Tài sản cố định trong các doanh nghiệp là những tư liệu lao động chủ yếucó giá trị lớn tham gia vào nhiều chu kì sản xuất, còn giá trị của nó thì đượcchuyển dịch dần từng phần vào giá tr
Trang 1Lời Mở Đầu
Để tiến hành sản xuất, kinh doanh, mỗi doanh nghiệp đều phải có tư liệu lao động, trong đó TSCĐ (tài sản cố định) là yếu tố cơ bản đầu tiên của tư liệu lao động TSCĐ là yếu tố quan trọng của quá trình sản xuất, là cơ sở vật chất kỹ thuật quyết định việc tăng năng suất lao động và nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng Do đó, TSCĐ luôn được đổi mới, bảo quản một cách có hiệu quả, góp phần vào sự phát triển của xí nghiệp.
Việc tổ chức quản lý luôn đi kèm sử dụng hợp lý TSCĐ, nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ trong doanh nghiệp Muốn vậy, TSCĐ luôn phải được theo dõi thường xuyên về tình hình biến động về lương và giá trị, cũng như tình hình sử dụng và giá trị hao mòn thực tế để có hướng trích khấu hao và bảo toàn vốn một cách có hiệu quả, đồng thời giúp cho nhà quản trị trả lời các câu hỏi Nên tiếp tục đầu tư, mua sắm TSCĐ không? Hay phải thanh lý nhượng bán những TSCĐ không còn khả năng phát huy hết hiệu quả? Hoặc phải thuê ngoài để hoạt động nâng cao hiệu quả kinh doanh hơn.
Chính vì vai trò của TSCĐ như vậy cộng với sự mong muốn đi sâu tìm hiểu về một yếu tố được xem là quan trọng này trong quá trình sản xuất Em đã chọn chuyên đề:
"Phân tích tình hình sử dụng vốn cố định tại Xí nghiệp Dược phẩm Trung ương 5 - Đà Nẵng".
Nội dung của đề tài gồm 3 chương:
Chương I: Lý luận chung về TSCĐ và quản lý TSCĐ trong doanh nghiệp Chương II: Phân tích tình hình quản lý và sử dụng TSCĐ tại Xí nghiệp Dược
Em xin chân thành cảm ơn.
Sinh viên thực hiện
Hồ Nguyệt Ánh
Trang 2Tài sản cố định trong các doanh nghiệp là những tư liệu lao động chủ yếu
có giá trị lớn tham gia vào nhiều chu kì sản xuất, còn giá trị của nó thì đượcchuyển dịch dần từng phần vào giá trị sản phẩm trong các chu kỳ sản xuất
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, các TSCĐ của doanh nghiệp cũngđược coi như một loại hàng hoá như mọi hàng hoá thông thường khác Nókhông chỉ có giá trị mà còn có giá trị sử dụng Thông qua mua bán, trao đổi cácTSCĐ có thể được chuyển dịch quyền sở hữu và quyền sử dụng từ chủ thể nàysang chủ thể khác trên thị trường
2 Đặc điểm:
Đặc điểm chung của các TSCĐ trong doanh nghiệp là tham gia vào nhiềuchu kỳ sản xuất sản phẩm với vai trò là các công cụ lao động Trong quá trình đóhình thái vật chất và đặc tính sử dụng ban đầu của TSCĐ là không thay đổi.Song quá trình của nó lại được chuyển dịch dần từ phần vào giá trị sản phẩm sảnxuất ra Bộ phận giá trị chuyển dịch này cấu thành một yếu tố chi phí sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp và được bù đắp mới khi sản phẩm được tiêu thụ
II PHÂN LOẠI TSCĐ
1 Phân loại TSCĐ theo hình thái biểu hiện:
1.1 Tài sản cố định hữu hình:
Là những tư liệu lao động chủ yếu được biểu hiện bằng các hình thái vậtchất cụ thể như nhà xưởng, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, các vật kiếntrúc Những TSCĐ này có thể là từng đơn vị tài sản có kết cấu độc lập hoặc làmột hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản liên kết với nhau để thực hiện một haymột số chức năng nhất định trong quá trình sản xuất kinh doanh
