Con tim và lý trí của thi sĩ Xuân Diệu: giai đoạn 1954 1958 Nguồn: Journal of Vietnamese Studies, vol. 5, no.2, Summer 2010. Tác giả: Alec Holcombe Đông Hiến dịch Trong giai đoạn 1954 1958, Đảng Lao động Việt Nam, sau nhiều đợt giằng co tiến thoái, đã áp đặt được sự kiểm soát trên tất cả các lĩnh vực của hoạt động thông tin văn hóa và học thức của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đối với nhiều nhà trí thức cách mạng, tình trạng mất tự chủ về chuyên môn là một điều thất vọng đến bất ngờ. Họ từng nghĩ rằng những cống hiến trong kháng chiến chống Pháp (Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất 19461954) và kết quả thắng lợi của cuộc kháng chiến là đủ chứng minh cho sự trung thành của mình với cách mạng. Họ cảm thấy như vậy là đương nhiên sẽ có thêm không gian riêng trong lĩnh vực chuyên môn, vốn nằm trong tầm kiểm soát chặt chẽ của đảng suốt tám năm kháng chiến( ). Nhưng giới lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam lại nghĩ khác. Giai đoạn bốn năm sau khi chiến tranh kết thúc là thời gian giải quyết những khác biệt về quan điểm nói trên, đồng thời đặt ra những quy định thiết yếu cho đời sống trí thức của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đa phần vẫn còn được bảo lưu cho đến tận hôm nay. Chính ở giai đoạn ngắn ngủi này, tầng lớp trí thức của chế độ đã chứng kiến những đổi thay bất ngờ, những lật lọng khó đoán, và không ít người trong số họ đã tự mình trải nghiệm những xử lý khiến số phận họ hoàn toàn thay đổi. Câu chuyện về những người trong hàng ngũ trí thức đã phản kháng quyết liệt nhất trước sự áp đặt và kiểm soát của giới lãnh đạo đảng gồm những nhà văn, nhà thơ, họa sĩ và học giả gắn liền với phong trào Nhân văn Giai phẩm là một trong những lĩnh vực được để ý nhiều nhất trong lịch sử Việt Nam Dân chủ Cộng hòa( ). Phong trào được đặt tên theo hai ấn phẩm do các nhà trí thức cách mạng bất mãn xuất bản vào năm 1956 báo Nhân văn và các tuyển tập mang tên Giai phẩm, đã thu hút được sự chú ý của giới học giả trong nhiều thập kỷ chủ yếu vì nó được đánh giá là một trong những khoảng mở hiếm hoi để tìm hiểu về mức độ đắc nhân tâm của chủ nghĩa cộng sản ở miền Bắc Việt Nam. Nhiều nhà nghiên cứu thấy bất ngờ về mức độ đa dạng và thẳng thắn của những ý kiến và yêu cầu của năm mươi bảy nhà trí thức từng tham gia trực tiếp vào Nhân văn Giai phẩm đã bày tỏ với chế độ MácxítLêninnít và đã thu hút được sự đồng tình của số đông quần chúng( ). Gộp chung những đề tài nghiên cứu hiện có về phong trào này, ta sẽ có được một bộ chân dung rất phong phú về những nhân vật trụ cột. Điều này được thực hiện một phần là nhờ những học giả phương Tây đã phỏng vấn được những thành viên của Nhân văn Giai phẩm đang còn sống, sau khi các nhà lãnh đạo cộng sản Việt Nam thi hành chính sách Đổi mới vào năm 1986( ). Một yếu tố khác nữa là, cùng với thời gian, các học giả nghiên cứu về phong trào đã cân bằng trở lại, thoát khỏi ảnh hưởng của chính trị cực đoan thời Chiến tranh Lạnh, cũng như tư tưởng lạc quan tếu thời Đổi mới gần đây. Tuy vậy, chân dung những trí thức nòng cốt, những người đã trợ giúp lãnh đạo đảng đàn áp, thanh lọc và trừng phạt những thành phần tham gia Nhân văn Giai phẩm vẫn gần như giữ nguyên hình dạng đơn sắc, đơn tuyến và thậm xưng theo kiểu biếm họa so với những nghiên cứu của thời kỳ trước. Trong thực tế, nhiều nhà trí thức nòng cốt này tiếp tục có một sự nghiệp gây ảnh hưởng lớn trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thậm chí sau khi nhà nước này được hóa thân thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam( ). Thực ra, dấu ấn của những người này trên đời sống trí thức của Việt Nam còn sâu đậm hơn rất nhiều so với những nhân vật cải cách kém may mắn của phong trào Nhân văn Giai phẩm. Bài luận này là một cố gắng giải quyết sự thiếu hụt thông tin nói trên, và chuyển hướng tiêu điểm của sự chú ý từ những ngôi sao của phong trào Nhân văn Giai phẩm sang một trong những người bảo vệ quan điểm chính thống của đảng, đó là nhà thơ nổi tiếng, người đã cải hóa thành nhà thơ cách mạng theo chủ nghĩa MácLê nin từ một quá khứ từng là thi sĩ lãng mạn vĩ đại, Xuân Diệu (19161985). Bản chất mối quan hệ của nhà thơ với Đảng Lao động Việt Nam là gì, và vì sao ông lại quyết định đả kích trực diện những nhà trí thức đã lên tiếng yêu cầu lãnh đạo đảng thực thi cải cách vào cuối năm 1956? Vào những năm cuối thập niên 1950 và đầu 1960, học giả Sài Gòn Hoàng Văn Chí, một người gốc Bắc di cư và cựu thành viên của Việt Minh, lập luận rằng Xuân Diệu chỉ đơn thuần là một công chức làm việc cho Đảng Lao động Việt Nam như ông đã từng làm (nhân viên hải quan) cho Pháp thời thuộc địa( ). Chịu ảnh hưởng của tác phẩm Giai cấp mới: Phân tích về Thế giới Cộng sản của Milovan Djilas xuất bản năm 1957, Hoàng Văn Chí cho rằng những trí thức nòng cốt như Xuân Diệu không phải là những tín đồ thật sự của chủ nghĩa MácLê mà chỉ là những kẻ cơ hội chủ nghĩa có tham vọng chính trị, đàn áp Nhân văn Giai phẩm để bảo vệ quyền lợi giai cấp của mình. Theo cách diễn giải này, Nhân văn Giai phẩm là một phong trào yêu nước gồm những nhà trí thức đủ mọi tầng lớp đấu tranh chống lại sự “áp bức trí thức” mà giới tinh hoa văn hóa được chế độ sủng ái đang áp đặt lên họ. Hoàng Văn Chí nhìn nhận giới tinh hoa văn hóa này như một “giai cấp mới”, chung một bản chất ích kỷ và là những tay sai tận tụy của lãnh đạo đảng( ). Năm 1990, một học giả người Pháp, cựu đảng viên cộng sản tên là Georges Boudarel, người đã từng tham gia Việt Minh trong cuộc Chiến tranh Đông dương lần thứ nhất và sống tại Hà Nội từ năm 1954 đến tận năm 1964, xuất bản cuốn sách mở đầu cho dòng nghiên cứu về các trí thức đối kháng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhan đề Trăm Hoa Vẫn Nở Giữa Đêm Việt Nam: Chủ nghĩa Cộng sản và Bất đồng Chính kiến, 19541964 (Cent fleurs ecloses dán la nuit du Vietnam: communism et dissidence 19541964). Nếu như lập luận của Hoàng Văn Chí gần giống với của Djilas trong Giai cấp mới, thì tác phẩm của Boudarel có thể được coi như phiên bản Việt Nam của tác phẩm Cuộc Cách mạng bị phản bội của Leon Trotsky( ). Học giả người Pháp này cho rằng các trí thức của phong trào Nhân văn Giai phẩm chia sẻ sự tương đồng quan điểm ở chỗ cùng ghét cay ghét đắng một quan chức Văn nghệ kiểu Stalin: Tố Hữu, cùng phản đối chủ nghĩa Maoít, và cùng mong muốn chế độ mà họ đang phục vụ thực hiện những cam kết chính trị mang tính nhân văn (nhất là tự do ngôn luận)( ). Tuy nhiên, những vấn đề cốt lõi này, cũng như những điểm tương đồng khác như sự bất bình vì chứng kiến sự suy đồi văn hóa chính trị đang diễn ra xung quanh, và lòng căm ghét thường trực đối với chế độ Sài Gòn được Mỹ bảo trợ đã không đưa họ đến một sự thống nhất về một chương trình chính trị chung( ). Về động cơ của Xuân Diệu khi tham gia đàn áp Nhân văn Giai phẩm, Boudarel chỉ nêu ra một lý do là nhà thơ “thân cận với giới lãnh đạo đảng”( ). Ba năm sau, vào năm 1993, nhà lịch sử văn hóa Neil Jameison cũng đưa ra quan điểm riêng về vấn đề này, và lập luận trong cuốn sách Tìm hiểu Việt Nam rằng Xuân Diệu cũng như những trí thức cực tả khác của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có động cơ là niềm tin trung kiên vào chủ nghĩa MácLê: “Có lẽ Xuân Diệu là người nhiệt tình nhất trong số các nhà văn, nhà thơ tham gia Kháng chiến. Ông không còn bấu víu lấy cuộc đời bằng những móng tay và đối mặt với biên giới băng giá của chủ nghĩa hư vô nữa. Dưới ảnh hưởng của người bạn thân Huy Cận, Xuân Diệu đã trở thành một cảm tình viên nhiệt thành và được kết nạp Đảng vào năm 1947( ). Sự nổi tiếng và tài thơ của ông là một đóng góp giá trị đối với Việt Minh. Để bù lại cho thành phần gia đình tư sản và quá khứ là thi sĩ lãng mạn nhất, Âu hóa nhất và riêng tư nhất trong văn giới Việt Nam, Xuân Diệu trở thành người cực đoan nhất trong giới văn nghệ cộng sản mới. Ông là người ca ngợi “Bác Hồ” và “Đảng” nhiệt tình hơn ai hết: Mỗi lần tranh đấu gay go Chúng con lại được Bác Hồ tới thăm Nghe lời Bác dạy khuyên răn Chúng con ước muốn theo chân của người… Chúng con thề nguyện một lời Quyết tâm thành khẩn lột người từ đây. Qua cụm từ “lột người từ đây”, Xuân Diệu muốn thể hiện chính xác, không thừa, không thiếu, sự tái sinh dưới một diện mạo mới. Đây là sự thể hiện nguyện ước được “tái sinh” dưới chủ nghĩa cộng sản… Đây là lời thỉnh cầu được thay đổi bản ngã tương tự như việc cải đạo, một trải nghiệm tôn giáo, một sự lột xác hoàn toàn. Cả Lưu Trọng Lư và Xuân Diệu đã tìm được ý nghĩa mới và mục đích mới của cuộc đời, cùng thay đổi cá tính cũ của mình( ). Trong phần sau của cuốn sách, Jamieson lập luận rằng đối với Xuân Diệu cũng như các nhà thơ cách mạng khác, “kỷ luật của đảng cộng với tư cách thành viên trong một nhóm xã hội khép kín, có tính tổ chức cao đã khiến họ trút bỏ được gánh nặng của chủ nghĩa cá nhân và cho họ một diện mạo mới đắc ý hơn.”( ) Chính vì lý do đó, Jamieson cho rằng quyết định của Xuân Diệu tham gia ném đá Nhân văn Giai phẩm xuất phát từ lòng tin cuồng nhiệt vào lý tưởng chung theo thuyết giáo của Đảng Lao động Việt Nam. Trong số các nghiên cứu về Xuân Diệu, ý kiến của Jamieson gần nhất với quan điểm chính thống, hiện vẫn được phổ biến ở trong nước khi đánh giá về nhà thơ. Nghiên cứu mới nhất về Nhân văn Giai phẩm của Kim Ninh (2002) và Heinz Schutte (2003) cũng có vẻ đồng điệu với quan điểm của Jamieson, coi Xuân Diệu như một tín đồ thực thụ của chủ nghĩa MácLê trong khi các thành viên của Nhân văn Giai phẩm có tính cách phức tạp, xuất phát từ sự đa dạng về cá tính, nghề nghiệp và lập trường chính trị. Schutte, trong bài nghiên cứu quan trọng về Nhân văn Giai phẩm dưới lăng kính của Đại Sứ quán Đông Đức tại Hà Nội, đã viết như sau: “Những đại diện của (phong trào) Thơ mới của những năm đầu thập kỷ 40 như Huy Cận (sinh năm 1920) và Xuân Diệu (19161985) bị mất cảm hứng lãng mạn, phải chịu đựng sự đau khổ khi phải rời bỏ chủ nghĩa cá nhân, đã được Đảng, Việt Minh và cách mạng tái sinh, nên đã hòa nhập hoàn toàn vào tập thể cách mạng. Nhưng không phải trí thức Việt Nam nào cũng vậy. Những thành viên phong trào Nhân văn Giai phẩm như (n)hà thơ Hoàng Cầm (sinh 1922), Trần Dần (19241927), và Lê Đạt (sinh 1929) và các học giả như Phan Khôi (18871960), Đào Duy Anh (19041988) và Trần Đức Thảo (19171993) chưa từng biến mình thành “những cái máy chỉ biết phục tùng” của đảng, được nhồi sọ, và tiếp thu một chiều, không phản biện với những khẩu hiệu thích hợp.”( ) Như vậy, theo Schutte, Xuân Diệu đã “hòa nhập hoàn toàn” vào phong trào cách mạng, để trở thành (chúng ta có thể suy luận) một “cái máy chỉ biết phục tùng của đảng”, không phản biện suy tư về tư tưởng MácLê của Đảng Lao động Việt Nam. Chúng tôi cố gắng nêu ra qua bài luận này rằng Xuân Diệu, khi được nghiên cứu với phương pháp từng chỉ được dành riêng cho các thành viên của Nhân văn Giai phẩm, sẽ không còn là hình ảnh một chiều, đơn tuyến như giới học giả thường mô tả ông. Thực chất, ông cũng có nhiều điểm giống với các thành viên của phong trào Nhân văn Giai phẩm mà ông từng giúp đảng đàn áp. Trước hết, cũng như các tác giả nổi tiếng nhất của Nhân văn Giai phẩm như Trần Dần, Lê Đạt và Hoàng Cầm, ông cũng gặp rắc rối với giới lãnh đạo đảng về các vấn đề liên quan đến đời sống tình cảm của mình( ). Tuy nhiên, trong trường hợp của Xuân Diệu, vấn đề không phải là thành phần giai cấp của người bạn tình mình chọn, mà ở chỗ ông có nhiều bạn tình, tất cả đều là đàn ông. Điểm thứ hai, và cũng là một trong những điều trớ trêu đáng ghi nhớ nhất của giai đoạn này, Xuân Diệu chính là người, với vai trò thư ký toàn soạn của ấn phẩm văn hóa quan trọng nhất của đảng, báo Văn nghệ, đã xuất bản những bài viết đầu tiên của Hoàng Cầm và Lê Đạt trong nỗ lực xoay chuyển nền văn chương của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa( ). Vào tháng Năm năm 1955, những nhà văn trẻ có can đảm phê bình ngay cả nhân vật quyền lực nhất trong văn giới, Tố Hữu, có thể đã coi Xuân Diệu như một đồng minh. Điểm thứ ba là, đối với phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa luôn gây tranh cãi, Xuân Diệu công khai ca ngợi dòng văn học này và lớn tiếng chê bai những tác phẩm lãng mạn cũ của mình, những sáng tác đã làm cho ông trở nên nổi tiếng. Nhưng chỉ cần nghiên cứu sơ qua về những sáng tác cách mạng của Xuân Diệu, ta cũng có thể nhận thấy những động thái cố gắng khai thác lại những đề tài và tiểu tiết từ các tác phẩm lãng mạn của ông. Trên thực tế, ta có thể thấy Xuân Diệu lưỡng lự không kém gì những thành viên của Nhân văn Giai phẩm khi cân nhắc giá trị nghệ thuật của các tác phẩm trước và sau cách mạng. Để đánh giá lại quan điểm chung đã được đa số tán thành, coi Xuân Diệu như một kẻ cuồng tín về tư tưởng cách mạng, có thể xem những lời bàn khá căng thẳng về sự nghiệp cách mạng của Xuân Diệu xuất hiện trong các tờ báo nhà nước và tư nhân hồi năm 1956, qua đó ta thấy nhiều đồng nghiệp đương thời đánh giá những lập ngôn lạc quan của nhà thơ, tuyên ngôn rằng mình đã chuyển hóa hoàn toàn từ chủ nghĩa lãng mạn cá nhân sang chủ nghĩa tập thể MácLê, là thiếu thuyết phục. Một nhà trí thức phê bình Xuân Diệu có “bệnh khoái cảm” khoái cảm bệnh hoạn khi tả về bạo lực chiến tranh trong thơ cách mạng, ngầm ám chỉ rằng cảm hứng sáng tác của Xuân Diệu không phải bắt nguồn từ lý tưởng cách mạng của chế độ( ). Ba nhà trí thức khác viết bài bật mí những thông tin tai tiếng về âm mưu lũng đoạn tổ chức đảng từ hậu trường để mưu lợi riêng của nhà thơ, có ý chê Xuân Diệu là một cán bộ thoái hóa, vẫn giữ nguyên thói ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa như mọi người vẫn đánh giá trước khi nhà thơ tham gia cách mạng( ). Vì sao sự nghiệp cách mạng của Xuân Diệu lại gây nhiều tranh cãi đến vậy trong giới trí thức Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và rốt cuộc, thái độ thực của nhà thơ đối với hệ tư tưởng của chế độ là như thế nào? Giai đoạn tiền cách mạng của Xuân Diệu Một yếu tố quan trọng quyết định vị thế tương quan giữa cá nhân Xuân Diệu và Đảng Lao động Việt Nam là sự nghiệp sáng tác trước cách mạng của nhà thơ. Sinh năm 1916, ông sống với mẹ đẻ (là vợ hai của cha ông) suốt những năm tháng thơ ấu ngay tại làng quê của bà gần kề thành phố cảng Quy Nhơn. Năm ông mười một tuổi, cha ông (lúc đó đang dạy học) và mẹ kế quyết định đã đến lúc cậu bé Xuân Diệu phải xa người mẹ đẻ, đến sống chung với họ tại thành phố Quy Nhơn để bắt đầu theo học ở một trường tiểu học gần nhà. Sau đó, ông học tiếp lên các cấp cao hơn và giành được văn bằng của hai trường thuộc địa danh tiếng nhất, là trường Lyceé du Protectorat (thường gọi là trường Bưởi) và trường Quốc học Huế( ). Năm ông 19 tuổi, tức là vào năm 1936, Xuân Diệu bắt đầu có thơ đăng trên các tờ báo có liên quan mật thiết với nhóm Tự lực Văn đoàn và Phong trào Thơ mới cả hai đều chịu nhiều ảnh hưởng của chủ nghĩa lãng mạn Pháp và chủ nghĩa cá nhân Tây Âu. Sự nghiệp của ông lên nhanh, và chẳng mấy chốc Xuân Diệu trở thành một trong những tác giả quan trọng (nếu không muốn nói là quan trọng nhất) của Phong trào Thơ mới. Tiếng tăm của Xuân Diệu cũng nổi nhanh như sức lan tỏa của Thơ mới trong công chúng. Năm 1942, nhà phê bình văn học giai đoạn tiền chiến nổi tiếng Hoài Thanh đã tả về nhà thơ trẻ Xuân Diệu trong tác phẩm có nhiều ảnh hưởng của mình về các nhà thơ hiện đại Việt Nam, Thi nhân Việt Nam: 19321941 như sau: “Bây giờ khó mà nói dược cái ngạc nhiên của làng thơ Việt Nam hồi Xuân Diệu đến. Người đã tới giữa chúng ta một y phục tối tân và chúng ta đã rụt rè không muốn làm thân với con người có hình thức phương xa ấy. Nhưng rồi ta cũng quen dần, vì ta thấy người cùng ta tình đồng hương vẫn nặng. Ngày một ngày hai cơ hồ ta không còn để ý đến những lối dùng chữ đặt câu quá Tây của Xuân Diệu, ta quên cả những ý tứ người đã mượn trong thơ Pháp. Cái dáng dấp yêu kiều, cái cốt cách phong nhã của điệu thơ, một cái gì rất Việt Nam, đã quyến rũ ta.”( ) Hai tập thơ đầu tay của Xuân Diệu, Thơ thơ (1938) và Gửi hương cho gió (1945) được người đương thời cho là kiệt tác. Các nhà phê bình nhận thấy trong thơ ông có cảm nhận sâu sắc về tính phù du của thời gian và sự mong manh của cuộc sống, và cả hai điều này đều làm gia tăng lòng khát khao tuổi trẻ, mùa xuân và tình yêu toát ra từ những câu thơ của Xuân Diệu( ). Danh tiếng của Xuân Diệu khiến ông trở thành một đối tượng vô giá đối với các lãnh đạo cộng sản, những người sau này sẽ thường xuyên yêu cầu ông trấn an dư luận về chính sách văn hóa. Ở Việt Nam, các nhà phê bình văn chương đã phong Xuân Diệu là ông hoàng thơ tình, và trong những năm gần đây, họ còn bắt đầu công khai thừa nhận rằng các bài thơ tình của ông được lấy cảm hứng chủ yếu từ các mối tình đồng tính của nhà thơ( ). Ngoại trừ bài báo của Nguyễn Quốc Vinh về biến thái trong văn chương Việt Nam thời thuộc địa, cho tới nay các học giả phương Tây thường tránh đề cập trực tiếp về xu hướng luyến ái đồng tính của Xuân Diệu( ). Hiển nhiên là họ không muốn khai thác khía cạnh đời tư này của nhà thơ, nhưng mặt khác lại muốn thể hiện là mình có biết về điều đó, nhất là với các độc giả có kiến thức, nên các nhà nghiên cứu thường chọn cách giải quyết vấn đề như Kim Ninh đã áp dụng trong cuốn sách xuất bản năm 2002 về Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của mình, Một thế giới đã hoán cải. Bà viết, “Xuân Diệu, một ngôi sao sáng trong Phong trào Thơ mới, có thể dẫn Verlain và Rimbeau một cách thoải mái, cảm thấy gần gũi với những nhà thơ Pháp hiện đại này không kém gì các nhà thơ trẻ cùng thời ở Paris”( ). Những người quen thuộc với văn thơ lãng mạn Việt Nam có thể nhận ra ngay lập tức rằng tác giả đang muốn liên hệ đến một bài thơ của Xuân Diệu trong đó đồng tính luyến ái được thể hiện trực tiếp nhất, bài “Tình trai”, ca ngợi mối tình cháy bỏng giữa hai nhà thơ thuộc trường phái Biểu tượng của Pháp, Paul Verlain và Arthur Rimbaud: Tôi nhớ Rimbaud với Verlaine, Hai chàng thi sĩ choáng hơi men, Say thơ xa lạ, mê tình bạn, Khinh rẽ khuôn mòn, bỏ lối quen. Những bước song song xéo dặm trường Đôi hồn tươi đậm ngát hoa hương, Họ đi, tay yếu trong tay mạnh, Nghe hát ân tình giữa gió sương. Kể chi chuyện trước với ngày sau; Quên ngó môi son với áo màu; Thây kệ thiên đường và địa ngục Không hề mặc cả, họ yêu nhau. Khi các lãnh đạo đảng kết nạp Xuân Diệu vào tổ chức công khai Việt Minh, họ đã tiếp nhận một thanh niên đầy tài năng và sức thu hút, đồng thời có lẽ cũng là nhân vật nổi tiếng có biểu hiện đồng tính lộ nhất ở Việt Nam tính đến thời điểm đó. Dù so ra vẫn là quá kín đáo theo tiêu chuẩn hiện tại, những bài thơ tiền chiến của Xuân Diệu có hàm chứa đề tài đồng tính, và rõ ràng là xu hướng đồng tính luyến ái của Xuân Diệu không những là một nguồn cảm hứng quan trọng đối với thơ ông, mà còn là một phần bản ngã của nhà thơ. Nhưng đương nhiên Đảng Lao động Việt Nam không hề khuyến khích tự do luyến ái, đừng nói tới chuyện luyến ái đồng tính. Để hai bên có thể hợp tác với nhau được, cần phải có một số điều nhân nhượng. Giai đoạn mới tham gia cách mạng Thời điểm đầu tiên Xuân Diệu va chạm với chủ nghĩa cộng sản có thể tính vào tháng Sáu năm 1942, khi tổng thư ký Đảng Cộng sản Đông Dương, Trường Chinh sáng tác bài thơ “Là thi sĩ” đề tặng tất cả các nhà thơ Việt Nam, có những dòng như sau: Nếu “thi sĩ là ru với gió, Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây” … Nếu thi sĩ nghĩa là đem gấm vóc Phủ lên trên xã hội đã điêu tàn, Véo von ca cho át tiếng kêu than Của nhân loại cần lao đang giãy giụa Thì bạn hỡi, một nhà thơ như rứa Là tai ương chướng họa của nhân quần,( ) Được sáng tác trong lòng thành phố Hà Nội đang bị Nhật tạm chiếm, bài thơ của Trường Chinh kêu gọi các Văn nghệ sĩ, bất kể theo hệ tư tưởng hay trường phái nào, hãy trút bỏ những mối quan tâm cá nhân và tiếp nhận sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Đúng ra, Trường Chinh đã dẫn hai câu đầu tiên từ bài thơ “Cảm xúc” của Xuân Diệu viết năm 1938 để làm lời mở đầu cho bài “Là thi sĩ” của mình, dường như chính nhà thơ lãng mạn nổi tiếng đã tạo cảm hứng chủ đạo cho sáng tác của ông tổng bí thư( ). Hai năm sau, vào năm 1944, Xuân Diệu bắt đầu mang văn tài của mình ra phục vụ cho Việt Minh tổ chức công khai của Đảng Cộng sản Đông dương( ). Đối với nhà thơ, cũng như một số trí thức khác đã nổi tiếng từ thời trước cách mạng, điều đó có nghĩa là làm việc trong Hội Văn hóa Cứu quốc và tờ báo văn hóa cách mạng Tiên Phong, được xuất bản ở Hà Nội trong thời kỳ Việt Minh nắm chính quyền, từ năm 1945 đến 1946. Với uy tín khá cao của Xuân Diệu, vừa là thi sĩ lãng mạn vừa có kinh nghiệm làm việc với tờ báo được coi là hàng đầu trong giai đoạn tiền cách mạng của nhóm Tự lực Văn đoàn, tờ Ngày Nay, việc ông được chọn làm thư ký tòa soạn (tên gọi cũ cho vị trí tổng biên tập) không làm ai ngạc nhiên. Tới cuối năm 1945, ông còn được chọn lựa để ra tranh cử vị trí đại biểu tỉnh Hải Dương trong kỳ bầu cử sắp tới của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (tổ chức vào ngày 6 tháng Giêng năm 1946). Đương nhiên, ông cũng như những ứng cử