1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hôn nhân hiện nay cuả người tày ở xã tô hiệu, huyện bình gia, tỉnh lạng sơn

112 147 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện luận văn thạc sĩ Dân tộc học với đề tài: Hôn nhân hiện nay cuả người Tày ở xã Tô Hiệu, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG ĐỨC TRUNG

HÔN NHÂN HIỆN NAY CỦA NGƯỜI TÀY Ở XÃ TÔ HIỆU,

HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN

Chuyên ngành: Dân tộc học

Mã số : 60 31

LUẬN VĂN THẠC SĨ DÂN TỘC HỌC

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG ĐỨC TRUNG

HÔN NHÂN HIỆN NAY CỦA NGƯỜI TÀY Ở XÃ TÔ HIỆU

, HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN Chuyên ngành: Dân tộc học

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các tƣ liệu, kết quả trong luận văn là trung thực

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Tác giả luận văn

Hoàng Đức Trung

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện luận văn thạc sĩ Dân tộc học với đề tài: Hôn nhân hiện nay cuả người Tày ở xã Tô Hiệu, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp

cũng như các cơ quan, tổ chức, cá nhân trên địa bàn nghiên cứu Trước hết, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Vi Văn An, người đã trực tiếp động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như nhiệt tình hướng dẫn, chỉ bảo cho tôi để hoàn thành luận văn

Tôi xin được gửi lời cảm ơn tới các Giáo sư, Tiến sỹ, Giảng viên khoa Dân tộc học và Nhân học của Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn Lâm Khoa học Xã hội Việt Nam đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập

Trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam và tập thể phòng Gíao dục đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ để tôi yên tâm học tập và nghiên cứu

Tôi xin được gửi lời cảm ơn tới các đồng chí lãnh đạo của Uỷ ban Nhân dân xã Tô Hiệu và các phòng ban, cảm ơn toàn thể các bác, cô, chú, anh, chị,

em, bạn bè, bà con xã Tô Hiệu đã tận tình giúp đỡ tôi trong thời gian điền dã

và thu thập tư liệu trên địa bàn

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn của mình

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Tác giả luận văn

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN, TỘC NGƯỜI NGHIÊN CỨU 11

1.1 Cơ sở lý thuyết 11

1.2 Khái quát về địa bàn, tộc người nghiên cứu 15

Tiểu kết chương 1 25

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI TÀY Ở XÃ TÔ HIỆU 27 2.1 Những vấn đề chung về hôn nhân 27

2.2 Chu trình của một đám cưới 36

Tiểu kết chương 2 50

Chương 3: BIẾN ĐỔI HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI TÀY TỪ ĐỔI MỚI ĐẾN NAY……… 51

3.1 Bối cảnh kinh tế - xã hội 51

3.2 Các khía cạnh biến đổi 52

3.3 Xu hướng biến đổi 64

3.4 Những yếu tố tác động đến sự biến đổi của hôn nhân 65

3.5 Vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị hôn nhân 71

Tiểu kết chương 3 777

KẾT LUẬN 79

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 81 PHỤ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hôn nhân là một thể chế xã hội, có vai trò quan trọng trong đời sống của mỗi dân tộc, không chỉ có ý nghĩa đối với cá nhân, mà còn đối với cả gia đình và dòng tộc Hôn nhân là một trong những thành tố làm nên giá trị văn hóa, bởi nó gắn liền với nhiều nghi lễ, phong tục và chứa đựng nhiều sắc thái văn hoá của mỗi dân tộc Hôn nhân chính là nền tảng để duy trì, củng cố và phát triển gia đình Chính vì thế việc nghiên cứu hôn nhân có một tầm quan

trọng đặc biệt, giúp chúng ta nhận thức được tính đa dạng của vấn đề

Đối với người Tày, bên cạnh những nghiên cứu mang tính khái quát, tổng hợp, thì lĩnh vực hôn nhân cũng thu hút sự quan tâm chú ý của khá nhiều nhà nghiên cứu Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây về hôn nhân của người Tày hầu như mới chỉ tập trung vào các tỉnh như Cao Bằng, Tuyên Quang, Bắc Kạn còn các nghiên cứu về người Tày ở Bình Gia nói chung, hôn nhân của

họ nói riêng, trong đó có hôn nhân của bộ phận người Tày ở xã Tô Hiệu, thì vẫn còn hết sức khiêm tốn Trong tình hình thực tế nêu trên, việc khảo cứu sâu về hôn nhân của người Tày ở một xã cụ thể sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn

sự đa dạng văn hóa, sắc thái địa phương của người Tày trong cộng đồng dân tộc ở Việt Nam

Nghiên cứu hôn nhân của người Tày còn góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phù hợp với tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ IX Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Ngoài ra, nghiên cứu hôn nhân của người Tày cũng góp phần cung cấp các cứ liệu khoa học, giúp các nhà quản lý

có những chủ trương, chính sách cụ thể trong việc bảo tồn và phát huy giá trị bản sắc tộc người, góp phần thực hiện hiệu quả luật hôn nhân và gia đình của Nhà nước Bản thân là một người con của dân tộc Tày, lớn lên tại mảnh đất

Trang 8

Tô Hiệu, Bình Gia, Lạng Sơn, tôi đã được tham dự nhiều đám cưới hiện nay

và được nghe ông bà, bố mẹ, họ hàng thân thích kể nhiều về đám cưới truyền thống của dân tộc mình Hiểu được phong tục, tập quán, nghi lễ, nghi thức cưới xin của dân tộc mình Vì vậy, tôi ý thức và luôn tự hào về những giá trị văn hóa của tộc người, đồng thời luôn có mong muốn được góp phần vào việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc trong tiến trình phát triển của quê hương, đất nước

Với nhận thức như vậy, tôi đã chọn đề tài Hôn nhân hiện nay của người Tày ở xã Tô Hiệu, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn làm luận văn thạc sĩ

của mình

2 Tình hình nghiên cứu

2.1 Một số nghiên cứu chính về người Tày ở Việt Nam

Là tộc người thiểu số có dân số đông nhất trong 53 tộc người thiểu số ở Việt Nam, từ trước tới nay, người Tày luôn thu hút được sự quan tâm, chú ý

của nhiều nhà nghiên cứu Chính vì thế, nếu không kể tới các ghi chép về Đạo Quan binh thứ nhất của Bonyfacy (người Pháp, ghi chép về phong tục tập

quán của các tộc vùng Đông Bắc), có khá nhiều công trình, bài viết, luận án, luận văn, khóa luận liên quan đến tất cả các lĩnh vực: lịch sử, kinh tế, xã hội, văn hóa; ngôn ngữ, tri thức dân gian cũng như các loại hình diễn xướng, dân

ca, văn học nghệ thuật của người Tày đã được công bố Các công trình đề cập

riêng về người Tày có thể kể đến: Các dân tộc Tày, Nùng ở Việt Nam (1992),

do Bế Viết Đẳng chủ biên [26]; Văn hóa Tày, Nùng (1984) của Lã Văn Lô và

Hà Văn Thư [46]; Đến với người Tày và văn hóa Tày (2010) của La Công Ý [84] Mới đây nhất, năm 2016, Viện Dân tộc học vừa ra mắt cuốn Các dân tộc

ở Việt Nam (tập 2) về Nhóm ngôn ngữ Tày – Thái Kađai [10], trong đó, phần

“Dân tộc Tày” do Nguyễn Thị Thanh Bình chấp bút, tổng thuật khá đầy đủ

Trang 9

nghiên cứu về người Tày của các học giả Việt Nam trước những năm 2000 thường chú trọng vào các vấn đề cơ bản liên quan đến văn hóa, kinh tế, xã hội của người Tày, trong đó, những nội dung khảo tả còn chiếm phần lớn trong các nghiên cứu

Có thể nói, các công trình nghiên cứu chung đã công bố, trong đó có đề

cập đến người Tày cũng khá phong phú như: Sơ lược giới thiệu các nhóm dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam (1968) của Lã Văn Lô - Đặng Nghiêm Vạn [45]; Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc), (1978), phần Dân tộc Tày do Hoàng Hoa Toàn chấp bút [82]; Các dân tộc ở tỉnh Hà Giang (2003) của nhiều tác giả [14]; Các dân tộc ở Bắc Kạn (2003) của nhiều tác giả [13]; Nhà sàn truyền thống của người Tày ở Đông Bắc Việt Nam (2004) [38]; Nhà ở cổ truyền các dân tộc Việt Nam (1994) của Nguyễn Khắc Tụng [76]

Các luận án nghiên cứu về người Tày gần đây của Triệu Quỳnh Châu, Tạ Thị Anh về Dòng họ và những biến đổi của nó Khá nhiều bài viết đăng trên các Tạp chí chuyên ngành như Dân tộc học, Xã hội học, Nghiên cứu Văn hóa

hay các bài viết về người Tày in trong Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (tập I, II, III và V) do Nxb KHXH ấn hành từ năm

1999 đến 2005 [12]

2.2 Một số nghiên cứu có đề cập hôn nhân và gia đình của người Tày

Trong những nghiên cứu về hôn nhân và gia đình của người Tày, nghi

lễ, phong tục hôn nhân truyền thống chiếm một lượng đáng kể, bên cạnh đó là

tư liệu về đám cưới Nếu như trong các công trình đã công bố trước năm

2000, lĩnh vực hôn nhân thường chỉ được đề cập đến rải rác hay chung chung, thì từ những năm 2000 trở lại đây, các nghiên cứu chú trọng nhiều hơn tới quan hệ hôn nhân cũng như quan hệ trong gia đình người Tày

Trong công trình Các dân tộc Tày, Nùng ở Việt Nam của Viện Dân tộc

học, xuất bản năm 1992, hôn nhân và gia đình của người Tày cũng được đề

Trang 10

cập đến cùng với những thông tin về hôn nhân và gia đình của người Nùng Nguồn thông tin tại thời điểm đó cho thấy: Hôn nhân đồng tộc vẫn là xu hướng chủ yếu Kết hôn giữa người Nùng và người Tày đã xuất hiện, song số lượng chưa nhiều Đỗ Thúy Bình là một trong những tác giả có nhiều công trình nghiên cứu về hôn nhân và gia đình của người Tày Năm 1994, tác giả