1.2 Tài sản cố định vô hình:
Là những TSCĐ không có hình thái vật chất cụ thể, thể hiện một lượnggiá trị đã được đầu tư có liên quan trực tiếp đến nhiều chu kỳ kinh doanh củadoanh nghiệp như chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí về đất sử dụng chi phímua ngoài bằng sáng chế, phát minh hay nhãn hiệu thương mại, giá trị lợi thếthương mại
2 Phân loại TSCĐ theo công dụng kinh tế:
2.1 Nhà cửa, vật kiến trúc:
Trang 3Là những TSCĐ của doanh nghiệp được hình thành sau quá tình thi côngxây dựng nhà xưởng, trụ sở làm việc, nhà kho, tháp nước, hàng rào, sân bay,đường xá, cầu cảng
2.2 Máy móc, thiết bị:
Là toàn bộ các loại máy móc thiết bị dùng trong hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp như máy móc thiết bị động lực, máy móc công tác, thiết
bị chuyên dùng, những máy móc đơn lẻ
2.3 Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn:
Là các loại phương tiện vận tải như phương tiện đường sắt, đường thuỷ,đường bộ, đường không, đường ống và các thiết bị truyền dẫn như hệ thốngđiện, hệ thống thông tin, đường ống dẫn nước, khí đốt, băng tải
2.4 Thiết bị, công cụ quản lý:
Là những thiết bị, dụng cụ dùng trong công tác quản lý hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp như máy vi tính, thiết bị điện tử, thiết bị, công cụ
đo lường, kiểm tra chất lượng, máy bút bụi, hút ẩm
2.5 Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm:
Là các vườn cây lâu năm như: vườn chè, vườn cà phê, vườn cây cao su,vườn câu ăn quả, thảm cỏ, thảm cây xanh, xúc vật làm việc hoặc cho sản phẩmnhư đàn voi, đàn bò, đàn ngựa
3.3 Các TSCĐ bảo quản hộ, giữ hộ, cất giữ hộ Nhà nước:
Đó là những TSCĐ doanh nghiệp bảo quản hộ, giữ hộ cho đơn vị kháchoặc cho Nhà nước theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
4 Phân loại TSCĐ theo tình hình sử dụng:
4.1 TSCĐ đang sử dụng:
Đó là những TSCĐ của doanh nghiệp đang sử dụng cho các hoạt động sảnxuất kinh doanh hoặc các hoạt động phúc lợi, sự nghiệp, hay an ninh, quốcphòng của doanh nghiệp
4.2 TSCĐ chưa cần dùng:
Trang 4Là những TSCĐ cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh hay các hoạtđộng khác của doanh nghiệp, song hiện tại chưa cần dùng, đang được dự trữ để
sử dụng sau này
4.3 TSCĐ không cần chờ thanh lý:
Là những TSCĐ không cần thiết hay không phù hợp với nhiệm vụ sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp, cần được thanh lý, nhượng bán để thu hồivốn đầu tư đã bỏ ra ban đầu
III KHẤU HAO TSCĐ CỦA DOANH NGHIỆP
1 Hao mòn và khấu hao TSCĐ:
Là sự giảm dần giá trị và giá trị sử dụng của TSCĐ
1.1 Hao mòn hữu hình của TSCĐ:
Là sự hao mòn về vật chất, về giá trị sử dụng và giá trị của TSCĐ trongquá trình sử dụng Về mặt vật chất đó là sự hao mòn có thể nhận thấy được từ sựthay đổi trạng thái vật lý ban đầu ở các bộ phận, chi tiết TSCĐ dưới sự tác độngcủa ma sát, tải trọng, nhiệt độ, hoá chất Về giá trị sử dụng đó là sự giảm sút vềchất lượng, tính năng kỹ thuật ban đầu trong quá trình sử dụng và cuối cùngkhông còn sử dụng được nữa Muốn khôi phục lại giá trị sử dụng của nó phảitiến hành sửa chữa, thay thế về mặt giá trị đó là sự giảm dần giá trị của TSCĐcùnh với quá trình chuyển dịch dần từng phần giá trị hao mòn vào giá trị sảnphẩm sản xuất Đối với các TSCĐ vô hình, hao mòn hữu hình chỉ thể hiện ở sựhao mòn về mặt giá trị