viên được đảng chọn khác, đã đắc cử trong kỳ bầu cử tại tỉnh và trở thành thành viên Quốc hội mới của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa( ). Vào tháng Năm năm đó, Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng mời Xuân Diệu và một vài đại biểu Quốc hội khác cùng đi trong đoàn ngoại giao của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tới Fontainebleau để hội đàm với Pháp. Khi những đoàn quân và xe tăng Pháp trở lại Hà Nội vào cuối năm 1946 để tái thiết chế độ thực dân ở Đông Dương, các thành viên Việt Minh đang làm việc ở thành phố phải tản cư ra vùng nông thôn. Đa số cán bộ Việt Minh tản ra ba hướng Bắc, Tây và Nam của đồng bằng sông Hồng để tránh hướng tấn công của Pháp từ Hải Phòng vào phía Đông Hà Nội. Đợt tiến công sau đó của quân Pháp cắt ngang Hà Nội, tiến về hướng Tây đã khiến Xuân Diệu và các trí thức khác (một số cùng đi với cả gia đình) phải liên tục di chuyển trong sáu tháng đầu của cuộc chiến. Tới giữa năm 1947, cuối cùng Xuân Diệu và văn hữu đã tìm được nơi sơ tán ở một ngôi làng nhỏ có tên là Gia Điền ở cực bắc tỉnh Phú Thọ. Ẩn giữa những dãy đồi có nhiều cây cối rậm rạp, làng Gia Điền là nơi trú ẩn lý tưởng và không bao lâu sau được chọn làm trụ sở cơ quan văn học kháng chiến( ). Tháng Ba năm 1948, Xuân Diệu cùng với các nhà văn khác ở Gia Điền bắt đầu xuất bản tạp chí văn hóa mới lấy tên là Văn nghệ. Thực chất tạp chí này chỉ là sự tiếp nối, cộng với sự thể hiện tư tưởng MácLê công khai hơn so với tờ Tiên Phong đang xuất bản ở Hà Nội trước khi Pháp quay lại. Bốn tháng sau, tức là tháng Bảy năm 1948, Xuân Diệu cùng với vài chục nhà trí thức cách mạng khác tham dự hai hội nghị quan trọng tổ chức tại Phú Thọ. Hội nghị thứ nhất là Hội nghị Văn hóa Toàn quốc lần thứ hai (từ ngày 16 đến ngày 20 tháng Bảy năm 1948), với việc thành lập Hội Văn hóa Việt Nam, nhưng sự kiện nổi tiếng nhất phải là bài diễn văn tại hội nghị này của Trường Chinh với nhan đề “Chủ nghĩa Mác và vấn đề Văn hóa Việt Nam”. Trong suốt bốn thập niên sau đó, lãnh đạo đảng luôn đề cao tác dụng của bài diễn văn như một định hướng lý thuyết cho tất cả những người làm văn hóa. Ngày 23 tháng Bảy năm 1948, ba ngày sau khi kết thúc Đại hội Văn hóa Toàn quốc lần II, một hội nghị nhỏ hơn Hội nghị Văn nghệ Toàn quốc, được tổ chức, dẫn đến sự ra đời của Hội Văn nghệ Việt Nam. Nhà thơ trẻ Xuân Diệu, lúc đó mới 32 tuổi, chắc rất hài lòng khi được chọn vào cơ quan điều hành quyền lực nhất của Hội, giữ ghế thành viên Ban thường vụ chỉ gồm năm người( ). Năm sau, tức là năm 1949, lãnh đạo đảng quyết định dời trụ sở cơ quan văn hóa về huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên ngay gần an toàn khu của Trung ương Đảng đang đóng tại Định Hóa. Huyện Đại Từ chỉ cách chỗ ở của các nhà lãnh đạo như Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp vài cây số về phía Nam, là nơi Xuân Diệu sinh sống trong suốt 5 năm cuối của cuộc kháng chiến. Ngày 5 tháng Mười một năm 1949, Hồ Chí Minh ký văn bản thông báo rằng tình hình mới nhất là thắng lợi của Đảng Cộng sản Trung Quốc cho phép thành lập một đơn vị hành chính mới, trải rộng từ các tỉnh phía Bắc Hà Nội lên tới biên giới Trung Quốc. Vùng này sẽ được gọi là “Liên khu Việt Bắc”. Với trụ sở trung ương đảng đóng tại Thái Nguyên, đảm bảo đường kết nối với Trung Quốc nguồn tiếp liệu chiến tranh chủ yếu của Việt Minh, Việt Bắc thực sự là đầu não của cuộc kháng chiến( ). Xuân Diệu được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam năm 1949, khi ảnh hưởng của Đảng Cộng sản Trung Quốc đối với cuộc kháng chiến của Việt Minh đang tăng cao( ). Mối quan hệ này, cộng với sự kiện Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Liên Xô và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chính thức công nhận về ngoại giao có vẻ đã khiến Hồ Chí Minh và các lãnh đạo cao nhất của Đảng Lao động Việt Nam mạnh dạn hơn và công khai thừa nhận tư tưởng MácLê là nền tảng của đường lối lãnh đạo cách mạng. Kết quả của sự chuyển hướng này là việc áp dụng biện pháp chỉnh huấn của Liên Xô và Mao, một kỹ thuật cải tạo tư tưởng sử dụng “phê bình và tự phê bình” để chuẩn bị tinh thần cho cán bộ chính trị và chiến sĩ trước những nhiệm vụ cách mạng khó khăn. Chính trong hai tối chỉnh huấn vào năm 1952, Xuân Diệu đã phải trả giá cho thói lang chạ đồng tính của mình và mất chiếc ghế ủy viên Ban Thường vụ Hội Văn nghệ. Nhà văn cách mạng Tô Hoài, một người tình của Xuân Diệu trong nhiều năm, hồi tưởng lại những buổi tối đó như sau: “Xuân Diệu chỉ ngồi khóc. Chẳng biết Nam Cao, Nguyễn Huy Tưởng, Trọng Hứa, Nguyễn Văn Mãi, cả lão Hiến, thằng Nghiêm Bình, những thằng Đại, thằng Đắc, Tô Sang và mấy thằng nữa, có ai ngủ với Xuân Diệu không, tất nhiên không ai nói ra. Tôi cũng câm như hến. Lúc rồ lên, trong đêm tối quyết rũ, mình cũng điên kia mà, chứ có phải một mình Xuân Diệu đâu. Không nói cụ thể việc ấy, nhưng ai cũng to tiếng, to tiếng gay gắt, nghiêm trang phê phán “tư tưởng tư sản, tư tưởng tư sản xấu xa phải chừa đi.” Xuân Diệu nức nở nói đấy là tình trai của tôi… tình trai…” rồi nghẹn lời, nước mắt ứa ra, không hứa hẹn sửa chữa gì cả.”( ) Theo Tô Hoài, sau khi Xuân Diệu bị truất ghế ủy viên Ban Thường vụ Hội Văn nghệ, “bỗng dưng, Xuân Diệu thành một người có thì giờ chỉ chuyên đi và viết( ). Sau chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7 tháng Năm năm 1954, tiếp theo là Hiệp định Geneva được ký kết hai tháng sau đó, chính xác là ngày 21 tháng Bảy năm 1954, cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc. Đối với Xuân Diệu và các văn nghệ sĩ Việt minh khác, cùng với hầu hết các nhà lãnh đạo cách mạng ở Liên khu Việt Bắc, đã đến lúc rời chiến khu để trở về Hà Nội trong vai người chiến thắng nhưng phải xuất bản nốt số cuối của tờ Văn nghệ đã. Trong số tháng Mười này, Xuân Diệu đăng một lá thư gửi tất cả những nhà văn đã quyết định ở lại Hà Nội trong thời gian Pháp tạm chiếm. Lá thư thể hiện phong cách bút chiến đại ngôn lên gân mà Xuân Diệu thường sử dụng (phong cách này rõ ràng đã góp phần tạo cho Xuân Diệu được tiếng là người có lập trường tư tưởng vững vàng): “Có những người vì hoàn cảnh nào đó mà làm cho địch, tiếng hát đã bán cho đài phát thanh địch, mà tâm hồn chảy máu không thôi. Muốn vùi đầu quên thân trong son phấn trăng hoa rượu tiệc, mà khuya về, tiếng nói của lương tâm, tiếng nói của văn nghệ chân chính không để cho mình nhắm mắt. Ta có phải là ta nữa không? Sao cổ họng, ngòi bút, tài năng của ta lại làm đồ dùng cho chiến tranh và xâm lược? Những người đau khổ ấy vẫn là bạn, vì tâm hồn văn nghệ vẫn sống dưới đáy lòng.”( ) Dù văn nghệ sĩ Việt Nam bị chia cách bởi chiến tranh, và trong nhiều trường hợp, bởi quan điểm chính trị trái ngược, nhưng tình cảm đồng nghiệp giữa họ với nhau, có vẻ vẫn được duy trì, tuy có bị phai mòn. Nói cách khác, những người đã từng làm việc cho Pháp hay chỉ đơn thuần đã không làm gì để ủng hộ Việt Minh trong cuộc chiến cũng có thể tìm được cuộc sống mới dưới chế độ cộng sản. Tuy nhiên, đi cùng với vòng nguyệt quế mừng chiến thắng là những yêu cầu và điều kiện, mà Xuân Diệu đã giải thích với giọng thuyết giảng hùng biện đặc trưng: “Văn nghệ đã căm thù quyết liệt cái thòng lọng đế quốc hung tàn. Quyết không một nét vẽ, một câu thơ, một bài văn, một tiếng đàn, một giọng hát, một màn kịch, một điệu múa nào cho địch Quyết không bao giờ đem bông hoa sáng tạo vứt xuống bùn nhơ Quyết không để cho cái tinh anh của con người mập mờ với xâm lăng và ngu tối Mà trái lại, từ đây hơn bao giờ hết rạch ròi ranh giới, vạch rõ trắng đen giữa tà và chính, giữa giả và chân, giữa địch và TA Đó là vấn đề sống chết của những con người văn nghệ.”( ) Để ghi nhận những cống hiến của Xuân Diệu với cách mạng trong tám năm kháng chiến, lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam đã cấp cho ông và người bạn suốt đời của ông, Huy Cận, một nhà thơ nổi tiếng đồng thời là quan chức văn hóa cao cấp của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa một căn biệt thự Pháp rộng rãi trên phố Cột Cờ (nay là đường Điện Biên Phủ). Bất động sản cao cấp này có thể được coi như một tín hiệu của giới lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam rằng mọi nhu cầu vật chất của Xuân Diệu sẽ được quan tâm thỏa đáng nếu ông tiếp tục phục vụ sự nghiệp của họ một cách trung thành. Về nhu cầu tình cảm và sinh lý của nhà thơ, lãnh đạo đảng cũng cố gắng tạo điều kiện. Dù có quan điểm khắt khe và bảo thủ về hôn nhân và tình dục, họ cũng sẵn lòng làm ngơ cho trường hợp của Xuân Diệu, cho phép ông được sống chung một nhà với Huy Cận. Nhưng có lẽ đáng ghi nhận hơn là việc cả hai nhà thơ đều sống chung nhà với bà Ngô Xuân Như, người em gái cùng cha khác mẹ với Xuân Diệu và là vợ của Huy Cận. Cuộc hôn nhân của họ cho ra đời một người con trai vào năm 1957 và chỉ kéo dài thêm vài năm sau đó, rồi hai người chia tay. Huy Cận tái hôn năm 1964 và có thêm ba người con( ). Khi cuộc kháng chiến chống Pháp sắp kết thúc, Xuân Diệu cũng đã thu xếp cho mẹ đẻ mình, lúc này đã già yếu, từ Quy Nhơn ra Hà Nội để tiện chăm sóc. Em trai nhà thơ, ông Ngô Xuân Huy, quyết định ở lại miền Nam, nơi ông hưởng một cuộc sống lặng lẽ với nghề viết văn độc lập dưới bút danh Tịnh Hà không mấy nổi tiếng( ). Trong kế hoạch tiếp quản Hà Nội, lãnh đạo đảng quyết định chuyển đổi tờ Văn nghệ từ một nguyệt san có phần thô sơ về hình thức phát hành ở chiến khu, thành một tờ bán nguyệt san quy mô hơn có thể sánh với các ấn bản văn hóa, trí thức của Hà Nội thời Pháp tạm chiếm. Một thay đổi nữa là ban điều hành tờ báo. Sau bốn năm để trống chức vụ thư ký toàn soạn chính thức của tờ báo, các lãnh đạo văn hóa của chế độ mới quyết định phục hồi vị trí này. Tương tự như trường hợp của tạp chí cách mạng xuất bản tại Hà Nội trước đây, tờ Tiên Phong (19451946), chức vụ này rơi vào tay Xuân Diệu. Có thể họ đã tính toán rằng, những nhà trí thức không theo cách mạng, nhiều người trong số đó đang cân nhắc xem có nên di cư vào Nam không, sẽ thấy yên tâm hơn khi tên tuổi nhà thơ lãng mạn nổi tiếng xuất hiện trên bìa ấn phẩm văn hóa quan trọng nhất của chế độ mới. (Trên thực tế, tên Xuân Diệu được in với cỡ chữ to gấp đôi tên các thành viên khác trong ban biên tập). Dù với lý do gì đi nữa, việc được bổ nhiệm vào vị trí thư ký tòa soạn tờ Văn nghệ vào thời điểm bản lề hẳn có tác dụng như một thông điệp bảo đảm với nhà thơ rằng, dù gặp rắc rối vì quan hệ đồng tính luyến ái hai năm trước đó, tài năng và uy tín của ông trong lĩnh vực văn hóa vẫn được đánh giá cao trong chế độ mới mà nhà thơ đang phụng sự. (còn tiếp) Lại Nguyên Ân và Alec Holcombe Con tim và lý trí của thi sĩ Xuân Diệu: giai đoạn 1954 1958 (phần 2) Đông Hiến dịch Cuộc tranh luận về tập thơ Việt Bắc Trong chín tháng giữ vai trò cầm lái tờ Văn nghệ, từ ngày mồng 1 tháng Mười một năm 1954 đến ngày mồng 4 tháng Tám năm 1955, Xuân Diệu trải qua một giai đoạn có thể coi là ly kỳ nhất trong cuộc đời tham gia cách mạng của ông. Với chức vụ thư ký tòa soạn, Xuân Diệu cầm trịch cuộc tranh luận văn học quan trọng về tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu, người đã được lãnh đạo đảng chọn để đứng đầu mặt trận văn hóa. Cách Xuân Diệu xử lý cuộc tranh luận có vẻ đã làm lãnh đạo đảng không hài lòng, và có thể chính điều đó đã dẫn đến quyết định phải thay người khác vào vị trí thư ký tòa soạn báo Văn nghệ. Trong hai tháng đầu tiên, Xuân Diệu đã để cho cuộc tranh luận diễn ra như một sự kiện tranh luận văn học thực sự, cho in một số bài phê bình Việt Bắc khá nặng cùng với những bài khen ngợi( ). Nhưng dưới quan điểm “văn học không thể tách rời chính trị” của chế độ, tranh luận công khai về thơ của Tố Hữu cũng có nghĩa là tranh luận về quan điểm chính trị của ông ta. Và đương nhiên, phe phê phán chẳng bao lâu sau bắt đầu đặt câu hỏi về lập trường của Tố Hữu theo hệ tư tưởng MácLê, ngầm ý chất vấn quyết định của lãnh đạo khi giao trọng trách cho Tố Hữu ở vị trí quyền lực nhất trong lĩnh vực văn hóa. Nguyên nhân vì sao lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam để cho cuộc tranh luận kéo dài đến thế vẫn là điều chưa được giải đáp. Một cách giải thích khả dĩ là cuộc tranh luận diễn ra trong thời điểm còn nhiều căng thẳng đối với giới lãnh đạo chế độ mới, khiến họ e ngại nếu can thiệp không khéo sẽ làm bất bình số đông trí thức cách mạng, những người coi việc tranh luận chuyên môn là một phần bình thường của đời sống trí thức. Trong thời gian đó, nạn đói xảy ra ở hầu khắp các vùng nông thôn miền Bắc. Lúc đó đang là tháng Tư, một tháng trước vụ chiêm. Ngay cả trong những năm được mùa, người nông dân Bắc Việt vẫn thường thiếu ăn vào thời điểm này. Ba văn bản liên tiếp của Bộ Chính trị kêu gọi cứu đói trên toàn miền Bắc (vào các ngày mồng 9, 16 và 29 tháng Tư năm 1955) cho thấy tình hình căng thẳng đến mức nào( ). Một vấn đề lớn nữa thu hút sự quan tâm của giới lãnh đạo vào thời điểm này là cuộc di cư lớn của người dân miền Bắc vào Nam. Hiệp định Geneva đã ấn định khung thời gian ba trăm ngày tự do đi lại giữa hai miền Nam Bắc từ tháng Bảy năm 1954 đến tận tháng Năm năm 1955. Đối với các nhà lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, những người tự gọi chế độ của mình là “dân chủ nhân dân”, việc gần một triệu người miền Bắc di cư vào Nam được coi là một thất bại lớn về thể diện. Đoạn văn dưới đây, trích từ Chỉ thị 07 của Bộ Chính trị ban hành ngày 16 tháng Hai năm 1955 cho thấy phần nào mối quan ngại của lãnh đạo đảng về vấn đề di cư và tác động của nó đối với hình ảnh quốc tế của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: “Chọn một vài địa điểm điển hình để tổ chức cho đồng bào đi (khu chọn rồi đề nghị với Trung ương). Nếu mờ cả Ủy Ban quốc tế đến để chứng kiến việc đó. Những nơi này phải là nơi có cơ sở quần chúng của ta, khi tổ chức cho quần chúng đi thì chỉ có số ít xin đi, như thế mới có lợi cho ta. Khi làm việc này phải chuẩn bị chu đáo, giải quyết thật nhanh. Phải có kế hoạch trấn áp phản động, tăng cường canh gác, kiểm soát, đề phòng địch lợi dụng dịp này thúc đẩy quần chúng tập trung, gây khó khăn cho ta.”( ) Tố Hữu, tác giả của tập thơ Việt Bắc, lúc đó mới ba mươi lăm tuổi, là một người gốc Huế gia nhập Đảng Cộng sản Đông dương từ năm 1938 và thăng tiến rất nhanh qua các cấp ủy. Khi tập thơ được xuất bản, ông ta đang được cân nhắc vào vị trí ủy viên Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, một việc sẽ xảy ra trong năm 1955( ). Một biểu hiện nhỏ cho thấy lãnh đạo đảng đánh giá tập thơ Việt Bắc cao đến thế nào là quyết định trích ngân sách hẹp hòi để cho in tập thơ với số lượng hai mươi nghìn bản, một con số ấn bản lớn chưa từng có( ). Về nội dung, Việt Bắc là sự thể hiện bằng thơ quan điểm của Mao về “chiến tranh nhân dân”( ). Tố Hữu tả toàn thể dân tộc Việt Nam đều cống hiến trọn vẹn tâm hồn và lý trí cho công tác đấu tranh cách mạng: từ người nông dân đi phá đường cho đến người lính pháo binh công tập đồn Pháp, từ người phụ nữ tải đạn ra chiến trường đến em nhỏ làm giao liên cho du kích Việt Minh. Ông ta nồng nhiệt ca ngợi Hồ Chí Minh, Stalin, Mao và Đảng Lao động Việt Nam. Việt Bắc còn bao gồm các bài dịch từ dân ca Nam Tư và một số bài thơ nước ngoài khác hai bài của nhà thơ Liên Xô Konstantin Simonov, một của nhà thơ cộng sản Pháp Louis Aragon, và một của nhà thơ cộng sản Mỹ Ethel Rosenberg, đã bị tử hình với tội danh gián điệp vào năm 1953. Bài báo đầu tiên giới thiệu tập thơ của Tố Hữu với công chúng do một cán bộ chính trị xuất thân từ tỉnh Nghệ An tên là Xuân Trường viết được đăng trên số Tết (ngày 24 tháng Giêng năm 1955) của tờ báo chính thống của đảng Nhân dân( ). Bài báo được viết theo dàn bài tiêu chuẩn của một văn kiện báo cáo đảng: giới thiệu, ưu điểm, khuyết điểm và kết luận. Trong suốt cả bài gồm hai mươi chín đoạn văn, chỉ có hai đoạn bàn về khuyết điểm của tập thơ Việt Bắc. Hai đoạn đó chủ yếu vạch ra rằng Tố Hữu cần phải “cụ thể” hơn khi tả “người nông dân tham gia cách mạng” và “đảng Tiên Phong của dân tộc”. Xuân Trường viết “chúng ta rất tiếc rằng Tố Hữu chưa nói lên hộ lòng biết ơn, sức tin tưởng của hàng chục triệu con người đảng viên và quần chúng đối với Đảng tiên phong của giai cấp công nhân.”( ) Ba tuần sau, vào ngày 15 tháng Hai năm 1955, Xuân Diệu cho đăng trên Văn nghệ phần đầu của bài nhận xét dài của chính ông về tập thơ của Tố Hữu. Cũng như bài viết của Xuân Trường, ông giữ đúng cấu trúc tiêu chuẩn của một bản báo cáo chính trị. Trong bài viết gồm bảy mươi đoạn văn, Xuân Diệu dành sáu mươi đoạn để ca ngợi ưu điểm của tập thơ: “Từ 1932 đến 1945, trong khi các nhà thơ khác đắm chìm trong phong trào “thơ mới” mơ mộng, than khóc, u sầu, Tố Hữu đã đi tiên phong, hát những bài ca tranh đấu.”… Con đường ngót 20 năm nay Tố Hữu đã đi là một con đường vinh quang, kỳ diệu. Chỗ kỳ diệu lớn lao là nhà thi sĩ làm cách mạng, và nhà cách mạng làm thơ, và thơ rất thành công… Cách mạng càng ngày càng thắng lợi, càng to lớn, đồng thời cũng đưa tài thơ của Tố Hữu nở dần đến chỗ tròn đầy, lộng lẫy. Đó là sự tương quan mật thiết giữa hành động và văn chương, và Tố Hữu là điển hình đẹp nhất.”( ) Trong phần đầu của đoạn trích nêu trên, Xuân Diệu dường như đang xưng tội về quá khứ của chính mình khi tham gia Thơ mới. Phải chăng mười năm dưới sự dẫn dắt của đảng đã chuyển hóa hoàn toàn nhà thơ lãng mạn nổi tiếng Xuân Diệu? Có vẻ là như vậy, cho đến khi chúng ta đọc đoạn thứ mười của bài với những dòng Xuân Diệu viết về nhược điểm của tập thơ. Tại đó, nhà thơ nhẹ nhàng chỉ ra rằng tập thơ Việt Bắc “nặng về tình cảm xã hội mà gần như bỏ qua tình cảm cá nhân”. Trong một khổ khác, ông viết, “Con người cán bộ trong Tố Hữu bao trùm con người thường”. Ở đây, những lời phê bình của Xuân Diệu dường như có hàm ý đề cao tính chủ quan cho phép con người ta có thể thay đổi bản chất để phù hợp với hoàn cảnh. Không một bài viết nào khác về Việt Bắc đưa ra một ý kiến tương tự như thế. Từ đó, người đọc có thể suy diễn một cách hợp lý rằng, theo Xuân Diệu, tính chủ quan của con người rất phức tạp, không thể đánh giá theo một yếu tố chung nào hết như giai cấp chẳng hạn. Trong phần sau của bài viết, Xuân Diệu bổ sung thêm rằng thơ Tố Hữu “nặng về tình cảm xã hội, tình cảm tập thể ” mà “hầu như không nói đến những tình cảm của cá nhân”( ). Không rõ Xuân Diệu có ý thức được điều này không, nhưng rõ ràng việc ông chiếu tướng Tố Hữu về tình cảm cá nhân và khả năng một con người có thể mang nhiều diện mạo tiềm ẩn nguy cơ thách thức học thuyết chính thống cao hơn rất nhiều so với yêu cầu của Xuân Trường về việc cần tả cụ thể về đảng tiên phong và quần chúng hàm ơn. Ngày 11 tháng Ba năm 1955, hai tuần sau khi đăng bài bình luận của chính mình, Xuân Diệu duyệt và cho đăng bài phê bình Việt Bắc của Hoàng Yến, một nhà phê bình văn học trong quân đội gần như chưa được ai biết đến. Với nhan đề “Tập thơ Việt Bắc có tính hiện thực hay không?”, bài phê bình phân tích năm bài trong tập thơ để đi đến kết luận chung rằng những suy nghĩ, từ ngữ và hành động của các nhân vật trong Việt Bắc trong những tình huống quan trọng có vẻ không hiện thực và không thể hiện được tính phong phú và vĩ đại của cách mạng( ). Ngoài bài viết của Hoàng Yến, Văn nghệ còn mời độc giả viết thư để đóng góp phản hồi về tập thơ Việt Bắc đồng nghĩa với việc mở rộng diễn đàn tranh luận cho công chúng. Trong một tháng rưỡi sau đó, Xuân Diệu, trong vai trò thư ký tòa soạn Văn nghệ, đã cho đăng tiếp năm bài phê bình Tố Hữu, có nhiều điểm cho rằng ông ta kém về năng lực lãnh đạo, thơ thì tầm thường và quan điểm cách mạng “tiểu tư sản có hệ thống”( ). Chắc chính lời phê về “tiểu tư sản” đó đã làm lãnh đạo đảng nhức nhối nhất vì họ đã chọn Tố Hữu, cùng với các Ủy viên Trung ương là Lê Văn Lương và Hoàng Quốc Việt giám sát công tác chỉnh huấn tư tưởng, với mục tiêu chính là gạt bỏ những “tư tưởng tiểu tư sản” khỏi đầu óc các đảng viên( ). Trong suốt năm tuần, Xuân Diệu đã duy trì gần như cân bằng những bài viết theo hai hướng khen và chê tập thơ của Tố Hữu, như thể ông đang trở lại làm việc cho tờ Ngày Nay của Tự lực Văn đoàn vậy. Rồi bỗng nhiên, sau số Văn nghệ ra ngày 1 tháng Năm năm 1955, ông xoay ngược một trăm tám mươi độ, cho đăng toàn những bài khen ngợi tập thơ hết lời. Sự trùng hợp về thời gian giữa việc thay đổi đường lối nói trên và cái mốc ba trăm ngày tự do đi lại giữa hai miền Nam Bắc (đến 18 tháng Năm 1955) gợi cho ta thấy hình như việc tự do đi lại cũng là một yếu tố quyết định cách chính quyền xử lý cuộc tranh luận. Những bài viết phê phán Việt Bắc bị ngừng đăng kể từ số Văn nghệ ngày 10 tháng Năm 1955, nhưng đến thời điểm đó, đã quá muộn để biến cuộc tranh luận thành đợt tuyên truyền cho thơ Tố Hữu những nhà phê bình trẻ đã gây tổn thất nặng nề cho danh tiếng tập thơ Việt Bắc. Không một bài bình luận tiếp theo nào, dù ca ngợi không tiếc lời về lòng yêu nước và văn tài của Tố Hữu, có thể đảo ngược lại được những lời phê bình về nhược điểm của Việt Bắc mà Xuân Diệu đã cho đăng trên những trang báo trước đó của tờ Văn nghệ. Ngoài quyết định chuyển hướng đột ngột trong cuộc tranh luận về Việt Bắc, có ba điểm khác cho thấy hình như cách xử lý vấn đề của Xuân Diệu lúc ban đầu không theo quan điểm của lãnh đạo đảng. Một là, không một tờ báo nào khác của đảng ngoài tờ Văn nghệ đăng bài chê tập thơ Việt Bắc( ). Các tổng biên tập của những tờ báo khác dường như hiểu được ý của lãnh đạo đảng muốn họ giữ vai trò gì trong cuộc tranh luận: đăng các bài khen Việt Bắc để bài chê của Hoàng Yến trở thành hiện tượng cá biệt, qua đó cho thấy Tố Hữu được sự ủng hộ của đa số quần chúng Việt Nam. Hai là, không bao lâu sau, lãnh đạo quyết định thay Xuân Diệu và đưa Nguyễn Đình Thi, một quan chức văn hóa cứng rắn vào vị trí thư ký tòa soạn báo Văn nghệ, người đặt dấu chấm hết cho cuộc tranh luận về Việt Bắc một thời gian ngắn sau đó( ). Bằng chứng thứ ba là ý kiến nhận định về cuộc tranh luận của một quan chức văn hóa cao cấp, Hoài Thanh (tác giả cuốn Thi nhân Việt Nam: 1932 1941 đã được nhắc đến ở phần trên). Trong một bài nhận xét về hoạt động văn học năm 1955, ông ta viết: “Về mặt phê bình cũng phạm nhiều sai lầm thiếu sót. Công tác phê bình ít được chú ý. Thỉnh thoảng có một cuộc phê bình như cuộc phê bình tập thơ Việt Bắc thì lại có tính chất tự phát, thiếu chuẩn bị, thiếu mục đích rõ ràng, thiếu kết hợp với yêu cầu đấu tranh chính trị và tư tưởng.”