1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU SỰ ĐA DẠNG CỦA THỰC VẬT THÂN GỖ TRONG Ô ĐỊNH VỊ Ở KIỂU RỪNG KÍN THƯỜNG XANH TẠI VƯỜN QUỐC GIA BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC

134 288 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH FFFFFFFF×GGGGGGGG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU SỰ ĐA DẠNG CỦA THỰC VẬT THÂN GỖ TRONG Ô ĐỊNH VỊ Ở KIỂU R

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

FFFFFFFF×GGGGGGGG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU SỰ ĐA DẠNG CỦA THỰC VẬT THÂN GỖ TRONG Ô ĐỊNH VỊ Ở KIỂU RỪNG KÍN THƯỜNG

XANH TẠI VƯỜN QUỐC GIA BÙ GIA MẬP,

Trang 2

BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU SỰ ĐA DẠNG CỦA THỰC VẬT THÂN GỖ TRONG Ô ĐỊNH VỊ Ở KIỂU RỪNG KÍN THƯỜNG XANH TẠI VƯỜN QUỐC GIA BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Tác giả

TRẦN HOÀNG LÂM

Khóa luận đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng

Kỹ sư ngành Lâm nghiệp – Chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng

Giáo viên hướng dẫn:

ThS MẠC VĂN CHĂM

Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 06 / 2011

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin gởi lời cảm ơn đến tất cả các thầy cô trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh đã nhiệt tình giảng dạy cho tôi trong suốt thời gian tôi theo học tại trường Tôi chân thành cảm ơn thầy Th.S Mạc Văn Chăm Nếu không có sự tận tình chỉ bảo và hướng dẫn của thầy, tôi đã không thể hoàn thành tốt khóa luận này

Ngay từ đầu, khóa luận này đã không thể thực hiện nếu không có sự giúp đỡ của Th.S Vương Đức Hòa - Phó Giám Đốc Vườn quốc gia Bù Gia Mập đã không ngần ngại giúp tôi tìm kiếm tài liệu có liên quan đến đề tài và góp ý kiến cho tôi thực hiện đề tài này

Tôi xin cảm ơn Ban giám đốc Vườn quốc gia Bù Gia Mập đã tận tình giúp

đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thu thập số liệu trong suốt thời gian thực tập tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập

Tôi xin cảm ơn bạn Nguyễn Thị Kim Nhị và bạn Thẩm Văn Bao đã rất nhiệt tình giúp tôi đi khảo sát và điều tra khu vực nghiên cứu

Tôi xin cảm ơn anh Hoàng Anh Tuân trưởng phòng kỹ thuật Vườn quốc gia

Bù Gia Mập cùng các nhân viên tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu và khảo sát tại vườn quốc gia Bù Gia Mập

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình và bạn bè của tôi

đã luôn bên cạnh, động viên tôi trong cuộc sống và học tập

Xin chân thành cảm ơn!

Tp.HCM, Tháng 6 Năm 2011

Trần Hoàng Lâm

Trang 4

TÓM TẮT

Đề tài “Bước đầu nghiên cứu sự đa dạng của thực vật thân gỗ trong ô định vị ở kiểu rừng kín thường xanh tại vườn quốc gia Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước” được thực hiện tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước từ tháng 2

năm 2011 đến tháng 6 năm 2011

¾ Mục tiêu cần đạt được của đề tài là:

− Định lượng được các chỉ số đa dạng sinh học của các loài

− Xác định được tình hình tái sinh của thực vật thân gỗ trong ô định vị

− Xây dựng được bản đồ vị trí của những cây thực vật thân gỗ trên mặt đất trong ô định vị

¾ Phạm vi nghiên cứu của đề tài được thực hiện tại ô định vị số II ( Ô đại diện cho kiểu rừng kín thường xanh đặc trưng của Vườn quốc gia Bù Gia Mập) tại Vườn Quốc gia Bù Gia Mập Ô định vị được phân thành 25 phân ô (Diện tích mỗi phân ô là 400 m2)

¾ Nội dung nghiên cứu của đề tài là:

- Điều tra và lập danh mục thực vật thân gỗ theo loài, họ, số lượng cá thể trong ô định vị

- Định lượng các chỉ số đa dạng sinh học của loài

- Xác định tình hình tái sinh dưới tán rừng

- Xây dựng bản đồ vị trí của những cây thực vật thân gỗ trong ô định vị

¾ Các phương pháp thực hiện đề tài:

+ Thu thập các số liệu cũ, tiến hành khảo sát, xác định vị trí đo đếm Tiến hành định danh và xác định vị trí thực vật trên thực địa

+ Tính toán và nhận xét các chỉ số đa dạng của khu vực nghiên cứu như chỉ

số IV, chỉ số phong phú loài, chỉ số đồng đều, số lượng cây tái sinh,

Trang 5

¾ Qua quá trình nghiên cứu, đề tài đã đạt được những kết quả sau:

× Thành phần thực vật trong ô định vị II (25 phân ô) gồm có 37 họ, 93 loài (1 loài chưa xác định được), 656 cá thể, trong đó có 9 loài thực vật quý hiếm cần bảo tồn theo Sách Đỏ Việt Nam, Sách Đỏ thế giới và Nghị định 32/2006/ND-CP

× Kết quả định lượng và so sánh các chỉ số đa dạng thực vật thân gỗ trong khu vực nghiên cứu đã xác định được 1 loài chiếm ưu thế sinh thái (với IV > 5%)

đó là loài Ràng Ràng (Ormosia cf inflate Merr & Chun.) Bên cạnh đó, các chỉ số

đa dạng sinh học cũng đã được phân tích như sau:

− Chỉ số phong phú loài Margalef M qua phân tích cho thấy, trong khu vực nghiên cứu thì độ phong phú loài không đồng đều Tuy nhiên, nếu dựa vào trung bình của chỉ số Margalef M Base 10 thì trong khu vực nghiên cứu (ô định vị) có độ phong phú loài cao

− Chỉ số đa dạng Shannon H' Log Base 10 cho thấy, các phân ô trong khu vực nghiên cứu có tính đa dạng là tương đối cao và đồng đều

− Chỉ số đồng đều Pielou (J’) cho thấy, số lượng loài trong các phân ô là tương đối đồng đều nhau

− Chỉ số ưu thế Simpsons Diversity (D) cho thấy, khu vực nghiên cứu có tính đa dạng cao

− Chỉ số Caswell (V) cho thấy, tình hình bảo vệ rừng tốt, không có sự tác động nhiều đến môi trường sống của các loài thực vật thân gỗ

− Chỉ số hiếm IR cho thấy trong khu vực nghiên cứu thì không có loài nào cực hiếm (MR), có 36 loài rất hiếm (RR)

× Theo kết quả điều tra cây tái sinh có được thì có 23 loài cây tái sinh dưới tán rừng tại khu vực nghiên cứu Cây tái sinh có nguồn gốc từ hạt là chủ yếu, chiếm

88 %

× Đề tài đã xây dựng được bản đồ vị trí của thực vật thân gỗ có trong ô định vị số II với mục đích phục vụ cho việc tra cứu thông tin về thực vật thân gỗ trong ô định vị II, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác bảo tồn và nghiên cứu trong

ô định vị.

