1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH QUẢN LÝ RỪNG CỘNG ĐỒNG CÓ SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN TẠI LÀNG ĐÊ TAR, XÃ KON CHIÊNG HUYỆN MANG YANG TỈNH GIA LAI

60 303 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 554,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua thời gian nghiên cứu và trong khuôn khổ đề tài, xin đưa ra một số kết luận sau: Mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng có sự tham gia của các bên liên quan, cả của Nhà nước và cộng đ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

****************

LÊ TRUNG KIÊN

NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH QUẢN LÝ RỪNG CỘNG ĐỒNG

CÓ SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN TẠI

LÀNG ĐÊ TAR, XÃ KON CHIÊNG

HUYỆN MANG YANG TỈNH GIA LAI

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGÀNH LÂM NGHIỆP

Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 07/2011

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

****************

LÊ TRUNG KIÊN

NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH QUẢN LÝ RỪNG CỘNG ĐỒNG

CÓ SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN TẠI

LÀNG ĐÊ TAR, XÃ KON CHIÊNG

HUYỆN MANG YANG TỈNH GIA LAI Ngành: Lâm Nghiệp

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Người hướng dẫn: TS BÙI VIỆT HẢI

Thành phố Hồ Chí Minh

Tháng 07/2011

Trang 3

Tôi xin chân thành cảm ơn TS Bùi Việt Hải, người đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi hoàn thành đề tài này

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lớp DH07LNGL đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học cũng như trong thời gian làm luận văn tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo UBND xã Kon Chiêng và cộng đồng dân cư làng Đê Tar đã tận tình giúp đỡ và tạo những điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành luận văn này

Cảm ơn gia đình và những người thân của tôi đã giúp đỡ tôi về mọi mặt

để tôi có thể hoàn thành được luận văn này

Xin chân thành cảm ơn!

Tp Hồ Chí Minh, tháng 07 năm 2011

Sinh viên

Lê Trung Kiên

Trang 4

iii

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH SÁCH CÁC BẢNG vi

DANH SÁCH CÁC HÌNH vii

TÓM TẮT ĐỀ TÀI viii

Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Khái niệm về cộng đồng và quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng 4

2.2 Thực trạng quản lý rừng dựa vào cộng đồng ở Việt Nam và các chính sách có liên quan 6

Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8

3.1 Địa điểm nghiên cứu 8

3.1.1 Sơ lược về xã Kon Chiêng 8

3.1.2 Sơ lược về làng Đê Tar 12

3.2 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu 14

3.2.1 Mục tiêu của đề tài 14

3.2.2 Nội dung nghiên cứu 14

3.3 Phương pháp nghiên cứu 14

3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 14

3.3.2 Phương pháp xử lý số liệu 15

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 17

4.1 Đặc điểm của mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng tại làng Đê Tar 17

4.1.1 Hiện trạng rừng quản lý và cách quản lý rừng cộng đồng 17

4.1.2 Mức độ tham gia và ảnh hưởng của các bên liên quan đến quản lý rừng cộng đồng 21

Trang 5

iv

4.2 Tác động của mô hình quản lý tới cộng đồng 25

4.2.1 Về kinh tế 25

4.2.1.1 Thu nhập của các hộ nghèo từ các hoạt động lâm nghiệp 26

4.2.1.2 Thu nhập của các hộ trung bình từ các hoạt động lâm nghiệp 28

4.2.1.3 Thu nhập của các hộ khá từ các hoạt động lâm nghiệp 29

4.2.2 Về nhận thức và môi trường 31

4.3 Thành công của mô hình phát triển rừng cộng đồng ở làng Đê Tar 33

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 38

5.1 Kết luận 38

5.2 Kiến nghị 39

TÀI LIỆU THAM KHẢO 40

Phụ lục 1

Trang 6

v

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

FAO: Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc

KBTTN: Khu Bảo tồn Thiên Nhiên

UBND: Ủy Ban Nhân Dân

VQG : Vườn Quốc Gia

Trang 7

vi

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 4.1: Phân bổ diện tích, trạng thái rừng theo nhóm hộ 19

Bảng 4.2: Vận hành của mô hình QLRCĐ đang thực hiện tại địa phương 20

Bảng 4.3: Bảng phân tích vai trò của các bên liên quan 21

Bảng 4.4: Bảng thống kê các văn bản liên quan tới rừng cộng đồng 25

Bảng 4.5: Bình quân thu nhập/năm của các hộ nghèo tham gia nhận quản lý bảo vệ rừng cộng đồng 27

Bảng 4.6: Bình quân thu nhập/năm của các hộ trung bình tham gia quản lý rừng cộng đồng 28

Bảng 4.7: Bình quân thu nhập/năm của các hộ khá tham gia quản lý rừng

cộng đồng 29

Bảng 4.8: Bảng đánh giá thay đổi kinh tế hộ từ khi tham gia quản lý bảo vệ rừng 30

Bảng 4.9: Bảng phân công tuần tra bảo vệ rừng của các nhóm hàng tháng 31

Bảng 4.10: Bảng phân tích SWOT về quản lý rừng cộng đồng tại Đê Tar 33

Trang 8

vii

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình 4.1: Sơ đồ rừng cộng đồng phân cho các nhóm hộ ở Đê Tar 17

