ỨNG DỤNG KỸ THUẬT GIS và WebGIS TRONG QUẢN LÝ BẢO VỆ RỪNG.Cập nhật lại bản đồ hiện trạng rừng 2017 kế thừa từ bản đồ kiểm kê rừng 2016 làm dữ liệu nền đưa lên trang chính WebSite. Kế thừa dữ liệu bản đồ phân vùng trọng điểm cháy và quy hoạch trồng rừng tại núi Chứa Chan làm dữ liệu thứ cấp hỗ trợ cho việc quản lý và bảo vệ rừng. Thiết kế và hình thành trang WebGIS phục vụ công tác quản lý và bảo vệ rừng tích hợp các chức năng dò tìm, truy vấn, kết hợp quảng bá du lịch tại khu vực núi Chứa Chan. Quản lý CSDL trên WebGIS. Cập nhật bản đồ phục vụ cho việc quản lý và bảo vệ.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
QUÁCH PHƯỚC THÀNH
ỨNG DỤNG KỸ THUẬT GIS TRONG QUẢN LÝ BẢO VỆ RỪNG TẠI RỪNG PHÒNG HỘ NÚI CHỨA CHAN,
HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH LÂM NGHIỆP
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 07/2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Giáo viên hướng dẫn: ThS TRƯƠNG VĂN VINH
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 07/2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá thực hiện khóa luận, tôi đã gặp nhiều khó khăn trước những vấn
đề khá mới đối với bản thân, thật may mắn trong quá trình thực hiện khoá luận này tôi nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ quý Thầy Cô, các anh khóa trên cũng như các bạn cùng khoá Khi bài viết hoàn tất, tôi muốn bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến những người đã quan tâm, giúp đỡ trong suốt quá trình thực hiện khoá luận này
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Th.S Trương Văn Vinh, người
thầy không những đã định hướng cho tôi cách tiếp cận và triển khai thực hiện khoá luận này, người đã tạo điều kiện làm việc và nghiên cứu tốt nhất cho tôi Thầy còn
là người cho tôi sự tự tin trong quá trình thực hiện đề tài của mình và là người đã truyền đạt cho tôi nhiều kiến thức quý báu trong công việc cũng như trong cuộc sống
Tôi cũng xin gửi cảm ơn chân thành đến anh Trần Vũ Khánh Linh, cùng các anh Tuấn, Sơn, Vũ, và các bạn Huy, Đồng (sinh viên lớp DH13KL) đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình thu thập số liệu
Tp Hồ Chí Minh, ngày 24 tháng 6 năm 2017
Quách Phước Thành
Trang 4Kết quả nghiên cứu đạt được:
Cập nhật lại bản đồ hiện trạng rừng 2017 kế thừa từ bản đồ kiểm kê rừng
2016 làm dữ liệu nền đưa lên trang chính WebSite Kế thừa dữ liệu bản đồ phân vùng trọng điểm cháy và quy hoạch trồng rừng tại núi Chứa Chan làm dữ liệu thứ cấp hỗ trợ cho việc quản lý và bảo vệ rừng Thiết kế và hình thành trang WebGIS phục vụ công tác quản lý và bảo vệ rừng tích hợp các chức năng dò tìm, truy vấn, kết hợp quảng bá du lịch tại khu vực núi Chứa Chan Quản lý CSDL trên WebGIS Cập nhật bản đồ phục vụ cho việc quản lý và bảo vệ Đưa các dữ liệu bản đồ đã cập nhật và kế thừa từ các đề tài khác thực hiện lên trên nền Web với host, domain: https://webgis2017.000webhostapp.com
Trang 5MỤC LỤC
TRANG
TRANG TỰA i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH SÁCH CÁC BẢNG vii
DANH SÁCH CÁC HÌNH viii
DANH SÁCH CÁC SƠ ĐỒ ix
CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng, thời gian phạm vi nghiên cứu 2
1.3.1 Đối tượng 2
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
1.3.3 Thời gian nghiên cứu 3
1.4 Ý nghĩa đề tài 3
1.4.1 Về mặt lý thuyết 3
1.4.2 Về mặt thực tiễn 3
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
2.1 Tổng quan về hệ thống thông tin địa lý (GIS) 4
2.1.1 Định nghĩa GIS 4
2.1.2 Định nghĩa WebGIS 5
2.1.3 Các nhân tố của hệ thống thông tin địa lý 6
2.2 Các lĩnh vực ứng dụng viễn thám, GIS và WebGIS 7
2.3.Tổng quan khu vực nghiên cứu 13
2.3.1 Vị trí địa lý 13
Trang 62.3.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo .14
2.3.3 Khí hậu 14
2.3.4 Thổ nhưỡng và tính chất đ ất 15
2.3.5 Đặc điểm kinh tế - xã hội 17
2.4 Tổng quan đề tài 22
CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1 Nội dung nghiên cứu 24
3.2 Phương pháp nghiên cứu 24
3.2.1 Ngoại nghiệp 24
3.2.2 Nội nghiệp 25
3.2.2.1 Phương pháp tổng hợp hình thành WebGIS 25
3.2.2.2 Phương pháp cập nhật bản đồ ngoại nghiệp 29
3.2.2.3 Sơ đồ xây dựng trang Web và mô hình quản lý CSDL bằng WebGIS 30
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33
4.1 Tổng hợp các bản đồ tại núi Chứa Chan, tỉnh Đồng Nai .33
4.2 Hình thành trang Web và quản lý CSDL WebGIS 35
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 46
5.1 Kết luận 46
5.2 Kiến nghị 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
PHỤ LỤC 49
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Diện tích đất phân theo độ dốc - tầng dày 17
Bảng 2.2: Tổ ng hợp về tình hình dân số - lao động giai đoạn 2005 - 2016 18
Bảng 2.3: Giá trị sản xuất ngành nông lâm thủy sản huyện Xuân Lộc 20
Bảng 4.1: Bảng thống kê diện tích theo LDLR 33
Bảng 4.2: Thống kê diện tích các loài thích nghi .38
Trang 9DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức của hệ thống GIS 7
Hình 2.2: Ví trí núi Chứa Chan, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai 13
Hình 3.1: Postgre SQL 26
Hình 3.2: PostGIS 26
Hình 3.3: Dữ liệu liên kết 26
Hình 3.4: GeoServer 27
Hình 3.5: FileZilla 28
Hình 3.6: Adobe Dreamweaver 29
Hình 4.1: Bản đồ bố trí ODT 34
Hình 4.2: Bản đồ hiện trạng sử dụng đất 34
Hình 4.3: Giao diện chính của trang Web 36
Hình 4.4: Giao diện Web các loài cây thích nghi 37
Hình 4.5: Giao diện Web vùng trọng điểm cháy 37
Hình 4.6: Thông tin du lịch tại núi Chứa Chan 37
Hình 4.7: Cấp cháy và đặt trưng 39
