1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

SKKN “ PPDH là cách thức hoạt dộng của GV trong việc chỉ đạo, tổ chức các hoạt động học tập nhằm giúp HS chủ động lĩnh hội tri thức, đạt mục tiêu giáo dục”

25 280 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 180,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SKKN “ PPDH là cách thức hoạt dộng của GV trong việc chỉ đạo, tổ chức các hoạt động học tập nhằm giúp HS chủ động lĩnh hội tri thức, đạt mục tiêu giáo dục” SKKN “ PPDH là cách thức hoạt dộng của GV trong việc chỉ đạo, tổ chức các hoạt động học tập nhằm giúp HS chủ động lĩnh hội tri thức, đạt mục tiêu giáo dục” SKKN “ PPDH là cách thức hoạt dộng của GV trong việc chỉ đạo, tổ chức các hoạt động học tập nhằm giúp HS chủ động lĩnh hội tri thức, đạt mục tiêu giáo dục”

Trang 1

Trước tình hình khoa học, kĩ thuật phát triển, trước sự “ bùng nổ” thôngtin, tri thức nhân loại phát triển với tốc độ nhanh, trước yêu cầu phát triểncủa xã hội, mục tiêu giáo dục phải đáp ứng với tình hình đất nước trong thời

kì công nghiệp hoá hiện đại hoá Mục tiêu cấp THCS được ghi cụ thể trongđiều 23 luật giáo dục là: “Nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển nhữngkết quả của giáo dục tiểu học, có trình độ học vấn phổ thông cơ sở và nhữnghiểu biết ban đầu về kĩ thuật và hướng nghiệpđể tiếp tục học THPT, THCN,học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”

Sự đổi mới về mục tiêu và nội dung dạy học, đòi hỏi phải đổi mới vềPPDH Nghị Quyết TW 4 khoá VII( tháng 1 năm 1993) đã đề ra nhiệm vụđổi mới PPDH ở tất cả các cấp học, bậc học Nghị quyết TW 2 khoá VIII(12/1996) nhận định “phương pháp giáo dục đào tạo chậm đổi mới chưaphát huy được tính chủ động sáng tạo của người học”

Tình hình dạy môn ngữ văn ở trương THCS chủ yếu vẫn dạy theo kiểuthầy giảng xen kẽ vấn đáp, giải, thích minh hoạ bằng tranh ảnh, “thầy đọctrò chép” Nhiều giáo viên còn bỡ ngỡ trong việc vận dụng phương phápmới Đội ngũ giáo viên dạy ngữ văn ở trường còn không ít người mơ hồ vớiphương pháp mới Vấn đề đổi mới phương pháp phải được tiến hành trongcác nhà trường

2 Lí do chủ quan:

Trang 2

Bản thân được dạy chương trình thay sách từ lớp 6 đến lớp 9 đã nghiêncứu và vận dụng phương pháp mới trong chương trình ngữ văn toàn cấp.Hiện nay là cán bộ quản lí trực tiếp chỉ đạo công tác chuyên môn củatrường và phụ trách tổ khoa học xã hội Qua thăm lớp dự giờ của giáo viênbản thân tôi nhận thấy việc chỉ đạo đổi mới PPDH nói chung và đổi mớiPPDH Ngữ văn cấp THCS là cần thiết và phải tiến hành thường xuyên

Trang 3

Trong bối cảnh mà toàn ngành GD- ĐT đang nỗ lực đổi mới PPDH theohướng phát uy tính tích cực chủ động của HS trong hoạt động học tập, mộtđịnh nghĩa có thể xem là phù hợp “ PPDH là cách thức oạt dộng của GVtrong việc chỉ đạo, tổ chức các hoạt động học tập nhằm giúp HS chủ độnglĩnh hội tri thức, đạt mục tiêu giáo dục”

