Bài thu hoạch đào tạo nghề Luật sư
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP
CƠ SỞ TP.HỒ CHÍ MINH
BÀI TIỂU LUẬN
TƯ VẤN PHÁP LUẬT VÀ HỢP ĐỒNG
Đề tài: Giải quyết tranh chấp Hợp đồng bằng Trọng tài thương mại – thực tiễn triển khai và những kiến nghị hoàn thiện pháp luật.
Họ và tên:
Sinh ngày:
SBD: 049 Lớp Luật sư
Trang 2M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 2
1 Lí do chọn đề tài 2
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tại 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài 3
4 Kết cấu đề tài 3
PHẦN NỘI DUNG 4
CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI 4
1 Lịch sử hình thành và phát triển Trọng tài Thương mại Việt Nam 4
2 Khái niệm trọng tài thương mại 7
3 Các hình thức Trọng tài thương mại 7
4 Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thương mại 8
5 Thẩm quyền của trọng tài thương mại 9
CHƯƠNG II: THỰC TIỄN THỰC HIỆN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI 10
1 Ưu điểm giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại 10
2 Nhược điểm giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại 11
3 Thực tế tại Việt Nam 12
CHƯƠNG III: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 15
KẾT THÚC 16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Việt Nam đã gia nhập WTO đã đặt ra những cơ hội và thách thức, thúc đẩy đại đa số các mặt của nền kinh tế quốc nội phát triển theo thể chế thị trường cả trong lẫn ngoài nước kéo theo sự phát triển song hành của hoạt động kinh doanh thương mại bắt buộc tạo ra những đòi hỏi
về các quy định, thể chế tiến bộ để điều chỉnh kịp thời các quan hệ tranh chấp phát sinh trong quá trình này nhằm theo kịp tiến độ tăng trưởng phát triển của nền kinh tế thị trường
Thông thường và theo đa số tiền lệ, khi có tranh chấp các bên sẽ lực chọn hình thức tranh chấp tại Tòa án để chứng minh và bảo vệ quyền và lợi ích của mình, tuy nhiên đối với hình thức tranh chấp thông qua Tòa án luôn đòi hỏi tuân thủ chặt chẽ các quy định tố tụng, với tất cả những dự liệu trong Luật Tố tụng dân sự 2015, Luật Thương Mại, Bộ Luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ … và rất nhiều các văn bản pháp luật nội dung khác làm phát sinh rất nhiều tình tiết phức tạp trong tranh chấp thực tiễn, do đòi hỏi tính khách quan cao cho các bên tham gia nên các tình tiết dữ kiện phải được chứng minh chặt chẽ Mặt tiến bộ của tranh chấp tại Tòa án là quyền và lợi ích được bảo vệ tối đa, được xét xử hai cấp, được Tái thẩm; Giám đốc thẩm… Tuy nhiên mặt trái của nó là thời gian giải quyết kéo dài dẫn dến ảnh hưởng không nhỏ; các thiệt hại có thể xét thấy hay phải gánh chịu trực tiếp.Vì vậy đặt ra nhu cầu cấp thiết là cần phải giải quyết tranh chấp nhanh gọn; hiệu quả; khả năng chứng minh; bảo vệ quyền và lợi ích cao, tổ chức nào sẽ thực thi giải quyết một cách có hiệu quả, nhanh gọn, tránh những tổn thất quá lớn cho doanh nghiệp?
Để đáp ứng cho nhu cầu đó, Chính phủ nỗ lực hoàn chỉnh khung pháp lý cho hoạt động Trọng tài bằng việc ban hành Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003, sau đó là Luật Trong tài thương mại 2010 thì việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại đã chuyển biến và mang lại các dấu hiệu tích cực, từ việc mở rộng phạm vi hoạt động và quyền hạn của các Trung tâm Trọng tài (sau đây gọi tắt là TTTT) đến sự quan tâm thực sự từ các cá nhân và tổ chức kinh doanh trong mọi lĩnh vực Trong thực tiễn, các thõa thuận Trọng tài thương mại đã được sử dụng rất phổ biến khi soạn thảo các điều khoản về giải quyết tranh chấp trong Hợp đồng thương mại, các bên trong quan hệ giao dịch thường quy định việc giải quyết tranh chấp bằng phương thức Trọng tài thương mại, đặc biệt là khi quan hệ giao dịch này có yếu tố nước ngoài
Trang 4Việc lựa chọn đề tài: “Giải quyết tranh chấp hợp đồng bằng trọng tài thương mại - Thực tiễn triển khai và những kiến nghị hoàn thiện pháp luật”
để có cái nhìn thực tiễn trong việc giải quyết các tranh chấp hợp đồng kinh doanh bằng trọng tài thương mại, để từ đó đề xuất ra những kiến nghị để hoàn thiện quy định của pháp luật hiện hành
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tại.