Hình 4.2: Sơ đồ ảnh hưởng của các bên liên quan tới rừng cộng đồng 23

Hình 4.3: Biểu đồ bình quân thu nhập/năm của các hộ nghèo tham gia quản lý rừng cộng đồng 27

Hình 4.4: Biểu đồ bình quân thu nhập/năm của các hộ trung bình tham gia quản lý rừng cộng đồng 28

Hình 4.5: Biểu đồ bình quân thu nhập/năm của các hộ khá tham gia quản lý rừng cộng đồng 30

Trang 9

viii

TÓM TẮT ĐỀ TÀI

Đề tài:

NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH QUẢN LÝ RỪNG CỘNG ĐỒNG

CÓ SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN TẠI LÀNG ĐÊ TAR,

XÃ KON CHIÊNG, HUYỆN MANG YANG, TỈNH GIA LAI

Mang Yang là một huyện nằm ở trung tâm tỉnh Gia Lai được tách ra từ huyện Mang Yang cũ thành hai huyện là Mang Yang hiện nay và huyện Đăk Đoa

từ năm 2000 Huyện Mang Yang rộng 1.126 km2 với 44.132 nhân khẩu với hơn 80% dân số là người Jrai, Bahnar

Xã Kon Chiêng nằm ở phía nam huyện Mang Yang, cách trung tâm huyện khoảng 40km Phía Bắc giáp xã Kon Thụp huyện Mang Yang Phía Nam giáp xã H’Bông huyện Chư Sê Phía Đông giáp xã Chư Long huyện Kông Chro Phía Tây giáp xã Đăk Trôi huyện Mang Yang

Làng Đê Tar, xã Kon Chiêng là một làng vùng sâu, vùng xa của huyện Mang Yang, giao thông đi lại khó khăn Cộng đồng dân cư nơi đây chủ yếu là người Bahnar, đời sống còn nhiều khó khăn

Mục tiêu nghiên cứu:

Đề tài này được thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu sau:

• Tìm hiểu đặc điểm của mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng đang được thực hiện

• Phân tích và xem xét tác động của mô hình ở địa phương và giải thích lý do thành công của mô hình này

Trang 10

ix

Nội dung nghiên cứu:

• Mức độ tham gia và ảnh hưởng của các bên liên quan đến quản lý rừng cộng đồng

• Sự đóng góp của rừng cộng đồng về mặt hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường, nhận thức của hộ tham gia quản lý bảo vệ rừng cộng đồng

• Những thuận lợi và khó khăn trong quản lý rừng dựa vào cộng đồng

Kết luận:

Đề tài này được thực hiện nhằm nghiên cứu đặc điểm, cấu trúc của mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng đang được thực hiện tại làng Đê Tar, xã Kon Chiêng, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai Qua thời gian nghiên cứu và trong khuôn khổ đề tài, xin đưa ra một số kết luận sau:

Mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng có sự tham gia của các bên liên quan, cả của Nhà nước và cộng đồng đã thu được các kết quả khá thiết thực, đáp ứng được sự mong đợi của cộng đồng, do đó thu hút được sự tham gia đông đảo của người dân tại vùng dự án

Rừng cộng đồng đã thực sự phát huy được vai trò của nó trong cải thiện kinh tế hộ gia đình, cải thiện môi trường Từ đó, nó có vai trò quan trọng với cộng đồng Nhận thấy điều này, ý thức bảo vệ rừng của cộng đồng được nâng cao

Quản lý rừng dựa vào cộng đồng đang là hướng đi phù hợp với xu thế phát triển lâm nghiệp trong giai đoạn hiện nay, nâng cao chất lượng của công tác quản

lý bảo vệ rừng, đồng thời tạo điều kiện phát huy dân chủ tại cơ sở

Việc giao rừng cho cộng đồng quản lý theo hình thức nhóm hộ phát huy được sức mạnh tập thể, đảm bảo công bằng trong sử dụng tài nguyên, rừng được quản lý, bảo vệ tốt hơn, việc thực hiện các biện pháp kỹ thuật để chăm sóc rừng cũng thuận lợi hơn Đồng thời, các hộ trong cùng một nhóm có thể hỗ trợ nhau trong công việc nương, rẫy

Trang 11

x

Vai trò của các tổ chức cộng đồng là rất quan trọng, là nhân tố đảm bảo vững chắc cho hoạt động và thành công của mô hình Rừng được giao cho cộng đồng quản lý trong thời gian dài và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đã tạo sự yên tâm cho cộng đồng, từ đó thức đẩy cộng đồng đầu tư vào rừng để rừng đem lại hiệu quả cao hơn nữa về mặt kinh tế, môi trường, cảnh quan

Trang 12

đời sống sinh hoạt của người dân Biến đổi khí hậu đã, đang và sẽ làm ảnh hưởng

đến nhiều nước trên thế giới, trong đó Việt Nam được đánh giá là một trong những nước chịu ảnh hưởng nặng nề của nó Chỉ riêng năm 2007, từ đầu tháng 10 đến ngày 15-11, miền Trung đã có 5 trận lũ lớn, làm 155 người chết, 13 người mất tích, 147 người bị thương, thiệt hại về cơ sở vật chất, hoa màu lên đến 4.434 tỉ đồng (Trần Thanh Lâm, 2009) Nguyên nhân của hiện tượng trái đất nóng lên có nguyên nhân sâu xa từ việc suy giảm tài nguyên rừng Nguyên nhân của mất rừng

là do sự tác động của con người ngày càng tăng lên tài nguyên rừng, chịu áp lực bởi nhu cầu về đất canh tác nông nghiệp, gỗ xây dựng, gỗ gia dụng, nhu cầu mở rộng các diện tích đất đô thị, đất dành cho xây dựng các nhà máy công nghiệp…

