1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO SÁT CẤU TẠO VÀ TÍNH CHẤT CƠ LÝ HÓA CỦA GỖ BẠCH ĐÀN TRẮNG BRAZIL (Eucalyptus Grandis)

98 232 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỒ CHÍ MINH ************ NGUYỄN THỊ YẾN ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH SINH TRƯỞNG CỦA CÂY MÂY NƯỚC Calamus armarus TRỒNG DƯỚI TÁN RỪNG TỰ NHIÊN LÀM CƠ SỞ CHO QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN VÙNG TRỒNG MÂ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

************

NGUYỄN THỊ YẾN

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH SINH TRƯỞNG CỦA CÂY MÂY

NƯỚC (Calamus armarus) TRỒNG DƯỚI TÁN RỪNG TỰ

NHIÊN LÀM CƠ SỞ CHO QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN

VÙNG TRỒNG MÂY NƯỚC TẠI XÃ BA LÒNG,

HUYỆN ĐAKRÔNG, QUẢNG TRỊ

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGÀNH LÂM NGHIỆP

Thành phố Hồ Chí Minh

Tháng 7/2011

Trang 2

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH SINH TRƯỞNG CỦA CÂY MÂY NƯỚC

(Calamus armarus) TRỒNG DƯỚI TÁN RỪNG TỰ NHIÊN

LÀM CƠ SỞ CHO QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN VÙNG TRỒNG MÂY NƯỚC TẠI XÃ BA LÒNG,

HUYỆN ĐAKRÔNG, QUẢNG TRỊ

Ngành: Lâm nghiệp

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Người hướng dẫn: TH.S TRƯƠNG VĂN VINH

Thành phố Hồ Chí Minh

Tháng 7/2011

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến + Quý thầy cô khoa lâm nghiệp đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong quá trình học tập và tạo điều kiện giúp đỡ cho tôi hoàn thành khóa luận này

+ Đặc biệt chân thành cám ơn Thầy Trương Văn Vinh đã tận tình hướng dẫn, động viên, truyền đạt kiến thức chuyên môn và giúp đỡ tôi hoàn thành cuốn luận văn này

+ Xin chân thành cám ơn Hạt Kiểm Lâm ĐakRông huyện ĐakRông, tỉnh Quảng Trị đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thu thập số liệu ngoại nghiệp

và các tài liệu liên quan đến đề tài

+ Tập thể lớp DH07LN đã giúp đỡ động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình đã hổ trợ và động viên cho quá trình học tập và hoàn thành luận văn của tôi

Do thời gian thực hiện đề tài có hạn và trình độ chuyên môn còn hạn chế, nên đề tài khó tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong được sự nhận xét, đống góp ý kiến của quý Thầy, Cô giáo và các bạn bè để đề tài được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cám ơn!

Tp.HCM, Tháng 6 năm 2011 Sinh Viên: Nguyễn Thị Yến

Trang 4

  iii  

TÓM TẮT

Đề tài nghiên cứu “Đánh giá tình hình sinh trưởng của cây mây nước

(Calamus armarus) trồng duới tán rừng tự nhiên làm cơ sở cho việc quy hoạch phát

triển vùng trồng mây nước tại xã Ba Lòng, huyện ĐakRông, Quảng Trị” được tiến

hành tại mô hình trồng mây dưới tán rừng tự nhiên thuộc lô 2 tiểu khu 828 vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông huyện Đakrông Tỉnh Quảng Trị, thời gian từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2011

Giáo viên hướng dẫn: Thạc sĩ Trương Văn Vinh

Phương pháp nghiên cứu được tiến hành trong đề tài là Đề tài nghiên cứu “Đánh

giá tình hình sinh trưởng của cây mây nước (Calamus armarus) trồng duới tán

rừng tự nhiên làm cơ sở cho việc quy hoạch phát triển vùng trồng mây nước tại xã

Ba Lòng, huyện ĐakRông, Quảng Trị” được tiến hành tại mô hình trồng mây dưới

tán rừng tự nhiên thuộc lô 2 tiểu khu 828 vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông huyện Đakrông Tỉnh Quảng Trị, thời gian từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2011

Giáo viên hướng dẫn: Thạc sĩ Trương Văn Vinh

Phương pháp nghiên cứu được tiến hành trong đề tài

Điều tra thu thập số liệu ngoài thực địa Sử dụng phần mềm Excel 2007 và Statgraphic 3.0 để xử lý số liệu Ngoài ra đề tài còn kề thừa một số tài liệu số liệu liên quan

Kết quả nghiên cứu bao gồm những nội dung chính sau:

1 Hiện trạng tài nguyên rừng tại khu vực nghiên cứu

Rừng tự nhiên tại khu vực huyện ĐakRông nói chung xã Ba Lòng nói riêng, với hiện trạng chủ yếu là rừng gỗ kín thuờng xanh nhiệt đới, độ che phủ rừng là 58,9 % , trạng thái rừng IIa chiếm diện tích lớn nhất trong tổng số diện tích rừng tự nhiên hiện nay là 2649,6 ha Đây là trạng thái rừng phục hồi sau khai thác, đa số các cây gỗ có giá trị kinh tế không cao

- Kết cấu tổ thành loài

- Phân bố số cây theo cấp đường kính (N/D1.3)

- Phân bố số cây theo chiều cao

Trang 5

- Đặc điểm thổ nhưỡng tại khu vực

2 Đánh giá tình hình sinh trưởng phát triển cây mây tại mô hình trồng mây duới tán rừng tự nhiên tại địa bàn xã

- Tỷ lệ sống của cây mây nước tại mô hình sau 42 tháng

Cây mây nước trồng dưới tán rừng tự nhiên với mật độ ban đầu 2000 cây/ha, khoảng từ 660-670 khóm/ha Theo quy trình trồng Mây nước của trung tâm nghiên cứu lâm đặc sản

Hình thức trồng theo khóm trên băng (băng rộng 1,5 m, Băng cách băng 5,0 m, khóm 3 cây trồng theo hình tam giác đều có cạnh là 0,6m, khóm cách khóm 1,5 đến 2,0m) Hố trồng (20cm x 20cm x 20cm) Phân bón NPK: 100g/cây

- Các chỉ tiêu sinh trưởng bình quân của cây mây tại thời điểm hiện tại

- Phân bố số cây theo cấp đường kính

- Phân cấp số cây theo cấp chiều dài thân:

- Đánh giá trữ lượng của cây mây nước tại mô hình

3 Tình hình sản xuất chế biến song mây tại địa bàn huyện ĐakRông và dòng thị trường song mây hiện nay

- Tình hình tiêu thụ mây nước trên thị trường

- Dòng thị trường mây tại xã Ba Lòng

- Tìm hiểu một số mặt ảnh hưởng giữa cây mây trồng và người dân xã Ba Lòng + Ảnh hưởng đến sinh kế

+ Tác động đến môi trường sinh thái

Việc trồng mây dưới tán rừng tự nhiên góp phần làm giàu rừng và tăng độ che phủ, bảo vệ môi trường sinh thái nói chung và hạn chế hoạt động khai thác mây từ rừng

tự nhiên

- Phân tích những thuận lợi và khó khăn của việc trồng mây trên địa bàn

4 Đề xuất một số giải pháp để quy hoạch phat triển nhân rộng mô hình trồng mây dưới tán rừng tự nhiên tại xã Ba Lòng, huyện ĐakRông, Quảng Trị trong tương lai

- Những giải pháp xã hội

- Những giải pháp về khoa học công nghệ

5 Các biện pháp gây trồng, khai thác, chế biến mây trên địa bàn

Trang 6

  v  

MỤC LỤC Trang

TRANG TỰA i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT iii

MỤC LỤC v

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii

DANH SÁCH CÁC BẢNG ix

DANH SÁCH CÁC HÌNH x

Chương 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.3 Giới hạn nghiên cứu 3

Chương 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4

2.1 Tình hình nghiên cứu lâm sản ngoài gỗ nói chung, song mây nói riêng 4

2.1.1 Trên thế giới 4

2.1.2 Trong nước 5

2.1.3 Trong tỉnh 10

2.2 Khái niệm lâm sản ngoài gỗ 11

2.3 Phân loại lâm sản ngoài gỗ 12

2.3.1 Hệ thực vật rừng 12

2.3.2 Hệ động vật rừng 13

2.4 Vai trò của lâm sản ngoài gỗ 13

2.4.1 Về kinh tế 13

2.4.2 Vai trò xã hội 14

2.4.3 Vai trò phòng hộ bảo vệ môi trường sinh thái 14

2.5 Giá trị và lợi ích của cây mây 14

Trang 7

Chương 3 ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 15

3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của khu vực nghiên cứu 15

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 15

3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội xã Ba Lòng 19

3.2 Mô hình trồng mây dưới tán rừng tự nhiên 22

3.2.1 Nguồn gốc của mô hình 22

3.2.2 Mục tiêu của việc xây dựng mô hình trồng mây nước dưới tán rừng tự nhiên trên địa bàn xã 23

3.2.3 Địa điểm và thời gian thực hiện 24

3.3 Điều tra về các hộ tham gia trồng mây 24

3.4 Đặc điểm thực vật học của cây mây nước 24

3.5 Các biện pháp gây trồng, khai thác, chế biến mây trên địa bàn 25

3.5.1 Biện pháp gây trồng mây nước 25

3.5.2 Khai thác mây 29

3.5.3 Chế biến mây 30

Chương 4 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

4.1 Nội dung nghiên cứu 31

4.2 Phương pháp nghiên cứu 32

4.2.1 Ngoại nghiệp 32

4.2.2 Nội nghiệp 34

Chương 5 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36

5.1 Hiện trạng tài nguyên rừng tại khu vực nghiên cứu 36

5.1.1 Kết cấu tổ thành loài 37

5.1.2 Phân bố số cây theo cấp đường kính (N/D1.3) 38

5.1.3 Phân bố số cây theo chiều cao 40

Trang 8

  vii  

5.1.4 Đặc điểm thổ nhưỡng tại khu vực 41

5.2 Đánh giá tình hình sinh trưởng phát triển cây mây tại mô hình trồng mây duới tán rừng tự nhiên tại địa bàn xã 41