Nguyên nhân và mức độ hao mòn hữu hình trước hết phụ thuộc vào cácnhân tố trong quá trình sử dụng TSCĐ như thời gian và cường độ sử dụng, việcchấp hành các quy phạm kỹ thuật trong sử dụng và bảo dưỡng TSCĐ Tiếp đến
là các nhân tố về tự nhiên và môi trường sử dụng TSCĐ Ngoài ra mức độ haomòn hữu hình cũng còn phụ thuộc vào chất lượng chế tạo TSCĐ Ví dụ như chấtlượng nguyên vật liệu được sử dụng trình độ kỹ thuật, công nghệ chế tạo
Việc nhận thức rõ các nguyên nhân ảnh hưởng đến mức hao mòn hữuhình TSCĐ sẽ giúp các doanh nghiệp có biện pháp cần thiết, hữu hiệu để hạnchế nó
1.2 Hao mòn vô hình:
Là sự hao mòn thuần tuý về mặt giá trị của TSCĐ, biểu hiện sự giảm sút
về giá trị trao đổi của TSCĐ do ảnh hưởng của tiến bộ khoa học kỹ thuật Người
ta thường phân biệt các loại hao mòn vô hình sau đây:
1.2.1 Hao mòn vô hình loại 1:
TSCĐ bị giảm giá trị trao đổi do đã có những TSCĐ như cũ song giá mualại rẽ hơn Do đó trên thị trường các TSCĐ cũ bị mất đi một phần giá trị củamình
Tỷ lệ hao mòn vô hình loại 1 được xác định theo công thức:
V1 = x 100%
Trong đó: V1 : Tỷ lệ hao mòn vô hình loại 1
Trang 5Gđ : Giá mua ban đầu của TSCĐ
Gh : Giá mua hiện tại của TSCĐ
1.2.2 Hao mòn vô hình loại 2:
TSCĐ bị giảm giá trị trao đổi do có những TSCĐ mới truy mua với giá trịnhư cũ nhưng lại hoàn thiện hơn về mặt kỹ thuật Như vậy do có TSCĐ mới tốthơn mà TSCĐ cũ bị mất đi một phần giá trị của mình Đó chính là phần giá trịTSCĐ cũ không chuyển dịch được vào giá trị sản phẩm kể từ khi có TSCĐ mớixuất hiện Bởi vì khi TSCĐ mới xuất hiện và được sử dụng phổ biến thì điềukiện sản xuất sẽ do các TSCĐ mới quyết định Phần giá trị chuyển dịch đượctính vào giá trị sản phẩm sẽ được tính theo mức của TSCĐ mới Do đó nếudoanh nghiệp còn dùng TSCĐ cũ để sản xuất thì cứ 1 sản phẩm xuất ra, doanhnghiệp sẽ mất đi phần giá trị chênh lệch giữa mức giá trị chuyển dịch của TSCĐ
cũ và TSCĐ mới do không được xã hội chấp nhận tính vào giá trị sản phẩm
Tỷ lệ hao mòn vô hình loại 2 được xác định theo công thức:
V2 = x 100%
Trong đó: V2 : Tỷ lệ hao mòn vô hình loại 2
Gk : Giá mua của TSCĐ cũ không chuyển dịch được vào giá trị sản phẩm
Gđ : Giá mua ban đầu của TSCĐ
1.2.3 Hao mòn vô hình loại 3:
TSCĐ bị mất giá hoàn toàn do chấm dứt chu kỳ sống của sản phẩm, tấtyếu dần đến những TSCĐ sử dụng để chế tạo các sản phẩm đó cũng bị lạc hậu,mất đi tác dụng Hoặc trong các trường hợp các máy móc thiết bị, quy trình côngnghệ còn nằm trên các dự án thiết kế, các bản dự thảo phát minh song đã trởnên lạc hậu tại thời điểm đó Điều này cho thấy hao mòn vô hình không chỉ xảy
ra đối với các TSCĐ hữu hình mà còn với cả các TSCĐ vô hình
Nguyên nhân cơ bản của hao mòn vô hình là sự phát triển của tiến bộkhoa học kỹ thuật Do đó biện pháp có hiệu quả nhất để khắc phục hao mòn vôhình là doanh nghiệp phải coi trọng đổi mới kỹ thuật công nghệ sản xuất, ứngdụng kịp thời các thành tựu tiến bộ khoa học, kỹ thuật Điều này có ý nghĩa rấtquyết định trong việc tạo ra các lợi thế cho doanh nghiệp trong cạnh tranh trênthị trường
Trang 6và quá trình sản phẩm là phải không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng cácTSCĐ trong doanh nghiệp.