Để giảm thiểu tác hại của biến đổi khí hậu, các quốc gia trên thế giới trong

đó có Việt Nam đang lỗ lực cùng nhau thực hiện các hành động, trong đó có quản

lý, bảo vệ, khai thác hợp lý tài nguyên rừng hiện có đi đôi với trồng mới các diện tích rừng theo các chương trình của Chính phủ như 327, 661…

Trong công tác quản lý và bảo vệ rừng hiện nay, nước ta và nhiều nước trên thế giới đang tiến hành đồng thời cả hai phương pháp là rừng do Nhà nước trực tiếp quản lý gồm VQG, KBTTN, … và rừng do các tổ chức cộng đồng địa phương quản lý và bảo vệ Trong đó quản lý rừng dựa vào cộng đồng đang là hướng đi hứa hẹn vì nó thu hút cộng đồng địa phương tham gia bảo vệ rừng cùng các cơ quan chức năng của Nhà nước, điều đó sẽ góp phần tăng cường khả năng bảo vệ

Trang 13

2

rừng, khôi phục, trồng mới rừng Đồng thời khi tham gia quản lý rừng, người dân địa phương sẽ được thụ hưởng một số lợi ích từ chính diện tích rừng mà họ nhận bảo vệ như khai thác các cây gỗ chết, các loại LSNG, được thụ hưởng phần tăng trưởng hàng năm của rừng góp phần nâng cao đời sống của người dân Có nghĩa

là, người nhận khoán bảo vệ rừng luôn đảm bảo phần vốn rừng của Quốc gia đã giao cho họ và được hưởng lợi nhờ phần sinh trưởng tích luỹ Nguyên tắc này đảm bảo hai yêu cầu: Hài hoà giữa đảm bảo vốn rừng và hưởng lợi của người dân; khuyến khích được người nhận rừng tổ chức kinh doanh, đầu tư vào rừng, đầu tư càng cao tăng trưởng càng lớn, hưởng lợi càng nhiều Qua đó, rừng không những được khôi phục và bảo vệ một cách có hiệu quả mà còn đem lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng dân cư khi tham gia quản lý, bảo vệ rừng, đồng thời khuyến khích người dân tích cực tham gia hơn nữa

Đề tài “Nghiên cứu mô hình quản lý rừng cộng đồng có sự tham gia của người dân tại làng Đê Tar, xã Kon Chiêng, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai” được thực hiện nhằm tìm hiểu thêm về mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng, cách thức tổ chức thực hiện, đóng góp của quản lý rừng dựa vào cộng đồng với quản lý tài nguyên rừng trong điều kiện nước ta hiện nay và vai trò của nó trong cải thiện đời sống của cộng đồng dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế khó khăn

Lý do chọn làng Đê Tar làm địa điểm nghiên cứu vì:

i Tại đây đang thực hiện quản lý rừng dựa vào cộng đồng và được người dân tham gia đầy đủ

ii Làng Đê Tar là địa phương được chọn thực hiện nhiều chương trình phát triển cộng đồng nên người dân tại đây đã quen với các phương pháp, công cụ thu thập số liệu nên quá trình thu thập số liệu sẽ thuân lợi hơn, số liệu điều tra sẽ chính xác và đầy đủ hơn

Trang 15

4

Chương 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Khái niệm về cộng đồng và quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng

(i) Theo FAO (1996), một cộng đồng được định nghĩa như là “những người sống tại một chỗ, trong một tổng thể” hoặc là “một nhóm người sinh sống tại cùng một nơi theo những luật lệ chung”

Trong các tài liệu liên quan tới quản lý tài nguyên thiên nhiên, cộng đồng thường được hiểu là “một nhóm người chia sẻ những lợi ích, mối quan tâm hay mối liên hệ chức năng hay đạo đức” (Pomeroy và Carlos, 1996)

Cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc và các điểm dân cư tương tự có cùng phong tục, tập quán hoặc có chung dòng họ (Luật đất đai, 2003)

Cộng đồng dân cư thôn là toàn bộ các hộ gia đình, cá nhân sống trong cùng một thôn, làng, bản, ấp, buôn, phum, sóc hoặc đơn vị tương đương (Luật bảo vệ

và phát triển rừng, 2004)

(ii) Theo FAO (1978) “LNCĐ là bao gồm bất kỳ tình huống nào người dân địa phương tham gia vào hoạt động lâm nghiệp” Tuy vậy, nó thường được sử dụng với nghĩa hẹp hơn như là các hoạt động lâm nghiệp được tiến hành bởi cộng đồng hoặc nhóm người dân địa phương (Michael Arnold, 1999)

