VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VÕ ĐỨC BẢO THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TỪ THỰC TIỄN HUYỆN BÌNH SƠN,
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VÕ ĐỨC BẢO
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TỪ THỰC TIỄN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VÕ ĐỨC BẢO
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TỪ THỰC TIỄN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 838.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS PHẠM HỮU NGHỊ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Võ Đức Bảo
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt bài luận văn nghiên cứu với đề tài: “Thực hiện pháp luật về
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi” cùng với sự nỗ lực cố gắng của bản thân, em đã nhận được sự hỗ
trợ, giúp đỡ của nhiều người
Em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Phạm Hữu Nghị đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành đề tài luận văn tốt nghiệp
Đồng thời, em cũng xin cảm ơn các thầy cô giáo khoa Luật, các thầy cô giáo phụ trách giảng dạy chuyên ngành Luật Hiến pháp và Hành chính, Học viện Khoa học xã hội; các anh chị đồng nghiệp, gia đình và các bạn đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo, đóng góp ý kiến quý báu, tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành đề tài luận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Võ Đức Bảo
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT 8
1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 81.2 Nguyên tắc và các yếu tố đảm bảo thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất 131.3 Vai trò của việc thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 171.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất 18
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG,
HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TỪ THỰC TIỄN HUYỆN BÌNH SƠN TỈNH QUẢNG NGÃI 22
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về bồi thường,hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 222.2 Thực trạng thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại huyện Bình Sơn 252.3 Những đặc trưng của tỉnh Quảng Ngãi ảnh hưởng đến quá trình thực hiện pháp luật về thu hồi, hỗ trợ và tái định cư tại huyện Bình Sơn 59
CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VÀ ĐẢM BẢO THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TỪ THỰC TIỄN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI 62
3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật và đảm bảo thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 62
Trang 63.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực pháp luật về bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 65
3.3 Các giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi 73 KẾT LUẬN 76 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BT : Bồi thường
CNH – HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa GCNQSDĐ : Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất GPMB : Giải phóng mặt bằng
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
2.1 Hiện trạng sử dụng đất huyện Bình Sơn năm 2015 26
2.2 Biến động diện tích đất theo mục đích sử dụng năm 2015 so
2.3 Loại đất, diện tích và đơn giá bồi thường về đất của dự án
2.4 Tổng hợp về bồi thường thiệt hại về đất của Dự án 1 42
2.5 Loại đất, diện tích và đơn giá bồi thường về đất của dự án
2.6 Tổng hợp về bồi thường thiệt hại về đất của Dự án 2 43 2.7 Kết quả các gia đình bốc thăm tái định cư 57
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thực tế cho thấy, thực hiện pháp luật về bồi thường (BT), hỗ trợ (HT), tái định
cư (TĐC) khi Nhà nước thu hồi đất (NNTHĐ) đang gặp phải rất nhiều vướng mắc như: điều kiện được BT, hỗ trợ (HT) về đất, giá trị được BT, HT về đất, nhà ở và các tài sản trên đất, các vấn đề về tái định cư (TĐC) và điều kiện sinh hoạt của người dân phải di dời, các vấn đề phát sinh sau khi thực hiện các chính sách HT Đã vậy, các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền khi thực hiện pháp luật về BT, hỗ trợ (HT), tái định cư (TĐC) khi NNTHĐ vào thực tiễn tại nhiều địa phương trong thời gian qua vẫn còn cứng nhắc, bị động và thiếu sự linh hoạt, chưa thực sự chú ý lắng nghe các kiến đóng góp từ phía người dân bị thu hồi đất, thậm chí vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết việc BT, HT và TĐC Những tồn tại, vướng mắc nêu trên là do rất nhiều nguyên nhân, cả khách quan lẫn chủ quan
Do có vị trí địa lý quan trọng, huyện Bình Sơn có Khu kinh tế Dung Quất phải chủ động được quỹ đất khá lớn để đáp ứng tốt nhu cầu sử dụng đất (SDĐ) của các
dự án phát triển hạ tầng kinh tế, hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật Để đạt được mục tiêu này, huyện Bình Sơn phải tiến hành THĐ, đồng thời cần thực hiện tốt việc BT,
HT, khi NNTHĐ Song thời gian vừa qua, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi cũng
đã và đang phải đối mặt với nhiều thách thức kể trên trong quá trình thực hiện việc
BT, HT, TĐC khi NNTHĐ
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu các quy định pháp luật về BT, HT, TĐC khi NNTHĐ trên thực tiễn là cần thiết, nhằm góp phần tìm ra giải pháp khắc phục những tồn tại, thiếu sót nói trên và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về BT,
HT, TĐC khi NNTHĐ tại địa bàn huyện Bình Sơn nói riêng và các địa phương khác
trong cả nước nói chung Với ý nghĩa đó, tôi đã chọn đề tài “Thực hiện pháp luật về
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi” để làm luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ luật học của mình
Trang 102 Tình hình nghiên cứu đề tài
Đến nay, vấn đề bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi NNTHĐ đã thu hút được
sự quan tâm của nhiều tác giả nghiên cứu dưới nhiều phương diện khác nhau Có thể đề cập đến một số công trình, bài báo tiêu biểu như:
Luận văn Thạc sĩ luật học của Nguyễn Vinh Diện - năm 2006 với đề tại “Pháp
luật về bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất” Nghiên cứu một số vấn đề lý
luận chung về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Tìm hiểu khái niệm và chỉ ra những đặc điểm riêng của bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
so với trách nhiệm về bồi thường oan sai trong lĩnh vực pháp luật hình sự, trách nhiệm vật chất trong lĩnh vực pháp luật lao động Đánh giá thực trạng thi hành pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, chỉ ra những nguyên nhân hạn chế, tồn tại trong lĩnh vực này Đưa ra định hướng, đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về bồi thường và các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thực thi pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Luận văn Thạc sĩ luật học của Nguyễn Duy Thạch - năm 2007 về “Pháp luật
về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất qua thực tiễn thi hành hành tại thành phố Hà Nội” Nghiên cứu thực tế cho thấy, pháp luật về bồi
thường(BT)khi Nhà nước thu hồi đất (NNTHĐ) và thực tiễn áp dụng từ khi có Luật Đất đai (LĐĐ) năm 2003 đến nay, đang gặp phải rất nhiều vướng mắc như: điều kiện được BT,hỗ trợ (HT) về đất, giá trị được BT, HT về đất, nhà ở và các tài sản trên đất, các vấn đề về tái định cư (TĐC) và điều kiện sinh hoạt của người dân phải
di dời, các vấn đề phát sinh sau khi thực hiện các chính sách HT Đã vậy, các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền khi áp dụng pháp luật về BT khi NNTHĐ vào thực tiễn tại nhiều địa phương trong thời gian qua vẫn còn cứng nhắc, bị động và thiếu sự linh hoạt, chưa thực sự chú ý lắng nghe các kiến đóng góp từ phía người dân bị thu hồi đất, thậm chí vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết việc BT, HT và TĐC Những tồn tại, vướng mắc nêu trên là do rất nhiều nguyên nhân, cả khách quan lẫn chủ quan
Ngoài ra các bài báo đăng trên các tạ chí bàn về vấn đề thực hiện pháp luật về