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i 

TÓM TẮT ii 

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii 

DANH SÁCH CÁC BẢNG viii 

DANH SÁCH CÁC HÌNH ix 

Chương 1 MỞ ĐẦU 1 

1 1 Đặt vấn đề 1 

1 2 Mục tiêu nghiên cứu 3 

1 3 Phạm vi đề tài 3 

Chương 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4 

2.1 Vì sao phải bảo tồn đa dạng sinh học 4 

2.2 Những nghiên cứu về đa dạng sinh học 4 

2.2.1 Nghiên cứu đa dạng sinh học trên thế giới 4 

2.2.2 Nghiên cứu về đa dạng sinh học ở việt nam 8 

2.2.3 Những nghiên cứu ở vườn quốc gia Bù Gia Mập 10 

2.3 Phân loại tổ dạng sống 11 

2.4 Đối tượng nghiên cứu 13 

2.5 Đặc điểm khu vực nghiên cứu 13 

2.5.1 Lịch sử hình thành và chức năng của Vườn quốc gia Bù Gia Mập 13 

2.5.2 Vị trí địa lý 14 

Trang 7

Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19 

3.1 Nội dung nghiên cứu của đề tài 19 

3.2 Phương pháp nghiên cứu 19 

3.2.1 Phương pháp thống kê, kế thừa số liệu 19 

3.2.2 Phương pháp và vật liệu nghiên cứu ngoài thực địa 20 

3.2.3 Nội nghiệp 21 

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 25 

4.1 Kết quả nghiên cứu trên thực địa từ ô định vị II 25 

4.1.1 Vị trí ô định vị II trên Google Earth 25 

4.1.2 Thành phần loài thực vật thân gỗ trong ô định vị II 26 

4.2 Tình hình tái sinh của thực vật thân gỗ trong ô định vị 26 

4.3.1 Phân tích đa dạng các loài thực vật trong ô định vị II 28 

4.3.2 Phân tích thành phần họ thực vật trong ô định vị 35 

4.4 Đa dạng và phân bố các loài thực vật quý hiếm trong ô định vị II 37 

4.4.1 Đa dạng của các loài thực vật quý hiếm trong ô định vị II 37 

4.4.2 Phân bố các loại thực vật quý hiếm trong ô định vị II 39 

4.5 Những nguyên nhân làm suy giảm đa dạng thực vật ở vườn quốc gia Bù Gia Mập 39 

4.6 Đề xuất một số giải pháp bảo tồn 41 

4.6.1 Nhóm giải pháp về mặt kinh tế - xã hội 41 

4.6.2 Nhóm giải pháp về khoa học kỹ thuật 41 

4.7 Tra cứu thông tin về thực vật thân gỗ dựa trên bản đồ vị trí các cây thực vật thân gỗ trong ô định vị 42 

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 46 

5.1 Kết luận 46 

Trang 8

5.2 Kiến nghị 47 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 49 

Trang 9

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Ctv Cộng tác viên

D1,3 Đường kính cây ở độ cao 1,3 mét

G1,3 Tiết diện ngang than cây ở độ cao 1,3 mét

GPS (Global Posititioning System) Máy định vị toàn cầu

HS Hệ số

IUCN (International Union for Conservation of Nature) Hiệp hội bảo

tồn thiên nhiên quốc tế

IV (Importance Value Index) chỉ số giá trị quan trọng

Trang 10

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 4.1 Phân bố % cây tái sinh theo cấp chiều cao 27 

Bảng 4.2 Loài ưu thế và công thức tổ thành loài 29 

Bảng 4.3 Các chỉ số đa dạng thực vật khu vực nghiên cứu 33 

Bảng 4.4 Các loài cây quý hiếm cần bảo tồn trong ô định vị II 38 

Trang 11

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình 2.1 Bản đồ hiện trạng Vườn quốc gia Bù Gia Mập 14 

Hình 4.1 Vị trí ô định vị (ĐV) II trên Google Earth 25 

Hình 4.2 Sơ đồ nhánh các loài trong khu vực nghiên cứu (ô định vị) 32 

Hình 4.3 Đồ thị phần trăm số cá thể của họ tham gia trong khu vực nghiên cứu 35 

Hình 4.4 Phần trăm số loài trong các họ tham gia trong khu vực nghiên cứu 36 

Hình 4.5.1 Hướng dẫn tra cứu thông tin ô định vị trên phần mềm Biomon (1) 43 

Hình 4.5.2 Hướng dẫn tra cứu thông tin ô định vị trên phần mềm Biomon (2) 44 

Hình 4.5.3 Hướng dẫn tra cứu thông tin ô định vị trên phần mềm Biomon (3) 45 

Trang 12

cơ bị tàn phá để phục vụ cho các mục đích của con người với nhu cầu ngày càng cao

Theo FAO, từ năm 1950 rừng nhiệt đới mất khoảng 50%, nhiều nhất là ở Trung Mỹ (60%), Trung Phi (52%), Nam Phi và Đông Nam Á tương ứng là 37 và 38% Đến những năm đầu của thế kỷ 80 rừng nhiệt đới bị mất theo tốc độ 113000

km2/năm, trong đó có khoảng 3/4 rừng kín Tốc độ mất rừng trong những năm gần đây càng ngày càng gia tăng mạnh, dự đoán đến năm 2020 khoảng 40% rừng còn lại bị phá huỷ nghiêm trọng

Ở nước ta, tốc độ kinh tế tăng nhanh tương ứng với tốc độ phá rừng, mỗi năm rừng Việt Nam mất đi 13-15 nghìn ha, chủ yếu do nạn du canh du cư, lấy gỗ, đốt rừng lấy đất trồng cây công nghiệp xuất khẩu, đáp ứng nhu cầu giao thông, khai thác mỏ, xây dựng đô thị,… Rừng bị tàn phá, bị khai thác quá mức đã trở nên nghèo kiệt, các hệ sinh thái rừng bị phá hủy, nhiều loài thực vật rừng quý đang bị chặt hạ, thu hái không có kế hoạch nên đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng Diện tích rừng ngày một giảm sút, năm 1943 diện tích rừng cả nước là 14.3 triệu ha, tương

Trang 13

ha rừng (hơn 10.339 triệu ha rừng tự nhiên và hơn 2.919 triệu ha rừng trồng), tương ứng độ che phủ là 39.1%, thấp hơn chỉ số mức báo động che phủ tối thiểu để duy trì cân bằng hệ sinh thái cho một quốc gia Sự suy giảm về diện tích và chất lượng của rừng gây ra những hậu quả vô cùng lớn đối với đa dạng sinh học quốc gia[17] Vì vậy, việc quản lý và bảo vệ rừng không còn là một vấn đề mới mẻ mà đang là một vấn đề hết sức cấp bách Dự đoán trong tương lai, nếu không có chính sách bảo vệ hữu hiệu của Nhà nước thì rừng Việt Nam ngày càng bị ảnh hưởng nghiêm trọng: gây lũ lụt, xói mòn đất, diện tích đất trống đồi trọc ngày càng tăng,…

Bảo tồn cả hệ sinh thái rừng là một đòi hỏi cấp bách, nhất là đối với hệ sinh thái rừng nhiệt đới Biện pháp bảo tồn duy nhất và hữu hiệu nhất trong việc bảo tồn

hệ sinh thái rừng là bảo tồn tại chỗ Biện pháp bảo tồn này cho phép điều tra, nghiên cứu các đặc điểm sinh học, sinh thái và các điều kiện môi trường, các quy luật hình thành hệ sinh thái cũng như để phát hiện ra các biến dị di truyền của các loài trong

đó Năm 1991, Viện điều tra quy hoạch rừng thực hiện chương trình điều tra đánh giá và theo dõi diễn biến tài nguyên rừng trên phạm vi toàn quốc với chu kỳ 5 năm Nhiệm vụ chính của chương trình này là thành lập các hệ thống ô định vị Hệ thống

ô định vị có vai trò quan trọng trong việc thu thập những thông tin về tài nguyên rừng trên phạm vi cả nước Ô định vị để đo đếm số loài cây, xác định chiều cao, khả năng tái sinh, nghiên cứu thổ nhưỡng, cây bụi, đưa vào tính toán khả năng tăng trưởng của rừng ở khu vực có các loài cây đó, khả năng tái sinh, diễn thế, tính toán chỉ số đa dạng sinh học, chỉ số sinh thái, Từ những số liệu đó đưa ra những căn cứ khoa học xác đáng phục vụ cho các kế hoạch sử dụng lâu bên tài nguyên rừng

Vườn quốc gia Bù Gia Mập vừa là nơi bảo tồn hệ động vật, thực vật hoang

dã, và nguồn dược liệu quý hiếm, vừa là nơi phục vụ nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và phát triển dịch vụ du lịch sinh thái Đây là nơi bảo tồn các nguồn gen quý hiếm của hệ động, thực vật phong phú đặc trưng cho miền Đông Nam Bộ Việc xây dựng ô định vị tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập đã được thực hiện, tuy nhiên việc quản lý ô định vị để nghiên cứu về sinh thái chỉ mới bước đầu xây dựng nên còn nhiều cản trở trong việc áp dụng các phương pháp điều tra, nghiên cứu tình hình sinh trưởng, phát triển và đa dạng sinh học tại khu vực nghiên cứu

Trang 14

Việc xây dựng chính xác các số liệu sẽ tạo nên một cơ sở dữ liệu có giá trị rất lớn trong công tác xác định, đánh giá tình hình sinh trưởng và tính đa dạng sinh học trong ô định vị đại diện cho cả trạng thái rừng tương ứng

Từ những lý do đó, nhằm nâng cao công tác quản lý cũng như công tác bảo tồn và xây dựng cơ sở dữ liệu làm cơ sở cho việc đánh giá và theo dõi đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập theo không gian và thời gian, với sự giúp đỡ của

thầy ThS Mạc Văn Chăm, tôi đã thực hiện đề tài: “Bước đầu nghiên cứu sự đa dạng của thực vật thân gỗ trong ô định vị ở kiểu rừng kín thường xanh tại vườn quốc gia Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước” nhằm nâng cao hiệu quả cho công tác

quản lý cũng như công tác bảo tồn và xây dựng cơ sở dữ liệu làm cơ sở cho việc đánh giá đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước

1 2 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở các thông tin, dữ liệu liên quan đến đa dạng sinh học thu thập được tại khu vực nghiên cứu cùng với các số liệu điều tra được tại Vườn quốc gia

Bù Gia Mập, đề tài sẽ:

¾ Định lượng được các chỉ số đa dạng sinh học của các loài

¾ Xác định được tình hình tái sinh của thực vật thân gỗ trong ô định vị

¾ Xây dựng được bản đồ vị trí của những cây thực vật thân gỗ trên mặt đất trong ô định vị

Trang 15

Chương 2

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1 Vì sao phải bảo tồn đa dạng sinh học

Bảo tồn đa dạng sinh học là điều được đưa ra từ nhiều góc độ khác nhau tùy thuộc vào các yếu tố văn hóa, xã hội và kinh tế Một trong những lý do rất được quan tâm hiện nay trên toàn thế giới là sự suy thoái đa dạng sinh học mà nguyên nhân chính là hiểm họa từ thiên nhiên và con người Do đó, để bảo tồn tài nguyên động thực vật nói riêng và đa dạng sinh học nói chung, hiện nay có ba giải pháp chính sau[12]:

− Các công ước quốc tế: Các nước trên thế giới ký kết các công ước quốc tế nhằm góp phần bảo tồn đa dạng sinh học toàn cầu như: công ước bảo vệ các vùng đất ngập nước RAMSAR, công ước về buôn bán quốc tế các loài động thực vật hoang dã nguy cấp CITES, công ước đa dạng sinh học…

− Bảo tồn nội vi (In-situ) là giải pháp bảo tồn các loài ngay tại nơi chúng đang tồn tại Bảo tồn tại chỗ được nhiều quốc gia áp dụng, trong đó có Việt Nam, thông qua các hoạt động xây dựng khu bảo tồn

− Bảo tồn ngoại vi (Ex-situ) là phương pháp bảo tồn qua việc gây nuôi trồng các loài có nguy cơ bị tiêu diệt thông qua các hoạt động xây dựng vườn thực vật, vườn cây gỗ, ngân hàng hạt giống, vườn thú, trung tâm cứu hộ, bể nuôi,…

2.2 Những nghiên cứu về đa dạng sinh học

2.2.1 Nghiên cứu đa dạng sinh học trên thế giới

Curtis và McIntosh (1951), đã đề nghị so sánh vai trò của các loài trong quần

xã thông qua chỉ số quan trọng IV Chỉ số quan trọng IV được tính bình quân của ba đại lượng, đó là độ thường gặp tương đối (F%), mật độ tương đối (N%) và độ ưu thế tương đối (G%): Theo công thức IV

Trang 16

Độ thường gặp tương đối (F%) của một loài là tỷ lệ phần trăm độ thường gặp của loài so với tổng độ thường gặp của tất cả các loài trong ô định vị

Mật độ tương đối (N%) của một loài là tỷ lệ phần trăm số cá thể của loài này

so với tổng số cá thể của các loài trong ô định vị

Độ ưu thế tương đối (G%) của một loài là tỷ lệ phần trăm tổng tiết diện ngang thân cây của loài so với tổng tiết diện ngang thân cây của tất cả các loài trong

ô định vị

Khi tổng (F%+N%+G%) = 300% thì quần xã thực vật chỉ có một loài cây gỗ duy nhất

− Nghiên cứu về đa dạng sinh học với chuyên đề về những chỉ số thăm dò

và ưu thế trong công tác bảo tồn đã được tác giả Perman và Adelson (1991) nhấn mạnh rằng: đa dạng sinh học dần hết sức trở nên phổ biến trong các chương trình giáo dục đại học

− Theo Udvardi (Walters và Hamilton, 1993) thì trên thế giới bao gồm nhiều chỉnh thể sinh vật Sự phân chia đó tùy thuộc vào điều kiện khí hậu và các sinh vật sống trên đó Mỗi một chỉnh thể được xem là một sinh thái lớn, bao gồm nhiều hệ sinh thái nhỏ tập hợp lại Sự phân bố đó phù hợp vào nhiều hệ sinh thái khác bao gồm: 1 Rừng mưa nhiệt đới; 2 Rừng mưa Á nhiệt đới – ôn đới; 3 Rừng lá kim ôn đới; 4 Rừng khô nhiệt đới; 5 Rừng lá rộng ôn đới; 6 Thảm thực vật Địa trung hải;

Trang 17

rừng rụng lá với loài cây Bằng Lăng chiếm ưu thế, một ô được thiết lập trên kiểu rừng nửa rụng lá với loài cây họ Dầu chiếm ưu thế, hai ô được thiết lập trên kiểu rừng thường xanh nửa rụng lá Tiến hành thu thập dữ liệu của các cây gỗ có đường kính ngang ngực (D1,3), đo chiều cao cây và phân ra tầng trội với chiều cao cây > 25

m, và tầng dưới có chiều cao < 25 m Tiến hành thống kê số lượng cá thể và xác định vị trí các ô tiêu chuẩn trên bản đồ, định danh tên các loài cây Tác giả đã tính toán, xử lý số liệu bằng các chỉ tiêu định lượng như chỉ số tương đồng Jaccard bằng công thức:

Trong đó C là số loài chung được tìm thấy chung trong cả 2 ô x và ô y, Ux

và Uy là số loài được tìm thấy chỉ có ở ô x hoặc ô y Sau khi tính toán, tác giả đã cho thấy mối quan hệ giữa các loài thực vật trong ô nghiên cứu Tác giả đã tính toán được một số chỉ tiêu đa dạng sinh học như chỉ số đa dạng sinh học Shanon-Weine, chỉ số phong phú loài, chỉ số quan trọng IV

− Mcintosh và ctv (2001) đã nghiên cứu phục hồi rừng ngập mặn, đa dạng sinh học rừng ngập mặn và đa dạng sinh học vùng cửa biển ở Ranong, Thái Lan bằng phương pháp thu thập số liệu trên thực địa với ô đo đếm là 100 m2 và xử lý số liệu bằng phần mềm PRIMER 5 (Clarke và Wawick, 2001) để xác định các chỉ số

đa dạng sinh học, sử dụng SIMPER (Similarity Percent) để mô tả sự đóng góp của các loài trong quần xã, tính ma trận tương đồng (Similarity matrices) trên cơ sở tương đồng của Bray-Curtis, vẽ sơ đồ nhánh Cluster và NMDS (Non Metric Multi- Dimensional Scaling) để mô tả mối quan hệ giữa các ô đo đếm Nghiên cứu đa dạng sinh học theo phương pháp này đã phân tích, đánh giá, so sánh đa dạng sinh học dựa trên các chỉ số, các biểu đồ cụ thể, từ đó các kết luận của nghiên cứu mang tính khoa học cao

− Tery (2001) cùng một số tác giả khác đã nhiên cứu đánh giá thực vật ở rừng Takamada của Cameroon Để nghiên cứu đánh giá thực vật các tác giả đã thiết lập hơn 300 ô mẫu có kích thước 100x100 m (1 ha) ở 23 quốc gia, kí hiệu ô mẫu là BDP, xung quanh các ô mẫu này thiết lập hơn 38 ô mẫu có kích thước 10x10 m

Trang 18

(100 m2) được kí hiệu là MWP Trong các ô mẫu đo đếm các cây có D1,3 (đường kính ngang ngực) ≥ 10 cm, các ô mẫu được thiết lập ở các đai độ cao khác nhau

Sau khi thu thập được các số liệu trên ô mẫu nghiên cứu, đã tính được chỉ số quan trọng IV dựa trên các nhân tố tần suất xuất hiện tương đối, mật độ tương đối, đặc biệt là nghiên cứu tính chỉ số che phủ vùng dựa trên mật độ tương đối và tiết diện ngang tương đối

Kết quả nghiên cứu của đề tài đã thống kê được số lượng cá thể, loài, chi, họ trong vùng nghiên cứu, tính được chỉ số giá trị quan trọng IV dựa trên hai chỉ số, đó

là chỉ số bao phủ vùng và tần suất xuất hiện tương đối Phân tích thành phần cấu trúc, kết cấu rừng theo các kiểu rừng trên các đai độ cao khác nhau

− Slik và ctv (2003) đã phân tích hệ thực vật cây họ Dầu trên vùng đất thấp dưới 500 m so với mặt nước biển ở Borneo, xác định được các taxa trong vùng Nghiên cứu đa dạng thực vật trong vùng nghiên cứu, mối quan hệ đa dạng sinh học giữa các nhân tố, điều kiện như lượng mưa hằng năm, điều kiện địa hình giữa các ô mẫu Tác giả đã thiết kế 28 ô mẫu nghiên cứu ở 6 vùng khác nhau và rút ngẫu nhiên