Lâm nghiệp cộng đồng được hình thành với mục đích tạo dựng một phương thức quản lý rừng dựa vào cộng đồng, phân cấp trong quản lý rừng, rừng được quản lý bền vững hơn từ những người đang sống phụ thuộc vào rừng và những giải pháp quản lý bảo vệ rừng đóng góp vào sinh kế và cải thiện đời sống người dân từ hoạt động lâm nghiệp

Trang 16

5

Quản lý rừng dựa vào cộng đồng là phương thức duy trì và phát triển rừng cũng như giải quyết vấn đề đói nghèo ở vùng cao, một nguyên nhân làm suy giảm tài nguyên rừng quốc gia (Trần Ngọc Ty, 2009)

Quản lý rừng dựa vào cộng đồng trao cho các cộng đồng quyền và trách nhiệm trực tiếp trong quản lý và hưởng lợi từ nguồn tài nguyên rừng

Trong những năm gần đây, LNCĐ đã phát triển ở nhiều nơi trên thế giới trong đó có khu vực Đông Nam Á Có nhiều mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng đã được triển khai theo nhiều hình thức với các mức độ tham gia khác nhau của người dân như mô hình “liên kết quản lý rừng” giữa các cơ quan lâm nghiệp nhà nước với cộng đồng địa phương ở Ấn Độ, Phát triển các nhóm sử dụng tài nguyên rừng ở Nepal, tổ chức các cộng đồng đăng ký quản lý rừng ở Philippines, thể chế hóa hình thức quản lý rừng cộng đồng ở Thái Lan (RECOFTC, 1998)

(iii) Ở Việt Nam, việc giao đất giao rừng cho các cộng đồng địa phương quản lý và bảo vệ được thực hiện dưới nhiều hình thức: rừng và đất rừng do cộng đồng tự công nhận và quản lý từ lâu đời; rừng và đất rừng sử dụng vào mục đích lâm nghiệp được chính quyền địa phương giao cho cộng đồng quản lý, sử dụng

ổn định lâu dài; rừng và đất rừng sử dụng vào mục đích lâm nghiệp của các tổ chức nhà nước (Lâm trường, Ban quản lý rừng đặc dụng và rừng phòng hộ, Ban quản lý các dự án) khoán cho các cộng đồng khoán bảo vệ, khoanh nuôi và trồng mới theo hợp đồng khoán rừng; rừng và đất rừng của hộ gia đình và cá nhân là thành viên trong cộng đồng tự liên kết lại với nhau thành các nhóm cộng đồng (nhóm hộ) cùng quản lý (Nguyễn Bá Ngãi và ctv, 2009)

Cho dù áp dụng hình thức nào, quản lý tài nguyên thiên nhiên (và tài nguyên rừng nói riêng) dựa vào cộng đồng cũng đòi hỏi những hành động tập thể (Hoàng Hữu Cải, 2003) Ngay cả khi nhận khoán quản lý với tư cách cá nhân nông hộ, các nông hộ trong cùng một cộng đồng cũng tự xây dựng các hình thức quản lý theo tập thể: Họ có thể phối hợp nhau trong các hoạt động tuần tra bảo vệ,

Trang 17

Theo Lâm Quang Hiền (2004), quản lý rừng dựa vào cộng đồng đang có những điều kiện thuận lợi để phát triển: phát huy dân chủ cơ sở, tăng cường bình đẳng giới, thực hiện chính sách dân tộc và thực thi chiến lược toàn diện tăng trưởng và giảm đói nghèo đặc biệt là quan tâm đến những người không có đất

Xét về mặt lịch sử, ở Việt Nam, rừng cộng đồng đã tồn tại từ lâu trong tín ngưỡng của các cộng đồng dân cư sống dựa vào rừng Quản lý tài nguyên rừng và đất rừng dựa vào cộng đồng là một phương thức quản lý rừng dựa vào kiến thức kinh nghiệm truyền thống và nguyện vọng của cộng đồng, hướng đến việc nâng cao năng lực và tăng cường sự hợp tác chia sẻ kinh nghiệm cho cộng đồng và bên liên quan nhằm quản lý các nguồn tài nguyên bền vững và góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, văn hoá của các cộng đồng dân tộc sống trong và gần rừng (Phùng Nhuệ Giang, 2007)

Theo số liệu thống kê của Cục Kiểm lâm - Bộ NNPTNT, tính đến tháng 6 năm 2001 các cộng đồng dân cư thuộc 1.203 xã, 146 huyện của 24 tỉnh đang tham gia quản lý 2.348.288 ha rừng và đất chưa có rừng quy hoạch để trồng rừng, chiếm khoảng 15,5% đất lâm nghiệp trong toàn quốc

Để người dân yên tâm tham gia quản lý bảo vệ rừng, Nhà nước đã ban hành một số chính sách pháp luật nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho cộng đồng tham gia quản lý rừng bền vững Luật đất đai (2003) và Luật Bảo vệ và Phát triển

Trang 18

7

rừng (2004) xác định cộng đồng là một chủ thể để giao đất giao rừng Theo đó, cộng đồng được giao rừng có quyền: được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận quyền sử dụng rừng lâu dài, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,

có đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ như các chủ rừng khác Các quyết định như 327/CT, 661/TTg được ban hành đã góp phần cải thiện đời sống của người dân sống phụ thuộc vào rừng và tăng độ che phủ của rừng trên toàn quốc

