cách đây 50 năm - 60 năm

Ở Việt Nam, thực tiễn cho thấy DNNVV thiếu rất nhiếu thứ để khởi nghiệp, như: vốn, thị trường tiêu thụ, nhân lực, phương tiện kỹ thuật, quản lý điều hành… cho nên được xem là doanh nghiệp yếu thế so với doanh nghiệp lớn, chưa

có chính sách ưu đãi, hỗ trợ kể cả khi vay vốn cũng khó khăn so với doanh nghiệp lớn Luật Hỗ trợ DNNVV ra đời đã khắc phục tình trạng này và đáp ứng yêu cầu của các DNNVV Luật này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 12 tháng 6 năm 2017, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2018

1.3.2 Quy định của pháp luật hiện hành về hỗ trợ DNNVV

Luật hỗ trợ DNNVV do Quốc hội ban hành ngày 12/6/2017 có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 quy định những nội dung hỗ trợ DNNVV Trong đó có những nội dung như: Hỗ trợ tiếp cận tín dụng; Hỗ trợ thuế, kế toán; Hỗ trợ mặt bằng sản xuất;

Hỗ trợ công nghệ; hỗ trợ cơ sở ươm tạo, cơ sở kỹ thuật, khu làm việc chung; Hỗ trợ

mở rộng thị trường; Hỗ trợ thông tin, tư vấn và pháp lý

Nội dung cơ bản hỗ trợ khởi nghiệp DNNVV nêu trên được quy định cụ thể như sau:

Hỗ trợ chung

Trang 36

Một: Hỗ trợ tiếp cận tín dụng: Trước khi Luật hỗ trợ DNNVV chưa ra đời,

Chính phủ chưa quyết định chính sách hỗ trợ tổ chức tín dụng tăng dư nợ cho vay đối với DNNVV, khuyến khích tổ chức tín dụng cho vay đối với DNNVV Cũng như các văn bản luật và dưới luật cũng chưa có một căn cứ cụ thể nào hỗ trợ doanh

nghiệp nhỏ và vùa khởi nghiệp

Tại điều 8 Luật hỗ trợ DNNVV được quy định 3 khoản riềng biệt về hỗ trợ tiếp cận tín dụng, như sau:

Một là: Trong từng thời kỳ, Chính phủ quyết định chính sách hỗ trợ tổ chức tín dụng tăng dư nợ cho vay đối với DNNVV; khuyến khích tổ chức tín dụng cho vay đối với DNNVV dựa trên xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp và biện pháp phù hợp khác; khuyến khích thành lập tổ chức tư vấn độc lập để xếp hạng tín nhiệm DNNVV

Hai là: DNNVV được cơ quan, tổ chức, cá nhân hỗ trợ xây dựng phương án sản xuất, kinh doanh khả thi, tăng cường năng lực quản trị, kỹ năng quản lý, minh bạch hóa tài chính của doanh nghiệp để nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng

Ba là: DNNVV được cấp bảo lãnh tín dụng tại Quỹ bảo lãnh tín dụng DNNVV theo quy định tại Điều 9 của Luật này

Hai: Quỹ bảo lãnh tín dụng DNNVV

Theo Luật hỗ trợ DNNVV hiện hành, khái niệm Quỹ bảo lãnh tín dụng DNNVV được định nghĩa rất cụ thể, đó là quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập[22] Như vậy, đây là một loại quỹ tài chính nhà nước, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, còn gọi là không vì mục đích thương mại, ngoài ngân sách thuộc thẩm quyền thành lập của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

Về chức năng của quỹ: Quỹ bảo lãnh tín dụng DNNVV thực hiện chức năng cấp bảo lãnh tín dụng cho DNNVV Việc bảo lãnh tín dụng cho DNNVV dựa trên tài sản bảo đảm hoặc phương án sản xuất, kinh doanh khả thi hoặc xếp hạng tín nhiệm của cho DNNVV Như vậy quy định tại khoản 2 điều này cho thấy

Trang 37

1 Quỹ bảo lãnh tín dụng DNNVV thực hiện chức năng cấp bảo lãnh tín dụng cho DNNVV

2 Việc bảo lãnh tín dụng cho DNNVV dựa trên tài sản bảo đảm hoặc phương án sản xuất, kinh doanh khả thi hoặc xếp hạng tín nhiệm của DNNVV