Định hướng đổi mới PPDH đã được nêu trong các nghị quyết TW Đảng:Nghị quyết TW II khoá VII đã xác định phải “khuyến khích tự học”, phải “ápdụng những PPGD hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy, sángtạo, năng lực giải quyết vấn đề”

Nghị quyết TW VII khoá VIII tiếp tục khẳng định phải “đổi mớiphương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyệnthành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phươngpháp tiên tiến và phương pháp hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điềukiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho HS”

Định hướng trên đây đã được pháp chế hoá trong luật giáo dục điều 24”Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủđộng, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm củ từng lớp học, môn học,bồi dưỡng phương oháp tự học,rèn kĩ năng vận dụng kiến thức, kĩ năng vàothực tiễn, tác động đến tình cảm, đen lại niềm vui, hứng thú học tập cho họcsinh”

Trang 4

Bản chất của PPDH mới là: nội dung và PPDH bao giờ cũng gắn bó vớinhau Mỗi nội dung đòi hỏi một phương pháp thích hợp Các kĩ năng giaotiếp không thể hình thành và phát triển bằng cong đường truyền giảng thụđộng muốn phát triển kĩ năng, học sinh phải được hoạt động trong môtrường giao tiếp dưới sự hướng dẫn của thầy cô Các kiến thức về văn học,văn hoá tự nhiên, xã hộicó thể tiếp thu qua lời giảng Nhưng học sinh chỉ làmchủ được những kiến thức này khi các em chiếm lĩnh chung bằng hoạt động

có ý thức của mình Cũng như vậy những tư tưởng tình cảm và nhân cách tốtđẹp được hình thành chắc chắn thông qua rèn luyện trong thực tế Vậyphương pháp dạy học mới là phương pháp tích cực hoá hoạt động của họcsinh

Tích cực hoá hoạt động của người học được hiểu là: Phương pháp dạy học lấy người học làm trung tâm, trong đó thầy đóng vai trò chủ đạo, tổ chứcđiều khiển các hoạt động học tập của HS Học sinh là chủ thể của quá trình học Học sinh được hoạt động được bộc lộ mình

Học sinh được hoạt động, được bộc lộ mình và được phát triển, chủđộng tiếp thu những tác động sư phạm, qua lăng kính chủ quan, các em biếntri thức nhân loại thành của mình, phát huy tích cực chủ đốngáng tạo trongcác hoạt động học tập

Theo tinh thần đổi mới trên, môn Ngữ văn trường THCS cũng đượcđổi mới về nội dung phương pháp Mục tiêu tổng quát của môn Ngữ văn cấpTHCS có vi trí đặc biêt trong mục tiêu chungcủa cấp THCS, góp phần đàotạo những con người có học vấn cơ sở, chuẩn bị cho các em bước vào đờihoặc học lên THPT hoặc cao hơn Đó là những con người có ý thức tự tudưỡng, biết yêu thương, quý trọng gia đình, bạn bè có lòng yêu nước, YêuCNXH, biết hướng tới những lí tưởng, tình cảm cao đẹp như: Lòng nhân ái,tôn trọng lẽ phải, sự công bằng…Biết căm ghét cái xấu và cái ác Đó là

Trang 5

những con người có tính tự lập, có tư duy sáng tạo, bước đầu có năng lựccảm thụ các giá trị chân, thiện, mĩ trong nghệ thuật trước hết là trong vănhọc, có năng lực thực hành và sử dụng Tiếng Việt như một công cụ để tư duy

và giao tiếp Đó là những con người sẵn sàng đem tài trí của mình để cốnghiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc

Từ mục tiêu môn học, từ nội dung chương trình SGK, đổi mới PPDHmôn Ngữ văn hàm chứa trong hai chữ tích đó là “ tích hợp và tích cực”

Tích hợp: Người GV đứng lớp phải biết thực hiện mọi yêu cầu một

cáhc linh hoạt, sáng tạo đó là luôn suy nghĩ về mục tiêu bộ môn ngữ văn đểtìm ra những yếu tố đồng quy giữa ba phân môn tích hợp trong từng thờiđiểm, theo tưng vấn đề

Cần tích hợp theo chiều dọc và theo chiều ngang.