Trang 11bồi thường hõ trợ và tái định cư cũng được quan tâm nghiên cứu cụ thể như:
Bài viết: “Vấn đề việc làm cho người bị thu hồi đất ở nông thôn trong quá
trình xây dựng, phát triển các khu công nghiệp” của tác giả Đỗ Đức Quân - Tạp chí
Kinh tế và Dự báo, số 8 (412), tháng 8 năm 2007, tr.33-35;
Bài viết “Vì sao dân chưa đồng thuận của tác giả Đức Tâm” - Báo điện tử
Kinh tế và Đô thị, số ra ngày 19/8/2008;
Bài viết “Bức xúc thu hồi đất không chỉ do giá đền bù” của tác giả Lan
Hương - Báo điện tử Dân trí, số ra ngày 03/10/2008;
Bài viết “Một số ý kiến hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu
hồi đất của tác giả” Ths Lê Ngọc Thạnh - Tạp chí Tài nguyên và Môi trường, số
11 (73), tháng 6 năm 2009, tr.40-43
Bài viết “Dân bức xúc vì sự vô cảm của chính quyền” của nhóm phóng viên
điều tra - Báo điện tử Nhà báo và Công luận, số ra ngày 17/09/2009
Nói chung, các công trình, bài báo nêu trên đều nghiên cứu về bồi thường khi NNTHĐ ở mức độ và phạm vi khác nhau Có công trình, bài báo nghiên cứu đi sâu phân tích, bình luận một số khía cạnh pháp lý về bồi thường khi NNTHĐ; có công trình, bài báo nghiên cứu vấn đề này ở phạm vi rộng nhằm đánh giá khái quát pháp luật và thực trạng pháp luật về bồi thường khi NNTHĐ Bên cạnh đó, lại có công trình nghiên cứu vấn đề này thông qua việc đánh giá thực hiện pháp luật tại địa bàn
cụ thể của một tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương… Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề này nhìn từ góc độ thực hiện pháp luật về BT, HT, TĐC khi NNTHĐ trên phạm vi địa bàn cấp huyện Với mong muốn được tiếp cận vấn đề từ góc độ thực tiễn một cách chi tiết, đồng thời bằng việc tham chiếu giữa các quy định của pháp luật về BT , HT, TĐC khi NNTHĐ với thực tiễn áp dụng qua các vụ việc, tình huống cụ thể, một mặt học viên chỉ ra được những quy định phù hợp, không phù hợp của pháp luật với thực tiễn cuộc sống, mặt khác cũng đưa ra những nhận xét, đánh giá việc thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ,TĐC khi NNTHĐ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ở một địa bàn cụ thể Trên cơ sở đó, tôi đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về BT, HT, TĐC khi NNTHĐ cho phù hợp với đòi
Trang 12hỏi của thực tiễn hiện nay và trong tương lai
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lý thực hiện pháp luật về BT, HT, TĐC khi NNTHĐ; phân tích đánh giá thực trạng hiện pháp luật về BT,HT, TĐC khi NNTHĐ tại huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi Từ đó nêu một số giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ giải quyết các vấn đề chủ yếu sau:
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận thực hiện pháp luật về BT, HT, TĐC khi NNTHĐ;
- Phân tích, đánh giá thực hiện pháp luật về BT, HT, TĐC khi NNTHĐ từ khi LĐĐ năm 2013 có hiệu lực đến nay tại địa bàn huyện Bình Sơn Qua đó, chỉ ra các quy định phù hợp, chưa phù hợp của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi NNTHĐ, cũng như những tồn tại, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng và nêu nguyên nhân của tình trạng này;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp luật về BT, HT, TĐC khi NNTHĐ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu thực tiễn thực hiện pháp luật về BT, HT, TĐC khi NNTHĐ qua các vụ việc, tình huống cụ thể tại địa bàn huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi từ khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực đến nay Phạm vi nghiên cứu của luận văn là:
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về phạm vi đối tượng: luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các quy định pháp
luật về bồi thường khi NNTHĐ mà cụ thể là các quy định về BT, HT về đất và tài sản, các chính sách HT và các quy định về TĐC cho hộ gia đình (HGĐ), cá nhân khi NNTHĐ;
Trang 13Về phạm vi không gian và thời gian: luận văn nghiên cứu các quy định về BT,
HT về đất và tài sản, hỗ trợ và TĐC cho HGĐ, cá nhân khi NNTHĐ qua thực tiễn
áp dụng tại địa bàn huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi từ khi LĐĐ năm 2013 có hiệu lực đến nay (2017)
5 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
5.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Nghiên cứu Luật Đất đai và các văn bản, chính sách có liên quan đến việc thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng ở trong nước và ngoài nước Phương pháp điều tra thu thập số liệu tài liệu: sử dụng để thu thập thông tin tư liệu về công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại dự án phục vụ cho mục đích đánh giá Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp: Thông tin thứ cấp được thu thập chủ yếu là các quy định của cơ quan nhà nước ở Trung ương, của UBND tỉnh Quảng Ngãi, UBND huyện Bình Sơn và các cơ quan liên ngành về BT, HT và TĐC khi NNTHĐ Nguồn thông tin này được thu thập chủ yếu qua Công báo, các trang web của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Đồng thời, tôi cũng thông qua các quyết định, báo cáo, ý kiến chỉ đạo của UBND tỉnh Quảng Ngãi, các cơ quan liên ngành, Ban chỉ đạo giải phóng mặt bằng (GPMB) UBND huyện Bình Sơn và thông qua các công trình, bài viết, tạp chí, internet…để lấy thông tin, số liệu liên quan đến pháp luật và thực hiện pháp luật về bồi thường,hỗ trợ, TDC khi NNTHĐ tại địa bàn huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng ngãi từ khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực đến nay
5.2 Phương pháp thống kê
Sử dụng để thống kê số liệu về giá đất bồi thường, nhà và tài sản trên đất; số liệu về hỗ trợ và tái định cư phục vụ cho mục đích nghiên cứu
5.3 Phương pháp phân tích, đánh giá tổng hợp
Dùng phương pháp này để nhận định thực trạng công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án và đề xuất các giải pháp có tính khoa học và phù hợp với thực tiễn khi triển khai thi hành
Trang 14Phương pháp này được được sử dụng để tổng hợp và phân tích các quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, TDC khi NNTHĐ, cũng như các thông tin về thực tiễn áp dụng Phương pháp này còn được sử dụng để có được các nhận xét, đánh giá trình bày trong luận văn
5.4 Phương pháp thống kê
Phương pháp này được sử dụng nhằm xử lý các tài liệu, các số liệu thu thập trong quá trình khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật về bồi thường khi NNTHĐ
5.5 Phương pháp phỏng vấn sâu
Phương pháp này chủ yếu được thực hiện bằng cách phỏng vấn trực tiếp một
số cán bộ lãnh đạo UBND huyện Bình Sơn các cán bộ tham gia trực tiếp lập phương án BT, HT và TĐC của Trung Tâm Phát triển Quỹ đất huyện Bình Sơn, Hội Đồng BT, HT và TĐC huyện Bình Sơn, một số chuyên gia trong lĩnh vực pháp luật
về bồi thường khi NNTHĐ, người bị THĐ, nhà đầu tư
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận của luận văn
Các kết quả nghiên cứu của luận văn có thể là nguồn tài liệu tham khảo cần thiết và đáng tin cậy đối với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong hoạt động ban hành, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật đất đai liên quan tới lĩnh vực bồi thường, hỗ trợ, TDC khi NNTHĐ
6.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Luận văn còn có giá trị tham khảo hữu ích trong công tác giảng dạy và học tập môn học LĐĐ tại các cơ sở đào tạo cũng như trong hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đất đai nói chung và pháp luật về bồi thườnghỗ trợ, TDC khi NNTHĐ nói riêng Bên cạnh đó, các giải pháp mà học viên đưa ra có thể được các cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền tham khảo và ứng dụng vào thực
tiễn công tác bồi thường, GPMB, hỗ trợ và TĐC
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Trang 15Chương 1 Những vấn đề lý luận thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Chương 2 Thực tiễn thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất tại địa bàn huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
