Giải pháp xóa đói, giảm nghèo MỞ ĐẦU • Tính cấp thiết của đề tài. Sau hơn 20 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta từng bước khởi sắc và đạt được nhiều thành tựu to lớn, đời sống nhân dân được cải thiện và nâng cao một bước rõ rệt. Tuy nhiên cùng với xu thế phát triển đi lên của xã hội, bên cạnh đó xã hội đang phân hóa giàu nghèo một cách rõ rệt, một bộ phận dân cư giàu lên vẫn còn một bộ phận rơi vào cảnh nghèo đói, nghèo với khoảng cách ngày càng xa. Hiện nay, số hộ nghèo ở việt nam còn rất cao, theo chuẩn nghèo của chính phủ vừa mới ban hành cả nước có khoảng 3,9 triệu hộ nghèo, chiếm 22% số hộ toàn quốc, trong số hộ nghèo nêu ở trên thì số hộ nghèo là người dân tộc thiểu số chiếm phần lớn. Do điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội ở vùng cộng đồng các dân tộc thiểu số không thuận lợi cho phát triển kinh tế như: kết cấu hạ tầng thiếu và yếu, hệ thống giao thông đi lại kém phát triển, đời sống vật chất của các đồng bào dân tộc nói chung và đồng bào ở các vùng sâu vùng xa còn gặp nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp, sản xuất chủ yếu là tự cung tự cấp. Bên cạnh đó, hàng năm thiên tai, hạn hán, lốc xoáy, lũ lụt thường xuyên sảy ra làm ảnh hưởng lớn đề đời sống của nhân dân trong huyện nói chung và các đồng bào dân tộc nói riêng. Chính vì vậy Đảng và nhà nước đã đề ra một số chủ trương, chính sách, xây dựng một số chương trình áp dụng nhằm giảm tỷ lệ đói nghèo cho cộng đồng dân tộc thiểu số nói chung, trong đó có huyện Si Ma Cai. Nhưng do những đặc điểm riêng có của đồng bào các dân tộc thiểu số, cùng với phong tục tập quán lạc hậu, do đó việc thực hiện các chương trình chính sách xóa đói giảm nghèo ở cộng đồng các dân tộc ở huyện còn nhiều hạn chế, nên tỷ lệ nghèo đói ở huyện vẫn còn rất cao.
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo của trường, khoa Công Tác
Xã Hội, trường Đại học Công Đoàn đã quan tâm dạy dỗ, truyền thụ cho em nhữngkiến thức khoa học trong suốt 4 năm học vừa qua
Đặc biệt, em bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thạc Sĩ Vũ Văn Thái đã tận tình
hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài:
“ Giải pháp xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn huyện Si Ma Cai – tỉnh Lào cai ”
Đồng thời, em cũng xin chân thành cảm ơn toàn thể cá bác, cô, chú cán bộ
của Phòng Lao Động – Thương binh và Xã hội huyện Si Ma Cai đã thường
xuyên chỉ bảo em trong quá trình thực tập, em xin cảm ơn các cán bộ của UBND,phòng Giáo dục huyện đã cung cấp đầy đủ số liệu và tận tình giúp đỡ em hoànthành chuyên đề thực tập tốt nghiệp này
Mặc dù bản thân đã có sự cố gắng nỗ lực nhưng không tránh khỏi nhữngthiếu sót rất mong sự góp ý và cảm thông của thầy, cô giáo; các bác, cô, chú cán bộphòng Lao Động – thương binh và xã hội huyện Si Ma Cai Kính chúc các thầy côgiáo Trường Đại học Công đoàn, toàn thể các bác, cô, chú cán bộ phòng Lao Động– thương binh và xã hội huyện Si Ma Cai sức khỏe dồi dào và luôn thành côngtrong cuộc sống và trong công việc
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 09 tháng 05 năm 2013
Sinh viên
BẢNG LIỆT KÊ CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 2XĐGN Xóa đói giảm nghèo
Bộ LĐTB&XH Bộ Lao động, thương binh và xã hội
Trang 3Sau hơn 20 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta từng bước khởi sắc và đạt đượcnhiều thành tựu to lớn, đời sống nhân dân được cải thiện và nâng cao một bước rorệt Tuy nhiên cùng với xu thế phát triển đi lên của xã hội, bên cạnh đó xã hội đangphân hóa giàu nghèo một cách ro rệt, một bộ phận dân cư giàu lên vẫn còn một bộphận rơi vào cảnh nghèo đói, nghèo với khoảng cách ngày càng xa.
Hiện nay, số hộ nghèo ở việt nam còn rất cao, theo chuẩn nghèo của chính phủvừa mới ban hành cả nước có khoảng 3,9 triệu hộ nghèo, chiếm 22% số hộ toànquốc, trong số hộ nghèo nêu ở trên thì số hộ nghèo là người dân tộc thiểu số chiếmphần lớn Do điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội ở vùng cộng đồng các dân tộcthiểu số không thuận lợi cho phát triển kinh tế như: kết cấu hạ tầng thiếu và yếu, hệthống giao thông đi lại kém phát triển, đời sống vật chất của các đồng bào dân tộcnói chung và đồng bào ở các vùng sâu vùng xa còn gặp nhiều khó khăn, trình độdân trí thấp, sản xuất chủ yếu là tự cung tự cấp
Bên cạnh đó, hàng năm thiên tai, hạn hán, lốc xoáy, lũ lụt thường xuyên sảy ralàm ảnh hưởng lớn đề đời sống của nhân dân trong huyện nói chung và các đồngbào dân tộc nói riêng Chính vì vậy Đảng và nhà nước đã đề ra một số chủ trương,chính sách, xây dựng một số chương trình áp dụng nhằm giảm tỷ lệ đói nghèo chocộng đồng dân tộc thiểu số nói chung, trong đó có huyện Si Ma Cai Nhưng donhững đặc điểm riêng có của đồng bào các dân tộc thiểu số, cùng với phong tục tậpquán lạc hậu, do đó việc thực hiện các chương trình chính sách xóa đói giảm nghèo
ở cộng đồng các dân tộc ở huyện còn nhiều hạn chế, nên tỷ lệ nghèo đói ở huyệnvẫn còn rất cao
Huyện Si Ma Cai là huyện vùng cao, biên giới, gồm 13 xã và có xã thuộc diệnđặc biệt khó khăn, trong đó có 85% số hộ là đồng bào dân tộc thiểu số nghèo về cảlương thực thực phẩm, về cơ sở vật chất, giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội Vì vậy làmột sinh viên thực tập tại phòng Lao động – Thương binh và xã hội của huyện Si
Trang 4Ma Cai, tôi quyết định lựa chọn đề tài: “ Giải pháp xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn huyện Si Ma Cai – tỉnh Lào cai” để làm chuyên đề thực tập cuối khóa của
mình, qua chuyên đề này tôi hy vọng tìm ra giải pháp tối ưu hơn trong công tác xóađói giảm nghèo, góp phần sức vào công cuộc xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dântộc thiểu số ở Huyện Si Ma Cai
• Tổng quan về vấn đề đói nghèo.
Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư trong cộng đồng, xã hội, biểu hiện
cụ thể là những cá nhân, hộ gia đình không được đảm bảo, thoả mãn những nhu cầuthiết yếu, cơ bản cho cuộc sống, trước hết là nhu cầu về đời sống vật chất của conngười được xác định theo tiêu chí đánh giá tại thời điểm nhất định và gặp khó khăn,trở ngại trong việc tiếp cận điều kiện để vươn lên thoát cảnh đói nghèo
Theo Tổ chức Nông Lương Liên Hợp quốc (FAO), Ngân hàng Thế giới (WB) vàChương trình phát triển Liên Hợp quốc (UNDP) thì nghèo được phân thành hai cấp độ:nghèo tương đối – nghèo và nghèo tuyệt đối – nghèo đói/nghèo khổ
• Nghèo tương đối là tình trạng cá nhân, hộ gia đình chỉ thoả mãn một phần
nhu cầu tối thiểu của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trungbình của cộng đồng xét trên mọi phương diện (Tiêu chuẩn của Liên hợp quốcđưa ra, hiện đang sử dụng là người có thu nhập bình quân dưới2USD/1người/1ngày)
• Nghèo tuyệt đối – nghèo khổ là tình trạng cá nhân, hộ gia đình có mức sống
dưới mức tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sốngtối thiểu, nói cách khác đó là một bộ phận dân cư hàng năm thường xuyênthiếu ăn, đứt bữa, sống khổ cực thiếu thốn, phải lo chạy ăn từng bữa, vay nợ
và thiếu khả năng trả nợ (Tiêu chuẩn của LHQ đưa ra là người có thu nhậpbình quân dưới 1USD/1ngày)
Trang 5Có thể với cộng đồng này thì nhóm người này (bộ phận dân cư này) là nghèonhưng cũng nhóm người ấy so sánh với cộng đồng dân cư hay bộ phận dân cưnghèo của cộng đồng dân cư khác thì lại có mức sống, điều kiện sống cao hơn Nhưvậy, nghèo tuyệt đối là hệ quả trực tiếp của thu nhập thấp và các điều kiện sốngkhác như môi trường, điều kiện sản xuất, kinh doanh, canh tác, y tế, giáo dục, kếtcấu hạ tầng cơ sở, mạng lưới thông tin thấp, còn nghèo tương đối là việc so sánhmức thu nhập, mức sống, điều kiện sống giữa các nhóm dân cư trong một cộngđồng dân cư xác định hoặc giữa các cộng đồng dân cư với nhau Theo sự vận động,phát triển – chuyển biến và cải tiến không ngừng của kinh tế – xã hội, đặc biệt làcủa quá trình sản xuất, tính chất sở hữu và phương thức phân phối thu nhập thì tìnhtrạng nghèo tuyệt đối sẽ có xu hướng giảm dần, song tình trạng nghèo tương đối sẽ
có những khoảng cách và tồn tại lâu dài do tương quan giữa các nhóm dân cư, cộngđồng xã hội khác nhau
Việt Nam đi lên xây dựng CNXH từ một nước có nền kinh tế lạc hậu, kém pháttriển, bị chiến tranh kéo dài, tàn phá nặng nề và hậu quả để lại rất lớn, phải mấtnhiều thời gian mới khôi phục và hàn gắn được Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nỗlực của toàn dân tộc, đặc biệt từ khi thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện, cả đấtnước đã không ngừng phấn đấu, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và từngbước vươn lên mạnh mẽ, thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử Kinh
tế tăng trưởng khá cao liên tục (giai đoạn 1986 – 2005 đạt bình quân khoảng 7%,năm 2006 đạt 8,04%, năm 2007 là 8,5%, năm 2008 khi kinh thế thế giới rơi vàotình trạng suy thoái, khủng hoảng thì tăng trưởng kinh tế Việt Nam vẫn đạt 6,23%
và năm 2009 tăng 5,32%); Mặt bằng xã hội nói chung và đời sống nhân dân khồngngừng được cải thiện
Tuy nhiên, cho đến nay, Việt Nam vẫn là một nước nằm trong nhóm những nướcnghèo và là nước đang phát triển trên thế giới Hai trong những biểu hiện ro nét củatình trạng nước nghèo là: (1)thu nhập bình quân đầu người ở nước ta còn rất thấp
Trang 6trong khu vực và thế giới (năm 2009 khoảng 1100USD/1người/1năm, đứng thứ 7ASEAN và thứ 141 thế giới); (2) mặc dù được thế giới đánh giá việc XĐGN là
“một kỳ tích, đáng kinh ngạc và trân trọng” (từ 70% dân số sống dưới mức nghèovào những năm 1980, xuống 50% những năm 1990, đến 1998 là 37,4%, năm 2002
là 28,9%, năm 2004 là 19,5%, năm 2006 là 16% và theo chuẩn nghèo năm 2005thìđến hết năm 2008, tỷ lệ nghèo ở Việt Nam còn 14,7% và đến hết năm 2010 giảmxuống còn 9,45%), nhưng chưa thực sự bền vững, khả năng tái nghèo cao [(1)(2)
nguồn từ số liệu của Tổng cục Thống kê, cập nhật ngày 30/12/2009 và Website:
www.baomoi.com - Áp dụng chuẩn nghèo mới giai đoạn 2011 – 2015, cập nhật ngày 13/01/2011
Theo chuẩn nghèo năm 2001 thì chuẩn nghèo ở nông thôn là những hộ có thunhập bình quân 80.000đồng/người/tháng, thành thị là những hộ có thu nhập bìnhquân 100.000đ/người/tháng; theo chuẩn năm 2005 thì ở nông thôn là200.000đồng/người/tháng, thành thị là 260.000đồng/người/tháng; Chuẩn nghèomới được áp dụng cho giai đoạn 2011 – 2015 theo Chỉ thị số 1752, ngày 21/9/2010của Thủ tướng Chính phủ thì ở khu vực nông thôn, những hộ có thu nhập bình quân
từ 400.000đồng/người/tháng là hộ nghèo, ở khu vực thành thị là500.000đồng/người/tháng
Chỉ thị này cũng đề ra chuẩn xác định các hộ cận nghèo là những hộ có mức thunhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000đồng/người/tháng (khu vực nôngthôn) và từ 501.000 đồng đến 650.000đồng/người/tháng (khu vực thành thị) Theochuẩn nghèo mới, tổng số hộ nghèo của cả snước khoảng 3,3 triệu hộ (chiếm15,25%) và tổng số hộ cận nghèo là trên 1,8 triệu hộ (chiếm 8,5%)
Phần lớn người nghèo, hộ gia đình nghèo tập trung ở các vùng nông thôn nước
ta (chiếm 90% tổng hộ nghèo), đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, miền núi và chiếm tỷ
lệ cao ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Trang 7• Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài.
• Ý nghĩa khoa học của đề tài
Thông qua việc nghiên cứu, đề tài sẽ góp phần làm ro nét hơn các khái niệm, lýthuyết, các kiến thức của ngành CTXH, thông qua việc vận dụng các kiến thức củangành vào thực tiễn Từ đó, giúp rút ngắn khoảng cách giữa lý thuyết và thực tế.Bên cạnh đó sẽ góp phần tìm hiểu ro được về thực trạng đói nghèo trên địa bàn,đồng thời hoàn thiện các chính sách về XĐGN cũng như đưa ra một mô hình khoahọc hợp lý, phù hợp với hoàn cảnh thực tế tại huyện Si Ma Cai
• Ý nghĩa thực tiễn của đề tài.
Việc quan sát, mô tả ro ràng chân thực thực trạng đói nghèo, tại địa bàn huyện
Si Ma Cai sẽ giúp bản thân dễ dàng chỉ ra đc hiệu quả thực hiện các chương trìnhXĐGN đã được triển khai trên địa bàn
• Đối tượng, khách thể, mục đích và phạm vi nghiên cứu.
• Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề là: “Giải pháp xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn huyện Si Ma Cai – tỉnh Lào cai”.
Trang 8cứ bám lấy người dân nơi đây, hằng ngày phải nhìn thấy những đứa trẻ nhỏ phảilàm lụng vất vả quá với sức của chúng, thấy người dân phải ngồng ghánh nỗi locơm áo gạo tiền Vì vậy tôi muốn tìm hiếu xem do đâu mà người dân quê tôi lạinghèo đói đến vậy, phải làm sao đẩy lùi được tình trạng nghèo đói xuống Nghiêncứu này sẽ tập trung đi sâu vào thực trạng nghèo đói ở huyện Si Ma Cai, cácnguyên nhân nghèo đói, hậu quả nghèo đói của người dân nơi đây Nghiên cứu nàycòn giúp mọi người hiểu thêm mức độ, tầm ảnh hưởng của nghèo đói huyện Si MaCai Nó ảnh hưởng như thế nào, tác động ra sao đến chất lượng cuộc sống củangười dân Cuối cùng, nghiên cứu sẽ đưa ra một số giải pháp mang tính định hướng
để giúp xoá đói giảm nghèo hiệu quả nhanh và bền vững hơn
• Phạm vi nghiên cứu.