đã đề cập một cách toàn diện đến các vấn đề liên quan đến hôn nhân và gia đình của ba dân tộc Tày, Nùng, Thái ở nước ta Năm 2001, Nguyễn Thị Huyền Anh thực hiện nghiên cứu về hôn nhân của người Tày ở xã Quảng Chu, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn cho khóa luận tốt nghiệp đại học chuyên

ngành Dân tộc học Tục hôn nhân cổ của người Tày Nguyên Bình của Hoàng Thị Cành (2013), Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày, Nùng và Thái ở Việt Nam của Trung tâm NCKH về Gia đình và Phụ nữ (2014)

Cuốn sách của La Công Ý Đến với người Tày và văn hóa Tày, xuất bản

năm 2010 là một chuyên khảo công phu và khá hệ thống về người Tày Trong công trình này, tác giả đã mô tả các bước thực hiện một đám cưới truyền thống của người Tày đặt trong sự so sánh giữa các địa phương khác nhau Nguồn tư liệu sau nhiều năm tích lũy của tác giả là cơ sở để nguyên tắc hôn nhân cơ bản của người Tày là ngoại hôn dòng họ được khẳng định thêm một lần nữa Một số đặc điểm của hôn nhân truyền thống ở người Tày như tính chất “mua bán” trong hôn nhân cũng được đề cập và phân tích Đáng chú ý, theo tác giả, mặc dù nội hôn tộc người phổ biến ở người Tày trong quá khứ, song hôn nhân hỗn hợp dân tộc đã xuất hiện ngày càng nhiều và “vẫn là một

xu thế không có gì có thể cưỡng nổi” Hoàng Bé trong bài Quan hệ hôn gia đình của người Tày ở Bảo Lạc cũng bước đầu đề cập và cung cấp nhiều tư

nhân-liệu về hôn nhân của người Tày ở các vùng miền khác nhau Gần đây, Bế Văn Hậu và Mai Văn Huyên công bố nghiên cứu về biến đổi quan hệ gia đình người Tày ở Lạng Sơn thời kỳ đổi mới các nghiên cứu này cho thấy vị thế

Trang 11

các hoạt động gia tăng thu nhập cho gia đình, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế thị trường phát triển Do đó, người đàn ông không còn giữ vai trò độc tôn trong mọi quyết định liên quan đến gia đình Hôn nhân tự do trên cơ sở tình yêu cũng khiến quan hệ vợ chồng trở nên bình đẳng hơn Bên cạnh quan hệ

vợ chồng, quan hệ giữa cha mẹ và con cái, người trẻ và người già cũng có những thay đổi

Liên quan đến giao lưu, biến đổi văn hóa của người Tày nói chung,

trong bài viết về Giao thoa văn hóa giữa các dân tộc Tày, Nùng, Kinh ở Bắc Kạn năm 2009, Lương Thị Hạnh đã đề cập đến sự giao thoa giữa văn hóa Tày

với văn hóa Nùng thông qua văn hóa vật chất như trang phục, nhà cửa và văn

hóa tinh thần của tín ngưỡng thờ then, pụt

Năm 2012, Bế Văn Hậu đặt sự biến đổi văn hóa ở người Tày tại Lạng Sơn làm đối tượng nghiên cứu của luận án tiến sĩ ngành Nhân học Nghiên cứu đề cập đến những biến đổi trong ba thành tố văn hóa: văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần và văn hóa xã hội, trong đó những biến đổi trong hôn nhân

và gia đình, đặc biệt là quan hệ gia đình đã được chú ý phân tích

Liên quan đến nội dung của luận văn, năm 2016, tác giả Lý Thị Mười

cũng đã bảo vệ thành công luận văn cao học đề tài Hôn nhân của người Tày ở

xã Trung Lương, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên Trong nội dung Luận

văn, tác giả cũng trình bày về hôn nhân truyền thống của người Tày và những

biến đổi của hôn nhân từ sau Đổi mới (1986) đến nay Có thể nói, đây cũng là

công trình nghiên cứu có tính tổng hợp đầu tiên về Hôn nhân của người Tày ở địa phương trên, dưới dạng nghiên cứu điểm

Như vậy, trừ đề tài luận văn nêu trên, trong những công trình, bài viết nêu trên, chúng ta thấy vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu mang tính tổng hợp, chuyên sâu mang tầm cỡ về lĩnh vực hôn nhân của người Tày nói chung, trong đó có hôn nhân của người Tày ở xã Tô Hiệu, huyện Bình Gia, Lạng Sơn Vì thế, nghiên cứu của tôi sẽ góp phần giúp cho bạn đọc thấy được

Trang 12

tính đa dạng, nét khác biệt trong hôn nhân của người Tày ở các địa phương khác nhau Có thể nói, các tài liệu về hôn nhân được đề cập tới trong các công trình, bài viết, hay luận án, luận văn đã công bố là hết sức quý báu giúp tác giả luận văn có cơ sở khai thác, đối chiếu và tham khảo trong quá trình hoàn thành luận văn của mình

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

- Thông qua nghiên cứu các đặc điểm hôn nhân truyền thống của người Tày ở xã Tô Hiệu, huyện Bình Gia, luận văn phác họa bức tranh văn hóa về người Tày ở Lạng Sơn nói chung, người Tày ở Tô Hiệu nói riêng

- Trong bối cảnh tác động của các điều kiện kinh tế thị trường, giao lưu và hội nhập ngày càng sâu rộng, luận văn cũng chỉ ra thực trạng của những khía cạnh biến đổi, nguyên nhân biến đổi trong hôn nhân của người Tày nới đây

- Đề xuất một số khuyến nghị nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị tốt đẹp của văn hóa Tày nói chung, hôn nhân của họ nói riêng

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Luận văn tập trung nghiên cứu những quan niệm, nguyên tắc, hình thức, các bước thực hành trong nghi lễ hôn nhân, vấn đề cư trú sau hôn nhân của người của người Tày tại điểm nghiên cứu

- Nghiên cứu những biến đổi trong hôn nhân hiện nay và các yếu tố tác động đến sự biến đổi trong hôn nhân của người Tày tại điểm nghiên cứu

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là hôn nhân của người Tày ở một địa phương cụ thể: xã Tô Hiệu, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn Nội dung được đề cập trong luận văn bao gồm: Các đặc điểm trong hôn nhân của người Tày ở xã Tô Hiệu, huyện Bình Gia; Thực trạng hôn nhân của người Tày ở địa phương này hiện nay Nội dung của phần này nhằm cung cấp tư liệu cho người đọc thấy được

Trang 13

những thay đổi/biến đổi trong hôn nhân, nguyên nhân hay những yếu tố tác động dẫn tới sự biến đổi này

và biến đổi sâu sắc do tác động của các điều kiện kinh tế thị trường, hội nhập khu vực và quốc tế ngày càng sâu rộng; cũng như sự nghiệp CNH-HĐH đất nước ở vùng miền núi dân tộc có điều kiện thuận lợi hơn

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài luận văn này, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

- Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu có sẵn

Để tổng hợp và phân tích các tài liệu đã công bố, chúng tôi tìm và đọc các công trình nghiên cứu về dân tộc Tày nói chung, nhất là các công trình, bài viết liên quan đến nội dung của đề tài luận văn, đăng trên tạp chí chuyên ngành Tác giả cũng tiếp cận với một số luận án, luận văn của một số tác giả, trong đó

đề cập đến văn hóa người Tày nói chung, hôn nhân, gia đình của họ nói riêng Ngoài ra, các tài liệu thứ cấp như báo cáo, số liệu về dân số, dân tộc, niên giám thống kê liên quan đến người Tày cũng được lưu tâm và tham khảo

- Phương pháp điền dã dân tộc học: Đây là phương pháp chủ đạo trong

quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn, gồm những thao tác cơ bản như sau:

Trang 14

+ Quan sát tham dự: Việc quan sát được thực hiện trong suốt quá trình

nghiên cứu tại thực địa, giúp tác giả hòa nhập với người dân và cộng đồng, hiểu được sâu sắc hơn về văn hóa của người Tày tại địa bàn nghiên cứu

+ Phỏng vấn sâu: Công cụ này áp dụng cho nhiều đối tượng Người được phỏng vấn sâu khác nhau về giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp và địa vị xã hội Trong đó, đối tượng được tác giả quan tâm lựa chọn là những người cao tuổi, minh mẫn, am hiểu phong tục tập quán, những người làm thầy cúng, làm mai mối và gia đình hai bên cô dâu, chú rể Ngoài ra, tác giả còn phỏng vấn những người trẻ tuổi để thấy được xu hướng biến đổi trong hôn nhân của người Tày hiện nay

+ Thảo luận nhóm để nhận được những nhận định, đánh giá về giá trị truyền thống và biến đổi trong hôn nhân của người Tày cũng như các yếu tố

có ảnh hưởng đến việc lựa chọn người bạn đời cho cuộc sống gia đình

+ Quay phim, chụp ảnh nhằm có được những tư liệu thực tế sống động, liên quan đến các đối tượng cụ thể góp phần làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu

- Phương pháp hồi cố, đây là phương pháp nghiên cứu tàn dư trong dân

tộc học Theo phương pháp này, chúng tôi sẽ gặp gỡ, trao đổi và phỏng vấn những người Tày lớn tuổi, trưởng họ… nhằm thu thập tư liệu để hồi cố lại lịch sử lập làng, quá trình di chuyển cư của người Tày đến nơi ở của họ hiện nay, những thay đổi đã và đang diễn ra trong hôn nhân của họ…

Ngoài ra, tác giả còn sử dụng phương pháp chuyên gia, phân tích, tổng hợp, so sánh đối chiếu các nguồn thông tin, số liệu thu thập được trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn

6 Nguồn tư liệu của luận văn

Luận văn được hoàn thành chủ yếu dựa trên nguồn tư liệu điền dã, thu thập trong các lần điền dã dân tộc học trên thực địa tại địa bàn xã Tô Hiệu, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn Nguồn tư liệu cũng còn được thu thập từ các

Trang 15

đợt về nghỉ phép, trong các dịp tết Nguyên đán - vốn là mùa có khá nhiều đám cưới được tổ chức

Ngoài ra, tác giả còn tham khảo và kế thừa các nguồn tài liệu đã công

bố về người Tày nói chung của các nhà nghiên cứu đi trước, nhất là các tài liệu liên quan đến hôn nhân; đồng thời sử dụng các nguồn tài liệu thứ cấp ở địa phương

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Là nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên và có hệ thống, dưới góc độ Dân tộc học về hôn nhân của người Tày ở một địa phương cụ thể: xã Tô Hiệu, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn;

Từ việc trình bày và phân tích những đặc điểm, cũng như những yếu tố truyền thống vẫn được bảo lưu trong hôn nhân truyền thống của người Tày nơi đây, luận văn cung cấp tư liệu mới về những thay đổi trong hôn nhân, lý giải nguyên nhân tác động dẫn tới thay đổi trong các khía cạnh trong hôn nhân của họ Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm cơ sở khoa học cho việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của người Tày nói chung, trong lĩnh vực hôn nhân nói riêng Bên cạnh đó, các cấp chính quyền có cơ sở trong việc kết hợp giữa truyền thống và đổi mới trong quá trình thực hiện Luật Hôn nhân - Gia đình, xây dựng nông thôn mới, phù hợp với thực tế của địa phương

8 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và khái quát về địa bàn, tộc người nghiên

cứu

Chương 2: Hôn nhân của người Tày ở xã Tô Hiệu trước đổi mới

Chương 3: Biến đổi hôn nhân của người Tày từ đổi mới đến nay

Trang 17

1.1 Cơ sở lý thuyết

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

Trong phạm vi nghiên cứu đƣợc xác định, luận văn sẽ làm rõ nội hàm

một số khái niệm liên quan, nhƣ: Hôn nhân, Ngoại hôn dòng họ, Nội hôn tộc người, Hôn nhân hỗn hợp dân tộc, Nghi lễ đám cưới, Sính lễ, Của hồi môn,

Tục ở rể, Truyền thống, Biến đổi

- Khái niệm Hôn nhân: Hôn nhân có nghĩa là việc kết hôn giữa nam và

nữ Theo Từ điển nhân học: “Hôn nhân là mối quan hệ gắn bó được thừa nhận về mặt xã hội giữa một người đàn ông và một người đàn bà nhằm mục dích duy trì nòi giống một cách hợp pháp lập gia đình hạt nhân mới hoặc nhằm tạo ra hộ gia đình mới” [78, tr.519] Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Hôn nhân là một thể chế xã hội kèm theo nghi thức xác nhận quan hệ tính giao giữa hai hay nhiều người thuộc hai giới tính khác nhau (nam, nữ) được coi nhau là chồng và vợ, quy định mối quan hệ và trách nhiệm giữa họ với nhau và giữa họ với con cái của họ Sự xác nhận đó, trong quá trình phát triển của xã hội, dần dần mang thêm những yếu tố mới” [77, tr.389-390]

Khi nghiên cứu về hôn nhân, Emily A Schultz VAF Robobert H

Lavenda cho rằng: “Hôn nhân là một quá trình xã hội mà mô hình mẫu của

Trang 18

nó là sự kết hợp giữa một người đàn ông và một người đàn bà, là một sự kiện làm biến đổi những thành viên của nó, làm thay đổi quan hệ giữa những người thân thuộc của mỗi bên và những khuôn mẫu xã hội thông qua việc sinh đẻ cùng với một số quyền lợi và nghĩa vụ đi kèm” Theo hai nhà nghiên

cứu này, hôn nhân cũng tạo nên tính hợp pháp của con cái do người vợ sinh ra

và thiết lập các mối quan hệ giữa họ hàng bên vợ và họ hàng bên chồng

Trong Luật Hôn nhân và Gia đình của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

Việt Nam: “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn”, theo

đó, Luật này cũng định nghĩa: “Tập quán về hôn nhân và gia đình là quy tắc

xử sự có nội dung rõ ràng về quyền, nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hôn nhân và gia đình, được lặp đi lặp lại trong một thời gian dài và được thừa nhận rộng rãi trong một vùng, miền hoặc cộng đồng Kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn” [48, mục 1, 4, 5; điều 3] Nội hàm của hôn nhân

còn bao gồm các quan niệm và nguyên tắc hôn nhân, hình thức hôn nhân, nguyên tắc và hình thức cư trú sau hôn nhân Vì vậy, trong nghiên cứu này, tác giả luận văn cũng tìm hiểu một số khái niệm khác liên quan đến hôn nhân

để thấy được bản sắc tộc người của họ gồm:

Nội hôn tộc người: Là quy tắc chỉ kết hôn với người đồng tộc hay cùng

một nhóm tộc người (nhóm địa phương) với mình, mà không kết hôn với

người của dân tộc khác Ngoại hôn dòng họ là những quy tắc kết hôn ngoài

dòng họ của mình, được quy định bởi luật tục hay tập quán pháp

- Khái niệm Hôn nhân hỗn hợp dân tộc: Là chỉ sự kết hôn giữa hai

người không cùng một dân tộc

- Khái niệm Nghi lễ hôn nhân: Được hiểu là các nghi lễ diễn ra theo tập

quán hoặc theo quy định của cộng đồng trong mỗi cuộc hôn nhân Để tiến đến hôn nhân cũng như để hoàn tất các cuộc hôn nhân, đôi trai gái và hai bên gia

Trang 19

tập quán pháp của một tộc người cũng như địa phương của họ Nghi lễ hôn nhân nhằm mục đích đảm bảo sự chứng kiến và công nhận của cộng đồng và gia đình, ngoài ra nó còn chứa đựng một số yếu tố tâm linh

- Khái niệm Truyền thống: Truyền thống được hiểu là thói quen được

hình thành đã lâu trong lối sống và nếp nghĩ, của mỗi cá nhân hay một cộng đồng và được trao truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác

- Khái niệm Biến đổi: Là sự thay đổi thành khác trước hoặc sự thay đổi,

điều thay đổi khác với trước Cũng như các yếu tố văn hóa khác, hôn nhân không phải là bất biến, mà nó luôn vận động, thích hợp với hoàn cảnh và yêu cầu của thực tiễn

1.1.2 Các lý thuyết tiếp cận

Trong luận văn này, tác giả sẽ sử dụng một số quan điểm lý thuyết trong Dân tộc học/Nhân học để làm cơ sở cho việc phân tích và nhận định, đó là:

- Lý thuyết bản sắc văn hóa tộc người

Bản sắc tộc người là tổng thể những yếu tố vật chất và tinh thần mang tính đặc trưng và đặc thù của một tộc người, giúp phân biệt tộc người này và tộc người khác, và giữa các nhóm khác nhau của cùng một tộc người Bản sắc tộc người được hình thành lâu dài trong lịch sử, gắn liền với hoàn cảnh kinh

tế, xã hội và môi trường tự nhiên của tộc người Bản sắc tộc người có sức sống lâu bền, ngay cả khi đời sống của tộc người đã có những thay đổi mạnh

mẽ Bản sắc tộc người còn thể hiện bản lĩnh của tộc người [57, tr.12] Vì vậy

áp dụng lý thuyết bản sắc văn hóa tộc người giúp tác giả luận văn nhận diện

được rõ những sắc thái riêng trong hôn nhân của người Tày ở xã Tô Hiệu

- Lý thuyết giao lưu, tiếp biến văn hóa

Lý thuyết này được trường phái Nhân học Anglo – Saxon đưa ra vào cuối thế kỷ XIX để chỉ sự tiếp xúc trực tiếp và lâu dài giữa hai nền văn hóa

Trang 20

khác nhau và hậu quả của sự tiếp xúc đó là sự thay đổi hay biến đổi của một

số loại hình văn hóa ở cả hai nền văn hóa Theo các nhà nhân học Mỹ, giao lưu tiếp biến văn hóa là quá trình trong đó một nền văn hóa thích nghi, ảnh hưởng bởi một nền văn hóa khác bằng cách vay mượn nhiều nét đặc trưng Sự giao lưu, tiếp biến văn hóa cũng là một cơ chế khác của biến đổi văn hóa, đó

là sự trao đổi những đặc tính văn hóa nảy sinh khi các cộng đồng tiếp xúc trực diện và liên tục Các thành tố của nền văn hóa tuy có biến đổi, song mỗi nền văn hóa vẫn giữ tính riêng biệt của mình Tiếp biến văn hóa còn được hiểu là quá trình biến đổi văn hóa diễn ra do sự tiếp xúc của hai hệ thống văn hóa riêng rẽ mà kết quả làm cho chúng ngày càng trở nên giống nhau hơn [57, tr.12 -13]

Như vậy, lý thuyết về giao lưu, tiếp biến văn hóa cho thấy biến đổi là quá trình tất yếu của mọi sự vật và hiện tượng, trong đó bao gồm cả văn hóa tộc người nói chung và hôn nhân nói riêng Ngày nay, dưới sự tác động của quá trình phát triển, hiện đại hóa, toàn cầu hóa, và xu hướng hội nhập đang diễn ra mạnh mẽ thì sự giao lưu, biến đổi văn hóa của các tộc người, trong đó

có hôn nhân của người Tày là không tránh khỏi Do đó, khi nghiên cứu văn hóa tộc người, trong đó có các quan niệm, nguyên tắc, đặc điểm và các nghi lễ trong hôn nhân của người Tày ở xã Tô Hiệu, tác giả luận văn không thể chỉ xem xét vấn đề này một cách biệt lập hay trong trạng thái tĩnh, mà luôn đặt chúng trong trạng thái động, trong quá trình biến đổi, tiếp biến