Chương 3 Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật và đảm bảo thực
hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nhìn từ thực tiễn huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
Trang 16Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG,
HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
1.1.1 Khái niệm bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Trước đây, Điều 1, Luật Đất đai năm 1993 quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý Nhà nước giao đất cho các tổ chức kinh
tế, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội (gọi chung
là tổ chức), hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài Nhà
nước còn cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuê đất Tổ chức, hộ gia đình và
cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất trong Luật này gọi chung là người sử
dụng đất” [2 Điều 1]
Điều 5 Luật Đất đai năm 2003 quy định: “Sở hữu đất đai 1 Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu 2 Nhà nước thực hiện quyền định đoạt đối với đất đai như sau:a) Quyết định mục đích sử dụng đất thông qua việc quyết định, xét duyệt quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất (sau đây gọi chung là quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất); b) Quy định về hạn mức giao đất và thời hạn sử dụng đất;c) Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất;d) Định giá đất 3 Nhà nước thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất đai thông qua các chính sách tài chính về đất đai như sau:a) Thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất;b) Thu thuế sử dụng đất, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất; c) Điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất mà không do đầu tư của người sử dụng đất mang lại 4 Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất đối với người đang sử dụng đất ổn định; quy định quyền và nghĩa vụ của người sử
dụng đất” [3, Điều 5]
Trên cơ sở Hiến pháp 2013, nay Điều 4, Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Đất
Trang 17đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý
Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho sử dụng đất theo quy định của luật này” [4,
Điều 4]
Do có sự thay đổi trong quy định của pháp luật về đất đai, nên việc thực hiện các quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có khác so với pháp luật đất đai và các văn bản hướng dẫn ban hành trong thời kỳ trước đó
1.1.1.1 Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Trong quá trình thực hiện kế hoạch công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, chúng ta cần đến một lượng quỹ đất nhất định để xây dựng kết cấu hạ tầng và triển khai thực hiện các dự án Hiện tại, huyện Bình Sơn nói riêng và Quảng Ngãi nói chung đã và đang triển khai nhiều dự án với các mục tiêu phát triển các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu đô thị một cách đồng bộ Để thực hiện được các mục tiêu chiến lược nói trên theo kế hoạch công nghiệp hóa - hiện đại hóa, thì công tác thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng để tạo ra một quỹ đất luôn là khâu tiền đề quan trọng; có ý nghĩa then chốt để phát triển kinh tế - xã hội theo kế hoạch về các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu đô thị
Theo nghĩa thông thường, bồi thường là đền bù những tổn hại do một chủ thể
đã gây ra Bồi thường có nghĩa là đền bù, trả lại những thiệt hại, tổn thất tương xứng với giá trị hoặc công lao Như vậy, bồi thường là trả lại tương xứng những thiệt hại, tổn thất đúng với giá trị hoặc công lao cho một chủ thể nào đó bị thiệt hại
vì hành vi của chủ thể khác
Bồi thường trong quan hệ đất đai chính là đền bù thiệt hại về đất Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội đã định nghĩa: đền bù thiệt hại về đất là “nghĩa vụ của Nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân nhằm bù đắp thiệt hại về vật chất cho người sử dụng đất trong trường hợp bị thu hồi đất để chuyển sang sử dụng vào mục đích khác hoặc vì nhu cầu của Nhà nước, xã hội Tổ chức,
cá nhân được Nhà nước giao đất để sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia phải đền bù cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân bị
thu hồi đất và đủ điều kiện để được đền bù thiệt hại về đất” [21, tr 29] Cần lưu ý
Trang 18rằng đền bù thiệt hại về đất trong điều kiện đất đai thuộc sở hữu toàn dân khác với
đất đai thời kỳ thuộc sở hữu tư nhân [32, tr 45]
Luật Đất đai 2013 đã quy định cụ thể về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người sử dụng đất hoặc trả bằng tiền theo nguyên tắc sau; “1 Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường;2 Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất
có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của từng loại đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất; 3 Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời
và đúng quy định của pháp luật” [4, Điều 74]
1.1.1.2 Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, Viện Khoa học xã hội Việt
Nam, thì: “Hỗ trợ là giúp đỡ nhau, giúp thêm vào” [22, tr 458]; hỗ trợ có tính chất
như tương hỗ: có quan hệ qua lại để giúp đỡ lẫn nhau (thường dùng phụ sau một số
động từ [22, tr 1060]
Luật Đất đai 2013 đã quy định cụ thể về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất rất cụ thể như sau:“Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất 1 Nguyên tắc hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất: a) Người sử đất khi Nhà nước thu hồi đất ngoài việc được bồi thường theo quy định của Luật này còn được Nhà nước xem xét hỗ trợ; b) Việc hỗ trợ phải bảo đảm khách quan, công bằng, kịp thời công khai và đúng quy định của pháp luật
2 Các khoản hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất bao gồm: a) Hỗ trợ ổn định đời sống
và sản xuất; b) Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với việc thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp; thu hồi đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ của hộ gia đình, cá nhân mà phải di chuyển chỗ ở; c) Hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà phải di chuyển chỗ ở; d) Hỗ trợ
khác” [4, Điều 83] Như vậy, với tính chất như là một sự hỗ trợ (trợ giúp) trong việc
Trang 19thu hồi đất chính là việc Nhà nước sẽ hỗ trợ một khoản tiền có giá trị tương xứng giá trị quyền sử dụng đất bị thu hồi hoặc cấp đổi một mảnh đất khác để người có đất
bị thu hồi tái định cư, ổn định cuộc sống, ổn định sản xuất Thực chất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, ổn định sản xuất, kinh doanh
Hình thức hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất thường là bằng hình thức một khoản tiền nhất định, có tính chất như một khoản tiền đền bù các thiệt hại mà người
sử dụng đất có đất bị thu hồi phải gánh chịu.Đây là “khoản tiền mà người sử dụng đất được đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc
phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng” [21, tr 70]
Trong thực tế, việc hỗ trợ trong thu hồi đất còn bao hàm cả ý nghĩa tạo điều kiện người có đất bị thu hồi được trợ giúp để mau chóng ổn định cuộc sống bằng hình thức tái định cư để có chỗ ở (thành ngữ: an cư mới lạc nghiệp) và có đất canh tác khác để ổn định cuộc sống Do có sự thay đổi trong quy định của pháp luật về đất đai năm 2013, các quy định về hỗ trợ khi thu hồi đất được quy định đầy đủ, chi tiết và có sự phân loại khá cụ thể Vì vậy, việc thực hiện các quy định về hỗ trợ trong các trường hợp thu hồi đất cũng có những khác biệt so với pháp luật đất đai và các văn bản hướng dẫn ban hành trong thời kỳ trước đó Về bản chất, “Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời
sống, sản xuất và phát triển” [14, Điều 3]