2 Các phương pháp khấu hao TSCĐ trong doanh nghiệp:
2.1 Phương pháp khấu hao bình quân (còn gọi là phương pháp khấu hao tuyến tính cố định):
Đây là phương pháp khấu hao đơn gản nhất, được sử dụng khá phổ biến
để tính khấu hao các loại TSCĐ Theo phương pháp này tỷ lệ khấu hao và mứckhấu hao hàng năm được xác định theo mức không đổi trong suốt thời gian sửdụng TSCĐ Mức khấu hao hàng năm và tỷ lệ khấu hao hàng năm được xác địnhtheo công thức sau:
MKH =
TKH = x 100% hay TKH = x 100%
Các ký hiệu như sau:
MKH : Mức tính khấu hao trung bình hàng năm
TKH : Tỷ lệ khấu hao trung bình hàng năm
T : Thời gian sử dụng của TSCĐ (năm)Nếu doanh nghiệp trích khấu hao hàng tháng thì lấy mức khấu hao hàngnăm chia cho 12 tháng
Có thể biểu diễn phương pháp khấu hao bình quân trên sơ đồ sau:
Nguyên giá TSCĐ là toàn bộ các chi phí thực tế của doanh nghiệp đã chỉ
ra để có được TSCĐ và đưa vào hoạt động Thông thường khoản chi phí này baogồm chi phí theo đơn giá mua thực tế, các chi phí vận dụng bốc dỡ, lắp đặt, chạythử, các khoản lãi vay đầu tư cho TSCĐ khi chưa bàn giao và đưa vào sử dụng,các khoản thuế và lệ phí trước bạ (nếu có)
Thời gian sử dụng TSCĐ là thời gian doanh nghiệp dự kiến sử dụngTSCĐ vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong điều kiện bình thường Nó đượcxác định căn cứ vào tuổi thọ kỹ thuật và tuổi thọ kinh tế của TSCĐ Tuổi thọ kỹthuật là khoảng thời gian có thể sử dụng TSCĐ được tính theo các thông số vềmặt kỹ thuật khi chế tạo chúng Còn tuổi thọ kinh tế được xác định căn cứ vàothời gian mà TSCĐ còn sử dụng có hiệu quả nhằm loại trừ những ảnh hưởng bấtlợi của hao mòn vô hình Thông thường tuổi thọ kinh tế luôn nhỏ hơn tuổi thọ kỹthuật của TSCĐ
T (năm)
MKH
MKH1
Trang 72.2 Phương pháp khấu hao giảm dần:
Để khắc phục những nhược điểm của phương pháp khấu hao bình quânngười ta thường sử dụng phương pháp khấu hao giảm dần Thực chất củaphương pháp này là đẩy mạnh mức khấu hao TSCĐ trong những năm đầu sửdụng và giảm dần mức khấu hao theo thời hạn sử dụng Có thể hình dungphương pháp này theo đồ thị
Phương pháp khấu hao giảm dần có 2 cách tính toán tỷ lệ khấu hao vàmức khấu hao hàng năm, đó là phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần hoặckhấu hao theo tổng số thứ tự năm sử dụng
2.2.1 Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần:
Mức khấu hao hàng năm theo thời hạn sử dụng như sau:
MKHi = Gcđi x TKH
Trong đó: MKHi : Mức khấu hao ở năm thứ i
Gcđi : Giá trị còn lại của TSCĐ ở đầu năm thứ i
TKH : Tỷ lệ khấu hao hàng năm (theo phương pháp số dư)Theo kinh nghiệm các nước, chu kỳ đổi mới TSCĐ thường từ 4 - 5 năm
Vì vậy người ta thường dùng các hệ số sau để điều chỉnh tỷ lệ khấu hao bìnhquân ban đầu của TSCĐ
- Hệ số 1,5 đối với TSCĐ với thời gian sử dụng dưới 4 năm
- Hệ số 2 đối với TSCĐ với thời gian sử dụng từ 4 - 5 năm
- Hệ số 2,5 đối với TSCĐ với thời gian sử dụng trên 5 năm
Công thức xác định tỷ lệ khấu hao hàng năm theo phương pháp này nhưsau:
TKH = TKH x Hđc
Trong đó: TKH : Tỷ lệ khấu hao hàng năm (theo phương pháp số dư)
TKH : Tỷ lệ khấu hao bình quân ban đầu
Hđc : Hệ số điều chỉnh
2.2.2 Phương pháp khấu hao theo tổng số thứ tự năm sử dụng:
Theo phương pháp này số tiền khấu hao hàng năm được tính bằng cáchnhân giá trị ban đầu của TSCĐ với tỷ lệ khấu hao giảm dần qua các năm Tỷ lệ
T (năm)
MKH
MKHi
Trang 8khấu hao này được xác định bằng cách lấy số năm sử dụng còn lại chia cho tổng
số thứ tự năm sử dụng Công thức tính toán như sau:
MKHi = NG x TKHi
TKH = Trong đó: MKHi : Mức khấu hao hàng năm
NG : Nguyên giá của TSCĐ
TKHi : Tỷ lệ khấu hao theo năm sử dụng
T : Thời gian dự kiến sử dụng TSCĐ
t : Thứ tự năm cần tính tỷ lệ khấu hao
2.3 Phương pháp khấu hao tổng số:
- Tỷ lệ khấu hao hàng năm (Tki):
Tki = x 100%
- Mức khấu hao hàng năm:
Mki = Tki x NG
2.4 Phương pháp khấu hao tổng hợp:
- Tỷ lệ khấu hao bình quân của toàn bộ TSCĐ:
TK = ơ(fi x Zi)
- Mức khấu hao của toàn bộ TSCĐ:
Mki = NG x Tk
3 Quản lý quỹ khấu hao:
Đối với các TSCĐ được mua sắm từ nguồn vốn chủ sở hữu, các doanhnghiệp được chủ động sử dụng toàn bộ số tiền khấu hao luỹ kế thu được để táiđầu tư thay thế đổi mới TSCĐ của mình Khi chưa có nhu cầu đầu tư tái tạo lạiTSCĐ, doanh nghiệp có thể sử dụng linh hoạt số tiền khấu hao thu được để phục
vụ các yêu cầu kinh doanh sao cho có hiệu quả nhất
Đối với các TSCĐ được mua sắm từ nguồn vốn đi vay, về nguyên tắcdoanh nghiệp phải sử dụng số tiền trích khấu hao thu được để trả vốn vay Tuynhiên, trong khi chưa đến kỳ hạn trả nợ, doanh nghiệp cũng có thể tạm thời sửdụng vào các mục đích kinh doanh khác để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồnvốn vay của doanh nghiệp
IV PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TSCĐ CỦA DOANH NGHIỆP
1 Phương pháp quản lý:
a Khai thác và tạo lập nguồn vốn cố định của doanh nghiệp:
Khai thác tạo lập nguồn vốn cố định đáp ứng nhu cầu đầu tư TSCĐ làkhâu đầu tiên trong quản trị vốn cố định của doanh nghiệp Để định hướng choviệc khai thác và tạo lập nguồn vốn cố định đáp ứng yêu cầu đầu tư các doanhnghiệp phải xác định được nhu cầu vốn đầu tư vào TSCĐ đã được thẩm định đểlựa chọn và khai thác các nguồn vốn đầu tư phù hợp
Trang 9Những định hướng cơ bản cho việc khai thác, tạo lập các nguồn vốn cố
định cho các doanh nghiệp là phải đảm bảo khả năng tự chủ của doanh nghiệptrong sản xuất kinh doanh, hạn chế và phân tán rủi ro, phát huy tối đa những ưuđiểm của các nguồn vốn được huy động Điều này đòi hỏi không chỉ ở sự năngđộng, nhạy bén của từng doanh nghiệp mà còn ở việc đổi mới các chính sách, cơchế tài chính của nhà nước ở tầm vĩ mô để tạo điều kiện cho doanh nghiệp cóthể khai thác, huy động được các nguồn vốn cần thiết
Để dự báo các nguồn vốn đầu tư vào TSCĐ các doanh nghiệp có thể dựavào các căn cứ sau đây:
- Quy mô và khả năng sử dụng quỹ đầu tư phát triển hoặc quỹ khấu hao
để đầu tư mua sắm TSCĐ hiện tại và các năm tiếp theo
- Khả năng ký kết các hợp đồng liên doanh với các doanh nghiệp khác đểhuy động nguồn vốn góp liên doanh
- Khả năng huy động vốn vay dài hạn từ các ngân hàng thương mại hoặcphát hành trái phiếu doanh nghiệp trên thị trường vốn
- Các dự án đầu TSCĐ tiền khả thi và khả thi đã được cấp có thẩm quyềnphê duyệt
b Bảo quản và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định:
Vốn cố định của doanh nghiệp có thể được sử dụng cho các hoạt động đầu
tư dài hạn và các hoạt động kinh doanh thường xuyên của doanh nghiệp
Để sử dụng vốn có hiệu quả vốn cố định trong các hoạt động đầu tư dàihạn, doanh nghiệp thực hiện đầy đủ các quy chế quản lý đầu tư và xây dựng từkhâu chuẩn bị đầu tư Điều này sẽ giúp cho doanh nghiệp tránh được các hoạtđộng đầu tư kém hiệu quả
Để sử dụng có hiệu quả vốn cố định trong hoạt động kinh doanh thườngxuyên, doanh nghiệp cần thực hiện các biện pháp để không chỉ bảo toàn mà pháttriển được vốn cố định của doanh nghiệp Sau mỗi chu kỳ kinh doanh Thực chất
là phải luôn đảm bảo duy trì được giá trị thực của vốn cố định để khi kết thúcmột vòng tuần hoàn bằng số vốn này doanh nghiệp có thể bù đắp hoặc mở rộngđược số vốn cố định mà doanh nghiệp đã bỏ ra ban đầu để đầu tư, mua sắm cácTSCĐ tính theo thời giá hiện tại
Do đặc điểm TSCĐ và vốn cố định là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuấtkinh doanh song vẫn giữ nguyên hình thái vật chất và đặc tính sử dụng ban đầucòn giá trị lại chuyển dịch dần vào giá trị sản phẩm Vì thế nội dung bảo tồn vốn
cố định luôn bao gồm hai mặt hiện vật và giá trị bảo toàn vốn cố định về mặt giátrị
Bảo toàn vốn cố định về mặt hiện vật không phải chỉ là giữ nguyên hìnhthái vật chất và đặc tính sử dụng ban đầu của TSCĐ mà quan trọng hơn là duytrì thường xuyên năng lực sản xuất ban đầu của nó Điều đó có nghĩa là trongquá trình sử dụng doanh nghiệp phải quản lý chặt chẽ không làm mất mátTSCĐ, thực hiện đúng quy chế sử dụng, bảo dưỡng sửa chữa TSCĐ nhằm duytrì và nâng cao năng lực hoạt động của TSCĐ, không để TSCĐ bị hư hỏng trước
Trang 10thời hạn quy định Mọi TSCĐ của doanh nghiệp phải có hồ sơ theo dõi quản lýriêng Cuối mỗi năm tài chính doanh nghiệp phải tiến hành kiểm kê TSCĐ; mọitrường hợp thừa, thiếu TSCĐ đều phải lập biên bản; tìm nguyên nhân và có biệnpháp xử lý.