- Hệ thống quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp bằng phương thức Trọng tài thương mại
- Thực tiễn giải quyết các tranh chấp bằng phương thức trọng tài thương mại
- Để xuất kiến nghị để góp phần hoàn thành quy định của pháp luật giải quyết tranh chấp bằng phương thức Trọng tài thương mại
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: trọng tài thương mại - phương thức giải quyết
tranh chấp do các bên thỏa thuận và được tiến hành theo quy định của Luật trong tài thương mại 2010
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Thỏa thuận trọng tài theo quy định của pháp luật
+ Thực tiễn thực hiện giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại: ưu điểm, nhược điểm
+ Nguyên nhân hạn chế
+ Kiến nghị hoàn thiện pháp luật
4 Kết cấu đề tài.
Gồm 3 Chương:
Chương I: Khái quát chung về trọng tài thương mại
Chương II: Thực tiễn thực hiện giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại Chương III: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Trang 5PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI
1 Lịch sử hình thành và phát triển Trọng tài Thương mại Việt Nam.
Xét về mặt lịch sử, Trọng tài kinh tế xuất hiện và phát triển cùng với sự ra đời của chế độ hợp đồng kinh tế Năm 1960, Thủ tướng Chính phủ đã ra Nghị định số 04/TTg ngày 04/01/1960 để ban hành Điều lệ tạm thời về Hợp đồng kinh tế Ngày 14/11/1960, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 20/TTg về Tổ chức Trọng tài kinh tế Nhà nước Theo Nghị định này, ngành Trọng tài kinh tế được tổ chức ở cấp Trung ương, khu, thành phố, tỉnh và bộ với chức năng chủ yếu là xử lý các tranh chấp hợp đồng kinh tế Quy định này nhằm làm rõ hơn nữa chức năng, nhiệm vụ của các bộ quản lý ngành kinh tế – kỹ thuật, thể hiện nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo địa phương và vùng lãnh thổ, tích cực xây dựng cấp huyện và phân định trách nhiệm giữa huyện và tỉnh, thành phố
Tiếp theo, sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số 54-CP ngày 10/03/1975 về chế độ hợp đồng kinh tế thay Nghị định số 04-TTg, thì ngày 14/04/1975, Chính phủ đã ra Nghị định số 75-CP để ban hành Điều lệ Tổ chức
và hoạt động của Trung tâm Trọng tài kinh tế Theo Bản Điều lệ này, Trọng tài kinh tế được thành lập như một cơ quan nhà nước có chức năng quản lý công tác hợp đồng kinh tế Đó là chức năng giữ vững tính kỷ luật Nhà nước về hợp đồng kinh tế, giải quyết các tranh chấp về hợp đồng kinh tế và xử lý vi phạm hợp đồng kinh tế
Với Nghị định số 24/HĐBT ngày 10/08/1981 của Hội đồng Bộ trưởng, Hội đồng Trọng tài kinh tế được thống nhất tên gọi là Trọng tài kinh tế, ngạch Trọng tài viên được xác lập Ngày 17/04/1984, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 62/HĐBT quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Trọng tài kinh tế bộ, tỉnh, huyện Trọng tài kinh tế cấp huyện được thành lập theo Nghị định này Ngày 10/01/1990, Hội đồng Nhà nước ban hành Pháp lệnh
về Trọng tài kinh tế quy định tổ chức, phân cấp thẩm quyền, thủ tục giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế Đặc biệt, Pháp lệnh Trọng tài kinh tế đã bỏ Trọng tài cấp Bộ, nguyên tắc các bên có quyền thỏa thuận lựa chọn Trọng tài đứng ra giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế được ghi nhận
Như vậy, Trọng tài kinh tế là cơ quan thuộc hệ thống cơ quan chấp hành và điều hành của Nhà nước (Hội đồng Bộ trưởng, Uỷ ban nhân dân các cấp), có
Trang 6chức năng quản lý nhà nước đối với công tác hợp đồng kinh tế Nét đặc thù của Trọng tài kinh tế thể hiện ở chỗ, hoạt động giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm hợp đồng kinh tế cũng chính là phương tiện để đạt được mục đích trực tiếp điều hành, tổ chức các quan hệ kinh tế