1.1.1.3 Tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Tái định cư là việc di chuyển đến một nơi khác với nơi ở trước đây để sinh sống và làm ăn Tái định cư bắt buộc đó là sự di chuyển không thể tránh khỏi khi Nhà nước thu hồi hoặc trưng thu đất đai để thực hiện các dự án phát triển kinh tế -
xã hội hoặc vì mục tiêu an ninh, quốc phòng
Tái định cư được hiểu là một quá trình từ bồi thường thiệt hại về đất, tài sản gắn liền với đất; di chuyển đến nơi ở mới và các hoạt động hỗ trợ để xây dựng lại sản xuất và ổn định cuộc sống tại đó
Như vậy, tái định cư là hoạt động nhằm giảm các tác động xấu về kinh tế - xã
Trang 20hội đối với một bộ phận dân cư đã gánh chịu vì sự phát triển chung Hiện nay ở nước ta khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở, thì người sử dụng đất được bố trí tái định cư bằng một trong các hình thức sau:
Bồi thường bằng nhà ở
Bồi thường bằng giao đất ở mới
Bồi thường bằng tiền để tự lo chỗ ở
Tái định cư là một quy định không thể tách rời và giữ vị trí quan trọng trong chính sách giải phóng mặt bằng Các dự án tái định cư cũng được coi là dự án phát triển và phải được thực hiện như các dự án phát triển khác Luật Đất đai năm 2013
đã quy định cụ thể điều kiện về khu tái định cư như sau: “ 2 Khu tái định cư phải xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ, bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng, phù hợp với điều kiện, phong tục, tập quán của từng vùng, miền 3 Việc thu hồi đất ở chỉ được thực hiện sau khi hoàn thành xây dựng nhà ở hoặc cơ sở hạ tầng của khu tái
định cư” [4, Điều 85] Việc bố trí tái định cư cho người có đất ở bị thu hồi mà phải
di chuyển chỗ ở thực hiện theo quy định tại Điều 86 Luật Đất đai năm 2013
Có thể thấy rằng, với những quy định mới trong Luật Đất đai năm 2013, các quy định về tái định cư được quy định đầy đủ, chi tiết và có sự phân biệt các vùng, miền và chú ý tới phong tục tập quán cụ thể Vì vậy, việc thực hiện các quy định về tái định cư trong các trường hợp thu hồi đất ở mà phải di chuyển chỗ ở cũng có những khác biệt so với pháp luật đất đai và các văn bản hướng dẫn ban hành trong thời kỳ trước đây riêng về tái định cư
Để có được quỹ đất thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội công tác giải phóng mặt bằng có ý nghĩa quan trọng Giải phóng mặt bằng là quá trình thực hiện các công việc liên quan đến việc di dời nhà cửa, cây cối, các công trình xây dựng và một bộ phận dân cư trên một phần đất nhất định được quy hoạch cho việc cải tạo, mở rộng hoặc xây dựng một công trình mới Quá trình giải phóng mặt bằng được tính từ khi bắt đầu hình thành hội đồng giải phóng mặt bằng đến khi giải phóng xong và giao cho chủ đầu tư mới Đây là một quá trình đa dạng và phức tạp thể hiện sự khác nhau giữa các dự án và liên quan đến lợi ích trực tiếp của các bên tham gia và cả của xã
Trang 21hội
1.1.2 Khái niệm thực hiện pháp luật
Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành hành vi hợp pháp của các cá nhân, tổ chức khi tham gia vào các quan hệ xã hội do pháp luật điều chỉnh
Học thuyết Mác - Lênin về Nhà nước và pháp luật lần đầu tiên trong lịch sử đã
lý giải một cách đúng đắn, khoa học về bản chất của pháp luật và những mối quan
hệ của nó với các hiện tượng xã hội khác nhau trong xã hội có giai cấp, pháp luật chỉ phát sinh, tồn tại và phát triển trong xã hội có giai cấp
Pháp luật: Là hệ thống các quy tắc xử sự chung (quy phạm pháp luật) do nhà
nước ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, được nhà nước bảo đảm thức hiện, kể cả bằng biện pháp cưỡng chế, để điều chỉnh các quan hệ xã
hội, duy trì xã hội trong một trật tự có lợi cho giai cấp thống trị [32, tr.139]
Pháp luật xã hội chủ nghĩa là hệ thống các quy tắc xử sự chung (qui phạm pháp luật) thể chế hoá đường lối chủ trương của Đảng, thể hiện ý chí của nhân dân, được Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện trên cơ sở giáo dục, thuyết phục,
nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa [32, tr.143]
Pháp luật bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất là một bộ phận cấu thành của hệ thống pháp luật nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Để làm sáng tỏ khái niệm pháp luật BT,HT và TĐC khi nhà nước thu hồi đất trước hết cần làm rõ một số khái niệm có liên quan đến khái niệm BT,HT và TĐC khi nhà nước thu hồi đất như: khái niệm bồi thường, khái niệm hỗ trợ, khái niệm tái định cư
và khái niệm thu hồi đất
1.2 Nguyên tắc và các yếu tố đảm bảo thực hiện pháp luật về bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất
Các nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất được quy định cụ thể tại điều 74,75,76,77,78,79, 80, 81, 82, 83, 84, 85,86, 87,88,
89, 90 và điều 91 Luật Đất Đai 2013, hướng dẫn thực hiện tại Nghị định 47/2014/NĐ-CP, Sửa đổi bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật
Trang 22Đất Đai tại Nghị định 01/2017/ NĐ-CP
1.2.1 Các thiệt hại cần xem xét, xác định khi Nhà nước thu hồi đất để bồi thường
Trên phương diện lý luận, thiệt hại về vật chất và tinh thần của người bị THĐ
là hậu quả phát sinh trực tiếp từ việc THĐ của Nhà nước Trong khi đó, quyền SDĐ
và quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của mọi tổ chức, cá nhân đã được Hiến pháp, pháp luật ghi nhận và bảo vệ Do vậy, chúng ta phải xác định đúng, đầy đủ và khách quan những thiệt hại xảy ra khi Nhà nước THĐ để xây dựng phương án BT “thỏa đáng” trên cơ sở đảm bảo hài hòa quyền lợi Nhà nước, của NĐT, nhất là đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị THĐ Với cách tiếp cận nêu trên, các thiệt hại mà người bị THĐ có thể phải gánh chịu bao gồm:
Thứ nhất, thiệt hại về công sức đầu tư mà người bị THĐ bỏ ra đểlàmtănggiá trị
quyền SDĐ Không những thế, đây còn là thiệt hại về quyền khai thác và hưởng các lợi ích từ diện tích đất đai do bị Nhà nước thu hồi
Thứ hai, thiệt hại về tài sản là thành quả lao động và kết quả đầu tư củangười
bị THĐ được tạo ra trong quá trình SDĐ, gồm: nhà cửa, các công trình kiến trúc, cây trồng và các tài sản khác gắn liền với đất
Thứ ba, thiệt hại về chi phí đầu tư vào đất mà đến thời điểm NNTHĐ cònchưa
thu hồi được Chi phí đầu tư vào đất còn lại được xác định bằng tổng chi phí hợp lý tính thành tiền đầu tư vào đất trừ đi số tiền tương ứng với thời gian đã SDĐ Các khoản chi phí đầu tư vào đất còn lại gồm: tiền SDĐ của thời hạn chưa SDĐ trong trường hợp giao đất có thời hạn, tiền thuê đất đã nộp trước cho thời hạn chưa SDĐ (có chứng từ hóa đơn nộp tiền), chi phí san lấp mặt bằng, tôn tạo đất theo hiện trạng khi được giao, được thuê, phù hợp với mục đích SDĐ và các chi phí khác có liên quan
Thứ tư, thiệt hại do ngừng việc, ngừng sản xuất kinh doanh khi NNTHĐngười
SDĐ bị mất việc làm hoặc bị ngưng trệ quá trình sản xuất kinh doanh
Thứ năm, các thiệt hại vô hình mà người bị THĐ phải gánh chịu như: chỗ
ởmới xa hơn, xa trường học và bệnh viện, chi phí sinh hoạt trong thời gian học
Trang 23nghề, thời gian và chi phí để chuyển hộ khẩu về nơi ở mới, thời gian xin chuyển trường học cho con cái,… Các thiệt hại này, từ trước đến nay chưa được xem xét và định giá để làm căn cứ BT Tuy nhiên, Nhà nước cũng chỉ nên đặt ra các tiêu chí và phương pháp để xác định giá trị của các thiệt hại vô hình, chứ không nên đưa ra một con số cụ thể Chính người bị THĐ sẽ là người trực tiếp tính toán những thiệt hại vô hình của họ, sau đó những giá trị vô hình mà người bị THĐ đã tính toán cần được thẩm định lại một cách khách quan, toàn diện bởi một cơ quan thẩm định độc lập
Lý do Nhà nước phải BT cho người bị THĐ là dựa trên căn cứ đất đai là “tài sản” đặc biệt mang tính tự nhiên Hơn nữa, trong quá trình sử dụng, sự tác động của con người đối với đất đai có thể làm tăng giá trị của đất Phần giá trị tăng thêm này
do người SDĐ tạo ra thì Nhà nước phải có trách nhiệm BT khi NNTHĐ
Bên cạnh đó, đất đai là tài nguyên có hạn, nó đóng một vai trò vô cùng quan trọng, không chỉ liên quan trực tiếp đến lợi ích của người SDĐ, của cộng đồng xã hội