( ) Ý của Hoài Thanh là, Xuân Diệu, với vai trò thư ký tòa soạn Văn nghệ đã không quan tâm đầy đủ đến những bài phê bình Việt Bắc, cho đăng những bài không phù hợp với “yêu cầu của cuộc đấu tranh chính trị và tư tưởng”. Nói cách khác, ông không hiểu được rằng Văn nghệ đúng ra phải đóng vai trò là một cơ quan văn hóa của đảng. Đặt trong hoàn cảnh đất nước ba năm rưỡi sau đó, cách ông xử lý cuộc tranh luận nhất là để cho mọi tầng lớp trí thức trong nước công khai và trực tiếp chất vấn năng lực chuyên môn của một quan chức cao cấp của đảng như Tố Hữu là điều không thể tưởng tượng được( ). Xuân Diệu và Walt Whitman Như đã đề cập ở phần trước, trong hai đêm Xuân Diệu tham gia chỉnh huấn vào năm 1952, vấn đề lang chạ đồng tính của Xuân Diệu bị đem ra để “phê và tự phê”. Theo nhà văn Tô Hoài, những người tham gia buổi chỉnh huấn đêm đó đã liên hệ xu hướng luyến ái đồng tính của nhà văn lãng mạn nổi tiếng với “tư tưởng tiểu tư sản xấu xa” của ông điều mà Xuân Diệu nhất quyết từ chối trong nước mắt. Sau đợt chỉnh huấn, ông bị đưa ra khỏi Ban Thường vụ Hội Văn nghệ, một tai nạn nghề nghiệp vẫn làm ông nhức nhối nhiều năm sau đó( ). Vì quá nhiều bài thơ lãng mạn nổi tiếng của ông có cảm hứng từ đề tài luyến ái đồng tính, và vì ông có biểu hiện coi đó là một phần của chính mình, không thể thay đổi ngay cả với quyền năng chuyển hóa của cách mạng, bài tiểu luận được ít người biết của Xuân Diệu viết về Walt Whitman đăng trên số ra ngày 5 tháng Giêng năm 1956 của tờ Văn nghệ cần được nghiên cứu kỹ( ). Quyết định viết về nhà thơ Mỹ không phải là một lựa chọn liều lĩnh về mặt chính trị, vì chính những người gác cửa văn học chính thống của Liên Xô cũng đã tặng cho Whitman danh hiệu “nhà thơ cách mạng” từ trước đó rất lâu. Dù đã tạ thế, sự nghiệp cách mạng của nhà thơ Mỹ này có thể coi như được khởi đầu ở Nga vào năm 1905, khi những nhà cách mạng Nga tại hải ngoại phụ trách tờ Tia lửa (Iksra), cơ quan của Đảng Lao động Dân chủ Xã hội Nga (lúc đó đặt trụ sở tại GenevaThụy Sỹ), chọn một bài thơ của ông vào “tuyển tập thi ca cách mạng”. Hơn thế nữa, Whitman còn được nhân vật nổi tiếng nhất trong văn giới Liên Xô nhà biên dịch, viết tiểu luận và thơ thiếu nhi Kornei Chukovsky (18821969) chọn làm đề tài nghiên cứu chuyên sâu( ). Chukovsky đã đăng bài viết đầu tiên về nhà thơ Mỹ “Phong trào hâm mộ Whitman ở Nga” trong tạp chí của trường phái Tượng trưng Vesy vào năm 1906. Phần lớn nội dung bài viết đó được Chukovsky dành để phê phán những bài dịch thơ Whitman của Konstantin Balmont, một nhà thơ Tượng trưng. Sự công kích của Chukovsky đã khơi mào cho một cuộc tranh luận sôi nổi về nghệ thuật biên dịch giữa hai người yêu thơ Whitman trên các trang báo của tờ Vesy. Sau đó, giới lãnh đạo văn hóa Liên Xô ủng hộ Chukovsky, giúp ông đủ quyền lực để nâng quan điểm về dịch thuật của mình trong cuộc tranh luận trước đó về Whitman thành tiêu chuẩn chính thống, thành các nguyên tắc chung cho mọi hoạt động dịch thuật của Liên Xô( ). Vì Whitman vừa sử dụng thể thơ tự do vừa có quan điểm triết học duy tâm giống như các nhà thơ trường phái Tượng trưng của Pháp những người có ảnh hưởng quan trọng đến dòng thơ lãng mạn của Xuân Diệu, có thể ông đã biết rõ về tác giả của tập Lá cỏ từ trước khi tham gia cách mạng( ). Không biết ông có biết về Whitman sớm đến thế không, nhưng ít nhất Xuân Diệu hẳn phải nghe nói đến nhà thơ này vào cuối năm 1945, khi một bài báo đăng trên Tiên Phong vào tháng 12 năm 1945 có nhắc đến nhà thơ Mỹ này. Với tiêu đề “Một lá thư ngỏ của Hội Văn hóa Cứu quốc gửi các trí thức Mỹ”, bài báo được công bố là bản sao nguyên văn lá thư thật được đưa cho một nhà báo Mỹ đến Hà Nội để đưa tin sự kiện Nhật Bản đầu hàng. Theo lời kể, nhà báo bí ẩn này đến trụ sở hội vào ngày 21 tháng Mười năm 1945, trước khi về Mỹ. Người ta kể rằng vì cảm tình với sự nghiệp ái quốc của Hội Văn hóa Cứu quốc, ông nhà báo này tình nguyện nhận chuyển thư của hội đến các nhà trí thức Mỹ( ). Lá thư của hội, được in lại trên báo Tiên Phong bày tỏ lòng tin rằng “…mối thiện cảm của những người đồng chí của Phancờin (Franklin), Bítsơ Xíttao (Beecher Stowe), Imớcsơn (Emerson), Oantờ Huýtman (Walt Whitman), Êđisơn (Edison), những người như Giấccờ Lânđơn (Jack London), Xincole Liuítxờ (Sinclair Lewis), Pớc Bấccờ (Pearl Buck)… ở giữa một nước lớn như dân tộc Hoakỳ, sẽ làm rung chuyển dư luận hoàn cầu để giúp cho cuộc giải phóng của chúng tôi.”( ) Cũng có thể Xuân Diệu đã tìm hiểu thêm về Whitman khi đi Liên Xô và Đông Âu năm 1955, vì chuyến đi của ông trùng với thời gian kỷ niệm 100 năm tập thơ Lá Cỏ nổi tiếng của nhà thơ Mỹ này. Trong chuyến đi, có thể Xuân Diệu đã thấy những cuốn sách về Whitman bày trên giá các hiệu sách nơi ông đến thăm, với hy vọng thu hút được mối quan tâm về tác giả đang được hâm nóng lại trong đợt kỷ niệm. Điều này có thể lý giải được thời điểm Xuân Diệu viết bài về Whitman, vì bài báo được đăng trên Tiên Phong một thời gian ngắn sau khi ông đi Liên Xô và Đông Âu về. Tuy nhiên, chi tiết thú vị nhất là Xuân Diệu biết Whitman là người đồng tính luyến ái từ khi nào và bằng cách nào, vẫn còn là câu hỏi bí ẩn. Chỉ biết trong các bài thơ lãng mạn của ông, không thấy có điểm liên hệ nào tới nhà thơ Mỹ này. Bài của Xuân Diệu giới thiệu Whitman trên báo Văn nghệ thể hiện quan điểm chính trị của chế độ đương thời, với yêu cầu phải xác định rõ mối đồng cảm của nhà thơ Mỹ với giai cấp vô sản. Vì thế, bài báo bắt đầu bằng những dòng kể lể tỉ mẩn về xuất thân bình dân của Whitman, là con trai một di dân, làm nghề đóng khung nhà, và thời trẻ ông ta cũng làm những công việc “tay làm hàm nhai” thợ in, giáo viên, nhà báo, thợ gặt. Bài báo cũng trích nguyên nhiều câu trong bài “Thơ Tự do cho châu Á, Phi, Mỹ, Úc, Cuba và các Quần đảo ở Đại Dương” của Whitman. Trong những lời kêu gọi chung chung tranh đấu chống cường quyền trên khắp thế giới, bài thơ đó của Whitman phảng phất những nét hao hao giống lý thuyết Mácxít về cách mạng vô sản thế giới. Có lẽ để tô đậm thêm mối liên hệ này, tiêu đề của bài thơ được đổi thành “Tặng một nhà cách mạng châu Âu thất bại”. Không rõ Xuân Diệu tự đổi hay chỉ đơn thuần sao chép lại cách đặt tiêu đề của một dịch giả trước đó. Ngay dưới tiêu đề bài thơ, Xuân Diệu giải thích rằng bài thơ lấy cảm hứng từ cuộc cách mạng bị thất bại năm 1848. Trong bài viết, Xuân Diệu còn khai thác sâu thêm cảm tình vô sản của Whitman bằng cách dẫn nhiều khổ thơ trong bài “Bài ca đời tôi”, tất cả đều nhằm minh chứng rằng nhà thơ Mỹ thực sự đã “đi sâu vào thực tế của quần chúng lao khổ”( ). Tuy nhiên, bài báo có đôi chỗ mang dấu hiệu cho thấy Xuân Diệu đang sử dụng quan điểm chính trị của chế độ đương thời làm bình phong để khoe một cách kín đáo về đời sống luyến ái đồng tính của Whitman. Ví dụ, bài báo có kể rằng “… lúc đã nổi tiếng, nhiều khi ông (Whitman) thay các bạn ông làm người đánh xe ngựa, làm người bán vé xe hàng”. Chi tiết này có vẻ như đơn thuần là một động tác nhấn mạnh sự gần gũi của nhà thơ Mỹ với quần chúng cách mạng. Nhưng trên thực tế, có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nữa, vì người bán vé xe hàng mà Xuân Diệu nhắc đến chính là Peter Doyle, người đàn ông được coi là người tình suốt đời của Whitman. Đọc kỹ bài báo, ta thấy có nhiều chỗ Xuân Diệu dường như đang muố
Trang 1Con tim và lý trí của thi sĩ Xuân Diệu: giai đoạn 1954 - 1958
Nguồn: Journal of Vietnamese Studies, vol 5, no.2, Summer 2010
Tác giả: Alec Holcombe
Đông Hiến dịch
Trong giai đoạn 1954 - 1958, Đảng Lao động Việt Nam, sau nhiều đợt giằng
co tiến thoái, đã áp đặt được sự kiểm soát trên tất cả các lĩnh vực của hoạt động thôngtin văn hóa và học thức của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Đối với nhiều nhà tríthức cách mạng, tình trạng mất tự chủ về chuyên môn là một điều thất vọng đến bấtngờ Họ từng nghĩ rằng những cống hiến trong kháng chiến chống Pháp (Chiến tranhĐông Dương lần thứ nhất - 1946-1954) và kết quả thắng lợi của cuộc kháng chiến là
đủ chứng minh cho sự trung thành của mình với cách mạng Họ cảm thấy như vậy làđương nhiên sẽ có thêm không gian riêng trong lĩnh vực chuyên môn, vốn nằm trongtầm kiểm soát chặt chẽ của đảng suốt tám năm kháng chiến(1) Nhưng giới lãnh đạoĐảng Lao động Việt Nam lại nghĩ khác Giai đoạn bốn năm sau khi chiến tranh kếtthúc là thời gian giải quyết những khác biệt về quan điểm nói trên, đồng thời đặt ranhững quy định thiết yếu cho đời sống trí thức của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộnghòa, đa phần vẫn còn được bảo lưu cho đến tận hôm nay Chính ở giai đoạn ngắnngủi này, tầng lớp trí thức của chế độ đã chứng kiến những đổi thay bất ngờ, nhữnglật lọng khó đoán, và không ít người trong số họ đã tự mình trải nghiệm những xử lýkhiến số phận họ hoàn toàn thay đổi
Câu chuyện về những người trong hàng ngũ trí thức đã phản kháng quyết liệtnhất trước sự áp đặt và kiểm soát của giới lãnh đạo đảng - gồm những nhà văn, nhàthơ, họa sĩ và học giả gắn liền với phong trào Nhân văn - Giai phẩm - là một trongnhững lĩnh vực được để ý nhiều nhất trong lịch sử Việt Nam Dân chủ Cộng hòa(2).Phong trào được đặt tên theo hai ấn phẩm do các nhà trí thức cách mạng bất mãn xuấtbản vào năm 1956 - báo Nhân văn và các tuyển tập mang tên Giai phẩm, đã thu hútđược sự chú ý của giới học giả trong nhiều thập kỷ chủ yếu vì nó được đánh giá làmột trong những khoảng mở hiếm hoi để tìm hiểu về mức độ đắc nhân tâm của chủnghĩa cộng sản ở miền Bắc Việt Nam Nhiều nhà nghiên cứu thấy bất ngờ về mức độ
đa dạng và thẳng thắn của những ý kiến và yêu cầu của năm mươi bảy nhà trí thứctừng tham gia trực tiếp vào Nhân văn - Giai phẩm đã bày tỏ với chế độ Mác-xít-Lê-nin-nít và đã thu hút được sự đồng tình của số đông quần chúng(3) Gộp chung những
đề tài nghiên cứu hiện có về phong trào này, ta sẽ có được một bộ chân dung rấtphong phú về những nhân vật trụ cột Điều này được thực hiện một phần là nhờnhững học giả phương Tây đã phỏng vấn được những thành viên của Nhân văn - Giaiphẩm đang còn sống, sau khi các nhà lãnh đạo cộng sản Việt Nam thi hành chínhsách Đổi mới vào năm 1986(4) Một yếu tố khác nữa là, cùng với thời gian, các học
Trang 2giả nghiên cứu về phong trào đã cân bằng trở lại, thoát khỏi ảnh hưởng của chính trịcực đoan thời Chiến tranh Lạnh, cũng như tư tưởng lạc quan tếu thời Đổi mới gầnđây.
Tuy vậy, chân dung những trí thức nòng cốt, những người đã trợ giúp lãnhđạo đảng đàn áp, thanh lọc và trừng phạt những thành phần tham gia Nhân văn - Giaiphẩm vẫn gần như giữ nguyên hình dạng đơn sắc, đơn tuyến và thậm xưng theo kiểubiếm họa so với những nghiên cứu của thời kỳ trước Trong thực tế, nhiều nhà tríthức nòng cốt này tiếp tục có một sự nghiệp gây ảnh hưởng lớn trong nước Việt NamDân chủ Cộng hòa, thậm chí sau khi nhà nước này được hóa thân thành Cộng hòa Xãhội Chủ nghĩa Việt Nam(5) Thực ra, dấu ấn của những người này trên đời sống tríthức của Việt Nam còn sâu đậm hơn rất nhiều so với những nhân vật cải cách kémmay mắn của phong trào Nhân văn - Giai phẩm Bài luận này là một cố gắng giảiquyết sự thiếu hụt thông tin nói trên, và chuyển hướng tiêu điểm của sự chú ý từnhững ngôi sao của phong trào Nhân văn - Giai phẩm sang một trong những ngườibảo vệ quan điểm chính thống của đảng, đó là nhà thơ nổi tiếng, người đã cải hóathành nhà thơ cách mạng theo chủ nghĩa Mác-Lê nin từ một quá khứ từng là thi sĩlãng mạn vĩ đại, Xuân Diệu (1916-1985) Bản chất mối quan hệ của nhà thơ với ĐảngLao động Việt Nam là gì, và vì sao ông lại quyết định đả kích trực diện những nhà tríthức đã lên tiếng yêu cầu lãnh đạo đảng thực thi cải cách vào cuối năm 1956?
Vào những năm cuối thập niên 1950 và đầu 1960, học giả Sài Gòn HoàngVăn Chí, một người gốc Bắc di cư và cựu thành viên của Việt Minh, lập luận rằngXuân Diệu chỉ đơn thuần là một công chức làm việc cho Đảng Lao động Việt Namnhư ông đã từng làm (nhân viên hải quan) cho Pháp thời thuộc địa(6) Chịu ảnh hưởngcủa tác phẩm Giai cấp mới: Phân tích về Thế giới Cộng sản của Milovan Djilas xuấtbản năm 1957, Hoàng Văn Chí cho rằng những trí thức nòng cốt như Xuân Diệukhông phải là những tín đồ thật sự của chủ nghĩa Mác-Lê mà chỉ là những kẻ cơ hộichủ nghĩa có tham vọng chính trị, đàn áp Nhân văn - Giai phẩm để bảo vệ quyền lợigiai cấp của mình Theo cách diễn giải này, Nhân văn - Giai phẩm là một phong tràoyêu nước gồm những nhà trí thức đủ mọi tầng lớp đấu tranh chống lại sự “áp bức tríthức” mà giới tinh hoa văn hóa được chế độ sủng ái đang áp đặt lên họ Hoàng VănChí nhìn nhận giới tinh hoa văn hóa này như một “giai cấp mới”, chung một bản chấtích kỷ và là những tay sai tận tụy của lãnh đạo đảng(7)
Năm 1990, một học giả người Pháp, cựu đảng viên cộng sản tên là GeorgesBoudarel, người đã từng tham gia Việt Minh trong cuộc Chiến tranh Đông dương lầnthứ nhất và sống tại Hà Nội từ năm 1954 đến tận năm 1964, xuất bản cuốn sách mởđầu cho dòng nghiên cứu về các trí thức đối kháng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòanhan đề Trăm Hoa Vẫn Nở Giữa Đêm Việt Nam: Chủ nghĩa Cộng sản và Bất đồngChính kiến, 1954-1964 (Cent fleurs ecloses dán la nuit du Vietnam: communism et
Trang 3dissidence 1954-1964) Nếu như lập luận của Hoàng Văn Chí gần giống với củaDjilas trong Giai cấp mới, thì tác phẩm của Boudarel có thể được coi như phiên bảnViệt Nam của tác phẩm Cuộc Cách mạng bị phản bội của Leon Trotsky(8) Học giảngười Pháp này cho rằng các trí thức của phong trào Nhân văn - Giai phẩm chia sẻ sựtương đồng quan điểm ở chỗ cùng ghét cay ghét đắng một quan chức Văn nghệ kiểuStalin: Tố Hữu, cùng phản đối chủ nghĩa Mao-ít, và cùng mong muốn chế độ mà họđang phục vụ thực hiện những cam kết chính trị mang tính nhân văn (nhất là tự dongôn luận)(9) Tuy nhiên, những vấn đề cốt lõi này, cũng như những điểm tương đồngkhác như sự bất bình vì chứng kiến sự suy đồi văn hóa chính trị đang diễn ra xungquanh, và lòng căm ghét thường trực đối với chế độ Sài Gòn được Mỹ bảo trợ đãkhông đưa họ đến một sự thống nhất về một chương trình chính trị chung(10) Về động
cơ của Xuân Diệu khi tham gia đàn áp Nhân văn - Giai phẩm, Boudarel chỉ nêu ramột lý do là nhà thơ “thân cận với giới lãnh đạo đảng”(11)
Ba năm sau, vào năm 1993, nhà lịch sử văn hóa Neil Jameison cũng đưa raquan điểm riêng về vấn đề này, và lập luận trong cuốn sách Tìm hiểu Việt Nam rằngXuân Diệu cũng như những trí thức cực tả khác của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cóđộng cơ là niềm tin trung kiên vào chủ nghĩa Mác-Lê:
“Có lẽ Xuân Diệu là người nhiệt tình nhất trong số các nhà văn, nhà thơtham gia Kháng chiến Ông không còn bấu víu lấy cuộc đời bằng những móng tay vàđối mặt với biên giới băng giá của chủ nghĩa hư vô nữa Dưới ảnh hưởng của ngườibạn thân Huy Cận, Xuân Diệu đã trở thành một cảm tình viên nhiệt thành và được kếtnạp Đảng vào năm 1947(12) Sự nổi tiếng và tài thơ của ông là một đóng góp giá trị đốivới Việt Minh Để bù lại cho thành phần gia đình tư sản và quá khứ là thi sĩ lãng mạnnhất, Âu hóa nhất và riêng tư nhất trong văn giới Việt Nam, Xuân Diệu trở thànhngười cực đoan nhất trong giới văn nghệ cộng sản mới Ông là người ca ngợi “BácHồ” và “Đảng” nhiệt tình hơn ai hết:
Mỗi lần tranh đấu gay go
Chúng con lại được Bác Hồ tới thăm
Nghe lời Bác dạy khuyên răn
Chúng con ước muốn theo chân của người…
Chúng con thề nguyện một lời
Quyết tâm thành khẩn lột người từ đây.
Qua cụm từ “lột người từ đây”, Xuân Diệu muốn thể hiện chính xác, khôngthừa, không thiếu, sự tái sinh dưới một diện mạo mới Đây là sự thể hiện nguyện ướcđược “tái sinh” dưới chủ nghĩa cộng sản… Đây là lời thỉnh cầu được thay đổi bảnngã tương tự như việc cải đạo, một trải nghiệm tôn giáo, một sự lột xác hoàn toàn Cả
Trang 4Lưu Trọng Lư và Xuân Diệu đã tìm được ý nghĩa mới và mục đích mới của cuộc đời,cùng thay đổi cá tính cũ của mình(13).
Trong phần sau của cuốn sách, Jamieson lập luận rằng đối với Xuân Diệucũng như các nhà thơ cách mạng khác, “kỷ luật của đảng cộng với tư cách thành viêntrong một nhóm xã hội khép kín, có tính tổ chức cao đã khiến họ trút bỏ được gánhnặng của chủ nghĩa cá nhân và cho họ một diện mạo mới đắc ý hơn.”(14) Chính vì lý
do đó, Jamieson cho rằng quyết định của Xuân Diệu tham gia ném đá Nhân văn Giai phẩm xuất phát từ lòng tin cuồng nhiệt vào lý tưởng chung theo thuyết giáo củaĐảng Lao động Việt Nam Trong số các nghiên cứu về Xuân Diệu, ý kiến củaJamieson gần nhất với quan điểm chính thống, hiện vẫn được phổ biến ở trong nướckhi đánh giá về nhà thơ
-Nghiên cứu mới nhất về Nhân văn - Giai phẩm của Kim Ninh (2002) vàHeinz Schutte (2003) cũng có vẻ đồng điệu với quan điểm của Jamieson, coi XuânDiệu như một tín đồ thực thụ của chủ nghĩa Mác-Lê trong khi các thành viên củaNhân văn - Giai phẩm có tính cách phức tạp, xuất phát từ sự đa dạng về cá tính, nghềnghiệp và lập trường chính trị Schutte, trong bài nghiên cứu quan trọng về Nhân văn
- Giai phẩm dưới lăng kính của Đại Sứ quán Đông Đức tại Hà Nội, đã viết như sau:
“Những đại diện của (phong trào) Thơ mới của những năm đầu thập kỷ 40như Huy Cận (sinh năm 1920) và Xuân Diệu (1916-1985) - bị mất cảm hứng lãngmạn, phải chịu đựng sự đau khổ khi phải rời bỏ chủ nghĩa cá nhân, đã được Đảng,Việt Minh và cách mạng tái sinh, nên đã hòa nhập hoàn toàn vào tập thể cách mạng.Nhưng không phải trí thức Việt Nam nào cũng vậy [Những thành viên phong tràoNhân văn - Giai phẩm như] (n)hà thơ Hoàng Cầm (sinh 1922), Trần Dần (1924-1927), và Lê Đạt (sinh 1929) và các học giả như Phan Khôi (1887-1960), Đào DuyAnh (1904-1988) và Trần Đức Thảo (1917-1993) chưa từng biến mình thành “nhữngcái máy chỉ biết phục tùng” của đảng, được nhồi sọ, và tiếp thu một chiều, khôngphản biện với những khẩu hiệu thích hợp.”(15)
Như vậy, theo Schutte, Xuân Diệu đã “hòa nhập hoàn toàn” vào phong tràocách mạng, để trở thành (chúng ta có thể suy luận) một “cái máy chỉ biết phục tùngcủa đảng”, không phản biện suy tư về tư tưởng Mác-Lê của Đảng Lao động ViệtNam
Chúng tôi cố gắng nêu ra qua bài luận này rằng Xuân Diệu, khi được nghiêncứu với phương pháp từng chỉ được dành riêng cho các thành viên của Nhân văn -Giai phẩm, sẽ không còn là hình ảnh một chiều, đơn tuyến như giới học giả thường
mô tả ông Thực chất, ông cũng có nhiều điểm giống với các thành viên của phongtrào Nhân văn - Giai phẩm mà ông từng giúp đảng đàn áp Trước hết, cũng như cáctác giả nổi tiếng nhất của Nhân văn - Giai phẩm như Trần Dần, Lê Đạt và Hoàng
Trang 5Cầm, ông cũng gặp rắc rối với giới lãnh đạo đảng về các vấn đề liên quan đến đờisống tình cảm của mình(16) Tuy nhiên, trong trường hợp của Xuân Diệu, vấn đềkhông phải là thành phần giai cấp của người bạn tình mình chọn, mà ở chỗ ông cónhiều bạn tình, tất cả đều là đàn ông Điểm thứ hai, và cũng là một trong những điềutrớ trêu đáng ghi nhớ nhất của giai đoạn này, Xuân Diệu chính là người, với vai tròthư ký toàn soạn của ấn phẩm văn hóa quan trọng nhất của đảng, báo Văn nghệ, đãxuất bản những bài viết đầu tiên của Hoàng Cầm và Lê Đạt trong nỗ lực xoay chuyểnnền văn chương của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa(17) Vào tháng Năm năm 1955,những nhà văn trẻ có can đảm phê bình ngay cả nhân vật quyền lực nhất trong văngiới, Tố Hữu, có thể đã coi Xuân Diệu như một đồng minh Điểm thứ ba là, đối vớiphương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa luôn gây tranh cãi, Xuân Diệu côngkhai ca ngợi dòng văn học này và lớn tiếng chê bai những tác phẩm lãng mạn cũ củamình, những sáng tác đã làm cho ông trở nên nổi tiếng Nhưng chỉ cần nghiên cứu sơqua về những sáng tác cách mạng của Xuân Diệu, ta cũng có thể nhận thấy nhữngđộng thái cố gắng khai thác lại những đề tài và tiểu tiết từ các tác phẩm lãng mạn củaông Trên thực tế, ta có thể thấy Xuân Diệu lưỡng lự không kém gì những thành viêncủa Nhân văn - Giai phẩm khi cân nhắc giá trị nghệ thuật của các tác phẩm trước vàsau cách mạng.