• Không gian nghiên cứu: đề tài nghiên cứu tại địa bàn huyện Si Ma cai
• Thời gian: tập trung nghiên cứu số liệu sơ cấp năm 2012 và số liệu thứ cấp
2008 – 2012
• Phương pháp nghiên cứu.
• Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Trong quá trình nghiên cứu và thực tế
tác giả đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu thực tiễn như: Quan sát,phỏng vấn, phân tích tài liệu lập bảng hỏi, vãng gia
• Phương pháp quan sát: Quan sát là quá trình tri giác và việc ghi chép mọi
yếu tố có liên quan đến đối tượng nghiên cứu phù hợp với đề tài và mục đíchnghiên cứu Tác giả vận dụng phương pháp này trong quá trình làm việc vớicác hộ gia đình nghèo và quan sát những kết quả đã đạt được từ các chínhsách đã được triển khai trên địa bàn huyện Quan sát mức sống, nhận thứccủa bà con trong quá trình xây dựng nông thôn mới
Trang 9• Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn là cách thức để thu thập thông tin một
cách cụ thể và chính xác nhất Tác giả sử dụng phương pháp này trong quátrình tìm hiểu về đời sống người dân về hiệu quả trước và sau khi các chínhsách đã được triển khai, đồng thời lấy ý kiến của người dân về công tácXĐGN trong từng giai đoạn từ đó tìm hiểu về thực trạng vấn đề còn tồn đọng
để đưa ra những giải pháp hữu hiệu nhất nhằm giúp bà con ổn định cuộcsống
Phỏng vấn cán bộ Đảng bộ huyện, nhất là phòng Lao động Thương binh - Xãhội, dựa trên những tiêu chí đánh giá nghèo và cận nghèo, số lượng, tỷ lệ nghèotrên địa bàn huyện…từ đó có một cái nhìn tổng quát nhất, chính xác nhất về số liệu
và những thông tin cần nghiên cứu
• Phương pháp phân tích tài liệu: Là cải biến mục đích của thông tin có sẵn
trong các tài liệu; hay nói cách khác là xem xét các thông tin có sẵn trong cáctài liệu để rút ra những thông tin cần thiết nhằm đáp ứng những mục tiêunghiên cứu của một đề tài nhất định Trước khi sử dụng một tài liệu nào đócho phân tích cần phải trả lời hai vấn đề sơ bộ: thứ nhất, tài liệu có được đó
có cần thiết cho nghiên cứu không? thứ hai, phải chăng thông tin có trongcác tài liệu đó là tin tưởng được?
Nghiên cứu các giải pháp mà Đảng và nhà nước đã vạch ra nhằm áp dụng vớiđiều kiện của từng địa phương sao cho đạt hiệu quả cao nhất mà không ảnh hưởng,hao hụt những nguồn tài nguyên, sức dân, kinh phí mang lại
• Phương pháp vãng gia: Vãng gia là biện pháp khả quan nhất khi muốn tìm
hiểu ro thực trạng của từng hộ gia đình nghèo và cận nghèo, tuy nhiên dođiều kiện đi lại gặp nhiều khó khăn nên tác giả chỉ vãng gia được một vài hộgia đình ở các xã như Thào Chư Phìn, Cán Cấu, Cán Hồ, Sín Chéng…
CHƯƠNG I:
Trang 10CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ ĐÓI NGHÈO
• Cơ sở lý luận
• Các lý thuyết.
Lý thuyết là tập hợp những kiến thức khoa học và những kinh nghiệm từthực tiễn cuộc sống Nó có vai trò là hệ thống lý luận cho một ngành khoa học nhấtđịnh và có tính định hướng cho những hành động nghề nghiệp của ngành khoa học
đó Vì vậy, việc vận dụng lý thuyết trong khi nghiên cứu là một việc hết sức cầnthiết, tránh được lối tư duy theo hướng trực quan, cảm tính và có một cái nhìn đúngđắn, sâu sắc về đối tượng mà mình nghiên cứu
Trong nội dung đề tài này, bản thân đã đặc biệt vận dụng các lý thuyết đó là
lý thuyết hệ thống, lý thuyết sinh thái, lý thuyết về phát triển cộng đồng và pháttriển xã hội, lý thuyết nhu cầu
• Lý thuyết hệ thống
Hệ thống là một sự kết hợp nhiều yếu tố cùng loại hoặc cùng chức năng.Trong một hệ thống có chứa nhiều tiểu hệ thống tồn tại và tương tác lẫn nhaunhưng đều hướng đến một sự cân bằng nhất định Đó chính là cơ sở cho đảm bảocho hệ thống đó tồn tại
Mỗi một cá nhân là một tiểu hệ thống trong một hệ thống lớn hơn là gia đình
và xã hội,và bản thân cá nhân cũng là một hệ thống chứa đựng những tiểu hệ thốngkhác đó là các tế bào, các cơ quan, bộ phận của cơ thể Vì vậy, có thể nói một hệthống gồm nhiều tiểu hệ thống đồng thời cũng là một bộ phận của một đại hệ thốnglớn hơn
Trang 11Trong một hệ thống các tiểu hệ thống tạo thành cấu trúc của hệ thống và cácyếu tố đó luôn tương tác lẫn nhau, chỉ cần một thay đổi nhỏ ở một tiểu hệ thống
sẽ làm cho toàn bộ hệ thống ấy thay đổi
Vì vậy, khi nghiên cứu thuyết hệ thống, NVCTXH phải có sự chọn lựa, sànglọc trong hành động để có được sự thay đổi như mong muốn, tránh được nhữnghiệu ứng lan toả gây ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển của thân chủ Bên cạnh
đó, Nhân Viên Xã Hội cũng cần phải hiểu rằng, hệ thống chính thức trong cộngđồng luôn là nguồn lực hỗ trợ tích cực cho con người, đặc biệt là những người yếuthế Tuy nhiên cũng có những hệ thống có những đặc điểm gây trở ngại cho sự pháttriển của thân chủ thì cần phải giải quyết vấn đề đang gây trở ngại cho sự phát triểnđó
Lý thuyết hệ thống chỉ ra được mối quan hệ giữa cá nhân với nhóm và với
xã hội Cá nhân tác động lên nhóm, xã hội nhưng ngược lại chính nhóm và xã hộicũng tác động ngược lại lên mỗi cá nhân, và trong môi trường đó mỗi cá nhân cũng
bị cuốn vào mối tương tác với các hệ thống khác Và thông qua sự tương tác đógiúp cho nhân viên xã hội nhận diện ra thân chủ và vấn đề mà thân chủ gặp phải.Đồng thời, từ việc nghiên cứu thuyết hệ thống đã giúp cho nhân viên xã hội hìnhthành một cách tiếp cận mới hiệu quả đó là cách tiếp cận hệ thống Tức là nhìn thânchủ của mình trong hệ thống mà thân chủ đang tồn tại và trong mối tương quan vớicác hệ thống khác, tìm hiểu các yếu tố thuộc về thân chủ và xung quanh thân chủ
để tìm hiểu xem mối quan hệ đó như thế nào? Gây ảnh hưởng như thế nào đến thânchủ?