640 cá thể, đo đếm đường kính ngang ngực (D1,3) của các cây có D1,3 > 9,8 cm Sử dụng phương pháp phân tích ma trận tương đồng, sơ đồ nhánh UPMGA của Sorensen và Steinhaus (1997) để phân tích mối qua hệ giữa các vùng nghiên cứu, sự ảnh hưởng của nhân tố lượng mưa hằng năm, điều kiện địa hình đến cấu trúc hệ thực vật giữa các ô nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu đã xác định được số họ, chi thực vật trong vùng nghiên cứu Xác định được đa dạng thực vật cao nhất trong 6 vùng nghiên cứu công trình

đã đưa ra kết luận đa dạng thực vật phụ thuộc rất lớn vào yếu tố địa hình và lượng mưa hằng năm

− Boris (2004), khi nghiên cứu chức năng và đánh giá hoạt động nông nghiệp trong một vùng, tác giả đã chú ý đến việc đánh giá tác động của con người đến đa dạng sinh học vùng nông nghiệp và các biện pháp bảo tồn Đa dạng sinh học rất phức tạp và nó được chia ra thành các mức độ đó là đa dạng gen, loài, hệ sinh thái và các quá trình hệ sinh thái Kết quả cho thấy giữa chúng có mối quan hệ với

Trang 19

lượng, từ việc đo đếm trực tiếp đã đưa ra được các taxa như là số họ, chi, loài, thứ, kiểu sinh thái của mỗi vùng và sử dụng một số chỉ số định lượng khác như độ phong phú loài S (S được tính bởi công thức S = ni, với ni là loài thứ i), chỉ số đa dạng Alpha ( ) (được tính bởi công thức: ( ) = pilog2pi, trong đó pi là tần suất xuất hiện loài thứ i), chỉ số đồng đều J (được tính bởi công thức J = H’/Log2S), chỉ

số ưu thế D (được tính bởi công thức D = ∑ ), Chỉ số hiếm IR (được tính bằng công thức IR = ∑Ci/S, trong đó Ci là hệ số hiếm của loài nghiên cứu, Ci biến động

từ 1-13)

− Khi nghiên cứu các quần xã thực vật và đa dạng sinh học ở vùng Camposauro, Gaurino và Napolitano (2006) đã nghiên cứu với diện tích vùng nghiên cứu là 137.8 km2 và ở độ cao trên 1.300m so với mực nước biển, với ô nhiên cứu (1 km x 1 km) bằng việc điều tra thống kê các loài thực vật, Nghiên cứu đã chỉ

Taburno-ra được các loài quý hiếm và mức độ quý hiếm Căn cứ kết quả tính toán chỉ số hiếm IR để đánh giá mức độ hiếm của từng loài và quần xã thực vật trong khu vực nghiên cứu theo các thang bậc sau đây: IR từ 78,08% - 95% là loài hiếm R (rare species), khi chỉ số IR từ 95%-97% là loài rất hiếm RR (very rare species), chỉ số

IR lớn hơn 97% là loài cực kỳ hiếm MR (extremely rare species) Từ các kết quả đánh giá mức độ hiếm của từng loài và quần xã, tác giả đưa ra các biện pháp bảo tồn các loài thực vật trong khu vực nghiên cứu

2.2.2 Nghiên cứu về đa dạng sinh học ở việt nam

Việt Nam là một trong những nước trên thế giới có đa dạng sinh học cao Theo Nguyễn Nghĩa Thìn (1977), nước ta có khoảng 11.373 loài thực vật thuộc 2.524 chi và 378 họ[8]

Các hệ sinh thái ở Việt Nam cũng rất đa dạng Theo Thái Văn Trừng (1978), trên quan điểm sinh thái tác giả đã phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam thành 14 kiểu: (1) Kiểu rừng kín thường xanh mưa nhiệt đới (Rkn), (2) Kiểu rừng kín nửa thường xanh ẩm nhiệt đới (Rkn), (3) Kiểu rừng kín rụng lá hơi ẩm nhiệt đới (Rkr), (4) Kiểu rừng kín lá cứng hơi ẩm nhiệt đới (Rkc), (5) Kiểu rừng thưa, cây lá rộng hơi khô nhiệt đới (Rtr), (6) Kiểu rừng thưa, cây lá kim hơi khô nhiệt đới (Rtk), (7)

Trang 20

Kiểu rừng thưa, cây lá kim hơi khô á nhiệt đới núi thấp (Rta), (8) Kiểu trảng cây to, cây bụi, cỏ cao, khô nhiệt đới (Rct,Tcb, Tcc), (9) Kiểu rừng bụi gai, hạn nhiệt đới (Tbg), (10) Kiểu rừng kín lá rộng thường xanh mưa á nhiệt đới núi thấp (Rka), (11) Kiểu rừng hỗn giao cây lá rộng và lá kim, ẩm nhiệt đới núi thấp (Rkh), (12) Kiểu rừng kín cây lá kim ẩm ôn đới, núi vừa (Rkk), (13) Kiểu quần hệ khô vùng cao (Qkc), (14) Kiểu quần hệ lạnh vùng cao (Qlc)

Phan Kế Lộc (1983) đã vận dụng thảm phân loại thực vật của UNESCO (1973) để xây dựng khung phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam Tác giả đã chia thảm thực vật rừng Việt Nam thành 5 kiểu chính, đó là: Rừng rậm, rừng thưa, trảng cây bụi, trảng cây bụi lùn, trảng cỏ

Về mặt thực vật trên phạm vi toàn quốc phải kể đến bộ “ Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ (1991-1993) xuất bản tại Canada và được tái bản có bổ sung tại Việt Nam trong 2 năm 1999 và 2000 Đây là bộ sách đầy đủ nhất, dễ sử dụng nhất, đã góp phần đáng kể cho khoa học thực vật ở Việt Nam

Phạm Nhật (2003) đã nghiên cứu và đề xuất những kiến thức, kỹ năng cơ bản về điều tra giám sát đa dạng sinh học, đưa ra các phương pháp rất chi tiết về điều tra giám sát đa dạng sinh học thực vật, thảm thực vật và động vật ngoài thực địa

Lê Quốc Huy (2005) đã trình bày một số phương pháp nghiên cứu phân tích định lượng các chỉ số đa dạng sinh học thực vật thông qua việc nghiên cứu, đánh giá thảm thực vật với chỉ số giá trị quan trọng IV, chỉ số đa dạng sinh học loài H’

eShanon và Weiner’s Index, chỉ số ưu thế, chỉ số tương đồng (Index of similality), phương pháp phân tích đường cong đa dạng ưu thế Khi đánh giá về mô hình thử nghiệm trồng cây bản địa thuộc dự án trồng rừng KFW2 tại Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị bằng phương pháp phân tích định lượng thảm thực vật, tác giả đã tính toán, phân tích định lượng các chỉ số đa dạng sinh học, phân tích đường cong đa dạng ưu thế, dùng chỉ số giá trị quan trọng IV để biểu thị cấu trúc không gian, mối tương quan và trật tự ưu thế giữa các loài trong một quần thể thực vật

Trang 21

Phùng Ngọc Lan và ctv (2006) đã có công trình nghiên cứu về hệ sinh thái rừng Việt Nam Kết quả của công trình nghiên cứu này đã thống kê và đánh giá được đa dạng hệ sinh thái rừng nhiệt đới và đa dạng loài sinh vật tại Việt Nam

Để bảo tồn các cây gỗ quý, hiếm tại Việt Nam theo hình thức ngoại vi, Nguyễn Văn Trương và ctv (2006) đã đúc kết các kinh nghiệm trong quá trình nghiên cứu và đề xuất phương pháp bảo tồn đối với từng loài cá thể

Cao Thị Lý (2008) đã nghiên cứu đa dạng sinh học trên khía cạnh những vấn

đề liên quan đến tổng hợp tài nguyên rừng ở một số khu bảo tồn thiên nhiên vùng Tây Nguyên, từ đó đề xuất giải pháp bảo tồn tài nguyên đa dạng sinh học

Viên Ngọc Nam và ctv (2008) đã nghiên cứu đa dạng sinh học về thực vật trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, Ban quản lý rừng phòng hộ Cần Giờ, thành phố

Hồ Chí Minh bằng phương pháp khảo sát thực địa để thu thập số liệu và xử lý số liệu bằng phần mềm PRIMER 5.0 để phân tích các chỉ số đa dạng sinh học Tác giả

sử dụng SIMPER (Similarity Rercent) để mô tả mức độ đóng góp của các loài trong quần xã, chỉ số Cacwell (V) để so sánh mức độ xáo trộn của môi trường, chỉ số đa dạng Shannon (H’e) thực tế đo và Shannon (H’e) lý thuyết để xem xét sự thay đổi tác động của môi trường Tác giả cũng tính ma trận tương đồng (Similarity Matrices) trên cơ sở tương đồng Bray - Curtis, vẽ các sơ đồ nhánh Cluster và sử dụng NMDS (Non-Metric multi-Dimensional Scaling), PCA (Principal Component Analysis) để mô tả mối quan hệ giữa các loài, các ô đo đếm từ ma trận tương đồng với các yếu tố lập địa, ngập triều, đất