Để đánh giá lại quan điểm chung đã được đa số tán thành, coi Xuân Diệunhư một kẻ cuồng tín về tư tưởng cách mạng, có thể xem những lời bàn khá căngthẳng về sự nghiệp cách mạng của Xuân Diệu xuất hiện trong các tờ báo nhà nước và
tư nhân hồi năm 1956, qua đó ta thấy nhiều đồng nghiệp đương thời đánh giá nhữnglập ngôn lạc quan của nhà thơ, tuyên ngôn rằng mình đã chuyển hóa hoàn toàn từ chủnghĩa lãng mạn cá nhân sang chủ nghĩa tập thể Mác-Lê, là thiếu thuyết phục Một nhàtrí thức phê bình Xuân Diệu có “bệnh khoái cảm” - khoái cảm bệnh hoạn khi tả vềbạo lực chiến tranh trong thơ cách mạng, ngầm ám chỉ rằng cảm hứng sáng tác củaXuân Diệu không phải bắt nguồn từ lý tưởng cách mạng của chế độ(18) Ba nhà tríthức khác viết bài bật mí những thông tin tai tiếng về âm mưu lũng đoạn tổ chức đảng
từ hậu trường để mưu lợi riêng của nhà thơ, có ý chê Xuân Diệu là một cán bộ thoáihóa, vẫn giữ nguyên thói ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa như mọi người vẫn đánh giá trướckhi nhà thơ tham gia cách mạng(19) Vì sao sự nghiệp cách mạng của Xuân Diệu lạigây nhiều tranh cãi đến vậy trong giới trí thức Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và rốtcuộc, thái độ thực của nhà thơ đối với hệ tư tưởng của chế độ là như thế nào?
Giai đoạn tiền cách mạng của Xuân Diệu
Một yếu tố quan trọng quyết định vị thế tương quan giữa cá nhân Xuân Diệu
và Đảng Lao động Việt Nam là sự nghiệp sáng tác trước cách mạng của nhà thơ Sinhnăm 1916, ông sống với mẹ đẻ (là vợ hai của cha ông) suốt những năm tháng thơ ấungay tại làng quê của bà gần kề thành phố cảng Quy Nhơn Năm ông mười một tuổi,
Trang 6cha ông (lúc đó đang dạy học) và mẹ kế quyết định đã đến lúc cậu bé Xuân Diệu phải
xa người mẹ đẻ, đến sống chung với họ tại thành phố Quy Nhơn để bắt đầu theo học
ở một trường tiểu học gần nhà Sau đó, ông học tiếp lên các cấp cao hơn và giànhđược văn bằng của hai trường thuộc địa danh tiếng nhất, là trường Lyceé duProtectorat (thường gọi là trường Bưởi) và trường Quốc học Huế(20) Năm ông 19tuổi, tức là vào năm 1936, Xuân Diệu bắt đầu có thơ đăng trên các tờ báo có liênquan mật thiết với nhóm Tự lực Văn đoàn và Phong trào Thơ mới - cả hai đều chịunhiều ảnh hưởng của chủ nghĩa lãng mạn Pháp và chủ nghĩa cá nhân Tây Âu Sựnghiệp của ông lên nhanh, và chẳng mấy chốc Xuân Diệu trở thành một trong nhữngtác giả quan trọng (nếu không muốn nói là quan trọng nhất) của Phong trào Thơ mới.Tiếng tăm của Xuân Diệu cũng nổi nhanh như sức lan tỏa của Thơ mới trong côngchúng Năm 1942, nhà phê bình văn học giai đoạn tiền chiến nổi tiếng Hoài Thanh đã
tả về nhà thơ trẻ Xuân Diệu trong tác phẩm có nhiều ảnh hưởng của mình về các nhàthơ hiện đại Việt Nam, Thi nhân Việt Nam: 1932-1941 như sau:
“Bây giờ khó mà nói dược cái ngạc nhiên của làng thơ Việt Nam hồi XuânDiệu đến Người đã tới giữa chúng ta một y phục tối tân và chúng ta đã rụt rè khôngmuốn làm thân với con người có hình thức phương xa ấy Nhưng rồi ta cũng quendần, vì ta thấy người cùng ta tình đồng hương vẫn nặng
Ngày một ngày hai cơ hồ ta không còn để ý đến những lối dùng chữ đặt câuquá Tây của Xuân Diệu, ta quên cả những ý tứ người đã mượn trong thơ Pháp Cáidáng dấp yêu kiều, cái cốt cách phong nhã của điệu thơ, một cái gì rất Việt Nam, đãquyến rũ ta.”(21)
Hai tập thơ đầu tay của Xuân Diệu, Thơ thơ (1938) và Gửi hương cho gió(1945) được người đương thời cho là kiệt tác Các nhà phê bình nhận thấy trong thơông có cảm nhận sâu sắc về tính phù du của thời gian và sự mong manh của cuộcsống, và cả hai điều này đều làm gia tăng lòng khát khao tuổi trẻ, mùa xuân và tìnhyêu toát ra từ những câu thơ của Xuân Diệu(22) Danh tiếng của Xuân Diệu khiến ôngtrở thành một đối tượng vô giá đối với các lãnh đạo cộng sản, những người sau này sẽthường xuyên yêu cầu ông trấn an dư luận về chính sách văn hóa
Ở Việt Nam, các nhà phê bình văn chương đã phong Xuân Diệu là ônghoàng thơ tình, và trong những năm gần đây, họ còn bắt đầu công khai thừa nhậnrằng các bài thơ tình của ông được lấy cảm hứng chủ yếu từ các mối tình đồng tínhcủa nhà thơ(23) Ngoại trừ bài báo của Nguyễn Quốc Vinh về biến thái trong vănchương Việt Nam thời thuộc địa, cho tới nay các học giả phương Tây thường tránh đềcập trực tiếp về xu hướng luyến ái đồng tính của Xuân Diệu(24) Hiển nhiên là họkhông muốn khai thác khía cạnh đời tư này của nhà thơ, nhưng mặt khác lại muốn thểhiện là mình có biết về điều đó, nhất là với các độc giả có kiến thức, nên các nhànghiên cứu thường chọn cách giải quyết vấn đề như Kim Ninh đã áp dụng trong cuốn
Trang 7sách xuất bản năm 2002 về Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của mình, Một thế giới đãhoán cải Bà viết, “Xuân Diệu, một ngôi sao sáng trong Phong trào Thơ mới, có thểdẫn Verlain và Rimbeau một cách thoải mái, cảm thấy gần gũi với những nhà thơPháp hiện đại này không kém gì các nhà thơ trẻ cùng thời ở Paris”(25) Những ngườiquen thuộc với văn thơ lãng mạn Việt Nam có thể nhận ra ngay lập tức rằng tác giảđang muốn liên hệ đến một bài thơ của Xuân Diệu trong đó đồng tính luyến ái đượcthể hiện trực tiếp nhất, bài “Tình trai”, ca ngợi mối tình cháy bỏng giữa hai nhà thơthuộc trường phái Biểu tượng của Pháp, Paul Verlain và Arthur Rimbaud:
Tôi nhớ Rimbaud với Verlaine,
Hai chàng thi sĩ choáng hơi men,
Say thơ xa lạ, mê tình bạn,
Khinh rẽ khuôn mòn, bỏ lối quen.
Những bước song song xéo dặm trường
Đôi hồn tươi đậm ngát hoa hương,
Họ đi, tay yếu trong tay mạnh,
Nghe hát ân tình giữa gió sương.
Kể chi chuyện trước với ngày sau;
Quên ngó môi son với áo màu;
Thây kệ thiên đường và địa ngục!
Không hề mặc cả, họ yêu nhau.
Khi các lãnh đạo đảng kết nạp Xuân Diệu vào tổ chức công khai Việt Minh,
họ đã tiếp nhận một thanh niên đầy tài năng và sức thu hút, đồng thời có lẽ cũng lànhân vật nổi tiếng có biểu hiện đồng tính lộ nhất ở Việt Nam tính đến thời điểm đó
Dù so ra vẫn là quá kín đáo theo tiêu chuẩn hiện tại, những bài thơ tiền chiến củaXuân Diệu có hàm chứa đề tài đồng tính, và rõ ràng là xu hướng đồng tính luyến áicủa Xuân Diệu không những là một nguồn cảm hứng quan trọng đối với thơ ông, màcòn là một phần bản ngã của nhà thơ Nhưng đương nhiên Đảng Lao động Việt Namkhông hề khuyến khích tự do luyến ái, đừng nói tới chuyện luyến ái đồng tính Để haibên có thể hợp tác với nhau được, cần phải có một số điều nhân nhượng
Giai đoạn mới tham gia cách mạng
Thời điểm đầu tiên Xuân Diệu va chạm với chủ nghĩa cộng sản có thể tínhvào tháng Sáu năm 1942, khi tổng thư ký Đảng Cộng sản Đông Dương, TrườngChinh sáng tác bài thơ “Là thi sĩ” đề tặng tất cả các nhà thơ Việt Nam, có nhữngdòng như sau:
Trang 8Nếu “thi sĩ là ru với gió,
Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây”
…
Nếu thi sĩ nghĩa là đem gấm vóc
Phủ lên trên xã hội đã điêu tàn,
Véo von ca cho át tiếng kêu than
Của nhân loại cần lao đang giãy giụa
Thì bạn hỡi, một nhà thơ như rứa
Là tai ương chướng họa của nhân quần,(26)
Được sáng tác trong lòng thành phố Hà Nội đang bị Nhật tạm chiếm, bài thơcủa Trường Chinh kêu gọi các Văn nghệ sĩ, bất kể theo hệ tư tưởng hay trường pháinào, hãy trút bỏ những mối quan tâm cá nhân và tiếp nhận sự nghiệp cách mạng củadân tộc Đúng ra, Trường Chinh đã dẫn hai câu đầu tiên từ bài thơ “Cảm xúc” củaXuân Diệu viết năm 1938 để làm lời mở đầu cho bài “Là thi sĩ” của mình, dường nhưchính nhà thơ lãng mạn nổi tiếng đã tạo cảm hứng chủ đạo cho sáng tác của ông tổng
bí thư(27) Hai năm sau, vào năm 1944, Xuân Diệu bắt đầu mang văn tài của mình raphục vụ cho Việt Minh - tổ chức công khai của Đảng Cộng sản Đông dương(28) Đốivới nhà thơ, cũng như một số trí thức khác đã nổi tiếng từ thời trước cách mạng, điều
đó có nghĩa là làm việc trong Hội Văn hóa Cứu quốc và tờ báo văn hóa cách mạngTiên Phong, được xuất bản ở Hà Nội trong thời kỳ Việt Minh nắm chính quyền, từnăm 1945 đến 1946 Với uy tín khá cao của Xuân Diệu, vừa là thi sĩ lãng mạn vừa cókinh nghiệm làm việc với tờ báo được coi là hàng đầu trong giai đoạn tiền cách mạngcủa nhóm Tự lực Văn đoàn, tờ Ngày Nay, việc ông được chọn làm thư ký tòa soạn(tên gọi cũ cho vị trí tổng biên tập) không làm ai ngạc nhiên Tới cuối năm 1945, ôngcòn được chọn lựa để ra tranh cử vị trí đại biểu tỉnh Hải Dương trong kỳ bầu cử sắptới của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (tổ chức vào ngày 6 tháng Giêng năm 1946).Đương nhiên, ông - cũng như những ứng cử viên được đảng chọn khác, đã đắc cửtrong kỳ bầu cử tại tỉnh và trở thành thành viên Quốc hội mới của Việt Nam Dân chủCộng hòa(29) Vào tháng Năm năm đó, Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng mời XuânDiệu và một vài đại biểu Quốc hội khác cùng đi trong đoàn ngoại giao của Việt NamDân chủ Cộng hòa tới Fontainebleau để hội đàm với Pháp
Khi những đoàn quân và xe tăng Pháp trở lại Hà Nội vào cuối năm 1946 đểtái thiết chế độ thực dân ở Đông Dương, các thành viên Việt Minh đang làm việc ởthành phố phải tản cư ra vùng nông thôn Đa số cán bộ Việt Minh tản ra ba hướngBắc, Tây và Nam của đồng bằng sông Hồng để tránh hướng tấn công của Pháp từ HảiPhòng vào phía Đông Hà Nội Đợt tiến công sau đó của quân Pháp cắt ngang Hà Nội,
Trang 9tiến về hướng Tây đã khiến Xuân Diệu và các trí thức khác (một số cùng đi với cả giađình) phải liên tục di chuyển trong sáu tháng đầu của cuộc chiến Tới giữa năm 1947,cuối cùng Xuân Diệu và văn hữu đã tìm được nơi sơ tán ở một ngôi làng nhỏ có tên làGia Điền ở cực bắc tỉnh Phú Thọ Ẩn giữa những dãy đồi có nhiều cây cối rậm rạp,làng Gia Điền là nơi trú ẩn lý tưởng và không bao lâu sau được chọn làm trụ sở cơquan văn học kháng chiến(30).
Tháng Ba năm 1948, Xuân Diệu cùng với các nhà văn khác ở Gia Điền bắtđầu xuất bản tạp chí văn hóa mới lấy tên là Văn nghệ Thực chất tạp chí này chỉ là sựtiếp nối, cộng với sự thể hiện tư tưởng Mác-Lê công khai hơn so với tờ Tiên Phongđang xuất bản ở Hà Nội trước khi Pháp quay lại Bốn tháng sau, tức là tháng Bảy năm
1948, Xuân Diệu cùng với vài chục nhà trí thức cách mạng khác tham dự hai hội nghịquan trọng tổ chức tại Phú Thọ Hội nghị thứ nhất là Hội nghị Văn hóa Toàn quốc lầnthứ hai (từ ngày 16 đến ngày 20 tháng Bảy năm 1948), với việc thành lập Hội Vănhóa Việt Nam, nhưng sự kiện nổi tiếng nhất phải là bài diễn văn tại hội nghị này củaTrường Chinh với nhan đề “Chủ nghĩa Mác và vấn đề Văn hóa Việt Nam” Trongsuốt bốn thập niên sau đó, lãnh đạo đảng luôn đề cao tác dụng của bài diễn văn nhưmột định hướng lý thuyết cho tất cả những người làm văn hóa Ngày 23 tháng Bảynăm 1948, ba ngày sau khi kết thúc Đại hội Văn hóa Toàn quốc lần II, một hội nghịnhỏ hơn - Hội nghị Văn nghệ Toàn quốc, được tổ chức, dẫn đến sự ra đời của HộiVăn nghệ Việt Nam Nhà thơ trẻ Xuân Diệu, lúc đó mới 32 tuổi, chắc rất hài lòng khiđược chọn vào cơ quan điều hành quyền lực nhất của Hội, giữ ghế thành viên Banthường vụ chỉ gồm năm người(31)
Năm sau, tức là năm 1949, lãnh đạo đảng quyết định dời trụ sở cơ quan vănhóa về huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên ngay gần an toàn khu của Trung ương Đảngđang đóng tại Định Hóa Huyện Đại Từ - chỉ cách chỗ ở của các nhà lãnh đạo như HồChí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp vài cây số về phíaNam, là nơi Xuân Diệu sinh sống trong suốt 5 năm cuối của cuộc kháng chiến Ngày
5 tháng Mười một năm 1949, Hồ Chí Minh ký văn bản thông báo rằng tình hình mới
- nhất là thắng lợi của Đảng Cộng sản Trung Quốc - cho phép thành lập một đơn vịhành chính mới, trải rộng từ các tỉnh phía Bắc Hà Nội lên tới biên giới Trung Quốc.Vùng này sẽ được gọi là “Liên khu Việt Bắc” Với trụ sở trung ương đảng đóng tạiThái Nguyên, đảm bảo đường kết nối với Trung Quốc - nguồn tiếp liệu chiến tranhchủ yếu của Việt Minh, Việt Bắc thực sự là đầu não của cuộc kháng chiến(32)
Xuân Diệu được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam năm 1949, khi ảnhhưởng của Đảng Cộng sản Trung Quốc đối với cuộc kháng chiến của Việt Minh đangtăng cao(33) Mối quan hệ này, cộng với sự kiện Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đượcLiên Xô và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chính thức công nhận về ngoại giao có vẻ
đã khiến Hồ Chí Minh và các lãnh đạo cao nhất của Đảng Lao động Việt Nam mạnh
Trang 10dạn hơn và công khai thừa nhận tư tưởng Mác-Lê là nền tảng của đường lối lãnh đạocách mạng Kết quả của sự chuyển hướng này là việc áp dụng biện pháp chỉnh huấncủa Liên Xô và Mao, một kỹ thuật cải tạo tư tưởng sử dụng “phê bình và tự phê bình”
để chuẩn bị tinh thần cho cán bộ chính trị và chiến sĩ trước những nhiệm vụ cáchmạng khó khăn
Chính trong hai tối chỉnh huấn vào năm 1952, Xuân Diệu đã phải trả giá chothói lang chạ đồng tính của mình và mất chiếc ghế ủy viên Ban Thường vụ Hội Vănnghệ Nhà văn cách mạng Tô Hoài, một người tình của Xuân Diệu trong nhiều năm,hồi tưởng lại những buổi tối đó như sau:
“Xuân Diệu chỉ ngồi khóc Chẳng biết Nam Cao, Nguyễn Huy Tưởng, TrọngHứa, Nguyễn Văn Mãi, cả lão Hiến, thằng Nghiêm Bình, những thằng Đại, thằngĐắc, Tô Sang và mấy thằng nữa, có ai ngủ với Xuân Diệu không, tất nhiên không ainói ra Tôi cũng câm như hến Lúc rồ lên, trong đêm tối quyết rũ, mình cũng điên kia
mà, chứ có phải một mình Xuân Diệu đâu Không nói cụ thể việc ấy, nhưng ai cũng
to tiếng, to tiếng gay gắt, nghiêm trang phê phán “tư tưởng tư sản, tư tưởng tư sảnxấu xa phải chừa đi.” Xuân Diệu nức nở nói đấy là tình trai của tôi… tình trai…” rồinghẹn lời, nước mắt ứa ra, không hứa hẹn sửa chữa gì cả.”(34)
Theo Tô Hoài, sau khi Xuân Diệu bị truất ghế ủy viên Ban Thường vụ HộiVăn nghệ, “bỗng dưng, Xuân Diệu thành một người có thì giờ chỉ chuyên đi vàviết(35)
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7 tháng Năm năm 1954, tiếp theo làHiệp định Geneva được ký kết hai tháng sau đó, chính xác là ngày 21 tháng Bảy năm
1954, cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc Đối với Xuân Diệu và các văn nghệ sĩViệt minh khác, cùng với hầu hết các nhà lãnh đạo cách mạng ở Liên khu Việt Bắc,
đã đến lúc rời chiến khu để trở về Hà Nội trong vai người chiến thắng - nhưng phảixuất bản nốt số cuối của tờ Văn nghệ đã Trong số tháng Mười này, Xuân Diệu đăngmột lá thư gửi tất cả những nhà văn đã quyết định ở lại Hà Nội trong thời gian Pháptạm chiếm Lá thư thể hiện phong cách bút chiến đại ngôn lên gân mà Xuân Diệuthường sử dụng (phong cách này rõ ràng đã góp phần tạo cho Xuân Diệu được tiếng
là người có lập trường tư tưởng vững vàng):
“Có những người vì hoàn cảnh nào đó mà làm cho địch, tiếng hát đã bán chođài phát thanh địch, mà tâm hồn chảy máu không thôi Muốn vùi đầu quên thân trongson phấn trăng hoa rượu tiệc, mà khuya về, tiếng nói của lương tâm, tiếng nói của vănnghệ chân chính không để cho mình nhắm mắt Ta có phải là ta nữa không? Sao cổhọng, ngòi bút, tài năng của ta lại làm đồ dùng cho chiến tranh và xâm lược? Nhữngngười đau khổ ấy vẫn là bạn, vì tâm hồn văn nghệ vẫn sống dưới đáy lòng.”(36)
Trang 11Dù văn nghệ sĩ Việt Nam bị chia cách bởi chiến tranh, và trong nhiều trườnghợp, bởi quan điểm chính trị trái ngược, nhưng tình cảm đồng nghiệp giữa họ vớinhau, có vẻ vẫn được duy trì, tuy có bị phai mòn Nói cách khác, những người đãtừng làm việc cho Pháp hay chỉ đơn thuần đã không làm gì để ủng hộ Việt Minhtrong cuộc chiến cũng có thể tìm được cuộc sống mới dưới chế độ cộng sản Tuynhiên, đi cùng với vòng nguyệt quế mừng chiến thắng là những yêu cầu và điều kiện,
mà Xuân Diệu đã giải thích với giọng thuyết giảng hùng biện đặc trưng:
“Văn nghệ đã căm thù quyết liệt cái thòng lọng đế quốc hung tàn Quyếtkhông một nét vẽ, một câu thơ, một bài văn, một tiếng đàn, một giọng hát, một mànkịch, một điệu múa nào cho địch! Quyết không bao giờ đem bông hoa sáng tạo vứtxuống bùn nhơ! Quyết không để cho cái tinh anh của con người mập mờ với xâmlăng và ngu tối! Mà trái lại, từ đây hơn bao giờ hết rạch ròi ranh giới, vạch rõ trắngđen giữa tà và chính, giữa giả và chân, giữa địch và TA! Đó là vấn đề sống chết củanhững con người văn nghệ.”(37)
Để ghi nhận những cống hiến của Xuân Diệu với cách mạng trong tám nămkháng chiến, lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam đã cấp cho ông và người bạn suốtđời của ông, Huy Cận, một nhà thơ nổi tiếng đồng thời là quan chức văn hóa cao cấpcủa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa một căn biệt thự Pháp rộng rãi trên phố Cột Cờ (nay
là đường Điện Biên Phủ) Bất động sản cao cấp này có thể được coi như một tín hiệucủa giới lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam rằng mọi nhu cầu vật chất của Xuân Diệu
sẽ được quan tâm thỏa đáng nếu ông tiếp tục phục vụ sự nghiệp của họ một cáchtrung thành Về nhu cầu tình cảm và sinh lý của nhà thơ, lãnh đạo đảng cũng cố gắngtạo điều kiện Dù có quan điểm khắt khe và bảo thủ về hôn nhân và tình dục, họ cũngsẵn lòng làm ngơ cho trường hợp của Xuân Diệu, cho phép ông được sống chung mộtnhà với Huy Cận Nhưng có lẽ đáng ghi nhận hơn là việc cả hai nhà thơ đều sốngchung nhà với bà Ngô Xuân Như, người em gái cùng cha khác mẹ với Xuân Diệu và
là vợ của Huy Cận Cuộc hôn nhân của họ cho ra đời một người con trai vào năm
1957 và chỉ kéo dài thêm vài năm sau đó, rồi hai người chia tay Huy Cận tái hônnăm 1964 và có thêm ba người con(38)
Khi cuộc kháng chiến chống Pháp sắp kết thúc, Xuân Diệu cũng đã thu xếpcho mẹ đẻ mình, lúc này đã già yếu, từ Quy Nhơn ra Hà Nội để tiện chăm sóc Emtrai nhà thơ, ông Ngô Xuân Huy, quyết định ở lại miền Nam, nơi ông hưởng mộtcuộc sống lặng lẽ với nghề viết văn độc lập dưới bút danh Tịnh Hà không mấy nổitiếng(39)
Trong kế hoạch tiếp quản Hà Nội, lãnh đạo đảng quyết định chuyển đổi tờVăn nghệ từ một nguyệt san có phần thô sơ về hình thức phát hành ở chiến khu,thành một tờ bán nguyệt san quy mô hơn - có thể sánh với các ấn bản văn hóa, tríthức của Hà Nội thời Pháp tạm chiếm Một thay đổi nữa là ban điều hành tờ báo Sau
Trang 12bốn năm để trống chức vụ thư ký toàn soạn chính thức của tờ báo, các lãnh đạo vănhóa của chế độ mới quyết định phục hồi vị trí này Tương tự như trường hợp của tạpchí cách mạng xuất bản tại Hà Nội trước đây, tờ Tiên Phong (1945-1946), chức vụnày rơi vào tay Xuân Diệu Có thể họ đã tính toán rằng, những nhà trí thức khôngtheo cách mạng, nhiều người trong số đó đang cân nhắc xem có nên di cư vào Namkhông, sẽ thấy yên tâm hơn khi tên tuổi nhà thơ lãng mạn nổi tiếng xuất hiện trên bìa
ấn phẩm văn hóa quan trọng nhất của chế độ mới (Trên thực tế, tên Xuân Diệu được
in với cỡ chữ to gấp đôi tên các thành viên khác trong ban biên tập) Dù với lý do gì
đi nữa, việc được bổ nhiệm vào vị trí thư ký tòa soạn tờ Văn nghệ vào thời điểm bản
lề hẳn có tác dụng như một thông điệp bảo đảm với nhà thơ rằng, dù gặp rắc rối vìquan hệ đồng tính luyến ái hai năm trước đó, tài năng và uy tín của ông trong lĩnhvực văn hóa vẫn được đánh giá cao trong chế độ mới mà nhà thơ đang phụng sự
(còn tiếp)
Lại Nguyên Ân và Alec Holcombe - Con tim và lý trí của thi sĩ Xuân Diệu: giai đoạn 1954 - 1958 (phần 2)
Đông Hiến dịch
Cuộc tranh luận về tập thơ Việt Bắc
Trong chín tháng giữ vai trò cầm lái tờ Văn nghệ, từ ngày mồng 1 thángMười một năm 1954 đến ngày mồng 4 tháng Tám năm 1955, Xuân Diệu trải qua mộtgiai đoạn có thể coi là ly kỳ nhất trong cuộc đời tham gia cách mạng của ông Vớichức vụ thư ký tòa soạn, Xuân Diệu cầm trịch cuộc tranh luận văn học quan trọng vềtập thơ Việt Bắc của Tố Hữu, người đã được lãnh đạo đảng chọn để đứng đầu mặttrận văn hóa Cách Xuân Diệu xử lý cuộc tranh luận có vẻ đã làm lãnh đạo đảngkhông hài lòng, và có thể chính điều đó đã dẫn đến quyết định phải thay người khácvào vị trí thư ký tòa soạn báo Văn nghệ
Trong hai tháng đầu tiên, Xuân Diệu đã để cho cuộc tranh luận diễn ra nhưmột sự kiện tranh luận văn học thực sự, cho in một số bài phê bình Việt Bắc khá nặngcùng với những bài khen ngợi(40) Nhưng dưới quan điểm “văn học không thể tách rờichính trị” của chế độ, tranh luận công khai về thơ của Tố Hữu cũng có nghĩa là tranhluận về quan điểm chính trị của ông ta Và đương nhiên, phe phê phán chẳng bao lâusau bắt đầu đặt câu hỏi về lập trường của Tố Hữu theo hệ tư tưởng Mác-Lê, ngầm ýchất vấn quyết định của lãnh đạo khi giao trọng trách cho Tố Hữu ở vị trí quyền lựcnhất trong lĩnh vực văn hóa Nguyên nhân vì sao lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam
để cho cuộc tranh luận kéo dài đến thế vẫn là điều chưa được giải đáp Một cách giảithích khả dĩ là cuộc tranh luận diễn ra trong thời điểm còn nhiều căng thẳng đối vớigiới lãnh đạo chế độ mới, khiến họ e ngại nếu can thiệp không khéo sẽ làm bất bình
Trang 13số đông trí thức cách mạng, những người coi việc tranh luận chuyên môn là một phầnbình thường của đời sống trí thức.