Từ nhận thức về lý thuyết hệ thống đã giúp tác giả xác định được huyện Si
Ma Cai là một hệ thống trong đó có các tiểu hệ thống là các xã và những ngườinghèo trong huyện Huyện Si Ma Cai lại là một bộ phận của hệ thống xã hội Khinghiên cứu bản thân đã đặt huyện Si Ma Cai trong bối cảnh kinh tế xã hội cụ thể và
Trang 12thấy được những nguyên nhân dẫn tới tình trạng nghèo đói Từ đó mới có cái nhìnkhách quan, trung thực về địa phương mình thực tập.
• Lý thuyết sinh thái
Sinh thái là các yếu tố thuộc về vật sống và môi trường sống Đây
là lý thuyết đi kèm với lý thuyết hệ thống trong việc tìm hiểu nghiên cứu đối tượngtrong mối tương quan với các yếu tố xung quanh
Mỗi một cá nhân tồn tại không thể tách rời khỏi một môi trường hoàn cảnh
cụ thể Cá nhân là một yếu tố của môi trường và chịu sự tác động của môi trường.Trong mối quan hệ tương tác đó hình thành hai xu thế là cá nhân cải tạo môi trường
để phù hợp với bản thân hoặc cá nhân đó sống hoàn toàn phụ thuộc vào môitrường Và tất cả các cá nhân trong quá trình tồn tại của mình đều chịu ảnh hưởngbởi bốn môi trường đó là tổ chức, văn hoá, thiết chế và cộng đồng
Khi nghiên cứu lý thuyết này, nhân viên xã hội cần phải đặt thân chủ củamình vào hệ thống sinh thái mà thân chủ đang sống Khi nghiên cứu thực trạng các
hộ gia đình nghèo đói trên địa bàn huyện, tác giả phải đặt những hộ đó trong môitrường hoàn cảnh của địa phương cũng như sự tác động của nó đến các hộ gia đình
và ngược lại
• Lý thuyết nhu cầu
Nhu cầu là những mong muốn của con người phù hợp với điều kiện kháchquan Xã hội càng phát triển thì nhu cầu ngày càng cao Vì vậy, có thể xem nhucầu là thước đo của sự phát triển
Abraham Maslow (1908-1970) cho rằng nhu cầu của con người trong
hệ thống thứ bậc và phải được thoã mãn trong mối tương quan với môi trường đểcon người có thể phát triển khả năng cao nhất của mình, và theo đó, ông chia nhucầu của con người ra 5 thứ bậc
Trang 13Vận dụng lý thuyết này với đối tượng là các hộ gia đình nghèo trong địa bànhuyện, bản thân đã từng bước xác định nhu cầu của mỗi thân chủ của mình đang ởmức độ nào, để từ đó có được phương hướng chung nhất phù hợp với yêu cầu củatừng hộ và yêu câu chung của cộng đồng Cũng trên cơ sở đó xắp xếp thứ tự ưu tiêncác nhu cầu Xem xét nhu cầu nào bức thiết nhất cần phải giải quyết và nhu cầu nàogiải quyết tiếp theo sau đó.
Trong khi xác định nhu cầu, NVCTXH cũng phải đặc biệt chú ý đến các điềukiện khách quan của cộng đồng Và phải tìm hiểu khai thác hết tiềm lực có trongcộng đồng Đó chính là môi trường cộng đồng, đây sẽ trở thành nguồn cung cấp tàinguyên để đáp ứng các nhu cầu của cộng đồng Nhưng đồng thời, nó cũng làm nảysinh các nhu cầu khác Việc giải quyết các nhu cầu mới nảy sinh là cơ sở thúc đẩy
sự phát triển cho cộng đồng và đảm bảo việc tự quyết cho cộng đồng trong việc đápứng các nhu cầu của mình
• Khái niệm về đói nghèo và thước đo về tiêu chuẩn đói nghèo.
• Khái niệm nghèo.
Theo hội nghị chống nghèo khu vực Châu Á – Thái Bình Dương do ESCAP
tổ chức tại Băng Cốc – Thái Lan tháng 09/1993 định nghĩa: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người và những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế – xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương”.
Tại hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại copenhaghen – Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về nghèo đói: “Người nghèo là tất cả những ai có thu nhập thấp hơn 1đôla mỗi ngày trên một người, số tiền được coi như đủ để mua sản phẩm thiết yếu để tồn tại”
Trang 14Theo quan điểm của ngân hàng thế giới WB( world bank): “Ngưỡng nghèo là mốc mà cá nhân hay hộ gia đình có thu nhập nằm dưới mốc này thì bị coi là nghèo Ngưỡng nghèo là yếu tố chính yếu để quy định thành phần nghèo của một quốc gia Theo WB thì đói nghèo là những bộ phận mà không có khả năng chi trả cho số hàng hóa lương thực của mình đủ để cung cấp 2.100 calori mỗi người mỗi ngày”.
• Khái niệm đói.
Đó
i là một khái niệm biểu đạt tình trang con người ăn không đủ no, không đủ
năng lượng tối thiểu cần thiết để duy trì sự sống hằng ngày do đó không đủ sức đểlao động và tái sản xuất lao động
• Khái niệm về xóa đói, giảm nghèo.
• Khái niệm về xóa đói:
xóa đói là một bộ phận dân cư nghèo sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không
đủ để đảm bảo về nhu cầu và vật chất để duy trì mức sống, từng bước nâng caomức sống đến mức tối thiểu và có thu nhập đủ để đảm bảo nhu cầu về vật chất đểduy trì cuộc sống
• Khái niệm về giảm nghèo:
Giảm nghèo là một bộ phân dân cư nghèo được nâng cao mức sống, từng bướcthoát khỏi tình trạng nghèo Điều này được thể hiện ở tỷ lệ phần trăm và số lượngngười nghèo giảm xuống Hay giảm nghèo là quá trình chuyển bộ phận dân cưnghèo lên mức sống cao hơn
Sự thống nhất giữa hai mục tiêu này: nếu giảm nghèo đạt được mục tiêu thìđồng thời cũng xóa đói luôn Do vậy thực chất giảm nghèo và xóa đói là đồngnghĩa
Trang 15▪ Phương pháp của Ngân hàng Thế giới
Phương pháp mà WB đã sử dụng ở nhiều nước đang phát triển là dựa vào
ngưỡng chi tiêu tính bằng đôla mỗi ngày Ngưỡng nghèo thường dùng hiện nay là 1
USD và 2 USD/ngày (theo sức mua tương đương - PPP) Đây là ngưỡng chi tiêu cóthể đảm bảo mức cung cấp năng lượng tối thiểu cần thiết cho con người, mứcchuẩn đó là 2.100 kcal/người/ngày Ngưỡng nghèo này gọi là “ngưỡng nghèo lươngthực, thực phẩm” (nghèo đói ở mức thấp) Vì mức chi tiêu này chỉ đảm bảo mứcchuẩn về cung cấp năng lượng mà không đủ chi tiêu cho những hàng hoá phi lươngthực
Theo phương pháp trên, WB đã tính toán và đưa ra khuyến nghị chuẩn nghèođói cho các quốc gia vào cuối những năm 1990 như sau:
Đối với các nước đang phát triển: Các cá nhân bị coi là nghèo đói khi có thu nhậpdưới 1 USD/ngày;
• Các nước thuộc Châu Mỹ La tinh và Caribe là 2 USD/ngày;
• Các nước Đông Âu là 4 USD/ngày;
• Các nước công nghiệp phát triển là 14,4 USD/ngày
Tuy vậy, các quốc gia đều tự đưa ra chuẩn riêng của mình, thông thường thấphơn thang nghèo đói WB
Trang 16▪ Phương pháp của Việt Nam
Hiện nay có các phương pháp tiếp cận với ranh giới nghèo đói như sau:
• Phương pháp của Tổng cục Thống kê, dựa vào cả thu nhập và chi tiêu, xác
định 2 ngưỡng nghèo Thứ nhất là “ngưỡng nghèo lương thực, thực phẩm”dựa theo cách tiếp cận của WB Ngưỡng nghèo thứ 2, thường gọi là “ngưỡngnghèo chung”, bao gồm cả phần chi tiêu cho hàng hoá phi lương thực
• Phương pháp của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, dựa trên thu nhập
của hộ gia đình, dùng để xác định chuẩn đói nghèo của chương trình XĐGNquốc gia Những người có mức thu nhập nằm dưới các giới hạn chuẩn (chuẩnnghèo) đã quy định thì được coi là nghèo khổ
Chuẩn nghèo đói của Việt Nam được xác định bắt đầu từ năm 1993, đến năm
2006 đã có 5 lần điều chỉnh, cụ thể như sau:
Hộ nghèo: là hộ có thu nhập như sau:
• Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 15 kg/người/tháng
• Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: dưới 20 kg/người/tháng
• Vùng thành thị: dưới 25 kg/người/tháng
• Giai đoạn 1997 – 2000 (Công văn số 1751/LĐTBXH):
Trang 17Hộ đói: là hộ có mức thu nhập bình quân một người trong hộ một tháng quy ragạo dưới 13 kg, tương đương 45.000 đồng (giá năm 1997, tính cho mọi vùng).