2.2.3 Những nghiên cứu ở vườn quốc gia Bù Gia Mập

Ở Vườn Quốc gia Bù Gia Mập đã có một số nghiên cứu như: Viện Sinh Học Nhiệt Đới thành phố Hồ Chí Minh (1997) đã tiến hành điều tra, đánh giá về sinh thái, tài nguyên và môi trường Khu Bảo tồn thiên nhiên Bù Gia Mập; phân viện Điều tra quy hoạch rừng Nam Bộ (2004) đã thực hiện dự án đầu tư xây dựng và phát triển Vườn Quốc gia Bù Gia Mập giai đoạn 2005 – 2009, Vương Đức Hòa (2009) đã tiến hành điều tra nghiên cứu đa dạng thực vật thân gỗ của kiểu rừng kín thường xanh trên núi thấp ở ba đai độ cao khác nhau Nhưng nhìn chung, phần lớn các công trình nghiên cứu đa dạng ở Vườn Quốc gia Bù Gia Mập trước đây là

Trang 22

những nghiên cứu định tính, do vậy các kết quả chỉ mang tính định tính, liệt kê nên không tạo được sự tin cậy trong công tác nghiên cứu và quản lý, bảo tồn tại vườn quốc gia Bù Gia Mập

2.3 Phân loại tổ dạng sống

Một trong những nội dung chính khi phân tích đa dạng một hệ thực vật là phân tích phổ dạng sống của hệ thực vật đó Bởi dạng sống là quá trình thích nghi lâu dài của thực vật với môi trường sống Các dạng sống đều có liên quan mật thiết với môi trường sống của từng vùng, cũng như mức độ tác động của nhân tố sinh thái Để phân chia dạng sống, người ta dựa vào sự khác nhau và khả năng thích nghi của thực vật trong thời gian bất lợi về thời tiết trong năm

Mặc dù có nhiều kiểu phân loại dạng sống khác nhau, nhưng thông thường người ta vẫn dùng phương pháp phân loại của Raukiaer (1934)[2] vì dễ sử dụng và

có tính khoa học cao Theo cách này vị trí của chồi so với mặt đất được dùng làm nguyên tắc chính để phân loại các dạng sống Tác giả đã phân thành 5 nhóm dạng sống cơ bản sau:

+ Phanerophytes (Ph): Cây chồi trên mặt đất

+ Chamaephytes (Ch): Cây chồi sát đất

+ Cryptophytes (Cr): Cây chồi ẩn

+ Therophytes (Th): Cây chồi một năm

+ Hemicryptophytes (Hm): Cây chồi nửa ẩn

Trong đó cây chồi trên mặt đất (Ph), đã được Raukiaer chia thành 7 dạng nhỏ cho phù hợp với vùng nhiệt đới ẩm, đó là:

+ Magaphanerophytes (Mg): Cây gỗ lớn cao trên 25 m

+ Méophanerophytes (Me): Cây gỗ lớn cao từ 8 – 25 m

+ Microphanerophytes (Mi): Cây gỗ nhỏ cao 2 – 8 m

+ Nanophanerophytes (Na): Cây trồi cao 0.25 – 2 m

+ Lianesphanerophytes (Lp) : Cây trồi trên đất leo quấn

+ Epiphytesphannerophytes (Ep): Cây chồi trên mặt đất sống nhờ và sống bám

Trang 23

+ Phanerophytes herbaces (Phh) : Cây chồi trên đất thân thảo

Tác giả đã tính toán cho hơn 1.000 loài cây ở các vùng khác nhau trên trái đất và lập thành phổ dạng sống tiêu chuẩn, kí hiệu là SN

Bảng 2.1 Phổ dạng sống cơ bản của Raukiaer

lý số liệu nhanh chóng và có độ tin cậy cao Ở nước ta, công tác nghiên cứu đa dạng sinh học đã thực hiện từ lâu Tuy nhiên, đa số các công trình nghiên cứu mang tính

mô tả, điều tra truyền thống, đơn giản và việc ứng dụng công nghệ thông tin và hệ thống định vị toàn cầu (GPS) trong nghiên cứu đa dạng còn rất ít Phương pháp nghiên cứu đa dạng sinh học theo hướng định lượng kết hợp với công nghệ GIS đã được một số tác giả áp dụng cho kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới nhưng còn rất ít

Tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập đã xây dựng các hệ thống ô định vị gồm hai

ô cho kiểu rừng kín thường xanh và một ô cho kiểu rừng kín nửa rụng lá nhưng phương pháp chủ yếu là điều tra, thống kê mô tả các loài động - thực vật có được qua quá trình điều tra, chưa ứng dụng công nghệ GIS để theo dõi, lưu trữ, cập nhật

Trang 24

việc thực hiện đề tài nghiên cứu đa dạng thực vật thân gỗ trong ô định vị tại vườn

quốc gia Bù Gia Mập, tỉnh bình phước bằng phương pháp định lượng có sự trợ giúp

của công nghệ thông tin để xử lý số liệu sẽ bổ sung cơ sở dữ liệu cho công tác điều

tra, nghiên cứu và bảo vệ được hiệu quả hơn Đề tài góp phần khẳng định ưu điểm

của phương pháp định lượng trong nghiên cứu đa dạng sinh học và biện pháp bảo

tồn các loài thực vật quí hiếm theo không gian và thời gian

2.4 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng là các thực vật thân gỗ (cây gỗ lớn) của kiểu rừng kín thường

xanh trên núi thấp tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập, nhưng do giới hạn về thời gian

thực hiện đề tài, nên tôi đã thực hiện đề tài tại ô định vị II (đây là ô đại diện cho

kiểu rừng kín thường xanh trên núi thấp tại vườn quốc gia Bù Gia Mập, tỉnh Bình

Phước)

2.5 Đặc điểm khu vực nghiên cứu

2.5.1 Lịch sử hình thành và chức năng của Vườn quốc gia Bù Gia Mập

Vườn quốc gia Bù Gia Mập được chuyển hạng từ Khu Bảo tồn thiên nhiên

Bù Gia Mập thành Vườn quốc gia Bù Gia Mập theo Quyết định số

170/2002/QĐ-TTg ngày 27/11/2002 của Thủ tướng Chính phủ Vườn có tổng diện tích là 25.926

ha: trong đó, phân khu bảo vệ nghiêm ngặt có 18.163 ha, phân khu phục hồi sinh

thái có 7.663 ha và phân khu hành chính, dịch vụ có 100 ha Diện tích vùng đệm là

15.200 ha Trong đó, diện tích thuộc tỉnh Bình Phước là 7.200 ha, diện tích thuộc

tỉnh Đắk Nông là 8.000 ha

Vườn quốc gia Bù Gia Mập có bốn chức năng chính[13], đó là:

(1) Duy trì và bảo tồn mẫu chuẩn hệ sinh thái đồi núi thấp chuyển tiếp từ

Cao Nguyên xuống đồng bằng Nam Bộ, có độ cao dưới 1.000m, được coi là rất đặc

trưng

(2) Bảo tồn các loài động thực vật quý hiếm

(3) Rừng phòng hộ cho các thủy điện Sóc Phu Miên, Cần Đơn, Thác mơ (4) Xây dựng cơ sở vật chất, phục vụ nghiên cứu khoa học, phát triển du lịch

sinh thái

Trang 25

2.5.2 Vị trí địa lý

Vườn quốc gia Bù Gia Mập nằm ở phía Bắc của tỉnh Bình Phước, thuộc địa phận hành chính xã Đắk Ơ và xã Bù Gia Mập huyện Bù Gia Mập tỉnh Bình Phước, cách thành phố Hồ Chí Minh 200 km, và tỉnh lỵ của tỉnh Bình phước - Đồng Xoài

- Phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đăk Nông

- Phía Nam giáp Ban quản lý rừng phòng hộ Đăk Mai và Ban quản lý rừng phòng hộ Đăk Ơ