Tích hợp thêo chiều dọc: Là tích hợp một phần nội dung kiến thức

trong một phân môn giữa các bậc học, cấp học, giữa các lớp học, tích hợp giãkiến thức đã học với kiến thức đã học với kiến thức đang học và kiến thức sẽhọc Tíh hợp theo nguyên tắc đồng trục (đồng tâm, vòng hình xoáy trôn ốc )

b ằng ki ến th ức v à kĩ năng lớp trên, bậc trên bao hàm và cao hơn, sâu hơnkiến thức, kĩ năng lớp dưới, bậc dưới

Tích hợp theo chiều ngang: Là tích hợp các phân môn trong bộ môn

ngữ văn Lựa chọn các nội dung giảng dạy và sắp xếp các nội dung giảngdạy bên trong sự liên kết chiều ngang giữa các phân môn

Tích cực: tích cực hóa hoạt động của người học trong quá trình họcngữ văn, người học chủ động trong toàn bộ quá trình tìm tòi phát hiện và giảiquyết nhiệm vụ nhận thức dưới sự hướng dẫn của GV Tích cực hóa hoạtđộng của học sinh dựa trên nguyên tắc: Giáo viên giúp HS tự khám phá cácvăn bản, các ngữ liệu trên cơ sở tự giác và được tự do suy nghĩ, tranh luận đềxuất ý kiến về vấn đề đang phải giải quyết Từ đó HS chiếm lĩnh cảm thụ

Trang 6

được cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn học, chủ động chiếm lĩnh được cáckiến thức về Tiếng Việt, Tập làm văn và biết thực hành vận dụng kiến thứcngữ văn để đọc, nói, viết tạo lập văn bản cũng như giao tiếp trong đời sống,trong học tập các môn học khác.

1.2 Cơ sở thực tế

Việc thực hiện chương trình ngữ văn mới và vân dụng phương phápmới được chỉ đạo và triển khai từ Bộ GD- ĐT tới tất cả các Sở GD- ĐT, tớiccas Phòng GD và các trường từ năm 2002 chương trình ngữ văn 7 đã đượcthực hiện trong nhiều năm học

Học sinh ở lứa tuổi cấp THCS từ 11 đến 15 tuổi có nguyên vọng pháttriển mạnh mẽ đối với tính tự lập, các em thích học tập theo người lớn, tậplàm người lớn Ở lứa tuổi này, nảy sinh đòi hỏi lĩnh hội tri thức ngoài nhàtrường, sẵn sàng tham gia các hoạt động khác nhau, muốn có các hoạt độnghọc tập mang tính người lớn.Đó là điều kiện thuận lợi để thực hiện phươngpháp mới

Xuất phát từ kinh nghiệm của bản thân đã được giảng dạy ở trường cóchất lượng của huyện Đó là một trường luôn đi đầu trong việc đổi mớiPPDH Bản thân cũng đẫ có nhiều thành công trong việc giảng dạy

Xuất phát từ việc điều động của cấp trên được điều động về trường THCSHùng Lô làm cán bộ quản lí, phụ trách chuyên môn, phụ trách tổ KHXH Tôithấy việc chỉ đạo đổi mới PPDH ở bộ môn ngữ văn nói chung và giảng dạyngữ văn 7 nói riêng phải được chú ý nhiều hơn nữa

2 Thực trạng của vấn đề

2.1 Nghiên cứu và phân tích thực trạng

2.1.1 Thực trạng đội ngũ giáo viên bộ môn ngữ văn ở trường

Trang 7

Số GV

Trên 50 Trên 40 25-35 Cao

đẳng

Đại học Đang

học ĐH

- Số giáo viên vận dụng phương pháp mới: 5 đ/c

- Số giáo viên ngại đổi mới phương pháp: 1 đ/c

- Phần lớn chưa phát huy được tính tích cực, chủ yếu học theo kiểu thụ động

“Thầy đọc- trò chép” hoặc “Thầy chép- trò chép” học sin thiếu sáng tạo trong học tập, lười suy nghĩ và giờ học nặng nề, không ghi nhớ sâu kiến thức, nhanh quên, kỹ năng vận dụng thực hành chậm và còn nhiều hạn chế