Hộ nghèo là hộ có thu nhập tùy theo từng vùng ở các mức tương ứng như sau:
• Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 15 kg/người/tháng (tương đương55.000 đồng)
• Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: dưới 20 kg/người/tháng (tươngđương 70.000 đồng)
• Vùng thành thị: dưới 25 kg/người/tháng (tương đương 90.000 đồng)
• Giai đoạn 2001 – 2005 (Quyết định 1143/2000/QĐ-LĐTBXH):
• Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: 80.000 đồng/người/tháng
• Vùng nông thôn đồng bằng: 100.000 đồng/người/tháng
Tháng 7/2009, để điều chỉnh mức chuẩn nghèo theo chỉ số giá tiêu dùng, BộLao động – Thương binh và Xã hội đã công bố dự thảo quyết định ban hành chuẩnnghèo mới, áp dụng cho giai đoạn 2011-2015 Theo đó, đối với khu vực nông thôn,
hộ nghèo là những hộ có mức thu nhập bình quân từ 350.000 đồng/người/tháng(dưới 4.200.000 đồng/người/năm) Tại khu vực thành thị, hộ nghèo là những hộ cómức thu nhập bình quân từ 450.000 đồng/người/tháng (dưới 5.400.000
Trang 18đồng/người/năm) Như vậy, mức chuẩn nghèo mới do Bộ đề xuất cao gần gấp đôimức hiện hành và cao hơn mức đề xuất trước đây.
Thước đo nghèo đói.
Sau khi xác định ngưỡng nghèo, có thể tính toán được một số thước đo để
mô tả quy mô, độ sâu và độ nghiêm trọng của nghèo đói
• Chỉ số đếm đầu (tỷ lệ đói nghèo) : là tỷ lệ những người sống ở dưới ngưỡng
nghèo, cho biết quy mô đói nghèo của quốc gia Chỉ số này được sử dụng đểđánh giá tình trạng nghèo và những thành công trong mục tiêu giảm nghèocủa quốc gia và thế giới
• Khoảng nghèo ): là mức chênh lệch trung bình giữa chi tiêu của những người
nghèo và mức chi tiêu tại ngưỡng nghèo Thước đo này được sử dụng để mô
tả mức độ hay độ sâu của nghèo, cho biết chi phí tối thiểu để đưa tất cả ngườinghèo lên mức sống ngang bằng với ngưỡng nghèo
• Bình phương khoảng nghèo): thể hiện mức độ nghiêm trọng của đói nghèo vì
nó đã làm tăng thêm trọng số cho nhóm người có khoảng nghèo lớn hơntrong số những người nghèo (tăng thêm trọng số cho nhóm nghèo nhất trongdân số)
• Nội dung xóa đói giảm nghèo.
• Xác định các nhân tố ảnh hưởng tới đói nghèo.
Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến tình trạng đói nghèo của người dân
Có những nguyên nhân mang tính khách quan như: do sự không thuận lợi của điềukiện tự nhiên ở một số vùng, miền; do gặp phải những sự kiện bất thường của cuộcsống như: ốm đau, bệnh tật, tai nạn; do mặt trái của nền kinh tế thị trường chưa có
sự can thiệp kịp thời của chính phủ… Có những nguyên nhân mang tính chủ quannhư: trình độ văn hóa thấp, gia đình đông con, phong tục tập quán lạc hậu… tuynhiên ở đây chia thành hai nhân tố ảnh hưởng như sau:
Trang 19• Các nhân tố khách quan:
• Điều kiện tự nhiên: sự khắc nghiệt của khí hậu đã gây ra những khó khăn đốivới nền sản xuất nông nghiệp
• Trình độ phát triển kinh tế – xã hội của địa phương: đường giao thông đi lạikhó khăn nên chi phí vận tải cao, hàng hóa đưa đến khó, các mặt hàng nôngsản tiêu thụ ở địa phương với giá rất thấp Khó cung cấp hoặc tận dụng cácdịch vụ xã hội và việc tiếp cận các kiến thức khoa học thấp, dẫn đến họkhông biết cách làm ăn để thoát khỏi hoàn cảnh khó khăn, nghèo đói
• Các chính sách trợ cấp nhiều lúc không đúng đối tượng làm ảnh hưởng xấuđến thị trường nông thôn, thị trường ở những vùng xâu, vùng xa làm chocông cuộc xóa đói giảm nghèo trở nên khó khăn hơn
• Các nhân tố chủ quan:
• Thiếu nguồn vốn và nguồn nhân lực là trở ngại lớn nhất đối với người nghèo.Người nghèo có khả năng tiếp tục nghèo vì họ không thể đầu tư vào nguồnvốn nhân lực của họ để phát triển sản xuất
• Đa số người nghèo là những người có trình độ học vấn rất thấp hoặc chưađược đào tạo qua lớp học nào, cho nên ít có cơ hội tìm kiếm được việc làmtốt và ổn định
• Đông con là nguyên nhân và hệ quả của nghèo đói
• Bệnh tật, sức khỏe làm ảnh hưởng trực tiếp và to lớn đến thu nhập và chi tiêucủa người nghèo, càng làm cho họ khó thoát khỏi tình trạng nghèo đói
• Việc thực hiện các chính sách xóa đói, giảm ngèo:
Trang 20Nội dung của chương trình xóa đói giảm nghèo xét trên góc độ các vấn đề canthiệp bao gồm biện pháp được sử dụng như: hỗ trợ tín dụng, hỗ trợ đất đai sản xuất,nhà ở, hỗ trợ y tế giáo dục…các biện pháp này có thể chia thành ba nhóm chính:
• Nhóm chính sách tạo điều kiện cho người nghèo phát triển sản xuất, tăng thunhập
• Nhóm chính sách tạo cơ hội cho người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội
• Nhóm chính sách tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người nghèo
CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO VÀ CÔNG TÁC XÓA ĐÓI
GIẢM NGHÈO Ở HUYỆN SI MA CAI
• Đặc điểm,Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Si Ma Cai.
• Đặc điểm chung:
• Vị trí địa lý.
Huyện Si Ma Cai nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Lào Cai, cách thành phố LàoCai 100 km, vị trí xa nhất so các huyện trong tỉnh Si Ma Cai nằm trên tọa độ từ 22o
Trang 2135’ đến 22o 44’ vĩ độ Bắc, 104o 06’đến 104o 12’ kinh độ Phía Bắc của Huyện giáphuyện Mã Quan thuộc tỉnh Vân Nam- Trung Quốc và huyện Mường Khương PhíaĐông giáp huyện Bắc Hà và huyện Xín Mần thuộc tỉnh Hà Giang Phía Nam huyệngiáp huyện Bắc Hà Phía Tây giáp huyện Mường Khương
Huyện Si Ma Cai có 3 xã biên giới là Si Ma Cai, Nàn Sán, Sán Chải (6 thôn bảngiáp biên), với tổng chiều dài biên giới 9,2 km, có lối mở qua biên giới tại thôn HóaChư Phùng; đồng thời vị trí là nơi tiếp nối giữa Mường Khương với Bắc Hà vàsang huyện Sín Mần của tỉnh Hà Giang, giữ chức năng trung chuyển và giao lưuhàng hóa giữa các địa phương, tạo điều kiện cho các huyện khai thác các tiềmnăng, lợi thế, nhất là về nông nghiệp và lâm nghiệp; đồng thời vị trí này còn có vaitrò quan trọng trong xây dựng tuyến kinh tế quốc phòng
• Địa hình.