Trong những năm qua, nhiều địa phương trong cả nước trong đó có Gia Lai

đã và đang thực hiện nhiều chương trình quản lý rừng dựa vào cộng đồng và đã đem lại nhiều hiệu quả thiết thực góp phần cải thiện đời sống của cộng đồng các dân tộc thiểu số, duy trì và cải thiện vốn rừng hiện có góp phần thực hiện mục tiêu quốc gia về nâng cao độ che phủ của rừng ở Việt Nam lên 43% bằng với mức che phủ rừng ở Việt Nam trước năm 1943

Theo Nguyễn Văn Phong (2003), riêng ở Gia Lai nhất thiết phải tiến hành quản lý rừng dựa vào cộng đồng bởi các lý do sau đây: i) phần lớn diện tích rừng nằm ở phần cư trú của các cộng đồng dân tộc thiểu số đời sống gắn liền với đất rừng, ii) phương thức này phù hợp với điều kiện kinh tế tự cung tự cấp, iii) nhà nước không có điều kiện đầu tư một khoản kinh phí lớn để thuê người dân bảo vệ rừng lâu dài, iv) quản lý rừng dựa vào cộng đồng là dựa trên hương ước nội bộ với

sự lãnh đạo của người đứng đầu thôn làng được mọi người tôn trọng nên sẽ có hiệu quả

Nhận thấy vai trò tích cực của cộng đồng trong quản lý và bảo vệ rừng và lợi ích mà rừng cộng đồng đem lại cho đời sống của cộng đồng dân tộc sống gần rừng, chúng tôi quyết định thực hiện đề tài “Nghiên cứu mô hình quản lý rừng cộng đồng có sự tham gia của người dân tại làng Đê Tar, xã Kon Chiêng, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai”

Trang 19

8

Chương 3

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Địa điểm nghiên cứu

3.1.1 Sơ lược về xã Kon Chiêng

a) Điều kiện tự nhiên

 Vị trí địa lý:

Xã Kon Chiêng nằm ở phía nam huyện Mang Yang, cách trung tâm huyện khoảng 40km, có giới cận như sau:

• Bắc giáp xã Kon Thụp huyện Mang Yang

• Nam giáp xã H’Bông huyện Chư Sê

• Đông giáp xã Chư Long huyện Kông Chro

• Tây giáp xã Đăk Trôi

 Đất đai, địa hình

Địa hình: nằm ở cao nguyên Pleiku có độ cao trung bình 600-700m, địa hình lượn sóng đều nhẹ, chia làm hai phần rõ rệt, phần đồi núi chiếm diện tích lớn nằm bao quanh toàn xã có độ dốc từ 80

-250, vùng đồng bằng nằm ven các sông, suối là khu vực sản xuất nông nghiệp

Đất đai: tổng diện tích tự nhiên của toàn xã là 19.936,42 ha trong đó đất ở

là 319.200 m2 chiếm 0,16%, diện tích đất rừng hiện có là 14.499,44 ha chiếm 72,7%, diện tích đất nông nghiệp là 5.440,06 ha chiếm 27,14%

Xã Kon Chiêng có các loại đất sau:

- Đất xám bạc màu trên đá granit, phân bố chủ yếu trên sườn đồi, rừng nghèo

kiệt

Trang 20

9

- Đất vàng đỏ trên granit phân bố trên núi cao

- Đất nâu đỏ trên bazan

- Đất phù sa ven suối, bồi tụ, thường xuyên canh tác lúa nước

Chất lượng đất ở mức độ trung bình, phần lớn có tầng canh tác khá (trừ một

số đất đồi núi do để trọc lâu nên tầng đất bị bào mòn, rửa trôi)

Nhìn chung diện tích đất của xã là tương đối lớn nhưng chủ yếu là đất rừng nhiều sỏi đá do đó gây khó khăn cho phát triển cây công nghiệp, cây lâu năm

 Tài nguyên rừng

Tổng diện tích rừng của toàn xã là 14.499,44 ha trong đó chủ yếu là đất rừng tự nhiên, rừng sản xuất của công ty lâm nghiệp Kon Chiêng Rừng có nhiều loại gỗ quý hiếm, đặc sản dưới tán rừng khá phong phú và đa dạng, có giá trị kinh

tế cao Tuy nhiên, do tình trạng khai thác những năm gần đây mà nguồn tài nguyên rừng giảm sút mạnh về số lượng và chất lượng Với thảm thực vật chính của rừng bao gồm:

Rừng lá rộng thường xanh với những loài cây ưu thế như trâm, dẻ, bời lời, bình linh,… Đa số là rừng thứ sinh non, nghèo, một số rừng trung bình và giàu phân bố trên núi cao, rải rác thành từng mảnh nhỏ Còn lại là rừng khô với cây họ dầu chiếm ưu thế như dầu trà beng, dầu đồng, cẩm liên, cà chắc và xen kẽ các loại

lá rộng thường xanh phân bố ở vùng khô hạn Tuy nhiên, kiểu rừng này chỉ chiếm một diện tích nhỏ, chủ yếu là một phần của rừng khộp ở AjunPa kéo dài lên từ phía nam và có dạng chuyển tiếp từ rừng khộp và rừng lá rộng thường xanh, trạng thái chính là rừng non nghèo kiệt

