Tại giai đoạn phúc thẩm, Khi thực hiện chức năng kiểm sát xét xử trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, Viện kiểm sát có nhiệm vụ, quyền sau đây: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS PHẠM MẠNH HÙNG
HÀ NỘI – 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện dưới sự hướng
dẫn khoa học của TS Phạm Mạnh Hùng Các nội dung, thông tin được trình bày trong luận văn là trung thực
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan trên của mình
Hà Nội, ngày 28 tháng 02 năm 2018
Tác giả luận văn
Trần Thị Hoa
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ VỀ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG XÉT XỬ PHÚC THẨM CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT 6
1.1 Khái niệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự 6 1.2 Khái niệm, đặc điểm hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt 15 1.3 Khái quát lịch sử các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt từ năm 1960 đến trước khi có Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 20
Chương 2: CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG XÉT XỬ PHÚC THẨM CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 26
2.1 Các quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành (BLTTHS năm 2015) về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt 26 2.2 Những bất cập trong quy định của BLTTHS năm 2015 về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt 40 2.3 Thực trạng hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn TP Hồ Chí Minh 43
Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ GIẢI PHÁP KHÁC NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG XÉT XỬ PHÚC THẨM CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT 71
3.1 Hoàn thiện các quy định của pháp luật và các giải pháp khác nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt 71
Trang 53.2 Các giải pháp khác nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn TP Hồ Chí Minh 74 3.3 Các giải pháp khác 76
KẾT LUẬN 78 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Trang 81
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xét xử các vụ án hình sự có một ý nghĩa rất quan trọng bảo đảm công lý và công bằng xã hội, không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội Vì vậy, phán quyết của Toà án (thông qua Hội đồng xét xử) Nhân danh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đòi hỏi phải bảo đảm chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
Nhằm đảm bảo nguyên tắc “chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm” (Điều 27 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015), việc tham gia của Viện kiểm sát
có ý nghĩa rất quan trọng Viện kiểm sát (VKS) có chức năng thực hành quyền công
tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong vụ án hình sự ở cả 2 cấp xét xử, đề nghị của VKS ở cả 2 cấp đều là là cơ sở quan trọng để Tòa án xem xét, cân nhắc trong phán quyết tại bản án hình sự Tại cấp phúc thẩm là cấp mà bản án có hiệu lực thi hành ngay nên việc tham gia của VKS nhằm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm có tầm quan trọng to lớn, góp phần kéo giảm tình trạng oan sai và bỏ lọt tội phạm nhất là trong nhóm tội liên quan đến xâm phạm sở hữu chiếm
tỷ lệ cao trong cơ cấu tội phạm hình sự
Thực tiễn pháp luật hình sự quy định về nhóm tội án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt còn một số bất cập nên việc cấp sơ thẩm áp dụng vào giải quyết vụ án còn một số nhầm lẫn giữa các tội với nhau, đánh gía tính chất vụ án còn một số chưa đúng nên nhóm tội này bị kháng cáo, kháng nghị tương đối nhiều Từ
đó việc tham gia của VKS trong giai đoạn xét xử phúc thẩm đối với các vụ án hình
sự nói chung và đối với các vụ án án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt nói riêng góp phần quan trọng trong việc kết án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
Trong bối cảnh cải cách tư pháp, việc nghiên cứu một cách có hệ thống và đề xuất phương hướng hoàn thiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS trong giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ án hình sự trong nhóm tội này là việc làm cần thiết có ý nghĩa cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trang 9Thạc sỹ Nguyễn Văn Thanh “Đặc điểm của tội xâm phạm sở hữu của Thành phố Hồ Chí Minh trong những năm gần đây”, tạp chí Dân chủ và pháp luật ngày
Trang thông tin điện tử của Trường Đại học kiểm sát Hà Nội, mục Kiểm sát
viên cần biết, phần thứ ba về “Hoạt động của kiểm sát viên khi thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm hình sự”
TS Lê Thành Dương- Viện kiểm sát nhân dân tối cao “Một số vấn đề lý luận
và thực tiễn về kháng nghị phúc thẩm hình sự”, Tạp chí điện tử VKSND Tối Cao
ngày 07/3/2018
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ về lý luận và thực tiễn của kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm án hình sự nói chung của án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt nói riêng của VKSND
Qua khảo sát của học viên thấy rằng vấn đề kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm án hình sự các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh vẫn chưa đạt hiệu quả cao Vì vậy, việc
Trang 103
nghiên cứu đề tài là cần thiết và phù hợp với yêu cầu thực tiễn của công cuộc cải cách tư pháp mà Đảng và Nhà nước đã đề ra trong giai đoạn hiện nay, định hướng đến năm 2020
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, quy định của pháp luật và thực tiễn kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS trong giai đoạn xét xử phúc thẩm các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, nhiệm vụ của luận văn là đưa ra giải pháp bảo đảm thực hiện tốt chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ án các vụ án xâm phạm sở hữu
có tính chiếm đoạt tại thành phố Hồ Chí Minh
- Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Phân tích làm rõ khái niệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự, phân biệt chức năng thực hành quyền công tố với chức năng kiểm sát xét xử phúc thẩm trong giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ án hình sự;
- Phân tích làm rõ khái niệm, đặc điểm hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
- Phân tích làm rõ thực trạng hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn TP Hồ Chí Minh; những kết quả đạt được, hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân của nó; Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm sát xét xử phúc thẩm các vụ án có tính chất chiếm đoạt
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng mà luận văn nghiên cứu là các vấn đề lý luận và các quy định của pháp luật về nhiệm vụ của VKS kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm về nhóm tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt từ thực tiễn áp dụng tại thành phố Hồ Chí Minh
Trang 114
Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi về nội dung:Trong phạm vi luận văn tác giả chỉ đi sâu vào nghiên
cứu nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong giai đoạn kiểm sát xét xử phúc thẩm vụ án hình sự (XXPT VAHS) nói chung, xét xử phúc thẩm các vụ án xâm phạm sở hữu có
tính chất chiếm đoạt (XXPT các vụ án XPSH có TCCĐ) nói riêng
Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp
luật trong xét xử phúc thẩm về nhóm tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
từ thực tiễn áp dụng tại thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2013 đến năm 2017
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước và pháp luật, về quyền con người và quyền cá nhân trong
Mác-tố tụng hình sự
Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết mục đích của đề tài, tác giả đã sử dụng và kết hợp các phương pháp lịch sử, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, so sánh
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa mặt lý luận
Luận văn nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống các quy định pháp luật tố tụng hình sự và pháp luật hình sự về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự nói chung trong xét xử phúc thẩm về nhóm tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt nói riêng từ thực tiễn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, từ đó góp phần bổ sung, làm rõ hơn những vấn đề lý luận về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự
Ý nghĩa thực tiễn
Từ việc nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật, luận văn đã nêu lên những bất hợp lý và những vướng mắc trong việc áp dụng các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự và các quy phạm pháp luật hình sự trong thực tiễn kiểm sát việc tuân theo
Trang 125
pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự nói chung trong xét xử phúc thẩm về nhóm tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt nói riêng Từ đó đưa ra những đề xuất về hướng giải quyết sao cho phù hợp với thực tế, đồng thời hạn chế những sai lầm, khuyết điểm của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.Với những kết quả mà luận văn mang lại, có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên, tài liệu tuyên truyền pháp luật, phục vụ cho những người làm công tác thực tiễn và những ai có quan tâm đến lĩnh vực pháp luật hình sự đối với kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự nói chung trong xét xử phúc thẩm về nhóm tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt nói riêng
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần kết luận, nội dung của luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
xét xử phúc thẩm các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
Chương 2: Các quy định của pháp luật hiện hành về kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt và thực tiễn hoạt động kiểm sát xét xử phúc thẩm các vụ án xâm phạm sở hữu
có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Hoàn thiện các quy định của pháp luật và các giải pháp khác
nâng cao hiệu quả kiểm sát việc xét xử phúc thẩm các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 136
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ VỀ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG XÉT XỬ PHÚC THẨM CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT
1.1 Khái niệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự
1.1.1 Khái niệm và đối tượng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét
Xét xử phúc thẩm có ý nghĩa nhằm đảm bảo cho pháp luật được áp dụng một cách đúng đắn và thống nhất Trong khi kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị, Tòa án cấp phúc thẩm có thể phát hiện những sai lầm trong việc áp dụng pháp luật hình sự, những vi phạm trong việc áp dụng pháp luật tố tụng hình sự mà cấp xét
xử sơ thẩm đã mắc phải để tuyên hủy để điều tra lại, xét xử lại hoặc hủy và đình chỉ
vụ án nhằm khắc phục, sửa chữa những sai lầm, vi phạm đó, đảm bảo cho pháp luật được áp dụng một cách đúng đắn và thống nhất
Kết quả xét xử phúc thẩm có đạt hiệu quả hay không là nhờ vào sự tham gia
và góp phần không nhỏ của Viện kiểm sát nhân dân trong thực hiện chức năng mà Luật đã giao phó đó là thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp Nhiệm
vụ, quyền hạn này theo suốt trong quá trình từ sơ thẩm lên phúc thẩm nhằm đảm bảo không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm Một trong những nhiệm vụ quan trọng là kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm án hình sự
Trang 147
nhằm kiểm sát lại toàn bộ quá trình từ điều tra, truy tố, xét xử ở cấp sơ thẩm và việc
áp dụng pháp luật của cấp sơ thẩm
Tại giai đoạn phúc thẩm, Khi thực hiện chức năng kiểm sát xét xử trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, Viện kiểm sát có nhiệm vụ, quyền sau đây: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử vụ án hình sự của Tòa án; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật; kiểm sát bản án, quyết định, văn bản tố tụng khác của Tòa án; yêu cầu Tòa án cùng cấp, cấp dưới chuyển hồ sơ vụ án hình sự để xem xét, quyết định việc kháng nghị; kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật nghiêm trọng về thủ tục tố tụng; kiến nghị, yêu cầu Tòa án, cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động tố tụng theo quy định của BLTTHS; kiến nghị Tòa án khắc phục vi phạm trong hoạt động tố tụng; kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật trong hoạt động quản lý; hướng dẫn nghiệp vụ cho cấp sơ thẩm qua các thông báo rút kinh nghiệm, tổ chức hội nghị chuyên đề, hướng dẫn những vướng mắc trong áp dụng pháp luật; thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị, nhiệm vụ, quyền hạn khác khi kiểm sát xét xử phúc thẩm vụ án hình sự theo quy định của BLTTHS[19,tr.27]
Như vậy, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự, người tham gia tố tụng, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến các hoạt động tố tụng hình sự; kiểm sát tính hợp pháp của bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị
Phạm vi kiểm sát xét xử phúc thẩm: được tính bắt đầu từ khi bản án, quyết
định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị, cho đến khi Toà án phúc thẩm ra bản án Có thể chia ra thành ba giai đoạn kiểm sát xét xử phúc thẩm đó là: trước khi mở phiên toà phúc thẩm, tại phiên toà phúc thẩm và sau khi kết thúc phiên toà phúc thẩm
Trang 158
Trước khi mở phiên toà, chức năng kiểm sát hoạt động xét xử phúc thẩm là
kiểm sát bản án sơ thẩm để thực hiện quyền kháng nghị, kiến nghị theo thủ tục phúc thẩm; là nghiên cứu toàn bộ hồ sơ phúc thẩm do Tòa án nhân dân cùng cấp chuyển qua nhằm phát hiện các thiếu sót, các vi phạm để kịp thời kiến nghị và chuẩn bị hồ sơ kiểm sát, báo cáo đề xuất với lãnh đạo về đường lối xử lý vụ án
Tại phiên toà phúc thẩm, chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của
Hội đồng xét xử cũng như các chủ thể khác tham gia tố tụng cũng được tiến hành như việc kiềm sát tại phiên toà sơ thẩm: như việc kiểm sát thủ tục bắt đầu phiên toà phúc thẩm xét xử vụ án hình sự có đúng trình tự và thủ tục có đúng quy định pháp luật tố tụng hình sự không, kiểm sát tư cách của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng có đúng như trong quyết định đưa vụ án ra xét xử không…
Sau khi kết thúc phiên toà phúc thẩm, do tính chất của xét xử phúc thẩm là
việc phán quyết của Hội đồng xét xử có hiệu lực pháp luật ngay sau khi tuyên án,
do vậy, sau khi kết thúc phiên toà phúc thẩm, VKS phải kiềm sát chặt chẽ các quyết định của Hội đồng xét xử như quyết định trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên toà…
và các văn bản tố tụng khác như biên bản phiên toà phúc thẩm, bút ký phiên toà, bản án… có được lập đúng trình tự thẩm quyền Sau xét xử phúc thẩm, kiểm sát viên còn có nhiệm vụ báo cáo kết quả xét xử và đề nghị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm (nếu thấy có vi phạm), tập hợp các vi phạm, sai sót kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm án hình sự của cấp sơ thẩm để thông báo rút kinh nghiệm, hướng dẫn nghiệp vụ cho cấp sơ thẩm Đó là chức năng
cơ bản nhất của VKS sau khi kết thúc phiên toà phúc thẩm
Đặc điểm kiểm sát xét xử phúc thẩm:
Viện kiểm sát là chủ thể của hoạt động kiểm sát xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự
Luật đã giao phó trách nhiệm cho Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo
vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ
xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất
Trang 169
Như vậy, trong hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự thì Viện kiểm sát là chủ thể duy nhất và là chủ thể đặc biệt Chỉ có Viện kiểm sát mới được giao nhiệm vụ nên mới có quyền thực hiện nhiệm
vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự
Mục đích của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự
Hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ
án hình sự nhằm đảm bảo hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp như cơ quan điều tra của công an, viện kiểm sát, tòa án trong khởi tố, điều tra, xét xử ở cấp sơ thẩm và hoạt động của Tòa án phúc thẩm đối với các vụ án hinhd sự được hoạt động đúng quy định của pháp luật; mọi vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp phải được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh; không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người phạm tội, người bị hại, người có nghĩa vụ, quyền lợi liên quan trong các vụ án hình sự
Đối tượng của hoạt động kiểm sát xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự Hoạt
động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự có đối tượng là các bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực bị kháng cáo, kháng nghị; Là hoạt động tố tụng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm
án hình sự của các cơ quan tố tụng như cơ quan điều tra của công an, Viện kiểm sát, tòa án trong khởi tố, điều tra, xét xử ở cấp sơ thẩm và hoạt động của Tòa án phúc thẩm đối với các vụ án hình sự; Là hoạt động của các cơ quan khác được phát hiện trong quá trình giải quyết vụ án hình sự ở cấp sơ thẩm và phúc thẩm
Bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật:
Trang 1710
Bản án chưa có hiệu lực pháp luật là bản án sơ thẩm chưa hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị hoặc bị kháng cáo, kháng nghị nhưng chưa xét xử phúc thẩm Bản
án chưa có hiệu lực pháp luật thì không được đem ra thi hành
Thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án Trường hợp có người có quyền kháng cáo vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết [20, tr 283] Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của viện kiểm sát cấp trên là 30 ngày kể từ ngày tuyên án [20,tr.286]
Như vậy: Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật sau 30 ngày kể từ ngày tuyên
án trong trường hợp không có kháng cáo, kháng nghị đồng thời không có người vắng mặt Trường hợp có kháng cáo, kháng nghị mà bản án phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm hoặc sửa bản án sơ thẩm thì bản án sơ thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án phúc thẩm Trường hợp bản án phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm thì bản án
sơ thẩm không có hiệu lực pháp luật
Bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị:
Trong thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án Trường hợp có người có quyền kháng cáo vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết– bị cáo, bị hại, người có nghĩa vụ, quyền lợi liên quan nếu phát hiện quyền lợi của mình bị xâm hại, chưa được bản án, quyết định sơ thẩm đề cập tới hoặc mức án là quá nặng, quá nhẹ, có dấu hiệu oan sai…thì
có quyền kháng cáo để cấp phúc thẩm xem xét lại
Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của viện kiểm sát cấp trên là 30 ngày kể từ ngày tuyên án Trong thời hạn này, qua quá trình kiểm sát xét xử án hình sự, kiểm sát bản án, quyết định sơ thẩm và qua nghiên cứu hồ sơ
vụ án, VKSND hai cấp phát hiện vi phạm của cơ quan tố tụng, phát hiện có dấu hiệu oan sai thì có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm để cấp phúc thẩm xem xét lại
Như vậy, ngay sau khi tuyên án, bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật ngay mà có thể bị kháng cáo, kháng nghị Tuy nhiên việc kháng cáo, kháng nghị không phải là vô thời hạn mà có quy định về thời hạn nhất định để tránh kéo dài
Trang 1811
việc thi hành bản án Việc quy định, bản án sơ thẩm có thể bị kháng cáo, kháng nghị
là đảm bảo nguyên tắc xét xử hai cấp được quy định trong tố tụng hình sự đảm bảo quyền lợi hợp pháp của mọi công dân được bảo vệ, pháp luật được tuân thủ thống nhất…
Thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm Luật chỉ giao cho VKSND:
Thẩm quyền quyết định việc kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thuộc Viện trưởng Viện kiểm sát và Phó Viện trưởng Viện kiểm sát khi Phó Viện trưởng Viện kiểm sát được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự BLTTHS năm 2015 chỉ giao nhiệm vụ kháng nghị bản án hoặc quyết định sơ thẩm cho VKSND tại Điều 336 Kháng nghị phúc thẩm là thể hiện nguyên tắc mọi hoạt động của Hội đồng xét xử sơ thẩm phải tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật, nếu không sẽ bị VKSND kháng nghị Kháng nghị phúc thẩm cũng là thể hiện quyền năng và nhiệm vụ của VKSND trong kiểm sát xét xử hình sự
Kháng nghị phúc thẩm thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát để thực hiện cả
2 chức năng là thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự:
Trong thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, nhiệm vụ kháng nghị phúc thẩm thể hiện ở vai trò thực hành quyền công tố của kiểm sát viên tại phiên tòa
sơ thẩm; Nếu quan điểm của hội đồng xét xử sơ thẩm không phù hợp với quy định của pháp luật, với quan điểm của VKSND sơ thẩm thì sau phiên tòa sơ thẩm, VKSND sơ thẩm sẽ thực hiện quyền kháng nghị của mình
Trong thực hiện chức năng kiểm sát xét xử phúc thẩm thì nhiệm vụ kháng nghị phúc thẩm thể hiện ở việc nghiên cứu bản án, quyết định chưa có hiệu lực của cấp sơ thẩm; nếu thấy có vấn đề thì yêu cầu cấp sơ thẩm chuyển hồ sơ nhằm thực hiện nhiệm vụ kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
Nhiệm vụ kiểm sát xét xử phúc thẩm án hình sự không chỉ tại phiên tòa phúc thẩm mà còn mở rộng ra trước và sau phiên tòa phúc thẩm:
Như đã nêu trong phần phạm vi, để thực hiện chức năng kiểm sát xét xử phúc thẩm hình sự, Luật tổ chức VKSND đã giao nhiều nhiệm vụ cho VKSND như:
Trang 19về thủ tục tố tụng; kiến nghị, yêu cầu Tòa án, cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động tố tụng theo quy định của BLTTHS; kiến nghị Tòa án khắc phục vi phạm trong hoạt động tố tụng; kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật trong hoạt động quản lý; hướng dẫn nghiệp vụ cho cấp sơ thẩm qua các thông báo rút kinh nghiệm, tổ chức hội nghị chuyên đề, hướng dẫn những vướng mắc trong áp dụng pháp luật; thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị, nhiệm vụ, quyền hạn khác khi kiểm sát xét xử phúc thẩm vụ án hình sự theo quy định của BLTTHS
Những yêu cầu nhiệm vụ đã nêu phải được thực hiện xuyên suốt từ trước, trong và sau quá trình xét xử phúc thẩm
Nhiệm vụ hướng dẫn nghiệp vụ cho cấp sơ thẩm là nhiệm vụ quan trọng trong thực hiện chức năng kiểm sát xét xử phúc thẩm:
Cấp phúc thẩm không chỉ là cấp tìm tòi các sai sót, vi phạm của cấp sơ thẩm
mà quan trọng là qua đó, hứơng dẫn nghiệp vụ cho cấp sơ thẩm để cùng rút kinh nghiệm, nâng cao nghiệp vụ nhằm nâng tầm cho VKS sơ thẩm, đó cũng là nâng tầm cho ngành kiểm sát nói chung
Theo tác giả thì phần này là phần quan trọng nhất và nên lấy đây làm tiêu chí thi đua quan trọng nhất của bộ phận kiểm sát xét xử phúc thẩm hình sự
1.1.2 Phân biệt chức năng thực hành quyền công tố với chức năng kiểm sát xét xử phúc thẩm trong giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ án hình sự
Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự
Trang 2013
Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi thực hành quyền công