Bảo tồn vốn cố định về mặt giá trị là phải duy trì được giá trị thực của vốn
cố định ở thời điểm hiện tại so với thời điểm bỏ vốn đầu tư ban đầu bất kể sựbiến động cuả giá cả, sự thay đổi của tỷ giá hối đoái, ảnh hưởng của tiến bộ khoahọc kỹ thuật Trong trường hợp doanh nghiệp không chỉ duy trì được sức muacủa vốn mà còn mở rộng được quy mô vốn đầu tư ban đầu thì doanh nghiệp đãphát triển được vốn cố định của mình
c Phân cấp quản lý vốn cố định:
Đối với các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế nhà nước, do có sựphân biệt giữa quyền sở hữu vốn và tài sản của nhà nước tại doanh nghiệp vàquyền quản lý kinh doanh, do đó cần phải có sự phân cấp quản lý để tạo điềukiện cho các doanh nghiệp chủ động hơn trong sản xuất kinh doanh
Đối với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác, do không có
sự phân biệt giữa quyền sở hữu tài sản và quyền quản lý kinh doanh của doanhnghiệp, vì thế các doanh nghiệp được hoàn toàn chủ động trong việc quản lý, sửdụng có hiệu quả vốn cố định của mình theo các quy chế luật pháp quy định
2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp:
Để tiến hành kiểm tài chính đối với hiệu quả sử dụng vốn cố định cần xácđịnh đúng đắn hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định vàTSCĐ của doanh nghiệp Thông thường bao gồm các chỉ tiêu tổng hợp và phântích sau đây:
Thuộc các chỉ tiêu tổng hợp có:
- Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn cố định: Chỉ tiêu này phản ánh đồng vốn
cố định có thể tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu hoặc doanh thu thuần trong kỳ.Hiệu suất sử dụng
vốn cố định =
Doanh thu (hoặc doanh thu thuần) trong kỳ
Số vốn cố định bình quân trong kỳ
Số vốn cố định bình quân trong kỳ được tính theo phương pháp bình quân
số học giữa số vốn cố định ở đầu kỳ và cuối kỳ
Số vốn cố định
bình quân trong kỳ =
Số vốn cố định đầu kỳ + Số vốn cố định cuối kỳ
2Trong đó số vốn cố định ở đầu kỳ (hoặc cuối kỳ) được tính theo côngthức:
-Số tiền khấu haoluỹ kế ở đầu kỳ(hoặc cuối kỳ)
Số tiền khấu hao = Số tiền khấu + Số tiền khấu hao - Số tiền khấu hao
Trang 11luỹ kế cuối kỳ hao ở đầu kỳ tăng trong kỳ giảm trong kỳ
- Chỉ tiêu hàm lượng vốn cố định: Là đại lượng nghịch đảo của chỉ tiêuhiệu suất sử dụng vốn cố định Nó phản ánh để tạo ra một đồng doanh thu hoặcdoanh thu thuần cần bao nhiêu đồng vốn cố định
Hàm lượng vốn
cố định =
Số vốn cố định bình quân trong kỳ Doanh thu (hoặc doanh thu thuần) trong kỳ
- Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận vốn cố định: Chỉ tiêu này phản ánh một đồngvốn cố định trong kỳ có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế (hoặc lợinhuận sau thuế thu nhập)
Tỷ suất lợi nhuận
vốn cố định =
Lợi nhuận trước thuế (hoặc sau thuế thu
Số vốn cố định bình quân trong kỳNgoài các chỉ tiêu tổng hợp trên đây người ta còn có thể sử dụng một sốchỉ tiêu phân tích sau đây:
- Hệ số hao mòn TSCĐ: Phản ánh mức độ hao mòn của TSCĐ trongdoanh nghiệp so với thời điểm đầu tư ban đầu Hệ số càng lớn chứng tỏ mức độhao mòn TSCĐ càng cao và ngược lại
Hệ số trang bị
TSCĐ =
Nguyên giá TSCĐ bình quân trong kỳ
Số lượng công nhân trực tiếp sản xuất