Trong thời gian đó, nạn đói xảy ra ở hầu khắp các vùng nông thôn miền Bắc.Lúc đó đang là tháng Tư, một tháng trước vụ chiêm Ngay cả trong những năm đượcmùa, người nông dân Bắc Việt vẫn thường thiếu ăn vào thời điểm này Ba văn bảnliên tiếp của Bộ Chính trị kêu gọi cứu đói trên toàn miền Bắc (vào các ngày mồng 9,
16 và 29 tháng Tư năm 1955) cho thấy tình hình căng thẳng đến mức nào(41) Một vấn
đề lớn nữa thu hút sự quan tâm của giới lãnh đạo vào thời điểm này là cuộc di cư lớncủa người dân miền Bắc vào Nam Hiệp định Geneva đã ấn định khung thời gian batrăm ngày tự do đi lại giữa hai miền Nam - Bắc từ tháng Bảy năm 1954 đến tận thángNăm năm 1955 Đối với các nhà lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, những người
tự gọi chế độ của mình là “dân chủ nhân dân”, việc gần một triệu người miền Bắc di
cư vào Nam được coi là một thất bại lớn về thể diện Đoạn văn dưới đây, trích từ Chỉthị 07 của Bộ Chính trị ban hành ngày 16 tháng Hai năm 1955 cho thấy phần nào mốiquan ngại của lãnh đạo đảng về vấn đề di cư và tác động của nó đối với hình ảnhquốc tế của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa:
“Chọn một vài địa điểm điển hình để tổ chức cho đồng bào đi (khu chọn rồi
đề nghị với Trung ương) Nếu mờ cả Ủy Ban quốc tế đến để chứng kiến việc đó.Những nơi này phải là nơi có cơ sở quần chúng của ta, khi tổ chức cho quần chúng đithì chỉ có số ít xin đi, như thế mới có lợi cho ta Khi làm việc này phải chuẩn bị chuđáo, giải quyết thật nhanh
Phải có kế hoạch trấn áp phản động, tăng cường canh gác, kiểm soát, đềphòng địch lợi dụng dịp này thúc đẩy quần chúng tập trung, gây khó khăn cho ta.”(42)
Tố Hữu, tác giả của tập thơ Việt Bắc, lúc đó mới ba mươi lăm tuổi, là mộtngười gốc Huế gia nhập Đảng Cộng sản Đông dương từ năm 1938 và thăng tiến rấtnhanh qua các cấp ủy Khi tập thơ được xuất bản, ông ta đang được cân nhắc vào vịtrí ủy viên Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, một việc sẽ xảy ra trong năm
1955(43) Một biểu hiện nhỏ cho thấy lãnh đạo đảng đánh giá tập thơ Việt Bắc cao đếnthế nào là quyết định trích ngân sách hẹp hòi để cho in tập thơ với số lượng hai mươinghìn bản, một con số ấn bản lớn chưa từng có(44) Về nội dung, Việt Bắc là sự thểhiện bằng thơ quan điểm của Mao về “chiến tranh nhân dân”(45) Tố Hữu tả toàn thểdân tộc Việt Nam đều cống hiến trọn vẹn tâm hồn và lý trí cho công tác đấu tranhcách mạng: từ người nông dân đi phá đường cho đến người lính pháo binh công tậpđồn Pháp, từ người phụ nữ tải đạn ra chiến trường đến em nhỏ làm giao liên cho dukích Việt Minh Ông ta nồng nhiệt ca ngợi Hồ Chí Minh, Stalin, Mao và Đảng Laođộng Việt Nam Việt Bắc còn bao gồm các bài dịch từ dân ca Nam Tư và một số bàithơ nước ngoài khác - hai bài của nhà thơ Liên Xô Konstantin Simonov, một của nhà
Trang 14thơ cộng sản Pháp Louis Aragon, và một của nhà thơ cộng sản Mỹ Ethel Rosenberg,
đã bị tử hình với tội danh gián điệp vào năm 1953
Bài báo đầu tiên giới thiệu tập thơ của Tố Hữu với công chúng do một cán
bộ chính trị xuất thân từ tỉnh Nghệ An tên là Xuân Trường viết được đăng trên số Tết(ngày 24 tháng Giêng năm 1955) của tờ báo chính thống của đảng -Nhân dân(46) Bàibáo được viết theo dàn bài tiêu chuẩn của một văn kiện báo cáo đảng: giới thiệu, ưuđiểm, khuyết điểm và kết luận Trong suốt cả bài gồm hai mươi chín đoạn văn, chỉ cóhai đoạn bàn về khuyết điểm của tập thơ Việt Bắc Hai đoạn đó chủ yếu vạch ra rằng
Tố Hữu cần phải “cụ thể” hơn khi tả “người nông dân tham gia cách mạng” và “đảngTiên Phong của dân tộc” Xuân Trường viết “chúng ta rất tiếc rằng Tố Hữu chưa nóilên hộ lòng biết ơn, sức tin tưởng của hàng chục triệu con người đảng viên và quầnchúng đối với Đảng tiên phong của giai cấp công nhân.”(47)
Ba tuần sau, vào ngày 15 tháng Hai năm 1955, Xuân Diệu cho đăng trên Vănnghệ phần đầu của bài nhận xét dài của chính ông về tập thơ của Tố Hữu Cũng nhưbài viết của Xuân Trường, ông giữ đúng cấu trúc tiêu chuẩn của một bản báo cáochính trị Trong bài viết gồm bảy mươi đoạn văn, Xuân Diệu dành sáu mươi đoạn để
ca ngợi ưu điểm của tập thơ:
“Từ 1932 đến 1945, trong khi các nhà thơ khác đắm chìm trong phong trào
“thơ mới” mơ mộng, than khóc, u sầu, Tố Hữu đã đi tiên phong, hát những bài catranh đấu.”…
Con đường ngót 20 năm nay Tố Hữu đã đi là một con đường vinh quang, kỳdiệu Chỗ kỳ diệu lớn lao là nhà thi sĩ làm cách mạng, và nhà cách mạng làm thơ, vàthơ rất thành công…
Cách mạng càng ngày càng thắng lợi, càng to lớn, đồng thời cũng đưa tài thơcủa Tố Hữu nở dần đến chỗ tròn đầy, lộng lẫy Đó là sự tương quan mật thiết giữahành động và văn chương, và Tố Hữu là điển hình đẹp nhất.”(48)
Trong phần đầu của đoạn trích nêu trên, Xuân Diệu dường như đang xưngtội về quá khứ của chính mình khi tham gia Thơ mới Phải chăng mười năm dưới sựdẫn dắt của đảng đã chuyển hóa hoàn toàn nhà thơ lãng mạn nổi tiếng Xuân Diệu? Có
vẻ là như vậy, cho đến khi chúng ta đọc đoạn thứ mười của bài với những dòng XuânDiệu viết về nhược điểm của tập thơ Tại đó, nhà thơ nhẹ nhàng chỉ ra rằng tập thơViệt Bắc “nặng về tình cảm xã hội mà gần như bỏ qua tình cảm cá nhân” Trong mộtkhổ khác, ông viết, “Con người cán bộ trong Tố Hữu bao trùm con người thường” Ởđây, những lời phê bình của Xuân Diệu dường như có hàm ý đề cao tính chủ quan -cho phép con người ta có thể thay đổi bản chất để phù hợp với hoàn cảnh Không mộtbài viết nào khác về Việt Bắc đưa ra một ý kiến tương tự như thế Từ đó, người đọc
có thể suy diễn một cách hợp lý rằng, theo Xuân Diệu, tính chủ quan của con người
Trang 15rất phức tạp, không thể đánh giá theo một yếu tố chung nào hết - như giai cấp chẳnghạn Trong phần sau của bài viết, Xuân Diệu bổ sung thêm rằng thơ Tố Hữu “nặng vềtình cảm xã hội, tình cảm tập thể ” mà “hầu như không nói đến những tình cảm của
cá nhân”(49) Không rõ Xuân Diệu có ý thức được điều này không, nhưng rõ ràng việcông chiếu tướng Tố Hữu về tình cảm cá nhân và khả năng một con người có thểmang nhiều diện mạo tiềm ẩn nguy cơ thách thức học thuyết chính thống cao hơn rấtnhiều so với yêu cầu của Xuân Trường về việc cần tả cụ thể về đảng tiên phong vàquần chúng hàm ơn
Ngày 11 tháng Ba năm 1955, hai tuần sau khi đăng bài bình luận của chínhmình, Xuân Diệu duyệt và cho đăng bài phê bình Việt Bắc của Hoàng Yến, một nhàphê bình văn học trong quân đội gần như chưa được ai biết đến Với nhan đề “Tậpthơ Việt Bắc có tính hiện thực hay không?”, bài phê bình phân tích năm bài trong tậpthơ để đi đến kết luận chung rằng những suy nghĩ, từ ngữ và hành động của các nhânvật trong Việt Bắc trong những tình huống quan trọng có vẻ không hiện thực vàkhông thể hiện được tính phong phú và vĩ đại của cách mạng(50) Ngoài bài viết củaHoàng Yến, Văn nghệ còn mời độc giả viết thư để đóng góp phản hồi về tập thơ ViệtBắc đồng nghĩa với việc mở rộng diễn đàn tranh luận cho công chúng
Trong một tháng rưỡi sau đó, Xuân Diệu, trong vai trò thư ký tòa soạn Vănnghệ, đã cho đăng tiếp năm bài phê bình Tố Hữu, có nhiều điểm cho rằng ông ta kém
về năng lực lãnh đạo, thơ thì tầm thường và quan điểm cách mạng “tiểu tư sản có hệthống”(51) Chắc chính lời phê về “tiểu tư sản” đó đã làm lãnh đạo đảng nhức nhốinhất vì họ đã chọn Tố Hữu, cùng với các Ủy viên Trung ương là Lê Văn Lương vàHoàng Quốc Việt giám sát công tác chỉnh huấn tư tưởng, với mục tiêu chính là gạt bỏnhững “tư tưởng tiểu tư sản” khỏi đầu óc các đảng viên(52)
Trong suốt năm tuần, Xuân Diệu đã duy trì gần như cân bằng những bài viếttheo hai hướng khen và chê tập thơ của Tố Hữu, như thể ông đang trở lại làm việccho tờ Ngày Nay của Tự lực Văn đoàn vậy Rồi bỗng nhiên, sau số Văn nghệ ra ngày
1 tháng Năm năm 1955, ông xoay ngược một trăm tám mươi độ, cho đăng toànnhững bài khen ngợi tập thơ hết lời Sự trùng hợp về thời gian giữa việc thay đổiđường lối nói trên và cái mốc ba trăm ngày tự do đi lại giữa hai miền Nam Bắc (đến
18 tháng Năm 1955) gợi cho ta thấy hình như việc tự do đi lại cũng là một yếu tốquyết định cách chính quyền xử lý cuộc tranh luận Những bài viết phê phán Việt Bắc
bị ngừng đăng kể từ số Văn nghệ ngày 10 tháng Năm 1955, nhưng đến thời điểm đó,
đã quá muộn để biến cuộc tranh luận thành đợt tuyên truyền cho thơ Tố Hữu - nhữngnhà phê bình trẻ đã gây tổn thất nặng nề cho danh tiếng tập thơ Việt Bắc Không mộtbài bình luận tiếp theo nào, dù ca ngợi không tiếc lời về lòng yêu nước và văn tài của
Tố Hữu, có thể đảo ngược lại được những lời phê bình về nhược điểm của Việt Bắc
mà Xuân Diệu đã cho đăng trên những trang báo trước đó của tờ Văn nghệ
Trang 16Ngoài quyết định chuyển hướng đột ngột trong cuộc tranh luận về Việt Bắc,
có ba điểm khác cho thấy hình như cách xử lý vấn đề của Xuân Diệu lúc ban đầukhông theo quan điểm của lãnh đạo đảng Một là, không một tờ báo nào khác củađảng ngoài tờ Văn nghệ đăng bài chê tập thơ Việt Bắc(53) Các tổng biên tập củanhững tờ báo khác dường như hiểu được ý của lãnh đạo đảng muốn họ giữ vai trò gìtrong cuộc tranh luận: đăng các bài khen Việt Bắc để bài chê của Hoàng Yến trởthành hiện tượng cá biệt, qua đó cho thấy Tố Hữu được sự ủng hộ của đa số quầnchúng Việt Nam Hai là, không bao lâu sau, lãnh đạo quyết định thay Xuân Diệu vàđưa Nguyễn Đình Thi, một quan chức văn hóa cứng rắn vào vị trí thư ký tòa soạn báoVăn nghệ, người đặt dấu chấm hết cho cuộc tranh luận về Việt Bắc một thời gianngắn sau đó(54) Bằng chứng thứ ba là ý kiến nhận định về cuộc tranh luận của mộtquan chức văn hóa cao cấp, Hoài Thanh (tác giả cuốn Thi nhân Việt Nam: 1932 -
1941 đã được nhắc đến ở phần trên) Trong một bài nhận xét về hoạt động văn họcnăm 1955, ông ta viết: “Về mặt phê bình cũng phạm nhiều sai lầm thiếu sót Công tácphê bình ít được chú ý Thỉnh thoảng có một cuộc phê bình như cuộc phê bình tập thơViệt Bắc thì lại có tính chất tự phát, thiếu chuẩn bị, thiếu mục đích rõ ràng, thiếu kếthợp với yêu cầu đấu tranh chính trị và tư tưởng.”(55)
Ý của Hoài Thanh là, Xuân Diệu, với vai trò thư ký tòa soạn Văn nghệ đãkhông quan tâm đầy đủ đến những bài phê bình Việt Bắc, cho đăng những bài khôngphù hợp với “yêu cầu của cuộc đấu tranh chính trị và tư tưởng” Nói cách khác, ôngkhông hiểu được rằng Văn nghệ đúng ra phải đóng vai trò là một cơ quan văn hóacủa đảng Đặt trong hoàn cảnh đất nước ba năm rưỡi sau đó, cách ông xử lý cuộctranh luận - nhất là để cho mọi tầng lớp trí thức trong nước công khai và trực tiếpchất vấn năng lực chuyên môn của một quan chức cao cấp của đảng như Tố Hữu - làđiều không thể tưởng tượng được(56)
Xuân Diệu và Walt Whitman
Như đã đề cập ở phần trước, trong hai đêm Xuân Diệu tham gia chỉnh huấnvào năm 1952, vấn đề lang chạ đồng tính của Xuân Diệu bị đem ra để “phê và tựphê” Theo nhà văn Tô Hoài, những người tham gia buổi chỉnh huấn đêm đó đã liên
hệ xu hướng luyến ái đồng tính của nhà văn lãng mạn nổi tiếng với “tư tưởng tiểu tưsản xấu xa” của ông - điều mà Xuân Diệu nhất quyết từ chối trong nước mắt Sau đợtchỉnh huấn, ông bị đưa ra khỏi Ban Thường vụ Hội Văn nghệ, một tai nạn nghềnghiệp vẫn làm ông nhức nhối nhiều năm sau đó(57) Vì quá nhiều bài thơ lãng mạnnổi tiếng của ông có cảm hứng từ đề tài luyến ái đồng tính, và vì ông có biểu hiện coi
đó là một phần của chính mình, không thể thay đổi ngay cả với quyền năng chuyểnhóa của cách mạng, bài tiểu luận được ít người biết của Xuân Diệu viết về WaltWhitman đăng trên số ra ngày 5 tháng Giêng năm 1956 của tờ Văn nghệ cần đượcnghiên cứu kỹ(58)
Trang 17Quyết định viết về nhà thơ Mỹ không phải là một lựa chọn liều lĩnh về mặtchính trị, vì chính những người gác cửa văn học chính thống của Liên Xô cũng đãtặng cho Whitman danh hiệu “nhà thơ cách mạng” từ trước đó rất lâu Dù đã tạ thế,
sự nghiệp cách mạng của nhà thơ Mỹ này có thể coi như được khởi đầu ở Nga vàonăm 1905, khi những nhà cách mạng Nga tại hải ngoại phụ trách tờ Tia lửa (Iksra),
cơ quan của Đảng Lao động Dân chủ Xã hội Nga (lúc đó đặt trụ sở tại Geneva-ThụySỹ), chọn một bài thơ của ông vào “tuyển tập thi ca cách mạng” Hơn thế nữa,Whitman còn được nhân vật nổi tiếng nhất trong văn giới Liên Xô - nhà biên dịch,viết tiểu luận và thơ thiếu nhi Kornei Chukovsky (1882-1969) chọn làm đề tài nghiêncứu chuyên sâu(59) Chukovsky đã đăng bài viết đầu tiên về nhà thơ Mỹ “Phong tràohâm mộ Whitman ở Nga” trong tạp chí của trường phái Tượng trưng Vesy vào năm
1906 Phần lớn nội dung bài viết đó được Chukovsky dành để phê phán những bàidịch thơ Whitman của Konstantin Balmont, một nhà thơ Tượng trưng Sự công kíchcủa Chukovsky đã khơi mào cho một cuộc tranh luận sôi nổi về nghệ thuật biên dịchgiữa hai người yêu thơ Whitman trên các trang báo của tờ Vesy Sau đó, giới lãnhđạo văn hóa Liên Xô ủng hộ Chukovsky, giúp ông đủ quyền lực để nâng quan điểm
về dịch thuật của mình trong cuộc tranh luận trước đó về Whitman thành tiêu chuẩnchính thống, thành các nguyên tắc chung cho mọi hoạt động dịch thuật của Liên
Xô(60)
Vì Whitman vừa sử dụng thể thơ tự do vừa có quan điểm triết học duy tâmgiống như các nhà thơ trường phái Tượng trưng của Pháp - những người có ảnhhưởng quan trọng đến dòng thơ lãng mạn của Xuân Diệu, có thể ông đã biết rõ về tácgiả của tập Lá cỏ từ trước khi tham gia cách mạng(61) Không biết ông có biết vềWhitman sớm đến thế không, nhưng ít nhất Xuân Diệu hẳn phải nghe nói đến nhà thơnày vào cuối năm 1945, khi một bài báo đăng trên Tiên Phong vào tháng 12 năm
1945 có nhắc đến nhà thơ Mỹ này Với tiêu đề “Một lá thư ngỏ của Hội Văn hóa Cứuquốc gửi các trí thức Mỹ”, bài báo được công bố là bản sao nguyên văn lá thư thậtđược đưa cho một nhà báo Mỹ đến Hà Nội để đưa tin sự kiện Nhật Bản đầu hàng.Theo lời kể, nhà báo bí ẩn này đến trụ sở hội vào ngày 21 tháng Mười năm 1945,trước khi về Mỹ Người ta kể rằng vì cảm tình với sự nghiệp ái quốc của Hội Văn hóaCứu quốc, ông nhà báo này tình nguyện nhận chuyển thư của hội đến các nhà trí thức
Mỹ(62) Lá thư của hội, được in lại trên báo Tiên Phong bày tỏ lòng tin rằng “…mốithiện cảm của những người đồng chí của Phan-cờ-in (Franklin), Bít-sơ Xít-tao(Beecher Stowe), I-mớc-sơn (Emerson), Oan-tờ Huýt-man (Walt Whitman), Ê-đi-sơn(Edison), những người như Giấc-cờ Lân-đơn (Jack London), Xin-co-le Liu-ít-xờ(Sinclair Lewis), Pớc Bấc-cờ (Pearl Buck)… ở giữa một nước lớn như dân tộc Hoa-
kỳ, sẽ làm rung chuyển dư luận hoàn cầu để giúp cho cuộc giải phóng của chúngtôi.”(63)
Trang 18Cũng có thể Xuân Diệu đã tìm hiểu thêm về Whitman khi đi Liên Xô vàĐông Âu năm 1955, vì chuyến đi của ông trùng với thời gian kỷ niệm 100 năm tậpthơ Lá Cỏ nổi tiếng của nhà thơ Mỹ này Trong chuyến đi, có thể Xuân Diệu đã thấynhững cuốn sách về Whitman bày trên giá các hiệu sách nơi ông đến thăm, với hyvọng thu hút được mối quan tâm về tác giả đang được hâm nóng lại trong đợt kỷniệm Điều này có thể lý giải được thời điểm Xuân Diệu viết bài về Whitman, vì bàibáo được đăng trên Tiên Phong một thời gian ngắn sau khi ông đi Liên Xô và Đông
Âu về Tuy nhiên, chi tiết thú vị nhất là Xuân Diệu biết Whitman là người đồng tínhluyến ái từ khi nào và bằng cách nào, vẫn còn là câu hỏi bí ẩn Chỉ biết trong các bàithơ lãng mạn của ông, không thấy có điểm liên hệ nào tới nhà thơ Mỹ này
Bài của Xuân Diệu giới thiệu Whitman trên báo Văn nghệ thể hiện quanđiểm chính trị của chế độ đương thời, với yêu cầu phải xác định rõ mối đồng cảm củanhà thơ Mỹ với giai cấp vô sản Vì thế, bài báo bắt đầu bằng những dòng kể lể tỉ mẩn
về xuất thân bình dân của Whitman, là con trai một di dân, làm nghề đóng khung nhà,
và thời trẻ ông ta cũng làm những công việc “tay làm hàm nhai” - thợ in, giáo viên,nhà báo, thợ gặt Bài báo cũng trích nguyên nhiều câu trong bài “Thơ Tự do cho châu
Á, Phi, Mỹ, Úc, Cuba và các Quần đảo ở Đại Dương” của Whitman Trong những lờikêu gọi chung chung tranh đấu chống cường quyền trên khắp thế giới, bài thơ đó củaWhitman phảng phất những nét hao hao giống lý thuyết Mác-xít về cách mạng vô sảnthế giới Có lẽ để tô đậm thêm mối liên hệ này, tiêu đề của bài thơ được đổi thành
“Tặng một nhà cách mạng châu Âu thất bại” Không rõ Xuân Diệu tự đổi hay chỉ đơnthuần sao chép lại cách đặt tiêu đề của một dịch giả trước đó Ngay dưới tiêu đề bàithơ, Xuân Diệu giải thích rằng bài thơ lấy cảm hứng từ cuộc cách mạng bị thất bạinăm 1848 Trong bài viết, Xuân Diệu còn khai thác sâu thêm cảm tình vô sản củaWhitman bằng cách dẫn nhiều khổ thơ trong bài “Bài ca đời tôi”, tất cả đều nhằmminh chứng rằng nhà thơ Mỹ thực sự đã “đi sâu vào thực tế của quần chúng laokhổ”(64)
Tuy nhiên, bài báo có đôi chỗ mang dấu hiệu cho thấy Xuân Diệu đang sửdụng quan điểm chính trị của chế độ đương thời làm bình phong để khoe một cáchkín đáo về đời sống luyến ái đồng tính của Whitman Ví dụ, bài báo có kể rằng “…lúc đã nổi tiếng, nhiều khi ông (Whitman) thay các bạn ông làm người đánh xe ngựa,làm người bán vé xe hàng” Chi tiết này có vẻ như đơn thuần là một động tác nhấnmạnh sự gần gũi của nhà thơ Mỹ với quần chúng cách mạng Nhưng trên thực tế, cóthể hiểu theo nhiều nghĩa khác nữa, vì người bán vé xe hàng mà Xuân Diệu nhắc đếnchính là Peter Doyle, người đàn ông được coi là người tình suốt đời của Whitman
Đọc kỹ bài báo, ta thấy có nhiều chỗ Xuân Diệu dường như đang muốn liên
hệ những nét giống nhau giữa cuộc đời của chính mình với nhà thơ Mỹ này Ví dụ,ông viết rằng Whitman “lúc hai mươi tuổi, đọc rất nhiều sách Âu và Mỹ” (ai cũng
Trang 19biết Xuân Diệu là nhà Thơ mới chịu ảnh hưởng nhiều nhất của thơ Tây phương, nhất
là thơ trường phái Biểu tượng của Pháp) Ông còn kể rằng, từ năm mười chín đến haimươi hai tuổi, nhà thơ trẻ Whitman “làm một số bài buồn thảm và tiêu cực” (theocách phân tích chính thống về bước chuyển hóa cách mạng của Xuân Diệu, vănnghiệp của ông bắt đầu từ những năm mười mấy, hai mươi tuổi với những bài thơlãng mạn “buồn thảm” và “tiêu cực”) Bài báo viết tiếp rằng, trong những năm từ
1846 đến 1848, Whitman làm tổng biên tập báo Brooklyn Daily Eagle (tương tự nhưchức vụ thư ký tòa soạn báo Tiên Phong của Xuân Diệu từ năm 1945 đến 1946) trongthời gian Mỹ đang có chiến tranh với Mexico Xuân Diệu viết trong bài báo rằng “từlúc đó, một luồng gió cách mạng thổi vào trong các bài báo của ông Và chính lúcông đầy một tinh thần chống dùng nô lệ và đấu tranh cho lý tưởng dân chủ, là lúc ôngthấy dồi dào hồn thơ trở lại” Phải chăng “luồng gió cách mạng” này cũng tương tựnhư luồng gió đã thực sự thổi vào Xuân Diệu trong năm 1945, và góp phần hìnhthành những vần thơ cách mạng của ông?