mà còn ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của Nhà nước Bởi vậy, khi NNTHĐ, tùy từng trường hợp cụ thể mà người bị thu hồi sẽ được BT về đất, về tài sản gắn liền với đất, BT các chi phí khác có liên quan, được hưởng các chính sách hỗ trợ (hỗ trợ di chuyển, đào tạo và chuyển đổi nghề nghiệp…) và bố trí TĐC đối với trường hợp phải
di chuyển chỗ ở Đây là vấn đề hết sức khó khăn, phức tạp và nhạy cảm Để giải quyết vấn đề này một cách “thấu tình, đạt lý” thì cần phải xác định đầy đủ, khách quan và đúng các thiệt hại mà người bị THĐ phải gánh chịu Ngược lại, khi xác định không đúng và giải quyết không thấu đáo các vấn đề nêu trên, một mặt các quyền và lợi ích của người SDĐ sẽ không được đảm bảo, mặt khác nó còn dẫn đến các hệ lụy khác gây bất ổn an ninh chính trị cũng như gia tăng sự nghèo đói của một bộ phận
Trang 24sống, sản xuất của người bị THĐ Bởi vậy, khi tiến hành THĐ, Nhà nước cần có những biện pháp thỏa đáng để giải quyết mối quan hệ về lợi ích giữa Nhà nước, người bị THĐ và những người được hưởng lợi từ việc THĐ Để đảm bảo lợi ích giữa các chủ thể nêu trên cần cân nhắc và giải quyết theo hướng sau:
Về phía Nhà nước: tiến hành THĐ là nhằm phân phối lại quỹ đất cho phùhợp
với mục tiêu quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế- xã hội Thêm vào đó, với chức năng đại diện cho chủ sở hữu, Nhà nước sẽ thực hiện vai trò điều tiết các lợi ích kinh tế của các chủ thể liên quan đến việc THĐ chủ yếu thông qua các chính sách tài chính về đất đai nhằm đem lại nguồn thu cho ngân sách Nhà nước
Về phía người được hưởng lợi từ việc THĐ (nhà đầu tư, các tổ chức, cá nhân khác…): có thể nói những chủ thể này ít nhiều đều được hưởng lợi ích nhấtđịnh từ
hoạt động THĐ của Nhà nước Do đó, lợi ích này cần phải tính toán và giải quyết một cách hài hòa, để đảm bảo lợi ích cho NĐT Mặt khác, Nhà nước phải xác lập được cơ chế, chế tài ràng buộc trách nhiệm của NĐT để tránh hiện tượng vì lợi ích của chính NĐT sẵn sàng làm phương hại đến lợi ích hợp pháp của người bị THĐ Mặc khác Nhà nước cũng cần phải xem xét và giải quyết mối quan hệ về lợi ích giữa người bị THĐ với những người được hưởng lợi từ việc THĐ sử dụng vào mục đích công cộng như xây dựng đường giao thông, công viên, trường học, bệnh viện…Vì người bị THĐ có thể phải di chuyển chỗ ở hoặc bị mất một phần diện tích đất nhất định, nhưng có những người SDĐ gần khu vực đó không những không bị mất đất mà còn được hưởng lợi do việc Nhà nước đã đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KT-XH đã làm tăng giá trị quyền SDĐ của các chủ thể này Hơn nữa, hiện nay Nhà nước vẫn chưa có cơ chế nhằm điều tiết một phần giá trị tăng thêm từ đất mà không phải do người SDĐ đầu tư mang lại, do đó đã tạo ra sự bất bình đẳng giữa các chủ thể sử dụng đất với nhau và hiển nhiên về phần Nhà nước cũng mất đi một nguồn thu đáng kể cho ngân sách
Về phía người bị THĐ: cần nhận thức đầy đủ về lợi ích chung mang lại cho
cộng đồng từ việc THĐ của Nhà nước, do đó khi Nhà nước đã thực hiện BT, HT và TĐC theo đúng quy định của pháp luật thì họ phải có trách nhiệm bàn giao mặt
Trang 25bằng đúng thời hạn Song, thực tế vẫn còn tồn tại nhiều trường hợp người bị THĐ được BT với mức giá thỏa đáng, nhưng họ vẫn cố tình chậm bàn giao mặt bằng với suy nghĩ chay ì kéo dài sẽ được nhận mức giá BT cao hơn Vấn đề này xảy ra một mặt dẫn đến tình trạng khiếu nại kéo dài, vượt cấp, mặt khác kéo dài thời gian GPMB làm chậm tiến độ triển khai thực hiện dự án, gây lãng phí, thất thoát rất lớn cho Nhà nước, NĐT và cho xã hội Như vậy, lợi ích của các chủ thể nêu trên không phải lúc nào cùng đồng hành sát cánh cùng nhau, nhiều khi các lợi ích đó sẽ xung đột với nhau Việc xác định và giải quyết tốt mối quan hệ về lợi ích giữa các bên không những tạo ra sự đồng thuận trong quá trình thực hiện BT, GPMB, mà còn
góp phần đảm bảo thực hiện tốt nguyên tắc công bằng, công khai trong SDĐ [34,
tr.14]
1.3 Vai trò của việc thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư khi Nhà nước thu hồi đất
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, giữ vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội và sự ổn định đời sống của người dân Trong quá trình phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, việc thu hồi đất để phục vụ cho lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế - xã hội là một quá trình tất yếu, tác động rất lớn đến người bị thu hồi đất Để bù đắp cho họ một phần thiệt thòi đó, Nhà nước ta đã ban hành chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dành cho người bị thu hồi đất, từng bước hoàn thiện theo hướng tạo điều kiện ngày càng tốt hơn cho người có đất bị thu hồi ổn định đời sống và sản xuất
Tuy nhiên, đất đai là vấn đề lớn, phức tạp và rất nhạy cảm, trong khi các quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thường xuyên thay đổi dẫn tới tình trạng so
bì, khiếu nại của người có đất bị thu hồi qua các dự án hoặc trong một dự án nhưng thực hiện thu hồi đất qua nhiều năm Mặt khác, Luật đất đai 2003 chưa có cơ chế bắt buộc để bảo đảm có quỹ đất và nguồn vốn xây dựng khu tái định cư trước khi thu hồi đất; chất lượng các khu tái định cư được xây dựng cũng chưa đáp ứng yêu cầu “có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ”; chưa chú trọng tạo việc làm mới, chuyển đổi nghề cho người có đất bị thu hồi; việc lập và tổ chức thực hiện
Trang 26phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại một số dự án còn thiếu kiên quyết, thiếu dân chủ, công khai, minh bạch; năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ làm công tác giải phóng mặt bằng ở nhiều nơi còn chưa đáp ứng yêu cầu; chưa phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng tham gia thực hiện Một số địa phương thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành; chưa làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, giải thích cho nhân dân hiểu rõ quy định của pháp luật hoặc né tránh, thiếu cương quyết, không giải quyết dứt điểm, làm cho việc giải phóng mặt bằng bị kéo dài nhiều năm Trong khi đó, Tổ chức Phát triển quỹ đất chưa được quan tâm đầu tư đúng mức về kinh phí và nhân lực để thực hiện thu hồi đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt, tạo quỹ “đất sạch” triển khai khi có dự án đầu
tư
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
1.4.1 Yếu tố chính trị
Thứ nhất, quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng, hoàn thiện chínhsách,
pháp luật đất đai nói chung và chính sách, pháp luật về BT khi NNTHĐ nói riêng Xét về phương diện lý luận, pháp luật là sự thể chế hoá, quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng Hoạt động xây dựng pháp luật đất đai nói chung và pháp luật
về BT, HT khi NNTHĐ nói riêng không thể “thoát ly” các quan điểm, đường lối, chủ
trương của Đảng về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nước Ở nước ta, trong điều kiện một Đảng cầm quyền, một trong những phương thức lãnh đạo của Đảng là ban hành các quan điểm, đường lối, chủ trương về phát triển đất nước Trên cơ sở đó, Nhà nước thể chế hoá các quan điểm, đường lối của Đảng bằng các quy định của pháp luật để quản lý
xã hội Như vậy, quan điểm, đường lối của Đảng có tác động trực tiếp đến quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật đất đai nói chung và pháp luật về BT khi NNTHĐ nói riêng
Thứ hai, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở nước ta, do tính đặc thù đất đai
thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu Chế độ sở hữu đó đã tác động đến nội dung các quy định của pháp luật về BT khi NNTHĐ thể hiện trên một
Trang 27số khía cạnh cơ bản sau đây: Một là, ở nước ta, trong trường hợp thật cần thiết khi
Nhà nước có nhu cầu sửdụng đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; lợi ích quốc gia,…thì Nhà nước thực hiện việc THĐ có BT cho người sử dụng đất chứ Nhà nước