5.2.1 Tỷ lệ sống của cây mây nước tại mô hình sau 42 tháng 41

5.2.2 Các chỉ tiêu sinh trưởng bình quân của cây mây tại thời điểm hiện tại 44

5.2.3 Phân bố số cây theo cấp đường kính 45

5.2.4 Phân cấp số cây theo cấp chiều dài thân 47

5.2.5.Đánh giá trữ lượng của cây mây nước tại mô hình 48

5.3 Tình hình sản xuất chế biến song mây tại địa bàn huyện ĐakRông và dòng thị trường song mây hiện nay 49

5.3.1 Tình hình tiêu thụ mây nước trên thị trường 49

5.3.2 Dòng thị trường mây tại xã Ba Lòng 51

5.3.3 Tìm hiểu một số mặt ảnh hưởng giữa cây mây và người dân xã Ba Lòng 52

5.3.4 Phân tích những thuận lợi và khó khăn của việc trồng mây trên địa bàn 54

5.4 Đề xuất một số giải pháp để nhân rộng mô hình 57

5.4.1 Những giải pháp về kinh tế 58

5.4.2 Những giải pháp xã hội 58

5.4.3 Những giải pháp về khoa học công nghệ 59

Chương 6 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 61

6.1 Kết luận 61

6.2 Kiến nghị 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT BCI Dự án bảo tồn đa dạng sinh học

BIRDLIFE Tổ chức bảo tồn chim Quốc tế FAO Tổ chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc JBIC Dự án trồng rừng phòng hộ đầu nguồn sông Thạch Hãn (Quảng Trị)

Ha Héc ta

m Mét

cm Centimét ĐNA Đông Nam Á LSNG Lâm sản ngoài gỗ RTN Rừng tự nhiên UBND Ủy Ban Nhân Dân

Trang 10

  ix  

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Diện tích rừng tại xã Ba Lòng 16

Bảng 3.2: Đặc điểm khí hậu xã Ba Lòng 18

Bảng 3.3: Cơ cấu sử dụng đất tại xã Ba Lòng 21

Bảng 3.4: Tình hình thu nhập của thôn Hà Vụng 22

Bảng 3.5: Thông tin về các hộ tham gia trồng mây 24

Bảng 3.6: Quy trình gây trồng mây nước từ hạt 28

Bảng 5.1: Thống kê diện tích rừng tự nhiên tại xã Ba Lòng 36

Bảng 5.2: Cấu trúc tổ thành loài của đối tượng nghiên cứu 37

Bảng 5.3: Phân bố số cây theo đường kính 37

Bảng 5.4: Phân bố số cây theo chiều cao 40

Bảng 5.5: Đặc điểm thổ nhưỡng tại khu vực nghiên cứu 41

Bảng 5.6: Mật độ mây nước tại 5 ô điều tra 42

Bảng 5.7: Chỉ tiêu sinh trưởng bình quân cây mây sau 42 tháng tại 5 ô điều tra 44

Bảng 5.8: Phân bố số cây theo cấp đường kính 45

Bảng 5 9: Số cây theo cấp chiều dài thân 47

Bảng 5.10:Trọng lượng của thân mây trên 1 ha tại thời điểm hiện tại 49

Bảng 5.11: Dự tính tổng chi phí và lợi nhuận thu được trong lần khai thác đầu tiên 51

Bảng 5.12: Hoạt động khai thác mây trước năm 2004 và sau năm 2004 đến nay 52

Trang 11

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình 2.1: Phân loại sản phẩm rừng và cây rừng 12

Hình 3.1: Bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng xã Ba Lòng 16

Hình 3.2: Biểu đồ tỷ lệ Nam, Nữ xã Ba Lòng 20

Hinh 3.3: Sơ đồ trồng mây nước theo khóm 27

Hình 4.1: Cách lập ô tiêu chuẩn 32

Hình 5.1: Biểu đồ cấu trúc tổ thành loài của đối tượng nghiên cứu 38

Hình 5.2: Biểu đồ phân bố số cây theo đường kính 39

Hình 5.3: Biểu đồ phân bố số cây theo chiều cao 40

Hình 5.4: Mô hình trồng mây theo băng 44

Hình 5.5: Mô hình trồng mây dưới tán rừng tự nhiên 45

Hình 5.6: Biểu đồ phân bố số cây theo cấp đường kính 46

Hình 5.7: Biểu đồ phân bố số cây theo chiều dài thân 48

Hình 5.8: Sơ đồ dòng thị trường mây ở xã Ba Lòng 52

Trang 12

Rừng nhiệt đới nói chung và rừng Việt Nam nói riêng, thành phần các loài cây đặc sản đa dạng và phong phú bao gồm nhiều chủng loại, nhiều dạng sống và phân bố trong nhiều tầng rừng Khai thác đặc sản thường ít ảnh hưởng đến cấu trúc của rừng và cân bằng sinh thái môi trường rừng Nếu đặc sản được phát triển sẽ làm giàu rừng bằng các cây đa mục đích, tạo kết cấu rừng bền vững, nâng cao giá trị phòng hộ, góp phần phát triển môi trường sinh thái rừng một cách bền vững Đặc sản nhìn chung cho sản phẩm ngắn ngày và có giá trị cao hơn so với cây gỗ, cước phí vận chuyển lại thấp, thu hồi vốn nhanh, nên dễ được người dân miền núi cả vùng sâu, vùng xa chấp nhận trong các chương trình xã hội nghề rừng, tạo rừng bền vững

Trong thực tế thì người dân cũng đã tự biết giá trị của các loại đặc sản rừng đối với đời sống và kinh tế Các loài cây đặc sản có giá trị kinh tế cao được người dân vùng núi lựa chọn và từ lâu đã được trồng thành rừng hoặc trong vườn hộ gia đình đã đem lại hiệu quả kinh tế cao Trong những chương trình phát triển kinh tế miền núi của Chính phủ cũng đã quan tâm tới việc phát triển các loài lâm đặc sản, trong đó phải nói đến chương trình định canh định cư, chương trình 327, chương trình 5 triệu ha rừng

Đặc biệt nói về cây mây đây là loài cây có phân bố ở khắp các khu rừng tự nhiên trừ rừng ngập mặn, tập trung chủ yếu ở rừng lá rộng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp và núi trung bình Từ xưa mây rừng vốn là nguyên liệu quý giá từng được người dân sử dụng rất nhiều để phục vụ cho cuộc sống của họ như làm nhà ở, làm ghế mây, làm nôi, và một điều đáng quan tâm trên hết là giá trị kinh tế mà cây mây mang lại cho người dân sống gần rừng, phụ thuộc vào rừng được đánh giá là khá cao Chính

Trang 13

vì vậy người ta mải mê khai thác mà không hề nghĩ tời việc khoanh nuôi, bảo vệ nguồn tài nguyên mây đang ngày một cạn kiệt dần

Đồng thời cây mây rất phù hợp làm nguyên liệu cho sản xuất hàng thủ công

mỹ nghệ Tuy nhiên nguồn nguyên liệu không đủ để phục vụ sản xuất đang là thách thức lớn đối với những cơ sở sản xuất các loại mặt hàng song mây

Đakrông là một huyện miền núi nằm phía tây tỉnh Quảng Trị, là huyện khó khăn nhất trong tỉnh, toàn huyện có 13 xã và 1 thị trấn, phần lớn là nguời đồng bào dân tộc thiểu số Vân Kiều và Pa Cô chiếm trên 70% Trình độ dân trí còn thấp, phong tuc tập quán còn lạc hậu, việc tác động vào rừng như săn bắn, khai thác gỗ, lâm sản phụ để sinh sống vẫn còn xãy ra Đời sống của người dân vùng núi Đakrông nói chung và xã

Ba Lòng nói riêng từ xưa đến nay chủ yếu phụ thuộc vào rừng núi.Tổng diện tích đất

tự nhiên toàn huyện là 122.322,2 ha, tổng diện tích đất có rừng là 73.106 ha, độ che phủ rừng là 58,9 % rừng tự nhiên 68.403 ha, rừng trồng 4.703 ha

Nhận thấy được lợi ích của cây mây từ rừng tự nhiên mang lại cho người dân vùng núi, tổ chức hiệp hội chim quốc tế (Birdlife international) đã đầu tư dự án trồng mây dưới tán rừng tự nhiên nhằm góp phần cải thiện sinh kế và bảo vệ rừng bền vững Đây là mô hình tạo sinh kế bền vững cho người dân miền núi tỉnh Quảng Trị, nó hướng tới người nghèo tại tỉnh Quảng Trị

Lâm sản ngoài gỗ nói chung và cây mây nói riêng là bộ phận của rừng nhiệt đới, quan hệ tới sự duy trì và phát triển của hệ sinh thái rừng Cây mây nằm dưới tán rừng luôn giữ độ ẩm, nâng cao độ che phủ và tính phòng hộ cho rừng, Cũng chính vì những giá trị và lợi ích mà song mây mang lại là rất lớn tiềm năng phát triển là rất mạnh mẽ Tuy nhiên những nghiên cứu về sinh truởng cũng như gieo trồng các loài song mây còn rất hạn chế

Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá tình hình sinh trưởng

của cây mây nước (Calamus armarus) trồng duới tán rừng tự nhiên làm cơ sở cho

việc quy hoạch phát triển vùng trồng mây nước tại xã Ba Lòng, huyện Đakrông, Quảng Trị” Nhằm nhân rộng mô hình trồng mây duới tán rừng tự nhiên, góp phần

quản lý và bảo vệ rừng tạo sinh kế bền vững cho người dân vùng núi Đakrông nói chung và xã Ba Lòng nói riêng