- Lý thuyết về nghi lễ chuyển đổi

Là nghi lễ đánh dấu sự thay đổi địa vị xã hội của con người do nhà dân tộc học người Pháp Arnold Van Gennep (1873 – 1975) đưa ra vào thế kỷ XX Nghi lễ chuyển đổi thường đi kèm với những nghi lễ xung quanh những sự kiện liên quan đến đời người như việc ra đời của đứa trẻ, tuổi vào đời, hôn lễ,

Trang 21

chuyển đổi để nghiên cứu việc thực hành các nghi lễ hôn nhân của người Tày

ở xã Tô Hiệu

1.2 Khái quát về địa bàn, tộc người nghiên cứu

1.2.1 Đôi nét về địa bàn nghiên cứu

- Khái quát về huyện Bình Gia

Trước khi thực dân Pháp xâm chiếm Lạng Sơn lần thứ nhất, Bình Gia vốn là tên gọi của một xã gồm 2 thôn: Nưa Toóc và Phai Lay (nay là thôn Ngọc Quyến và thôn Phai Lay thuộc xã Tô Hiệu) Từ năm 1885 – 1890, khi thực dân Pháp đặt ách cai trị ở đây, chúng đã gộp các tổng xung quanh Bình Gia thành một đơn vị hành chính có tên gọi chung là Châu Bình Gia Từ năm

1947, Châu Bình Gia được đổi thành huyện Bình Gia [44, tr.3]

Huyện lỵ Bình Gia cách thành phố Lạng Sơn 75 km về phía Tây Bắc Phía bắc giáp huyện Tràng Định và huyện Na Rì (Bắc Cạn), phía nam giáp huyện Văn Quan, phía đông giáp huyện Văn Lãng, phía tây giáp huyện Bắc Sơn Bình Gia rộng 1.090,66km2 với 2/3 diện tích là đồi núi và 1/3 là đất ruộng, đất vườn nương canh tác [44, tr.3]

Dân số huyện Bình Gia, tính đến thời điểm 1/4/2009, là 52.087 người, trong đó dân tộc Tày có 14.026 người, chiếm 26,9%, dân tộc Nùng có 32.539 người, chiếm 62,5%, dân tộc Dao có 3.509 người, chiếm 6,7%, dân tộc Kinh (Việt) có 1.898 người, chiếm 3,6%, người Hoa có 100 người, chiếm 0,2%, còn lại là một số thành phần dân tộc sống ngụ cư khác

Là một huyện thuộc địa bàn vùng cao miền núi, đồng bào các dân tộc huyện Bình Gia chủ yếu sinh sống bằng nghề nông trồng lúa nước và làm nương rẫy Người Nùng và người Tày là hai dân tộc có số dân chiếm tuyệt đại đa số trong cơ cấu dân số toàn huyện, nên có thể nói, nền văn hóa cơ bản của Bình Gia là nền văn hóa Tày - Nùng Đó là nền văn hóa của những cư dân bản địa có truyền thống trồng lúa nước lâu đời, liên tục được bổ sung, phát triển trong quá trình lịch sử xã hội, vừa phong phú vừa đa dạng

Trang 22

Địa hình Bình Gia có nhiều điểm khá riêng biệt Môt dải núi đá vôi thuộc cánh cung Bắc Sơn chạy dài từ phía tây xuống phía nam tạo nên một địa thế hiểm trở Xen với những lớp núi đất trải rộng ra phía đông và phía bắc

là những cánh đồng và thung lũng, khe suối Cánh đồng Bình Gia bao bọc quanh huyện lỵ là một trong những cánh đồng lớn của tỉnh Lạng Sơn Từ đặc điểm của địa hình đó dẫn tới sự phân chia thành 2 vùng tự nhiên rõ rệt ở Bình Gia: vùng thấp và vùng cao [44, tr.4]

Do kết cấu địa hình tự nhiên khá phức tạp, nên hệ thống giao thông đi lại gặp nhiều khó khăn Từ trước cách mạng tháng tám 1945 đến năm 1954, ngoài trục đường giao thông do Pháp mở, đi từ tỉnh lỵ Lạng Sơn qua Bình Gia

về tỉnh lỵ Thái Nguyên, trong huyện chỉ có một con đường cấp phối nhỏ, đủ

xe ngựa đi lại từ châu lỵ Bình Gia đi qua Văn Mịch rồi sang đến Thất Khê (Tràng Định) Việc đi lại trên con đường này còn gặp nhiều trở ngại như phải qua nhiều thung lũng khe suối Đặc biệt là phải qua sông và những đèo cao khúc khuỷu như Khau Phụ, Khau Hương Ngoài ra, phần lớn việc đi lại giữa các địa phương trong huyện chủ yếu bằng những con đường vừa đủ cho người

đi bộ và ngựa thồ Hiện nay, ngoài tuyến quốc lộ 1B từ Đồng Đăng đi Thái Nguyên qua Bình Gia được mở rộng, tuyến đường Bình Gia - Văn Mịch - Thất Khê được nâng cấp rải nhựa, mở rộng, con đường 279 từ thị trấn Bình Gia đi qua Pác Khuông sang Na Rì (Bắc Cạn) cũng đã được khai thông [44, tr.5]

Bình Gia có con sông duy nhất là sông Bắc Giang (thường gọi là sông Pác Piêng hay sông Văn Mịch) hợp hữu bởi hai nhánh chính Nhánh Tà Vàng chảy từ Hòa Bình qua Thiện Thuật, Yên Lỗ xuống Quý Hòa Nhánh Tà Bó chảy từ Ngân Sơn (Bắc Cạn) qua Vĩnh Yên đến Quý Hòa nhập với nhánh Tà Vàng, thành dòng nước lớn xuôi Hoa Thám, Hồng Phong về Tràng Định gặp

Trang 23

mảng để đi lại hay chuyên chở nông lâm sản về họp chợ Văn Mịch và chợ Thất Khê (Tràng Định) Hàng năm, sông Bắc Giang cung cấp cho đồng bào các dân tộc trong huyện một nguồn cá với số lượng đáng kể [44, tr.5 -6]

- Khái quát về xã Tô Hiệu

+ Vị trí địa lý, diện tích, dân số và dân cư

Tô Hiệu là xã thuộc vùng cánh đồng cuả huyện Bình Gia, cách trung tâm hành chính huyện 2 km về phía đông nam Địa hình xã vừa bằng phẳng, vừa xen lẫn các dãy núi đá vôi bao bọc Phía tây giáp với xã Hoàng Văn Thụ, phía bắc giáp xã Minh Khai, phía đông giáp xã Tân Văn, phía nam giáp với huyện Bắc Sơn Tổng diện tích tự nhiên của xã là 2.632,5 ha, trong đó đất nông nghiệp có 248 ha chiếm 9,4 % diện tích tự nhiên toàn xã Xã có 1.141

hộ với 4.194 nhân khẩu, chủ yếu là Tày, Nùng, Kinh, trong đó dân tộc Tày, Nùng chiếm 86,2% dân số Xã có 15 thôn, thôn đông nhất gần 100 hộ, thôn ít nhất có hơn 50 hộ Xã có trục đường quốc lộ 1B và tỉnh lộ 226 đi qua xã là đầu mối giao lưu, thông thương giữa xã với các địa phương khác trong và ngoài huyện [80, tr.1]

Trang 24

Bảng thống kê nhân khẩu, dân tộc xã Tô Hiệu năm 2016

TT TÊN THÔN Tổng số Dân tộc Tày Dân tộc Nùng Dân tộc Kinh Dân tộc khác Ghi

Trang 25

lượng giáo dục cấp độ 3 Trường THCS xã có 12 lớp với 274 học sinh, duy trì

sĩ số 100%; học sinh giỏi chiếm 17,15%; học sinh khá chiếm 45,26%; học sinh TB chiếm 36,5%; học sinh yếu chiếm 1,09% Nhà trường có 02 học sinh đạt huy chương đồng về thi toán trên mạng cấp quốc gia Trường đang trong

kế hoạch xây dựng trường chuẩn quốc gia hiện đã đạt 4/5 tiêu chuẩn [79, tr.3 – 4]

+ Y tế

Trạm y tế xã đảm bảo chế độ trực trạm hàng ngày và thực hiện tốt việc chăm sóc sức khoẻ nhân dân Kết quả đã tổ chức khám chữa bệnh ban đầu cho nhân dân được 4.765 trường hợp Các chương trình mục tiêu y tế quốc gia đều đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch trên giao Qua kiểm tra đánh giá cuối năm Trạm y tế vẫn duy trì được xã đạt chuẩn về y tế quốc gia theo tiêu chí mới [79, tr.4]

03 năm liên tục đạt khu dân cư văn hoá; 02 thôn công nhận đạt 02 năm liên tục khu dân cư văn hoá Các hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao, vui chơi lành mạnh được duy trì, đời sống tinh thần của người dân ngày càng được

nâng cao [79, tr.4]

Thu nhập chính của người dân trong xã là từ sản xuất nông nghiệp kết hợp với phát triển dịch vụ thương mại và tiểu thủ công nghiệp Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được cải thiện và nâng lên, tỷ lệ hộ

Trang 26

nghèo của xã năm 2013 là 2,5%, thu nhập bình quân đầu người năm 2013 đạt 16,3 triệu đồng Cơ sở hạ tầng nông thôn như Điện, Đường, Trường, Trạm và

hệ thống thuỷ lợi được xây dựng và hoàn thiện theo hướng kiên cố hoá An ninh nông thôn được giữ vững và ổn định, hệ thống chính trị được xây dựng vững chắc đến tận cơ sở thôn xóm Các tầng lớp nhân dân trong xã có tinh thần đoàn kết gắn bó trong cộng đồng dân cư và luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo, quản lý của cấp uỷ, chính quyền xã trong lĩnh vực phát triển kinh tế xã hội ở địa phương [80, tr.1]