không mua đất của chủ đất như các nước có chế độ sở hữu tư nhân về đất đai; Hai
là, việc BT, HT &TĐC cho người bị THĐ căn cứ vào giá đất cụ thể do Nhà nước
xác định tại thời điểm THĐ chứ không căn cứ vào giá đất trên thị trường; Ba là,
không phải bất cứ người bị THĐ nào cũng được Nhà nước BT mà chỉ những người
sử dụng có đủ các điều kiện theo quy định mới được BT khi NNTHĐ; Bốn là,
không phải bất cứ cơ quan nhà nước nào cũng có thẩm quyền THĐ mà chỉ những
cơ quan được pháp luật cho phép thì mới được THĐ [40, tr.49]
1.4.2 Yếu tố kinh tế
Cơ chế quản lý kinh tế cũng có những tác động nhất định đến pháp luật BT khi NNTHĐ Trước đây, trong cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp pháp luật nghiêm cấm việc mua bán, chuyển nhượng đất đai Do đó, đất đai có giá trị thấp Tuy nhiên, kể từ khi nền kinh tế nước ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, Nhà nước chủ trương xây dựng và phát triển nhiều thành phần kinh tế; các thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật… Trong điều kiện kinh tế thị trường
cơ chế quản lý đất đai có sự thay đổi: Nhà nước thừa nhận QSDĐ là loại hàng hoá đặc biệt và được trao đổi trên thị trường Việc THĐ gặp nhiều khó khăn do người bị THĐ không đồng thuận với phương án BT khi NNTHĐ, phát sinh các tranh chấp, khiếu kiện vượt cấp, phức tạp, kéo dài, tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định xã hội, vì vậy, pháp luật về BT khi NNTHĐ thường xuyên được rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu của quản lý đất đai trong điều kiện kinh tế thị trường
1.4.3 Yếu tố tâm lý xã hội, nhận thức xã hội
Công tác BT khi NNTHĐ cũng chịu tác động không nhỏ của tâm lý và nhận thức xã hội của người có đất bị thu hồi, tổ chức cá nhân sử dụng đất sau khi thu hồi bởi với truyền thống văn hóa, các quan niệm được hình thành trong đời sống xã hội như quan niệm về phong thủy, tâm lý số đông đã tác động trực tiếp đến công tác BT
Trang 28khi NNTHĐ Nếu việc THĐ được BT, HT chỗ ở mới phù hợp với quan niệm, phong thủy hoặc nhân dân chấp hành tốt pháp luật về quyền, lợi ích của mình sẽ tạo được động lực thúc đẩy quá trình GPMB, nhân dân đồng tình ủng hộ, thống nhất di dời vào nơi ở mới từ đó sẽ giúp cho quá trình GPMB được nhanh hơn Ngược lại, nếu nhận thức xã hôị chưa cao, người THĐ có tâm lý không muốn di dời giải tỏa đến nơi ở mới sẽ tác động tiêu cực đến kết quả thực thị pháp luật về BT khi NNTHĐ
1.4.4 Yếu tố hội nhập quốc tế
Quá trình hội nhập quốc tế cũng có những tác động không nhỏ tới pháp luật về
BT khi NNTHĐ.Để gia nhập các tổ chức Thương mại thế giới, các hiệp định song phương, đa phương…nước ta cam kết tuân thủ và thực thi nghiêm chỉnh các quy định, luật lệ của Tổ chức này Những nguyên tắc cơ bản mà Tổ chức Thương mại thế giới đặt ra và yêu cầu các quốc gia thành viên phải cam kết; đó là: Nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử trong kinh doanh; nguyên tắc công khai, minh bạch; cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một đầu mối và thống nhất quy trình chung áp dụng cho cả nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài trong việc GPMB để thực hiện các dự án đầu tư, cơ chế một giá trong quá trình áp giá BT là những nội dung liên tục được sửa đổi, bổ sung và điều chỉnh trong pháp luật hiện hành thời gian qua, chúng đã và đang dần hài hòa với pháp luật thế giới
[40, tr.49]
Kết luận Chương 1
Chương 1 đã đề cập các vấn đề lý luận về việc thực hiện pháp luật trong việc
BT, HT, TĐC Tổng hợp các khái niệm về BT, HT, TĐC Đồng thời phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật về BT, HT, TDC Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là điều kiện để tồn tại của mỗi con người và sinh vật khác trên trái đất, là yếu tố đầu vào không thể thiếu trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội Đối với nước ta, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Việc Nhà nước giao đất, cho thuê đất là việc giao QSDĐ
Trang 29đó cho tổ chức, cá nhân quản lý, sử dụng Nước ta đang trong quá trình đẩy mạnh CNH-HĐH nhằm thực hiện mục tiêu đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Do đó, việc THĐ là một tất yếu khách quan, nhằm giải quyết vấn đề đất đai đáp ứng nhu cầu của CNH-HĐND xây dựng, phát triển đất nước
Trang 30Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN BÌNH SƠN TỈNH QUẢNG NGÃI
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về bồi thường,hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Huyện Bình Sơn thuộc vùng đồng bằng ven biển, nằm ở vùng phía đông bắc tỉnh Quảng Ngãi có tọa độ địa lý từ 15o11’30’’ đến 15o25’40’’ vĩ độ Bắc và
108o34’00’’ đến 108o56’40’’ kinh độ đông Có địa giới hành chính:
+ Phía Bắc giáp huyện Núi Thành tỉnh Quảng Nam
+ Phía Nam giáp huyện Sơn Tịnh
+ Phía Đông giáp với Biển Đông
+ Phía Tây giáp huyện Trà Bồng
Trung tâm kinh tế-chính trị-xã hội của huyện nằm giáp sát Quốc Lộ 1A, cách trung tâm thành phố Quảng Ngãi 20km, cách thành phố Đà Nẵng 120km Đồng thời Bình Sơn có tuyến đường sắt Bắc-Nam chạy qua cùng các tuyến tỉnh lộ và huyện lộ thông suốt khác, có các cảng biển Sa Kỳ và vùng nước sâu Dung Quất gắn với bờ là vùng đất thuận lợi cho xây dựng với diện tích mặt bằng rộng, nằm gần sân bay chu Chu lai trong vùng trọng điểm của kinh tế miền trung
Bình Sơn thuộc dải đồng bằng duyên hải Miền Trung nhỏ hẹp, tiếp cận biển Đông và vùng đồi núi thấp nối tiếp với Đông Trường Sơn Dáng địa hình chung của huyện nghiêng từ Tây sang Đông với 3 dạng địa hình:
Địa hình đồi núi phía Tây diện tích 12.600 ha với độ cao từ 25-100m, độ dốc bình quân 10-20o Ngoài sản xuất lương thực còn có thế mạnh là phát triển lâm nghiệp, công nghiệp đặc biệt là cây cao su Vùng đồng bằng diện tích 14.777 ha có
độ cao từ 1-10m Đây là vùng kinh tế chủ yếu của huyện đã cơ bản giải quyết xong
Trang 31gò đồi phía đông diện tích 19.300 ha có độ cao từ 30-60m độ dốc bình quân từ
8-15o đây là vùng đất thường bị khô hạn vào mùa khô, diện tích trồng lúa ít, chủ yếu
là các loại cây màu và trồng cây lâm nghiệp như: bạch đàn, phi lao, keo Địa hình
bờ biển có các dạng mũi đất hoặc cửa sông, dạng nũi đất có bờ nhô ra biển, các dãy đồi cận bờ có độ cao từ 30-50m nhiều nơi lộ ra những dãi đá ngầm, san hô, đá ong Với diện tích tự nhiên 45.865,29 ha Đã đưa vào khai thác để sử dụng 29691,60 ha (64,74% quỹ đất của huyện) đất chưa sử dụng còn tương đối lớn 1617,69 ha Được hình thành từ 6 loại đất chính sau: nhóm đất cát biển, đất mặn, đất phù sa, đất đỏ vàng, đất xám, đất den nhóm đất đỏ vàng là loại đất chủ yếu trên địa bàn huyện được hình thành do quá trình phong hóa mạnh, tịch lũy sắt nhôm tương đối và sự rửa trôi của các chất kim loại kiềm thổ, sử dụng chủ yếu vào việc trồng lúa và cây công nghiệp ngắn ngày
2.1.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
Trong cơ cấu kinh tế huyện Bình Sơn năm 2016, ngành nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trộng tương đối cao tuy đã có sự chuyển dịch ngành nông nghiệp sang công nghiệp – xây dựng Theo thống kê năm 2016, tỷ trọng ngành nông nghiệp so với năm 2017 giảm 3,56% Đó là do phần diện tích đất sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản ở các xã Bình Hải, Bình Thuận, Bình Đông, Bình Trị, Bình Hòa đã được thu hồi phục vụ cho việc xấy dựng các khu công nghiệp tại địa phương, thực hiện định hướng phát triển kinh tế - xã hội của huyện đó là cơ bản trở thành huyện công nghiệp vào năm 2012 Huyện Bình Sơn đã đẩy mạnh việc thu hút các nhà đầu
tư trong và ngoài nước tập trung ở các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, du lịch và dịch vụ
2.1.3 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng
Hệ thống giao thông: Trong những năm qua thực hiện vốn đầu tư cơ bản,
đã mở mới và nâng cấp được nhiều tuyến đương, hơn 90 km đường liên xã khác có mặt đường rộng từ 3,5 – 4 m và hơn 70 km đường thôn rộng từ 2,5 –
3 m Tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển sản xuất và giao lưu hàng hóa giữa các vùng của nhân dân