tố trong giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ án hình sự là: Xét hỏi, tranh luận, phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa; Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án trong trường hợp phát hiện oan, sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội; Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc buộc tội theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự [19, tr.26]
Kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật
Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi kiểm sát xét xử phúc
thẩm các vụ án hình sự là: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử các
vụ án hình sự của Tòa án; Kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án; Kiểm sát hoạt động tố tụng hình sự của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật; Yêu cầu Tòa án cùng cấp, cấp dưới chuyển hồ sơ vụ án hình sự để xem xét, quyết định việc kháng nghị; Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng; Thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị và nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm sát xét xử vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự
Từ khái niệm trên có thể phân biệt sự giống và khác nhau của hai chức năng trên như sau:
Giống nhau:
Hai nhiệm vụ đều đi song song, xuyên suốt trong tố tụng hình sự từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự
Cùng chung mục đích không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội; bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ pháp luật…
Trang 2114
Trong quá trình thực hiện hai nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm án hình sự, VKSND có cùng quyền hạn là kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật
Khác nhau:
Phạm vi để thực hiện chức năng thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét
xử phúc thẩm có phần hạn chế hơn, chỉ thể hiện tại phiên tòa phúc thẩm qua phần tranh luận, phát biểu quan điểm về vụ án; Còn phạm vi để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm án hình sự rộng hơn, thể hiện ở trước, trong và sau phiên tòa phúc thẩm
Do phạm vi rộng hơn nên nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân
khi kiểm sát xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự bắt đầu kể từ khi án sơ thẩm xét xử xong, có bản án hình sự chuyển lên cho đến xuyên suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự theo trình tự phúc thẩm của Tòa án và kể cả sau phiên tòa phúc thẩm Đó là các hoạt động bao gồm: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ
án hình sự của Tòa án; Kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án; Kiểm sát hoạt động
tố tụng hình sự của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật; Yêu cầu Tòa án cùng cấp, cấp dưới chuyển hồ sơ vụ án hình sự để xem xét, quyết định việc kháng nghị; Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng; Thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị và nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm sát xét xử vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự
Nhiệm vụ chính của chức năng thực hành quyền công tố là thực hiện việc buộc tội của Nhà Nước đối với người phạm tội nhưng nhiệm vụ chính của chức năng kiểm sát xét xử phúc thẩm án hình sự là đảm bảo mọi hoạt động tư pháp được hoạt động đúng quy định của pháp luật, mọi vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp phải được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh
Chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát xét xử phúc thẩm
án hình sự, tuy có khác nhau nhưng có mối quan hệ biện chứng với nhau, bổ trợ cho
Trang 22để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội Hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm có hiệu quả là điều kiện để bào đảm thực hành quyền công tố đúng đắn, chính xác, khách quan và ngược lại
1.2 Khái niệm, đặc điểm hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
1.2.1 Khái niệm tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
Theo quy định tại Điều 58 Hiến pháp năm 1992 thì công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn
và tài sản khác…Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp của công dân Để bảo vệ quyền sở hữu của công dân, Nhà nước có nhiều công cụ và biện pháp khác nhau, trong đó có biện pháp nghiêm khắc nhất là sử dụng pháp luật hình sự
Theo Từ điển tiếng Việt, chiếm đoạt là chiếm của người khác làm của mình, bằng cách dựa vào vũ lực hoặc quyền thế Ở khái niệm này chiếm đoạt được xem là hành vi dùng vũ lực hoặc quyền uy để lấy tài sản của người khác một cách cố ý Nhưng trong Luật hình sự thì hành vi chiếm đoạt là hành vi cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản đang được sự quản lí của chủ tài sản thành tài sản của mình
Trong BLHS 2015 sửa đổi 2017 dành một chương cho tội xâm phạm sở hữu
đó là chương XVI với các tội từ Điều 168 đến Điều 180, trong đó các tội xâm phạm
sở hữu có tính chất chiếm đoạt nằm ở các điều từ 168 đến Điều 175
Giống như phần lớn các chương trong phần các tội phạm của BLHS, nhà làm luật không định nghĩa về các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt Tuy
nhiên, từ phân tích trên có thể định nghĩa: Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, chuyển dịch một cách bất hợp pháp tài sản của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân thành tài sản của mình với động cơ tư lợi
Trang 23Khách thể của tội phạm là quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ
chức, doanh nghiệp hoặc cá nhân
Tài sản là đối tượng tác động của hành vi chiếm đoạt đòi hỏi phải có đặc điểm là tài sản thuộc quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của chủ thể, có khả năng chuyển dịch được giữa các chủ thể với nhau Tài sản ở đây phải được thể hiện dưới dạng những vật cụ thể có giá trị và giá trị sử dụng
Mặt khách quan của tội phạm
Hành vi phạm tội có tính chất chiếm đoạt tài sản là các hành vi chuyển dịch bất hợp pháp tài sản đang do một chủ thể quản lý thành tài sản của mình Hành vi chiếm đoạt làm cho chủ sở hữu mất khả năng thực hiện quyền sở hữu, đồng thời tạo khả năng cho người phạm tội thực hiện được việc chiếm giữ, sử dụng, định đoạt trái phép tài sản đó Tài sản là đối tường tác động của hành vi chiếm đoạt là tài sản còn nằm trong sự quản lý của chủ sở hữu
Mặt chủ quan của tội phạm
Ở tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt thì chỉ tồn tại loại lỗi cố ý trực tiếp, đó là: người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra
Chủ thể của các tội xâm phạm sở hữu phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự
Chủ thể của các tội xâm phạm sở hữu phải là người đủ tuổi chịu trách nhiệm
sự (theo quy định tại Điều 12 BLHS) và có năng lực trách nhiệm hình sự, nghĩa là khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, người thực hiện hành vi có khả năng nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình và có khả năng điều khiển được hành vi ấy
1.2.2 Khái niệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
Trang 2417
BLHS năm 2015 sửa đồi, bổ sung 2017 quy định tại Chương XVI về tội xâm phạm sở hữu nhưng chỉ có các Điều từ 168 đến Điều 175 là có tính chất chiếm đoạt Nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt nằm chung trong nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự nói chung, không thể tách rời Tuy nhiên do tính chất, đặc điểm của loại tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt có khác so với các loại tội khác nên khi thực hiện nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án này cũng có những phân biệt nhất định
Do không thể tách rời với nhiệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét
xử phúc thẩm các vụ án hình sự, nên khái niệm cũng có phần tương ứng
Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là hoạt động của VKSND để kiểm sát tính hợp pháp của bản án, quyết định sơ thẩm về các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị
1.2.3 Đặc điểm
Từ khái niệm trên, có thể nhận thấy đặc điểm của kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, như sau:
Viện kiểm sát là chủ thể của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt:
Luật đã giao phó trách nhiệm cho Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo
vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ
xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất [18-tr.32]
Như vậy, trong hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt thì Viện kiểm sát là chủ thể duy nhất và là chủ thể đặc biệt Chỉ có Viện kiểm sát mới được giao nhiệm vụ
Trang 2518
nên mới có quyền thực hiện nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt Cũng có cơ quan có thẩm quyền giám sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm các
vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt nói riêng như Mặt trận Tổ quốc, tuy nhiên chủ thể này chỉ thực hiện việc giám sát mà không thể thực hiện hoạt động kiểm sát Viện kiểm sát là cơ quan theo suốt trong quá trình các cơ quan thực thi nhiệm vụ theo quy định của Tố tụng hình sự nên hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt đạt nhiều hiệu quả thiết thực hơn
Mục đích của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
Hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ
án hình sự xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt nhằm đảm bảo hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp như cơ quan điều tra của công an, viện kiểm sát, tòa
án trong khởi tố, điều tra, xét xử ở cấp sơ thẩm và hoạt động của Tòa án phúc thẩm đối với các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt được hoạt động đúng quy định của pháp luật; mọi vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp phải được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh; không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người phạm tội, người bị hại, người
có nghĩa vụ, quyền lợi liên quan trong các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt…
Đối tượng của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt nói riêng:
Hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ
án hình xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt có đối tượng là các bản án, quyết định sơ thẩm đối với án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt chưa có hiệu lực
bị kháng cáo, kháng nghị; Là hoạt động tố tụng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm án hình sự của các cơ quan tố tụng như cơ quan điều tra của công an, Viện kiểm sát, tòa án trong khởi tố, điều tra, xét xử ở cấp sơ thẩm và hoạt động của Tòa án phúc thẩm đối với các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm
Trang 26Bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật
Bản án chưa có hiệu lực pháp luật là bản án sơ thẩm chưa hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị hoặc bị kháng cáo, kháng nghị nhưng chưa xét xử phúc thẩm Bản
án chưa có hiệu lực pháp luật thì không được đem ra thi hành
Thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án Trường hợp có người có quyền kháng cáo vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết (Điều 333 BLTTHS) Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của viện kiểm sát cấp trên là 30 ngày kể từ ngày tuyên án (Điều 337 BLTTHS)
Như vậy: Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật sau 30 ngày kể từ ngày tuyên
án trong trường hợp không có kháng cáo, kháng nghị đồng thời không có người vắng mặt Trường hợp có kháng cáo, kháng nghị mà bản án phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm hoặc sửa bản án sơ thẩm thì bản án sơ thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án phúc thẩm Trường hợp bản án phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm thì bản án
sơ thẩm không có hiệu lực pháp luật
Bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị:
Trong thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án Trường hợp có người có quyền kháng cáo vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết– bị cáo, bị hại, người có nghĩa vụ, quyền lợi liên quan nếu phát hiện quyền lợi của mình bị xâm hại, chưa được bản án, quyết
Trang 2720
định sơ thẩm đề cập tới hoặc mức án là quá nặng, quá nhẹ, có dấu hiệu oan sai…thì
có quyền kháng cáo để cấp phúc thẩm xem xét lại
Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của viện kiểm sát cấp trên là 30 ngày kể từ ngày tuyên án Trong thời hạn này, qua quá trình kiểm sát xét xử án hình sự, kiểm sát bản án, quyết định sơ thẩm và qua nghiên cứu hồ sơ
vụ án, VKSND hai cấp phát hiện vi phạm của cơ quan tố tụng, phát hiện có dấu hiệu oan sai thì có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm để cấp phúc thẩm xem xét lại
Như vậy, ngay sau khi tuyên án, bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật ngay mà có thể bị kháng cáo, kháng nghị Tuy nhiên việc kháng cáo, kháng nghị không phải là vô thời hạn mà có quy định về thời hạn nhất định để tránh kéo dài việc thi hành bản án Việc quy định, bản án sơ thẩm có thể bị kháng cáo, kháng nghị
là đảm bảo nguyên tắc xét xử hai cấp được quy định trong tố tụng hình sự đảm bảo quyền lợi hợp pháp của mọi công dân được bảo vệ, pháp luật được tuân thủ thống nhất…
Từ đặc điểm trên có thể thấy có sự tương ứng với đặc điểm của kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự Vì kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là một bộ phận của kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự
1.3 Khái quát lịch sử các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án xâm phạm
sở hữu có tính chất chiếm đoạt từ năm 1960 đến trước khi có Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
1.3.1 Giai đoạn từ năm 1959 đến trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình
sự năm 1988:
Ngày 26/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành Sắc lệnh số: 37 quy định thẩm quyền theo lãnh thổ các TA quân sự Ngoài việc bảo đảm quyền con người bằng tòa án quân sự, thì yêu cầu bảo vệ quyền con người bằng tòa án thường cũng được quy định ở Sắc lệnh số: 13/SL ngày 24/01/1946 về việc tổ chức tòa án và các
Trang 2821
ngạch Thẩm phán (trong đó có thẩm phán buộc tội), đồng thời quy định “ông Biện
lý (công tố), bị can và nguyên đơn có quyền chống án lên Tòa thượng thẩm”
Ngày 29/6/1958 Quốc hội có Nghị quyết thành lập Viện công tố, Viện công
tố độc lập trực thuộc Chính phủ Đến ngày 01/07/1959, Nghị định số: 256 – TTg quy định về nhiệm vụ và tổ chức của Viện công tố Theo Nghị định thì nhiệm vụ của Viện công tố là kiểm sát việc tuân thủ và chấp hành pháp luật Nhà nước… bảo
vệ lợi ích của công dân… giám sát việc chấp hành pháp luật trong việc xét xử của các Tòa án” Để đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách bộ máy Nhà nước, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa đã thông qua Hiến pháp mới, thay thế Hiến pháp năm 1946 Hiến pháp năm 1959 quy định tổ chức lại các cơ quan Nhà nước, trong đó có việc xác định nhiệm vụ của VKSND
Trên cơ sở đó, Hiến pháp 1959 và các Luật tổ chức Tòa án nhân dân 1960, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1960 được ban hành đánh dấu một bước phát triển mới trong lịch sử lập pháp của Nhà nước ta Lần đầu tiên, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng được xác định rõ ràng trong các văn bản pháp luật Chức năng xét xử các vụ án hình sự được tách khỏi chức năng buộc tội, cơ quan công tố được tách ra khỏi Chính phủ Đây chính là cơ sở pháp lý để hoàn thiện một bước pháp luật tố tụng nói chung và thủ tục tiến hành tố tụng tại phiên tòa hình