Hình 4.8: Địa điểm du lịch 39
Hình 4.9: Các chức năng phụ của Web 40
Hình 4.10: Chức năng hiển thị thông tin và các lớp bản đồ 40
Hình 4.11: Chức năng truy vấn thuộc tính bản đồ 41
Hình 4.12: Chức năng truy vấn thuộc tính bản đồ hiện trạng 41
Hình 4.13: Truy vấn thuộc tính bản đồ vùng thích nghi 42
Hình 4.14: Truy vấn thuộc tính bản đồ vùng trọng điểm cháy 42
Hình 4.15: Chức năng Search trên Google Map 43
Hình 4.16: Tìm đường trên WebGIS 44
Hình 4.17: Phương tiện và đường di chuyển 44
Trang 10DANH SÁCH CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 3.1: Mô hình phương pháp thành lập WebGIS 25
Sơ đồ 3.2: Kiểm tra và cập nhật bản đồ hiện trạng sử dụng đất 29
Sơ đồ 3.3: Sơ đồ hình thành WebGIS 30
Sơ đồ 3.4: Mô hình quản lý cơ sở dữ liệu bằng WebGIS 31
Trang 11Theo số liệu kiểm kê rừng được cung cấp từ Chi cục kiểm lâm năm 2016, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai Tổng diện tích của núi Chứa Chan, huyện Xuân Lộc là khoảng 1.808,93 (ha), trong đó rừng trồng có tổng diện tích 1.225,4 (ha) chia làm hai loại rừng chính là: RTK (Rừng trồng khác núi đất có diện tích 1.130,93 (ha))
và RTG (Rừng gỗ trồng núi đất có diện tích 94,47 (ha)) Rừng tự nhiên có tổng diện tích là 251,84 (ha) chia làm ba loại rừng chính là: TXN (Rừng gỗ tự nhiên núi đất LRTX nghèo có diện tích 0,9 (ha)), TXK (Rừng gỗ tự nhiên núi đất LRTX nghèo kiệt có diện tích 240,87 (ha)) và LOO (Rừng lồ ô tự nhiên núi đất có diện tích 10,07(ha)) Còn lại 331,69 (ha) là đất trống, đất nông nghiệp, mặt nước
Theo kết quả thống kê trên cho thấy, mặc dù trong những năm qua địa phương
đã triển khai thực hiện các chương trình trồng rừng như: Chương trình 327 và chương trình 661 nhưng do một số đặc thù như: Độ dốc cao, tầng đất mỏng, tỷ lệ đá lẫn cao và kết cấu đất rất chặt, cộng với định mức vốn đầu tư thấp nên hiệu quả trồng
Trang 12rừng tại khu vực này là tương đối thấp, tỷ lệ đất chưa có rừng chiếm gần 30% tổng diện tích của khu vực Theo quy hoạch 3 loại rừng thì khu vực rừng phòng hộ núi Chứa Chan thuộc khu vực rất xung yếu, do đó với tỷ lệ che phủ như hiện nay thì khó đảm bảo được khả năng phòng hộ chống xói mòn, bảo vệ đầu nguồn và môi trường
Việc quản lý CSDL rừng phòng hộ núi Chứa Chan của huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai còn gặp nhiều khó khăn trong việc quản lý và bảo vệ Bên cạnh đó còn gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm chỉnh sửa CSDL cho phù hợp theo từng giai đoạn phát triển
Do đó, việc bảo vệ, bảo tồn, khôi phục và phát triển rừng phòng hộ núi Chứa Chan là một nhu cầu thực tế, là một nhiệm vụ cấp bách trong giai đoạn 2017 - 2020, góp phần vào sự phát triển bền vững của huyện Xuân Lộc và tỉnh Đồng Nai
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề nên đề tài “Ứng dụng kỹ thuật GIS trong quản lý bảo vệ rừng tại rừng phòng hộ núi Chứa Chan, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai” được triển khai
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Thiết kế WebGIS trong quản lý bảo vệ rừng tại rừng phòng hộ núi Chứa Chan, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Cập nhật bản đồ phục vụ cho việc quản lý và bảo vệ
- Ứng dụng các kỹ thuật GIS thiết kế WebGIS hỗ trợ cho việc quản lý
- Quản lý CSDL trên WebGIS
1.3 Đối tượng, thời gian phạm vi nghiên cứu
Trang 131.3.3 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành khảo sát và thu thập dữ liệu trong khoảng thời gian từ ngày 04/03/2017 đến ngày 20/04/2017 tại núi Chứa Chan, huyện Xuân Lộc, tỉnh
Trang 14Chương 2
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Tổng quan về hệ thống thông tin địa lý (GIS)
GIS là CSDL số chuyên dụng trong đó hệ trục toạ độ không gian là phương tiện tham chiếu chính GIS bao gồm các công cụ để thực hiện các công việc sau đây:
Nhập dữ liệu từ bản đồ giấy, ảnh vệ tinh, ảnh máy bay, số liệu điều tra và các nguồn khác
Lưu trữ dữ liệu, khai thác, truy vấn CSDL
Biến đổi dữ liệu, phân tích, mô hình hóa, bao gồm các dữ liệu thống kê và dữ liệu không gian
Lập báo cáo, bao gồm các bản đồ chuyên đề, các bảng biểu, biểu đồ và kế hoạch
GIS là hệ thống phần cứng, phần mềm và các thủ tục được thiết kế để thu thập, quản lý, xử lý, phân tích, mô hình hóa và hiển thị các dữ liệu quy chiếu không gian để giải quyết các vấn đề quản lý và lập kế hoạch phức tạp Độ phức tạp của thế giới thực là không giới hạn, song con người luôn mong lưu trữ, quản lý các dữ liệu
về thế giới thực thế nên phải có CSDL lớn vô hạn để lưu trữ thông tin chính xác về chúng Do vậy, để lưu trữ được dữ liệu không gian của thế giới thực và máy tính thì phải giảm số lượng dữ liệu đến mức có thể quản lý được bằng tiến trình đơn giản hóa hay trừu tượng hóa Trừu tượng là đơn giản một cách thông minh, trừu tượng
Trang 15cho ta tổng quát hóa và ý tưởng hóa vấn đề đang xem xét, loại bỏ các chi tiết dư thừa
mà chỉ tập trung vào các điểm chính, cơ bản Các đặc trưng địa lý phải được biểu diễn bởi các thành phần rời rạc hay các đối tượng để lưu vào CSDL máy tính
2.1.2 Định nghĩa WebGIS
Cùng với sự bùng nổ về công nghệ Internet, GIS cũng đã phát triển công nghệ cho phép chia sẻ thông tin thông qua Internet bằng cách kết hợp GIS và Web để tạo thành WebGIS Công nghệ GIS trên nền Web (hay còn gọi là WebGIS) là hệ thống thông tin địa lý phân tán trên một mạng các máy tính để tích hợp, trao đổi các thông tin địa lý trên mạng Internet.WebGIS có tiềm năng lớn trong công việc làm cho thông tin địa lý trở nên hữu dụng và sẵn sàng tới số lượng lớn người sử dụng trên thế giới Với việc sử dụng bản đồ trực tuyến, giải pháp này sẽ giúp khách hàng có thể cập nhật dữ liệu lên bản đồ để phục vụ cho mục đích quản lý