Trang 14

1.3 Giới hạn nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện do trình độ, thời gian có hạn nên đề tài chỉ nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng cơ bản của mô hình trồng mây dưới tán rừng tự nhiên thuộc vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên huyện Đakrông tỉnh Quảng trị Do đó rất mong nhận được những đóng góp của quý thầy cô và các bạn để đề tài hoàn chỉnh hơn

Trang 15

Chương 2

TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Tình hình nghiên cứu lâm sản ngoài gỗ nói chung, song mây nói riêng

2.1.1 Trên thế giới

Các loại Lâm sản ngoài gỗ là nguồn lực kinh tế, dinh dưỡng quan trọng cho cộng đồng và dân cư nông thôn Theo tổ chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc (FAO, 1997) ước tính khoảng 80% dân số các nước phát triển dùng các sản phẩm từ rừng ngoài gỗ cho nhu cầu dinh dưỡng và sức khỏe, thu nhập của hàng triệu gia đình trên thế giới dựa vào các LSNG, tổng giá trị thương mại của các sản phẩm này ước tính

khoảng 1.100.000 USD

Ở Lào, theo nghiên cứu của Joost Foppes và các cộng sự (1997), tại cao nguyên Nakai xác định 306 loài cho sản phẩm ngoài gỗ, trong đó có 223 loài cho thực phẩm, trong số này có 50 loài cho lá ăn được và 50 loài cho trái ăn được Nguồn thu nhập của nông hộ tại cao nguyên Nakai từ LSNG là 76%

Trong khu vực Đông Nam Á ước tính có khoảng từ 80 – 100 triệu người sống trên đất rừng cộng đồng, con số này có thể sẽ tăng lên gấp đôi trong vòng từ 20 - 30 năm tới Hơn thế, có tới 200 triệu cư dân nông thôn ít nhiều sống phụ thuộc vào rừng

Theo tổ chức mây tre thế giới (INBAR- International Bamboo and Rattan) Tổ chức này đã thống kê nhiều nghiên cứu về tre nứa và song mây trên thế giới Riêng về song mây thì theo tổ chức này hiện nay trên thế giới có 129.000 nghiên cứu đã được công bố về phân loại, sinh thái, sinh trưởng, phát triển, nhân giống, bảo tồn

Song mây đã đem lại công ăn việc làm cho khoảng 70.000 người dân Trung Quốc Do khai thác quá mức một số loài cần phải đưa vào bảo tồn và phát triển Từ giữa năm 1970 người ta đã quan tâm đến bảo tồn song mây và các khu bảo tồn rừng nhiệt đới tự nhiên đã được thành lập ở Hải Nam và Junnan Viện nghiên cứu rừng nhiệt đới và Viện Thực vật học nhiệt đới ở Junnan đã bắt đầu nghiên cứu về sinh thái,

Trang 16

trồng, nghiên cứu quá trình phát triển cũng như thời kì vật hậu của các loài (Calamus

tetradactylus, Daemonorop margaritae) cũng được trình bày khá chi tiết Đặc biệt

những nghiên cứu về dinh dưỡng khoáng của cây con, nghiên cứu nuôi cấy mô phục

vụ cho nhân giống các lòa song mây bị đe dọa (C simlicifolius, C egregius, C

gracilis, D margaritae vµ D jenkinsiana) đã được nhóm tác giả quan tâm và đạt kết

quả khả quan

L T Hong, V Ramantha Rao and W Amaral, 2002: Rattan genetic resource conservation and use IPGRI’S perspective and strategy, Rattan: current research issues and prospects for conservation and sustainable development, 14 (Bảo tồn nguồn tài nguyên gen của mây song và xu hướng, chiến lược sử dụng) Nhóm tác giả đã xác định các loài song mây để bảo tồn đồng thời đánh giá nguồn gen đa dạng của song mây Trong báo cáo này, vấn đề bảo tồn tại chổ đã được đặt ra như là ưu tiên trong chiến lược bảo tồn song mây Tác giả cũng cho rằng, việc đánh giá hiện trạng tài nguyên song mây đặc biệt các loài có tầm quan trọng về kinh tế sẽ góp phần quan trọng đối với thành công trong bảo tồn tại chỗ

Isara Vongkaluang, 2002: Thai rattan in the early 2000, Rattan: current research

issues and prospects for conservation and sustainable development, 14 (Mây song Thái Lan đầu những năm 2000) Tác giả cho rằng, đối với Thái Lan tài nguyên song mây có ý nghĩa kinh tế, xã hội quan trọng Tuy nhiên do khai thác không có kế hoạch, nguồn ngoài

tự nhiên đã va đang giảm sút nhanh chóng Để khôi phục lại nguồn ngoài tự nhiên cần đẩy mạnh hơn nữa các nghiên cứu cơ bản về loài, sinh thái, lâm sinh, kỹ thuật gây trồng đặc biệt là trồng xen canh

2.1.2 Trong nước

Việt Nam, nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa nên rất đa dạng về các kiểu rừng

và có hệ thực vật, động vật phong phú với trên 11.000 loại thực vật có mạch, 1000 loại

Trang 17

rêu, 2500 loại tảo, 826 loại nấm lớn, 276 loại thú, 828 loại chim, 180 loại bò sát, 80 loại lưỡng cư, 2510 loại cá nước ngọt và cá biển (Hoàng Văn Thắng, 1998) Đây là nguồn LSNG rất phong phú của Việt Nam, chỉ thống kê một ô tiêu chuẩn của kiểu rừng kín nhiệt đới thường xanh, một kiểu rừng có giá trị cao tại vùng Bắc Trung Bộ đã

có trên 100 loại gỗ lớn, hơn 100 loài cây bụi, cây thảo, dây leo và cây phụ sinh, trong

đó có rất nhiều loại thuộc lâm sản ngoài gỗ Hiện nay chúng ta đã biết được giá trị sử dụng của khoảng 5.000 loài thực vật tại Việt Nam (Vũ Văn Dũng, 2004)

Từ năm 1984 nhà nước đã giao cho ngành Lâm Nghiệp thống nhất quản lý các loại đặc sản rừng (Quyết định 160 Hội Đồng Bộ Trưởng ngày 10 tháng 12 năm 1984), nhưng nhiều cấp chỉ nghĩ đến việc tận dụng các loại lâm sản này mà không có một chiến lược phát triển nó một cách bền vững Tuy nhiên cũng có một số nghiên cứu về nuôi trồng , chế biến, đề xuất các chính sách liên quan đến LSNG

Theo số liệu của FAO, ước tính có khoảng 80% dân số trong các nước đang phát triến sử dụng LSNG nhằm đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển cộng đồng Vài triệu hộ gia đình trên toàn thế giới sống nhờ vào các sản phẩm này để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng thiết yếu hàng ngày hay là tạo thu nhập Ước tính tổng giá trị thương mại quốc tế của LSNG hàng năm khoảng trên dưới 10 tỷ USD Và Việt Nam là một nước

có tiềm năng về LSNG rất lớn trong khu vực ĐNA, hơn 3/4 tổng diện tích lãnh thổ là đồi núi, mà đặc biệt là Việt Nam có nền khí hậu nhiệt đới ẩm cho nên rất phù hợp cho việc phát triển các loại song mây

Hiện nay thị trường LSNG tại Việt Nam và một số nước trên thế thế giới đang phát triển, trong đó phải kể đến thị trường song mây Cây mây đã mang lại cho người dân vùng nông thôn Việt Nam không ít những cơ hội để tạo thu nhập, tạo việc làm, vì vậy mà trong những năm gần đây việc gây trồng các loài mây tại Việt Nam đã được chú trọng đầu tư bên cạnh việc bảo vệ khoanh nuôi các loài mây bản địa từ rừng tự nhiên

Đã có nhiều tỉnh trong nước tiến hành nghiên cứu và phát triển cây mây nhằm tạo sinh kế bền vững cho người dân mà đặc biệt là người dân sống gần rừng và phụ thuộc vào rừng

Huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh có điều kiện khí hậu phù hợp cho việc trồng

Trang 18

7

núi của huyện Mây nếp có đặc tính vỏ trắng ngà, bóng đẹp, bền, độ cảm quang mạnh khi nhuộm màu, chịu nhiệt và kháng ẩm cao Từ bẹ lá, vỏ ruột cây đều dễ uốn, dễ định hình, chế tác cùng các vật liệu khác như gỗ, tre, da Trồng thử nghiệm mây nếp trên diện tích 2 ha ở xã Quảng Sơn và Quảng Đức Sau hơn một năm trồng, hiện nay, cây mây nếp phát triển khá tốt, mang lại nhiều triển vọng Qua thực tế trồng cho thấy đưa mây nếp vào trồng ở Hải Hà không những góp phần phủ xanh đồi trọc, mà còn mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nông dân Mây nếp chỉ cần trồng một lần nhưng thu hoạch được nhiều lần và trong nhiều năm Trong tương lai, mây nếp sẽ đồng hành cùng cây chè góp phần thúc đẩy kinh tế Hải Hà phát triển

Khảo nghiệm trồng cây mây nếp dưới tán rừng trồng và tán rừng tự nhiên tại xã Văn Lem và Đăk Trâm, huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum Bằng nguồn vốn hoạt động khoa học công nghệ năm 2008, trong thời gian qua, phòng Nông nghiệp huyện Đăk Tô cùng các cộng sự đã bắt đầu thực hiện đề tài khoa học khảo nghiệm trồng cây mây nếp dưới tán rừng trồng và tán rừng tự nhiên tại hai xã Văn Lem và Đăk Trâm, huyện Đăk