sự nói riêng
Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 tuy chưa quy định cụ thể việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm án hình sự nhưng đã quy định khái quát và đầy đủ những nhiệm vụ và quyền hạn cơ bản của công tác kiểm sát xét xử hình sự Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 chỉ quan tâm tới vai trò kháng nghị và thực hành quyền công tố tại phiên tòa mà chưa quan tâm tới vai trò kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự So với Luật
Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 thì Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981 bắt đầu quan tâm tới vai trò kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự nhưng mới chỉ nêu chung chung mà chưa nêu cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn như thế nào Tới Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân được sửa đổi, bổ
Trang 2922
sung năm 1989 đã quy định cụ thể, chi tiết hơn về nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong kiểm sát xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự đó là yêu cầu Toà án nhân dân cùng cấp và cấp dưới chuyển hồ sơ những vụ án cần thiết cho công tác kiểm sát xét xử Điểm này giúp cho Kiểm sát viên thực hiện nhiệm vụ kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp của các bản án và quyết định sơ thẩm, phúc thẩm nhằm phát hiện vi phạm, kịp thời kháng nghị theo trình tự phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm
Sự phát triển đó của Luật đã tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử các vụ án hình sự, khẳng định vị trí, vai trò và tăng cường trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân trong việc bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất trong cả nước Nhìn chung công tác kiểm sát xét xử hình sự trong giai đoạn này đã có cố gắng và đóng góp quan trọng vào phục vụ nhiệm vụ chính trị của ngành, của đất nước Công tác kiểm sát xét xử hình sự vừa tích cực hỗ trợ ngành Tòa án ra bản án đúng, vừa tích cực kiến nghị khắc phục vi phạm và tự phát hiện uốn nắn với chính sai lầm của mình nên đã góp phần quan trọng vào việc chống oan, chống lọt, xây dựng và hoàn thiện Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, đồng thời góp phần xây dựng các hướng dẫn thực hiện pháp luật trong giai đoạn sau này [7, tr.32]
1.3.2 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 đến trước khi có BLTTHS năm 2003
Bộ luật tố tụng hình sự đầu tiên được Quốc Hội nước ta thông qua vào ngày 28/6/1988 có hiệu lực ngày 01/01/1989 Bộ luật này là sự kế thừa các quy định của pháp luật tố tụng trước đó Thủ tục tố tụng tại phiên tòa phúc thẩm hình sự được quy định trong phần thứ 4 với 2 chương, chương 23 và chương 24 của Bộ luật tố tụng hình sự Có thể nói, đây là Bộ luật quy định tương đối đầy đủ, rõ ràng về trình
tự, thủ tục giải quyết các vụ án hình sự nói chung và thủ tục giải quyết tại phiên tòa phúc thẩm nói riêng Tại Điều 23, BLTTHS đã nêu: Viện kiểm sát có nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.Khi thực hiện
Trang 3023
nhiệm vụ của mình, kiểm sát viên chỉ tuân theo pháp luật, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp và sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Ngoài ra Luật còn nêu về quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, về thời hạn kháng nghị, về sự có mặt của kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm là bắt buộc…
Trong các giai đoạn của tố tụng hình sự, Viện kiểm sát có trách nhiệm áp dụng những biện pháp do Bộ luật này quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của bất kỳ cá nhân hoặc tổ chức nào
Như vậy, ngay từ BLTTHS đầu tiên đã xác định hai nhiệm vụ của VKSND
là kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự và thực hành quyền công
tố Tuy nhiên mới chỉ nêu chung chung mà chưa nêu cụ thể là được làm những gì
Hiến pháp năm 1992 sửa đổi (từ Điều 137 đến Điều 140) tiếp tục khẳng định chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân là kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt động tư pháp Căn cứ vào Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992 đã quy định rõ Viện kiểm sát nhân dân có hai chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử của Toà án, thực hành quyền công tố nhằm bảo đảm việc xét xử đúng pháp luật, nghiêm minh, kịp thời Luật đã nêu nhiệm vụ và quyền hạn tuy chưa được phân định ra nhưng có thể hiểu trong phiên tòa phúc thẩm hình sự hoạt động kiểm sát xét xử thông qua việc: yêu cầu Toà án nhân dân cùng cấp và cấp dưới chuyển hồ sơ những vụ án hình sự cần thiết cho công tác kiểm sát xét xử; Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của Toà án nhân dân theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự
BLTTHS năm 1999 đã tách chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự ra thành khoản riêng tại Điều 23; Nêu cụ thể hơn về thủ tục, thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát; Thêm điều về giao bản án, quyết định phúc thẩm để VKS thực hiện nhiệm vụ kiếm sát xét xử phúc thẩm sau phiên tòa phúc thẩm Tuy nhiên vẫn chỉ nói chung chung về việc việc có mặt của kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm là bắt buộc
Trang 3124
Luật tổ chức VKSND năm 2002 đã quy định cụ thể, chi tiết hơn về hai chưc năng công tố và kiểm sát xét xử; phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hiện chức năng kiểm sát xét xử các vụ án hình sự đó là: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân; Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng; Kiểm sát các bản án và quyết định của Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật; Yêu cầu Tòa án nhân dân cùng cấp và cấp dưới chuyển hồ sơ những vụ án hình sự để xem xét, quyết định việc kháng nghị; có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật; kiến nghị với Tòa án nhân dân cùng cấp và cấp dưới khắc phục vi phạm trong việc xét xử; kiến nghị với
cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm và
vi phạm pháp luật…
Những quy định của pháp luật về công tác kiểm sát xét xử hình sự của Viện kiểm sát nhân dân nói chung và về công tác kiểm sát xét xử hình sự trong giai đoạn phúc thẩm nói riêng giai đoạn từ 1988 đến trước khi có Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã có sự phát triển mới, rõ ràng hơn, cụ thể hơn, trong đó đáng lưu ý là
đã xác định rõ chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp, lấy hoạt động xét xử là trọng tâm và quan tâm tới hoạt động của VKS trong giai đoạn xét xử phúc thẩm án hình sự [7,tr.38]
1.3.3 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đến trước năm 2015
BLTTHS năm 2003 thể chế hóa đường lối của Đảng về cải cách tư pháp theo tinh thần Chỉ thị 53, Nghị quyết 08 của Bộ chính trị Thêm vào đó, BLTTHS năm
2003 cũng dành một chương riêng để quy định về tính chất và thủ tục của xét xử phúc thẩm vụ án hình sự, đó là phần thứ tư với 2 chương 23 và chương 24 Tuy nhiên phần về kiểm sát xét xử phúc thẩm án hình sự vẫn không có gì thay đổi so với BLTTHS 1999
Ngoài ra, còn có các văn bản pháp luật khác như: Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Quy chế công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự
Trang 32Tuy nhiên, từ thực tiễn hơn 10 năm thi hành BLTTHS năm 2003 đã bộc lộ vướng mắc, bất cập nên đòi hỏi việc ra đời BLTTHS mới thay thế BLTTHS năm
2003 nhằm phù hợp với tình hình mới
Kết luận Chương 1
Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm vị trí của VKSND luôn được khẳng định với vai trò là cơ quan nhân danh Nhà nước thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật VKSND không chỉ thực hiện chức năng duy nhất việc buộc tội mà còn phải chú ý đến việc gỡ tội để đảm bảo quyền lợi cho bị cáo và mục đích cuối cùng là nhằm đảm bảo cho một phán quyết công bằng