Nhìn khái quát từ góc độ lịch sử, ta thấy Trọng tài kinh tế từ chỗ là cơ quan Nhà nước có chức năng chủ yếu là xử lý các vi phạm hợp đồng kinh tế (Nghị định số 20/TTg ngày 14/01/1960), đã phát triển thành một cơ quan Nhà nước có chức năng chủ yếu là quản lý công tác hợp đồng kinh tế (Nghị định số 75/CP ngày 14/04/1975, Nghị định số 24/HĐBT ngày 10/08/1981, Nghị định số 62/HĐBT ngày 17/04/1984, Pháp lệnh Trọng tài kinh tế ngày 12/01/1990) Quá trình phát triển đó của Trọng tài kinh tế tương ứng với việc ngày càng mở rộng vai trò của hợp đồng kinh tế
Trọng tài kinh tế Nhà nước có chức năng, nhiệm vụ: giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế; kiểm tra, kết luận và xử lý các hợp đồng kinh tế trái pháp luật; hướng dẫn thực hiện pháp luật hợp đồng kinh tế và Trọng tài kinh tế; bồi dưỡng nghiệp vụ công tác hợp đồng kinh tế và trọng tài kinh tế
Khi đất nước chuyển sang cơ chế kinh tế mới thì sự tồn tại của Trọng tài kinh tế với chức năng là một cơ quan có chức năng quản lý Nhà nước – sản phẩm của cơ chế kế hoạch hóa tập trung tỏ ra không còn phù hợp Sự phát triển
đa dạng các loại hình kinh tế cùng với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế
có hình thức sở hữu khác nhau dẫn đến sự thay đổi cả về hình thức, tính chất của tranh chấp và đi liền với nó là nội dung tranh chấp Do vậy, phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế cũng đòi hỏi phải đổi mới Chính vì vậy, từ ngày 28/12/1993, theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Tòa kinh tế chuyên trách được hình thành trong hệ thống Tòa án nhân dân với chức năng giải quyết các tranh chấp kinh tế Đồng thời, hệ thống trọng tài được giải thể
Trước những đòi hỏi khách quan về đa dạng hoá các hình thức và phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh phù hợp với đặc điểm của cơ chế thị trường, cũng như góp phần đẩy nhanh quá trình hội nhập quốc tế, ngày 05/09/1994, Chính phủ đa ban hành Nghị định số 116-CP về tổ chức và hoạt động của các Trung tâm Trọng tài kinh tế Theo các quy định của Nghị định này, Trọng tài kinh tế thực sự được xác định là một tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tức
là tổ chức phi chính phủ có thẩm quyền giải quyết một số tranh chấp theo quy
định, hoàn toàn tách rời với chức năng quản lý Nhà nước như trước đây Sau gần
Trang 710 năm thực hiện Nghị định 116-CP, đã có 6 Trung tâm trọng tài được thành lập với hơn 130 trọng tài viên
Tuy nhiên, đánh giá một cách khách quan và khái quát thì trọng tài chưa thể hiện được vai trò của mình với chức năng là một cơ quan tài phán có vai trò
hỗ trợ đắc lực cho Toà án trong việc giải quyết tranh chấp Nhằm khắc phục
những hạn chế, tăng cường hiệu quả và năng lực của các Trung tâm trọng tài và đội ngũ Trọng tài viên, ngày 25/02/2003, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Trọng tài số 08/2003/PL-UBTVQH và ngày 15/01/2004, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 25/2004/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Trọng tài thương mại Có thể nói, Pháp lệnh đã mở rộng một cách đáng kể thẩm quyền cho Trọng tài ở nước ta so với thẩm quyền của Trọng tài theo Nghị định 116-CP; quy định đầy đủ, rõ ràng về thoả thuận trọng tài, góp phần chấm dứt tình trạng “lấn quyền của Toà án đối với trọng tài”; tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc trở thành Trọng tài viên; ghi nhận hình thức trọng tài mới