Tô, tỉnh Kon Tum Đơn vị chủ trì đề tài là phòng Nông nghiệp huyện Đăk Tô đã tiến hành điều tra khảo sát chọn địa điểm, chọn hộ, thiết kế xây dựng mô hình, đã chọn đựơc 10 hộ có đủ điều kiện tham gia mô hình, trong đó xã Đăk Trâm có 4 hộ với diện tích 2,3 ha, xã Văn lem có 6 hộ với diện tích 2,7 ha Đa số các hộ được chọn làm mô hình có khả năng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, có thâm niên và kinh nghiệm trong trồng rừng và bảo vệ rừng

Trong thời gian triển khai thực hiện, phòng Nông nghiệp đã phối hợp với UBND các xã và cán bộ khuyến nông xã trực tiếp chỉ đạo và hướng dẫn các hộ tiến hành thiết kế, phát dọn theo luống, đào hố, bón phân và tiến hành trồng với quy mô 5

ha với tổng số lượng cây giống là 12.500 cây Tỷ lệ cây sống đạt trên 90%

Lâm Đồng cũng đã trồng được cây mây rừng Giống mây được trồng là mây nếp rừng, được đưa về nhân nuôi trong bầu cho đến khi cây non ra được 4 lá thì đưa vào lại rừng trồng dưới những tán rừng cây sao đen và rừng nghèo kiệt có đất chủng feralit

Cao Bằng thâm canh cây mây nếp dưới tán rừng Trung tâm Khuyến nông- Khuyến lâm tỉnh Cao bằng vừa triển khai xây dựng mô hình trồng cây mây nếp dưới tán rừng trên diện tích hơn 50 ha với sự tham gia của 60 hộ dân tại hai xã vùng cao

Trang 19

Bạch Đằng (huyện Hoà An) và Cao Chương (huyện Trà Lĩnh) Các hộ dân tham gia

dự án đều được hỗ trợ giống, phân bón và tập huấn kỹ thuật trồng cây mây nếp như:

xử lý hạt, gieo hạt, cấy cây,cách che nắng, Cây mây nếp được trồng dưới tán rừng sẽ đem lại hiệu quả kinh tế khá cao khi mức đầu tư ít, chỉ trồng một lần và chỉ sau 4 năm

có thể thu hoạch với thời gian thu hoạch lứa đầu từ 8 - 10 năm Sợi mây được dùng để làm đồ thủ công mỹ nghệ phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu

Hiệu quả từ dự án lâm sản ngoài gỗ tại Hà Tĩnh "Cây mây là một trong những loại LSNG rất có tiềm năng về kinh tế đã được người dân Hà tinh tự chọn để phát triển tại vườn nhà, vườn rừng Mây là nguồn nguyên liệu để phát triển sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ rất có giá trị Do áp lực của nhu cầu nguyên liệu nên những năm gần đây, việc khai thác song mây hoang dại quá mức đã dẫn đến suy thoái nghiêm trọng nguồn tài nguyên thiên nhiên này Năm 1998, dự án LSNG đã hỗ trợ hai xã Cẩm Sơn

và Cẩm Mỹ huyện Cẩm Xuyên bằng cách cung cấp 70 ngàn cây giống mây tắt đồng thời hướng dẫn kỹ thuật trồng theo phương thức phân tán xung quanh vườn nhà Sau khi trồng được 4 năm, cây mây đã cho thu hoạch lứa đầu với chi phí lao động cho trồng mây ít, chỉ tốn công trồng và chăm sóc ban đầu, sợi mây tắt rất được các làng nghề truyền thống ưa chuộng nên bán rất được giá từ 6.000 – 7.500đ/kg Từ lợi ích của cây mây mang lại nên từ tháng 4 năm 2004, dự án LSNG pha 2 đã tiếp tục triển khai mở rộng ra 5 xã là Cẩm Mỹ, Cẩm Sơn, Cẩm Quan, Cẩm Thịnh, Cẩm Minh huyện Cẩm Xuyên Dự án triển khai theo phương thức trồng mây tắt thâm canh kết hợp với việc phát triển LSNG nhiều tầng Đây là mô hình nông, lâm kết hợp và mây tắt là cây chủ đạo Trong thời gian chờ cây mây khép tán, nông dân có thể trồng xen các loại cây LSNG ngắn ngày như: Khoai mài, Hương bài, Nhân trần, chè vằng và các loại cây nông nghiệp như sắn, ngô, khoai lang, lạc, các cây che bóng cho mây như cây mớc, dó trầm Từ mô hình lâm sản nhiều tầng này, người nông dân có thể tận dụng cả về diện tích đất, thời gian chiếu sáng, cả thu nhập thường xuyên và cuối cùng là tăng hiệu quả đầu tư trên 1 đơn vị diện tích

Thái Bình trồng mây trên đất lúa chuyển đổi Năm 2003, được UBND xã Bình Minh tạo điều kiện, ông Vũ Xuân Đức (thôn Phú Mỹ, Bình Minh, Kiến Xương) xin chuyển đổi 1000m2 ruộng ven làng cấy lúa năng suất thấp để trồng cây mây cung cấp

Trang 20

Hà Nam xây dựng mô hình trồng mây vùng đồi núi diện tích 7 ha ở hai xã Liên Sơn và Ba Sao trên cơ sở đầu tư ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới để phát triển cây mây tạo vùng nguyên liệu cho mây giang đan Kết quả đạt được là đã xây dựng mô hình trồng mây bao đồi: Mô hình triển khai trên diện tích 7 ha với 35.000 cây mây theo các mô hình cụ thể cho ba vùng sinh thái:

- Trồng mây ven chân núi đá vôi và trên đất có đá lộ đầu với quy mô 2,5 ha và trồng được 12.500 cây Trong đó xã Liên Sơn với 1,3 ha trồng được 6.500 cây, xã Ba Sao với 1,2 ha với 6.000 cây Tỷ lệ cây sống, trung bình đạt 90%, cây sinh trưởng và phát triển tốt

- Trồng mây ven chân núi đá và dưới tán cây vải chua với quy mô 0, 8 ha ở cửa

Dù xã Liên Sơn và đã trồng được 4.000 cây Tỷ lệ sống đạt 84%, cây sinh trưởng và phát triển tốt

- Trồng mây dưới tán rừng keo và bạch đàn trên tầng đá Đôlomit với lớp đất mỏng với quy mô 3,7 ha, trồng được 18.500 cây Trong đó xã Liên Sơn với diện tích 1,4 ha trồng được 7.000 cây dưới tán rừng keo và bạch đàn, xã Ba Sao với diện tích 2,3 ha trồng được 11.500 cây dưới tán rừng keo Trồng mây theo mô hình này sau 3 tháng cây đã bén rễ hồi xanh, nhưng do thời tiết và đất đai ở vùng này nên tỷ lệ sống chỉ đạt 50%

Kết quả sau 2 năm xây dựng mô hình, dự án đã giúp nhân dân các xã miền núi trong huyện hướng khai thác có hiệu quả cây mây trên vùng đất dốc, góp phần chuyển

Trang 21

dịch cơ cấu cây trồng Tuy nhiên số cây trồng thử nghiệm mới chỉ đạt 74,17%, cần phải rút kinh nghiệm về thời điểm trồng cây giống cho phù hợp để nâng cao tỷ lệ cây sống trong các điều kiện thời tiết khắc nghiệt

2.1.3 Trong tỉnh

Quảng Trị trồng cây mây tạo sinh kế và bảo vệ môi trường bền vững ở Đakrông Năm 2007, thông qua tổ chức bảo tồn chim quốc tế (Birdlife international), Đại sứ Vương quốc Anh tại Việt Nam đã giúp cho người dân hai xã Húc Nghì, Ba Lòng (huyện Đakrông) xây dựng hai mô hình trồng mây dưới tán rừng tự nhiên Đây là mô hình thuộc hợp phần cung cấp các sinh kế cho người dân sống tại vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông và các vùng chim quan trọng trên đất thấp

Trước khi triển khai mô hình, dự án đã tổ chức cho người dân đi tham quan, học tập mô hình trồng mây ở tỉnh Quảng Ngãi để “mắt thấy, tai nghe”, làm quen với những thao tác kỹ thuật cơ bản trong ươm giống, làm đất, trồng, chăm sóc cây mây, trước khi bắt tay vào thực hành tại địa phương Nhiều người dân khi tiếp cận, làm quen với việc trồng mây đã phấn khởi nói: “cây mây là cây rất quen thuộc nhìn thấy trong rừng, trong rẫy hàng ngày mà Bây giờ biết trồng mây không khó mà vẫn cho thu nhập cao, bà con phấn khởi lắm”

Dự án đã chọn thôn Hà Vũng, xã Ba Lòng triển khai trồng 5 ha tại 5 hộ gia đình, thời gian thực hiện trong hai tháng 9 và 10 năm 2007 Tại thôn Cợp, xã Húc Nghì, dự án triển khai trồng 16 ha cho tám hộ gia đình, thực hiện trong hai tháng

1 và 2 năm 2008 Dự án tài trợ cho nhân dân phân bón, cây giống, dụng cụ sản xuất, tập huấn và tư huấn kỹ thuật trồng cây mây Người dân tham gia hoạt động mô hình đóng góp 100% công lao động Tổng kinh phí cho hoạt động trồng mây tại hai thôn là trên 143 triệu đồng Cả hai mô hình trồng mây đều được trồng với mật độ 2000 cây/ha, trên băng rộng 1,5 m, băng này cách băng kia 5 m, khóm cách khóm trên băng là 3 m Khóm được trồng theo hình tam giác cân, có cạnh là 60 cm Đất trồng mây là đất dưới tán rừng tự nhiên, độ dốc không qúa lớn, ít đá lẫn Do đặc tính của cây mây là cần có giá để leo, cán bộ kỹ thuật đã lựa chọn phương pháp trồng theo khóm trên băng Mục đích của quy trình kỹ thuật này là tận dụng khả năng dựa vào nhau của các cây mây khi còn nhỏ, vì vậy mà 3 cây trên khóm sẽ dựa vào nhau để phát triển, vươn cao và