1.2.2 Khái quát về người Tày

- Tên gọi và lịch sử cư trú

Theo các nhà nghiên cứu lịch sử, người Tày là một cộng đồng tộc người thuộc khối Bách Việt xưa và tộc danh Tày (hay Táy) đã xuất hiện từ rất lâu đời Đó là tên gọi chung của nhiều dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái cư trú ở vùng Đông Nam Á lục địa [84, tr.22]

Người Tày – Thái cổ đã có mặt ở vùng Đông Bắc Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên kỷ I trước công nguyên [84, tr.23] Ở Việt Nam, người Tày có số dân đông nhất trong các dân tộc thiểu số, cư trú chủ yếu tập trung ở các tỉnh phía Đông Bắc Việt Nam, là cư dân sinh sống lâu đời trên đất nước Việt Nam, họ cùng cư dân khác xây dựng nên đại gia đình các dân tộc Việt Nam hiện nay

Người Tày có mối quan hệ gần gũi về nhiều mặt với các dân tộc khác trong nhóm ngôn ngữ Tày – Thái cùng cư trú ở vùng Đông Bắc Việt Nam như người Nùng, người Giáy, nhóm Cao Lan (dân tộc Sán Chay), nhóm Bố Y (dân tộc Bố Y) và trong chừng mực nhất định với cả người Choang ở tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) [84, tr.22]

Cũng như các địa phương khác ở tỉnh Lạng Sơn, người Tày ở xã Tô

Trang 27

với tộc người khác (Nùng, Kinh ) Ở Lạng Sơn nói chung, Bình Gia nói riêng, người Tày không có các nhóm địa phương với các tên gọi các nhóm khác nhau (như một số tộc người trong vùng như Thái, Nùng, Dao, Hmông)

hay chia thành các nhóm như Tày Ngạn,Tày Phén (ở xã Sĩ Hai, Mã Ba, huyện

Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng); nhóm Tày Áo nâu (ở xã Bằng Cả, huyện Hoành

Bồ, tỉnh Quảng Ninh) mà chỉ có một tên gọi chung, thống nhất từ xưa đến nay

là Cần Tày

Trong cộng đồng người Tày ở huyện Bình Gia nói chung, người Tày ở xã

Tô Hiệu nói riêng có hai nguồn gốc Một bộ phận thuộc người Tày, Nùng bản địa gồm các dòng họ: Nông, Lương; một bộ phận người Tày gốc Kinh từ các tỉnh miền xuôi lên định cư từ lâu đời, gồm họ Hoàng (có các chi: Hoàng Đức, Hoàng, Hoàng Đăng, Hoàng Kim, Hoàng Công, Hoàng Đình),và họ Hà Trong

đó có họ được ghi chép trong Thất tộc Thổ ty Lạng Sơn, như họ Hoàng Đức, Hoàng Đình…

- Đời sống kinh tế

Người Tày ở xã Tô Hiệu trước đây sinh sống chủ yếu bằng trồng trọt, chăn nuôi và khai thác các nguồn lợi trong thiên nhiên Họ canh tác ruộng nước, trồng ngô, khoai, sắn, các loại rau đậu trên nương Người Tày nơi đây không ngừng cải tạo tự nhiên, những gò, đồi, bãi trở thành các triền ruộng, cánh đồng, ao cá, vườn cây phục vụ đời sống con người, trong đó có cánh đồng rộng hàng chục héc ta như cánh đồng Phai Bản, Đông Mạ, Bó Tảng, Phai Luông Địa hình bao gồm núi đất và núi đá thuận lợi cho trồng một số loại hoa màu và cây ăn quả như cam, quýt Bên cạnh đó, cây hồi và một số cây công nghiệp ngắn ngày cũng được trồng trên nhiều địa bàn thuộc xã Hiện nay, người Tày ở xã Tô Hiệu trồng hai vụ lúa/năm: vụ Đông Xuân và vụ mùa Các hộ gia đình đã đầu tư máy cày, máy bừa để sản xuất nên năng suất và giá trị sản lượng thu được từ sản xuất nông nghiệp không ngừng tăng cao Tổng

Trang 28

diện tích gieo trồng cả năm thực hiện được 378,23 ha bằng 102,7% so với kế hoạch huyện giao Tổng sản lượng lương thực cây có hạt đạt 1.675 tấn, đạt 132,6% kế hoạch huyện giao [79, tr1]

Bên cạnh sản xuất nông nghiệp, cây ăn quả, cây công nghiệp và dược liệu quý cũng được trồng nhiều ở xã Tô Hiệu, tổng số cây trồng được là 20.125 cây, trong đó có 10.887 cây ăn quả gồm: quýt, cam, chanh, thanh long (trong đó thực hiện dự án trồng quýt được 6.600 cây/10 ha; cam 550 cây); cây công nghiệp lâu năm 222 cây (cây hồi), trong đó trồng tập trung là

150 cây (0,3ha) số còn lại là tra dặm Phòng NN và PTNT huyện cấp cho các thôn Tân Yên, Nà Rạ, Ngọc Quyến, Ngã Tư, Pác Nàng, Khau Phụ được 9.000 cây lát hoa và 10.000 cây mỡ [79, tr.2]

Chăn nuôi gia súc, gia cầm là hoạt động kinh tế khá quan trọng chủ yếu

để đáp ứng nhu cầu sản xuất và cung cấp thực phẩm hàng ngày Ở xã Tô Hiệu, người Tày nuôi các loại gia súc (trâu, bò, dê, lợn…) và gia cầm (gà, vịt) Trâu là vật nuôi quan trọng nhất của người Tày vừa để lấy sức kéo vừa

để lấy phân bón cho cây trồng Hiện nay, việc sử dụng cày máy để cày ruộng

và cày đất khô cũng đang dần phổ biến

Trước đây, hầu hết các gia đình người Tày đều trồng bông, dệt vải, nhuộm chàm Tuy nhiên, từ sau 1954 trở lại nay, nghề dệt hầu như đã mai một Các nghề thủ công truyền thống như rèn, mộc, làm ngói máng, đan lát cũng dần vắng bóng

Tiểu thủ công nghiệp - Thương mại, dịch vụ phát triển tương đối đồng đều, đa dạng về ngành nghề Năm 2016 có tổng số 337 cơ sở, tăng 03 cơ sở so với cùng kỳ năm trước Tỷ trọng các ngành trong cơ cấu kinh tế: nông lâm nghiệp chiếm 46,07%; công nghiệp - xây dựng 4,13%; dịch vụ 49,8% Thu nhập bình quân đầu người đạt 19,3 triệu đồng/người/năm [79, tr.3]

Trang 29

- Đời sống văn hóa

+ Văn hóa vật chất

Lương thực chính của người Tày ở xã Tô Hiệu là gạo tẻ, ngoài ra còn

có gạo nếp và một số rau củ như ngô, khoai, sắn Người Tày quen ăn cơm tẻ, xôi nếp chỉ xuất hiện trong các dịp lễ tết.Thực phẩm trong bữa ăn hằng ngày thường có rau, thịt lợn, gà, cá do chăn nuôi hay khai thác từ tự nhiên Các món ăn thường chế biến đơn giản như: xào, luộc, nấu canh, rán, nướng Dịp tết Nguyên đán thường có thịt gà thiến, còn khi cưới xin thì có thịt lợn quay, khâu nhục, tết 14/7 có thịt vịt, xôi ngũ sắc Phụ nữ Tày biết làm nhiều loại bánh chế biến từ bột gạo, khoai, sắn, nhất là bánh khảo trong dịp tết là loại bánh không thể thiếu của người Tày Từ lâu, người Tày có tập quán uống nước chè mạn

Trang phục của người Tày trước đây được may từ vải bằng sợi bông hoặc tơ tằm do người Tày tự dệt, vải thường được nhuộm màu chàm để may quần áo, hầu như không trang trí hoa văn, đồng bào chủ yếu thêu hoa văn trên yếm, mũ của trẻ em, hoặc chiếc địu và trên trang phục thầy cúng với các loại hình phong phú, màu sắc đẹp mắt Hiện nay người Tày cũng đã sử dụng trang phục như của người Kinh Trang phục truyền thống hiện nay còn rất ít, và đã hầu như không còn xuất hiện trong các sinh hoạt truyền thống của người Tày nơi đây

Nhà ở truyền thống của người Tày ở xã Tô Hiệu là nhà sàn, thường được dựng bằng gỗ nghiến, lý, lợp ngói máng Ngôi nhà thường 5 hoặc 7 gian, 2 mái chính, 2 mái phụ thoáng rộng, hệ thống dầm xà kết nối với nhau vững chắc Cạnh nhà thường có mảnh vườn trồng rau, gia vị và một số cây ăn quả lưu niên Hiện nay, các ngôi nhà sàn truyền thống ngày càng mai một, bà con chuyển sang ở nhà xây theo lối kiến trúc hiện đại, lợp ngói hoặc nhà sàn lợp ngói kiểu mới

Trang 30

+ Văn hóa xã hội

Làng người Tày tập trung dọc theo hai bên gần chân núi và chạy theo dọc đường quốc lộ đi qua Bố trí nhà cửa thường theo lối mật tập Hiện nay,

bố trí nhà cửa phổ biến kiểu đường phố Trước kia, nơi đây chỉ có khoảng từ

15 đến 20 hộ, nhưng hiện nay làng có đến trên 50 hộ người Tày cận cư với tộc người khác trên địa bàn Các dòng họ trong làng Tày xã Tô Hiệu gồm: Hoàng,

Hà, Nông, Lương, trong đó hai họ Hoàng và Hà gốc Kinh, hai họ Nông, Lương gốc Tày và Nùng Trước kia, các gia đình cùng dòng họ có xu hướng dựng nhà gần nhau Quan hệ giữa những người trong làng khá thân thiện, cởi

mở trên tinh thần láng giềng hay họ hàng thông gia Tập quán tương trợ lẫn nhau vẫn còn phổ biến trong các dịp tang ma, cưới xin, dựng nhà mới Đình làng trước kia của người Tày nơi đây có hình dáng giống ngôi nhà sàn truyền thống, nay đã được tu bổ xây dựng lại kiên cố, là nơi diễn ra các nghi thức, lễ hội của làng, là dịp để người dân tụ họp, sinh hoạt cộng đồng trong xã