 Khí hậu, thủy văn

Huyện Mang Yang nói chung và xã Kon Chiêng nói riêng là vùng đất thuộc vùng núi và cao nguyên nằm về phía đông dãy Trường Sơn nên khí hậu nằm trong vùng nhiệt đới cao nguyên và mang sắc thái của dãy đông Trường Sơn Theo tài liệu theo dõi nhiều năm của trạm khí tượng thủy văn Gia Lai, xã Kon Chiêng

Trang 21

10

mang nét đặc trưng của khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, vừa mang khí hậu cao nguyên, một năm có 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa nắng Mùa mưa thường đến muộn, bắt đầu từ tháng 6 đến tháng 11, mùa nắng bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 5 năm sau Mùa khô thường khắc nghiệt với gió Đông Đông Bắc ảnh hưởng tới quá trình mất ẩm, mất màu của đất và ảnh hưởng tới sinh trưởng cây trồng

Nhiệt độ trung bình năm: 250

C Lượng mưa trung bình năm: 1225 mm Độ

ẩm bình quân năm: 80%

Gió: 2 hướng gió chính là Đông và Nam thổi từ tháng 11 đến tháng 7 năm sau và gió Tây Nam thổi từ tháng 8 đến tháng 10

 Tài nguyên nước

Xã Kon Chiêng có hai nguồn nước chính là nước mặt và nước ngầm khá phong phú Nước mặt chủ yếu phân bố trên suối Đăk Pơ You, Đăk Pơ Tô Ngoài

ra còn rất nhiều nhánh suối và lưu vực nên rất thuận lợi cho việc tưới tiêu Tuy nhiên do đặc điểm địa hình khu vực miền núi và mưa tập trung nên mùa khô thường thiếu nước, mùa mưa thì thừa nước Nguồn nước ngầm khá phong phú nhưng phân bố khá sâu Lượng nước phong phú là điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp Tuy nhiên sự phân bố lượng nước không đều trong năm đã mang không ít khó khăn cho sản xuất và sinh hoạt của người dân nhất là trong mùa khô dẫn đến sản xuất nông nghiệp chỉ làm được một vụ trong năm, một số

làng thiếu nước sinh hoạt

b) Điều kiện dân sinh, kinh tế, xã hội

 Cơ sở hạ tầng

Giao thông: xã quản lý các trục đường bao gồm trục dường chính của xã là dọc tỉnh lộ 666 dài 20km, dược rải nhựa khoảng 5km, còn lại là đường đất Đường liên xã qua 3 xã Đăk Trôi, Kon Thụp, Pờ Tô dài khoảng 27km Đường nội thôn dài 14km là đường đất, rất khó khăn di chuyển trong mùa mưa Đường nội đồng dài 35km chủ yếu là đường mòn do dân tự làm nhỏ hẹp và đi lại khó khăn

Trang 22

11

Thủy lợi: xã có hệ thống thủy lợi Đăk Pờ You dài hơn 12 km tưới tiêu cho hơn 35 ha lúa và phục vụ sản xuất, sinh hoạt của bà con các làng Đê Tar, làng Đê Toak và làng Thương

Điện: xã đã có hệ thống điện tới các làng trong xã Có 98% số hộ dân được

sử dụng điện

 Y tế, giáo dục

Y tế: xã đã xây dựng 5 phòng kiên cố phục vụ khám chữa bệnh Mỗi làng đều có cộng tác viên thôn bản

Giáo dục: toàn xã có 4 trường với 50 lớp (từ mẫu giáo tới trung học cơ sở)

và các phân hiệu trường mẫu giáo và tiểu học ở các làng Klat, Ktu, Đăk Ó, Toak, Thương, Đê Tar Với 1.155 học sinh, trong đó học sinh phổ thông 1.015 Chất lượng giáo dục có sự chuyển biến tích cực, tỷ lệ học sinh đi học chuyên cần đạt 85% Xã đạt tiêu chuẩn phổ cập trung học cơ sở Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp Trung học cơ sở được tiếp tục học là 20% Ngoài ra, xã đã xây dựng được 3 nhà văn hóa tại các làng Toak, Bchăk và Đăk Ó Đây là nơi thường tổ chức các hoạt động văn hóa và tuyên truyền các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước nâng cao nhận thức cho người dân

 Tình hình dân sinh, kinh tế

Dân số: toàn xã có 798 hộ với 4063 nhân khẩu, thành phần dân tộc ổn định gồm:

Dân tộc Bahnar: 729 hộ với 3859 nhân khẩu chiếm 91,4%

Dân tộc Kinh: 69 hộ với 214 nhân khẩu chiếm 8,6%

Tôn giáo ở địa phương khá ổn định, hầu hết người dân không theo đạo, gồm 654 hộ chiếm 82%, còn lại là đạo Tin lành với 144 hộ chiếm 18% Nhìn chung nhân dân trong xã hầu hết là người đồng bào dân tộc thiểu số nhận thức còn chưa cao, việc áp dụng kỹ thuật vào sản xuất canh tác còn hạn chế, phương thức

Trang 23

3.1.2 Sơ lược về làng Đê Tar

 Dân số và phân bố dân cư

Làng Đê Tar là một làng sinh sống lâu đời, thuộc vùng sâu vùng xa, giao thông đi lại khó khăn, giao lưu văn hóa, tiếp cận thị trường và thông tin còn khó khăn