Si Ma Cai thuộc vùng cao nguyên thượng nguồn (khối vòm nông) sôngChảy, có độ cao từ 800m - 1.800m và độ cao trung bình của huyện là 1.200m sovới mực nước biển Địa hình Si Ma Cai nằm trên vùng núi có độ tuổi cổ nhất trongnền cấu tạo địa tầng Bắc Bộ Vùng trung tâm huyện hiện nay là thung lũng lòngchảo nằm giữa các dãy núi chạy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, thấp dần vềhướng Tây Bắc, có những đỉnh cao từ 1.600 đến 1.800m Các dải núi thuộc địa bànhuyện cơ bản được hình thành từ 2 mạch núi chính Nhìn chung, Si Ma Cai làhuyện có địa hình nhiều núi cao chia cắt phức tạp, bị chia cắt mạnh, độ dốc lớn,giao thông đi lại khó khăn
• Thời tiết, khí hậu.
Si Ma Cai là huyện nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, tuy nhiên doảnh hưởng của địa hình nên diễn biến của khí hậu khá phức tạp, hình thành các tiểukhí hậu khác biệt: khí hậu cận nhiệt đới và vùng khí hậu nhiệt đới không điển hình
Trang 22Các yếu tố khí hậu đặc trưng như nhiệt độ, lượng mưa cho thấy sự thay đổi của địahình, độ cao là tác nhân chính hình thành những vùng tiểu khí hậu trên địa bànhuyện.
• Nhiệt độ: Theo số liệu quan trắc nhiều năm cho thấy huyện Si Ma Cai thuộcvùng khí hậu khá lạnh, nhiệt độ trung bình năm là 18,9 oC Nhiệt độ có sựthay đổi theo các đai cao khá ro nét, sự thay đổi này diễn ra ngay trên địa bàncủa một số xã
• Lượng mưa: Si Ma Cai là huyện có lượng mưa trung bình so với các vùng trênđịa bàn tỉnh Lào Cai, lượng mưa thay đổi qua các năm từ 1.300 – 2.000mm,lượng mưa chủ yếu tập trung vào các tháng 6, 7, 8 các tháng còn lại trongnăm mưa ít, cường độ không tập trung
• Độ ẩm không khí: Huyện Si Ma Cai thuộc vùng có độ ẩm không khí tương đốiđều và cao qua các tháng, trung bình từ 83 - 87% Về mùa mưa độ ẩm khôngkhí lớn hơn, thường từ 85 – 88% Độ ẩm thay đổi theo từng vùng lãnh thổcủa huyện Vùng núi cao trên 800tr, độ ẩm thấp và hanh khô
Vùng ven sông Chảy: Bao gồm phần đất thấp, dải thung lũng liền kề của các
xã vùng ven sông Chảy như: Bản Mế, Nàn Sín, Sín Chéng, Thào Chư Phìn Đây làvùng khí hậu nhiệt đới không điển hình, nhiệt độ trung bình khoảng 21 oC; Mùanóng từ tháng 5 đến tháng 10, có nhiệt độ lên đến 35 oC kèm theo mưa nhiều,cường độ mưa lớn, bức xạ năng lượng mặt trời cao, mùa lạnh kéo dài từ tháng 11đến tháng 4 năm sau Độ ẩm không khí trung bình 85%, ít sương mù và mưa đá
Vùng tiểu khí hậu cận nhiệt đới trên núi cao và trung bình là phần lãnh thổcòn lại chiếm đa số Một năm có hai mùa không có ranh giới ro rệt, mùa Đôngthường lạnh và khô kéo dài, nhiệt độ trung bình từ 15 - 17oC; tháng lạnh, nhiệt độ
Trang 23xuống dưới 10 oC Mùa hè mát mẻ nhiệt độ cao không đến 32oC Mùa mưa thường
từ tháng 5 đến tháng 10 hằng năm, thường có lốc, mưa đá và sương mù
• Thủy văn, sông ngòi
Hệ thống thuỷ văn của huyện Si Ma Cai bao gồm:
Sông Chảy, bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam – Trung Quốc chảy qua địa phậnhuyện Si Ma Cai với tổng chiều dài 43km Sông Chảy tạo thành ranh giới tự nhiêngiữa huyện Mã Quan – Trung Quốc và huyện Si Ma Cai, lòng sông hẹp, sâu, nhiềuthác ghềnh, ít có tác dụng trong giao thông vận tải, trong sản xuất và dân sinh dolượng phù sa thấp, tốc độ dòng chảy lớn
Hệ thống sông suối nhỏ, Do ảnh hưởng của địa hình chia cắt, độ dốc lớn, hìnhthành trên địa bàn huyện Si Ma Cai khá nhiều suối nhỏ Tất cả các con suối đều bắtnguồn từ các dãy núi cao chảy xuống thung lũng Đây là nguồn nước chính để phục
vụ dân sinh cũng như mở rộng đất canh tác sản xuất của cộng đồng các dân tộchuyện Si Ma Cai Tuy nhiên về mùa mưa, hệ thống khe thường xuyên có lũ quét,gây trở ngại lớn cho sản xuất và giao thông
• Tài nguyên đất đai.
Theo thống kê tình hình sử dụng đất của huyện thời điểm 01/01/2010, tổngdiện tích tự nhiên của Si Ma Cai là 23.493,83 ha (bằng 3,7% diện tích tự nhiên toàntỉnh) Trong đó: diện tích đất nông nghiệp là 13.528,85 ha, chiếm 57,58%; đất phinông nghiệp là 1.208,94 ha chiếm 5,15%; đất chưa sử dụng là 8.755,04 ha, chiếm37,27% (trong đó đất đồi núi chưa sử dụng 6.641,57, chiếm 28,27% diện tích đất tựnhiên và bằng 3,6% diện tích đất đồi núi chưa sử dụng toàn tỉnh)
• Tài nguyên nước.
Trang 24Nguồn nước mặt: Nguồn nước phụ thuộc chủ yếu vào nguồn nước mưa đượclưu giữ Nguồn nước mặt của huyện Si Ma Cai tuy phân bố đều, không bị ô nhiễm,nhưng rất ít nguồn nước lớn để tạo ra hồ ao lớn, hạn chế trong phát triển thủy sản.
Nguồn nước ngầm: Ảnh hưởng của hiện tượng Castơ tạo ra các hố thoátnước mặt và độ che phủ rừng thấp là nguyên nhân gây ra tình trạng mực nướcngầm thấp, trữ lượng nước cạn kiệt như hiện nay
• Tài nguyên khoáng sản.
Theo tài liệu khảo sát về tài nguyên khoáng sản huyện Si Ma Cai có 01 mỏqụăng Chì, Kẽm ở xã Bản Mế, 01 mỏ quặng Sắt ở xã Sán Chải, 01 mỏ sắt ở xã CánCấu đã, đang triển khai khai thác Nhìn chung về tài nguyên khoáng sản của huyệnrất hạn chế (ít khoáng sản nhất so tất cả các huyện, thành phố trong tỉnh); có một số
mỏ nhưng trữ lượng, chất lượng thấp, điểm khai thác không thuận lợi
• Tài nguyên rừng.