Gia đình người người Tày ở xã Tô Hiệu hiện nay phổ biến là hình thức gia đình nhỏ, phụ hệ Địa vị người vợ, người phụ nữ trong gia đình yếu thế hơn người chồng, con trai được hưởng quyền thừa kế,con gái thì không Phân công lao động trong gia đình thường theo giới, lứa tuổi Theo đó, đàn ông cày bừa, chế tác nông cụ, phụ nữ cấy, làm cỏ, bón phân, đảm trách việc nội trợ, chăn lợn, gà, chợ búa, hái củi, trẻ em chăn trâu bò

+ Văn hóa tinh thần

Người Tày ở xã Tô Hiệu có đời sống văn hóa tinh thần phong phú mang sắc thái riêng, thể hiện qua các nghi lễ then, hát lượn, lễ hội lồng tồng, các trò chơi dân gian phong phú như: tung còn, đánh yến, đi cà kheo, chơi cờ, kéo co, đấu vật Những hoạt động này thường được tổ chức trong các lễ hội truyền thống và lưu truyền qua nhiều thế hệ cho đến nay

Trang 31

Người Tày ở xã Tô Hiệu quan niệm vạn vật hữu linh, vì vậy ngoài thờ cúng tổ tiên, họ còn thờ thổ công, thờ ma bếp, các vị thánh thần tại đình, miếu làng Những nét đẹp về văn hóa nơi đây còn thể hiện qua những nghi lễ cưới hỏi, sinh đẻ, tang ma và các phong tục tập quán khác

Tết Nguyên Đán là tết lớn nhất của đồng bào được tổ chức sau một năm lao động vất vả, là dịp anh em con cháu quây quần đoàn tụ Ngày mùng

9 tháng Giêng âm lịch hằng năm là ngày hội Lồng Tồng của người Tày xã Tô

Hiệu, các nghi thức của phần lễ và phần hội mang ý nghĩa cầu mong một năm mới sức khỏe, may mắn, mùa màng bội thu Người Tày ở xã Tô Hiệu cũng tổ

chức ăn tết mùng 3 tháng 3 âm lịch (xo tam bươn tam), 14 tháng 7 âm lịch (Típ tí) và mồng 10 tháng 10 âm lịch (khẩu mâứ)

Tiểu kết chương 1

Là xã thuộc địa hình thung lũng lòng chảo của huyện, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp ruộng nước, chăn nuôi , nên từ lâu xã Tô Hiệu đã trở thành địa bàn tụ cư của nhiều tộc người Qua các nguồn sử liệu cũng như một

số gia phả của các dòng họ lớn hiện nay, cho thấy: người Tày ở xã Tô Hiệu có hai nguồn gốc, trong đó một số dòng họ gốc bản địa (Nông, Lương), còn một

số dòng họ gốc Kinh (Hoàng, Hà) Trải qua nhiều thế hệ, cùng với các dân tộc khác, người Tày nơi đây đã tạo dựng nên những yếu tố văn hóa truyền thống với sắc thái địa phương của người Tày nói chung Những yếu tố văn hóa mang sắc thái riêng này thể hiện qua nhiều các lĩnh vực văn hóa vật thể và phi vật thể, trong đó phong tục, tập quán hôn nhân là một ví dụ

Trong quá trình phát triển đi lên, dưới tác động của các điều kiện kinh

tế, xã hội và văn hóa; quá trình giao lưu và hội nhập, nhất là từ sau Đổi mới (1986) đến nay, các lĩnh vực văn hóa nói chung, trong đó có phong tục, tập quán hôn nhân của họ cũng đã và đang có những thay đổi đáng kể Tuy thế,

so với người Tày ở cả nước nói chung, việc nghiên cứu về người Tày ở huyện

Trang 32

Bình Gia nói riêng, đặc biệt là cộng đồng người Tày ở xã Tô Hiệu nêu trên vẫn còn khiêm tốn Riêng mảng hôn nhân của họ thì từ trước tới nay, hầu như chưa có một công trình, bài viết nào Đây cũng chính là cơ sở mà tác giả quyết định làm đối tượng nghiên cứu, với mong muốn góp một phần nhỏ, giới thiệu văn hóa của dân tộc mình với bạn đọc

Trang 33

Chương 2

HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI TÀY Ở XÃ TÔ HIỆU TRƯỚC ĐỔI MỚI

2.1 Những vấn đề chung về hôn nhân

2.1.1 Quan niệm

Người Tày quan niệm, hôn nhân là một việc rất quan trọng trong cuộc đời con người Đối với đôi trẻ, hôn nhân mang đến những sự thay đổi trong nếp sống, cách nghĩ, từ đây họ phải chịu trách nhiệm, không chỉ với gia đình của mình mà còn với gia đình bên vợ hoặc bên chồng Hôn nhân còn là dấu mốc đặc biệt quan trọng trong chu kỳ đời người, là cơ sở cho của việc tạo dựng một gia đình riêng của đôi trẻ, đồng thời cũng là nền tảng cho sự phát triển tiếp nối của mỗi gia đình, dòng họ Theo quan niệm của người Tày, trai lớn thì lấy vợ, gái lớn thì gả chồng, xây dựng gia đình Con trai lớn không lấy

vợ là không có hiếu với cha mẹ, có lỗi với dòng tộc, họ hàng, con gái lớn không lấy chồng hoặc không lấy được chồng sẽ là nỗi buồn lo cho gia đình Đối với người Tày, hôn nhân không chỉ để duy trì giống nòi, mà còn thể hiện trách nhiệm với gia đình, dòng tộc, với sự chứng kiến của pháp luật, cộng đồng Người Tày còn giải thích rằng, trước đây, việc kết hôn còn là để có thêm nguồn lao động, nhưng ngày nay điều đó không còn là sự lựa chọn quan trọng nữa, vì hầu như các bạn trẻ người Tày đều đã đảm đương các công việc

ngoài xã hội: “vợ chồng em hợp nhau, yêu nhau thì đi đến kết hôn thôi, chứ không vì điều gì cả” (chú rể Hà Đình Hào, 28 tuổi, dân tộc Tày, thôn Pắc

Nàng, xã Tô Hiệu)

2.1.2 Nguyên tắc

Nguyên tắc đầu tiên trong hôn nhân của người Tày là: ngoại hôn dòng

họ, nội hôn tộc người Theo đó, đối với người Tày, trước kia cũng như hiện

nay, việc kết hôn giữa người cùng dòng họ bị coi là vi phạm tục lệ Theo tập quán pháp, anh em cùng dòng họ trong phạm vi từ 3 đến 5 đời tuyệt đối

Trang 34

không được kết hôn với nhau (trừ họ xa, khác chi) Người nào vi phạm sẽ bị quy tội loạn luân, bị dư luận lên án, phải làm lễ giải tội trước bàn thờ tổ tiên Ngay cả việc kết hôn với người trùng họ cũng không được người Tày ưa thích Chính vì thế, vấn đề huyết thống xa hay gần của đôi trai gái luôn được cha mẹ và dòng họ xem xét kỹ lưỡng Các gia đình có con cái đến tuổi kết hôn thường tìm hiểu rất kỹ về lai lịch gia đình của đối tượng muốn kết hôn với con mình, thông thường họ sẽ hỏi vị trưởng họ, người nắm rõ mối quan hệ

về dòng họ, am hiểu về dòng tộc để tránh những điều đáng tiếc xảy ra như việc anh em họ hàng lấy nhau mà không biết Tuy nhiên, thường thì tuy cùng

họ, nhưng nếu đôi trai gái không cùng huyết thống, hoặc đã quá từ 5 đời trở lên thì vẫn được lấy nhau

Trước kia, người Tày có tâm lý chỉ thích kết hôn với người Tày, mà không thích kết hôn với người dân tộc khác Thậm chí, các bậc cha mẹ thường khuyên con cái mình không yêu người dân tộc khác, và có thể bằng mặt mà không bằng lòng nếu khi con cái mình đã đem lòng yêu mến người khác tộc Theo họ giải thích thì, sở dĩ như thế là, cùng trong dân tộc, thì vợ chồng sẽ có tiếng nói chung, không trở ngại trong phong tục tập quán, hơn nữa trong mối quan hệ gia đình, nhất là giữa con dâu và gia đình và dòng họ nhà chồng sẽ có nhiều thuân lợi hơn

Do cư trú gần gũi với người Nùng, nên hiện tượng hôn nhân hỗn hợp dân tộc ở người Tày trước đây phổ biến nhất là trao đổi hôn nhân với người Nùng, sau đó là người Kinh, người Dao , nhất là thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, khá nhiều con trai người Kinh lấy vợ người Tày cũng như con trai người Tày lấy vợ người Kinh ở tỉnh lạng Sơn nói chung, trong đó có xã

Tô Hiệu, huyện Bình Gia nói riêng

Ngày nay, cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, phương tiện

Trang 35

mẽ sự giao lưu văn hóa, nhất là gặp gỡ tiếp xúc giữa những dân tộc khác Người Tày ở xã Tô Hiệu, nhất là thanh niên tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động sản xuất hàng hóa và các hoạt động kinh tế ở ngoài phạm vi xã của

họ sinh sống Tính chất của các hoạt động đó đòi hỏi những quan hệ giao lưu, gặp gỡ với những đối tác đa dạng hơn nhiều so với kinh tế truyền thống, tự cung tự cấp trước đây Thanh niên nam nữ làm việc ở các khu công nghiệp, các nhà hàng hay đi học xa có nhiều cơ hội tiếp xúc rộng rãi hơn với thanh niên các dân tộc khác, nhất là người kinh, các điều kiện và môi trường mới không những làm tăng sự tiếp xúc liên dân tộc mà còn là nguyên nhân của sự tăng tỷ lệ kết hôn của người Tày với những người khác dân tộc trong những năm gần đây