Trang 322.1.4 Thực trạng phát triển của xã hội
Dân số, lao động, việc làm và thu nhập:Dân số là một vấn dề đặc biệt quan
trọng, thể hiện tiềm năng phát triển của mỗi địa phương Dân số trung bình của huyện Bình Sơn là 125.546 người, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,192% Dân cư phân bố không đều, mật độ thưa thớt, chênh lệch lớn giữa các khu vực; có những xã mật độ dân số trên đưới 1.000 người/km như thị trấn Châu Ổ, xã Bình Châu, Bình Thới; có xã có mật độ dân số thấp dưới 300 người/km2 như Bình Thanh Tây (245 người/km2), Bình Minh (312 người/km2) Dân cư chủ yếu là dân tộc kinh, sống chủ yếu bằng buôn bán, dịch vụ nhỏ và nông nghiệp, ngư nghiệp Một số bộ phận dư cư sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Trình độ dân trí và mức sống tương đối vẫn còn phụ thuộc vào thiên nhiên.Dân số trong độ tuổi lao động của huyện là 80.263 người, trong đó lao động nữ là 41.435 người chiếm 51,624% Với lực lượng lao động đông đảo vấn đề giải quyết việc làm trở nên cấp bách đối với chính quyền địa phương Nó là một thế mạnh cũng là một thách thức đối với sự phát triển kinh tế
- xã hội của huyện Bình Sơn.Vì vậy, đào tạo nghề và thu hút nguồn nhân lực về làm việc tại địa phương là những ưu tiên hàng đầu mà chính quyền cần giải quyết Có như vậy mới đảm bảo được sự phát triển kinh tế bềnh vững, ổn định Đó là mục tiêu, là định hướng phát triển lâu dài của huyện Bình Sơn
2.1.5 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hộicủa địa phương
Thuận lợi
Với vị trí địa lý và mạng lưới giao thông như vậy, huyện Bình Sơn có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc lưu thông vận chuyển hàng hoá, giao lưu học hỏi về trình độ khoa học kỹ thuật, văn hoá và các hoạt động sản xuất kinh doanh khác Do
đó, công tác BTHT & TĐC đang được chú trọng quan tâm nhằm bàn giao mặt bằng kịp thời để thực hiện các dự án góp phần tạo nên diện mạo mới cho địa phương Địa hình tương đối bằng phẳng nên hạn chế sức người và sức của khi đi kiểm kê, đo đếm tài sản bồi thường, hỗ trợ góp phần đẩy nhanh tiến độ thực hiện Bên cạnh đó, các dự án đang được triển khai trên địa bàn phần lớn là lấy diện tích đất nông nghiệp nên công tác BT,HT & TĐC cũng diễn ra thuận lợi hơn, nhanh chóng hơn, ít
Trang 33các đơn thư khiếu nại hơn so với các dự án lấy diện tích đất ở.Hệ thống thông tin liên lạc tương đối phát triển cùng với sự phổ biến kịp thời các văn bản pháp luật liên quan đến vấn đề đất đai của chính quyền địa phương nên người dân sớm nắm bắt và thực hiện tốt, hạn chế bớt những thắc mắc và khiếu kiện của nhân dân khi bị giải
tỏa, góp phần làm minh bạch công tác BT, HT & TĐC
Địa bàn thấp trũng nên thường xuyên xảy ra ngập úng trên diện rộng, gây nhiều trở ngại, làm gián đoạn công tác kiểm kê tài sản và tiến độ thi công công trình vào mùa mưa lũ
Diện tích đất chưa sử dụng còn 1617,69 ha, phân bố rải rác trong vùng, nên khó có thể tận dụng để xây dựng được một dự án có quy mô
Dân số gia tăng dẫn đến việc không quản lý nổi việc xây dựng, đất đai ngày càng bị lấn, chiếm do nhu cầu ở ngày càng tăng lên, hiện tượng tách hộ, bán đất vườn không có giấy xác nhận của chính quyền địa phương để xây dựng nhà ở ngày càng trở nên phổ biến Điều này đã gây khó khăn trong việc xác định nguồn gốc đất
Trang 34lĩnh vực khuyến khích đầu tư như: công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ, công nghiệp phụ trợ; dịch vụ logistics; đầu tư kinh doanh cảng biển, dịch vụ hàng hải; đầu tư kinh doanh hạ tầng các khu công nghiệp, khu đô thị… kèm theo đó là chính sách ưu đãi, hỗ trợ nhà đầu tư nhằm tạo môi trường đầu tư thuận lợi và hấp dẫn
2.2.1 Tình hình sử dụng đất tại huyện Bình Sơn trong thời gian qua
Hiện trạng sử dụng đất
Tính đến ngày 01 tháng 01 năm 2015, tổng diện tích tự nhiên huyện Bình Sơn
là 46.677,29 ha Trong đó diện tích đất nông nghiệp là 29.345,72 ha; diện tích đât phi nông nghiệp là 10.546,02 ha và đất chưa sử dụng co diện tích 6.785,55 ha
Bảng 2.1 Hiện trạng sử dụng đất huyện Bình Sơn năm 2015
2.3 Đất tôn giáo, tín ngưỡng TTN 12,62 0,02
2.4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa NTD 268,57 0,57
2.5 Đất sông suối và mặt nước SMN 3.745,30 8,02
2.6 Đất phi nông nghiệp khác PNK 1.078,93 2,83
3 Đất chưa sử dụng CSD 6.785,55 14,55
3.1 Đất bằng chưa sử dụng BCS 587,86 1,26
3.2 Đất đồi núi chưa sử dụng DCS 4.379,18 9,39
3.3 Núi đá không có rừng cây NCS 1.818,51 3,9
(Nguồn: Phòng Tài nguyên – Môi trường huyện Bình Sơn 2015)
Trang 35+ Đất nông nghiệp: Diện tích là 29.345,72 ha chiếm 62,86% so với tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện Cụ thể như sau:
Đất sản xuất nông nghiệp: Diện tích là 8.125,12 ha chiếm 17,40%, gồm đất trồng cây hàng năm và trồng cây lâu năm, chủ yếu là đất trồng lúa chiếm diện tích lớn, phân bố chủ yếu ở các xã có điều kiện nước thường xuyên đảm bảo như: xã Bình Dương, xã Bình Thới, Bình Hòa,
Đất lâm nghiệp 19.134,07 ha chiếm 40,98%, chủ yếu là đất rừng sản xuất, phần lớn tập trung ở các xã Bình Thanh, Bình Phước, Bình Đông,
Đất nuôi trồng thủy sản 1.798,37 ha chiếm 3,85%, phần lớn tập trung ở các xã ven biển như: Bình Hải, Bình Châu,
Đất nông nghiệp khác có diện tích 286,96 ha chiếm 0,63%, phân bố rãi tác trên toàn huyện
+ Đất phi nông nghiệp: Diện tích 10.546,02 ha chiếm 22,59%, chủ yếu là đất
ở, đất chuyên dùng, đất sông suối và mặt nước chiếm diện tích lớn
+ Đất chưa sử dụng: Diện tích là 6.785,55 chiếm 14,55%, chủ yếu là đất đồi núi chưa sử dụng 4.379,18 ha (9,39%) và đất núi đá không có rừng cây 1.818,51 ha (3,9%) phân bố chủ yếu ở các xã đồi núi như: xã Bình Phú, Bình Thanh Đông,
Biểu đồ 2.1 Cơ cấu sử dụng đất đai năm 2010 của huyện Bình Sơn
Tình hình biến động đất đai trên địa bàn huyên Bình Sơn
Trang 36Bảng 2.2 Biến động diện tích đất theo mục đích sử dụng năm 2015 so với 2010
TT
Mục đích sử dụng đất Mã Diện tích 2010 Diện tích 2005 Tăng (+)
Giảm (-) Tổng diện tích tự nhiên 46.677,29 46.695,05 -1776
1 Đất nông nghiệp NNP 29.345,72 31.936,20 -2.590,48 1.1 Đất sản xuất nông nghiệp SXN 8.125,12 6.538,17 1.86,95 1.2 Đất lâm nghiệp LNP 19.134,07 20.314,60 -1.180,53 1.3 Đất nuôi trồng thủy sản NTS 1.798.37 2.351,24 -552,87 1.4 Đất nông nghiệp khác NKH 286.96 2.732,19 2.445,23
2 Đất phi nông nghiệp PNN 10.546,02 9.536,59 1.009,43 2.1 Đất ở OTC 2.074,47 1.975,20 99,27 2.2 Đất chuyên dùng CDG 3.137,08 2.954,32 182,76 2.3 Đất tôn giáo, tín ngưỡng TTN 12,62 12,53 0,09 2.4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa NTD 268,57 302,33 -3376 2.5 Đất sông suối và mặt nước SMN 3.745,30 3.316,39 428,91 2.6 Đất phi nông nghiệp khác PNK 1.078,93 975,82 103,11
3 Đất chưa sử dụng CSD 6.785,55 11.222,26 -4.436,71 3.1 Đất bằng chưa sử dụng BCS 587,86 1.564.87 -977,01 3.2 Đất đồi núi chưa sử dụng DCS 4.379,18 6.137.73 -1.758,55 3.3 Núi đá không có rừng cây NCS 1.818,51 3.519,66 -1.701,15
(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Bình Sơn)
So với năm 2010, diện tích đất nông nghiệp năm 2015 của huyện Bình Sơn là 29.345,72 ha, giảm 2,590,48 ha; diện tích đất chưa sử dụng là 6.785,55 ha, giảm 4.436,71 h; riêng phần diện tích đất phi nông nghiệp là 10.546,02 ha, tăng 1.009,43
ha so với năm 2005
Nguyên nhân của sự biến động là việc tăng mạnh diện tích đất phi nông nghiệp đó là đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa Để thực hiện nhiệm vụ này huyện đã tiến hành thu hồi và chuyển mục đích sử dụng đất theo kế
Trang 37hoạch đã đề ra Một phần diện tích đất nông nghiệp bao gồm đất trồng cây hàng năm, trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất rừng phòng hộ đã được thu hồi để phục vụ cho lĩnh vực công nghiệp, du lịch dịch vụ và phát triể cơ sở hạ tầng Đây là nguyên nhân chính dẫn đến sự biến động đất đai trong những năm qua của huyện.Bên cạnh đó, một phần diện tích đất chưa sử dụng đã được quy hoạch chuyển mục đích sử dụng qua đất ở, đất công trình sự nghiệp để tránh tình trạng sử dụng lãng phí tài nguyên dất Thực hiện theo đúng kế hoạch sử dụng đất 2010 – 2015 Đó cũng là nguyên nhân dẫn đến tình hình biến động trên