Hình 2.1 Bản đồ hiện trạng Vườn quốc gia Bù Gia Mập

Trang 26

2.5.3 Điều kiện tự nhiên

2.5.3.1 Địa hình địa mạo

Vườn quốc gia Bù Gia Mập nằm ở đoạn cuối của dãy Trường Sơn Nam, là khu chuyển tiếp giữa vùng đồi núi và vùng núi thấp, khu vực chuyển tiếp từ cao nguyên xuống đồng bằng Nam Bộ Độ cao giảm dần theo hướng Đông Bắc – Tây Nam và từ Đông sang Tây Theo phân vùng địa lý thì Vườn quốc gia Bù Gia Mập là vùng sườn đồi Tây Nam của cao nguyên Bù Rang thuộc Đăk Nông ở độ cao 850 – 950m Độ cao cao nhất tại Bù Gia Mập là 738 m ở phía Bắc giáp Đăk Nông, độ thấp nhất khoảng 200m ở phía Tây Nam tại suối Đăk Huýt Đặc điểm địa mạo của vùng có dạng đồi lượn sóng (cao nguyên giả) cho tới dạng đồi núi thấp với dạng địa hình bóc mòn phong hoá là chủ yếu, có vỏ phong hoá dày tại các sườn và đỉnh đồi Dạng địa hình tích tụ dọc theo các suối Do địa hình đồi núi nên độ dốc lớn, với hai cấp độ dốc khá rõ là Cấp III (70 – 150) ở phía Đông Nam và một phần phía Tây giáp Campuchia là hai khu vực có dạng đồi lượn sóng, chân địa hình là các dòng chảy; cấp IV (150 – 250) bao gồm phần còn lại có dạng như sóng địa hình của Khu Bù Gia Mập

− Địa tầng hệ Neogen – Bazan cổ: các hoạt động kiến tạo và núi lửa tạo ra các uốn nếp và phun trào bazan Tại Bù Gia Mập thuộc tầng bazan Plioxen muộn- Pleitoxen sớm phân bố rộng rãi ở Tây nguyên và một phần Đông Nam Bộ Tạo thành cao nguyên Bù Na - Bù Gia Mập là cao nguyên bazan lớn thứ hai trong vùng

Nhóm đất chính ở Bù Gia Mập đó là đất Đỏ vàng phát triển trên vỏ phong hóa bazan và một phần nhỏ phát triển trên đá phiến Có 3 nhóm phụ

Trang 27

+ Đất Đỏ Nâu phát triển trên đá bazan chưa và ít phân dị Không có tầng kết von đá ong, chiếm phần lớn diện tích của Bù Gia Mập, có tầng đất sâu trên 100 cm, thành phần cơ giới từ thịt tới sét nặng

+ Đất Nâu Vàng (đất Feralit nâu vàng), chiếm phần diện tích nhỏ không đáng kể ở phía Nam Bù Gia Mập Đây cũng là đất tự hình thành và phát triển trên bazan chưa và ít phân dị, thành phần cơ giới tương tự như loại đất trên

+ Đất Vàng trên phiến sét: hình thành trên đất trầm tích cổ, có quá trình Feralit yếu, tầng đất mỏng, nghèo dinh dưỡng Loại đất này chiếm diện tích không đáng kể Không có tầng kết von, đáy phẫu diện là đá gốc mục nát Không phân tầng

rõ rệt Phân bố hẹp tại cực Tây Nam và một vài điểm ven suối Đắk Ca, Đắk Huýt

Nhìn chung, thành phần cơ giới của các nhóm đất tại Bù Gia Mập thuộc nhóm thịt tới sét nặng, đất chặt Độ ẩm của đất vào mùa mưa rất cao, xuống thấp vào mùa khô Đất có đặc tính của vùng đất bazan đồi núi thấp Đông Nam Bộ, với

độ dinh dưỡng cao, nhưng mất rừng thì dộ dinh dưỡng của đất bị giảm mạnh bởi quá trình xói mòn đất, rửa trôi chất hữu cơ, chất khoáng, nhất là ở các khu vực đồi, núi có sườn dốc lớn

2.5.3.3 Khí hậu, thủy văn

× Chế độ nhiệt: nhiệt độ trung bình năm: 24.10C Biên độ nhiệt độ năm: 3.80C

Nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất: 22.40C Thời kỳ nóng trên 250C từ tháng 3 đến tháng 6

× Chế độ mưa: chế độ gió mùa, chế độ khí hậu vùng (núi thấp) và địa hình, đặc biệt là ở vị trí sườn đón gió mùa Tây Nam của khu vực xã Bù Gia Mập đã hình thành chế độ mưa có lượng mưa cao hơn toàn khu vực huyện Bù Gia Mập đạt xấp

xỉ 2800 mm/năm hoặc cao hơn

× Thủy văn: Vườn quốc gia Bù Gia Mập có mạng lưới suối nằm hoàn toàn trong tả ngạn Lưu vực suối Dak Huýt (cấp III), có các suối thuộc hệ thống cấp II, bao gồm: Dak Ca, Dak Sam, Dak Sá, Dak Rme và một số khe ngòi (cấp I) Nhìn chung, mạng lưới suối cấp II có nước chảy quanh năm[16]

Trang 28

2.5.3.4 Thảm thực vật Vườn quốc gia Bù Gia Mập

Vườn quốc gia Bù Gia Mập nằm ở phần cuối cùng của dãy Trường Sơn và vùng Đông Nam Bộ nên hệ thực vật có quan hệ chặt chẽ với hệ thực vật của dãy Trường Sơn Nam và của miền Đông Nam Bộ Thảm thực vật Vườn quốc qia Bù Gia Mập gồm 2 kiểu rừng chính[13], đó là:

- Kiểu rừng kín thường xanh mưa nhiệt đới núi thấp (Rkx)

- Kiểu rừng kín nửa thường xanh ẩm nhiệt đới (Rkn)

Hệ thực vật rừng Vườn quốc gia Bù Gia Mập rất đa dạng và phong phú về sinh cảnh cũng như thành phần loài

Theo số liệu điều tra của Phân Viện Điều tra quy hoạch rừng II vào năm

2004 và qua một số đợt điều tra nghiên cứu từ năm 2005 - 2008 của Viện Sinh thái

& Tài nguyên sinh vật, Viện Sinh học Nhiệt đới đã thống kê được 808 loài thực vật, thuộc 396 chi, 118 họ, 59 bộ, 5 ngành Trong đó, có 50 loài bản địa, 18 loài thuộc nhóm quý hiếm theo phân loại sách đỏ Việt Nam năm 2000

Có nhiều loài quý hiếm đang bị đe dọa ở Việt Nam và trên thế giới như: Gõ

đỏ (Afzelia xylocarpar), Cẩm lai (Dalbergia ollivery), Giáng hương (Pterocarpus macrocarpus), Trầm hương (Aquilaria crassna), Gõ mật, Bá bệnh,… nổi bật nhất

của hệ thực vật rừng nơi đây là đặc trưng của các loài cây thuộc họ Dầu

2.5.3.5 Điều kiện kinh tế xã hội

Vườn quốc gia Bù Gia Mập có vùng đệm nằm trên 3 xã Quảng Trực (thuộc tỉnh Đắk Nông), Bù Gia Mập và Đăk Ơ (thuộc tỉnh Bình Phước), dân số của 3 xã là 3.889 hộ, 18.376 nhân khẩu Đây là các xã biên giới, vùng sâu vùng xa, người đồng bào dân tộc chiếm đa số (có xã chiếm tới 90%) Đời sống của người dân gặp rất nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp, giao thông đi lại gặp nhiều khó khăn Người dân sống dựa vào rừng là chính Sau năm 1975, do phong trào di dân từ phía Bắc vào lập nghiệp, nên có một bộ phận người dân di cư vào vùng đệm tăng cao, làm cho chỉ số tăng dân số cơ học cao (9.8% năm), nhu cầu đất canh tác để phát triển sản xuất lớn Tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng đang là một áp lực lớn trên địa phận vùng đệm Vườn quốc gia (Nguồn Báo cáo sàng lọc xã hội Vườn quốc gia

Trang 29

Bù Gia Mập, 2008) Do áp lực về dân số và điều kiện kinh tế, dân trí thấp đã ảnh hưởng rất lớn đến công tác bảo tồn ở Vườn quốc gia đặc biệt là bảo tồn các loài thực vật rừng quý hiếm, có giá trị kinh tế cao như các loài Gõ đỏ, Giáng hương, Cẩm lai, Sao, Dầu, một số loại lâm sản ngoài gỗ có giá trị làm thuốc, Đây là những thách thức lớn đối với công tác bảo tồn Vì vậy, việc xây dựng được một cơ

sở dữ liệu về các loài thực vật quý hiếm phục vụ công tác tuyên truyền cho người dân về bảo tồn vườn quốc gia có ý nghĩa rất lớn trong giai đoạn hiện nay

Trang 30

Chương 3

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Nội dung nghiên cứu của đề tài

- Điều tra và lập danh mục thực vật thân gỗ theo loài, họ, số lượng cá thể trong ô định vị

- Định lượng các chỉ số đa dạng sinh học của loài

- Xác định tình hình tái sinh dưới tán rừng

- Xây dựng bản đồ vị trí của những cây thực vật thân gỗ trong ô định vị

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Phương pháp thống kê, kế thừa số liệu