Hiện nay, có rất nhiều giải pháp bản đồ trực tuyến được các nhà phát triển đưa ra như Mapbender, MapBuilder, MapGuide, OpenSource, MapServer, OpenLayers và Geoserver chúng đều là các phần mềm mã nguồn mở hỗ trợ xây dựng các ứng dụng về bản đồ trên nền web Nếu kết hợp xây dựng WebGIS trên phần mềm mã nguồn mở thì sẽ có được các lợi ích mà phần mềm mã nguồn mở mang lại như chi phí đầu tư về phần mềm giảm, tận dụng được các thành quả ý tưởng chung của cộng đồng, tính chất an toàn cao, mạnh hơn, tùy biến tương tác nhiều hơn
Hệ thống Web Map Server là một sự lựa chọn kinh tế với khả năng phân phối thông tin địa lý trên toàn thế giới người dùng Internet có thể truy cập đến các ứng dụng GIS mà không phải mua phần mềm đối với phần lớn người dùng không có kinh nghiệm về GIS thì việc sử dụng WebGIS sẽ đơn giản hơn việc sử dụng các phần mềm ứng dụng GIS khác WebGIS là chức năng bổ sung cho GIS hoạt động trong môi trường rộng hơn thông qua mạng và được ứng dụng ngày càng rộng rãi trong thương mại, quản lý nhà nước và giáo dục Nhiều ứng dụng sẽ được chạy trên mạng nội bộ trong doanh nghiệp và cơ quan chính phủ như là một phương tiện phân phối và sử dụng dữ liệu không gian địa lý chung
Trang 16Với một hệ thống dựa trên Server, tất cả các bản đồ và dữ liệu khác được duy trì tập trung Khi máy chủ được cập nhật, tất cả mọi người ngay lập tức sử dụng thông tin cập nhật trong ngày
Một số yêu cầu của người sử dụng bản đồ là đơn giản và trực tiếp Bản đồ đưa lên Website giúp cho những người sử dụng tiến hành thao tác một cách nhanh chóng mà không phải chờ đợi
Với một hệ thống dựa trên máy chủ, tất cả các bản đồ và dữ liệu được duy trì trên các máy chủ của công ty hoặc cơ quan Việc bảo mật và sao lưu có thể được áp
dụng
2.1.3 Các nhân tố của hệ thống thông tin địa lý
Hệ thống GIS bao gồm 5 nhân tố chính: con người, phương pháp, công cụ phần cứng, phần mềm và dữ liệu
Con người ở đây là các chuyên viên tin học, chuyên gia GIS, thao tác viên GIS, phát triển ứng dụng GIS bao gồm:
- Người sử dụng hệ thống là những người sử dụng GIS để giải quyết các vấn
đề không gian Nhiệm vụ chủ yếu của họ là số hóa bản đồ, kiểm tra lỗi, soạn thảo, phân tích các dữ liệu thô và đưa ra các giải pháp cuối cùng để truy vấn dữ liệu
- Nhà cung cấp GIS cung cấp các phần mềm, cập nhật phần mềm, phương pháp nâng cấp cho hệ thống
- Nhà cung cấp dữ liệu là các cơ quan nhà nước hay tư nhân cung cấp các
dữ liệu sửa đổi từ nhà nước
- Người phát triển ứng dụng là những lập trình viên, họ xây dựng giao diện người dùng, giảm khó khăn các thao tác cụ thể trên hệ thống GIS
- Chuyên viên phân tích hệ thống GIS là nhóm người chuyên nghiên cứu thiết kế hệ thống, được đào tạo chuyên nghiệp có trách nhiệm xác định các mục tiêu của hệ GIS trong cơ quan, hiệu chỉnh hệ thống, đề xuất kỹ thuật phân tích đúng đắn
Dữ liệu thống kê gắn theo các hiện tượng tự nhiên với những mức độ chính xác khác nhau Hệ thống thước đo của chúng bao gồm các biến tên, số thứ tự, khoảng
và tỉ lệ
Trang 17Phần mềm là một hệ thống GIS bao gồm nhiều môđun phần mềm Khả năng lưu trữ, quản lý dữ liệu không gian bằng hệ quản trị CSDL địa lý là khía cạnh quan trọng nhất của GIS Một phần mềm xử lý GIS tốt phải cung cấp cho người sử dụng các công cụ quản lý, phân tích không gian dễ dàng, chính xác
Phần cứng: GIS đòi hỏi các thiết bị ngoại vi đặc biệt như bàn số hóa, máy vẽ, máy scan ảnh Các thiết bị có thể được nối với nhau thông quan thiết bị truyền tin hay mạng cục bộ
Giao diện người dùng là giao diện đồ họa cho phép người dùng dễ dàng thực hiện các theo tác địa lý và các thao tác khác như truy nhập CSDL, làm báo cáo
Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức của hệ thống GIS 2.1.4 Chức năng của hệ thống thông tin địa lý
Các chức năng của GIS có thể chia làm năm loại như sau:
- Thu thập dữ liệu
- Xử lý sơ bộ dữ liệu
- Lưu trữ và tuy nhập dữ liệu
- Tìm kiếm và phân tích không gian
- Hiển thị đồ họa và tương tác
2.2 Các lĩnh vực ứng dụng viễn thám, GIS và WebGIS
Công nghệ GIS ngày càng được sử dụng rộng rãi GIS có khả năng sử dụng
dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính từ các nguồn khác nhau khi thực hiện phân tích không gian để trả lời các câu hỏi của người dùng Trên thế giới ứng dụng GIS rất nhiều trong lĩnh vực Lâm nghiệp:
Trang 18Ở Canada, hầu hết các cơ quan lâm nghiệp đã triển khai GIS hoặc đang trong quá trình triển khai công nghệ GIS Lâm nghiệp là một ngành công nghiệp khổng
lồ Độ che phủ rừng của British Columbia là 50 triệu (ha), chiếm khoảng 40% lượng
gỗ của Canada Trước GIS, các cơ sở dữ liệu về rừng được cập nhật bằng hình ảnh trên không, phương pháp lấy mẫu đồng ruộng và soạn thảo thủ công Theo chương trình GIS, các bản đồ rừng đã được số hóa và một bản kiểm kê rừng có thể được cập nhật liên tục GIS cung cấp một cách để các cơ quan lâm nghiệp quản lý và vận dụng
cơ sở dữ liệu của họ
Dưới đây là một vài ứng dụng chủ yếu của GIS trong thực tế:
- Quản lý và lập kế hoạch mạng lưới đường phố: Bao gồm các chức năng tìm kiếm địa chỉ, tìm vị trí khi biết địa chỉ đường phố, điều khiển đường đi, lập kế hoạch lưu thông xe cộ, phân tích vị trí, chọn địa điểm xây dựng các công trình công cộng, lập kế hoạch phát triển đường giao thông
- Giám sát tài nguyên thiên nhiên, môi trường: Bao gồm chức năng quản lý tài nguyên, phân tích tác động môi trường, v.v…