- Tỷ suất đầu tư TSCĐ: Phản ánh mức độ đầu tư vào TSCĐ trong tổng giátrị tài sản của doanh nghiệp Nói một cách khác là trong một đồng giá trị tài sảncủa doanh nghiệp có bao nhiêu đồng được đầu tư vào TSCĐ Tỷ suất càng lớnchứng tỏ doanh nghiệp đã chú trọng đầu tư vào TSCĐ
Tỷ suất đầu tư TSCĐ = Giá trị còn lại của TSCĐ x 100%
Tổng tài sản
- Kết cấu TSCĐ của doanh nghiệp: Phản ánh quan hệ tỷ lệ giữa giá trịtừng nhóm, loại TSCĐ trong tổng số giá trị TSCĐ của doanh nghiệp ở thời điểmđánh giá Chỉ tiêu này giúp cho doanh nghiệp đánh giá mức độ hợp lý trong cơcấu TSCĐ được trang bị ở doanh nghiệp
Trang 12Chương II
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG TSCĐ
CỦA DOANH NGHIỆP
I KHÁI QUÁT CHUNG XÍ NGHIỆP DƯỢC PHẨM TRUNG ƯƠNG 5 - ĐN
1 Sự hình thành và phát triển của Xí nghiệp Dược phẩm Trung ương 5 ĐN:
-Xí nghiệp có trụ sở đặt tại số 01 Lý Tự Trọng - quận Hải Châu - thành phố
Đà Nẵng
Tiền thân là Xí nghiệp Dược phẩm Quảng Nam - Đà Nẵng, được thànhlập trên cơ sở hợp nhất 3 xưởng: xưởng Dược Trung ương Bộ, xưởng DượcQuảng Nam, xưởng Dược Quảng Đà Và tháng 10/1980, Công ty Dược liệuQuảng Nam - Đà Nẵng nhập vào Xí nghiệp Tháng 1/1983, sáp nhập thêm Công
ty Dược Quảng Nam - Đà Nẵng và đổi tên thành Xí nghiệp liên hợp DượcQuảng Nam - Đà Nẵng
Qua quá trình hoạt động với mô hình Xí nghiệp liên hợp kém hiệu quả,tháng 10/1992 Sở Y tế Quảng Nam - Đà Nẵng tách Xí nghiệp liên hợp DượcQuảng Nam - Đà Nẵng thành Xí nghiệp Dược phẩm Đà Nẵng và Công ty DượcQuảng Nam - Đà Nẵng
Tháng 01/1997 được sự đồng ý của UBND thành phố Đà Nẵng, Bộ Y tế,Tổng Công ty Dược Việt Nam, Xí nghiệp Dược Đà Nẵng được gia nhập làmthành viên Tổng Công ty Dược Việt Nam và đổi tên thành Xí nghiệp Dược phẩmTrung ương 5 - Đà Nẵng
Xí nghiệp Dược phẩm Trung ương 5 - Đà Nẵng
Tên giao dịch: DANANG CENTRAL PH ARMACEVTICAL N05 FACTORY
Tên viết tắt : DANAPHA
Có đủ tư cách pháp nhân, hạch toán độc lập theo quy định và chịu sự quản
lý của UBND thành phố Đà Nẵng, ngành Y tế, các ngành có chức năng khác tạiđịa phương và Tổng Công ty Dược Việt Nam
Trước đây, trong thời kỳ bao cấp, hoạt động của Xí nghiệp chịu ảnhhưởng của cơ chế bao cấp nên hoàn toàn thụ động Việc sản xuất và tiêu thụ theo
kế hoạch của Nhà nước đã hạn chế năng lực hoạt động của Xí nghiệp Hiện nay,trong cơ chế thị trường, bằng các biện pháp cụ thể Xí nghiệp đã tổ chức lại bộmáy quản lý, sắp xếp lại lao động, quy định cụ thể chức năng, trách nhiệm củamỗi cá nhân trong Xí nghiệp Bên cạnh đó Xí nghiệp luôn chú trọng đầu tư trangthiết bị, công nghệ, nghiên cứu sản phẩm mới Do đó trong những năm qua, thunhập bình quân của người lao động tăng lên đáng kể góp phần cải thiện đời sốngcán bộ công nhân viên
Trang 132 Chức năng, nhiệm vụ và đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của
Xí nghiệp:
a Chức năng, nhiệm vụ của Xí nghiệp:
Là doanh nghiệp Nhà nước, trực thuộc Tổng Công ty Dược Việt Nam, Xínghiệp Dược phẩm Trung ương 5 - Đà Nẵng có chức năng sản xuất, cung ứngthuốc chữa bệnh và các sản phẩm khác có liên quan
Trong định hướng phát triển những năm tới, Xí nghiệp cần phải tiếp tục
ổn định và phát triển kinh doanh, phát triển thị phần trong nước, từng bước pháttriển thị phần nước ngoài Mặc khác, có biện pháp thiết thực triển khai đầu tưhơn nữa cho các hoạt động khoa học công nghệ với các nội dung như: nghiêncứu các mặt hàng mới, tiếp thu chuyển nhượng công nghệ mới, sắp xếp lại bộmáy quản lý và sắp xếp lại cơ cấu lao động hợp lý, từ đó tiết kiệm chi phí, hạgiá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm
b Đặc điểm hoạt động, sản xuất kinh doanh:
Dược phẩm là sản phẩm đặc biệt liên quan đến sức khoẻ tính mạng củangười tiêu dùng, nó lại là hàng hoá thiết yếu nhưng lại không thể tuỳ tiện sửdụng được Người tiêu dùng khi sử dụng phải thông qua sự chỉ định của thầythuốc hoặc hướng dẫn phổ biến trên nhãn thuốc Vì là loại sản phẩm đặc biệtnên đòi hỏi phải có sự quản lý chặt chẽ đến từng khâu của quá trình sản xuất,phải tuân theo những nguyên tắc, quy định rất nghiêm ngặt như: trước khi đưavào sản xuất nguyên vật liệu phải được kiểm tra theo tiêu chuẩn dược điển và vôtrùng rồi mới tiến hành chế thử, thử nghiệm,
Các sản phẩm do Xí nghiệp làm ra được cấu thành từ nhiều loại nguyênvật liệu, do vậy số lượng chủng loại nguyên vật liệu rất nhiều Hiện nay, nguồnnguyên vật liệu dùng cho sản xuất ở Xí nghiệp đều được thu mua trong nước,đối với nguyên vật liệu ngoại nhập thì mua lại từ các đơn vị bạn trong nước chứchưa có hợp đồng mua nguyên vật liệu trực tiếp với nước ngoài Quá trình sảnxuất của Xí nghiệp còn nhiều khâu phải thực hiện thủ công như cân, đong vậtliệu, khâu đóng gói, Thị trường tiêu thụ sản phẩm của Xí nghiệp hiện nay chủyếu là thị trường nội địa và một phần xuất khẩu
Trang 14c Tổ chức sản xuất kinh doanh:
Xí nghiệp bố trí cơ cấu sản xuất thành 5 phân xưởng sản xuất Mỗi phânxưởng đảm nhận một công việc khác nhau và được chia làm nhiều tổ, tuy nhiêncần có sự di chuyển lao động giữa các tổ khi cần thiết
- Phân xưởng sản xuất thuốc viên (PX 1): Phân xưởng này được chia làm
5 tổ gồm: Pha chế, dập viên, đóng nang, bao viên và đóng gói; chuyên sản xuấtcác loại thuốc viên như paracetanol, ampicilin, Phân xưởng này có quy môsản xuất lớn (khoảng 60% trong tổng số các mặt hàng của Xí nghiệp), chu kỳsản xuất ngắn
- Phân xưởng thuốc tiêm và thuốc nước (PX 2): Chuyên sản xuất các loạithuốc tiêm như: Vitamin B1, Vitamin B12, morphin, , các loại thuốc nước:thuốc nhỏ mắt, oxy già, thuốc đỏ, cồn sát trùng, Phân xưởng còn nhiều khâutiến hành thủ công như xúc ống, đóng gói,
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ
- Phân xưởng cao sao vàng (PX 3): Chuyên sản xuất các loại cao xoa dầu,việc sản xuất của phân xưởng còn mang tính thủ công và cần rất nhiều lao động
- Phân xưởng đông dược (PX 4): Chuyên sản xuất các mặt hàng đôngdược như: cao hổ cốt, các loại rượu thuốc, chè thanh nhiệt,
- Phân xưởng phụ trợ (PX 5): Là phân xưởng hỗ trợ cho các phân xưởngcòn lại, làm các công việc như dán các loại hộp, bao bì để chứa đựng sản phẩm
Ngoài 5 phân xưởng sản xuất trên thì ở Xí nghiệp còn có bộ phận cơ điệnphục vụ cho các phân xưởng chính (sản xuất, bảo dưỡng máy móc thiết bị) vàphục vụ điện nước cho toàn bộ Xí nghiệp Ở mỗi phân xưởng có một quy trìnhcông nghệ sản xuất riêng và chuyên sản xuất một số loại sản phẩm nhất định
Bên cạnh đó, để tiêu thụ sản phẩm, Xí nghiệp tổ chức thành 3 đơn vị trựctiếp kinh doanh đóng ở 3 địa bàn trọng yếu trên toàn quốc, đó là:
- Chi nhánh Dược Hà Nội phụ trách tiêu thụ ở phía Bắc
- Chi nhánh Dược thành phố Hồ Chí Minh phụ trách tiêu thụ ở phía Nam
PX 4
PX 5
Chi nhán
h Hà Nội
TT cung ứng Miền Trung
Chi nhánh
Hồ Chí Minh