Sau khi khai thác mọi chi tiết có thể để tạo cho Whitman căn cước của mộtngười vô sản với tư tưởng tiến bộ, hàm ý nhà văn Mỹ vĩ đại này hội đủ điều kiện để
đi theo đảng Tiên Phong nếu có được cơ hội, Xuân Diệu đi vào phần kết của bài luậndài Đến đây, ông tự nhiên mất cảnh giác và dẫn một đoạn trong bài thơ cuối cùngcủa tập Lá Cỏ, bài “Chia tay”, không liên quan gì đến chủ đề cách mạng:
Bạn ơi, đây không phải là một quyển sách.
Ai cầm đến sách này là động đến một con người.
Có phải giữa đêm chăng?
Có phải chỉ có hai chúng ta mà thôi chăng?
Bạn cầm lấy tôi và tôi đang cầm lấy bạn.
Từ giữa những trang sách tôi vọt ra giữa vòng tay bạn ôm…
… Bạn thân hỡi, dù bạn là ai, bạn cũng nhận cái hôn này
Cái hôn tôi riêng tặng bạn,
Bạn đừng quên tôi…
Dù không ai biết chắc trăm phần trăm, nhưng có vẻ Xuân Diệu chọn nhữngcâu thơ này vì chúng gợi tả một tình cảm đồng tính và lãng mạn, nhất là với nhữngngười hiểu biết về đời tư của Whitman Lời bình đầy cảm xúc của Xuân Diệu về bàithơ là bằng chứng rõ ràng cho cách suy luận nêu trên: “Đọc đến bài thơ này, tôi cóthể nào không nhận thấy hơi thở của nhà thi sĩ còn tinh anh ở trong câu thơ? Tôi cóthể đọc qua loa, hờ hững?” Ông còn viết thêm “Thơ viết hàng trăm năm trước, bâygiờ vẫn còn tươi nguyên Đó là mãnh lực của văn chương, của thơ”(65)
Trang 20Giai Phẩm Mùa Xuân 1956
Làm một trí thức Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cần phải có nhiều kỹ năng,vừa phải biết điều chỉnh ngòi bút, cây cọ vẽ, nét nhạc hay bài nghiên cứu so cho phùhợp với yêu cầu chính trị mới nhất do lãnh đạo đảng đưa ra, vừa phải đảm bảo chấtlượng chuyên môn để không bị đồng nghiệp phê phán Đồng thời, phải theo dõinhững sự kiện lớn trong khối xã hội chủ nghĩa và lường trước được những ảnh hưởngđến chính trị trong nước Và cuối cùng, ở mức độ cá nhân, một trí thức Việt NamDân chủ Cộng hòa phải biết duy trì quan hệ trên - dưới và biết nên kết bạn với ai (vàcần phải gạt bỏ ai) Trong cuộc tranh luận về Việt Bắc, Xuân Diệu đã để cho các nhàthơ trẻ Hoàng Cầm và Lê Đạt đăng các bài viết phê bình nặng nề Tố Hữu, quan chứcvăn hóa quyền lực nhất của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Không biết ông có đồngtình hay không với quan điểm chỉ trích của họ, nhưng kể từ thời điểm đó, Xuân Diệu
bị coi là có liên quan với hai người nổi loạn này Trong suốt hai năm rưỡi sau đó, ôngnhiều lần tìm cách để tách mình khỏi hai người đó Như chúng ta sẽ thấy, để đạt mụcđích nói trên, Xuân Diệu dùng những biện pháp càng ngày càng xấu xa, thậm chí đếnmức gần như tự hủy diệt cá tính của mình
Động thái đầu tiên là vào tháng Hai năm 1956, khi Hoàng Cầm và Lê Đạtcộng tác với bảy nhà văn khác cho ra đời một tuyển tập văn học, xuất bản riêng, cótiêu đề Giai Phẩm mùa Xuân 1956(66) Dù có quan điểm chính trị riêng, về cơ bảntuyển tập vẫn đồng điệu với lãnh đạo đảng, thậm chí còn thể hiện nhiệt tình hưởngứng chiến dịch cải cách ruộng đất - thiết nghĩ không cần nhắc lại rằng chỉ sáu thángsau đó, chiến dịch cải cách ruộng đất này bắt đầu bị phê phán và các nhà trí thức bấtbình phản đối gay gắt(67) Hình như Giai Phẩm mùa Xuân 1956 ra đời nhằm hai mụctiêu chính Thứ nhất là để chứng tỏ với lãnh đạo đảng rằng, nếu để cho các trí thức trẻ
tự thân vận động, họ vẫn sẽ ủng hộ chương trình chính trị của Đảng Lao động ViệtNam một cách trung thành, và chính vì thế, họ đáng được tin tưởng nhiều hơn Nóicách khác, đảng mất gì mà không cho tự do ngôn luận? Mục tiêu thứ hai là thể hiệncho lãnh đạo đảng và những thành viên khác của giới trí thức thấy có những sáng tácvăn chương thực sự cách mạng hơn, hay hơn so với loại thơ “tiểu tư sản” của TốHữu Cứ để tự do ngôn luận, chế độ sẽ dễ dàng phát hiện và bồi dưỡng những tàinăng trẻ
Không thấy rung động trước nỗ lực ve vãn cảm tình của mình theo cách này,lãnh đạo đảng lập tức ra lệnh tịch thu tuyển tập Tuy nhiên, một điều quan trọng cầnlưu ý là họ (lãnh đạo đảng) giải quyết vấn đề Giai Phẩm mùa Xuân 1956 hoàn toànqua kênh quản lý văn hóa Xem cả hai ấn phẩm nặng ký nhất của đảng, báo NhânDân và Học Tập - một tạp chí lý luận mới ra đời trước đó không lâu, không có mộtbài báo nào “đánh” ấn phẩm này Chính vị quan chức văn hóa sắt đá Hoài Thanhđứng ra triệu tập cuộc họp các nhà văn để phê bình bài thơ “Nhất định thắng” của nhà
Trang 21thơ quân đội trẻ nóng tính Trần Dần đăng trong tập Giai Phẩm mùa Xuân 1956(68) Cóchân trong ban lãnh đạo Hội Văn nghệ, đương nhiên Xuân Diệu cũng phải phát biểu
ý kiến về việc này, mà hình như ai cũng biết là có liên quan đến vấn đề tự do ngônluận trong chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Bài báo ông viết trên báo Văn nghệkhông bao lâu sau khi Giai Phẩm mùa Xuân 1956 bị tịch thu là lời minh định rõ ràng,khó có thể hiểu khác đi được Dưới tiêu đề “Vai trò lãnh đạo của Đảng”, bài báo thựcchất là bản dịch rút gọn lời phát biểu của Nikolai Fadeyev - một quan chức văn họcLiên Xô tại Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô lần thứ hai mươi tổ chức vào tháng Hainăm 1956 “Đối với chúng ta, những nhà văn trong Đảng hay ngoài Đảng, khía cạnhquan trọng nhất của quan niệm chúng ta về một nền văn học tự do, tức là thừa nhậnvai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong tất cả mọi lĩnh vực của đời sống và tronglĩnh vực văn học Những nhà văn tư sản thì phụ thuộc vào các đảng tư sản, mà cầmđầu là bọn trùm của giới kỹ nghệ và tài chính, nhà văn phải phụ thuộc vào các nhàxuất bản của chúng, vào báo chí của chúng Thuật ngữ ‘phi chính trị’ của các nhà văn
tư sản chỉ là ảo tưởng”(69)
Đợt công kích của Văn nghệ vào Giai Phẩm mùa Xuân 1956 sử dụng chiếnthuật hai gọng kìm Trước hết, Xuân Diệu biện luận rằng đảng không thể tha thứ chohành động thách thức vị thế độc quyền của mình trong lĩnh vực văn hóa Việc xuấtbản riêng, không qua tổ chức đảng tức là Giai Phẩm mùa Xuân 1956 đã không chịuphục tùng yêu cầu bắt buộc về kiểm duyệt của chế độ Một điềm xấu hơn nữa đối vớinhững trí thức nhiều ưu tư về tình trạng chế độ ngày càng gia tăng kiểm soát, phầnnội dung bài phát biểu được Xuân Diệu chọn dịch thừa nhận “vai trò lãnh đạo” củađảng không chỉ trong lĩnh vực văn học mà còn trong “tất cả mọi lĩnh vực của đờisống” Hoài Thanh đảm nhận mũi tấn công thứ hai bằng bài viết in ngay sau bài củaXuân Diệu với nhan đề “Vạch tính chất phản động của bài thơ ‘Nhất định thắng’ củaTrần Dần”(70) Trong bài viết, Hoài Thanh dùng một loạt đòn bẩy tư tưởng và hùngbiện để bẻ cong bài thơ yêu nước và đầy tính chiến đấu của Trần Dần thành “phảnđộng” và nổi loạn(71) Hơn một tháng rưỡi sau, một quan chức văn hóa cốt cán khác -Nguyễn Đình Thi, đột nhiên đào xới lại việc này, đăng liên tiếp trên hai số Văn nghệngày 19 và 27 tháng Tư năm 1956 bài viết dài hai phần với tiêu đề “Những sai lầm tưtưởng trong tập sách Giai Phẩm”(72)
Ngay sau khi Giai Phẩm mùa Xuân 1956 được phát hành, Xuân Diệu đã cónhững bước dứt khoát để tách mình ra khỏi Trần Dần và Lê Đạt Tuy nhiên, điềuquan trọng ta cần lưu ý là bài viết của Xuân Diệu đánh Giai Phẩm không hề độngchạm tới nội dung tuyển tập Nếu lấy lời phê bình của Xuân Diệu đối với Việt Bắclàm thước đo, những bài thơ của Trần Dần, Lê Đạt và các tác giả khác trong tuyển tậpGiai Phẩm mùa Xuân 1956 có lẽ đã được Xuân Diệu duyệt về chất lượng Trong khi,theo con mắt của Xuân Diệu, Tố Hữu còn nhiều thiếu sót - như không thể hiện được
Trang 22một “Tố Hữu, con người bình thường” hay “gần như bỏ qua tình cảm cá nhân”, thật
ra các tác giả trẻ của Giai Phẩm mùa Xuân 1956 đã thành công(73) Có lẽ Xuân Diệuchọn cách dịch bài diễn văn mới của quan chức văn hóa Liên Xô phần nào để tránhcông việc khó khăn là bới móc những nội dung nguy hiểm và phản động trong GiaiPhẩm mùa Xuân 1956 - một tuyển tập thể hiện rõ ràng sự ủng hộ đối với Đảng Laođộng Việt Nam và những mục tiêu xã hội chủ nghĩa
Nhưng có lẽ yếu tố quan trọng nhất là khi Xuân Diệu quyết định sử dụng bàidiễn văn của Fadeyev, các trí thức Việt Nam Dân chủ Cộng hòa như được bật đènxanh để khai thác các thông tin, văn kiện của Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô lần thứ
20 làm dẫn chứng cho tính chính thống của quan điểm của mình đối với các sự kiệntrong nước Những người thấy thất vọng với Xuân Diệu khi ông công khai viện dẫnquyền lực của Fadeyev đã không thể ngờ được rằng chính chiến thuật khôn ngoan đólại nổ ngược một cách ngoạn mục làm điêu đứng nhà thơ và các lãnh đạo bảo thủkhác của giới trí thức Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Đó là vì có một bài diễn văn “bímật” khác, mà đến giờ ai cũng rõ, cũng được đọc ngay tại Đại hội 20 Đảng Cộng sảnLiên Xô - bản báo cáo nổi tiếng của Khrushchev lên án Stalin Từ bài diễn văn đó,các nhà trí thức bất bình trong đội ngũ nhà văn có thể khai thác được không biết baonhiêu lời biện hộ ở cấp cao nhất cho kế hoạch cải cách của họ - trên thực tế nhữngthành viên Nhân văn - Giai phẩm sẽ coi Khrushchev như một ông thánh bảo hộ
Quyết định chậm công bố bài của Khrushchev vạch mặt những tội ác củaStalin của Đảng Lao động Việt Nam đã làm cho chàng thi sĩ cả tin Xuân Diệu bị việt
vị Nếu được biết về bản báo cáo bí mật đó, chắc ông đã chọn cách khác để tấn côngGiai Phẩm mùa Xuân 1956 Tuy nhiên, cũng phải thấy sự cân nhắc, lưỡng lự xem cónên công bố nội dung bản báo cáo của Khrushchev hay không từ phía các nhà lãnhđạo là có nguyên cớ, vì từ Hồ Chí Minh, Trường Chinh đến các quan chức khác củaĐảng Lao động Việt Nam đã mất rất nhiều công sức khuếch trương hình ảnh củaStalin ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa(74) Họ sẽ phải giải thích thế nào về mộtông Stalin khát máu, cố chấp, đôi khi bất tài đến mức làm hỏng việc như Khrushchev
đã tả trong bản báo cáo bí mật? Giống như những nhà lãnh đạo khác trong khối xãhội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh cũng lâm vào tình thế tiến thoái lưỡng nan khi phải lêntiếng về những điểm xấu của thói “sùng bái cá nhân”, vì ông rõ ràng đã khuyến khíchxây dựng một vòng hào quang sùng bái quanh hình ảnh chính mình ở Việt Nam(75).Hơn thế nữa, nội dung bản báo cáo của Khrushchev còn có vấn đề ở chỗ, phần dàinhất được tác giả dành để kể về những năm tháng chuẩn bị và giai đoạn chính củacuộc Đại Thanh trừng do Stalin tiến hành, từ năm 1934 đến 1938 Đối với Hồ ChíMinh, đây quả là một vấn đề khó khăn, vì những năm tháng đó cũng trùng với thờigian ông đang ở Moscow (tháng Bảy năm 1934 đến mùa xuân 1938)(76) Nếu đây làquá trình Stalin thể hiện bộ mặt xấu xa nhất và Hồ Chí Minh đang ở ngay tại Moscow
Trang 23trong suốt thời gian đó, thì tại sao ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Stalin lại (và vẫnđang) được mô tả như một ông thánh trong suốt mấy thập kỷ qua? Tại sao Hồ ChíMinh, lãnh tụ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Nikita Khrushchev, lãnh tụ mới củakhối xã hội chủ nghĩa, lại đi đến những kết luận trái ngược đến như vậy về di sản củaStalin?
Những yếu tố nói trên giúp giải thích vì sao lãnh đạo Đảng Lao động ViệtNam chậm tiết lộ thông tin về bản báo cáo của Khrushchev về Stalin Những bằngchứng từ hồi ký của nhà văn cách mạng Nguyễn Huy Tưởng cho thấy, mãi tới tậnngày mồng Một tháng Tư năm 1956, tức là ba mươi tư ngày sau khi bản báo cáođược công bố, những trí thức cao cấp của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới bắt đầuhiểu thuật ngữ “tệ sùng bái cá nhân” là để chỉ Stalin(77) Ngày 24 tháng Tư năm 1956,Đảng Lao động Việt Nam ban hành Nghị quyết 9, với nội dung, theo tinh thần Đạihội 20 của Đảng Cộng sản Liên Xô, kêu gọi các cấp ủy “đấu tranh chống tệ sùng bái
cá nhân, tăng cường lãnh đạo tập thể, tích cực tham gia phê bình và tự phê bình”(78).Đợt hóa giải ảnh hưởng của Stalin đã chính thức bắt đầu tại Việt Nam Dân chủ Cộnghòa
(còn tiếp)
Nguồn: Journal of Vietnamese Studies, vol 5, no.2, Summer 2010
Bản tiếng Việt © 2010 Đông Hiến
Bản tiếng Việt © 2010 talawas
-
-*1] Là thư ký tòa soạn, Xuân Diệu chịu trách nhiệm cuối cùng về tất cả cácbài đăng trên tờ báo Tuy nhiên, theo chính thành viên Nhân văn - Giai phẩm HoàngCầm trả lời phỏng vấn Thụy Khuê ngày 5/5/2997, nhân vật trong ban biên tập Vănnghệ tích cực nhất trong cuộc tranh luận (http://thuykhue.free.fr/rfi/2007/20070519-HoangCam.mp3 ) là con người đầy sức thu hút Nguyễn Hữu Đang Sau đó, ông Đangtrở thành một thành viên có thể gọi là quan trọng nhất của phong trào Nhân văn - Giaiphẩm Ta không thể không thắc mắc liệu có phải, trong chừng mực nào đó, XuânDiệu đã nghe theo ý của Nguyễn Hữu Đang thuyết phục về cách thức báo Văn nghệ
tổ chức và điều hành cuộc tranh luận
*2] Lê Văn Lương, “Chỉ thị của trung ương số 12-CT/TW, 9/4/55: Tăngcường lãnh đạo chống đói và giải quyết nạn đói”, Văn Kiện Đảng Toàn Tập, 16:241;Ban bí thư, “Điện của ban bí thư ngày 16 tháng 4 năm 1955 gửi các khu”, Văn KiệnĐảng Toàn Tập, 16:252; Nguyễn Duy Trinh, “Thông tri của ban bí thư số 30-TT/TWngày 29 tháng 4 năm 1955: về việc tích cực thi hành Chỉ thị số 12 của TW gấp rúttăng cường lãnh đạo công tác chống đói”, Văn Kiện Đảng Toàn Tập, 16:279
Trang 24*3] Lê Văn Lương, “Chỉ thị của bộ chính trị số 07-CT/TW ngày 16 tháng 2năm 1955: Đẩy mạnh đấu tranh phá âm mưu mới của địch trong việc dụ dỗ và cưỡng
ép giáo dân di cư vào Nam”, Văn Kiện Đảng Toàn Tập, 16:74
*4] Từ điển Văn học (Hà Nội, KHXH, 1984), 405-406
*5] Boudarel, Cent fleurs, 119
*6] Về chất lượng và phong cách, thơ Tố Hữu có thể so sánh, đại loại nhưvới bài “Paul Revere’s Ride” của Henry Wadsworth Longfellow
*7] Báo Nhân Dân thành lập năm 1951, là cơ quan chính thức của Ủy banTrung ương Đảng Lao động Việt Nam Có thể tờ báo được lấy ý tưởng từ ấn phẩmcùng tên của Đảng Cộng sản Trung Quốc
*8] Xuân Trường, “Vài ý kiến sau khi đọc tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu”,Nhân Dân, số 329, 24/1/1955
*9] Xuân Diệu, “Đọc tập thơ Việt Bắc”, Văn nghệ, số 63, 15-22/2/1955
*10] Sđd, số 64, 28/2-10/3/1955
*11] Hoàng Yến, “Tập thơ Việt Bắc có hiện thực không?”, Văn nghệ, số 65,11/3/1955 Bài này sau đó được đăng lại trên báo Nhân Dân hai số ra ngày 3-4/4/1955 Bài báo được đăng lần đầu trên tạp chí văn học quân đội Sinh Hoạt Vănnghệ
*12] Về khả năng lãnh đạo yếu kém, xem Lê Đạt, “Học tập Maikovski, pháthuy sức sống mới của thi ca Việt Nam (kỳ 1 và kỳ 2), Văn nghệ, số 69 và 70,21/4/1955 và 1/5/1955 Về chất lượng thơ tầm thường, xem Hoàng Cầm “Tập thơViệt Bắc ít chất sống thực tế”, Văn nghệ, số 67, 1/4/1955; và Nguyễn Văn Phú, “Vàiđiểm non yếu trong nghệ thuật tập thơ Việt Bắc, Văn nghệ, số 68 11/4/1955; vàHoàng Cầm, “Bổ sung ý kiến của tôi về tập thơ Việt Bắc”, Văn nghệ số 70, 1/5/1955
*13] Xem Lê Văn Lương, “Vấn đề chỉnh huấn”, Văn Kiện Đảng Toàn Tập,13:101-106
*14] Có thể kể các tờ báo Nhân Dân, Tổ Quốc, Độc Lập và Nói Thật Ngoại
lệ duy nhất là báo Nhân Dân có đăng lại bài của Hoàng Yến, được coi như bài mởmàn cho cuộc tranh luận Ngoài ra, không có một bài phê bình (chê) nào xuất hiệnngoài mặt báo Văn nghệ
*15] Sau khi Nguyễn Đình Thi thay Xuân Diệu làm thư ký tòa soạn, màuma-két báo Văn nghệ đổi từ xanh lá cây sang đỏ cờ Thông tin về ban biên tập, vốnđược đăng ngay trang bìa trong thời gian Xuân Diệu làm thư ký tòa soạn, bị đưa vềtrang cuối
Trang 25*16] Hoài Thanh, “Nhìn lại hoạt động văn nghệ một năm qua”, Nhân Dân,
số 697, 29/1/1956
*17] Phê bình công khai lãnh đạo cao cấp cỡ như Tố Hữu trong cuộc tranhluận về Việt Bắc vẫn còn là điều cấm kỵ ở Việt Nam
*18] Tô Hoài, Cát bụi chân ai, 198-199
*19] Tình yêu đồng tính của Whitman đã được người nghiên cứu và viết tiểu
sử ông trình bày trong một bài phân tích thú vị Xem Jeffrey Meyers, “Whitman’sLife” (Cuộc đời của Whitman), The Antioch Review, số 4 (Autumn 2005): 755-787
*20] Muốn biết về ảnh hưởng của Whitman đối với các nhà văn Biểu tượngPháp, xem P.M Jones, “Whitman in France” (Whitman ở Pháp), Modern LanguageReview 10, số 1 (tháng 1/1915): 1-22 Về ảnh hưởng của Whitman đối với nhà vănLiên Xô nổi tiếng Vladimir Mayakovsky, xem Dale E Peterson, “Mayakovsky andWhitman: The Icon and the Mosaic” (Mayakovsky và Whitman: Biểu tượng đơn icon
và hình ghép mosaic), Slavic Review 28, số 3 (tháng 9/1969): 416-425 Nghiên cứu
về Chokovsky vừa với vai trò dịch giả của thơ Whitman vừa làm chính trị, xemRachel Polonsky, “Translating Whitman, Mistranslating Bal’mont” (Dịch Whitman,dịch nhầm Bal’mont), Slavonik and Eastern Europe Review 75, số 3 (tháng7/1997):401-425 Trong bài viết thú vị này, Polonsky đã ghi nhận rằng “Whitman đãtừng được Max Nordau nhắc đến trong nghiên cứu gây nhiều tiếng vang về căn bệnh
mà ông cho là ‘bệnh đồi trụy’ Entartung [Sa đọa, 1892], trong đó Whitman bị miêu tả
là ‘bụi đời và phóng đãng’ và xếp đồng hạng với Verlaine và Rimbaud và những kẻgiống như họ”
*21] Polansky, “Translating Whitman”, 402-404
*22] Jones, “Whitman in France”, 4 Tác giả ghi nhận ý kiến của nhiều nhànghiên cứu văn học suy đoán rằng các nhà thơ Pháp đã học thể thơ tự do củaWhitman sau khi tác phẩm của nhà thơ Mỹ này được dịch lần đầu tiên và xuất hiện ởPháp vào năm 1886, tức là một năm trước khi Pháp bắt đầu có lối làm thơ tự do
*23] Chúng tôi chưa tìm được bất kỳ bằng chứng nào về việc một nhà báo
Mỹ đến trụ sở Hội Văn hóa Cứu quốc Có thể câu chuyện được dựng lên hoàn toàn(hoặc một phần nào) nhằm mục đích tuyên truyền, tạo ấn tượng cho công chúng ViệtNam rằng khi đó nhà báo nước ngoài đã nhìn nhận Hội là tiếng nói chính thức củavăn hóa Việt Nam Tại thời điểm cuối năm 1945, thực ra Hội Văn hóa Cứu quốc, dùkhá quan trọng, cũng chỉ là một trong nhiều tiếng nói văn hóa ở Việt Nam
*24] “Một bức thư của Hội Văn hóa Cứu quốc Việt Nam trao tận tay cho cácnhà văn hóa Hoa Kỳ”, Tiên Phong, số 2, tháng 12/1945, 5
Trang 26*25] Xuân Diệu, “Uýt-man: Nhà thi hào tiến bộ của nhân dân Mỹ”, Vănnghệ, số 102, 5/1/1956.