- Thu thập các thông tin, dữ liệu liên quan đến đa dạng sinh học từ các đề tài, các công trình nghiên cứu ở Vườn quốc gia Bù Gia Mập, các công trình nghiên cứu đa dạng thực vật nói riêng và đa dạng sinh học nói chung trên các tạp chí, sách, internet

- Thu thập bản đồ địa hình, bản đồ hành chính, bản đồ hiện trạng rừng, bản

đồ thảm thực vật, các dữ liệu khác có liên quan trong khu vực nghiên cứu từ Vườn quốc gia Bù Gia Mập và các báo cáo hoạt động bảo tồn, báo cáo xã hội ở Vườn quốc gia Bù Gia Mập

- Kế thừa những thông tin, dữ liệu liên quan đến việc xây dựng cũng như lập

ô định vị tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập

Trang 31

3.2.2 Phương pháp và vật liệu nghiên cứu ngoài thực địa

3.2.2.1 Vật liệu nghiên cứu

Sử dụng bản đồ địa hình hệ UTM tỷ lệ 1/50.000 do bộ quốc phòng ban hành năm 1965, bản đồ thảm thực vật, bản đồ hiện trạng trong hệ UTM tỷ lệ 1/25.000 do phân viện điều tra quy hoạch rừng II, lập năm 2004 (kế thừa các số liệu bản đồ đã

có của Ban quản lý Vườn quốc gia Bù Gia Mập), máy định vị GPS (Global Position System)

Dùng la bàn và thước dây 50 m để lập ô đo đếm và xác định vị trí các cây thực vật thân gỗ trên mặt đất trong ô định vị

Ngoài ra, còn các dụng cụ khác như: máy ảnh, các mẫu biểu điều tra thực địa

và giấy, bút để ghi số liệu

3.2.2.2 Ngoại nghiệp

Toàn bộ số liệu thu thập đều ghi tách biệt riêng theo từng phân ô vào phiếu

đo đếm

− Đo đường kính D1.3 của cây thực vật thân gỗ trong ô định vị (đo cây có

D1,3 từ 5 cm trở lên) trong toàn bộ 25 phân ô đo đếm của thực vật tầng thân gỗ Tại

vị trí đo đường kính được đánh dấu một biển làm bằng tôn cứng, trên biển ghi số hiệu cây bằng sơn đỏ trùng với số hiệu cây ghi trong biểu Cây không biết tên phải lấy tiêu bản đủ để giám định

− Tại các phân ô, ngoài việc đo D1.3 của cây thực vật thân gỗ trong ô định vị như đã trình bày ở trên, còn phải tiến hành đo đếm các nội dung sau:

+ Ðo chiều cao vút ngọn (Hvn) của tất cả các cây thực vật thân gỗ trên mặt đất có trong các phân ô (đo tính lấy tròn đến 0.5m)

+ Xác định vị trí gốc cây thực vật thân gỗ trong ô định vị trong các phân ô của ô định vị

+ Tình hình tái sinh dưới tán rừng

Trong các phân ô mang số hiệu 1, 3, 5, 11, 13, 15, 21, 23 và 25, mở một ô dạng bản diện tích 16m2 (4m x 4m) ở góc phía Tây - Bắc của phân ô đo đếm.Trong mỗi ô dạng bản sẽ điều tra thống kê cây tái sinh vào phiếu Đếm số cây theo các cấp

Trang 32

Nguồn gốc của cây tái sinh được xác định rõ là hạt (H) hay chồi (Ch) và được ghi vào phiếu điều tra

Bảng 3.1 Phiếu điều tra, thu thập cây tái sinh trong ô định vị

PHIẾU ĐIỀU TRA, THU THẬP CÂY TÁI SINH

Người điều tra:

Ngày điều tra:

Cấp chiều cao (m)

< 0,5 0,5 - 2 > 2 Nguồn

gốc Nguồn gốc Nguồn gốc Hạt Chồi Hạt Chồi Hạt Chồi

+ Lập danh lục các loài trong ô đo đếm

+ Xây dựng bản đồ vị trí các cây thực vật thân gỗ quý hiếm[1] trong ô định vị thông qua phần mềm Biomon 2.0

+ Dùng phần mềm Excel 2003 để xử lý số liệu điều tra ngoài thực địa

+ Sử dụng phần mềm Biodiversity Pro 2.0 để tính toán các chỉ số đa dạng sinh học, tính phân bố loài của loài thực vật, quần xã thực vật

− Tính toán các chỉ số đa dạng sinh học[11]

Trang 33

• Chỉ số phong phú loài Margalef (d): chỉ số này được sử dụng để xác định tính đa dạng về loài và được tính theo công thức: d =

d: Chỉ số phong phú loài Margalef

S: Tổng số loài trong mẫu

s pi i

e i

S: Số lượng loài hay độ giàu có của loài

N: Tổng số cá thể trong toàn bộ mẫu

Pi =

N

n i : Tỷ lệ cá thể của loài i so với lượng cá thể của toàn bộ mẫu

ni: Số lượng cá thể của loài i

• Chỉ số tương đồng Pielou (j’): dùng để tính toán mức độ đồng đều của các loài trong quần xã và được tính theo công thức:

H

Qsat H

Trong đó:

H’ là chỉ số Shanon-weiner và S là tổng số loài

J’ có giá trị từ 0 đến 1 (J’ = 1 khi tất cả các loài có lượng cá thể bằng nhau)

• Chỉ số ưu thế Simpsons Diversity (D): Được dùng để đại diện cho loài ưu thế và sử dụng trong việc theo dõi môi trường, khi D tăng lên thì tính đa dạng giảm

vì vậy nó có hiệu quả trong việc đánh giá tác động của môi trường Công thức tính như sau:

Trang 34

) 1 (

N N

ni ni

Trong đó :

ni: Số lượng cá thể của loài i

N: Tổng số lượng các loài trong quần xã

D: Chỉ số của loài ưu thế và có giá trị (0 ≤ D ≤ 1)

• Sử dụng chỉ số giá trị quan trọng IV (Importance Value Index) của các tác giả Curtics và Mcintosh (1950) (Viên Ngọc Nam, 2005) áp dụng biểu thị cấu trúc, mối tương quan và trật tự ưu thế giữa các loài trong một quần thể thực vật

Chỉ số IV được tính theo công thức sau:

Trong đó:

ƒ RD: Mật độ tương đối của mỗi loài và được tính theo công thức:

Mật độ của loài nghiên cứu

Tổng số tần suất xuất hiện của các loài

ƒ RBA: Tổng tiết diện ngang tương đối của loài, được tính theo công thức: Tổng tiết diện ngang của loài nghiên cứu

RBA = - x 100%

Tổng tiết diện ngang của tất cả các loài

Chỉ số IV đạt giá trị tối đa là 100% khi khu vực nghiên cứu chỉ có 1 loài cây Theo Thái Văn Trừng (1978), trong một lâm phần nhóm loài cây nào đó có chỉ số IV lớn hơn 5 % tổng số cá thể của tầng cây cao thì nhóm loài đó được coi là nhóm loài ưu thế Cần tính tổng IV của những loài có trị số này lớn hơn 5 % xếp từ cao tới thấp và dừng lại khi tổng IV đạt 50 %

− Sử dụng chỉ số hiếm của Guarino và Napolitino (2006)

Trang 35

Trong đó:

n: là số ô xuất hiện loài nghiên cứu

N: là tổng số ô trong khu vực nghiên cứu

IR: Chỉ số hiếm (Rare Index)

Căn cứ kết quả tính toán chỉ số hiếm IR để đánh giá mức độ hiếm của từng loài và quần xã thực vật trong khu vực nghiên cứu theo thang bậc sau đây: Chỉ số

IR biến động từ 0 - 100% Khi chỉ số IR từ 78.08% đến 95% là loài hiếm R (Racre species), khi chỉ số IR từ 95 đến 97% là loài rất hiếm RR (Very rare species), chỉ số

IR > 97% là loài cực hiếm MR(extremely rare species)

Trang 36

Chương 4

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Kết quả nghiên cứu trên thực địa từ ô định vị II

4.1.1 Vị trí ô định vị II trên Google Earth

Dựa vào bản đồ hiện trạng rừng, bản đồ địa hình của Vườn quốc gia Bù Gia Mập, sử dụng máy định vị toàn cầu GPS để xác định tọa độ ô định vị II theo tọa độ UTM, Datum WGS 84, sau đó sử dụng phần mềm Mapsourrce để chuyển hệ tọa độ của ô định vị II lên Google Earth Vị trí ô định vị II được thể hiện ở hình 4.1 Tọa