Theo số liệu thống kê, đến 01/1/2010 diện tích rừng trên địa bàn huyện Si
Ma Cai là 6.266 ha chiếm 26,67 % diện tích tự nhiên toàn huyện Trong đó rừngsản xuất 1.905 ha, rừng phòng hộ 4.361 ha
Thảm thực vật của huyện tương đối phong phú về chủng loại và đa dạng vềsinh học; do địa hình của huyện tạo ra những vùng tiểu khí hậu nên thảm thực vật
có cả loại cây ôn đới và cây nhiệt đới Về khả năng đất đai phát triển rừng củahuyện trong giai đoạn tới còn khoảng trên 2.000 ha
• Cảnh quan du lịch.
Si Ma Cai là huyện nằm trên vùng núi cổ, có địa hình hiểm trở, chia cắtmạnh, độ dốc tương đối lớn, có vẻ đẹp hùng vĩ, khí hậu trong lành, mát mẻ; các đặcsản như rượu ngô Si Ma Cai, vải thổ cẩm cùng với sự đa sắc tộc trong các phiên
Trang 25chợ vùng cao là những yếu tố thu hút khách du lịch trong và ngoài nước, hàng năm
có từ 1.500- 2000 lượt khách nước ngoài đến Chợ văn hoá Cán Cấu- Si Ma Cai.Trong thời gian tới CSHT được củng cố, cảnh quan môi trường được cải tạo, hệthống giao thông nối liền huyện Mường Khương- Si Ma Cai- Bắc Hà - Sín Mần(Hà Giang); đặc biệt đầu tư xây dựng khu du lịch sinh thái Hồ Cán Cấu và cửakhẩu phụ Hoá Chư Phùng là điều kiện thuận lợi để du lịch phát triển, góp phần pháttriển kinh tế- xã hội trên địa bàn huyện
• Đặc điểm kinh tế - xã hội của huyện Si Ma Cai.
• Đặc điểm về dân số, dân tộc, lao động.
Năm 2010, huyện Si Ma Cai có 6.213 hộ với 32.018 người, trung bình 5,49người/hộ; mật độ dân số trung bình 136 người/ km2 Tốc độ tăng dân số của huyệnbình quân 3%/ năm; trong đó tỷ lệ tăng dân số tự nhiên riêng năm 2010 là 2,1%.Nhìn chung, Si Ma Cai có mật độ dân số tương đối cao so các huyện khác trongtỉnh
Si Ma Cai có 11 dân tộc anh em chung sống, trong đó chủ yếu là dân tộcthiểu số, chiếm 96,3%, tổng dân số của huyện
Tổng số lao động đang làm việc trên địa bàn huyện thời điểm cuối năm 2010
là 17.300, chiếm trên 54% dân số của huyện, bằng 5% số lao động toàn tỉnh Hầuhết số lao động có khả năng làm việc đều có việc làm Về cơ cấu lao động trong cácngành kinh tế, đến năm 2010: tỷ trọng lao động trong nông, lâm nghiệp chiếm quácao (83,2%), lao động công nghiệp, xây dựng chiếm 4,2% và trong dịch vụ có12,6% Sự chuyển dịch cơ cấu lao động từ 2005- 2010 diễn ra chậm, đến năm
2010 so sánh với năm 2005: lao động nông, lâm nghiệp giảm 2%, lao động dịch
vụ tăng 1,8 %, công nghiệp, xây dựng tăng 0,2%
Trang 26Về chất lượng nguồn nhân lực còn thấp và chưa đồng đều Số dân là đồngbào dân tộc ít người chiếm tỷ trọng cao Cơ cấu lao động còn nhiều bất hợp lý.Trình độ văn hoá và trình độ tay nghề của người lao động thấp, chủ yếu là lao độngphổ thông, năng suất lao động, hiệu quả sản xuất không cao
• Những thuận lợi về các đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội đối với phát triển kinh tế xã hội.
Mặc dù là huyện vùng sâu, vùng xa của tỉnh; nhưng địa bàn huyện có đườngQuốc lộ 4 đi qua, thuộc vành đai phát triển kinh tế - quốc phòng trên địa bàn tỉnh;Ngoài vị trí tiếp giáp huyện Bắc Hà, Mường Khương, Si Ma Cai còn tiếp giáphuyện Mã Quan của Trung quốc, trong tương lai nếu 2 bên đàm phán thành công,xây dựng cầu dân sinh sẽ tạo thêm điều kiện để giao lưu sản xuất hàng hóa qua cửakhẩu phụ trên biên giới
Nằm trong vùng khí hậu á nhiệt đới, nhiệt đới, huyện có điều kiện thuận lợi
để phát triển cây ăn quả ôn đới, cây dược liệu, chăn nuôi đại gia súc, lúa đặc sản,ngô hàng hóa
Quỹ đất đồi núi của Huyện chưa sử dụng còn 6.641 ha đó là nguồn tàinguyên quan trọng cho mở rộng các hoạt động kinh tế
Si Ma Cai còn có tiềm năng về khai thác đá, ây là điều kiện để phát triểnngành công nghiệp khai thác vật liệu xây dựng đáp ứng nhu cầu xây dựng ngàycàng cao của Huyện
Địa hình khá núi non trùng điệp, khí hậu mát mẻ cùng với bản sắc văn hóadân tộc độc đáo của đồng bào vùng cao là tiềm năng phát triển du lịch sinh thái, dulịch mạo hiểm kết hợp với du lịch cộng đồng
Trang 27Sự hỗ trợ của Chính phủ theo các Chương trình, chính sách dân tộc, vùngcao là nguồn lực quan trọng để huyện phát triển kinh tế và xây dựng các CSHT.
Nguồn nhân lực khá dồi dào, với tính đa sắc tộc cho phép huyện Si Ma Cai
có thể khai thác theo hướng xuất khẩu lao động, phát triển các nghề thủ công truyềnthống tăng thu nhập cho nhân dân Chính sách đối với các xã đặc biệt khó khăn đãtạo những điều kiện cho sự phát triển kinh tế xã hội của Huyện
• Những khó khăn về các điều kiện đối với phát triển kinh tế xã hội.
Thời tiết khí hậu với độ chênh lệch nhiệt độ cao giữa 2 mùa; sự tác động củasương muối và rét hạn, khô hạn về mùa đông ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế,nhất là trong phát triển của nông, lâm nghiệp
Địa hình miền núi phức tạp, chia cắt ảnh hưởng đến xây dựng các hệ thống
hạ tầng và phát triển kinh tế
Đất canh tác nông nghiệp ít Quỹ đất có điều kiện thuận lợi để phát triển các
cơ sở sản xuất kinh doanh, nhất là cho CSHT và phát triển kinh tế còn lại là hạnchế, sức hấp dẫn đầu tư kém Tài nguyện khoáng sản của huyện nghèo nàn, khókhắn để phát triển công nghiệp
Cơ cấu lao động còn bất hợp lý, tỷ trọng lao động trong nông, lâm nghiệpchiếm 83,2% tổng số lao động toàn Huyện Trình độ văn hoá và tay nghề của ngườilao động thấp, ý thức tổ chức kỷ luật trong lao động chưa được nhận thức đầy đủ,dẫn đến năng suất lao động, hiệu quả sản xuất chưa cao
CSHT kinh tế, xã hội của huyện Si Ma Cai so với mặt bằng chung của tỉnhLào Cai ở tình trạng thấp Các cơ sở kinh tế, các cơ quan hành chính đang xây dựngđòi hỏi lượng vốn đầu tư rất lớn, nguồn vốn nội lực rất hạn chế, cần có sự ưu tiênngân sách cấp tỉnh và trung ương mới có thể thực hiện được
Trang 28• Mô tả kết quả nghiên cứu.
• Tình hình đói nghèo trên địa bàn huyện Si Ma Cai.