- Kết quả khảo sát điều tra:

Số HS

dự KS

Kết quảĐiểm 9,10 Điểm 7,8 Điểm 5,6 Điểm 3,4 Điểm 1,2

2.2 Phân tích nguyên nhân và những mâu thuẫn trong thực trạng

- Một số nhân tố tích cực đã học tập, nghiên cứu và vận dụng đổi mớiPPDH Đó là những đồng chí giáo viên tâm huyết với nghề nghiệp, có tinh

Trang 8

thần trách nhiệm, nhậy cảm với yêu cầu của xã hội, nhanh nhạy nắm bắt cáimới Những đồng chí đó đã đạt được khá nhiều giờ dạy tốt nhưng cũng cógiờ vận dụng phương pháp mới chưa thành công.

- Phương pháp dạy học cũ đã duy trì mấy trục năm nay, các đồng chí giáoviên cao tuổi đã quá quen thuộc với PPDH truyền thống và chương trìnhSGK cũ, vì vậy khó thay đổi nhiều giáo viên dạy theo kiểu “đọc – chép”,nhiều tiết dạy chay Một số GV dạy theo kiểu luyện thi

- Còn một số ít giáo viên chưa hiểu tinh thần và ý tưởng của người biênsoạn SGK nên khi dạy học sinh yêu cầu quá tải

- Giáo viên hiểu tích hợp chưa sâu nên khi tích hợp còn lúng túng; hiểu tíchcực chưa nhuần nhuyễn nên khi vận dụng phương pháp tích cực còn sơcứng, gò ép

- Trong tổ chuyên môn sự nhận thức và thực hiện phương pháp mới chưađồng bộ Những người nhậy bén thì từng bước vận dụng phương pháp mớivào giờ dạy, những GV chậm đổi mới thì bảo thủ

- Có thể khái quát nguyên nhân cơ bản của việc chậm đổi mới PPDH như sau:

+ Niềm say mê nghề nghiệp có phần giảm sút ở một số GV

+ Một số GV tuổi cao ngại đổi mới, bảo thủ

+ Giáo viên trẻ nhạy bén với cái mới nhưng chưa có kinh nghiệm

+ Độ nhạy bén với phương pháp mới chưa nhanh

+ Phương pháp cũ đã quá ăn sâu trong nếp nghĩ và nếp làm việc của giáo viên

+ Học sinh quen với lối học thụ động

+ Học sinh trường THCS đang ở lứa tuổi năng động nhưng nhiều giáo viên không tổ chức được các hoạt động của các em theo phương pháp mới cho nên học sinh ít được hoạt động chưa phát huy được tính năng động sáng tạo

Trang 9

- Bồi dưỡng nhận thức giáo viên.

- Tập huấn đổi mới phương pháp

- Thảo luận chương trình SGK mới

- Thảo luận về đổi mới phương pháp

- Chỉ đạo thống nhất quy trình giáo án và chỉ đạo đổi mới soạn giáo án

và chỉ đạo tổ chức các hoạt động dạy học

- Thống nhất tiêu chuẩn đánh giá tiết dạy theo tinh thần đổi mới

- Chỉ đạo việc sử dụng đồ dùng dạy học

- Tổ chức dạy thực nghiệm

- Tổ chức dạy đại trà

- Đánh giá kết quả rút kinh nghiệm trong quá trình chỉ đạo

3 Các biện pháp tiến hành để giải quyết thực trạng.

3.1 bồi dưỡng nhận thức giáo viên

- Triển khai các văn bản, đường lối, chính sách cho giáo viên nhậnthức được: việc đổi mới phương pháp dạy học là cần thiết, là qui luật kháchquan của đổi mới mục tiêu giáo dục, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đổi mới phương pháp là thực hiện chủtrương đổi mới sự nghiệp giáo dục của Đảng và nhà nước Nó được đưa vàoluật giáo dục tại khoản 2 điều 24