Hôn nhân hỗn hợp dân tộc là biểu hiện trong mối quan hệ giữa các dân tộc, đây là một xu hướng mới của sự phát triển trong quan hệ hôn nhân, là sự gia tăng của các cuộc hôn nhân hỗn hợp gữa người Tày với các dân tộc khác Quan hệ hôn nhân hỗn hợp thể hiện sự xích lại gần nhau giữa các dân tộc trong quá trình phát triển và hội nhập hiện nay, đây là nhân tố mới trong đời sống hôn nhân của người Tày nói chung và người Tày ở xã Tô Hiệu nói riêng, việc thiết lập hôn nhân hỗn hợp dân tộc là hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển của thời đại ngày nay

2.1.3 Tính chất và hình thức

Việc dựng vợ, gả chồng cho con cái của người Tày ở Tô Hiệu, Bình Gia trước đây thể hiện rõ tính chất mua bán, có sự tính toán Nhà trai là bên

mua, nhà gái là bên bán và cô gái như là thứ hàng hoá trao đổi: khai lục nhình

(bán con gái) Người con gái được đánh giá bằng tiền, rượu thịt, của hồi môn Theo đó, lợi hại về kinh tế và địa vị xã hội, nghĩa là vấn đề môn đăng hộ đối luôn được người ta quan tâm Nhà gái thường mong muốn, tự hào khi gả con gái cho gia đình khấm khá, còn nhà trai cũng thường hãnh diện khi cô dâu

Trang 36

đem về nhiều của hồi môn Trong các lần ăn hỏi, vấn đề được hai bên trao đổi, bàn bạc nhiều nhất, công khai và kỹ càng nhất chính là tiền thách cưới và

đồ sính lễ Ở đây còn thể hiện sự phân biệt giữa dòng họ quan lại và chức dịch, nhà giàu với dân thường, nhà nghèo Tuy nhiên, ngày nay tính chất mua bán trong trong hôn nhân đã thay đổi cơ bản, việc thách cưới, sính lễ không còn nặng nề như trước, mà 2 bên gia đình đều tập trung vun đắp cho đôi trẻ, đám cưới diễn ra thuận lợi, sính lễ với nhiều gia đình chỉ gọi là có theo tục lệ:

“Bây giờ không như trước nữa, chủ yếu là bố mẹ hai bên cùng vun đắp cho vợ chồng trẻ thôi, đồ lễ hay tiền dẫn cưới cũng gọi là có thôi, nếu gia đình nhà gái khó khăn thì nhà trai có thể đưa coi như giúp nhà gái nhiều hơn chút, nói chung là không nặng nề” (Tô Thúy Dương, 48 tuổi, dân tộc Tày, thôn Pắc

Nàng, xã Tô Hiệu)

Do ảnh hưởng tư tưởng và chuẩn mực Nho giáo, nên trong hôn nhân của người Tày ở xã Tô Hiệu trước đây thể hiện tính phụ quyền, gia trưởng khá nặng nề Trước đây các cặp đôi yêu nhau, để đến được với nhau phải được sự đồng ý của bố mẹ 2 bên gia đình, thâm chí cũng có trường hợp “cha

mẹ đặt đâu con ngồi đấy” Theo tập tục truyền thống, khi đôi trẻ yêu nhau, đôi khi cha mẹ còn chưa biết mặt người con gái mà con mình đem lòng yêu mến,

mà chỉ thông qua người này, người kia mách bảo và cha mẹ, hoặc sẽ nhờ người chú bác trong gia đình sang đánh tiếng, đặt vấn đề, xin ngày tháng năm sinh của cô gái theo âm lịch về nhờ thầy xem tuổi, hợp nhau thì sẽ cho đôi trẻ tiếp tục tìm hiểu, gặp gỡ lâu dài tiến đến hôn nhân, nếu đôi trai gái không hợp tuổi thì họ sẽ có cách từ chối riêng và đám cưới sẽ không diễn ra Vì thế, trong hôn nhân có sự mâu thuẫn giữa tình yêu tự do trai gái với tính phụ quyền, mua bán cũng như những chế định ngặt nghèo của luật tục và tập quán truyền thống Ở đây, hôn nhân thường không phải là sự phản ánh kết quả của tình yêu tự do thực sự, bởi cho dù đôi trẻ có yêu nhau, nhưng việc có nên vợ

Trang 37

Ngày nay, chủ yếu đôi trẻ tự do tìm hiểu, yêu nhau qua những cơ hội tiếp xúc trong công việc, khi đi làm, gặp gỡ khi đi chơi các lễ hội Sau một thời gian tìm hiểu nhất định, đôi trẻ sẽ thông báo với hai bên gia đình gặp gỡ trao đổi và so tuổi cô gái, nêu hợp tuổi thì các bước tiếp theo sẽ tiến hành theo đúng lộ trình, nếu không hợp tuổi thì họ sẽ nhờ đến người già am hiểu phong tục can thiệp hoặc thầy cúng can thiệp, sẽ có những nghi lễ hóa giải, tiếp đó là các bước đi tới hôn nhân vẫn diễn ra bình thường, chứ họ không hủy kết hôn như trước nũa Như vậy hôn nhân ngày nay chủ yếu dựa trên cơ sở tình yêu của đôi trẻ Cha mẹ không còn kiểm soát và quyết định hôn nhân của con cái nữa, tuy nhiên tiếng nói của bố mẹ và dòng họ vẫn đóng vai trò quan trọng, con cái vẫn xin ý kiến cha mẹ và mong muốn được chấp thuận, lo toan và tác thành cho hôn nhân của mình

Từ khi Luật Hôn nhân và Gia đình được ban hành, các bạn trẻ được quyền

tự do lựa chọn bạn đời và sự tự nguyện trong hôn nhân, thì các đôi trai gái được toại nguyện tự do tìm hiểu, lựa chọn và quyết định hạnh phúc của mình

Về hình thức, hôn nhân của người Tày ở Tô Hiệu, Bình Gia là hôn nhân một vợ một chồng bền vững (tuy vẫn có ngoại tình) Việc lấy vợ lẽ thường chỉ diễn ra đối với tầng lớp quan lại, chức dịch và gia đình giàu có trước đây Nếu không có con trai, chồng có ý định cưới vợ lẽ thì người vợ buộc phải chấp nhận, đôi khi còn phải có trách nhiệm tìm hỏi vợ lẽ cho chồng Còn ở dân thường thì lấy vợ lẽ hiếm thấy hơn Nếu có, thường là do

vợ cả không có con trai

2.1.4 Tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời

Theo quan niệm truyền thống của người Tày, nhà trai chọn dâu, chọn

vợ cho con trai chủ yếu là để lấy được người về làm công, sinh con đẻ cái cho gia đình dòng tộc, vì vậy tiêu chuẩn chọn vợ đầu tiên thường phải là các cô

gái có sức khỏe “cáo na kha mắng” (người khỏe mạnh, chân có bắp) Sau nữa

là lưu ý tới hoàn cảnh kinh tế, anh em dòng họ của nhà gái và một số phẩm

Trang 38

chất đạo đức khác như: tính cần cù siêng năng, nết na hiền lành và sự chung thuỷ của cô gái Trong khi đó, các bậc cha mẹ khi gả con gái cũng thường đòi hỏi ở các chàng rể tương lai một số phẩm chất cơ bản như: sức khoẻ, sự tháo vát trong công việc ruộng nương, anh em dòng họ ít nhiều có thế lực, kinh tế tạm được

Tiêu chí chọn chồng của các cô gái Tày trước kia thường hướng tới là lấy được người chồng khỏe mạnh, thành thạo kỹ năng công việc đồng áng, ruộng nương, biết săn bắn, đan lát Như vậy, trong việc chọn vợ, kén chồng của nam nữ cũng như mong muốn của các bậc cha mẹ ở người Tày trước kia

là người ta rất chú trọng đến yếu tố sức khoẻ Đây chính là yếu tố đảm bảo cho việc sinh sản con cái và nhu cầu thực tế về sức lao động Mặc dù sắc đẹp không phải là tiêu chuẩn được đặt lên hàng đầu, song nó vẫn là yếu tố luôn được các chàng trai cân nhắc Người Tày thường cho rằng: Sức khoẻ và sắc đẹp là những thứ trời cho, còn tính cần cù siêng năng, công việc đồng áng, nội trợ cũng như cung cách ứng xử trong gia đình và ngoài xã hội thì cha mẹ có thể dạy bảo được Hơn nữa những phẩm chất đó còn được rèn luyện, thử thách nhiều trong cuộc sống thực tế Vì thế, đôi khi người ta cũng dễ chấp nhận bỏ qua một trong vài tiêu chuẩn nào đó khi quyết định việc hôn nhân cho con cái

Ngày nay, tiêu chuẩn về yếu tố sức khỏe đã có sự thay đổi, thay vào đó

là tri thức, công việc, tình yêu mới là các tiêu chí quan trọng Bên cạnh đó, vẻ đẹp nết na, phẩm hạnh của người con gái và cách cách đối xử với hai bên gia đình nội ngoại vẫn được các bậc cha mẹ người Tày quan tâm Cũng như thế, sức khỏe, trình độ học vấn, công việc ổn định, sự am hiểu về xã hội của người chồng để có thể gánh vác các công việc của gia đình, xã hội, biết đối nhân xử thế là những tiêu chí cần thiết và quan trọng mà các cô gái Tày mong muốn