Ngoài ra, Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV phải thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ bảo lãnh đã cam kết; không được từ chối bảo lãnh cho DNNVV đủ điều kiện được bảo lãnh[22] Đây là một quy phạm bắt buộc Quốc hội đã thật sự giao cho quỹ bảo lãnh tín dụng phải thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết để hỗ trợ cho DNNVV trong việc khởi nghiệp Chỉ được từ chối cấp khi DNNVV không

đủ điều kiện được bảo lãnh Tuy nhiên quy định này cũng không nêu tiêu chí đủ điều kiện được bảo lãnh vay tín dụng của quỹ bảo lãnh này là như thế nào Và câu hỏi đặt ra là Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV không thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ bảo lãnh đã cam kết và từ chối bảo lãnh cho DNNVV đủ điều kiện được bảo lãnh thì chế tài xử lý quỹ bảo lãnh như thế nào? Đây là những câu hỏi đang được bỏ ngỏ chưa có sự giải đáp thấu đáo để làm quy tắc xử sự chung mang lại sự

hỗ trợ khởi nghiệp cho DNNVV có hiệu quả hơn trong thực thi các quy định này

Ba: Hỗ trợ thuế, kế toán

Theo quy định hiện hành, DNNVV được quyền áp dụng có thời hạn mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp thấp hơn mức thuế suất thông thường áp dụng cho doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp Quy định như vậy, thực sự hỗ trợ rất lớn đối với DNNVV khởi nghiệp về thuế và kế toán Thuế thu nhập doanh nghiệp là một trong những loại thuế trực thu Thuế Thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân chiếm một tỷ trọng lớn trong cơ cấu thu Ngân sách Nhà nước Ở các nước phát triển hai loại thuế chủ yếu này đã làm cho thuế trực thu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu Ngân sách nhà nước Ví dụ như Mỹ: thuế trực thu chiếm 74,8%, Nhật Bản là 74% Hầu hết các nước có thu nhập quốc dân bình quân đầu người thấp thì thuế gián thu thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số thuế ngân sách; ví dụ như: Philipin chiếm 60%; Thái Lan chiếm 66%;

Ấn Độ 63%; Kênia: 61%; Gana: 65%… Ở Việt nam, tỷ trọng thuế thu nhập doanh

Trang 38

nghiệp trong tổng số thu Ngân sách Nhà nước Năm 2009 đạt 52.191 tỷ đồng, chiếm 19,3% trong tổng thu Ngân sách nhà nước và bằng 3,15% GDP Năm 2010 là 82.297 tỷ đồng, chiếm 22,5% trong tổng thu Ngân sách nhà nước và bằng 4,15% GDP Năm 2011 là 96.600 tỷ đồng, chiếm 22,4% trong tổng thu Ngân sách nhà nước và bằng 3,81% GDP

Bên cạnh đó, quy định hiện hành cũng đưa ra một định mức cụ thể cho Doanh nghiệp siêu nhỏ được áp dụng các thủ tục hành chính thuế và chế độ kế toán đơn giản theo quy định của pháp luật về thuế, kế toán [22]

Như vậy, Thông qua việc xác định phạm vi thu thuế và định mức thu thuế, Nhà nước thể hiện chắc chắn sự ưu đãi của mình đối với một số đối tượng trong xã hội không phải nộp thuế hoặc thể hiện sự khuyến khích của Nhà nước đối với việc phát triển của một lĩnh vực ở một vùng nào đó Đó chính là hỗ trợ việc thuế và kế toán đối với doanh nghiệp khởi nghiệp nhỏ và vừa ở nước ta ngay tại thời điểm Luật Hỗ trợ DNNVV đang có hiệu lực thi hành

Bốn: Hỗ trợ mặt bằng sản xuất

Thứ nhất: Tại khoản 1 điều 11 Luật hỗ trợ DNNVV quy định: Căn cứ vào điều kiện quỹ đất thực tế tại địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định bố trí quỹ đất để hình thành, phát triển cụm công nghiệp; khu chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản, hải sản tập trung cho DNNVV phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt Nghĩa là DNNVV được bố trí quỹ đất để hình thành, phát triển cụm công nghiệp; khu chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản, hải sản tập trung Vấn đề này Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có nghĩa vụ trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định nhưng phải căn cứ vào điều kiện quỹ đất thực tế tại địa phương