*26] Sđd
*27] Giai phẩm Mùa xuân 1956 (Hà Nội, NXB Minh Đức, tháng 2/1956).Các tác giả khác là Văn Cao, Trần Dần, Sỹ Ngọc, Tử Phác, Phùng Quán, NguyễnSáng và Tô Vũ
*28] George Boudarel và Kim Ninh đều đi đến kết luận giống nhau XemBoudarel, Cent fleurs, 134-138 và “Intellectual Dissidence”, 159; và Kim Ninh, AWorld Transformed, 137 Chúng tôi dùng từ “về cơ bản” chứ không phải “hoàn toàn”
vì tuyển tập có nhiều bài viết về nhân vật chính là người dẫn chuyện ở ngôi thứ nhất(chứ không phải là quần chúng) Lãnh đạo đảng đương nhiên không muốn các tríthức tiểu tư sản viết về bản thân mình Để biết thêm một ý kiến phân tích mới lạ vềhiện tượng này, xem Chương bảy của Nguyễn-võ Thu-hương The Ironies ofFreedom Kuriharu đưa ra ý kiến rằng bài thơ “Nhất định thắng” của Trần Dần cónhững dòng “có thể hiểu như lời kêu gọi thống nhất đất nước bằng cách đưa quân độitiến chiếm miền Nam”, điều trái ngược với chính sách công khai được Đảng Laođộng Việt Nam công bố lúc bấy giờ là thống nhất bằng biện pháp hòa bình XemKuriharu “Changes in the Literary Policy”, 168 Cảm giác của chúng tôi là ý kiến trên
có vẻ mang tính suy đoán hơi quá, nhưng rất mong độc giả quan tâm tìm hiểu thêm(xem khổ thơ thứ bảy)
*29] Trần Dần là một trong những trí thức đầu tiên lên tiếng về chính sáchvăn nghệ gò bó của đảng Việc bày tỏ ý kiến công khai về vấn đề trên là một nguyênnhân khiến ông bị quản chế hai lần (tháng 6/1955 và tháng 4/1956) Boudarel gọi ông
là người châm ngòi cho phong trào trí thức bất đồng chính kiến ở miền Bắc XemBoudarel, Cent fleurs, 143
*30] Xuân Diệu, “Vai trò lãnh đạo của Đảng”, Văn nghệ số 110, 1/3/1956
*31] Hoài Thanh, “Vạch tính chất phản động của bài ‘Nhất định thắng’ củaTrần Dần”, Văn nghệ, số 110, 1/3/1956
*32] Một ví dụ là suy luận của ông này chụp mũ Trần Dần dùng hình ảnhmưa ở Hà Nội để vu khống miền Bắc Một ví dụ nữa là suy luận (theo đường lốichính thống của đảng) rằng Trần Dần nói xấu miền Bắc khi thể hiện rằng đồng bào tự
ý quyết định di cư vào Nam Quan điểm chính thức của Đảng Lao động Việt Nam là,những người di cư là nạn nhân bị Mỹ, Diệm ép buộc phải đi
*33] Nguyễn Đình Thi, “Những sai lầm về tư tưởng trong tập sách GiaiPhẩm”, Văn nghệ, số 117 & 118, 19 và 27/4/1956
Trang 27*34] Xem các tác phẩm, ví dụ như, Lê Đạt, hai bài thơ “Làm thơ” và “Mới”;Trần Dần, thơ “Nhất định thắng”, Hoàng Cầm “Thơ qua đài phát thanh”; hay bài hát
“Mưa Xuân” của Tử Phác và Văn Cao
*35] Các nghiên cứu của Ilya V Gaiduk và Christopher E Goscha nhấnmạnh sự ngờ vực ban đầu của Stalin cho rằng Hồ Chí Minh thiên về chủ nghĩa dântộc hơn là chủ nghĩa cộng sản và hậu quả của nó là sự khó khăn cho Đảng Cộng sảnĐông Dương tái hòa nhập với phong trào cộng sản thế giới sau Chiến tranh Thế giớilần II Tuy nhiên, có phải chính vì nguyên nhân này mà Việt Nam Dân chủ Cộng hòanhiệt tình lăng-xê Stalin hơn so với các quốc gia khác trong khối xã hội chủ nghĩavẫn là giải thuyết cần nghiên cứu thêm Xem Ilya V Gaiduk Confronting Vietnam:Soviet Policy toward the Indochina Conflict, 1954-1964 [Đối phó với Việt Nam:Chính sách của Liên Xô về xung đột ở Đông Dương, 1954-1964] (Standford:Stanford University Press, 2003); và Christopher E Goscha “Courting DiplomaticDisaster? The Difficult Integration of Vietnam into the International CommunistMovement (1945-1950) “Journal of Vietnamese Studies 1, số 1-2 (tháng 2-tháng8/2006): 59-103 (Bài này đã được dịch và đăng trên talawas)
*36] Bằng chứng rõ nhất về sự đóng góp của Hồ Chí Minh vào việc xâydựng hình ảnh lý tưởng hóa chính mình ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau cáchmạng tháng Tám là tự viết tiểu sử bản thân tự thuật (dưới dạng tiểu sử thông thường -dùng bút danh Trần Dân Tiên)
*37] Sophie Quinn-Judge, Ho Chi Minh-The missing years, 1919-1941 [HồChí Minh - những năm tháng biệt tăm: 1919 - 1941] (Berkeley and Los Angeles:University of California Press, 2002)
*38] “Vì sao sùng bái cá nhân lại trái với tinh thần chủ nghĩa Mác-Lê nin?”,Nhân Dân, số 759, 1/4/1956
*39] “Nghị quyết của hội nghị ban chấp hành trung ương Đảng lao độngViệt Nam lần thứ 9 (mở rộng) (19-24/4/1956), Nhân Dân, số 785, 27/4/1956
Lại Nguyên Ân và Alec Holcombe - Con tim và lý trí của thi sĩ Xuân Diệu: giai đoạn 1954 - 1958 (phần 3)
Hóa giải ảnh hưởng của Stalin ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Những lời lên án mạnh mẽ đến mức gây sốc về tội ác của Stalin doKhrushchev phát biểu khiến những phần tử bất mãn trong đội ngũ trí thức ở ViệtNam phấn khởi Nhiều người còn đang giận dữ về cách xử lý của lãnh đạo văn hóađối với các giải thưởng văn học giai đoạn 1954 - 1955, mới công bố kết quả trên báoVăn nghệ số ra ngày 15 tháng Ba năm 1956 Gần như đúng tròn một năm sau vụtranh luận về Việt Bắc, Xuân Diệu lại rơi vào vị trí trung tâm của rắc rối Vì chính
Trang 28quyết định trao giải nhì cho tập thơ cách mạng Ngôi sao của ông đã làm dấy lên lànsóng phản ứng mạnh mẽ nhất, với sự xuất hiện của ba bài phê bình trên tờ báo vănhọc tư nhân Trăm Hoa(79).
Khi mọi chuyện đã qua, bây giờ nhìn lại mới thấy ba bài này quả thực là phátsúng mở màn cho một trận chiến về công tác cách mạng của Xuân Diệu Vấn đề cốtyếu vẫn là chất lượng những bài thơ cách mạng của ông Liệu Ngôi sao, tập trung tất
cả những sáng tác của nhà thơ trong mười năm dưới sự dẫn dắt của đảng có so đượcvới Thơ thơ và Gửi hương cho gió không? Nếu Ngôi sao quả là ưu việt hơn, điều đó
có nghĩa là chính sách văn hóa của đảng và sự chỉ đạo của các quan chức văn hóa làhợp lý Nếu không, có thể đã đến lúc phải cân nhắc những thay đổi lớn về chính sách
và nhân sự Trong hoàn cảnh bình thường, ba bài phê bình trên Trăm Hoa và tiếp theo
là việc tờ báo phải đóng cửa vì phá sản sẽ đặt dấu chấm hết cho vụ việc này, và cáctrí thức bất mãn sẽ hướng mối quan tâm của mình sang những thứ khác
Nhưng lời kêu gọi của Khrushchev đã mang lại những thay đổi lớn lao chobầu không khí trí thức ở Hà Nội Đối với những người đang bất mãn, nhà lãnh đạoLiên Xô này đã tạo cho họ ấn tượng rằng, nếu kiên trì bày tỏ những nỗi bất bình vàđấu tranh cho những yêu cầu của mình, có thể mang lại những thay đổi Đối với lãnhđạo đảng, yêu cầu phải hòa nhịp với những biến động thời sự về tư tưởng ở Moscow
có thể buộc họ thấy rằng cần phải áp dụng một thái độ dung hòa hơn đối với nhữngyêu cầu của đội ngũ trí thức, nhất là khi họ đang trong tầm quan sát của các đại sứquán của khối xã hội chủ nghĩa đặt tại Hà Nội
Bên cạnh đó, với một động thái chắc là có chủ ý đánh lạc hướng sự quan tâm
dư luận khỏi vầng hào quang sùng bái cá nhân đã và đang tồn tại quanh Hồ ChíMinh, lãnh đạo đảng thận trọng đưa ra thuật ngữ “sùng bái cá nhân” sao cho nghe có
vẻ như một cấp độ hơi nặng hơn của các căn bệnh cũ như “cá nhân chủ nghĩa”, “quanliêu”, “cửa quyền” Đây là những thuật ngữ lãnh đạo Đảng Lao động Việt Namthường dùng trong suốt mấy thập kỷ trước để phê bình những đảng viên không làmtốt công tác được giao(80) Trên thực tế, Hồ Chí Minh đã giải thích rõ về các lỗi lầm vàcăn bệnh (chính ông gọi như vậy) thường mắc này cho đội ngũ đảng viên trong cuốnsách Sửa đổi lề lối làm việc ông viết năm 1948(81) Các lãnh đạo Việt Nam Dân chủCộng hòa hẳn thấy nhẹ người khi biết rằng các trí thức bất mãn ban đầu chỉ dừng ởmức áp dụng thuật ngữ “sùng bái cá nhân” đối với lãnh đạo cấp trên trực tiếp củamình trong lĩnh vực văn hóa Chừng nào mà sự chỉ trích chỉ dừng lại trong giới hạn
an toàn với những mối ưu tư nhỏ hẹp về công tác văn hóa, lãnh đạo Đảng Lao độngViệt Nam tỏ ra sẵn lòng để cho đội ngũ trí thức cạo gáy các lãnh đạo chuyên môn củamình
Tất cả những điều đó là dấu hiệu xấu báo trước một thời kỳ sóng gió sắp đếnvới Xuân Diệu, khi những lời bàn sôi nổi về quá trình tham gia cách mạng của ông
Trang 29lan sang tới các trang báo Văn nghệ Trên tờ báo này, quan chức văn hóa cao cấpHoài Thanh, người đã tham gia ban giám khảo, buộc phải bảo vệ quyết định trao giảinhì cho Ngôi Sao với những lời khẳng định công khai về tác phẩm của Xuân Diệu:
“Cách mạng càng tiến lên, Xuân Diệu càng thêm gắn bó với quần chúng,nhất là với quần chúng nông dân, nhờ đó thơ Xuân Diệu càng thêm chắc về nội dungtình cảm, thêm giản dị về điệu về lời Và đã có lúc chúng ta tưởng như gặp một XuânDiệu hoàn toàn mới Nhưng cuộc đấu tranh giữa cái mới và cũ trong thơ Xuân Diệucũng như trong con người của mỗi chúng ta là một cuộc đấu tranh gay go Trong cáimới sao cho khỏi rơi rớt lại những cái cũ Cái phần cũ tôi muốn nói cái phần sốngsượng, lệch lạc, giả tạo trong thơ Xuân Diệu cũng còn nhiều Nhưng hôm nay tôikhông định nói về phần ấy Tôi muốn nói về cái phần đứng đắn, chân thành trong thơXuân Diệu.”(82)
Tuy dành phần lớn bài viết để khen ngợi những phần đúng đường lối củaNgôi Sao, chính Hoài Thanh đã công nhận những nhược điểm của tập thơ này Tuyvậy, ông ta quy nguyên nhân cho quá khứ tiểu tư sản của Xuân Diệu, chứ không phải
vì những giá trị và sự dẫn dắt tác giả mới tiếp nhận trong mười năm phục vụ cáchmạng(83)
Dù được sự tiếp ứng nói trên, tình hình vẫn ngày càng xấu đi cho Xuân Diệu.Một tuần sau bài viết của Hoài Thanh, Văn nghệ đăng một bài ngắn của nhà thơ lãngmạn nổi tiếng Nguyễn Bính, lớn tiếng phản đối sự thiên vị của ban giám khảo dànhcho Ngôi Sao và phủ nhận những lời bào chữa của Hoài Thanh, cho rằng đó chỉ là nỗlực xoa dịu dư luận một cách vụng về:
“Thắc mắc chung quanh tập Ngôi sao thực là nhiều và sôi nổi Có nhữngthắc mắc đã nói ra trên báo chí, có những thắc mắc chỉ trao đổi trong những cuộcmạn đàm Có những thắc mắc trong anh em Văn nghệ, có những thắc mắc của bạnđọc Của những người ở vùng tự do cũ, cũng như ở vùng mới giải phóng, ở nhiềutầng lớp khác nhau, trong những cương vị công tác, hoạt động khác nhau Nói chung,phần tán thành ít mà phần thắc mắc thì hầu như phổ biến Tập thơ Ngôi sao lại đãxuất bản trước khi công bố giải thưởng Ngay khi chưa biết nó được giải cũng đãnhiều anh em phàn nàn về những mặt hỏng của nó Sao không có một cuộc thăm dò
dư luận từ trước? Quả là ban giám khảo chưa thực mở rộng dân chủ, chưa tha thiếtlắng nghe ý kiến nguyện vọng của quần chúng? Sự định đoạt giá trị và thứ bậc tácphẩm hầu như chỉ thu hẹp trong phạm vi ban giám khảo, trong sự bàn cãi phân táchcủa một số nhỏ người
[…] Đối với những phản ứng trong quần chúng, Ban chấm giải không tựkiểm điểm, không trưng cầu ý kiến của quần chúng, khơi cho hết thắc mắc của mọingười, mà chỉ tìm cách xoa dịu bằng một bài báo nặng tính cách bào chữa của Hoài
Trang 30Thanh trong Văn nghệ số 122 Một vài anh em không bằng lòng ra mặt những bàiphê bình tập Ngôi sao trên báo Trăm hoa, cho đó là lối “đập” thiên lệch và ác Trongkhi ấy trên tờ báo của Hội vẫn có những bài phê bình có tính cách “đập” thiên lệch và
ác như bài của Nguyễn Đình Thi phê bình Giai phẩm Phải chăng đó là lưu tệ của cáithói “lỗi người để túi trước, lỗi mình để túi sau?”(84)
Ngày 21 tháng Sáu năm 1956, Văn nghệ đăng tiếp bài viết thứ ba về Ngôisao, của một nhà văn khác tên là Huy Phương(85) Tác giả lập luận rằng, mặc dù thơcách mạng của Xuân Diệu nói chung có biểu hiện một lòng thiết tha với dân tộc, nhândân và cách mạng, nhưng tình cảm cao quý ấy chỉ hiện lên rất “yếu đuối” trong tậpNgôi sao Huy Phương viết, “Nhưng những lúc nào Xuân Diệu bạo dạn đi sâu vàothực tế, được chất chiến đấu của thực tế tác động mạnh mẽ vào tâm hồn, thì ta thấyanh cũng đã viết được những bài thơ thành công” Tuy nhiên, Huy Phương viết tiếp,
“nhưng những khi Xuân Diệu trở về với ‘hồn thơ’ của mình thì thơ anh chỉ là tiếngnói yếu đuối của con người còn vướng mắc trong cái “tôi” riêng lẻ bé nhỏ.” Do vậy,tác giả kết luận trong bài, những vần thơ cách mạng hay nhất của Xuân Diệu là nhờcảm hứng trong quá trình Xuân Diệu tham gia cải cách ruộng đất(86)
Phần còn lại của bài viết là sự khai triển lập luận trên, khi tác giả cố chứngminh những điểm mạnh của thơ cách mạng Xuân Diệu là kết quả của quá trình họchỏi theo chỉ dẫn của đảng (nhất là những phần lấy cảm hứng từ cuộc đấu tranh thực
sự của quần chúng lao động) Trái lại, tất cả những điểm yếu là kết quả của sự chệchhướng khi tác giả không theo sự dẫn dắt của đảng, để cái tôi cá nhân của quá khứ tưsản xen vào gây tác hại Ngay cả những vần thơ tuyệt đẹp tả thiên nhiên đã góp phầnmang lại sự nổi tiếng cho thơ lãng mạn Xuân Diệu (và Hoài Thanh đã gồng mìnhthuyết phục mọi người rằng trong Ngôi sao vẫn có những vần thơ như vậy) cũngkhông làm Huy Phương hài lòng: “…Xuân Diệu nhìn quanh mình chỉ thấy nhữngmàu sắc lung linh, óng ả của núi sông, mây gió, cờ sao… Anh ngợp đi trong nhữnglạc thú về thị giác và vị giác, cuộc đời biến diễn trước mắt, anh thấy như một bữa tiệcngon của mắt và mồm.”
Một trong những nội dung thú vị nhất của bài viết là những lời bàn của HuyPhương về cách Xuân Diệu tả chiến tranh Hiển nhiên đây là phần khó đổi lỗi choquá khứ tư sản của nhà thơ nhất trong cả tập Ngôi sao, vì đương nhiên những tập thơlãng mạn nổi tiếng của Xuân Diệu Thơ thơ và Gửi hương cho gió không hề có chỗcho bạo lực Vậy phải giải thích những câu thơ sau thế nào đây? Tả quân địch, XuânDiệu viết:
Rượu mồi hôi, bánh xương tủy tim gan,
Thịt nhân quần chúng mày vẫn uống ăn
Và
Trang 31Óc đã vỡ máu lộn cùng xương tủy
Tay lìa chân, đầu rụng tiệc đau thương
Tả người lính Việt Minh, Xuân Diệu viết:
Giữa xuân nay muôn chiến sĩ say mê
Lấy máu tủy đổ ra đời bát ngát
Ngừng tay lại thấy sức xuân còn nhạt
Đổ máu thêm cho đến lúc toàn hồng(87)
Điều khiến Huy Phương thấy khó chịu vì những dòng thơ “nhễ nhại nhữngmáu huyết” này là “bệnh khoái cảm” (khoái cảm bệnh hoạn) mà Huy Phương tin làXuân Diệu đã đạt được khi viết những dòng thơ đó “Những câu như vậy, cái lối nhìnnhư vậy không phải là những trường hợp ngẫu nhiên trong thơ Xuân Diệu Nó là biểuhiện của cả một thái độ sống bắt nguồn từ cả một hệ thống ý thức và tình cảm của tácgiả” Tình cảm, theo Huy Phương, là “một cạnh khía quan trọng của khả năng cảmthông của tác giả với thực tế” và vì thế phải có một vị trí quan trọng trong thơ
“Nhưng khi cảm giác của nghệ sĩ thiên về tính chất hình thức và hưởng thụ thậm chítrở thành một động cơ sáng tác thì đó là biểu hiện của bản chất hưởng lạc cá nhân củachủ nghĩa lãng mạn tư sản”(88) Huy Phương lập luận rằng, trong những vũng máuhuyết, “bánh tim gan”, tay chân đứt lìa, óc vỡ này, thông điệp cách mạng không thểđến được với người đọc Cùng với những nhược điểm khác mà nhà phê bình trẻ nàycho là Ngôi sao mắc phải, Huy Phương nhận xét rằng Xuân Diệu có khoái cảm trướccảnh bạo lực rùng rợn và quy kết nguyên nhân tại quá khứ tư sản của nhà thơ
Thời kỳ Nhân văn - Giai phẩm: tháng Tám đến tháng Chạp năm 1956
Suốt bốn tháng liền từ tháng Tám đến tháng Chạp năm 1956, thời kỳ củaphong trào Nhân văn - Giai phẩm, công tác kiểm soát báo chí của đảng trở nên dễ dãihơn bao giờ hết trong suốt lịch sử của chế độ Vì sao, mới ra lệnh tịch thu Giai PhẩmMùa Xuân 1956 vào tháng Hai, lãnh đạo đảng lại đột ngột chuyển hướng và cho phép
tự do báo chí vào những tháng cuối năm 1956? Trước hết, vì nhu cầu viện trợ từ Liên
Xô và Trung Quốc là rất cấp bách, khiến giới lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòathấy buộc phải hòa nhịp với những diễn biến chính trị tư tưởng ở hai nước đồng minhnày Ở Moscow, đó là phong trào hóa giải ảnh hưởng của Stalin, ở Bắc Kinh, đó làchính sách Trăm Hoa Một yếu tố bên ngoài nữa là cuộc nổi dậy Poznan ở Ba Lanvào tháng Sáu Một chị thỉ của ban bí thư đảng ban hành tháng Tám nhận định: “Bọntay sai của Mỹ - Diệm còn lại ở miền Bắc có thể lợi dụng những sai lầm và khó khăntạm thời của ta để phá hoại ta Vụ lộn xộn xảy ra ở Pôdơnan (Poznan) thuộc Ba Langần đây là một bài học cảnh giác lớn cho ta”(89) Một yếu tố quan trọng của hoàn cảnhtrong nước có tác động đến quyết định nhân nhượng đột ngột của đảng là dư chấn
Trang 32còn nóng hổi của chiến dịch cải cách ruộng đất đầy bạo lực, mới kết thúc vào thángSáu năm 1956 Những người được tiếp cận bản báo cáo bí mật của Khrushchevkhông thể không nhận thấy sự tương đồng giữa những sự kiện tiêu cực được nêutrong văn bản đó với những cái gọi là “sai lầm” trong chiến dịch cải cách ruộng đất ởViệt Nam Dân chủ Cộng hòa (giết người không cần xét xử, tra tấn để cưỡng bức nhậntội hoặc tố cáo người khác, cùng với hàng loạt biểu hiện bất chấp nhân quyền trongchiến dịch).
Một biểu hiện của cảm giác lo lắng của giới lãnh đạo Việt Nam Dân chủCộng hòa trong giai đoạn này có thể thấy qua Chỉ thị 45 của ban bí thư Đảng Laođộng Việt Nam, ban hành ngày 23 tháng Tám năm 1956: “Về tăng cường vận độngquần chúng để đề phòng bọn phản động gây ra tình trạng cưỡng bức di cư vào Namhay kích động gây hấn hoặc phá hoại.” Lúc đó đã hơn một năm sau ngày biên giớiNam Bắc khép lại, lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn e ngại nguy cơ di dânhàng loạt Một phần khác của chỉ thị, chủ yếu nói về các cộng đồng Công giáo, viếtrằng “trong số người có tư tưởng muốn đi Nam thì phần lớn là nông dân lao động,nhiều người được chia quả thực trong cải cách ruộng đất(90), có nơi cả cốt cán và cán
bộ xóm cũng muốn đi”(91) Nhà văn cách mạng Nguyễn Huy Tưởng ghi trong nhật kýngày 21 tháng Tám năm 1956 về tình hình lúc bấy giờ như sau: “Nông dân sau cảicách ruộng đất, đánh nhau vì tranh tháo nước, để cứu úng thủy Có hiện tượng Diệm
nó phát động một phong trào di cư mới Mà lần này có thể cả quần chúng cơ bảnđi”(92)
Giai đoạn đầu của thời kỳ Nhân văn - Giai phẩm có thể được đánh dấu bằnghội nghị do lãnh đạo Hội Văn nghệ triệu tập từ ngày mồng một đến ngày mười támtháng Tám năm 1956 Hơn ba trăm trí thức đủ mọi thành phần đang làm việc ở HàNội đã tới dự hội nghị, nhiều người đã tận dụng ngọn gió “dân chủ” do Đại hội 20Đảng Cộng sản Liên Xô đưa đến (đến lúc đó đã được thể hiện trong Nghị quyết 9Đảng Lao động Việt Nam) để bày tỏ những bức xúc bị dồn nén lại trong một thờigian dài(93) Trong thời gian diễn ra hội nghị, cả Văn nghệ và Nhân Dân cùng đăngtrích đoạn bài báo viết bằng tiếng Trung của Lục Định Nhất “Trăm Hoa Đua Nở,Trăm Nhà Đua Tiếng”, mở đường cho luồng gió dân chủ thứ hai đến từ Bắc Kinh(94).Như chúng ta đều biết, trong vòng ba tháng sau hội nghị học tập nói trên, những tríthức cách mạng bất mãn ở Hà Nội rủ nhau lần lượt xuất bản bốn ấn phẩm mới: báoNhân Văn và ba tạp chí văn hóa Đất Mới, Sáng Tạo và Nói Thật, đồng thời tái bảnhai tờ báo Giai Phẩm và Trăm Hoa(95)
Những bài vở trong các ấn phẩm này đề cập đến hàng loạt vấn đề và khôngdừng lại ở lĩnh vực văn nghệ: tự do, dân chủ, tham nhũng, bạo lực cách mạng, hóagiải ảnh hưởng của Stalin, cải cách tư pháp, chủ nghĩa Mác, nhân quyền, giá trịtruyền thống và nhiều chủ đề bức thiết khác Chung quy, phần lớn các chủ đề trên,
Trang 33bằng cách này hay cách khác, đều quy về vấn đề cơ bản nhất: tự do Trên thực tế, hai
từ “tự do” và “dân chủ” xuất hiện ít nhất 360 lần trong ba mươi trang của năm số báoNhân Văn Các báo chí tư nhân thời kỳ Nhân văn - Giai phẩm kêu gọi lãnh đạo đảngtiến hành cải tổ nhiều lĩnh vực, tuân thủ các tiêu chuẩn mà đảng áp dụng cho mọingười khác, và công nhận rằng việc lý tưởng hóa Liên Xô như một thiên đường xãhội chủ nghĩa không một tỳ vết là không còn hợp thời nữa Tuy nhiên, cần phải lưu ýrằng, dù các thành viên phong trào Nhân văn - Giai phẩm yêu cầu phải đánh giá lạihình ảnh của Liên Xô và của chính Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho phù hợp thực tếhơn, điều này không hề dẫn tới yêu cầu tương tự về việc xem xét lại nhận định tiêucực của chế độ miền Bắc đối với Cộng Hòa miền Nam Việt Nam hay đồng minh Hoa
Kỳ(96)
Trong thời kỳ Nhân văn - Giai phẩm, có bảy bài báo về Xuân Diệu gây nhiềuchú ý (ba bài trên báo chí của nhà nước và bốn bài trên báo tư nhân) Cả bảy bài báođều tập trung vào quá trình tuyển tập thơ cách mạng của Xuân Diệu Ngôi sao đượcxét trao giải nhì của giải thưởng văn học Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1954 - 1955,
và chất lượng chung của tuyển tập này có xứng đáng hay không
Phan Khôi
Có lẽ để bộc lộ rằng sự nghiệp cách mạng của Xuân Diệu đã trở thành một
đề tài căng thẳng đến thế nào, bài báo đầu tiên trên ấn phẩm đầu tiên của thời kỳNhân văn - Giai phẩm, Giai Phẩm Mùa Thu tập 1 dành hẳn một đoạn nói về nhà thơ.Bài báo của Phan Khôi nhan đề “Phê bình lãnh đạo văn nghệ” có thể coi là bài luậnnổi tiếng nhất trong suốt bốn tháng sôi động với rất nhiều tranh luận học thuật(97) KhiPhan Khôi viết bài này năm 1956, ông đã 69 tuổi (hơn Hồ Chí Minh ba tuổi) Nhà tríthức lão thành khó tính và bộc trực này có uy tín cao trong văn giới, và đã tham gianhiều công tác yêu nước, từng viết báo, dạy học và viết văn Đã sống và làm báo ở tất
cả ba trung tâm văn hóa lớn của Việt Nam: Hà Nội, Huế và Sài Gòn, ông hiểu biết vềđất nước và con người Việt Nam không kém gì ai Về quan hệ của ông với XuânDiệu, Phan Khôi là người đã phát động và ủng hộ Phong trào Thơ mới từ đầu thập kỷ
1930 Ngoài những thành tích đáng nể về chuyên môn, Phan Khôi còn xuất thân từmột dòng họ hoàn hảo, có truyền thống ái quốc Ông ngoại Phan Khôi là vị tướnghuyền thoại Hoàng Diệu, người được giao trọng trách trấn thủ thành Hà Nội trước đợttấn công của Pháp năm 1882 Khi tất cả mọi kế sách đều thất bại, theo lời kể lại,Hoàng Diệu đã tự vẫn để tỏ rõ trách nhiệm của bản thân với tư cách một viên tướng
đã không thể làm tròn trọng trách giữ thành vốn đã hứa với đức vua và triều đình(98)
Bài báo của Phan Khôi dài mười trang và gồm bốn phần Trong phần mởđầu, nhà báo lão thành tuyên bố ông sẽ nói sự thật, với ngôn ngữ không úp mở để tất
cả mọi người đều hiểu (Việc tác giả thấy có nhu cầu tuyên bố điều này có thể gợicho ta thấy, vào thời điểm đó ngôn ngữ Bôn-sê-vích đã trở nên rối rắm khó hiểu đến
Trang 34thế nào) Ông cũng thông báo rằng có một phe “đối lập” trong lĩnh vực văn nghệ,gồm nhiều trí thức ở gần như tất cả mọi cấp, mọi lĩnh vực, là những người khôngbằng lòng với các lãnh đạo văn hóa của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa(99) Phan Khôidành phần hai của bài báo để nói về vấn đề tự do sáng tác, lập luận rằng thái độ nghingờ của lãnh đạo đảng đối với các văn nghệ sĩ cách mạng trẻ là không hợp tình hợp
lý Theo ước tính của Phan Khôi, những trí thức cách mạng đã làm vượt yêu cầu đểchứng tỏ được lòng trung thành trong suốt tám năm kháng chiến Phần thứ ba của bàibáo ông phê phán sự thái quá trong cách xử lý của các lãnh đạo văn hóa đối với GiaiPhẩm Mùa Xuân 1956 và tác giả Trần Dần trong tháng Hai vừa qua
Phần bốn và cũng là phần cuối cùng của bài báo là nơi bắt đầu có những rắcrối cho Xuân Diệu Trong phần này, Phan Khôi kể lại kinh nghiệm bản thân trongthời gian làm thành viên ban giám khảo xét giải thưởng văn học 1954-1955, xoáy sâuvào những lời bàn của ban giám khảo về tập thơ Ngôi sao của Xuân Diệu:
“Hôm bình định về thơ, tôi phản đối tập Ngôi sao đứng giải nhì, tôi nói: cóvớt vát lắm thì cũng chỉ nên để nó đứng giải ba Tôi cử ra những câu bí hiểm khôngthể hiểu nghĩa được, thì ông Huy Cận (một trong Ban chung khảo) bảo rằng đó là tạitôi “muốn” không hiểu thì không hiểu Quái, tôi “muốn” làm sao được? Theo lẽ, ôngHuy Cận nếu binh vực cho Ngôi sao thì phải cắt nghĩa rạch ròi những câu ấy ra, chứsao lại bảo rằng tôi “muốn” không hiểu?”(100)
Sau đó, Phan Khôi tả lại lúc ông chỉ ra một vài câu thơ không hẳn khó hiểu,nhưng “không đáng gọi là thơ”, ý muốn nói thơ cách mạng của Xuân Diệu kém hơnthơ lãng mạn Ông kể rằng, đáp lại lời ông, “một ông trong ban (quên là ai) cãi rằngnếu thế thì bao lâu nay Đảng giáo dục Xuân Diệu không có hiệu quả gì sao?” Hìnhảnh Xuân Diệu được tả trong bài báo của Phan Khôi là một người ích kỷ và cá nhânkhông khác gì ấn tượng chung về tính cách cũ nhà thơ trước khi tham gia cách mạng,điều này đã phủ nhận mạnh mẽ diễn ngôn chính thống rằng cách mạng đã hoán cảiXuân Diệu Theo những thông tin Phan Khôi được biết, Xuân Diệu đã dùng quyềnlực và ảnh hưởng từ nội bộ đảng để để cao tập thơ của mình: “Ban Chung khảo theo
đề nghị của ông Xuân Diệu, sau khi tuyên bố giải thưởng, phải làm nhiều cách tuyêntruyền cổ động rầm rộ cho các tác phẩm được giải, và đã cắt cử người nào viết bàiphê bình cho tác phẩm nào.”