Trang 22

11

Sau thời gian triển khai, hai mô hình trồng mây trên đã được tổ chức Birdlife international và Đại sứ quán Vương quốc Anh nghiệm thu, đánh giá với tỷ lệ cây sống đạt từ 91,1 đến 95,3%

Ông Lê Văn Quý, chi cục phó chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết, cây mây nước là cây bản địa nên hoàn toàn phù hợp với điều kiện tự nhiên, thời tiết khí hậu, thổ nhưỡng ở địa phương, thích hợp dưới tán rừng tự nhiên nên tiềm năng đất đai để trồng cây nây là rất dồi dào Cây mây dễ trồng, chi phí đầu tư thấp, phù hợp với khả năng canh tác và tự đầu tư của người dân, nhất là bà con dân tộc Vân Kiều, Pa Cô Cây mây là nguồn nguyên liệu đang có nhu cầu tiêu thụ lớn trên thị trường, cung không đủ cầu, đầu ra cho sản phẩm rất ổn định

Ngay tại huyện Đakrông đã có doanh nghiệp Mai Hoàng chuyên thu mua, chế tác mây, sẵn sàng thu mua hết sản phẩm của bà con trồng với giá cả cạnh tranh Loại

cây này còn hứa hẹn mang lại hiệu quả kinh tế cao, ổn định và bền vững

Sau 5-7 năm trồng là có thể đưa vào khai thác và khai thác trên nhiều lần, cho mức thu nhập bình quân một ha từ 10 đến 15 triệu đồng/năm Đặc biệt từ mô hình này

sẽ mở ra hướng mới cho người dân sống ở vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông

có việc làm và thu nhập, giảm áp lực sống dựa vào rừng, góp phần quan trọng trong công tác bảo vệ rừng đầu nguồn, khôi phục lại sinh cảnh sống cho một số loài chim thú, bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường sinh thái bền vững

Đến nay hai mô hình trồng cây mây ở huyện miền núi Đakrông đã bước đầu có hiệu quả về sinh kế và bảo vệ môi trường Đây cũng là mô hình trồng cây mây để tạo sinh kế và bảo vệ rừng đầu tiên ở tỉnh Quảng Trị Chi cục Kiểm lâm Quảng Trị sẽ phối hợp với chính quyền các cấp trong tỉnh để phát triển mô hình này ở các xã xung quanh khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông và khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hoá (thuộc huyện Hướng Hoá)

2.2 Khái niệm lâm sản ngoài gỗ

Theo FAO, 1999 Lâm sản ngoài gỗ là các sản phẩm nguồn gốc sinh vật, loại trừ gỗ lớn, có ở rừng, ở đất rừng và ở các cây bên ngoài rừng

FAO cũng đã đưa ra sơ đồ về các sản phẩm rừng như sau

Trang 23

và than

Gỗ nhỏ

Lâm sản ngoài gỗ

Thực vật và sản phẩm từ thực vật

Động vật và sản phẩm từ động vật

Các dịch vụ

từ rừng

Hình 2.1: Phân loại sản phẩm rừng và cây rừng

Ở Việt Nam, lâm sản ngoài gỗ cũng được gọi với nhiều tên khác nhau như: Lâm đặc sản, lâm sản phụ và lâm sản ngoài gỗ, trong đó tên gọi lâm đặc sản và lâm sản phụ được sử dụng phổ biến hơn Lâm đặc sản là tên chính thức được công bố trong Quyết định số 160/HĐBT do Hội đồng Bộ trưởng ban hành tháng 12 năm 1994 về danh mục các loài lâm đặc sản ở Việt Nam

Theo các quan niệm trên thì LSNG là một phần tài nguyên rừng Ở Việt Nam, theo Lê Mộng Chân (1993) cho rằng “Tài nguyên thực vật rừng là một bộ phận cấu thành quan trọng của tài nguyên rừng, nó bao gồm toàn bộ sản phẩm thực vật của rừng” và “Vì vậy tài nguyên thực vật rừng ở đây rất phong phú và có giá trị nhiều mặt” và “Nhiều loại cây rừng còn cho các sản phẩm tự nhiên, ngoài gỗ đó là cây đặc sản”

2.3 Phân loại lâm sản ngoài gỗ

Theo Quyết định số 160/HĐBT về việc thống nhất quản lý lâm đặc sản Đây là

hệ thống phân loại chính thức đầu tiên tại Việt Nam Theo Quyết định này, danh mục các loại lâm sản được xếp thành 2 nhóm chính trong hệ thực vật rừng và hệ động vật rừng, cụ thể như sau:

2.3.1 Hệ thực vật rừng

Trang 24

13

+ Nhóm cây cho nhựa, tinh dầu, dầu béo, tanin gồm: nhựa Thông, Quế, Hồi,

dầu Tràm, nhựa Trám, dầu Bạch đàn

+ Nhóm cây thuốc như: Ba kích, Sa nhân, Hoàng đằng, Vàng đắng…

+ Nhóm thực vật sử dụng làm nguyên liệu cho hàng thủ công như: Tre nứa, song mây, lá nón…

+ Nhóm thực vật sử dụng làm nguyên liệu công nghiệp như: Cánh kiến, nhựa thông, nhựa gồm…

2.3.2 Hệ động vật rừng

+ Nhóm động vật hoang dã cho da, lông, xương, ngà, mỡ, xạ, mật và các sản phẩm dược liệu Ví dụ như: Voi, hổ, báo, hươu, trăn, rắn, khỉ, nhím, ong, chim cảnh và các loài động vật khác

+ Nhóm các sản phẩm được chế biến từ nguyên liệu thô của động vật

2.4 Vai trò của lâm sản ngoài gỗ

Lâm sản ngoài gỗ có nhiều giá trị trên nhiều khía cạnh khác nhau và chúng tác động lên nhiều lĩnh vực khác nhau bao gồm các giá trị về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái

2.4.1 Về kinh tế

Ngay từ buổi đầu bình minh của lịch sử, con người đã biết lấy từ rừng các thức

ăn chất đốt, vật liệu, dược liệu phục vụ cho cuộc sống, rừng được coi là cái nôi sinh ra

và là môi trường sống của con người, đặc biệt là đồng bào dân tộc sống gần rừng và phụ thuộc vào rừng

Lâm sản ngoài gỗ là một trong những nguồn thu nhập quan trọng trong kinh tế

hộ gia đình đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày góp phần tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo, là nguồn sinh kế cho một bộ phận cư dân sống dựa vào rừng vùng nông thôn miền núi Lâm sản ngoài gỗ góp phần cung cấp nguyên vật liệu cho các ngành công nghiệp và tiểu thủ công nhiệp chế biến lâm sản và xuất khẩu Như nhựa Thông, nhựa Trám cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến dầu, nhựa, sơn tổng hợp; tinh dầu cho công nghiệp hương liệu và mỹ phẩm; tre nứa cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy giấy,

Lâm sản ngoài gỗ là thành phần quan trọng đóng góp cho việc phát triển kinh tế đất nước và địa phương, bảo tồn rừng và đa dạng sinh học LSNG có giá trị kinh tế cao

Trang 25

giúp cải thiện đời sống cộng đồng Vì vậy phát triển LSNG là một động lực và là yếu

tố chủ chốt trong việc quản lý bảo tồn rừng

2.4.2 Vai trò xã hội

Việc gây trồng, khai thác, chế biến và buôn bán LSNG đã mang lại công ăn việc làm cho hàng chục triệu người dân sống ở miền núi và nông thôn Điều đó đã tạo điều kiện ổn định cuộc sống và góp phần xoá đói giảm nghèo cho nhân dân sống ở vùng cao, vùng xa Một số LSNG được sử dụng trong các lễ hội truyền thống, tạo ra các sản phẩm truyền thống góp phần bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc

Là nguồn thu nhập chính của đồng bào các dân tộc miền núi, là cơ sở quan trọng để phân bố dân cư, điều tiết lao động, góp phần xoá đói giảm nghèo cho xã hội

2.4.3 Vai trò phòng hộ bảo vệ môi trường sinh thái

- Phòng hộ đầu nguồn: Giữ đất, giữ nước, điều hoà dòng chảy, chống xói mòn rửa trôi thoái hoá đất, chống bồi đắp sông ngòi, hồ đập, giảm thiểu lũ lụt, hạn chế hạn hán, giữ gìn được nguồn thuỷ năng lớn cho các nhà máy thuỷ điện

- Phòng hộ ven biển: Chắn sóng, chắn gió, chắn cát bay, chống sự xâm nhập của nước mặn, bảo vệ đồng ruộng và khu dân cư ven biển,

- Phòng hộ đồng ruộng và khu dân cư: Giữ nước, cố định phù sa, hạn chế lũ lụt hạn hán, tăng độ ẩm cho đất,

- Bảo vệ khu di tích lịch sử: Nâng cao giá trị cảnh quan và du lịch

- Bảo tồn rừng và đa dạng sinh học

Bên cạnh đó LSNG còn là nguồn tài nguyên có khả năng tái sinh và có vai trò rất quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của nhân loại

2.5 Giá trị và lợi ích của cây mây

Cây mây có giá trị kinh tế lớn, sản phẩm chính của cây mây là thân cây có độ bền, độ dẻo và chịu lực tốt Cấu tạo đồng đều lại dễ uốn và dễ kết hợp với kim loại và vật liệu khác như gỗ, da, nhựa để làm bàn ghế, đồ dùng mỹ nghệ cao cấp Có giá trị xuất khẩu và tiêu dùng trong nước

Trồng mây còn có tác dụng giữ rừng tốt, chống xói mòn đất, cải thiện môi trường sống của một số loài chim thú, phục hồi nguồn tài nguyên LSNG, tăng thu nhập cho người dân địa phương