- Quản lý đất đai: Lập kế hoạch vùng, miền sử dụng đất, quản lý tưới tiêu, quản lý nhà cửa, v.v…
- Quản lý và lập các dịch vụ công cộng: Bao gồm các chức năng tìm địa điểm cho các công trình ngầm, quản lý và bảo dưỡng công trình, v.v
- Phân tích điều tra dân số, lập bản đồ các dịch vụ y tế, bưu điện và các dịch
vụ công cộng khác
Các ứng dụng viễn thám và GIS:
Nguyễn Cẩm Vân (2013), đã sử dụng dữ liệu viễn thám so sánh và đánh giá hai chỉ số LAI và NDVI trong việc phân loại lớp phủ và thực vật của huyện Thường Tín, Hà Nội, ở nghiên cứu này tác giả đã sử dụng phương pháp viễn thám là dùng ảnh Landsat 5 TM từ đó phân loại lớp phủ và thực vật dựa trên hai chỉ số LAI và NDVI từ đó đánh giá và so sánh sai số và độ tin cậy khi dựa vào hai chỉ số này Kết quả cho thấy chỉ số LAI thay đổi rất ít từ mùa khô sang mùa mưa, trong khi đó NDVI lại thay đổi rõ rệt Hơn nữa, vì khu vực nghiên cứu là đồng bằng, nên chỉ số NDVI không bị ảnh hưởng nhiều bởi địa hình và bóng Vì vậy, để phân loại phân loại thực
Trang 19vật ở khu vực nghiên cứu, chỉ số NDVI phù hợp hơn chỉ số LAI
Cao An Trinh (2014), đã phân tích thay đổi hệ thống sử dụng đất lâm nghiệp theo nhân tố sinh thái tại huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2000 - 2010 Tác giả sử dụng phương pháp tiến hành phân loại bản đồ bằng ảnh Landsat ở 2 giai đoạn 2000 và 2010 bằng phần mềm ENVI, sau đó chuyển dữ liệu về ArcGIS và chồng xếp bản đồ ở 2 năm lại với nhau để phân tích quá trình thay đổi sử dụng đất tại khu vực giai đoạn 2000 đến 2010, sau khi có sự thay đổi sử dụng đất giai đoạn
2000 đến 2010 tác giả đã sử dụng phần mềm xây dựng chuỗi Markov từ đó dự báo thay đổi sử dụng đất trong tương lai Kết quả thu được sự thay đổi sử dụng đất trong giai đoạn 10 năm của huyện Bảo Lâm là đáng kể có đến (58,65%) diện tích các kiểu hiện trạng bị chuyển đổi qua lại trong đó đáng chú ý là sự chuyển đổi sang kiểu hiện trạng đất khác chiếm đến 27.179,03 ha (20,17%), đất lâm nghiệp bị chuyển đổi lên đến (26,76%) bao gồm diện tích rừng trồng (8,23%) và diện tích rừng tự nhiên (18,53%), xây dựng thành công mô hình tương quan giữa diện tích thay đổi cho từng trạng thái trên từng độ dốc với diện tích trên từng cấp độ dốc, diện tích thay đổi trên từng loại đất và diện tích loại đất với hệ số tương quan cao Dự báo đến năm 2020 thì rừng trồng 25.002,61 (ha), đất khác đạt 31.198,04 (ha), rừng tự nhiên đạt 69.827,27 (ha), đất trống đạt 11.552,26 (ha), mặt nước đạt 9.120,20 (ha)
Trần Hà Phương và ctv (2012), đã đánh giá biến động sử dụng đất bằng ảnh Landsat tại tỉnh Đăk Lăk giai đoạn 2000 đến 2010 Nhóm tác giả đã sử dụng phương pháp tiến hành phân loại ảnh Landsat ở hai thời điểm sau đó bằng phần mền ArcGIS
và chuyển dữ liệu về dạng vector Sau khi có bản đồ phân loại sử dụng đất ở 2 thời điểm tác giả đã cắt các lớp bản đồ theo ranh giới Cuối cùng sử dụng chức năng overlay trên phần mềm ArcGIS để chồng xếp bản đồ ở 2 năm để thống kê và tìm ra những vùng thay đổi sử dụng đất qua các năm Kết quả cho thấy các số liệu của năm
2000 và 2010 có sự thay đổi, diện tích cây lâu năm biến động nhiều nhất tăng (120,13%), diện tích trồng lúa tăng (19,21%), đất rừng nghèo giảm (18,38%), chuyển sang đất rừng xanh thường xuyên, đất trống giảm (16,92%), chuyển sang các mục đích khác Tình hình sử dụng đất của tỉnh Đắk Lắk có nhiều biến động, chủ yếu là đất trồng cây lâu năm và đất ở Đất chưa sử dụng (đất trống) có sự giảm nhanh
Trang 20về diện tích phản ánh được tốc độ chuyển đổi tiềm năng đất đai vào các mục đích phát triển kinh tế xã hội
Trần Thu Hà và ctv (2016), để thành lập bản đồ giám sát biến động diện tích rừng tại huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình giai đoạn năm 2005 đến 2015, tác giả đã
sử dụng phương pháp GIS và viễn thám trong việc tính chỉ số NDVI từ dữ liệu ảnh Landsat ETM và Landsat 8 phục vụ cho quá trình phân loại và thành lập bản đồ hiện trạng tại hai thời điểm dựa trên phần mềm Ecognition phân loại theo hướng đối tượng, trên cơ sở này tác giả đã chồng xếp hai bản đồ lại với nhau để đánh giá sự thay đổi sử dụng đất tại khu vực Kết quả cho thấy độ chính xác đạt 83%, diện tích đất có rừng sau 10 năm đã tăng lên từ 7.975,77 (ha) lên 10.300,64 (ha) tăng 2.324,87 (ha) và nâng độ che phủ của rừng từ 32,32% lên 40,24%
Lê Đức Hạnh và ctv (2013), đã sử dụng phương pháp phân loại hiện trạng
sử dụng đất có kiểm định và không kiểm định bằng ảnh vệ tinh SPOT Sau đó nhóm tác giả đã chồng xếp bản đồ sử dụng đất ở ba thời điểm trên lại với nhau bằng phần mềm ArcGIS tìm ra vị trí thay đổi sử dụng đất từ năm 2003 đến 2011 Kết quả nghiên cứu biến động sử dụng đất tỉnh Nam Định trong giai đoạn từ 2003 đến 2011 cho thấy có sự biến động mạnh mẽ về các loại hình sử dụng đất Diện tích đất nông nghiệp giảm đi và đất chuyên dùng tăng lên mà nguyên nhân do cả quá trình phát triển kinh tế - xã hội và các quá trình tự nhiên Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế đã làm thay đổi hiện trạng sử dụng đất và là nguyên nhân chính của biến động sử dụng đất Xây dựng các khu, cụm công nghiệp, đường giao thông, đô thị hóa và sự bùng nổ dân số Bên cạnh đó, quá trình bồi xói tự nhiên vùng ven biển tỉnh Nam Định cũng là nguyên nhân gây biến động sử dụng đất của tỉnh
Nunes và ctv (2010), để cập nhật độ che phủ rừng qua các giai đoạn, tác giả
đã sử dụng phương pháp đầu tiên lấy hình ảnh vệ tinh tiền xử lý lọc bằng yếu tố Kriging độc lập và tương quan về mặt không gian trong hình ảnh vệ tinh, tiếp theo