Thứ hai: Về hỗ trợ giá thuê mặt bằng và hỗ trợ giá thuê mặt bằng, Căn cứ vào điều kiện ngân sách địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định hỗ trợ giá thuê mặt bằng cho DNNVV tại các khu công nghiệp, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp trên địa bàn Thời gian hỗ trợ tối đa là

05 năm kể từ ngày ký hợp đồng thuê mặt bằng[22] Việc hỗ trợ giá thuê mặt bằng

Trang 39

cho DNNVV quy định tại khoản 2 Điều này được thực hiện thông qua việc bù giá cho nhà đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp để giảm giá cho thuê mặt bằng đối với DNNVV Số tiền bù giá được trừ vào số tiền thuê đất hoặc được hỗ trợ từ ngân sách địa phương Trong quy định này luật định giá hoán đổi thuộc về chủ đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp cho thuê mặt bằng với DNNVV khởi nghiệp

Về hỗ trợ thuê mặt bằng đối với doanh nghiệp khởi nghiệp nhỏ và vừa cũng được giới hạn phạm vi hưởng thụ rất rõ ràng, đó là chỉ doanh nghiệp khởi nghiệp nào có vốn đầu tư của tư nhân trong nước “Việc hỗ trợ mặt bằng sản xuất quy định tại Điều này không áp dụng đối với DNNVV có vốn đầu tư nước ngoài, DNNVV có vốn nhà nước[22]

Năm: Hỗ trợ công nghệ; hỗ trợ cơ sở ươm tạo, cơ sở kỹ thuật, khu làm

việc chung

Theo điều 12 Luật hỗ trợ DNNVV, Nhà nước có chính sách hỗ trợ DNNVV khởi nghiệp trong một số lĩnh vực them chốt, quan trọng để thúc đẩy nhanh sự phát triển kinh tế, văn hóa xã hội hoàn thành sự nghiệp hóa và công nghiệp hóa đất nước, như: nghiên cứu, đổi mới công nghệ, tiếp nhận, cải tiến, hoàn thiện, làm chủ công nghệ thông qua các hoạt động nghiên cứu, đào tạo, tư vấn, tìm kiếm, giải mã, chuyển giao công nghệ; xác lập, khai thác, quản lý, bảo vệ và phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp

Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập hoặc tham gia thành lập theo hình thức đối tác công tư cơ sở ươm tạo, cơ sở kỹ thuật, khu làm việc chung Doanh nghiệp và tổ chức đầu tư, kinh doanh khác được thành lập cơ sở ươm tạo, cơ sở kỹ thuật, khu làm việc chung

Cơ sở ươm tạo, cơ sở kỹ thuật, khu làm việc chung được hưởng các hỗ trợ sau đây: a) Miễn, giảm tiền thuê đất, tiền sử dụng đất, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp theo quy định của pháp luật; b) Miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp có thời hạn theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp [22]

Sáu: Hỗ trợ mở rộng thị trường [22]

Trang 40

Về việc hỗ trợ khởi nghiệp DNNVV trong lĩnh vực hỗ trợ mở rộng thị trường tham gia hoạc động thương mại, đầu tư sản xuất kinh doanh là rất quan trọng Luật

hỗ trợ DNNVV hiện hành đã hướng đến việc kết nối thị trường để các DNNVV sau khi thành lập có thể tham gia đồng bộ vào một sân chơi lớn hơn có sự bảo hộ của nhà nước bằng pháp luật “Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập hoặc tham gia thành lập chuỗi phân phối sản phẩm theo hình thức đối tác công

tư Doanh nghiệp và tổ chức đầu tư, kinh doanh khác được thành lập chuỗi phân phối sản phẩm”

Với điều kiện “cứng” trong quy định này, Doanh nghiệp, tổ chức đầu tư, kinh doanh chuỗi phân phối sản phẩm có ít nhất 80% số DNNVV tham gia cung ứng cho chuỗi sản phẩm sản xuất tại Việt Nam thì sẽ được hưởng các hỗ trợ sau đây:

Thứ nhất: Miễn, giảm tiền thuê đất, tiền sử dụng đất, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp theo quy định của pháp luật

Thứ hai: Miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp có thời hạn theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp

Thứ ba: Doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ được hưởng ưu đãi trong lựa chọn nhà thầu theo quy định của pháp luật về đấu thầu Luật đấu thầu số 43/2013/QH13 được Quốc hội ban hành 26 tháng 11 năm 2013, chính thức có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2014, là Luật đầu thầu mới nhất do Quốc hội ban hành được áp dụng hỗ trợ khởi nghiệp doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ được hưởng ưu đãi trong lựa chọn nhà thầu

Như vậy những Doanh nghiệp, tổ chức đầu tư, kinh doanh chuỗi phân phối sản phẩm dưới 80% số DNNVV tham gia cung ứng cho chuỗi sản phẩm sản xuất tại Việt Nam thì sẽ không được hưởng các hỗ trợ trong quy định nêu trên

Bảy: Hỗ trợ thông tin, tư vấn và pháp lý

DNNVV khởi nghiệp từ trước đến khi Luật hỗ trợ DNNVV có hiệu lực thi hành rất hạn chế trong việc được hỗ trợ thông tin, tư vấn pháp luật Đáp ứng yêu cầu thực tiễn, tại điều 14 Luật hỗ trợ DNNVV hiện hành đã quy định 4 khoản riêng

Ngày đăng: 12/06/2018, 15:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thanh Bình (2005), Doanh nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai - thực trạng và giải pháp phát triển, Luận văn thạc sỹ, Viện Quản lý kinh tế - Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doanh nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai - thực trạng và giải pháp phát triển
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Năm: 2005
9. Nguyễn Cúc (2000), Đổi mới cơ chế và chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam đến năm 2005, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới cơ chế và chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam đến năm 2005
Tác giả: Nguyễn Cúc
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
11. Hồ Tiến Dũng (1995), Giải pháp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Thành phố Hồ Chí Minh, Luận án Tiến sỹ, trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Hồ Tiến Dũng
Năm: 1995
13. Nguyễn Văn Nhơn (2015),Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Tỉnh Đăk Lăk, Luận văn thạc sĩ, Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Tỉnh Đăk Lăk
Tác giả: Nguyễn Văn Nhơn
Năm: 2015
14. Hồ Xuân Phương, Đỗ Minh Tuấn và Chu Minh Phương (2002), Tài chính hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, Nxb Tài Chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài chính hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ
Tác giả: Hồ Xuân Phương, Đỗ Minh Tuấn và Chu Minh Phương
Nhà XB: Nxb Tài Chính
Năm: 2002
23. Thái Văn Rê (2011), Doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Thành phố Hồ Chí Minh sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO, Luận án Tiến sỹ, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Thành phố Hồ Chí Minh sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO
Tác giả: Thái Văn Rê
Năm: 2011
24. Trường Đại học Ngân hàng TPHCM (2015), Hoạt động bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, Kỷ yếu hội thảo khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Trường Đại học Ngân hàng TPHCM
Năm: 2015
25. Nguyễn Xuân Trường (2005), Nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế,Luận văn thạc sĩ, Đại học Ngoại thương Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Nguyễn Xuân Trường
Năm: 2005
26. Phạm Minh Tuấn (2005), Hoàn thiện chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Hà Nội trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sỹ, Viện Quản lý kinh tế - Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Phạm Minh Tuấn
Năm: 2005
27. Vũ Quốc Tuấn - Hoàng Thu Hoà (2001), Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, kinh nghiệm nước ngoài và phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, kinh nghiệm nước ngoài và phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
Tác giả: Vũ Quốc Tuấn - Hoàng Thu Hoà
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2001
8. Cổng thông tin điện tử thành phố Hồ Chí Minh http://www.hochiminhcity.gov.vn Link
2. Chính phủ (2009), Nghị định số 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Khác
3. Chính phủ (2013),Quyết định số 58/2013/QĐ Ban hành quy chế thành lập, tổ chức và hoạt động của quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa Khác
4. Chính phủ (2016),Nghị quyết 35/NQ – CP của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020 Khác
5. Chính phủ (2016), Quyết định 844/QĐ-TTg Quyết định về việc phê duyệt đề án “hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025 Khác
6. Chính phủ (2018), Nghị định 34/2018/NĐ-CP Về việc thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa Khác
7. Chính phủ (2018),Nghị định 38/2018/NĐ-CP quy định chi tiết về đầu tư cho doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo Khác
10. Cục thống kê thành phố Hồ Chí Minh (2017), Báo cáo thống kê năm 2017 Khác
12. Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh (2018), Nghị quyết Đảng bộ Khác
22. Quốc hội (2017), Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w