là trọng tài vụ việc; mở rộng thẩm quyền chọn Trọng tài viên cho các bên tranh chấp; ghi nhận mối quan hệ chặt chẽ giữa Trọng tài với Toà án; nâng cao vị thế của Trọng tài bằng việc ghi nhận tính được cưỡng chế thi hành của các phán quyết trọng tài; quy định nhiều cơ chế mới để đảm bảo cho việc thành lập các Trung tâm trọng tài được chặt chẽ hơn, trên cơ sở đó mà nâng cao chất lượng và
uy tín của các Trung tâm Trọng tài
Những quy định mới của Pháp lệnh Trọng tài thương mại đã tạo ra khả năng vô cùng to lớn cho sự phát triển của Trọng tài thương mại ở nước ta, giúp giải quyết nhanh chóng các tranh chấp thương mại, giảm bớt gánh nặng của cơ quan Toà án… Đồng thời, cùng với các quy định pháp luật khác, pháp luật về trọng tài đã góp phần tạo nên một hệ thống pháp luật trong sạch, vững mạnh, phục vụ yêu cầu quản lý xã hội bằng pháp luật của Nhà nước
Như vậy, có thể nhận thấy tại Việt Nam trọng tài đã xuất hiện từ thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa vào những năm đầu của thập kỷ 60 của thế kỷ XX dưới tên gọi là “trọng tài kinh tế” Trọng tài kinh tế khi đó có những đặc trưng phản án sự vận hành của cơ chế kinh tế kế hoạch hóa, vừa mang chức năng quản lý và chức năng giải quyết tranh chấp; do đó, trọng tài kinh tế ở Việt Nam thời đó không phải là tổ chức trọng tài theo đúng nghĩa Chính sách Đổi mới đã dẫn đến sự phát triển kinh tế thị trường, xây dựng nhà nước pháp quyền dẫn tới sự chấm dứt tồn tại của một số định chế đặc trưng cho kế hoạch hóa, trong đó có hợp đồng kinh tế và trọng tài kinh tế Sự phát triển của kinh tế thị trường đã dẫn đến nhu
Trang 8cầu thành lập các trung tâm trọng tài đúng nghĩa (phi Chính phủ) ở Việt Nam Hiện nay ở Việt Nam có 7 trung tâm trọng tài kinh tế đang hoạt động (ACIAC, VIAC, HCMCAC, HCAC, CCAC, PIAC VID.ARCE)
2 Khái niệm trọng tài thương mại.
Khoản 1 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại 2010 quy định: “trọng tài
thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận và được tiến hành theo quy định của Luật này”
Hình thức Trọng tài thương mại được áp dụng trong các luật như: Luật Thương Mại, Luật Đầu Tư, Luật Doanh nghiệp, Bộ luật hàng hải Trong thực tiễn hoạt động này có nhiều mặt tiến bộ nên được khuyến khích áp dụng phổ biên trong các lĩnh vực giải quyết hợp đồng hoặc vụ việc kinh tế, thời gian giải quyết nhanh hơn hoạt động tố tụng tại Tòa án
Quy định về về trọng tài, trình tự giải quyết tranh chấp bằng trọng tài được Quy định khá chi tiết tại Luật trọng tài thương mại 2010
3 Các hình thức Trọng tài thương mại.
Các hình thức hoạt động của Trọng tài thương mại:
- Trọng tài vụ việc: Khi có phát sinh tranh chấp và có thỏa thuận, các bên
tranh chấp áp dụng Luật Trọng tài thương mại thành lập Trọng tài vụ việc để giải quyết tranh chấp giữa các bên và trọng tài sẽ chấm dứt tồn tại khi giải quyết xong vụ tranh chấp
- Trọng tài thường trực (quy chế): ở các nước trên thế giới, Trọng tài
thường trực được tổ chức dưới những hình thức đa dạng như: Trung tâm trọng tài, Hiệp hội trọng tài hay các việc Trọng tài nhưng chủ yếu và phổ biến dưới dạng Trung tâm trọng tài Theo pháp luật Việt Nam, trọng tài thường trực được
tổ chức dưới dạng Trung tâm trọng tài Trung tâm trọng tài là tổ chức phi chính phủ, có tư các pháp nhân, có con dấu, có tài khoản riêng và có trụ sở giao dịch
ổn định, hình thức áp dụng cũng tương tự như Trọng tài vụ việc nhưng khác biệt lớn nhất là Phán quyết của Trọng tài quy chế có hiệu lực tương tự như Bản án của Tòa án và có giá trị thi hành án, còn Trọng tài vụ việc thì Phán quyết phải được đăng ký để bảo đảm thi hành án
Trang 94 Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thương mại.