Trang 26

15

Chương 3

ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của khu vực nghiên cứu

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

a Vị trí địa lý

Đakrông là huyện miền núi nằm phía Tây Nam tỉnh Quảng Trị, có vị trí địa lý

từ 16049’12” vĩ độ Bắc và 106044’01”- 107014’15” kinh độ Đông

Khu vực nghiên cứu tại xã Ba Lòng, là một xã cách trung tâm huyện 15 km

theo hướng Đông Nam, có vị trí địa lý tiếp giáp như sau:

+ Phía Bắc giáp: Xã Cam Chính (huyện Cam Lộ) và xã Triệu Ái (huyện

Triệu Phong)

+ Phía Nam giáp: Xã Hải Phúc và xã Tà Long (huyện Đakrông)

+ Phía Tây giáp: Xã Triệu Nguyên (huyện Đakrông)

+ Phía Đông giáp: Xã Triệu Thượng (huyện Triệu Phong) và xã Hải Lệ (huyện

Hải Lăng)

b Địa hình

Địa hình xã Ba Lòng kéo dài hai bên bờ sông Ba Lòng, được bao quanh bởi đồi

núi, nhìn một cách tổng thể thì địa hình sông suối, đồi núi chia cắt

- Phía Bắc là đồi núi, chủ yếu là rừng non mới phục hồi

- Phía Nam là dân cư và đất canh tác

- Phía Đông là Khe Hương và Khe Tre

- Ranh giới phía Tây là hai con khe: Khe Hang và Khe Cây Thị

c Hiện trạng đất đai, Tài nguyên rừng

Toàn xã có tổng diện tích tự nhiên là 7.657 ha với diện tích rừng: 5.395,3 ha Trong đó diện tích rừng tự nhiên và rừng trồng tại xã là:

Trang 27

Bảng 3.1: Diện tích rừng tại xã Ba Lòng

(Nguồn: Trạm kiểm lâm Hải Phúc – Ba Lòng)

- Đối với rừng tự nhiên:

+ Rừng trung bình: 2.205,4 ha + Rừng phục hồi: 2.756,7 ha

- Đối với rừng trồng:

+ Diện tích rừng có trữ luợng: 619,7 ha + Diện tích rừng chưa có trữ lượng: 224,2 ha Đất trống không rừng quy hoạch cho lâm nghiệp: 587,8 ha (các trạng thái Ia, Ib: 558,5 ha; Ic: 29,3 ha)

Hình 3.1: Bản đồ hiện trạng rừng xã Ba Lòng

Trang 28

vừa mang yếu tố phòng hộ bảo vệ môi trường, nguồn nước, tính đa dạng sinh học

Diện tích Rừng Đặc dụng 4.535,5 ha ở các cấp trữ lượng thấp đến trung bình Diện tích rừng sản xuất là 1.270 ha trong đó rừng tự nhiên: 581,2 ha ở cấp trữ lượng thấp

Đất đồi núi chưa sử dụng được quy hoạch cho phát triển lâm nghiệp 587,8 ha thuộc các cấp thực bì Ia, Ib, Ic với thực bì các dạng: Trảng cây bụi cỏ cao và trạng cỏ cây bụi thấp, diện tích này có thể đưa vào khoanh nuôi phục hồi, trồng bổ sung các loài cây lâm nghiệp để phát triển thành rừng và một phần đưa vào cải tạo sử dụng để phát triển kinh tế trang trại, trồng cây ăn quả, trồng rừng, phát triển lâm nghiệp

Qua bảng trên ta thấy, khả năng để nhân rộng mô hình trồng mây dưới tán rừng

tự nhiên là rất lớn, tại xã Ba Lòng có thể đạt mức tối đa là 5.043 ha

d Khí hậu thuỷ văn

▪ Khí hậu

Quảng Trị được tạo nên bởi một không gian lãnh thổ mang sắc thái khí hậu nhiệt đới ẩm, điển hình của vành đai nội chí tuyến Bắc bán cầu và chịu ảnh hưởng rất lớn của biển Đông Điều kiện khí hậu xã Ba Lòng mang đặc điểm khí hậu đặc trưng của Quảng Trị, có gió Tây Nam khô nóng, thường gọi là “gió Lào”, hiện tượng thời tiết đặc biệt khô nóng thổi từ Lào qua

Thường những ngày có gió Lào là ngày có nhiệt độ cao 38,2oC Mùa gió khô nóng vào tháng 3 đến tháng 9 và gay gắt nhất là tháng 4 - 5 đến tháng 8

Mùa bão ở đây thường diễn ra từ tháng 7 đến tháng 11, trong đó tháng 9 - 10 nhiều bão nhất song cũng có năm không có bão

Đặc điểm khí hậu xã Ba Lòng được lấy từ số liệu trạm Khe Sanh có tọa độ như sau:

- Vĩ độ Bắc: 16038’

- Kinh độ Đông: 106050’

Trang 29

Bảng 3.2: Đặc điểm khí hậu xã Ba Lòng

2 Tổng số giờ nắng trong năm Giờ 1.700 – 1.800

3 Nhiệt độ không khí cao nhất tuyệt đối 0C 38,2

4 Nhiệt độ không khí thấp nhất tuyệt đối 0C 7,7

6 Lượng mưa trung bình tháng lớn nhất Mm 496,6

7 Lượng mưa trung bình tháng nhỏ nhất Mm 17,3

(Theo số liệu trạm Khe Sanh)

▪ Thuỷ văn

Nguồn nước trong vùng khá phong phú với các hệ thống sông và khe suối

Sông Ba Lòng là một con sông lớn chảy qua huyện Đakrông Sông Ba Lòng hay còn

gọi là sông Quảng Trị được hợp lưu bởi hai con sông chính là sông Đakrông và sông

Rào Quán Ngoài hợp lưu hai con sông nói trên còn có các khe đổ vào sông Ba Lòng

như khe Làng An, khe Vẽ, khe Ba Lòng, khe Thù Lu,

Sông Ba Lòng chảy qua địa phận xã Ba Lòng cung cấp nước cho sản xuất nông

nghiệp, sinh hoạt của người dân, đồng thời góp phần làm giảm bớt tình trạng hạn hán

khi mùa khô đến Tuy nhiên vào mùa mưa lụt nước sông có thể dâng lên làm ngập cầu

cống (cầu Ba Lòng)

Ngoài ra có một số khe suối chảy qua địa phận xã Ba Lòng với lưu lượng nước

không lớn lắm song cũng góp phần điều hoà nguồn nước trong vùng Trong vùng còn

có nguồn nước ngầm chảy qua Địa phận xã Ba Lòng có lòng sông rộng lại sâu nên

người dân sử dụng vào vận tải đường sông khá thuận lợi

e Đặc điểm thổ nhưỡng

Theo tài liệu điều tra đất Quảng Trị của viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp

và sở khoa học công nghệ và môi trường tỉnh Quảng Trị, toàn huyện Đakrông có 7 loại

Trang 30

- Đất vàng đỏ trên đá Mác ma axit (Fa)

Riêng thổ nhưỡng xã Ba Lòng được cấu thành bởi các loại đất chính sau:

- Đất đỏ vàng trên đá phiến thạch sét (Fs): Đa phần đất có độ dốc từ 1500 trở lên (chiếm 71,5%) Qua phân tích cho thấy thành phần cơ giới thịt pha cát, mùn tổng số nghèo, lân tổng số và dễ tiêu đều nghèo, đất rất chua pHkcl = 4,1 Với loại đất này hiện nay người dân sử dụng để trồng sắn Hướng sử dụng loại đất này chủ yếu là cho lâm nghiệp

- Đất nâu vàng trên phù sa cổ (Fg): Phân bố chủ yếu dọc sông Ba Lòng Đất có địa hình thấp thoải, lượn sóng, hơn 70% ở độ dốc dưới 8o Đất đã được trồng trọt lâu đời, tầng mặt một số nơi bị rửa trôi các chất dinh dưỡng

- Đất phù sa được bồi (Pb): Phân bố dọc sông Ba Lòng Loại đất này có hình thái phẩu diện đồng nhất, thành phần cơ giới thịt pha cát, đất có kết cấu tốt Trên loại đất này đã sử dụng trồng đậu xanh, lạc và ngô

Ngoài các nhóm đất đã nêu trên, trong vùng còn có nhóm đất trên nền địa hình bằng thấp (phù sa sông, phù sa ngòi suối) tuy quy mô không lớn nhưng có ý nghĩa quan trọng trong cơ cấu trồng trọt của vùng Đây là loại đất thuận lợi cho sản xuất lương thực như ngô, cây thực phẩm (rau, đậu, )

3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội xã Ba Lòng

a Tình hình xã hội

Toàn xã Ba Lòng tính đến ngày 31/12/2010 có:

- Tổng số hộ dân là: 606 hộ trong đó:

+ Dân tộc Kinh 568 hộ, 2.666 khẩu, chiếm 93,2%

+ Dân tộc Vân Kiều 38 hộ, 200 khẩu chiếm 6,98%

- Tỷ lệ nam/nữ là: 1.517/1.413

- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 0,42%

Trang 31

- Tổng số lao động là: 1.844 lao động, chiếm 64,34%

Toàn xã bao gồm 10 thôn, trong đó chỉ có thôn Khe Cau là dân tộc Vân Kiều

Công tác giáo dục đào tạo trên địa bàn xã được chú trọng, cơ sở trường lớp và nhà ở giáo viên được quan tâm đầu tư, quy mô và chất lượng giáo dục ngày càng được nâng lên Năm học 2009-2010 có:

- Trường THCS: Có 01 điểm trường, tổng số học sinh huy động đầu năm là

298 học sinh, chia làm 10 lớp Tỷ lệ học sinh huy động vào lớp 6 đạt 98% Kết quả xét tốt nghiệp lớp 9 đạt 100%