- Tác động để giáo viên có ý thức và tự giác tìm hiểu, vận dụngphương pháp mới

3.2 Tổ chức tập huấn cho giáo viên

- 100 % GV tham gia các lớp tập huấn chương trình thay sách và đổi mớiPPDH từ cấp trường đến cấp thành phố, cấp tỉnh

3.3 Tổ chức nghiên cứu, thảo luận về chương trình và sgk

Chỉ đạo giáo viên nghiên cứu toàn bộ chương trình ngữ văn toàn cấp

và chú ý nghiên cứu thảo luận chương trình SGK ngữ văn 7 Giáo viên thảo

Trang 10

luận nắm chắc đặc điểm chương trình SGK ngữ văn 7 để thấy được nhữngđiểm mới và khó, cụ thể như sau:

Vị trí: Chương trình ngữ văn toàn cấp có 2 vòng: SGK cũng nhưchương trình ngữ văn 7 là kết thúc vòng 2 Do vậy vấn đề chính của chươngtrình ngữ văn cấp THCS ít nhiều đã được đề cập ở lớp 6 và lớp 7 với mức độ

cơ bản, cốt yếu Cần chú ý điều này để khi dạy ngữ văn 7 cố gắng khắc họakiến thức thật chắc để tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển ở vòng 2

Do vị trí kết thúc vòng 1, do quan điểm tích hợp, chương trình SGKngữ văn 7 có những điểm mới và khó sau

Phân môn tập làm văn: Có nhiều điểm mới và khó nhất trong chươngtrình Nhiều phần chương trình SGK cũ chưa có Văn bản biểu cảm và vănbản nghị luận được đưa vào chương trình

Văn bản biểu cảm rộng hơn khái niệm chữ tình, trữ tình gắn với kháiniệm thể loại (thể loại thơ) còn khái niệm biểu cảm rộng hơn nhiều, có ở mọithể loại đặc biệt sử dụng nhiều trong đời sống Vì vậy đưa văn bản biểu cảmvào chương trình mới hướng học sinh ra đời sống nhằm tạo điều kiện cho các

em sử dụng biểu cảm không chỉ trong học tập mà trong cuộc sống nói chung

Văn nghị luận: Đưa văn nghị luận vào chương trình lớp 7 là sớm hơn

so với chương trình cũ Mục đích tạo năng lực tư duy lô gic cho học sinh (vìcác tác giả viết sách cho rằng người Việt yếu về tư duy lô gic)

Làm văn nghị luận hiện nay cũng như làm văn nói chung, coi trọngtính thiết thực, bằng mọi cách tạo năng lực bộc lộ suy nghĩ, tư tưởng của họcsinh Do vậy không nặng nề về vấn đề phân biệt các kiểu bài, dạng bài như:Phân tích, chứng minh, giải thích, bình giảng … Cần thấy các thể loại, cáckiểu văn bản không biệt lập tuyệt đối mà có quan hệ gắn bó với nhau

Hướng tập làm văn nghị luận hiện nay là yêu cầu học sinh giải thích,chứng minh cho tư tưởng của các em

Trang 11

Phân môn văn:

Do quan điểm tích hợp nên phân môn văn đưa vào chương trình có nhiều kiểu dạng khác nhau của văn bản chữ tình, cả văn học dân gian và vănchương Bác Học, văn học trung đại và hiện đại, cả văn xuôi và thơ ca trong nước, nước ngoài và không ít tác phẩm nghị luận hiện đại

Phân môn tiếng việt:

Vẫn cung cấp các cụm bài về từ, về câu, về tu từ, những đơn vị từHán- Việt để giúp các em hiểu về từ Hán – Việt và tạo cơ hội tích sang phânmôn văn

Cần xác định trong việc thực hiện chương trình ngữ văn mới ở lớp 7.Đặc biệt là ở phần văn và tập làm văn có nhiều vấn đề khó hơn cả Nhưnglại có sự thuận lợi là bố trí phù hợp giữa thể loại văn học và kiểu văn bản,

có sự hỗ trợ của nhiều phần ở phân môn tiếng việt trong việc đọc và thưởngthức các văn bản biểu cảm và nghị luận trong việc tìm hiểu các văn bản gốcHán

Tóm lại chương trình ngữ văn 7 có sự nâng cao chất lượng các vănbản (giáo viên phải nhận thức được ý đồ đó)

Hệ thống văn bản, tác phẩm không sắp xếp theo tiến trình lịch sử vảnhọc mà theo yêu cầu tích hợp Đây là phương hướng rất cơ bản của cải cáchmôn ngữ văn cấp THCS

Một số bộ phạn sách giáo khoa ngữ vản 7 cũ không có

Hệ thống câu hỏi hướng dẫn đọc- hiểu văn bản thể hiện ý đô cải tiến, ítnhiều thể hiện yêu câu tích hợp, 3 phân môn được bố trí trong một bài họcmang tính đồng bộ, coi trọng tích hợp giữa 3 phân môn

Chương trình SGK ngữ văn 7 tiếp tục chủ trương bồ dưỡng lý thuyết

và rèn kĩ năng ứng dụng lý thuyết và thực hành

3.4 Chỉ đạo giáo viên học tập va thảo luận về đổi mới phương pháp

Trang 12

Giáo viên cần nắm được các yêu câu sau về đổi mới phương pháp dạyngữ Văn nói chung và ngữ văn 7 nói riêng:

1 Đổi mới lần này: vẫn tiếp tục phát huy những điểm tích cực

đã làm, không phủ định sạch trơn các phương pháp truyền thống mà kế thừanhững điểm tích cực của phương pháp truyền thống đồng thời vận dụng cácphương pháp mới

2 Linh hồn đổi mới PPDH hôm nay là: Bằng mọi con đườngnhằm phát huy tối đa tính năng động sáng tạo của học sinh, tích cực hóa hoạtđộng của học sinh để học sinh tự nhận thức, tự chiếm lấy tri thức

3 Dạy học theo quan điểm tích hợp:

a Đây là quan điểm kết hợp các tri thức thuộc một số môn học cónhững nét tương đồng vào một lĩnh vực chung

Tích hợp ngang (đồng qui) giữa văn, tiếng việt và tập làm văn

Tích hợp dọc (đồng tâm) trong nội bộ một phân môn giữa kiến thứcđang học với kiến thức đã học và sẽ học

Có thể tích hợp kiến thức môn ngữ văn với các môn học khác

b Giáo viên giỏi bấy nay đã tích có điều SGK cũ lưu hành không tạo

cơ chế cho mọi người đều tích Cái mới ở lần này SGK tạo một cơ chế chomọi người phải tích

c Hướng thực hiện tích hợp

- Phải hiểu bản chất của tích hợp, koong gò bó (khi dạy văn, giúp họcsinh hiểu từ ngữ tức là đã tích sang tiếng việt, giúp học sinh nhận ra cách kếtcâu, bố cục, cái hay, cái đặc sắc của văn bản tức là đã tích sang tập làm văn

- Mức độ tích, cách tích: Tùy thuộc vào từng bài, tùy thuộc vào tínhchất của văn bản, đối tượng, phương tiện và tùy thuộc vào chính năng lựccủa giáo viên Vì vậy khi dạy giáo viên cần quan tâm nhất là: Phát hiệnnhững đơn vị kiến thức nào được tích hợp Trong quá trình thực hiện bài

Ngày đăng: 11/06/2018, 17:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w