- Nguyên tắc thỏa thuận trọng tài: tranh chấp thương mại chỉ được giải
quyết tại trọng tài nếu các bên có thỏa thuận trọng tài và thỏa thuận trọng tài đó
có hiệu lực
- Nguyên tắc trọng tài viên độc lập, vô tư, khách quan: Yêu cầu đặt ra đối
với mỗi Trọng tài viên là phải xác nhận bằng văn bản rằng họ đang và sẽ độc lập với các bên và các bên có quyền yêu cầu trọng Tài viên trình bày bất kỳ sự kiện hoặc chi tiết nào có thể khiến các bên nghi ngờ về tính độc lập của họ Việc giải quyết tranh chấp một cách công bằng, tính độc lập của các trọng tài viên đối với các bên là vấn đề được quan tâm đặc biệt
- Nguyên tắc trọng tài viên phải căn cứ vào pháp luật: đây là một nguyên
tắc rất quan trọng bắt buộc phải tuân thủ trong mọi thủ tục tố tụng cũng như giải quyết các vấn đề của đời sống xã hội trong điều kiện nhà nước pháp quyền Để giải quyết tranh chấp thương mại một cách công bằng, hợp lý, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các bên; trọng tài viên - người được các bên có tranh chấp lựa chọn để giải quyết tranh chấp phải căn cứ theo pháp luật
- Nguyên tắc trọng tài viên phải tôn trọng sự thỏa thuận của các bên: Cũng
như trong các hình thức tố tụng khác, Khi giải quyết tranh chấp bằng hình thức Trọng tài thương mại, các Trọng tài viên có nghĩa vụ phải tôn trọng sự thỏa thuận của các bên và tạo điều kiện cho các bên thực hiện quyền lợi này để đi đến giải quyết vụ việc một cách hiệu quả đạt được sự đồng thuận cao và phòng ngừa các tranh chấp phát sinh về sau Về hậu quả pháp lý thì việc thõa thuận tại Trọng tài thương mại cũng giống như trong các lĩnh vực tố tụng khác, các bên có nghĩa
vụ phải thực hiện và không được hủy thỏa thuận, đồng thời Tòa án cũng không thụ lý hay xem xét lại các trường hợp công nhận thỏa thuận trong Trọng tài thương mại chỉ ngoại trừ trường hợp vi phạm các điều cấm hoặc sai trình tự thủ tục của Luật định
- Nguyên tắc giải quyết một lần: Như đã nói một phần ở trên với tư cách là
một tổ chức phi chính phủ, trọng tài thương mại không có cơ quan cấp trên nên phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm như bản án sơ thẩm của tòa án, cũng không có thủ tục giám đốc thẩm, tái thêm Tố tụng trọng tài chỉ có một trình tự giải quyết, các tranh chấp thương mại chỉ được giải quyết một lần tại trọng tài
Trang 105 Thẩm quyền của trọng tài thương mại.
Trọng tài thương mại có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp Thương mại được theo quy định pháp luật, điều kiện đặt ra là các tranh chấp này phát sinh trong hoạt động thương mại giữa các chủ thể tham gia và các bên có thỏa thuận trọng tài Nếu thiếu 1 trong 2 điều kiện trên, vụ việc sẽ không thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài thương mại
Trên cơ sở Luật trọng tài 2010 và các văn bản pháp luật hiện hành có liên quan, thẩm quyền của trọng tài thương mại phải hôi tụ đủ 2 điều kiện:
Thứ nhất: Tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài thương mại phải là tranh chấp thương mại giữa các cá nhân, tổ chức kinh doanh.
Trọng tài thương mại Việt Nam chỉ có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại giữa các bên là cá nhân kinh doanh hoặc tổ chức kinh doanh So với pháp luật một số nước trên thế giới, pháp luật Việt Nam ta không mở rộng hoàn toàn thẩm quyền của trọng tài thương mại
Thứ hai: Giữa các bên tranh chấp phải có thỏa thuận trọng tài hợp lệ.
Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận mà các bên đồng thuận lập ra khi thực hiện các hoạt động thương mại ngay khi từ khi bắt đầu hoặc bổ sung bất kỳ thời điểm nào trong quá trình thực hiện hoạt động thương mại, được ghi nhận hợp lệ theo quy định pháp luật Như vậy, các bên có thể thỏa thuận trọng tài trước khi
có tranh chấp hoặc sau khi có tranh chấp Nguyên tắc chung là “không có thỏa thuận giải quyết bằng phương thức trọng tài, không có tố tụng trọng tài”
Thỏa thuận trọng tài hợp lệ là thỏa thuận trọng tài đó đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định pháp luật, không bị vô hiệu Trường hợp ngược lại khi thỏa thuận trọng tài không đúng quy định thì ngay cả khi có thỏa thuận trọng tài nhưng nếu thỏa thuận trọng tài đó vô hiệu thì trọng tài cũng không có thẩm quyền giải quyết Các trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu được quy định tại Điều 18 Luật Trọng tài thương mại 2010 Vấn đề đặt ra đòi hỏi các bên phải nghiên cứu thật kỹ các chế định trọng tài, làm tốt công tác phòng ngừa rủi ro do thỏa thuận trọng tài bị vô hiệu