độ UTM – WGS 84 tại tâm ô định vị II là: P48 0740392 – 1350265

Hình 4.1 Vị trí ô định vị (ĐV) II trên Google Earth

Trang 37

4.1.2 Thành phần loài thực vật thân gỗ trong ô định vị II

Kết quả nghiên cứu thành phần thực vật trong ô định vị cho thấy, tổng số cá thể là 656 cá thể, thuộc 93 loài, 38 họ (phụ lục 5), trong đó có 9 loài thực vật quí hiếm cần bảo tồn theo Sách Đỏ Việt Nam, Sách Đỏ thế giới và Nghị định 32/2006/ND-CP Cụ thể là:

− Theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP có 4 loài là: Cẩm lai Bà Rịa, Thiết đinh

lá bẹ, Gõ đỏ và Dó bầu

− Theo Sách Đỏ Việt Nam có 6 loài, trong đó có 3 loài ở mức nguy cấp (Cấp EN) là Vên vên, Dó bầu và Gõ đỏ, 3 loài ở mức sẽ nguy cấp là Vàng tâm, Cẩm lai Bà Rịa và Thiết đinh lá bẹ

− Theo Sách đỏ thế giới IUCN (2007) có 7 loài, trong đó có 4 loài ở mức nguy cấp (EN) là Dầu rái, Gõ đỏ, Vên vên và Dó bầu, 3 loài ở mức sẽ nguy cấp là Thiết đinh lá bẹ, Xoài rừng và Sao đen

Trong các phân ô đo đếm có số loài trung bình là 16.7 loài Phân ô đo đếm

có số loài cao nhất là phân ô 8 và phân ô 18 với 28 loài, phân ô có số loài thấp nhất

là phân ô 2 với 5 loài Số cá thể trung bình mỗi phân ô là 26.3 cá thể, phân ô có số

cá thể thấp nhất là phân ô số 2 với 11 cá thể và phân ô có số cá thể lớn nhất là phân

ô số 12 với 48 cá thể

4.2 Tình hình tái sinh của thực vật thân gỗ trong ô định vị

Tái sinh rừng là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng (thảm cây gỗ

và các thành phần khác của lâm phần) Sự xuất hiện của lâm phần mới lại góp phần hình thành môi trường rừng và các thành phần khác như thảm thực vật tầng thấp, động vật và vi sinh vật đặc trưng cho mỗi loại rừng Vì thế, khái niệm tái sinh rừng còn được hiểu theo nghĩa rộng là tái sinh hệ sinh thái rừng Tuy vậy, trong lâm nghiệp, tái sinh rừng chỉ xem xét thành phần tái sinh với những loài cây gỗ

Cây tái sinh là thuật ngữ biểu thị các thế hệ non của các loài cây gỗ, sống và phát triển dưới tán rừng, có khả năng tạo thành một quần thụ mới nếu khai thác và loại bỏ tầng cây mẹ Đây là đặc điểm dùng để phân biệt cây tái sinh với cây bụi và thảm tươi sống dưới tán rừng

Trang 38

Để đánh giá tái sinh rừng ở khu vực nghiên cứu, đề tài đã chia cây tái sinh theo ba cấp chiều cao như đã trình bày ở phần phương pháp nghiên cứu Kết quả nghiên cứu được trình bày ở bảng 4.1

Bảng 4.1 Phân bố % cây tái sinh theo cấp chiều cao

Qua bảng 4.1 và phụ lục 3, cho thấy:

+ Có 23 loài cây tái sinh dưới tán rừng tại khu vực nghiên cứu Tổ thành loài cây tái sinh chủ yếu là các cây ưa sáng, mọc nhanh, ít có giá trị kinh tế nhưng cũng

có ý nghĩa nhất định về mặt sinh thái

+ Cây tái sinh có nguồn gốc từ hạt là chủ yếu (chiếm 88 %), trong khi các cây có nguồn gốc tái sinh từ chồi chỉ chiếm 12 %

+ Phân bố số cây tái sinh theo cấp chiều cao:

Mật độ cây tái sinh là 4861cây/ha, nhưng tập trung không đều, chủ yếu ở cấp chiều cao dưới 0,5 m (số lượng cây trung bình là 2223 cây/ha, chiếm 46% trong tổng số cây tái sinh) Số lượng cây tái sinh giảm dần ở các chiều cao lớn hơn (số lượng cây trung bình là 1595 cây/ha, chiếm 33% trong tổng số cây tái sinh ở cấp chiều cao 0,5-2 m và số lượng cây trung bình là 1015 cây/ha, chiếm 21% trong tổng

số cây tái sinh ở cấp chiều cao > 2 m)

Nhìn chung, qua khảo sát và điều tra thực tế thì mật độ cây tái sinh không đều, các cây chủ yếu phân bố theo cụm, xung quanh cây mẹ Đây cũng là kiểu phân

bố điển hình thường gặp trong các kiểu rừng tự nhiên Một điều đặc biệt mà trong quá trình điều tra cho thấy là một số cây có giá trị kinh tế, thuộc tầng ưu thế không

có mặt trong thành phần của cây tái sinh

Trang 39

4.3 Phân tích đa dạng thực vật trong ô định vị II

4.3.1 Phân tích đa dạng các loài thực vật trong ô định vị II

− Chỉ số IV của khu vực nghiên cứu

Qua kết quả tính toán ở bảng 4.2 và phụ lục 4 cho thấy, loài có chỉ số IV cao được xếp theo thứ tự giảm dần là: Ràng Ràng (5.96%), Sao sp (4.78%), Lòng Máng

lá hẹp (4.35%)… Theo Thái Văn Trừng (1978), trong lâm phần nhóm nào có tổng tích lũy giá trị chỉ số IV > 50% được xem là loài chiếm ưu thế và nhóm loài đó sẽ tham gia vào công thức tổ thành, những loài có trị số IV> 5% là những loài chiếm

ưu thế sinh thái Qua tính toán cho thấy, số loài chiếm ưu thế trong khu vực nghiên cứu là 16 loài, chiếm 50.8% Còn lại 77 loài khác chiếm 40.2%, trong đó có có 4

loài có chỉ số IV thấp nhất (0.15%), đó là Dung (Symplocos lancifolia Sieb.&Zucc),

Dó bầu (Aquilaria crassna Pierre ex Lec), Củ rối bằng (Leea aequata L) và loài Hymenopogon sp Qua quá trình phân tích chỉ số IV cho thấy, mức độ ưu thế giữa

các loài là không rõ rệt, sai khác không lớn

Với kết quả phân tích chỉ số IV, ta xác định được 1 loài chiếm ưu thế sinh

thái (loài có chỉ số IV > 5%), đó là loài Ràng Ràng (Ormosia cf inflata Merr &

Chun)

Trang 40

Bảng 4.2 Loài ưu thế và công thức tổ thành loài

viết tắt

1 Fabaceae (Đậu) Ormosia cf inflata Merr & Chun Ràng ràng Orminf 79 5.96 0.6

2 Dipterocarpaceae (Sao Dầu) Hopea sp16 Sao Hopsp1 1 4.78 0.48

3 Sterculiaceae (Trôm) angustifolium Tard Pterospermum

Lòng mán lá hẹp Pteang 52 4.35 0.44

4 Ebenaceae (Thị) pilosanthera Blco Diospyros Thị đài dúng Diopil 46 4.12 0.41

5 Dipterocarpaceae (Sao Dầu) Dipterocarpus alatus Roxb Dầu rái Dipala 19 4.07 0.41

6 (Dâu Tằm) Moraceae Ficus Carica Sung FicCar 1 3.63 0.36

7 Lythraceae (Tử Vi) calyculata Kurz Lagerstroemia lăng ổi Bằng Lagcal 28 3.56 0.36

8 Anacardiaceae (Đào lộn hột) cochinchinensis Engl. Mangifera Xoài nụt Mancoc 1 3.41 0.34

9 (Nguyệt Quế) Lauraceae damhaensis Kost Cinnamomum Re Cindam 29 2.58 0.26

10 Dipterocarpaceae (Sao Dầu) Hopea odorata Roxb. Sao đen Hopodo 7 2.33 0.23

11 Caesalpiniaceae (Vang) Afzelia xylocarpa (Kurz) Craib Gõ đỏ Afzxyl 2 2.17 0.22

12 (Nhục Đầu khấu) Myristicaceae Knema lenta Warb Mấu chó Knelen 20 2.08 0.21

13 Lythraceae (Tử Vi) speciosa (L.) Pers Lagerstroemia Bằng lăng Lagspe 16 2 0.2

14 Rutaceae (Cam) Atalantia sessiliflora Guill Tiểu quất không

cọng

Atases 18 1.94 0.19

15 Icacinaceae (Thụ Đào)

Gonocaryum lobbianum (Miers) Kurz

Huỳnh lam Gonlob 16 1.93 0.19

16 Lecythidaceae (Lộc vừng)

Barringtonia cf

racemosa (L.) Spreng

Chiếc Tim lan Barrac 15 1.88 0.19

Ngày đăng: 12/06/2018, 08:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w