Nhưng điều mà Phan Khôi thấy “quái đản” nhất về giải thưởng văn học nóitrên là việc ba người trong ban giám khảo lại nộp tác phẩm dự giải:
“Về vụ này, có một điều, người ngoài không phải là tôi, không biết đến, thìkhông lấy làm quái Ấy là điều, ba ông Xuân Diệu, Nguyễn Huy Tưởng, Hoài Thanhđều có tác phẩm dự thi mà đều ở trong Ban Chung Khảo Nếu chỉ ở trong Ban Chungkhảo mà thôi, còn khá; thử điều tra lại hồ sơ, thì ba ông còn ở trong Ban Sơ khảo nữa
Trang 35Sao lại có thể như thế? Trường thi phong kiến thuở xưa, tuy có ám muội gì bên trong,chứ bên ngoài họ vẫn giữ sạch tiếng: Một người nào có con em đi thi, thì người ấy cóđược cắt cử cũng phải ‘hồi tị’, không được đi chấm trường Bây giờ cả đến chínhmình đi thi mà cũng không ‘hồi tị’: một lẽ là ở thời đại Hồ Chí Minh, con người đãđổi mới, đã “liêm chính” cả rồi; một lẽ là trắng trợn vì thấy mọi cái ‘miệng’ đã bị ‘vúlấp’”(101).
Để giải thích ý “vú lấp miệng” của mình, Phan Khôi tả lại một vụ rõ ràng là
cố tình che giấu thông tin trong một cuộc họp đột xuất của ban giám khảo giải thưởngvăn học 1954-1955 vào ngày 8 tháng Tám năn 1956 Trong buổi họp đó, ông đượcđọc biên bản thảo luận của ban giám khảo: “Tất cả những ý phản đối tập thơ Ngôi saocủa tôi đều không được ghi vào biên bản Tôi lập tức viết thư cho ông (TrườngChinh) tổng bí thư Đảng Lao động Việt Nam để kể rõ sự việc.”
Vì chính quyền đã không làm gì tiếp để giải quyết thắc mắc của ông PhanKhôi, giờ đây khi mọi việc sáng tỏ trên mặt báo, mọi người có thể suy luận là TrườngChinh và lãnh đạo đảng đã phớt lờ ý kiến của ông Phan Khôi Có ba cách lựa chọncho các nhà lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam để giải quyết vấn đề này, tất cả đềukhông dễ dàng trong hoàn cảnh hiện tại Một là, họ có thể tiếp tục làm ngơ trước lờiyêu cầu xóa bỏ tham nhũng trong lĩnh vực văn hóa của Phan Khôi Nhưng điều này
có nguy cơ khiến họ bị đánh giá là không quan tâm đến tình trạng tham nhũng, vàkhông theo đường lối của Khrushchev mới đưa ra về tăng cường dân chủ trong đảng
và lãnh đạo tập thể (có nghĩa là phải lắng nghe ý kiến từ bên dưới) Hai là, lãnh đạoĐảng Lao động Việt Nam có thể nghe theo đề nghị của Phan Khôi là tiến hành một
số biện pháp kỷ luật đối với các lãnh đạo văn hóa Nhưng làm như thế chẳng khác gìgửi một thông điệp cho các trí thức rằng họ có thể giữ vai trò cảnh sát đạo đức ở nướcViệt Nam Dân chủ Cộng hòa, có chức năng giám sát chính quyền và buộc lãnh đạođảng phải giải quyết những bất công mà trí thức phát hiện Lựa chọn thứ ba là tránhphải giải quyết những yêu cầu của Phan Khôi là bằng cách làm thế nào đó để hạ uytín của ông Nhưng vì đảng đang cho phép tự do báo chí trở lại, chắc chắn một chiếndịch bôi nhọ nhà báo lão thành và nhiều uy tín này trên các cơ quan ngôn luận củađảng sẽ kéo theo những phản hồi từ những người ủng hộ Phan Khôi trên báo chí tưnhân Điều này sẽ thu hút sự quan tâm rộng rãi hơn của quần chúng đối với PhanKhôi và các ấn phẩm tự do trong thời kỳ Nhân văn - Giai phẩm
Yến Lan
Khi đã xác định rằng không thể phớt lờ những yêu cầu công khai của PhanKhôi, lãnh đạo đảng thử nghiệm một giải pháp kết hợp cả hai lựa chọn còn lại, mộtmặt buộc ba quan chức văn hóa (Hoài Thanh, Nguyễn Tuân và Nguyễn Đình Thi)công bố bài tự phê bình, mặt khác bật đèn xanh cho đăng những bài viết hạ uy tínPhan Khôi Bài đầu tiên của dạng này xuất hiện trên Văn nghệ số ra ngày 20 tháng
Trang 36Chín năm 1956, tập trung đả kích bài của Phan Khôi ở khía cạnh phê phán sai rằnglãnh đạo đảng đã phớt lờ một vụ gian lận hiển nhiên Tác giả của nó là nhà thơ, nhàbiên kịch 40 tuổi, Yến Lan, người đã ghi biên bản cuộc họp của ban giám khảo Ôngnhận rằng đó là quyết định cá nhân của một mình ông khi loại bỏ ý kiến của PhanKhôi về tập Ngôi sao của Xuân Diệu, chứ không phải là âm mưu chung của Ban nhưnhà báo Phan Khôi đã áp đặt: “Biên bản là để ghi lại những ý chính của cuộc họp.Những nhận xét đó (của ông Phan Khôi) đều lạc khỏi đề tài đang thảo luận, hoặc đưa
ra trong lúc giải lao, giữa hai ba người với nhau (nhiều lúc tranh luận rất sôi nổi, đôikhi gay gắt nữa) và không được đưa vào biên bản vì thư ký lúc đó đang nghỉ giảilao”
Tiếp theo, Yến Lan trả lời thắc mắc của Phan Khôi đối với việc ba ngườitrong ban giám khảo (trong đó có Xuân Diệu) gửi tác phẩm và được trao giải:
“Ông [Phan Khôi] đã vạch ra ba ông Hoài Thanh, Nguyễn Huy Tưởng, XuânDiệu có tác phẩm dự thi mà cùng đều ở trong ban chấm thi từ lúc sơ khảo đến chungkhảo Cũng như những người khác, ông Phan Khôi có quyền nghi như thế sẽ có điều
ám muộn, nhưng trên thế giới việc đó không có gì là quái, miễn là người ta phải làmviệc đúng với nguyên tắc: những người ở ban chấm thi mà có tác phẩm dự giải thìkhông có quyền biểu quyết tác phẩm của mình Nguyên tắc ấy ở đây xin chứng thực
là luôn luôn được nhắt đến và làm đúng, còn ra có vị nể hay không thì không thuộcphạm vi bài này.”(102)
Trần Công
Ngày 20 tháng Chín năm 1956 - ngày bài viết của Yến Lan được đăng trênVăn nghệ, cũng tình cờ là ngày mà nhà trí thức cách mạng bất mãn Nguyễn HữuĐang, với sự cộng tác chủ yếu của Hoàng Cầm, Lê Đạt, Trần Duy và Phan Khôi, khaitrương số đầu tiên của báo Nhân Văn Cũng như số đầu tiên của tập Giai Phẩm MùaThu xuất bản trước đó mấy tuần, tờ báo gai góc này ngay lập tức khai thác chủ đề giảithưởng văn học 1954 - 1955 Trong bài báo “Chống bè phái trong văn nghệ”, nhà văntrẻ Trần Công viết:
“Hoài Thanh, Xuân Diệu, Nguyễn Huy Tưởng, đại diện cho ban Chấp hànhHội, đều có trách nhiệm lớn đối với phong trào Thế mà tác phẩm còn non kém của
ba ông lại được giải Nếu không phải tự mình bỏ phiếu cho mình thì cũng là bè cánh
ta lại bỏ phiếu cho tác phẩm tồi của bè cánh ta (cũng nên chú ý đến Huy Cận có chântrong ban chấm giải, mà ai cũng biết Huy Cận và Xuân Diệu chỉ là một).”(103)
Trần Công còn lục lại việc cũ trong quá khứ, đưa ra một vấn đề hóc búa kháccho Xuân Diệu:
“Tập thơ Việt Bắc cũng là một tập thơ như muôn ngàn tập thơ khác, dù cóhay chăng nữa thì cũng chỉ là một tập thơ Nhưng nó có cái đặc biệt Đặc biệt không
Trang 37phải ở thơ mà ở tác giả Giá tập thơ Việt Bắc là của người khác thì phê bình cũngchẳng sao đâu, nhưng Việt Bắc lại là của Tố Hữu Một loạt bài của Hoàng Yến,Hoàng Cầm, Lê Đạt làm một số cán bộ lãnh đạo [Hội] Văn nghệ ngạc nhiên, tức giậnthậm chí có người nói ‘Địch nó không mong gì hơn chúng ta chê thơ Tố Hữu.’”(104)
Nguyễn Tuân
Một tuần sau đó, vào ngày 27 tháng Chín năm 1956, một bài báo khác xuấthiện trên tờ Văn nghệ với chủ ý đáp lại những thông tin mà Phan Khôi tiết lộ xungquanh việc chấm giải nhì cho tập thơ Ngôi sao đang gây tranh cãi Bài báo là một bản
tự phê bình công khai của nhà văn nổi tiếng thời Pháp thuộc, đương kim tổng thư kýHội Văn nghệ, Nguyễn Tuân Ông cũng tham gia ban giám khảo, cùng với PhanKhôi, Xuân Diệu, Huy Cận, Hoài Thanh và năm trí thức có uy tín khác của Việt NamDân chủ Cộng hòa(105) Trong bản tự phê, dưới nhan đề “Những suy nghĩ về giảithưởng văn học 1954-1955”, Nguyễn Tuân thừa nhận rằng ông không đồng tình với
đề xuất trao giải nhì cho tập thơ Ngôi sao (theo ông, trao giải ba thì xứng đáng hơn)
Ngôi sao không phải chỉ ở chỗ tác phẩm đáng được giải nào: “Riêng tôi muốn tác giảNgôi sao tự nhìn mình nghiêm khắc nhiều hơn nữa, và tôi nghĩ rằng các anh HoàiThanh, Huy Cận đã tích cực bênh vực thơ Ngôi sao, có thể giúp đỡ nhiều cho tác giảthấy rõ vấn đề Riêng phần tôi, trong việc Ngôi sao, tôi cũng thấy mình nể nang trướcnhững ý kiến của Hoài Thanh đối với thơ Ngôi sao.”(107)
Ban thường vụ Hội Văn nghệ Việt Nam
Trong số tiếp theo, ra một tuần sau đó (ngày mồng 4 tháng Mười năm 1956),báo Văn nghệ đăng tiếp một một bài tự phê thứ hai, liên quan đến vụ Ngôi sao củaXuân Diệu: “Thông báo của Ban Thường vụ Hội Văn nghệ.”(108) Trong bài, hội thừanhận đã sai lầm trong việc xử lý vụ việc Trần Dần và bài thơ “Nhất định thắng”, cũngnhư thiếu sót trong việc tuyển chọn giải thưởng văn học 1954-1955:
“Lề lối làm việc luộm thuộm, thiếu dân chủ, ít chú ý liên hệ với quần chúng.Như trong khi chấm giải, đã có nhiều ý kiến về tập thơ Ngôi sao, nhưng đa số ủy viênchưa thật chú ý lắng nghe
…Cũng trong phiên họp trên của Ban chấm giải, đa số ủy viên nhận rằng tậpthơ Ngôi sao của Xuân Diệu xếp giải nhì là quá cao, một số cho rằng xếp Ngôi saovào giải ba thì đúng hơn.”(109)
Nguyễn Bính
Bài báo thứ sáu trong số bảy bài liên quan tới Xuân Diệu trong thời kỳ Nhânvăn - Giai phẩm, “Phải xem xét lại tất cả các giải thưởng văn học” do Nguyễn Bínhchấp bút và đăng trên hai số liền của tờ Trăm Hoa (ra ngày 20 và 28 tháng Mười năm
Trang 381956)(110) Nguyễn Bính là nhà thơ lãng mạn nổi tiếng, và cũng đã viết bài trên báoVăn nghệ bốn tháng trước đó, yêu cầu các lãnh đạo văn nghệ phải “nghiêm túc tựphê” vì đã trao giải nhì cho Ngôi sao trong đợt xét giải thưởng văn học 1954-1955.Khi đó, ông đang là chủ nhiệm kiêm chủ bút báo Trăm Hoa, tờ báo đã đăng ba bàiphê phán tập Ngôi sao sau ngày công bố giải thưởng văn học 1954-1955, ngày 15tháng Ba năm 1956 Không lâu sau đó, tờ báo sập tiệm vì hết tiền(111) Bản thânNguyễn Bính cũng là một ngôi sao (tuy không rực rỡ bằng Xuân Diệu) của Phongtrào Thơ mới(112) Về hoạt động cách mạng, ông đã từng rời Hà Nội vào Nam từ năm
1944 để du ngoạn và kiếm sống, ở đó khi cuộc cách mạng tháng Tám và kháng chiếnchống Pháp tái xâm lược Việt Nam nổ ra, ông tiếp tục làm việc trên mặt trận vănchương cho Việt Minh Khi chiến tranh sắp kết thúc năm 1954, ông tập kết ra Bắccùng với hàng ngàn cán bộ Việt Minh khác và bắt đầu làm việc tại Nhà Xuất bản Vănnghệ Chính vì ở cương vị này mà ông nắm vững được thông tin chi tiết về quá trìnhxuất bản tập thơ Ngôi sao(113)
Bên cạnh các nội dung khác, Nguyễn Bính khai triển một vấn đề do TrầnCông nêu ra trong bài viết trên báo Nhân Văn cách đó một tháng, về việc lạm dụng
“yêu cầu cách mạng” làm mục tiêu biện minh cho mọi hành động, thực chất là để chegiấu động cơ mưu lợi cá nhân Theo hướng này, Nguyễn Bính lật lại câu nhận xét, lúcbấy giờ đã bị nhiều người chê bai, về cuộc tranh luận Việt Bắc: “Địch nó khôngmong gì hơn là ta chê thơ Tố Hữu” Nguyễn Bính kết luận, thật là hổ thẹn khi “ÔngHoài Thanh đã đem cả địch ra mà bảo vệ cho thơ Tố Hữu” Theo Nguyễn Bính,nguyên nhân thực sự khiến Hoài Thanh bênh vực tập thơ Việt Bắc là quan hệ côngtác giữa ông ta và tác giả tập thơ - Tố Hữu là thủ trưởng của Hoài Thanh “Cái lốinịnh trên nạt dưới ấy tất nhiên ông Hoài Thanh phải đem sử dụng vào việc chấm giải
Vì ông Tố Hữu ai cũng biết là Trung ủy, là lãnh đạo văn nghệ, là Thứ trưởng…”(114)
Những lời phê của Nguyễn Bính còn trở nên trực tiếp hơn, cá nhân hơn khiông bàn tới mối liên hệ giữa giải thưởng văn học và tiền bản quyền khi xuất bản Ôngtiết lộ rằng trong tất cả các thi sĩ có sách in ở nhà xuất bản của Hội Văn nghệ, chỉ duynhất có thơ Tố Hữu là được sắp vào loại A, “nghĩa là thuộc cái loại giá trị nhất vàđược tính tiền bản quyền tác giả cao nhất (Không biết các ông lãnh đạo Hội có kiểmtra đôn đốc việc này hay không?)” Ở đây cần phải lưu ý rằng cụm từ “kiểm tra đônđốc” được sử dụng rất nhiều trong các văn kiện đảng Cũng tương tự như lời bàn củaông về việc Hoài Thanh viện tới “địch” để bênh vực tập thơ của Tố Hữu, NguyễnBính nhại cụm từ “tủ” này một cách mỉa mai để đánh động sự chú ý của mọi ngườirằng các quan chức cao cấp có thể dễ dàng lợi dụng những thuật ngữ cách mạng rấtvăn hoa để đánh bóng và hợp lý hóa những hành động, thực ra, có thể đơn thuần chỉ
là vụ lợi cá nhân
Trang 39Nguyễn Bính cũng bật mí những chi tiết xung quanh quá trình xuất bản tậpthơ Ngôi sao Theo ông, tất cả đội ngũ cán bộ của Nhà Xuất bản Văn nghệ, nơi ônglàm việc, đã đánh giá là tập thơ rất tệ, vì vậy, nó bị bỏ xó ở một góc văn phòng suốtmấy tháng, mãi đến khi “cấp trên” liên tục nhắc nhở, buộc Nguyễn Bính và đồngnghiệp phải triệu tập một cuộc họp, chọn ra những bài “đỡ tệ” nhất trong bản thảo đểgửi đến Nhà in Quốc gia “Vì lẽ Thơ Xuân Diệu không có độc giả, Xuân Diệu lại vậnđộng mãi với cấp trên, sau bất đắc dĩ nhà in Quốc gia nể quá mới in cho 1500 quyển”.Khi các thành viên của giới văn nghệ biết được tin Ngôi sao được giải nhì, “anh emkhông thể tưởng tượng được rằng lại có một cuộc xâm phạm trắng trợn văn nghệ nhưthế Anh em lạ quá là vì anh em không thể ngờ rằng ban giáo khảo lại có thể khinhthường văn nghệ, khinh thường anh em và quần chúng đến mức ấy” Để kết thúc bàiviết, Nguyễn Bính bày tỏ những suy nghĩ như sau:
“Hai ông Huy Cận và Hoài Thanh trong ban chung khảo tại sao lại “tích cựcbênh vực cho tập thơ Ngôi sao” (lời ông Nguyễn Tuân)? Ông Hoài Thanh trước cáchmạng đã biết chọn lọc các bài thơ hay của các thi sĩ để soạn thành quyển Thi nhânViệt Nam, có phê phán Ông Huy Cận, tuy bây giờ là Thứ trưởng bộ Văn hóa, nhưngtrước kia đã từng là một nhà thơ có tiếng tăm Thế thì đối với một tập thơ dở như tậpNgôi sao, tại sao hai ông lại tích cực bênh vực? Có phải tại ông Huy Cận và XuânDiệu chỉ là một, còn ông Hoài Thanh vụ trưởng vụ Nghệ thuật thì lại là cấp dưới củaông Huy Cận hay không?”(115)
Phạm Tường Hạnh
Bài báo cuối cùng trong thời kỳ Nhân văn - Giai phẩm liên quan đến XuânDiệu xuất hiện trên trang bìa của tờ Trăm Hoa số ba (ra ngày mồng 4 tháng Mườimột năm 1956) Tác giả là Phạm Tường Hạnh, một nhà văn cách mạng trẻ từ miềnNam ra Bắc tập kết sau kháng chiến chống Pháp, đang làm việc cho chương trìnhPhát thanh Thanh niên của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Tác giả phản đối ý kiến củaNguyễn Tuân trong bài tự phê, cho rằng đa số những nhận xét tiêu cực về tập thơNgôi sao xuất phát từ ác cảm với Xuân Diệu ở một số thành phần trong đội ngũ tríthức Ông viết: “Tôi tưởng vấn đề không phải thế Có thể có số người nào đó không
ưa tác giả Ngôi sao Nhưng không đến nỗi họ “giận cá chém thớt” để tẩy chay tácphẩm của Xuân Diệu Vả lại còn có nhiều người xưa nay chưa biết mặt mũi XuânDiệu ra sao như anh em miền Nam tập kết chẳng hạn, cũng nhiều người không thíchtập thơ Ngôi sao chút nào”(116)
(còn tiếp)
*1] Tiêu đề của tập thơ Ngôi sao gợi hình ảnh Đảng Lao động Việt Nam, vớiđảng kỳ có ngôi sao vàng trên nền đỏ Nhưng cũng có thể tác giả muốn chuyển tảicảm nghĩ về đảng như một ngôi sao dẫn đường Chúng tôi vẫn chưa tìm lại được tư
Trang 40liệu những số Trăm Hoa có đăng bài phê phán tập thơ Ngôi sao của Xuân Diệu Hìnhnhư tác giả của các bài phê bình đó là nhà thơ Trần Lê Văn.
*2] Xã luận, “Đại hội lần thứ 20 của Đảng Cộng sản Liên-Xô đã thành côngrực rỡ”, Nhân Dân, số 726, 28/2/1956 Xem thêm bài “Đồng chí Trường Chinh trả lờiphỏng vấn của phóng viên đài phát thanh Mạc-Tư-Khoa”, Nhân Dân số 733,6/3/1956
*3] X.Y.Z., Sửa Đổi Lề Lối Làm Việc (Hà Nội, Sự Thật, 1950)
*4] Hoài Thanh, “Một vài ý kiến về tập thơ ‘Ngôi sao’ của Xuân Diệu”, Vănnghệ, số 122, 24/5/1956
*5] Sđd So sánh những ý kiến đánh giá thơ lãng mạn Xuân Diệu trong bàinày với tác phẩm Thi nhân Việt Nam: 1932-1941 để thấy giọng văn Hoài Thanh đãthay đổi như thế nào
*6] Nguyễn Bính, “Hội cần phải mạnh dạn tự phê bình”, Văn nghệ, số 125,14/6/1956
*7] Huy Phương, “Phát biểu về tập thơ Ngôi sao của Xuân Diệu”, Văn nghệ,
số 126, 21/6/1956
*8] Một chi tiết thú vị đáng lưu ý là, đến tận tháng 6/1956, Huy Phương một người sắp tham gia phong trào Nhân văn - Giai phẩm vẫn có nhận xét tích cực vềcải cách ruộng đất
-*9] Huy Phương, trong “Phát biểu về tập thơ Ngôi sao”, dẫn bài “Xuân ViệtNam” và “Đêm Mười Chín” của Xuân Diệu
*10] Sđd
*11] Chỉ thị của Ban Bí thư, số 39/CT-TW, 3/8/56, “Về việc sửa chữa một
số sai lầm khuyết điểm trong các công tác nhằm ổn định tình hình và ngăn ngừa âmmưu khiêu khích của bọn phá hoại”, Văn Kiện Đảng Toàn Tập, 17:374
*12] “Quả thực” là thuật ngữ của đảng dùng để chỉ những tài sản tịch thu từnhững người bị coi là kẻ thù giai cấp trong chiến dịch cải cách ruộng đất, đem chiacho những người nghèo để chứng tỏ rằng đảng quan tâm đến lợi ích của họ
*13] “Chỉ thị của Ban Bí thư, số 39/CT-TW, 3/8/56, “Về việc sửa chữa một
số sai lầm khuyết điểm trong các công tác nhằm ổn định tình hình và ngăn ngừa âmmưu khiêu khích của bọn phá hoại”, Văn Kiện Đảng Toàn Tập, 17:374
*14] Nguyễn Huy Tưởng, Nhật ký của Nguyễn Huy Tưởng: Tập 3, Nghệ sĩ
và công dân (Hà Nội: Thanh Niên, 2006), 127
*15] Chúng tôi dùng từ “dân chủ” theo nghĩa các lãnh đạo đảng thường gáncho từ này, tức là khi cấp trên lắng nghe ý kiến phê bình của cấp dưới Một ví dụ cụ