Huyện Si Ma Cai có 13 xã gồm: Xã Lử Thẩn, Lùng Sui, Cán Cấu, Sán Chải, Si
Ma Cai, Quan Thần Sán, Cán Hồ, Nàn Sán, Bản Mế, Thào Chư Phìn, Sín Chéng,Nàn Sín, Mản thẩn
Là một huyện miền núi đặc biệt khó khăn, với nhiều dân tộc cùng sinh sống Số
hộ nghèo ở đây là rất lớn Theo chuẩn nghèo của Thủ tướng Chính phủ ban hành ápdụng cho giai đoạn 2008- 2012, thì tỷ lệ đói nghèo của Huyện Si Ma Cai là rất cao.Riêng năm 2012 số hộ nghèo là 2449 hộ, chiếm tới 58.6%, 573 hộ cận nghèochiếm 17.1%, chỉ có 1015 hộ không nghèo ( 26,3%) Toàn huyện có 95% hộ đồngbào dân tộc thiểu số ở cả 13 xã
Biểu 2.1: Tình hình đói nghèo ở Huyện Si Ma Cai giai đoạn 2006-2010
Trang 2911 Nàn Sín 71.48 69.07 66.2 65.61 63.2
Nguồn: Báo cáo thông kê tình trạng đói nghèo của Huyện Si Ma Cai.
Năm 2008 - 2012 áp dụng chuẩn nghèo giai đoạn là 300,000nghìn/người/tháng Đối với các xã Quan Thần Sán, Cán Hồ, Bản Mế, Thào ChưPhìn, Sín Chéng có tỷ lệ hộ nghèo trong năm 2008 rất cao, điều này cho thấy những
xã này có số hộ nằm trong diện cận nghèo rất lớn Khi nâng chuẩn nghèo lên thì sốnày lại rơi vào diện nghèo
Xã Si Ma Cai là xã có tỷ lệ phần trăm số hộ nghèo ít nhất Nguyên nhân là
do, các hộ dân nơi đây nằm ở trung tâm kinh tế, chính trị của huyện, đa số hộ ở đây
là cán bộ, công nhân viên chức và một số là di dân lên đây để khai hoang lậpnghỉệp Vì vậy người ta đã biết cách buôn bán, họ quen với môi trường buôn bán từtrước
Riêng xã Cán Cấu có vị trì nằm trên các trục đường giao thông chính nối liềncác xã, nằm gần khu chợ thứ 7 của cả huyện, gần trường học Rất thuận tiện choviệc giao lưu, buôn bán Người dân nơi đây chủ yếu làm nghề buôn bán Vì vậy,Cán Cấu cũng là xóm có tỷ lệ hộ nghèo tương đối thấp so với trung bình tronghuyện
Xã Lùng Sui cũng là xã có tỷ lệ hộ nghèo thấp, không có thuận lợi về đất đainhư các xã nhưng ở đây cũng được xếp vào diện nhiều đất, Đặc biệt là đất đồi núi,thích hợp cho trồng cây lấy gỗ Mặt khác, việc quy hoạch đất ở đây khá tốt, mỗi hộgia đình có một vùng đất rộng quanh khu nhà mình, thuận lợi cho việc trồng trọt vàchăm sóc
Xã Thào Chư Phìn là xã với hai dân tộc sinh sống: dân tộc Mông và ThuLao, trong đó dân tộc Mông chiếm tới 90%, với đặc thù canh tác lạc hậu, khôngbiết cách trồng trọt chăn nuôi nên đây là xã có tỷ lệ số hộ nghèo cao nhất huyện, lại
ở vị trí mà đất đai cằn cỗi, với núi đá vôi bao quanh không có đất canh tác Trồng
Trang 30lúa trên rẫy cho năng suất không cao Không có điều kiện giao lưu, thông thươngbuôn bán mà chỉ chủ yếu là kiểu tự cung tự cấp.
Tương tự, các xã Quan Thần Sán, Cán Hồ, Sín Chéng là các xã có điều kiệncũng như xã Thào Chư Phìn, cũng tập trung đông dân tộc Mông sinh sống, cũngchịu cảnh đất đai cằn cỗi, khó trồng cây Mặc khác, đất trồng lúa rất ít, người dânkhông có gạo để ăn mà phải đi mua ngoài
Như vậy, có thể thấy mặc dù tốc độ giảm nghèo chưa cao nhưng nhìn chungtoàn huyện cũng đã cố gắng trong việc giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống mức có thể.Nguyên nhân thoát nghèo của người dân chủ yếu là nông nghiệp( chiếm tới 39.5%),tiếp đến là chăn nuôi đại gia súc tận dụng lợi thế đồi rừng như trâu, bò (chiếm25%), chăn nuôi gia súc, gia cầm (21.13%) , thoát ly khỏi nông nghiệp thông quacác hoạt động đi làm thuê, buôn bán hay dịch vụ (12.45%) Đây là nguyên nhânchiếm tỷ trọng cao trong việc XĐGN của xã, tuy nhiên còn có các nguyên nhânkhác cũng ảnh hưởng Dưới đây là bảng tổng kết ý kiến nhận xét của một số ngườidân về các nguyên nhân thoát nghèo ở huyện Si Ma Cai:
Biểu 2.2: Nguyên nhân thoát nghèo của các hộ gia đình
Trang 31STT Nguyên nhân thoát nghèo % so với
tổng số
4 Chăn nuôi đại gia súc tận dụng lợi thế đồi
Nguồn: Điều tra 100 hộ gia đình thoát nghèo.
Mỗi xã thường lại có một phương pháp thoát nghèo khác nhau, tùy thuộc vàothế mạnh của từng vùng Ví dụ như, đối với xã Sín Chéng với lợi thế là diện tíchđất đai rộng lớn, màu mỡ nên cán bộ lãnh đạo xã luôn hướng cho bà con làm giàungay chính trên các đồng ruộng của mình Bằng cách áp dụng các phương phápchuyển đổi cây trồng vật nuôi, áp dụng các kỹ thuật tiên tiến, các giống cây, giốngcây có giá trị cao Đồng thời hướng cho người dân phát triển các trang trại, mởrộng chăn nuôi để làm giàu Còn đối với các hộ nông dân xã Si Ma Cai và Cán Cấulại giảm nghèo bằng cách hướng cho họ chuyển sang làm các nghề phi nôngnghiệp, buôn bán hàng hóa dịch vụ, ngoài ra chăn nuôi thêm gia súc, gia cầm…Như vậy, để có được tốc độ giảm nghèo khá tốt như vậy thì các xã cũng đã cónhững bước đi, những phương pháp phù hợp để tận dụng tối đa thế mạnh của vùngmình
Biểu 2.3: Tốc độ giảm nghèo của các xã
Đơn vị: %
Trang 32STT Tên xã Năm 2008 Năm 2009 Năm 20010 Năm 2011 Năm 2012
(Nguồn: báo cáo tốc độ giảm nghèo của UBND Huyện Si Ma Cai).
Dựa vào bảng ta có thể thấy: Tốc độ giảm nghèo ỏ các xã là tương đối thấpđặc biệt là ở năm 2010 mà nguyên nhân tốc độ giảm nghèo chậm lại là do tác độngcủa tăng trưởng kinh tế bị giảm sút do sự suy thoái kinh tế của cả thề giới Nhìnchung, tốc độ giảm nghèo ở huyện Si Ma Cai là tương đối thấp và không ổnđịnh,do tăng trưởng kinh tế là rất thấp vì đây là ở các vùng miền núi xa xôi hẻolánh, CSHT còn yếu kém và dân trí chưa phát triển nên chưa được hưởng đầy đủthành quả tăng trưởng kinh tế, chưa tiếp cận được với tiến bộ khoa học kỹ thuật màcác nền kinh tế phát triển trên thế giới mang lại
Nhìn vào biểu trên chúng ta cũng có thể thấy đối với các xã có tỷ lệ hộ nghèocao thì thường lại có tốc độ giảm nghèo nhanh hơn Điều này chúng ta có thể hiểumột cách đơn giản đó là: Những vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao thì nguyên nhân của họ