sử dụng phần mềm ENVI loại bỏ các thành phần có ảnh hưởng và phân loại ảnh ở 2 giai đoạn 1990 và 1992 Cuối cùng dùng phần mền ArcGIS để chồng xếp 2 lớp bản
đồ tìm ra sự thay đổi rừng giai đoạn 1990 đến năm 1992 và mô hình hóa các mối
Trang 21quan hệ không gian giữa các dữ liệu giải đoán và chỉ số thực vật được lựa chọn cho toàn bộ tập hợp các biến vào những thời điểm khác nhau (1990 và 1992) Kết quả thu được diễn biến sử dụng đất qua các năm và các phương trình hồi quy đã được
áp dụng cho các hình ảnh 1992 để chuẩn hóa các bộ dữ liệu, trong đó sự thay đổi quang phổ đã được giảm thiểu
Shahadat Hossain và ctv (2009), để thành lập bản đồ rừng ngập mặn trong khu vực quần đảo châu thổ Meghna, Bangladesh Tác giả đã phân loại ảnh Landsat
TM độ phân giải 30 m sử dụng các band 1, 5, 7 bằng phần mền ENVI phân loại không kiểm định và có kiểm định, sau đó lấy mẫu và kiểm chứng thực tế Cuối cùng đánh giá độ chính xác bằng ma trận matrix trong ENVI và thành lập bản đồ rừng ngập mặn Kết quả cho thấy các lớp trên bản đồ sẽ chính xác đến 90% nếu là phân loại giám sát, phân loại không giám sát là 85% Tính chính xác của ảnh được đo bằng ma trận với độ tin cậy 95% Hầu hết các rừng ngập mặn nằm ở phía Nam Bhola của Bangladesh, phân bố chủ yếu ở các bãi triều, với phạm vi cao độ 0 - 1 m, hệ sinh thái rừng ngập mặn bị ảnh hưởng mạnh bởi thủy triều Quá trình lên xuống của thủy triều tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành các vùng ngập mặn
Ứng dựng GIS và WebGIS để quản lý
Trong những năm gần đây, WebGIS là công cụ trợ giúp quyết định trong nhiều hoạt động kinh tế, xã hội, quốc phòng an ninh cũng như trong quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên của nhiều quốc gia trên thế giới WebGIS là một hệ thống phức tạp cung cấp truy cập trên mạng với những chức năng như là bắt giữ hình ảnh, lưu trữ, hợp nhất dữ liệu, thao tác dữ liệu, phân tích và hiển thị dữ liệu không gian WebGIS không chỉ dùng đề quản lý cơ sở dữ liệu bản đồ mà còn là hệ thống chia sẻ bản đồ cho nhiều người dùng được ứng dụng rộng rãi trong các ban ngành như: Quản lý tài nguyên rừng, quản lý tài nguyên và môi trường, quản lý nước, quản lý đất đai, dự đoán biến đổi khí hậu, v.v…
- Các ứng dụng WebGIS trên thế giới: Tại Italy, M A Brovelli và D Magni (2002), đã nghiên cứu xây dựng WebGIS trên nền MapServer và PostGIS Kết quả đạt được cung cấp các chức năng tương tác, truy vấn thông tin bản đồ phục vụ cho ngành khảo cổ học
Trang 22O Fajuyigbe, V.F Balogun và O.M Obembe (2007), đã sử dụng lập trình php trên nền WebGIS hỗ trợ cho du lịch ở Oyo State, Nigeria Kết quả cung cấp các thông tin về địa điểm du lịch, khách sạn và các dịch vụ du lịch khác, cơ quan du lịch, khách du lịch và người dân tại đó sẽ có quyền truy cập thông tin toàn diện, phục vụ tốt cho ngành du lịch và là một nguồn động lực để thúc đẩy hiệu quả hoạt động của ngành du lịch tại Nigeria
- Các ứng dụng ở Việt Nam:
Đỗ Thành Long (2016), sử dụng công nghệ WebGIS và công nghệ 3D xây dựng mô hình ngập trong biến đổi khí hậu cho khu vực TP.HCM Giúp hiển thị trực quan mô hình độ cao nước dâng, vị trí ngập, các vùng ảnh hưởng theo các mức nước dâng khác nhau Nghiên cứu này không đi sâu vào phân tích các khía cạnh của biến đổi khí hậu mà chỉ kế thừa kết quả của “Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam” năm 2012 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, kết hợp với công nghệ 3D trên nền WebGIS để xây dựng ứng dụng
Trương Thanh Tùng (2015), đã sử dụng công nghệ WebGIS quản lý giao thông TP.HCM Tác giả đã sử dụng phương pháp tiến hành thu thập dữ liệu nền GIS, lớp dữ liệu đường vùng, lớp dữ liệu nhà, lớp dữ liệu camera giao thông, lớp dữ liệu đường và điểm kẹt xe tại TP HCM, sau đó sử dụng lập trình và phần mềm Web Server và Data Server kết hợp với ArcGIS để đưa dữ liệu lên trang web Kết quả đạt được là bản đồ cung cấp các dịch vụ giao thông, bản đồ giao thông 3D, thống kê kẹt
xe bằng biểu đồ
Trần Vũ Khánh Linh (2016), đã sử dụng công nghệ WebGIS quản lý chia
sẽ dữ liệu thông qua mạng internet về diễn biến rừng và lượng tích tụ carbon của rừng ngập mặn tại Cồn Ngang, huyện Tân Phú, tỉnh Tiền Giang Sau khi tác giả sử dụng công nghệ viễn thám kết hợp với GIS thành lập các bản đồ và biểu đồ biến động trữ lượng tích tụ carbon tại khu vực nghiên cứu tác giả đưa kết quả nghiên cứu lên WebGIS để chia sẽ dữ liệu cho những người quan tâm
Vũ Hoàng Thương (2015), đã sử dụng công nghệ WebGIS trong khai thác bản đồ địa chính tỉnh Bình Định Tác giả bước đầu tiến hành khoanh vẽ và thu thập ranh giới địa chính và các địa danh tỉnh Bình Định, sau khi hoàn tất dữ liệu tác giả
Trang 23đã sử dụng phần mềm PostGIS để chuyển dữ liệu vector sang dữ liệu Database, tiếp
đó sử dụng phần mền PostgreSQL để lưu giữ thuộc tính của lớp bản đồ đồng thời chuyển dữ liệu lên hệ thống GeoServer Sau khi hoàn tất việc chuyển đổi dữ liệu tác giả đã sử dụng lập trình C# thiết kế trang web và đưa dữ liệu bản đồ lên hệ thống sever Kết quả đạt được bản đồ tra cứu thông tin địa chính tỉnh Bình Định trực tuyến
2.3.Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.3.1 Vị trí địa lý
Hình 2.2: Ví trí núi Chứa Chan, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai
Huyện Xuân Lộc nằm ở phía Đông Nam tỉnh Đồng Nai Ranh giới huyện tiếp giáp với các đơn vị hành chính như sau:
- Phía Bắc giáp huyện Định Quán
- Phía Nam giáp huyện Cẩm Mỹ và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
- Phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận
- Phía Tây giáp huyện Long Khánh
Huyện có Quốc lộ 1A và đường sắt chạy qua, trung tâm huyện đóng tại ngã
3 Ông Đồn là đầu mối của các tuyến giao thông quan trọng trong khu vực, tạo cho Xuân Lộc có lợi thế về phát triển kinh tế hướng ngoại với các thế mạnh về nông nghiệp, dịch vụ, công nghiệp, đóng vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp
Trang 24tỉnh Đồng Nai và mở rộng mối giao lưu giữa Đồng Nai với các tỉnh Duyên Hải Nam Trung Bộ và Bà Rịa - Vũng Tàu
Núi Chứa Chan thuộc địa phận huyện Xuân Lộc, có độ cao khoảng 837 m so với mặt nước biển Núi Chứa Chan nằm trên địa bàn các xã: Xuân Thọ (382,33 ha), Xuân Trường (537,54 ha), Xuân Hiệp (207,49 ha), Suối Cát (460,42 ha) và Thị Trấn Gia Ray (186,16 ha) Núi có vị trí địa lý: Phía Bắc giáp xã Xuân Thành, phía nam giáp xã Suối Cát, phía Đông giáp thị trấn Gia Ray, phía Tây giáp xã Xuân Thọ, chiếm diện tích khoảng 1.808,93 (ha) Đây là ngọn núi cao thứ 2 ở miền Đông Nam
Bộ
Căn cứ vào vị trí, độ dốc, hiện trạng và mức độ xói mòn thì rừng và đất rừng trên núi Chứa Chan được xác định là khu vực để xây dựng, quản lý và bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn Sông Ray, hồ núi Le, hồ Gia Ui Ngoài ra núi Chứa Chan có tầm vị trí quan trọng chiến lược phòng thủ của khu vực miền Đông Nam Bộ
2.3.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo
Có 2 dạng địa hình chính là: núi, đồi thoải lượn sóng
- Địa hình núi: Phân bố rải rác thành các ngọn núi độc lập có độ dốc lớn, chiếm khoảng 6 - 7% tổng diện tích toàn huyện, trong đó lớn nhất là núi Chứa Chan, với độ cao 837 m, tuy không thích hợp cho bố trí công nông nghiệp nhưng lại chứa đựng tiềm năng về phát triển du lịch và có vị trí, vai trò rất quan trọng trong quốc phòng Ngoài núi Chứa Chan còn có các núi nhỏ khác như: Núi Mây Tào, núi Sa Bi, núi Bà Sót, núi Hok, núi Hòa Hưng
- Địa hình đồi thoải lượn sóng: Là dạng địa hình chính, hiện chiếm 85% tổng diện tích toàn huyện Độ dốc phổ biến từ 30 đến 80, khá thuận lợi cho phát triển nông nghiệp với các loại hình cây lâu năm và cho xây dựng các công trình phi nông nghiệp Tuy nhiên trên các khu vực có độ dốc trên 30 cần chú trọng biện pháp bảo
vệ để hạn chế tình trạng xói mòn đất trong mùa mưa
2.3.3 Khí hậu
Huyện Xuân Lộc nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới cận xích đạo, với những đặc trưng chính như sau:
Trang 25- Năng lượng bức xạ dồi dào (trung bình 154 - 158 Kcal/cm2-năm) Nắng nhiều (trung bình từ 5, 7 - 6 giờ/ngày) Nhiệt độ cao và cao đều quanh năm, (trung bình 25,4 oC), tổng tích ôn lớn (trung bình 9.271 oC/năm) Hầu như không có những thiên tai như: Bão, lụt, rất thuận lợi cho phát triển kinh tế
- Lượng mưa lớn (trung bình từ 1.956 - 2.139 mm/năm), có xu thế giảm dần theo hướng từ Đông Bắc xuống Tây Nam Mùa mưa thường bắt đầu vào tháng 5 kết thúc vào cuối tháng 11 Hạn chế rõ nét nhất trong chế độ mưa ở đây là thường có những đợt hạn ngắn vào đầu vụ hè thu, mưa nhiều và mưa to vào thời kỳ từ tháng 7 đến tháng 9, kết hợp với ẩm độ không khí cao, số giờ nắng giảm nên năng suất vụ màu thứ 2 thường thấp Mùa khô thường bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4, do bị mất cân đối nghiêm trọng trong cán cân ẩm vào mùa này nên để tiến hành sản xuất cần phải có tưới nước và khi đã cung cấp đủ nước thì sản xuất thường cho hiệu quả cao
và ổn định hơn
2.3.4 Thổ nhưỡng và tính chất đất
Theo kết quả phân loại đất trong đề án “Quy hoạch sử dụng đất của huyện Xuân Lộc thời kỳ 2003 - 2010” của Phân viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp cho thấy toàn huyện có 6 nhóm đất chính, gồm:
- Phân bố và tính chất đất:
+ Đất xám vàng (AC): Đất xám vàng là nhóm đất có diện tích lớn (41,98%
diện tích tự nhiên), phân bố tập trung ở phía Đông của huyện và ven sông La Ngà, thuộc các xã Xuân Thọ, Xuân Bắc, Xuân Hiệp, Suối Cát, Gia Ray, Xuân Trường, Suối Cao, Xuân Thành, Xuân Tâm, Xuân Hưng Phần lớn (85,3%) diện tích có độ dốc < 80, 67,5% diện tích có tầng dày từ 70 cm trở lên Đất có thành phần cơ giới nhẹ, độ phì thấp (nghèo mùn, đạm, lân tổng số), khả năng giữ nước kém Đất được hình thành trên 4 loại mẫu chất chính là granit, đá phiến, phù sa cổ, dốc tụ, trong đó các loại đất phát triển trên đá phiến có chất lượng tốt nhất, kế đến là trên dốc tụ và phù sa cổ, kém nhất là trên granit Phần lớn diện tích có kết von hoặc gley và tầng
đá nông
+ Đất đá bọt núi lửa (AN): Là loại đất tốt, nhưng có diện tích nhỏ (194 ha), phân bố trong phạm vi hẹp, thuộc các xã Lang Minh, Xuân Tâm
Trang 26+ Đất đỏ vàng (FR): Diện tích 8.807 (ha), chiếm 12,13% diện tích tự nhiên Phân bố trên hầu hết ở các xã, nhưng tập trung chủ yếu và có diện tích lớn nhất thuộc các xã Xuân Tâm, Xuân Định, Xuân Bắc, Xuân Hiệp, Xuân Trường, Xuân Hưng Hầu hết diện tích có độ dốc cấp I, tầng đất rất dày, kết cấu tơi xốp, thoát nước tốt,
độ phì cao Nhìn chung chất lượng của đất đỏ thẫm cao hơn hẳn so với đất vàng đỏ
và các loại đất khác trên phạm vi toàn huyện Yếu tố hạn chế chính của nhóm đất này là một số diện tích bị kết von
+ Đất tầng mỏng (LP): chiếm 3,86% tổng diện tích toàn huyện, phân bố ở các xã Xuân Thọ, Xuân Hiệp, Suối Cát, Gia Ray, Xuân Trường, Xuân Thành, Xuân Hưng, Xuân Tâm, Xuân Hoà Nhóm đất tầng mỏng chủ yếu được hình thành trên trên địa hình núi với mẫu chất là đá granit, số ít trên đá bazan Hầu hết diện tích có