Tổng số hộ trong làng là 106 hộ trong đó số hộ dân tộc Bahnar là 105 hộ với 507 nhân khẩu, nam 243 và nữ 264 Số lao động chính là 209 trong đó nam

100, nữ 109 Hầu hết các hộ định cư trong làng, mỗi hộ đều có đất làm nhà và vườn hộ riêng

 Giáo dục

Tại làng có một trường tiểu học - trung học cơ sở với 4 phòng học kiên cố

và một phòng học phân hiệu mẫu giáo Số học sinh đi học chuyên cần là 80%, các

em tới tuổi đi học đều được tạo điều kiện tới trường Do là một xã vùng sâu vùng

xa, xã cách trường cấp III là 12km, đường xá đi lại khó khăn nhất là vào mùa mưa nên hiện nay trong làng chỉ có 1 em đang theo học cấp III

 Địa hình

Trang 24

13

Địa hình lượn sóng đều nhẹ, trên núi có độ dốc lớn 10-200, ở những vùng bằng phẳng hơn người dân canh tác nông nghiệp: trồng lúa nước, lúa rẫy, bắp, mì cao sản…

 Cơ sở hạ tầng

Đường từ trung tâm xã tới làng dài hơn 10km đã được bêtông hóa tạo điều kiện thuân lợi cho đi lại của người dân

Điện được kéo tới làng, 100% các hộ có điện thắp sáng và sinh hoạt

Có 10 vòi nước tự chảy cung cấp nước sinh hoạt cho cộng đồng

Công trình thủy lợi trên suối Đăk Pờ You cung cấp nguồn nước tưới tiêu cho làng và các làng xung quanh

 Đời sống kinh tế

Theo phân loại kinh tế năm 2009, cả làng có 21 hộ nghèo chiếm 19,8% Đời sống người dân cũng gặp nhiều khó khăn, nguồn thu nhập còn dựa vào nông nghiệp với một số nông sản chủ đạo Trong những năm qua, nhờ sự hỗ trợ về kỹ thuật sản xuất và giống mới mà người dân đã có thu nhập cao hơn từ mì cao sản, đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể Trong làng có 98% hộ được tiếp cận thông tin qua truyền hình, 80% hộ có xe máy phục vụ đi lại Tuy nhiên, thu nhập hàng năm của người dân chủ yếu dựa vào thu hoạch một vụ mì nên rủi ro sản xuất cao, tiếp cận thị trường của người dân còn kém, người dân thường bán trực tiếp nông sản tại làng cho con buôn nên thường bị ép giá

 Tài nguyên rừng

Diện tích rừng trong khu vực là 2594,7 ha trong đó có các trạng thái rừng: rừng thường xanh IIA, IIB, IIIA1, IIIA2, IIIA3; rừng khộp IIB và IIIA1 Các sản phẩm từ rừng chủ yếu là tre, lồ ô, mây, vàng đắng, thú, mật ong… và gỗ Các sản phẩm này đang được cộng đồng quản lý và sử dụng đem lại thu nhập, sử dụng cho gia đình làm thực phẩm, làm nhà

Trang 25

14

3.2 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu

3.2.1 Mục tiêu của đề tài

Đề tài này được thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu sau:

i Tìm hiểu đặc điểm của mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng đang được thực hiện

ii Phân tích và xem xét tác động của mô hình ở địa phương và giải thích lý do thành công của mô hình này

3.2.2 Nội dung nghiên cứu

Từ mục tiêu của đề tài, nội dung nghiên cứu sẽ là:

(1) Mức độ tham gia và ảnh hưởng của các bên liên quan đến quản lý rừng cộng đồng

(2) Sự đóng góp của rừng cộng đồng về mặt hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường, nhận thức của hộ tham gia quản lý bảo vệ rừng cộng đồng

(3) Những thuận lợi và khó khăn trong quản lý rừng dựa vào cộng đồng

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu

Thu thập các thông tin thứ cấp về các văn bản pháp quy có liên quan tới rừng cộng đồng: danh sách các nhóm hộ, diện tích và hiện trạng rừng các nhóm hộ được giao từ Ban quản lý rừng cộng đồng, UBND xã, Phòng TNMT huyện Mang Yang

Thu thập thông tin sơ cấp thông qua phỏng vấn người đưa tin then chốt như già làng, trưởng thôn, các nhóm trưởng Quan sát các hoạt động của cộng đồng để xác thực thông tin thu thập được

Phân loại kinh tế hộ: Phân nhóm hộ trước khi đi điều tra bằng cách lập danh sách các hộ dân trong làng, nhờ dân làng sắp xếp theo các nhóm giàu, khá,

Trang 26

15

trung bình, nghèo Sau đó, tổng hợp lại và hỏi xem tiêu chí để cộng đồng phân chia như vậy là dựa vào các tiêu chí nào

Xây dựng sơ đồ VENN để phân tích các bên liên quan:

+ Phỏng vấn người đưa tin then chốt gồm già làng, trưởng thôn, các nhóm trưởng để xác định các nhóm tổ chức, cá nhân liên quan tới quản lý rừng cộng đồng