và hợp pháp đối với bị cáo VKSND thực hiện các nhiệm vụ này thông qua quyền kháng nghị phúc thẩm đối với bản án, quyết định sơ thẩm, tham gia phiên tòa phúc thẩm với tư cách là một bên tranh tụng và đề ra những yêu cầu của mình đối với việc giải quyết vụ án
Do đó, trong nội dung chương 1, tác giả đã tập trung nghiên cứu, phân tích khái niệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án hình
sự nói chung và đối với vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạn nói riêng; đối tượng và phạm vi của thực hành quyền công tố cũng như kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn phúc thẩm Qua đó là cơ sở để phân tích những quy định pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về chức năng của VKS trong việc thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt ở chương 2
Trang 3326
Chương 2 CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG XÉT
XỬ PHÚC THẨM CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1 Các quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành (BLTTHS năm 2015) về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử phúc thẩm các vụ
án xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
2.1.1 Kháng nghị phúc thẩm
Tại Điều 336 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS) quy định: “Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị những bản án hoặc quyết định sơ thẩm” Điều 41 BLTTHS quy định: “…2 Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với
vụ án hình sự, Viện trưởng Viện kiểm sát có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
o) Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm các bản án, quyết định của Toà án;…” Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quy định: “Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, Viện kiểm sát nhân dân có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của Toà án nhân dân theo quy định của pháp luật”
Như vậy, pháp luật quy định, Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm đối với những bản án và quyết định sơ thẩm khi xét thấy vi phạm nghiêm trọng trong hoạt động xét xử của Tòa án
2.1.1.1 Thẩm quyền của Viện kiểm sát
Điều 336 BLTTHS quy định: “Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án hoặc quyết định sơ thẩm” Tiếp đó, các Điều từ 337 đến Điều 342 BLTTHS đã quy định về thời hạn, thủ tục kháng nghị phúc thẩm
Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quy định tại Điều 6: “Khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, Viện kiểm sát nhân dân có quyền ra quyết
Trang 34và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, Viện kiểm sát nhân dân có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của Toà án nhân dân theo quy định của pháp luật”
Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình
sự ban hành kèm theo Quyết định số 960/QĐ-VKSTC ngày 17/9/2007 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, tại các điều từ Điều 32 đến Điều 37 đã quy định căn cứ kháng nghị phúc thẩm hình sự và hướng dẫn cụ thể về cách thức thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm
Điều 336 BLTTHS quy định: Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị những bản án hoặc quyết định sơ thẩm Theo Điều 36 BLTTHS thì người có thẩm quyền quyết định việc kháng nghị phúc thẩm
là Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp
Điều 36 Quy chế ban hành kèm theo quyết định số 505/2017/VKSTC-V7 về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự quy định về thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm, cụ thể là:
1 Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cùng cấp Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân
sự khu vực kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự khu vực cùng cấp
2 Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án nhân dân cấp huyện Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm bản
án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự cấp quân khu
và Tòa án quân sự khu vực
Trang 3528
3 Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự cấp quân khu
Đối với vụ án mà lãnh đạo Viện kiểm sát cấp trên đã có ý kiến chỉ đạo trong quá trình thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra hoặc xét xử sơ thẩm, nếu kháng nghị phải báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên xem xét, quyết định
2.1.1.2 Căn cứ kháng nghị phúc thẩm hình sự:
BLTTHS không có điều luật cụ thể về căn cứ kháng nghị phúc thẩm Tuy nhiên, căn cứ vào các quy định của BLTTHS về căn cứ để Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm (Điều 357 BLTTHS), hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại (Điều 358 BLTTHS), hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án (Điều
359 BLTTHS) và quy định về Thẩm quyền của Hội đồng phúc thẩm đối với quyết định sơ thẩm (Điều 361 BLTTHS); Căn cứ vào Quy chế ban hành kèm theo quyết định số 505/2017/VKSTC-V7 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, tại Điều 37 xác định, bản
án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm khi có một trong những căn cứ sau đây:
- Việc điều tra, xét hỏi ở cấp sơ thẩm không đầy đủ dẫn đến đánh giá không đúng tính chất của vụ án
- Có sai lầm trong việc áp dụng các quy định của BLHS, BLTTHS, Bộ luật dân sự và các văn bản pháp luật khác Ví dụ, Hội đồng xét xử có sai lầm trong việc
áp dụng điều, khoản của BLHS để định tội, định khung hình phạt, quyết định loại hình phạt, mức hình phạt, áp dụng hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp đối với bị cáo; có sai lầm trong việc áp dụng quy định của BLTTHS khi quyết định xử lý vật chứng trong vụ án; có sai lầm trong việc áp dụng Bộ luật dân sự khi quyết định mức bồi thường thiệt hại đối với bị cáo…
- Phát hiện có tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án không biết được khi ra bản án, quyết định đó
Trang 3629
- Kết luận, quyết định trong bản án, quyết định sơ thẩm không phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm và người phạm tội Ví dụ, người được Tòa án cấp sơ thẩm tuyên không có tội nhưng có căn cứ cho rằng người
đó đã phạm tội; người được Tòa án cấp sơ thẩm tuyên có tội nhưng có căn cứ cho rằng người đó không phạm tội hoặc có một trong những căn cứ khác quy định tại Điều 157 BLTTHS; bản án sơ thẩm tuyên bị cáo được miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt không có căn cứ hoặc quyết định cho bị cáo được hưởng hoặc không cho hưởng án treo không đúng; các quyết định khác của Tòa án cấp sơ thẩm không
có căn cứ, trái pháp luật
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng luật định hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng luật định là thành phần Hội đồng xét xử không đúng quy định của BLTTHS đối với từng loại vụ việc Ví dụ: Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm đối với vụ án có bị cáo về tội mà BLHS quy định mức cao nhất của khung hình phạt là tù chung thân, tử hình phải gồm 02 Thẩm phán
và 03 Hội thẩm nhưng phiên tòa xét xử sơ thẩm chỉ có 01 Thẩm phán và 02 Hội thẩm hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng
Vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng là trường hợp BLTTHS quy định phải tiến hành theo thủ tục tố tụng đó, nhưng cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng bỏ qua hoặc thực hiện không đúng xâm phạm nghiêm trọng đến quyền lợi của người bị buộc tội, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc làm cho việc giải quyết vụ án thiếu khách quan toàn diện Ví dụ, hoạt động điều tra, truy tố, xét xử không thực hiện đúng quy định về sự tham gia của người bào chữa trong trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa; Tòa án xét xử không đúng thẩm quyền, vi phạm quy định về giới hạn xét