Trang 39

2.1.5 Cư trú sau hôn nhân

Theo phong tục truyền thống người Tày, sau đám cưới đôi vợ chồng trẻ sẽ ở chung với bố mẹ chồng Tuy vậy, thời gian đầu sau cưới cô dâu vẫn

về ở bên nhà bố mẹ đẻ, chỉ khi nào bên nhà chồng có công việc (mùa vụ, cấy hái, cưới xin ), cho người sang báo tin hoặc đi đón thì cô dâu mới về và ở ít

ngày giúp việc bên nhà chồng Người Tày ở xã Tô Hiệu có câu hát “thâng mùa tan nà, noọng gói mừa dú rườn khươi” (đến mùa vụ gặt, em mới về nhà

chồng) Thông thường đến khi có thai, sắp ở cữ đứa con đầu lòng (phải đẻ ở nhà chồng) thì cô dâu mới về ở lại hẳn bên nhà chồng

Sau khi kết hôn, nếu đông anh em trai, thì vợ chồng anh cả và các anh thứ sống cùng gia đình bố mẹ vài ba năm, khi đủ điều kiện kinh tế, cặp vợ chồng tách ra ở riêng, nhưng vẫn có trách nhiệm với cha mẹ Khi vợ chồng các anh ra ở riêng, cha mẹ hai bên thường chia ít của cải, đất đai, giúp cho đôi trẻ tạo lập gia đình riêng Em trai út thường được trao quyền làm chủ gia đình,

ở lại ngôi nhà cũ, có trách nhiệm chăm sóc bố mẹ già Hiện nay, xu hướng tách ra ở riêng sau khi cưới của các đôi vợ chồng trẻ ngày càng phổ biến, bắt nhịp với đà phát triển của xã hội công nghiệp

2.1.6 Tuổi kết hôn

Ở xã Tô Hiệu trước đây, các gia đình thường lo dựng vợ, gả chồng cho con cái ở độ tuổi 16 -17 đối với con gái, và từ 17 - 18 tuổi đối với con trai Các cô gái Tày thường thích lấy chồng hơn tuổi, còn các chàng trai thường thích lấy vợ ít tuổi hoặc bằng tuổi

Ngày nay, người Tày xã Tô Hiệu nắm rõ quy định độ tuổi kết hôn trong Luật hôn nhân gia đình, nên hầu hết các đôi trẻ khi tiến tới hôn nhân đều đi đến chính quyền xã đăng ký kết hôn và hiếm có tình trạng tảo hôn xảy ra Điều này thể hiện nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của người dân đã được nâng cao Vì thế, công tác quản lý hộ tịch, hộ khẩu người đi lấy chồng, người về làm dâu (kể cả chuyển về cư trú) trong địa bàn xã khá thuận lợi

Trang 40

2.1.7 Vấn đề trinh tiết, chửa hoang và ly dị

Trong quan niệm truyền thống của người Tày ở xã Tô Hiệu, sự trinh tiết của các cô gái được thể hiện ở các điểm: không ra khỏi nhà đi với bạn trai vào đêm hôm, không được rủ bạn trai về ngủ tại nhà Thông thường, trai gái thường tìm hiểu người bạn đời qua lao động, sản xuất, lễ tết, phiên chợ hay trong các dịp sinh hoạt cộng đồng

Nếu con gái có quan hệ tình dục trước khi cưới được coi là mất trinh triết Đó là những cô gái lẳng lơ, không gia giáo mới hay bị lâm vào tình cảnh như thế Trong trường hợp chửa hoang, không có người nhận cha đứa bé, cô

ta sẽ bị dân làng dè bỉu, bàn tán, lên án khá gay gắt Vì vậy, trong quá trình tìm hiểu, các bà mẹ thường nhắc nhở/rỉ tai con gái hết sức lưu ý, đề phòng chuyện quan hệ tình dục này

Khi đã thành vợ chồng, người Tày thường rất chung thủy, thương yêu nhau hết mực; cùng nhau chăm lo công việc gia đình, nuôi dạy con cái, chăm sóc cha mẹ già yếu Việc ly dị ít khi xẩy ra Dân bản thường chê cười, lên án đối với những trường hợp vợ chồng ăn ở với nhau không hòa thuận, cãi vã nhau, nhất là vợ hoặc chồng sống không thủy chung Trong trường hợp ly dị, nếu vợ chủ động đặt vấn đề, thì phải hoàn trả lại cho nhà chồng các khoản chi phí mà nhà chồng bỏ ra lo cho các lần ăn hỏi và tổ chức đám cưới Nếu chồng chủ động đặt vấn đề ly dị, thì các khoản lo liệu đám cưới được chia thành 2 phần, người chồng phải đền bù lại một nửa cho nhà gái gọi là tiền rửa

mặt (dèn dào ná)

Ngày nay, cùng với sự phát triển chung của xã hội, tư duy về sự trinh

tiết, chửa hoang hay cả ly dị cũng đã thay đổi Chẳng hạn, khi cô gái chẳng may có bầu trước đám cưới thì hai gia đình sẽ gặp nhau bàn bạc thống nhất để đám cưới vẫn diễn ra bình thường Tuy nhiên, người Tày không bao giờ hài lòng việc cô gái có thai trước khi cưới, nên nếu chẳng may điều đó diễn ra thì

Ngày đăng: 12/06/2018, 08:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Huyền Anh (2001), Hôn nhân của người Tày ở xã Quảng Chu, chợ Mới, Bắc Kạn, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hôn nhân của người Tày ở xã Quảng Chu, "chợ Mới, Bắc Kạn
Tác giả: Nguyễn Thị Huyền Anh
Năm: 2001
2. F. Ăngghen (1972), Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước (in lần thứ 2), Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà "nước
Tác giả: F. Ăngghen
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1972
3. Triều Ân, Hoàng Quyết (1995), Tục cưới xin của dân tộc Tày, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục cưới xin của dân tộc Tày
Tác giả: Triều Ân, Hoàng Quyết
Nhà XB: Nxb Văn hóa Dân tộc
Năm: 1995
4. Triều Ân, Hoàng Quyết (2010), Tục cưới xin của dân tộc Tày, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục cưới xin của dân tộc Tày
Tác giả: Triều Ân, Hoàng Quyết
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia
Năm: 2010
5. Ban Dân tộc Trung ƣơng, Ủy ban Dân tộc của Chính phủ (1985), Bốn mươi năm dân tộc Tày tiến lên dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng (1945-1985), Nhà máy in Quân đội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bốn mươi "năm dân tộc Tày tiến lên dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng (1945-1985)
Tác giả: Ban Dân tộc Trung ƣơng, Ủy ban Dân tộc của Chính phủ
Năm: 1985
6. Hoàng Bé (1985), Các quan hệ hôn nhân- gia đình trong xã hội người Tày Bảo Lạc, Báo cáo điền dã, Tƣ liệu Viện Dân tộc học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các quan hệ hôn nhân- gia đình trong xã hội người Tày "Bảo Lạc
Tác giả: Hoàng Bé
Năm: 1985
7. Đỗ Thúy Bình (1991), "Thực trạng hôn nhân của các dân tộc miền núi phía Bắc", Dân tộc học, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng hôn nhân của các dân tộc miền núi phía Bắc
Tác giả: Đỗ Thúy Bình
Năm: 1991
8. Đỗ Thúy Bình (1994), Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày, Nùng và Thái ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày, Nùng và Thái ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Thúy Bình
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1994
9. Đỗ Thúy Bình (1999), "Thực trạng hôn nhân các dân tộc phía Bắc", Dân tộc học, (2), tr.19-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng hôn nhân các dân tộc phía Bắc
Tác giả: Đỗ Thúy Bình
Năm: 1999
10. Nguyễn Thị Thanh Bình (2016), "Dân tộc Tày", trong Vương Xuân Tình (chủ biên), Các dân tộc ở Việt Nam (tập 2 - Nhóm ngôn ngữ Tày-Thái Kađai), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.19-120 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc Tày
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Bình
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2016
11. Hoàng Hữu Bình, Trần Thị Hạnh (2005), "Đám cưới truyền thống của người Tày ở Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng", Tạp chí Dân tộc học, (2), tr.22 - 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đám cưới truyền thống của người Tày ở Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng
Tác giả: Hoàng Hữu Bình, Trần Thị Hạnh
Năm: 2005
12. Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (tập I, II, III và V), ấn hành từ năm 1999 đến 2005, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
13. Các dân tộc ở Bắc Kạn (2003) của nhiều tác giả, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc ở Bắc Kạn
Nhà XB: Nxb Thế giới
14. Các dân tộc ở tỉnh Hà Giang (2003) của nhiều tác giả, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc ở tỉnh Hà Giang
Nhà XB: Nxb Thế giới
15. Hoàng Thị Cành (2013), Tục hôn nhân cổ của người Tày Nguyên Bình, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục hôn nhân cổ của người Tày Nguyên Bình
Tác giả: Hoàng Thị Cành
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2013
16. Nguyễn Thị Phương Châm (2006), Nghi lễ hôn nhân của người Kinh ở Trung Quốc - trường hợp làng Vạn Vĩ (Giang Bình, Đông Hưng, Quảng Tây, Trung Quốc), Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghi lễ hôn nhân của người Kinh ở Trung "Quốc - trường hợp làng Vạn Vĩ (Giang Bình, Đông Hưng, Quảng Tây, Trung "Quốc)
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Châm
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2006
17. Nông Minh Châu (1973), Dân ca đám cưới Tày - Nùng, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân ca đám cưới Tày - Nùng
Tác giả: Nông Minh Châu
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1973
18. Chu Quang Cường (2016), Hôn nhân của người Dao họ ở huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai, Luận án Tiến sỹ Nhân học, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hôn nhân của người Dao họ ở huyện Bảo Thắng, "tỉnh Lào Cai
Tác giả: Chu Quang Cường
Năm: 2016
19. Phan Hữu Dật (1973), Cơ sở Dân tộc học, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở Dân tộc học
Tác giả: Phan Hữu Dật
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1973
20. Khổng Diễn (1987), "Một số đặc điểm về dân tộc và dân cư tỉnh Lạng Sơn", Dân tộc học, (01) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm về dân tộc và dân cư tỉnh Lạng Sơn
Tác giả: Khổng Diễn
Năm: 1987

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w