+ Phân tích vai trò của các tổ chức và cá nhân liên quan đến quản lý rừng dựa vào cộng đồng và qua đó xây dựng sơ đồ mối quan hệ của các tổ chức + Xác định tầm quan trọng và mức độ ảnh hưởng khác nhau của các tổ chức địa phương hiện tại đến rừng cộng đồng bằng cách nhờ nhóm đưa tin then chốt cho điểm theo cấp độ: nếu tầm ảnh hưởng lớn thì cho điểm từ cao xuống thấp, nếu tầm quan trọng lớn thì cho điểm từ cao xuống thấp

Phỏng vấn nông hộ để tìm hiểu thu thập thông tin về cải thiện dân sinh, kinh tế, môi trường, nhận thức của cộng đồng Số lượng hộ phỏng vấn là 30 hộ chiếm khoảng 30% tổng số hộ trong làng Sử dụng bảng câu hỏi để phỏng vấn các thông tin cần điều tra

Phân tích SWOT: Cho thấy rõ các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của quản lý rừng dựa vào cộng đồng Sử dụng bảng câu hỏi phỏng vấn nhóm người đưa tin then chốt, tập hợp ghi lại kết quả các ý kiến của người dân về các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của quản lý rừng dựa vào cộng đồng

3.3.2 Phương pháp xử lý số liệu

Các thông tin, số liệu thu thập được xử lý bằng các phương pháp sau:

Thông tin về số liệu thứ cấp được sàng lọc theo nội dung nghiên cứu cần thiết về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội liên quan đến hoạt động quản lý rừng dựa vào cộng đồng

Trang 28

17

Chương 4

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Đặc điểm của mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng tại làng Đê Tar

4 1.1 Hiện trạng rừng quản lý và cách quản lý rừng cộng đồng

Qua kết quả thảo luận, các cơ quan nhà nước và cộng đồng đều nhất trí giao rừng cho cộng đồng người Bahnar ở Đê Tar quản lý, bảo vệ theo hình thức nhóm

hộ và chia làm 7 nhóm bao gồm 72 hộ dân Sơ đồ rừng cộng đồng tại làng Đê Tar giao cho 7 nhóm hộ quản lý như dưới đây:

(Nguồn: điều tra tại Đê Tar, 2011)

Hình 4.1: Sơ đồ rừng cộng đồng phân cho các nhóm hộ ở Đê Tar

Trang 29

18

Rừng cộng đồng đã giao cho 7 nhóm hộ quản lý và bảo vệ là khu rừng đầu nguồn, nó mang ý nghĩa tâm linh đối với cộng đồng tại đây Theo kết quả thảo luận với nhóm đưa tin then chốt tìm hiểu tại sao không giao rừng cho từng hộ quản lý, bảo vệ mà lại giao rừng cho nhóm hộ quản lý, bảo vệ thì được đưa ra các

lý do sau:

• Rừng bao gồm nhiều trạng thái như giàu, nghèo và đất trống phân

bố không đều nên việc giao rừng theo nhóm hộ sẽ đảm bảo sự công bằng trong sử dụng tài nguyên

• Các hộ dân đều có nguyện vọng được giao rừng theo nhóm đồng quản lý Việc quản lý rừng cộng đồng theo nhóm sẽ có nhiều lao động và phương tiện để quản lý rừng Rừng được bảo vệ tốt hơn

• Giao rừng cho nhóm hộ quản lý sẽ hạn chế tình trạng chuyển nhượng đất Giao rừng cho nhóm hộ quản lý thể hiện mối liên hệ ràng buộc giữa các thành viên trong cộng đồng sẽ tránh được việc sang nhượng, chuyển giao quyền sử dụng đất

• Nếu giao rừng cho từng hộ quản lý thì các hộ không có đủ nhân lực, vật lực để quản lý tốt nhất diện tích các hộ được giao Các hộ không có đủ nguồn vốn cần thiết để đầu tư vào rừng

• Rừng cộng đồng là nơi người dân thường sử dụng và hưởng lợi chung các loại lâm sản nên việc tách riêng từng hộ là rất khó

Từ các lý do trên, việc giao rừng cộng đồng cho nhóm hộ quản lý sẽ đem lại hiệu quả cao hơn, tăng cường tinh thần đoàn kết giữa các hộ gia đình, đồng thời nâng cao trách nhiệm của các thành viên trong cộng đồng

Dưới đây là kết quả điều tra về hiện trạng rừng và phân bố diện tích rừng được giao của các nhóm hộ (bảng 4.1):

Trang 30

(Nguồn: Phòng TNMT huyện mang yang, 2011)

Qua bảng phân bổ diện tích, hiện trạng rừng cho các nhóm hộ ta thấy khu rừng giao cho cộng đồng người Bahnar ở Đê Tar bao gồm nhiều trạng thái không đồng nhất, trữ lượng và chất lượng rừng không cao Do đó, nếu giao rừng cho các

hộ gia đình quản lý, chăm sóc và bảo vệ thì hiệu quả đem lại không cao và không đảm bảo được tính công bằng xã hội vì có hộ nhận được những khoảnh rừng tốt, lại có hộ nhận được những khoảnh rừng xấu nên việc chăm sóc bảo vệ sẽ khó khăn hơn Trong khi đó, đại đa số người dân trong làng lại có trình độ dân trí thấp,

Ngày đăng: 11/06/2018, 18:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w