độ dốc > 150, tầng dày dưới 30 cm Chất lượng đất xấu nhất, bị thoái hóa nghiêm trọng, cần được nhanh chóng phủ xanh thảm rừng
+ Đất nâu thẫm (LV): có vai trò quan trọng trong phát triển SXNN của Xuân Lộc Nhóm đất này có diện tích 18.550 (ha), chiếm 25,51% tổng diện tích toàn huyện Phân bố tập trung ở khu vực Tây, Tây Nam của huyện và phía Bắc núi Chứa Chan, thuộc các xã Xuân Phú, Xuân Thọ, Xuân Bắc, Xuân Trường… Đất phát triển trên đá bazan có độ dốc phổ biến < 80, kết cấu đất tơi xốp, độ phì nhiêu khá cao (hàm lượng mùn, đạm, lân, kali khá cao) Hiện là địa bàn sản xuất cây lương thực trọng điểm của huyện, với các loại cây ngắn ngày cho năng suất cao như: Bắp, đậu đỗ, mía, lúa nước Yếu tố hạn chế chính của nhóm đất này là kết von và một số diện tích
có tầng đá nông Dựa vào mức độ và độ sâu xuất hiện tầng kết von, tầng đá nông đã phân nhóm đất này thành 4 nhóm đất chính
+ Đất xám nâu (LX): phân bố tập trung ở phía Đông Nam của huyện, thuộc phạm vi 2 xã Xuân Hưng và Xuân Hòa Đất hình thành trên đá granit, hầu hết diện tích có độ dốc < 80, chất lượng đất thấp (thành phần cơ giới nhẹ, nghèo dưỡng chất),
ít thích hợp với phát triển nông nghiệp
- Đặc điểm độ dốc, tầng dày:
- Độ dốc được phân thành 6 cấp: Cấp I: 0 - 30, Cấp II: 3 - 80, Cấp III: 8 - 150, Cấp IV: 15 - 200, Cấp V: 20 - 250, Cấp VI: > 250
Trang 27- Tầng dày được phân thành 5 loại: Loại 1: > 100cm, Loại 2: 70 - 100 cm, Loại 3: 50 - 70 cm, Loại 4: 30 - 50 cm, Loại 5: < 30 cm
Bảng 2.1: Diện tích đất phân theo độ dốc - tầng dày
Độ dốc Diện tích
(ha)
Tỷ lệ (%)
Diện tích 72.719 100,00 9.758 20.406 40.812
Tỷ lệ 100,00 13,42 28,06 56,12
(Nguồn: UBND huyện Xuân Lộc, 2016)
Qua số liệu trên, nhận thấy đất đai của huyện khá bằng phẳng có tới 82,87% diện tích có độ dốc < 80, khá thuận lợi cho sử dụng vào mục đích nông - công nghiệp (là chính) cũng như xây dựng các điểm dân cư và cơ sở hạ tầng Yếu tố hạn chế là tầng dày có tới 13,42% diện tích thuộc tầng rất mỏng (< 30cm) và 28,1% thuộc tầng mỏng và trung bình Vì vậy, trong canh tác cần coi trọng biện pháp chống xói mòn
và bảo vệ, cải thiện độ phì tầng đất mặt
2.3.5 Đặc điểm kinh tế - xã hội
a Nguồn nhân lực
- Dân số: Xuân Lộc là huyện có mức đô thị hóa thấp, chỉ mới tập trung ở thị
trấn Gia Ray, nên mật độ dân số bình quân toàn huyện còn ở mức thấp so với các huyện và so với mật độ dân số bình quân của tỉnh Đồng Nai Toàn huyện có 15 đơn
vị hành chính cấp xã, trong đó có 1 thị trấn và 14 xã Diện tích tự nhiên toàn huyện 72.719 (ha), dân số năm 2016, dân số trung bình toàn huyện khoảng 241.096 người/53.385 hộ, trong đó có 18.653 người sinh sống ở khu vực thành thị và 222.443 người sinh sống ở khu vực nông thôn, mật độ dân số 331 người/km2 Tỷ lệ tăng dân
số tự nhiên toàn huyện là 0,93% Tuy trong giai đoạn 2006 - 2016, dân số của huyện Xuân Lộc có tăng thêm đáng kể nhưng tỷ lệ tăng dân số tự nhiên lại thấp hơn so với các giai đoạn trước Đây là một tín hiệu tốt trong việc kiểm soát việc tăng dân số tự
Trang 28nhiên trên địa bàn huyện và việc thu hút các lao động các vùng khác đến địa bàn
huyện làm việc Thành phần dân cư trên địa bàn huyện khá đa dạng Toàn huyện có
19 dân tộc sinh sống, có xuất phát điểm từ nhiều địa phương trên cả nước Người Kinh chiếm đa số, còn lại là các dân tộc khác như: Hoa, Nùng, Chơ ro, Stiêng, Chăm, Khơ me, Dân cư phân bố không đều trên địa bàn các xã, nơi đông dân cư chủ yếu tập trung ở các trung tâm xã, thị trấn, ven các trục đường quốc lộ, tỉnh lộ Có những
vùng dân cư thưa thớt như một số ấp của xã Suối Cát
Bảng 2.2: Tổng hợp về tình hình dân số - lao động giai đoạn 2005 - 2016
CHỈ TIÊU Đơn vị tính 2005 2006 2015 2016
(1) (2) (3) (4) (5) (6)
Số hộ Hộ 42.095 43.062 52.312 53.385 Dân số trung bình Người 213.483 215.827 237.473 241.096
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên % 1,35 1,30 0,96 0,93
Số người trong độ tuổi lao động Người 121.667 126.169 152.364 154.962
Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao
động/tổng dân số % 56,99 58,46
Số lao động đang làm việc Người 97.704 101.218 134.627 137.889
(Nguồn: Tổng hợp từ các báo cáo của UBND huyện Xuân Lộc)
Do đa phần là người dân sống tập trung ở nông thôn, nguồn lực nông hộ còn hạn chế nên thu nhập bình quân đầu người của huyện Xuân Lộc đạt trên 48.300.000 đồng vào năm 2016 (Báo Đồng Nai, 18/01/2017), thấp hơn so với bình quân toàn tỉnh Trong thời gian tới, nhu cầu tăng nhanh thu nhập bình quân đầu người sẽ tạo
áp lực rất lớn đến việc hoạch định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện
- Lao động: Năm 2016, Xuân Lộc có 154.962 lao động trong độ tuổi, chiếm
gần 64,3% dân số và lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế có 137.889 người, chiếm gần 89% lao động Còn lại, lực lượng lao động trong độ tuổi không làm việc trong các ngành kinh tế chiếm tỷ lệ khoảng 11% Trong số lao động đang làm việc có 45.228 lao động trong lĩnh vực nông lâm nghiệp, 42.976 lao động trong lĩnh vực công nghiệp – xây dựng và 50.812 lao động trong lĩnh vực dịch vụ Trong năm 2016, số
Trang 29người được giải quyết việc làm lên tới 7.375 người Trong đó, đưa vào làm việc ở các công ty, xí nghiệp 4.282 lao động, giải quyết việc làm tại chỗ từ nguồn vốn vay cho 2.225 lao động, tạo việc làm từ chương trình dạy nghề cho lao động nông thôn là
868 lao động (UBND huyện Xuân Lộc, 2016) Nhìn chung, cơ cấu lao động phân
chia theo các ngành nghề tương đối đồng đều Bên cạnh đó, huyện tổ chức đào tạo