xử hoặc không thực hiện việc hoãn phiên tòa khi phải hoãn phiên tòa theo luật định…
2.1.1.3 Thời hạn kháng nghị phúc thẩm hình sự:
Điều 337 BLTTHS quy định thời hạn kháng nghị phúc thẩm: Đối với bản án
sơ thẩm, thời hạn kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày;
Trang 37Ngoài ra, Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà
án nhân dân tối cao quy định về thời hạn kháng nghị như sau: Thời hạn là ngày tiếp theo từ ngày tuyên án hoặc ra quyết định và thời điểm kết thúc là ngày cuối cùng của thời hạn Nếu là ngày nghỉ cuối tuần hoặc nghỉ lễ thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày làm việc đầu tiên tiếp theo ngày nghỉ đó [8, tr.5,6]
2.1.1.4 Thủ tục bổ sung, thay đổi, rút kháng nghị phúc thẩm hình sự:
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định cho Viện kiểm sát quyền kháng nghị đồng thời luật cũng quy định cho Viện kiểm sát được bổ sung, thay đổi, rút kháng nghị là nhằm tạo điều kiện để Viện kiểm sát nghiên cứu, cân nhắc, đảm bảo kháng nghị đúng pháp luật, có chất lượng Vì vậy, mặc dù Viện kiểm sát đã kháng nghị và gửi cho Toà án cấp phúc thẩm nhưng trong thời gian chờ mở phiên toà phúc thẩm Viện kiểm sát có thể xem xét để bổ sung, thay đổi, rút kháng nghị nhưng việc thay đổi này phải tuân theo những thủ tục, trình tự sau:
Bổ sung, thay đổi kháng nghị:
Theo quy định tại Điều 342 BLTTHS, thì trước khi bắt đầu hoặc tại phiên toà phúc thẩm Viện kiểm sát có quyền bổ sung, thay đổi kháng nghị nhưng không được làm xấu hơn tình trạng của bị cáo; rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị Thẩm quyền rút kháng nghị không chỉ có Viện trưởng Viện kiểm sát đã kháng nghị mà còn do Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên cũng có quyền rút kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp dưới Nếu việc bổ sung, thay đổi kháng nghị đối với một phần hoặc toàn bộ bản án được thực hiện trong thời điểm mà thời hạn kháng nghị vẫn còn thì theo nguyên tắc có thể bổ sung, thay đổi kháng nghị theo cả hướng có lợi hoặc không có lợi cho bị cáo; kể cả trường hợp Viện kiểm sát đã rút một phần hoặc toàn bộ bản kháng nghị nhưng sau đó lại kháng nghị lại thì vẫn được chấp nhận để xét xử phúc thẩm Trong trường hợp đã hết thời hạn kháng nghị, trước khi bắt đầu hoặc tại phiên toà phúc thẩm, Viện kiểm sát có quyền bổ sung, thay đổi
Trang 38Vì thế, khi Viện kiểm sát đã kháng nghị mà rút toàn bộ kháng nghị thì việc xét xử phúc thẩm phải được đình chỉ Nếu việc rút kháng nghị trước khi mở phiên tòa thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm, còn rút tại phiên toà thì Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử
2.1.2 Hoạt động của kiểm sát viên khi kiểm sát xét xử phúc thẩm hình sự
Quy chế ban hành kèm theo quyết định số 505/2017/VKSTC-V7 về công tác
thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, tại Điều 3 nêu nhiệm
vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát xét xử là: Khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, Viện kiểm sát có nhiệm vụ, quyền hạn theo Điều 267 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 19Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và các quy định pháp luật khác có liên quan
Điều 19 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014 quy định về: Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi kiểm sát xét xử vụ án hình sự, cụ thể như sau:
1 Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự của Tòa án
2 Kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án
3 Kiểm sát hoạt động tố tụng hình sự của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật
4 Yêu cầu Tòa án cùng cấp, cấp dưới chuyển hồ sơ vụ án hình sự để xem xét, quyết định việc kháng nghị
Trang 392.1.2.1 Hoạt động của Kiểm sát viên trước khi mở phiên tòa phúc thẩm
- Nghiên cứu bản án hình sự sơ thẩm
Nghiên cứu bản án hình sự sơ thẩm do cấp sơ thẩm gửi lên (có thể bị kháng cáo, kháng nghị, có thể không bị kháng cáo, kháng nghị), nếu phát hiện có sai sót,
vi phạm thì đề nghị cấp sơ thẩm chuyển hồ sơ xem xét có đủ căn cứ kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm hay không Nếu đủ thì VKSND tỉnh, thành ban hành kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định tại Điều Điều 267 Bộ luật Tố tụng hình
sự, Điều 19Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
- Nghiên cứu kháng cáo, kháng nghị
Căn cứ Mục 2 Phần III Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP thì khi vụ án có kháng cáo hoặc kháng nghị được chuyển đến Toà phúc thẩm, trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ, Toà án cấp phúc thẩm chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu trước Thời gian nghiên cứu hồ sơ của Viện kiểm sát cấp tỉnh là 10 ngày, cấp Trung ương là 20 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án
Căn cứ Điều 36 Quy chế công tác THQCT&KSXX thì sau khi nhận được hồ
sơ vụ án do Toà phúc thẩm chuyển đến, Kiểm sát viên tham gia phiên toà xét xử phúc thẩm phải trực tiếp nghiên cứu hồ sơ vụ án Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Kiểm sát viên kiểm tra xem xét lý do yêu cầu của kháng cáo, kháng nghị và thủ tục kháng cáo, kháng nghị
Kiểm sát viên phải nghiên cứu nội dung đơn kháng cáo và quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát (cùng cấp hoặc cấp trên trực tiếptrên một cấp) để nắm chắc được lý do kháng cáo, kháng nghị; yêu cầu của kháng cáo, kháng nghị giải quyết vấn đề gì (tăng, giảm hình phạt; thay đổi tội danh; áp dụng điểm, khoản, điều luật
Trang 4033
áp dụng; xin được hưởng án treo; tăng, giảm bồi thường; đề nghị minh oan vì không
có tội…)
Trong trường hợp vẫn còn thời hạn kháng cáo, kháng nghị quy định tại Điều
333 của BLTTHS 2015, thì theo quy định tại Mục 7.1 Phần I Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP, người kháng cáo, Viện kiểm sát đã kháng nghị có quyền bổ sung, thay đổi nội dung kháng cáo, kháng nghị đối với phần hoặc toàn bộ bản án mà mình có quyền kháng cáo, kháng nghị theo hướng có lợi hoặc không có lợi cho bị cáo
Trong trường hợp người kháng cáo, Viện kiểm sát đã rút một phần hoặc toàn bộ kháng cáo, kháng nghị nhưng sau đó có kháng cáo, kháng nghị lại mà vẫn còn trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị, thì vẫn được chấp nhận để xét xử phúc thẩm theo thủ tục chung
Trong trường hợp đã hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định tại Điều 333 của BLTTHS 2015, thì trước khi bắt đầu hoặc tại phiên toà phúc thẩm, người kháng cáo, Viện kiểm sát đã kháng nghị có quyền bổ sung, thay đổi nội dung kháng cáo, kháng nghị, nhưng không được làm xấu hơn tình trạng của bị cáo Căn
cứ Mục 3.3 phần II Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP thì "làm xấu hơn tình trạng của bị cáo" được hiểu là những trường hợp: chuyển khung hình phạt nặng hơn; áp dụng điều khoản BLHS về tội nặng hơn; không cho hưởng án treo đối với bị cáo được Toà án cấp sơ thẩm cho hưởng án treo; tăng mức bồi thường thiệt hại; áp dụng thêm hình phạt bổ sung; áp dụng thêm biện pháp tư pháp so với bản án hoặc quyết định sơ thẩm Kiểm sát viên cần căn cứ vào đây để kiểm sát việc kháng cáo hoặc kháng nghị bổ sung
- Nghiên cứu nội dung vụ án
Quy chế ban hành kèm theo quyết định số 505/2017/VKSTC-V7 về công tác
thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, tại Điều 40 quy định
về việc nghiên cứu hồ sơ vụ án bị kháng cáo, kháng nghị, cụ thể như sau:
Nghiên cứu tính có căn cứ của bản án sơ thẩm: Trong phạm vi những phần của án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, Kiểm sát viên phải nghiên cứu kỹ nội