- Trường tiểu học: Có 02 điểm trường, tổng số học sinh đầu năm học là 267 học sinh, chia làm 14 lớp Tỷ lệ huy động học sinh vào lớp 1 đạt 100%

- Trường mẫu giáo: Có 09 điểm học cho 10 thôn, tổng số trẻ từ 3 đến 5 tuổi huy động đến trường là 128/138 cháu, đạt 92,75%, trong đó trẻ 5 tuổi huy động đạt 100%, chia làm 09 lớp

- Bậc trung học phổ thông, cao đẳng, đại học: Hiện trên toàn xã có 112 học sinh theo họcTHPT tại các trường Năm học 2009 - 2010 toàn xã có 15 học sinh thi đậu vào các trường ĐH, CĐ trong toàn quốc

b/ Lĩnh vực y tế

100% thôn có trạm y tế thôn Trạm y tế xã có 07 cán bộ Đội ngũ y tế được đào tạo chuyên môn, các chương trình y tế cộng đồng chăm sóc cho nhân dân đảm bảo tốt Các chương trình y tế khác như vệ sinh an toàn thực phẩm được tăng cường

Trang 32

21

c/ Cơ sở hạ tầng

Ba Lòng là một xã nghèo của huyện Đakrông, cơ sở hạ tầng tuy đã được chú

trọng đầu tư song vẫn còn ở mức thấp kém Đường vào xã, các thôn chủ yếu là các

đường mòn tự nhiên, nhỏ hẹp

b Đặc điểm kinh tế xã Ba Lòng

a/ Cơ cấu sử dụng tài nguyên đất đai tại xã Ba Lòng

Hiện nay tổng diện tích đất tự nhiên của xã Ba Lòng là 7.354 ha Cơ cấu diện

tích đất của xã Ba Lòng được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 3.3: Cơ cấu sử dụng đất tại xã Ba Lòng

TT Loại hình rừng và đất đai Diện tích

(ha)

Tỷ lệ (%)

Qua bảng ta thấy tỷ lệ diện tích đất lâm nghiệp và khả năng sử dụng đất lâm

nghiệp chiếm ưu thế Bình quân đất có rừng tự nhiên trên người là 1,97 ha Tuy là

một xã thuần nông song diện tích đất nông nghiệp của xã Ba lòng thấp chỉ có

207 ha, sản xuất nông nghiệp chủ yếu là trồng ngô, lạc, đậu xanh và lúa nước

b/ Thu nhập và đời sống

Ba Lòng là một xã nghèo, cuộc sống của người dân vẫn còn rất nhiều khó khăn,

đời sống nghèo khổ và thiếu thốn vẫn đeo đẳng sau lưng họ

- Tổng sản lượng lương thực quy thóc tính đến ngày 31/12/2008 tại xã Ba Lòng

là 234,26 tấn

- Bình quân lương thực đầu người là 80 kg/người/năm

- Đặc biệt nói về thôn Hà Vũng

Qua thời gian tìm hiểu cho thấy, thôn Hà Vũng là hai thôn nghèo của xã Ba

Lòng Tình hình phát triển kinh tế của thôn được thể hiện qua bảng số liệu sau:

Các chỉ tiêu thu nhập của các nhóm hộ như sau:

Trang 33

Bảng 3.4:Tình hình thu nhập của thôn Hà Vụng

Chỉ tiêu Bình quân

chung(VND)

Nhóm I(VND)

Nhóm II(VND)

Nhóm III(VND)

- Nhóm II: Là nhóm có điều kiện kinh tế trung bình, bao gồm 46/55 hộ

- Nhóm III: Là nhóm có điều kiện kinh tế nghèo, bao gồm 4 hộ

Thôn Hà Vũng là thôn có mức thu nhập bình quân chung tính trong toàn xã là thuộc diện trung bình

Trung bình có 60% lao động trong tổng số nhân khẩu trong thôn, tương ứng với 3,4 LĐ/hộ

Qua đó cho thấy Hà Vũng là một thôn nằm trong đối tượng cận nghèo tức là mức độ tăng trưởng kinh tế chưa tới mức trung bình

Trong cơ cấu tổng thu bình quân chung của các nhóm hộ thì thu nhập từ việc khai thác LSNG chiếm từ 20% - 50% trong tổng thu nhập, riêng thu nhập từ cây mây chiếm khoảng 25% trong tổng thu nhập Nguồn mây khai thác từ rừng tự nhiên đã đem lại cho người dân một nguồn thu nhập đáng kể trong những năm trước

Tuy nhiên, một thực trạng dễ thấy trước mắt là nguồn tài nguyên mây trong rừng tự nhiên bị cạn kiệt đi rất nhiều mặc dù cho tới thời điểm này ý thức bảo vệ tài nguyên rừng của người dân ngày một nâng cao

3.2 Mô hình trồng mây dưới tán rừng tự nhiên

3.2.1 Nguồn gốc của mô hình

Dựa vào điều kiện dân sinh kinh tế của xã, đời sống của người dân chủ yếu phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp và khai thác các sản phẩm rừng Toàn xã có

Trang 34

23

1.311 ha rừng sản xuất, trong đó diện tích đất dưới tán rừng tự nhiên (rừng sản

xuất) rất phù hợp với các loài cây lâm sản ngoài gỗ như Mây

Tại Ba lòng Mây nước là loại lâm sản đang được người dân khai thác nhiều trong rừng tự nhiên để bán cho lái buôn và một phần được sử dụng tại địa phương Trong những năm gần đây, việc khai thác Mây quá mức của người dân đã làm cho nguồn tài nguyên này ngày càng bị cạn kiệt, môi trường cho các loài gà, chim, thú

bị phá vỡ

Sau khi đánh giá điều kiện tự nhiên và nhu cầu thực tế của địa phương cho thấy: Mô hình Trồng mây Nước dưới tán rừng là mô hình phát triển kinh tế phù hợp với điều kiện canh tác của người dân địa phương và công tác bảo tồn đa dạng sinh học

Sau khi khảo sát thực địa trên địa bàn xã Ba lòng, dự án đã lựa chon tiểu khu 828 để thực hiện mô hình vì các lý do sau:

- Đất ít đá thuận lợi cho việc đào hố trồng Mây nước

- Địa hình có độ dốc không lớn, thuận lợi cho việc canh tác và chăm sóc

- Gần với khu dân cư thuận lợi cho bảo vệ, vận chuyển cây giống

3.2.2 Mục tiêu của việc xây dựng mô hình trồng mây nước dưới tán rừng tự nhiên trên địa bàn xã

a Về Lâu dài

- Góp phần bảo vệ nguồn tài nguyên sẵn có ở địa phương, nâng cao được thu nhập cho người dân và khai thác được lợi thế về tài nguyên đất dưới tán rừng

- Giảm sức ép của người dân đến tài nguyên rừng tại địa phương góp phần bảo

tồn bảo tồn đa dạng sinh học

- Làm mô hình cho tất cả người dân địa phương tham quan học tập kinh nghiệm sản xuất vườn rừng quy mô hộ gia đình

- Người dân địa phương áp dụng được quy trình trồng Mây nước dưới tán rừng

- Kết quả của mô hình sẽ được sử dụng như tài liệu tham khảo giúp cho các nhà hoạch định chính sách xây dựng chiến lựợc phát triển lâm nghiệp tại địa phương

b Về trước mắt

Trang 35

- Giải quyết việc làm, đồng thời tăng thu nhập cho người dân địa phương

- Cải thiện môi trường sống cho các loài chim thú

3.2.3 Địa điểm và thời gian thực hiện

▪ Địa điểm

- Tại lô 2, tiểu khu 828, xã Ba lòng, thuộc vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên

Đakrông

▪ Thời gian

- Giái đoạn 1: Bắt đầu từ tháng 07 đến 10/2007 (kết thúc trồng)

- Giai đoạn 2: Dự kiến mô hình sẽ kéo dài đến 20 năm (chăm sóc thu hoạch)

3.3 Điều tra về các hộ tham gia trồng mây

Toàn thôn Hà Vũng có 54 hộ, số hộ tham gia trồng mây chỉ có 5 hộ chiếm 0,09 % trên tổng số hộ trong thôn

Bảng 3.5: Thông tin về các hộ tham gia trồng mây

TT Hộ gia đình Diện tích

trồng (ha)

Nhân khẩu

Số lao động

Tỷ lệ Nam/Nữ

3.4 Đặc điểm thực vật học của cây mây nước

- Tên khoa học Calamus armarus Lour hoặc Calamus tenuis Roxb

- Thuộc họ Cau dừa Palmaceae

- Đây là loại mây phổ biến tại Việt nam, cả trong trạng thái hoang dã và trong

Trang 36

25

nhiệt đới thường xanh đều có mây nước phân bố

- Cây mây nước sinh trưởng nhanh, kích thước của thân to hơn so với cây mây nếp, thân có nhiều gai

- Cây mây nước có thể phát triển trên nhiều loại đất nhưng phát triển mạnh ở trong rừng thứ sinh, ưa ẩm

- Điều kiện thích hợp cho sinh trưởng phát triển của cây mây là: nhiệt độ trung bình năm từ 20 – 30oC, mùa lạnh không có nhiệt độ quá thấp, lượng mưa hàng năm trên 1.500 mm, lượng mưa càng cao mây phát triển càng tốt nhưng cây không chịu được úng ngập

- Mùa mưa cây đẻ nhánh mạnh hơn mùa khô

- Khi còn non mây nước là cây chịu bóng, cần có tán che mới sinh trưởng, phát triển bình thường Cây cao 0,5 m trên bẹ lá xuất hiện tay mây để giúp cây bám vào giá thể và phát triển mạnh