2.2.2 Thực hiện các quy định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Trong việc quản lý, sử dụng đất đai cơ quan nhà nước Trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ở huyện Bình Sơn thì căn cứ vào các văn bản pháp luật
về quản lý, sử dụng đất đai Bao gồm các Nghị định, Quyết định, Thông tư, Chỉ thị
do Nhà nước và các cấp có thẩm quyền ban hành Các văn bản quy phạm pháp luật nêu trên chính là căn cứ, hướng dẫn cho các cơ quan bồi thường cấp huyện Đồng thời nó cũng là cơ sở để cơ quan Nhà nước giải quyết các vấn đề về khiếu nại, tố cáo trong quá trình thực hiện công tác này
Bên cạnh việc ban hành các văn bản quy phạm về quản lý, sử dụng đất đai, việc tổ chức thực hiện các văn bản đó cũng có vai trò rất quan trọng Cụ thể trên địa bàn huyện Bình Sơn vấn đang tồn tại tình trạng nể nang, trọng tình hơn chấp hành quy định pháp luật trong giải quyết các mối quan hệ về đất đai Cán bộ địa chính, chủ tịch UBND xã nói chung chưa làm tốt nhiệm vụ phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật về đất đai trên địa bàn Đó là nguyên nhân làm giảm hiệu lực thi hành pháp luật, gây mất lòng tin trong nhân dân cũng như các nhà đầu tư và đã ảnh hưởng trực tiến đến tuyến độ GPMB
Lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là khâu quan trọng nhằm ổn định tình hình sản xuất Đây là tổng hợp các biện pháp kinh tế - kỹ thuật – pháp lý để phân bố đất đai cho các mục tiêu kinh tế - xã hội Nó là cơ sở khoa học cho việc sử dụng hợp
lý và có hiệu quả đất đai
Trên cơ sở bản đồ quy hoạch sử dụng đất, các xã xây dựng kế hoạch khai thác
Trang 38quỹ đất, quản lý tình hình sử dụng đất tại địa phương Phần diện tích đất đai sử dụng không có hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp đã được quy hoạch sử dụng vào mục đích phát triển công nghiệp, du lịch và dịch vụ
Tuy nhiên, việc công khai quy hoạch sử dụng đất chưa được thực hiện kịp thời gây tâm lý hoang mang, người dân không an tâm sản xuất, đồng thời đã tạo điều kiện cho các cá nhân trục lợi bất chính, làm mất lòng tin trong nhân dân
Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất
Trong giai đoạn 2006 – 2010, huyện Bình Sơn đã thu hồi tổng cộng 2.673,67
ha, riêng năm 2010 đã thu hồi 83,54 ha, bàn giao 45,315 ha Diện tích đất sau khi thu hồi chủ yếu dùng vào mục đích phát triển cơ sở hạ tầng, xây dựng khu kinh tế Dung Quất và mở Nghĩa địa Công tác thu hồi đất đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo đúng quy định của pháp luật
Vấn đề đặt ra sau khi thu hồi đất của người dân đó là đảm bảo ổn định cuộc sống, việc làm tại nơi ở mới của họ Chính vì vậy, đầu tư vào cơ sở hạ tầng khu tái định cư và chú trọng khâu đào tạo nghề là những biện pháp mà chính quyền địa phương đang tiến hành để giải quyết vấn đề trên
Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất
Trong công tác bồi thường, GPMB và bố trí TĐC, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là cơ sở pháp lý xác định chủ sử dụng đất, diện tích đang sử dụng, mục đích sử dụng đất để Nhà nước định giá trong bồi thường Vì vậy, công tác cấp giấy CNQSDĐ có ý nghĩa quan trọng ảnh hưởng đến tiến độ bồi thường, GPMB và bố trí TĐC
Trong giai đoạn 2006 – 2010, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện đã cấp mới 17.563 giấy CNQSDĐ, riêng năm 2010 cấp mới 6.546 giấy Tuy nhiên, nhiều
hồ sơ chưa được giải quyết, vẫn còn tình trạng hồ sơ tồn đọng Nguyên nhân là trong quá trình làm hồ sơ xét cấp, cán bộ địa chính không xem xét kỹ, hầu hết các thửa đất đều nằm trong vùng quy hoạch không được phép cấp mới cũng như chuyển mục đích sử dụng, việc này đã làm ảnh hưởng đến công tác quản lý đất đai của
Trang 39huyện
Thống kê, kiểm kê đất đai
Năm 2010, huyện Bình Sơn tiến hành kiểm kê theo định kỳ 5 năm một lần theo quy định tại khoản 2 Điều 58 Nghị định 181 kết quả kiểm kê đất đai của huyện đều đạt kết quả cao, đã tạo được tiền đề cơ sở khoa học cho việc xây dựng chủ trương phát triển kinh tế - xã hội của huyện trong những năm tiếp theo
Tuy nhiên việc theo dõi tình hình biến động các loại đất trên địa bàn còn nhiều hạn chế do nguồn tài liệu bản đồ có nhiều biến động, mới chủ yếu chỉnh lý biến động về số liệu, chỉnh lý biến động chưa được thực hiện kịp thời
Quản lý tài chính về đất đai
Công tác quản lý tài chính về đất đai được triển khai thực hiện theo đúng quy định của pháp luật Để thực hiện việc thu chi, liên quan đến đất đai, UBND huyện
đã tổ chức việc thu thuế nhà đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền sử dụng đất và tiền thuê đất trên cơ sở hệ thống các văn bản đã ban hành
Hàng năm UBND tỉnh Quảng Ngãi ban hành giá đất cho tất cả các huyện trên địa bàn tỉnh Đây là căn cứ được sử dụng trong công tác bồi thường, GPMB Thông qua giá đất, cơ quan Nhà nước sẽ quản lý dược tình hình tài chính về đất đai
Quản lý và phát triển thị trường chuyển quyền sử dụng đất trrong thị trường bất động sản
Hiện nay, tổ chức tư vấn giá đất, về bất động sản trên địa bàn huyện chưa được thành lập Cơ chế vận hành, quản lý và phát triển thị trường chuyển quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản với vai trò quản lý nhà nước về giá đất và thị trường bất động sản còn hạn chế và gặp nhiều khó khăn Trong thời gian trước đây
và đến nay việc quản lý nhà nước về giá đất trên địa bàn huyện co hiệu quả chưa cao, chủ yếu phụ thuộc vào khả năng cung, cầu trên thị trường
Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất
Đây là nội dung quan trọng trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai Nó đề cao ý thức trách nhiệm của chủ sử dụng đất Khi người sử dụng đất thực hiện đầy
đủ các quyền và nghĩa vụ đối với thửa đất, nó trở thành những căn cứ, cơ sở hỗ trợ
Trang 40hiệu quả cho công tác bồi thường, GPMB và bố trí TĐC
Thi hành các quy định pháp luật về đất đai trong điều kiện hiện nay, huyện đã quan tâm, đảm bảo thực hiện ngày càng đầy đủ tốt hơn các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất Người sử dụng đất được cấp GCNQSDĐ đúng quy hoạch, đúng luật Hiệu quả của công tác quản lý về đất đai được nâng lên, quyền và nghĩa vụ giữa người dân với Nhà nước được thực hiện đầy đủ theo quy định
Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và
xử lý vi phạm về đất đai
Trong những năm vừa qua, huyện đã đình chỉ 3 địa điểm khai thác đá trái phép
ở xã Bình Hòa, xã Bình Thanh Đông và xã Bình Trị
Công tác bồi thường, GPMB và bố trí TĐC rất phức tạp, gắn liền với quyền lợi của người bị thu hồi đất, đặc biệt là quyền lợi về tài chính nên dễ có những hành
vi vi phạm pháp luật nhằm trục lợi bất chính Chính vì vậy, công tác thanh tra đất đai phải được tiến hành thường xuyên, xem đây là một nhiệm vụ nằm trong kế hoạch thực hiện của công tác bồi thường, GPMB và bố trí TĐC để phát hiện những
vi phạm trong quản lý, sử dụng đất đai; xử lý kịp thời các vi phạm đó, đảm bảo pháp luật được thực thi từ trung ương đến địa phương
Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm
trong quản lý và sử dụng đất đai
Công tác giải quyết tranh chấp, giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai đã được cán bộ thanh tra thuộc Phòng Tài nguyên
và Môi trường phối hợp với thanh tra huyện dưới sự chỉ đạo của UBND huyện tiến hành kịp thời, theo đúng quy định của pháp luật, đạt được nhiều kết quả khả quan Nhìn chung công tác quản lý Nhà nước về đất đai của huyện trong thời gian qua đã có nhiều diễn biến tích cực, đạt được nhiều thành tựu quan trọng, tạo điều kiện cho việc đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn
Quản lý các dịch vụ công về đất đai
Là những hoạt động giao dịch, nhằm giải quyết những mối quan hệ giữa cá nhân, tổ chức với các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước trong việc thực hiện các