nghề dài hạn cho 347 học viên, dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn 900 học viên với ngành nghề đào tạo là kỹ thuật trồng Tiêu, kỹ thuật chăn nuôi thú y, kỹ thuật may công nghiệp, kỹ thuật nấu ăn dịch vụ (Báo cáo Nông thôn mới huyện Xuân Lộc, 2016) Với tình hình giải quyết việc làm cho người lao động một cách linh hoạt của các cấp chính quyền tại huyện Xuân Lộc như trên và nguồn lao động trong độ tuổi chiếm đến hơn 64% so với dân số toàn huyện, nên đây sẽ là lợi thế để huyện có thể chủ động về mặt nhân lực trong việc phát triển các ngành sản xuất của huyện và trong tương lai sẽ thu hút các lao động chưa có việc làm đến làm việc tại các khu công nghiệp trong huyện từ đó sẽ chuyển dịch cơ cấu lao động và đồng thời
sẽ nâng cao kiến thức và năng lực cho các lao động nông thôn từ đó sẽ tăng quy mô
và hiệu quả sản xuất
Số hộ nghèo trên địa bàn huyện năm 2016 cũng giảm rõ rệt so với năm 2006 (10,94%) Hiện nay, tổng số hộ nghèo tiếp cận đa chiều, theo tiêu chí tỉnh Đồng Nai, trên địa bàn huyện là 662 hộ, chiếm tỷ lệ 1,23% so với tổng số hộ dân Việc giảm số
hộ nghèo một cách đáng kể là do sự quan tâm của các cấp chính quyền địa phương Trong đó UBND huyện đã tổ chức thực hiện nghị quyết số 12 – NQ/HU của Ban chấp hành Đảng bộ huyện đã tổng huy động nguồn lực 12.939 triệu đồng Trong đó cấp 5.666 thẻ BHYT cho hộ nghèo, kinh phí 3.518 triệu đồng; 2.377 thẻ BHYT cho hộ cận nghèo, kinh phí 1.476 triệu đồng; miễn giảm học phí năm học 2015 - 2016 cho 1.722 lượt học sinh nghèo, mồ côi, kinh phí 111,739 triệu đồng; hỗ trợ chi phí học tập năm học 2015 - 2016 cho 3.196 lượt học sinh nghèo, mồ côi kinh phí 1.227,52 triệu đồng; xây dựng 66 căn nhà tình thương, kinh phí 2.793 triệu đồng; hỗ trợ tiền điện thắp sáng sinh hoạt năm 2016 cho 1.201 hộ nghèo kinh phí 702,954 triệu đồng; cấp 200 điện thoại di động cho hộ nghèo, kinh phí 70 triệu đồng do Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel chi nhánh Đồng Nai tài trợ; Hỗ trợ Tết Nguyên đán Bính Thân theo
Trang 30Quyết định số 162/QĐ - UBND của UBND tỉnh Đồng Nai cho 1.201 hộ nghèo, kinh phí 840,7 triệu đồng và 696 gia đình hộ cận nghèo, kinh phí 348 triệu đồng Vận động Quỹ vì người nghèo 2.200 triệu đồng
b Thực trạng các ngành kinh tế
Mặc dù điều kiện sản xuất tại huyện Xuân Lộc ít thuận lợi hơn các huyện khác ở khu vực Nam Bộ, cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp mà nhất là thủy lợi còn hạn chế, nhưng do làm tốt công tác chỉ đạo sản xuất nên giá trị sản xuất ngành nông, lâm, thủy sản (giá so sánh 2010) đạt 5.7914 tỷ đồng vào năm 2016, tăng 4,63% so với 2015 Trong đó trồng trọt đạt 2.954,7 tỷ đồng, tăng 2,65%; chăn nuôi đạt 2.563,8 tỷ đồng, tăng 6,91%; dịch vụ nông nghiệp đạt 145,2 tỷ đồng, tăng 5,83%; lâm nghiệp đạt 76,9 tỷ đồng, tăng 6,82%; thủy sản đạt 50,8 tỷ đồng, tăng 1,02% so với năm 2015, xem bảng 2.3 dưới đây:
Bảng 2.3: Giá trị sản xuất ngành nông lâm thủy sản huyện Xuân Lộc
GIÁ TRỊ
(tỷ đồng)
NĂM
TĂNG TRƯỞNG
BQ (%)
2005 2010 2014 2015 2016 2010-2015
(1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) Tổng GTSX 1.071,1 1.433,0 1.864,6 5.535,1 5.791,4 31,03
(Nguồn: Tổng hợp theo số liệu của UBND huyện và phòng NN&PTNT huyện Xuân Lộc)
Trong nội ngành nông, lâm, thủy sản (NLTS): Tốc độ tăng trưởng bình quân
về GTSX chung của ngành NLTS giai đoạn 2005 - 2010 là 6%, giai đoạn 2010 -
2014 là 6,8% Trong đó: Tốc độ tăng bình quân của ngành nông nghiệp giai đoạn
Trang 312005 - 2010 là 6%, ngành lâm nghiệp là 5,3% và ngành thủy sản là 4,5% Sang giai đoạn 2010 - 2014 tốc độ tăng trưởng bình quân năm của ngành nông nghiệp là 6,8% trong khi đó thì ngành lâm nghiệp là 3,8% và ngành thủy sản là 7,4% Riêng ngành nông nghiệp: Tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành chăn nuôi luôn cao hơn so với ngành trồng trọt và ngành dịch vụ nông nghiệp Giai đoạn 2010 - 2014 tốc độ tăng trưởng bình quân năm của ngành trồng trọt là 3,5%, trong khi đó ngành chăn nuôi là 12,6% và ngành dịch vụ nông nghiệp là 8,9%
Như vậy, ngành nông nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng cao, riêng lâm nghiệp, thủy sản do ít có lợi thế phát triển nên tăng trưởng chậm Tỷ trọng của lâm nghiệp
và thủy sản rất khiêm tốn trong tổng giá trị sản xuất của khu vực nông, lâm, thủy sản Tuy nhiên, việc phát triển của hai ngành này cũng đã đóng góp vào việc nâng cao thu nhập cho nông hộ, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, bảo vệ môi trường và cung cấp một phần cho nhu cầu thực phẩm trong huyện Nhìn chung, các cơ quan địa phương đã chú tâm vào việc phát triển nông lâm thủy sản trong khu vực nên các ngành này đều có tốc độ tăng trưởng cao, trình độ sản xuất luôn được nâng cao theo hướng công nghiệp hoá và tập trung đầu tư theo chiều sâu
c Thuỷ lợi
Thủy lợi có vai trò vô cùng quan trọng trong phát triển SXNN, là 1 trong những nhân tố góp phần vào việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất để đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp
Trên địa bàn huyện đã xây dựng được các công trình thủy lợi sau:
Hồ Gia Ui: Trữ lượng nước 10,8 triệu m3, tổng chiều dài kênh mương 38,64
km, năng lực tưới thực tế khoảng 788 (ha), ngoài ra còn cung cấp nước phục vụ sinh hoạt với công suất 3.202 m3/ngày đêm
Hồ núi Le: Trữ lượng nước 3,5 triệu m3, hiện tưới cho 309 (ha) cây lâu năm và phục vụ nước sinh hoạt cho các xã Xuân Hiệp, TT.Gia Ray, Suối Cát với công suất 3.738m3/ngày đêm
Hồ Gia Măng: đã được khởi công xây dựng vào ngày 28/5/2015, với trữ lượng 4,5 triệu m3