3.5 Các biện pháp gây trồng, khai thác, chế biến mây trên địa bàn

3.5.1 Biện pháp gây trồng mây nước

Có thể tạo nguồn giống bằng hai cách, một là lấy giống từ hạt, hai là chiết cây con từ những bụi cây mẹ đã trưởng thành, cho khai thác

▪ Gây trồng bằng hạt

Bước 1: Thu hái quả

- Chọn cây mẹ trên 6 - 7 tuổi, lá xanh tốt không sâu bệnh, không nên lấy quả trên cây mẹ nằm bò trên mặt đất

- Mây thường chính vào tháng 11-12 Dương lịch, thu hái khi quả mây chuyển

từ xanh sang trắng ngà, cùi quả có vị chua lợ, vỏ hạt có màu đen cứng lại Quả tốt có

từ 3.000 - 3.500 hạt/kg

Bước 2: Bảo quản hạt

Hạt mây được bảo quản theo hai phương pháp:

- Bảo quản khô: Quả sau khi ủ chín đều, ngâm trong nước lạnh 24 giờ rồi rửa sạch cùi và vỏ hạt Hạt thu được phải hong khô trong nhà rồi cất trữ nơi khô ráo thoáng mát trong vòng 3 tháng, tỷ lệ nảy mầm đạt khoảng 50%

- Bảo quản trong cát ẩm 20 - 22%: 1 kg hạt mây trộn với 3 kg cát ẩm hoặc có thể bảo quản lạnh ở nhiệt độ 8 – 120oC với thời gian không quá 3 tháng

Trang 37

- Có hạt giống tiến hành tạo cây con

Bước 3: Xử lý hạt giống

- Ngâm hạt trong nước ấm 2 sôi + 3 lạnh (40o – 45oC) trong vòng 12 giờ Sau đó rửa sạch, đem ủ trong bao tải, mỗi ngày rửa chua một lần cho đến khi hạt nứt nanh mới đem gieo

- Trong điều kiện cho phép xử lý bằng axít sulfuríc nồng độ từ 3 - 5% ngâm hạt trong 5 phút Sau đó vớt ra rửa sạch gieo ngay hoặc ủ cho nứt nanh rồi đem gieo

❖ Yêu cầu cây giống: Cây giống muốn đem trồng ngoài thực địa phải đảm bảo các

tiêu chuẩn sau:

- Cây giống có túi bầu bằng túi polyetylen loại 8 cm x 14 cm có đục lỗ

- Cây giống được giữ trong vườn ươm từ 9 - 15 tháng tuổi

- Chiều cao cây giống 20 - 30 cm, có từ 3 - 4 lá

- Cây khoẻ, sinh trưởng tốt, sạch sâu bệnh

Sau khi cây giống đạt tiêu chuẩn trên thì được đem trồng dưới tán rừng tự nhiên

❖ Kỹ thuật trồng cây con:

+ Thời vụ trồng: Trồng vào đầu mùa mưa (cuối tháng 9 đầu tháng 10 Dương lịch) và mùa xuân (tháng 1 - 2 Dương lịch) Có thể trồng trong tháng 11- 12 Dương lịch nhưng tuỳ vào điều kiện thời tiết khi trời không mưa liên tục 1 - 2 ngày thì trồng (chú ý không trồng lúc trời đang mưa lớn)

Trồng tốt nhất vào đầu mùa mưa vì lúc này thuận tiện cho việc vận chuyển cây giống và sau trồng 2 - 3 tháng có điều kiện trồng dặm

+ Kỹ thuật làm đất: Đây là giai đoạn quan trọng trong quá trình gieo trồng, bước đầu tạo môi trường sống cho cây, trong đó chú ý khâu phát dọn thực bì

- Phát dọn thực bì trước khi đào hố 1 tháng để cây dại chết và khô sẽ dễ thu dọn

- Tuỳ vào độ che phủ của rừng mà dọn sạch thực bì dưới tán rừng hoặc dọn cục

Trang 38

- Mật độ hố: 3 hố/khóm theo hình tam giác đều có cạnh 40 cm

+ Bón phân lót: Trước khi trồng 5 - 7 ngày tiến hành bón lót phân NPK loại dùng cho cây lâm nghiệp

- Lượng phân bón: 0,1 - 0,15 kg/hố = 200 - 300 kg/ha

- Chọn đất không có sỏi, đá lấp đầy 2/3 hố rồi rải phân NPK lên trên rồi trộn đều

+ Trồng cây: Sau bón lót 5 - 7 ngày tiến hành trồng mây, đào 1 lỗ giữa hố (ở phần đất đã được trộn phân) vừa túi bầu Xé bỏ túi bầu (tránh làm vở bầu), đặt cây ngang mặt đất rồi lấp đất chặt xung quanh bầu của cây mây

Do đặc tính của cây mây là cần có giá để leo nên cán bộ kỹ thuật đã lựa chọn phương pháp trồng theo khóm trên băng theo sơ đồ sau

Hình 3.3: Sơ đồ trồng mây nước theo khóm

Mục đích của quy trình kỹ thuật này là tận dụng khả năng dựa vào nhau của các cây mây khi còn nhỏ vì vậy 3 cây trên khóm sẽ dựa vào nhau để phát triển, vươn cao và bám vào các cây lớn

- Mật độ: 1 khóm x 3 cây x 700 khóm = 2.100 cây/ha

- Băng trồng rộng 1,5 m, băng cách băng rộng 3 m

- Trên một băng phát chỉ trồng 1 hàng mây

- Đối với đất dưới tán rừng tuỳ vào độ che phủ của rừng mà đào hố với mật độ thích hợp

Cây mây

Cây mây

Cây mây

Trang 39

+ Chăm sóc: Để cây sinh trưởng và phát triển tốt cần thiết phải có kỹ thuật chăm sóc khoa học Bước này gồm các công việc sau:

- Mỗi năm phát dọn thực bì 2 lần vào tháng 3 và tháng 7 Dương lịch, kết hợp với xới gốc bón phân NPK cho cây

- Liều lượng bón: 0,1 kg/cây Vị trí bón cách gốc 15 - 20 cm

- Năm thứ 5 bắt đầu thu hoạch năm đầu, tuỳ vào điều kiện sinh trưởng mà phát dọn thực bì, và bón phân theo liều lượng khác nhau (bụi mây càng lớn thì bón phân càng nhiều)

- Thường xuyên kiểm tra quanh gốc cây, không để lá rụng, thực bì khác phủ kín làm chết cây

▪ Gây trồng bằng cây con:

Cây con được chiết từ cây mẹ 6 - 7 tuổi Tiêu chuẩn để chọn cây mẹ để tiến hành chiết cành cũng giống như khi chọn cây mẹ để thu hái hạt nghĩa là cây được chọn

để lấy cành chiết cần có những yêu cầu sau:

- Cây sinh trưởng phát triển tốt, không sâu bệnh

- Cây không nằm sát trên mặt đất

- Loại bỏ những cây có bẹ lá ở gốc bị chết hoặc rụng đi vì chất lượng cành chiết không đảm bảo, sẽ ảnh hưởng cây con sau này

Phương pháp này sẽ tiết kiệm được chi phí gây trồng cho người dân nhưng thực

tế cho đến nay trên địa bàn huyện Đakrông vẫn chưa áp dụng phương pháp gây trồng mây nước bằng cây con vì:

- Nguồn giống có sẵn từ rừng tự nhiên đã cạn kiệt, để lấy được nguồn giống cần thiết để trồng thì phải đi sâu vào rừng Nhưng với địa hình rừng cao, dốc, rất hiểm trở nên gây trở ngại cho người dân trong việc lấy cây con

- Những cây con được lấy từ rừng tự nhiên khả năng thuần nhất về giống thấp, gây khó khăn cho công tác gây trồng và ảnh hưởng đến năng suất

Quy trình gây trồng mây nước bằng hạt được tóm tắt theo bảng sau:

Bảng 3.6: Quy trình gây trồng mây nước từ hạt

1 Thu hái quả - Chọn cây mẹ 6-7 tuổi, sinh trưởng và phát triển tốt

Trang 40

- Bảo quản trong cát ẩm 20% - 22%

4.Yêu cầu cây giống

- Cây giống được giữ trong vườn ươm từ 9-15 tháng tuổi

- Chiều cao cây giống 20 - 30 cm, có từ 3- 4 lá

- Cây khoẻ, sinh trưởng tốt, sạch sâu bệnh

- Thời gian trồng: tháng 9 – 12 và đầu mùa xuân (tháng 1 – 2)

- Có thể tiến hành trồng dặm sau khi trồng 2-3 tháng

KT làm đất - Phát dọn thực bì trước khi đào hố 1 tháng

Đào hố - Hố hình vuông có kích thước hố rộng: 25cm x 25 cm x 25 cm

- Mật độ hố: 3 hố/khóm theo hình tam giác đều có cạnh 40 cm

Bón phân

lót

- Thực hiện trước khi trồng 5 - 7 ngày; 0,1 - 0,15 kg/hố = 200

- 300 kg/ha, lấp đầy 2/3 hố rồi rải phân NPK lên trên rồi trộn đều

Trồng cây - Thực hiện sau bón lót 5 - 7 ngày, đào hố, xé bỏ túi bầu, đặt cây

ngang mặt đất rồi lấp đất chặt xung quanh bầu của cây mây

- Phương pháp trồng theo khóm trên băng

Chăm sóc - Phát dọn thực bì 2 lần/năm (tháng 3 và tháng 7), kết hợp với

xới gốc, bón phân NPK cách gốc 15-20 cm (0,1 kg/cây)

- Năm thứ 5 bắt đầu thu hoạch năm đầu

3.5.2 Khai thác mây

Mây trồng tuỳ điều kiện đất đai thu hoạch sau 5 - 8 năm Khi bẹ lá ở gốc bị chết

và rụng đi để lộ sợi mây có thể thu hoạch Sau đó 2 năm thu hoạch 1 lần Khi thu

Ngày đăng: 11/06/2018, 19:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm