Chương trình tập làm văn ở bậc tiểu học chính là cái gốc của chương trình tập làm văn ở THCS Chương trình tập làm văn ở bậc tiểu học chính là cái gốc của chương trình tập làm văn ở THCS Chương trình tập làm văn ở bậc tiểu học chính là cái gốc của chương trình tập làm văn ở THCS Chương trình tập làm văn ở bậc tiểu học chính là cái gốc của chương trình tập làm văn ở THCS Chương trình tập làm văn ở bậc tiểu học chính là cái gốc của chương trình tập làm văn ở THCS
Trang 1I ĐẶT VẤN ĐỀ
Như chúng ta đều biết: Chương trình tập làm văn ở bậc tiểu học chính
là cái gốc của chương trình tập làm văn ở THCS nhưng lên tới bậc THCS thìyêu cầu đặt ra đối với học sinh là cao hơn, các thể văn mở rộng hơn, mới hơnnên việc rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn cho học sinh THCS là vấn đề hếtsức quan trọng và cần thiết trong việc tạo lập văn bản Từ đó, giúp học sinhhình thành về đạo đức và nhân cách cũng nhu trình độ học vấn cho các em.Ngay khi đang học bậc THCS và trưởng thành sau này Qua việc rèn luyện
kỹ năng viết đoạn văn, ta rèn cho học sinh ý thức tự tu dưỡng, biết yêuthương, quý trọng gia đình, bạn bè, có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội,biết hướng tới những tình cảm cao đẹp như lòng nhân ái, tinh thần tôn trọng
lẽ phải, sự công bằng, lòng căm ghét cái xấu, cái ác và cũng tư đó rèn chocác em tính tự lập, có tư duy sáng tạo Bước đầu có năng lực cảm thủ các giátrị chân, thiện, mỹ trong nghệ thuật, trước hết là trong văn học có năng lựcthực hành và năng lực sử dụng tiếng việt như một công cụ để tư duy và giaotiếp
Để rèn luyện cho học sinh kỹ năng viết đoạn văn, giáo viên phảihướng dẫn cho các em cách thức viết đoạn văn, cách sử dụng vốn từ ngữ,diễn đạt câu trong đoạn văn, bố cục đoạn văn trong một văn bản, cách sửdụng các phương tiện liên kết trong đoạn văn Tuỳ theo từng phương thứcdiễn đạt khác nhau mà viết theo hướng quy nạp, diễn dịch, song hành haymóc xích
Để viết được đoạn văn phải có nhiều câu kết hợp tạo thành, cũng nhưvậy để tạo thành văn bản yêu cầu phải có đoạn văn liên kết với nhau màthành (Khi đã dùng các phương tiện liên kết trong văn bản)
Tuy vậy, trong giai đoạn hiện nay, có rất nhiều những phương tiệnhiện đại, thông tin đại chúng cập nhật liên tục, khiến cho học sinh lao vàocon đường say mê nghiện sách vở bị lãng quên, ham bạo lực điện tử, sách
Trang 2kiếm hiệp Vì vậy, các em không còn ham đọc sách, ham nghiên cứu Chonên, việc viết đoạn văn lại là vấn đề càng đáng quan tâm khi chúng ta rènluyện cho các em Hơn thế nữa, tập làm văn là môn học thực hành tổng hợp
ở trình độ cao của môn Văn - Tiếng Việt, môn Tập làm văn được xem như vịtrí cốt lõi trong mỗi tương quan chặt chẽ giữa Văn và Tiếng Việt Như vậy,chúng ta dạy Tập làm văn cho học sinh là dạy cho các em nắm vững văn bản,biết xây dựng cho các đoạn văn thông thường Rèn luyện cho học sinh là rènluyện các em các thao tác, những cách thức, những bước đi trong quá trìnhtạo lập văn bản Vì thế, cách xây dựng đoạn văn trong phân môn Tập làmvăn được coi như vị trí hàng đầu Việc rèn kỹ năng viết đoạn cho các em họcsinh THCS theo trục tăng dần qua các thể loại văn học: Tự sự, miêu tả, biểucảm, nghị luận, thuyết minh, điều hành Từ đó giúp các em biết vận dụng cácthể loại văn bản để phục vụ cho học tập và cho đời sống Qua việc tiếp thunhững kiến thức của môn Văn - Tiếng Việt, học sinh vận dụng, sáng tạo,tổng hợp để có thể nói hoặc viết theo những yêu cầu, những đề tài khác nhau,những kiểu văn bản khác nhau mà cuộc sống đặt ra cho các em
Thông qua môn Tập làm văn, qua bài làm văn của mình các em bộc lộnhững tri thức, vốn sống, tư tưởng, tình cảm của cá nhân Vì thế người giáoviên phải biết nắm lấy những ưu thế này để phát huy những khả năng của các
em, đồng thời qua việc kỹ năng viết đoạn văn giáo viên có dịp uốn nắn, điềuchỉnh những sai lệch trong vốn sống, nhận thức, tư tưởng, tình cảm - đặc biệtqua các thể loại văn học mà các em sẽ học trong chương trình
Trên đây là những lý do, vị trí, vai trò của việc xây dựng đoạn văn chohọc sinh THCS Từ những mặt tích cực, hạn chế trên tôi chọn đề tài này đểnghiên cứu và xây dựng các bước để rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn đượctốthơn
Trang 3II Giải quyết vấn đề
1 Cơ sở lý luận của vấn đề
Bước đầu giạy cho học sinh những khái niệm về từng thể loại văn, làmquen với những đề văn mẫu, những bài văn mẫu và tìm hiểu cụ thể từng bàiqua các tiết học: lý thuyết về đoạn văn Qua đó, giúp học sinh học, tìm hiểucách xây dựng đoạn văn, bố cục đoạn văn, các câu chốt (Câu chủ đề) trongđoạn văn viết theo các cách diễn dịch, quy nạp, song hành, móc xích Từ
đó, cho học sinh tập viết đoạn văn, có vận dụng lý thuyết về thể loại văn ấy.Tuy nhiên, hương pháp lý thuyết không quá năng
Như chúng ta đã biết, bài viết được cấu thành bởi các đoạn văn theonhững phương thức và bằng những phương tiện khác nhau Dựng đoạn đượctriển khai từ ý trong dàn bài Có thể đoạn văn là một ý hoặc nhiều ý và cũng
có thể một ý có nhiều đoạn Trong đoạn văn thường có bố cục 3 phần: mởđoạn, phát triển đoạn và kết đoạn Ở góc độ đặc điểm cấu trúc thì các đoạnvăn có thể là đoạn diễn dịch, quy nạp, móc xích, song hành
Để rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn, đòi hỏi học sinh phải suy nghĩyêu cầu diễn đạt thành lời, thành đoạn, phải sử dụng các phương tiện ngônngữ sao cho phù hợp với ý của đoạn để hiệu quả biểu đạt cao hơn, đoạn văn
có sức cuốn hút hơn với người đọc Kỹ năng dựng đoạn văn gắn với kỹ năngluyện nói trên lớp Có triển khai ý thành đoạn mới tiến hành được Đây lànhững thao tác, những kỹ năng có khi thực hiện và rèn luyện đồng thời cùngmột lúc
Qua đó ta có thể hiểu được: Đoạn văn là đơn vị trực tiếp tạo nên vănbản, bắt đầu từ chỗ viết hoa lùi vào đầu dòng, kết thúc bằng dấu chấm xuốngdòng và thường biểu đạt một ý tương đối hoàn chỉnh Đoạn văn thường donhiều câu tạo thành Đoạn văn thường từ ngữ chủ đề Từ ngữ chủ đề là các từngữ làm đề mục hoặc các từ ngữ được lặp lại nhiều lần (Thường là chỉ từ, đại
Trang 4từ và các từ đồng nghĩa nhằm duy trì đối tượng người biểu đạt Câu chủ đềmang nội dung khái quát, lời lẽ ngắn gọn, thường đủ hai thành phần chính vàđứng ở đầu hoặc cuối đoạn văn Các câu trong đoạn văn có nhiệm vụ triểnkhai và làm rõ chủ đề của đoạn bằng các phép diễn dịch, quy nạp, songhành
Khi chuyển từ đoạn này sang đoạn khác, cần sử dụng các phương tiệnliên kết để thể hiện quan hệ ý nghĩa của chúng Có nhiều phương tiện liên kếttrong đoạn văn: Dùng từ ngữ có tác dụng liên kết, quan hệ từ, đại từ, chỉ từ,các cụm từ thể hiện ý liệt kê, so sánh, đối lập, tổng kết khái quát Và dùngcâu nối trong đoạn văn
Như vậy, các phương tiện liên kết vốn mang ý nghĩa nhưng đồng thời
nó cũng là hình thức làm rõ tính liên kết của nội dung đoạn văn Mặt khác,lại có những phương tiện liên kết đồng nghĩa, gần nghĩa với nhau nên cần lựachọn các phương tiện liên kết cho phù hợp với ý đồ chủ quan của người viết,với sự việc được phản ánh và tình huống giao tiếp cụ thể
Vì vậy, chúng ta cần tận dụng những hiểu biết và khả năng trên củahọc sinh để phát huy tính tích cực, tính chủ động và sáng tạo của học sinhtrong việc rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn được tốt và làm nền tảng chochương trình THPT Mặc dù vậy, học sinh ở các trường THCS, phần lớn cókhuynh hướng không thích học văn mà đặc biệt là phân môn Tập làm văn
Và vì thế nó đã ảnh hưởng rất nhiều đến việc tiếp thu và việc sáng tạo các kỹnăng viết đoạn văn của các em
2 Thực trạng của vấn đề
Như chúng ta đã biết vấn đề nghiên cứu, rèn luyện kỹ năng viết đoạnvăn cho học sinh đã đặt ra từ lâu nhưng chưa được quan tâm nhiều do phânmôn tập làm văn chưa được xem là phân môn chính và có nhiều quan niệmkhác nhau
Trang 5Đây là bộ môn khó đặc biệt yêu cầu kỹ năng càng khó hơn, đòi hỏichúng ta cần dày công, kiên trì dạy các em Qua đó, hình thành thói quen, kỹnăng phân tích đề, lập dàn ý, dùng từ, đặt câu, dựng đoạn, trình bày, diễn đạt.Trong đó, cách viết đoạn, dừng đoạn càng quan trọng trong bước đầu lập vănbản Cũng từ dựng đoạn, nhiệm vụ của giáo viên ngữ văn là phát huy nănglực tư duy, năng lực sử dụng ngôn ngữ, giúp các em biết tích lũy vốn kiếnthức, biết huy động vốn kiến thức, biết đặt ra các vấn đề và giải quyết cácvấn đề ấy Qua đó, biết trình bày kết quả tư duy của mình một cách rõ ràngchặt chẽ, có sức thuyết phục trước từng vấn đề, từng kiểu văn bản, khi viếtđoạn và trong giao tiếp Là phân môn có tính thực hành cao, nên giáo viêncần cho học sinh đọc nhiều đoạn văn mẫu, viết nhiều đoạn văn để việc tạolập văn bản được dễ dàng hơn Đó là những mục đích, nhiệm vụ nghiên cứucủa giáo viên Ngữ văn trong bước rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn cho họcsinh THCS.
Cũng có bộ môn Ngữ văn, nhưng theo khảo sát, phần lớn các em họcphân môn Tập làm văn còn yếu mà đặc biẹt là cách dựng đoạn văn khiến chogiáo viên và học sinh còn rất lúng túng Thường thì thời lượng quá ngắn màkiến thức nhiều, nên học sinh không thể tìm hiểu kỹ các đoạn văn mẫu Phầnlớn học sinh hiểu sơ sài về mặt Lý thuyết, vì thế xác định đề bài, chủ đề và
bố cục đoạn văn càng bối rồi: việc rèn kỹ năng viết được tiến hành trong cáctiết phân tích đề, dàn ý và dựng đoạn, liên kết đoạn từ thấp đến cao, từ mộttiêu đề, một ý, một đoạn văn đến nhiều đoạn, cuối cùng là một đoạn văn bảnhoàn chỉnh Khi viết còn chưa hiễu kỹ đề bài nên hay bị sai lệch Cho nên, cónhiều trường hợp viết thừa hoặc thiếu chưa xác định cụ thể đề tài, chủ để củađoạn văn Quá trình lập luận, trình bày chưa chặt chẽ, lôgic và sinh động.Chưa biết vận dụng nhiều phương pháp liên kết trong một đoạn văn hoặcnhiều đoạn văn Vì thế các đoạn văn thường hay đơn thuần, nhàm chán
Trang 6Phần lớn học sinh chưa biết sử dụng ngôn ngữ cho phù hợp với từngkiểu văn bản Và đặc biệt là phong cách văn bản.
Bài làm của học sinh là kết quả của quá trình tiếp thu lý thuyết
và rèn luyện các kỹ năng viết văn của học sinh và là sự vận dụng tổng hợpcác năng lực tư duy, trình độ, vốn sống, vốn ngôn ngữ và cả những cảm xúc
và rung động thẩm mĩ Cho nên, việc rèn luyện các kỹ năng cho học sinh là
cả quá trình lâu dài, việc tiến bộ của các em cũng chậm (không như các mônkhoa học tự nhiện) Vì vậy, giáo viên không nên nóng vội mà phải rèn luyệncho học sinh tính kiên trì và giáo viên cũng cần kiên trì khi dạy cho học sinh.Những tình trạng viết đoạn văn ở THCS như trên là do nhiều nguyên nhân
Điều ta cần nói trước là nguyên nhân khách quan: nó phụ thuộc vào tưtưởng lập nghiệp của học sinh sau này như thi vào các trường Cao đẳng, Đạihọc Ngữ văn ít hơn các môn khác Và điều quan trọng nhất là cơ chế thịtrường thực dụng, con người khô khan, kênh thông tin văn hoá nghệ thuật đadạng, nhiều loại hình cuốn hút học sinh Hơn thế nữa phụ huynh lại địnhhướng cho con em mình theo khuynh hướng trên
Và ngoài ra nó còn phụ thuộc vào nguyên nhân chủ quan là môn Tậplàm văn khó học, trừu tượng, học sinh không thích học, khó trở thành giỏivăn Hơn thế nữa nội dung, chương trình trong SGK còn quá tải, trình độgiáo viên chưa đáp ứng, chất liệu của môn Ngữ văn bị giảm sút vì đưa ranhiều thể loại văn bản Nhật dụng, văn bản Chỉnh luận, văn bản Nghị luậnvào, coi nhẹ giảng bình, giáo viên giao nhiều bài tập, khó được điểm cao
Trên đây là tình trạng viết văn, dựng đoạn văn của học sinh THCS và
nó cũng có nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan tác động Cho nênchúng ta càng quan tâm nhiều hơn nữa trong việc dạy một tiết Tập làm văn,đặc biệt là dạy một tiết dựng đoạn văn trong văn bản
3 Các biện pháp tiền hành để giải quyết vấn đề
Trang 7a Phương pháp nghiên cứu tìm hiểu
Học sinh là chủ thể trong quá trình dạy học để phát huy tính tích cực,chủ động, sáng tạo của các em trong quá trình tiếp nhận Trong quá trìnhnghiên cứu, tìm hiểu cho học sinh tự thân vận động là chính, giáo viên imlặng đến mức tối đa để khuyến khích học sinh sáng tạo trong giờ Tập làmvăn Vậy, trong tiết học Tập làm văn mà đặc biệt là tiết rèn luyện viết đoạnvăn, hướng dẫn các kỹ năng nghiên cứu, tìm hiểu để vận dụng các kiến thức
đã học để nghiên cứu, tìm hiểu để vận dụng các kiến thức đã học để dụngđoạn theo đặc điểm thể loại để tạo lập văn bản
b Phương pháp kiểm tra, khảo sát
Với phương pháp này, đòi hỏi học sinh phải thực hành liên tục, chắcchắn các thao tác từ lý thuyết về thể loại sau đó đến nghiên cứu, tìm hiểu Từ
đó, ta mới đi vào kiểm tra, khảo sát để thấy được sự vận động tổng hợp, đểsáng tạo văn bản qua nhiều bước trong quá trình rèn luyện các kỹ năng Đó làđiều kiện để đánh giá học sinh thông qua bài kiểm tra, bài viết ở lớp (hoặc ởnhà) đòi hỏi phải đánh giá đúng năng lực của học sinh và đòi hỏi một sựnhạy cảm của thầy trước yêu cầu thực hành của học sinh
c Phương pháp cố vấn, chuyên gia
Đây là những phương pháp khó đối với học sinh Học sinh thườngkhông chú ý đến những cái khó khăn này và cũng không cần hỏi ai nhữngvấn đề cần tháo gỡ, cần đến chuyên gia cố vấn
Mặc dù, mức độ lý thuyết mang tính trừu tượng, việc kiểm tra, đánhgiá, cố vấn, chuyên gia, giáo viên giúp học sinh vận dụng kiến thức vào viếtvăn rõ ràng hơn
Như vậy, việc rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn nói chung và viết đoạnvăn biểu cảm nói riêng giáo viên phải định hướng cho các em biết đối chiếugiữa thực hành và lý thuyết, đối chiếu kết quả thực hành của mình với yêu
Trang 8cầu chung Nhưng phương pháp cố vấn, chuyên gia phải được liên hệ mộtcách chặt chẽ giữa giáo viên với học sinh.
Cũng như các bài văn khác, đoạn văn trong văn biểu cảm cũng cónhững yêu cầu cụ thể nhằm giúp học sinh nắm một cách khái quát về mặthình thức cũng như nội dung đoạn văn biểu cảm Từ đó, các em mới có thểviết đoạn (xây dựng đoạn) đúng với yêu cầu Đoạn văn biểu cảm với việcnâng cao năng lực cảm thụ văn học của học sinh là những yêu cầu, nội dungliên quan đến mật thiết với nhau
Về mặt hình thức của đoạn văn:
Yêu cầu trước hết là học sinh phải nắm được dấu hiệu, quy ước khiviết đoạn văn biểu cảm
Đoạn văn là một phần của văn bản được tính từ chỗ viết hoa lùi đầudòng đến chỗ chấm xuống hàng
Trước khi viết đoạn văn biểu cảm, giáo viên hướng dẫn cho các emtìm hiểu đề, xác định ý và từ việc xác định được ý chính của bài mà đi đếnxây dựng câu chủ đề Việc viết câu chủ đề đúng với ý chính đã tìm được ýchính của bài mà đi đến xây dựng câu chủ đề Việc viết câu chủ đề đúng với
ý chính đã tìm được ở trên sẽ giúp học sinh định hướng cách lựa chọn nộidung trình bày theo cấu trúc diễn dịch, quy nạp hay các kiểu cấu trúc khác.Đồng thời cũng định hướng cho các em lựa chọn các phép liên kết, cáchdùng từ ngữ cho phù hợp với cảm xúc trong bài viết của mình
Câu chủ đề có thể đứng ở đầu đoạn (theo cấu trúc diễn dịch), có thểđứng ở cuối đoạn (theo cấu trúc quy nạp) Câu chủ đề phải mang nội dungkhái quát, lời lẽ ngắn gọn, hàm xúc và thường đủ hai thành phần chính củacâu: chủ ngữ và vị ngữ Các câu còn lại trong đoạn văn có nhiệm vụ diễngiải, chứng minh, làm rõ hoặc kết luận những cảm xúc đã thể hiện trong câuchủ đề
Trang 9Các câu trong đoạn văn biểu cảm phải được liên kết với nhau một cáchchặt chẽ bằng các phép liên kết, phương tiện liên kết, từ ngữ - câu liên kết,hoặc các mỗi quan hệ phụ thuộc giữa các đoạn văn mở bài, thân bài, kết bài.
Đoạn văn phải có sự lựa chọn, sử dụng ngôn ngữ trong sáng, chuẩnmực, giàu giá trị biểu cảm để gọi ra được cảm xúc, tình cảm của người viết,
có sức thuyết phục, lay động người đọc, người nghe Từ ngữ ấy phải thể hiệnđược thái độ rõ ràng của người viết: đó là tình cảm buồn, vui, yêu ghét, haythích thú Có thể biểu cảm trực tiếp hoặc biểu cảm gián tiếp hoặc kết hợp cảhai lối biểu cảm
Về mặt nội dung:
"
Đoạn văn biểu cảm thể hiện được các năng lực: Tri giác ngôn ngữ nghệ thuật, năng lực tưởng tượng, năng lực phân tích, chứng minh, năng lực cảm xúc thẩm mĩ "
(Trích: Giảng dạy Tập làm văn ở Trường THCS - TS Lê Xuân Soan - Nhàxuất bản Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh)
Trên đây là những yêu cầu cơ bản nhất để có thể giáo viên vận dụngtrong nhà trường vào nghiên cứu soạn giảng Tập làm văn, đặc biệt là vậndụng vào các tiết thực hành Tập làm văn trong trường THCS
Rèn luyện các kỹ năng làm văn nói chung và viết đoạn văn biểu cảmnói riêng không chỉ xuất phát từ mục đích, yêu cầu của môn học (mang tínhthực hành tổng hợp cao) trong nhà trường THCS mà còn là trách nhiệm,nhiệm vụ của người thầy giáo trong chương trình thay sách giáo khoa hiệnnay Điều quan trọng nhất khi viết đoạn văn biểu cảm là học sinh nắm vữngcác thao tác, cách thức trình bày đoạn văn biểu cảm để từ các kỹ năng Tậplàm văn phát triển thành kỹ xảo, thói quen làm văn
Để thực hành những điều nói trên đây, chúng ta hãy thử kiểm chứngbằng một ví dụ cụ thể sau:
Trang 10Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về bài ca dao" Đêm qua ra đứng bờ ao"
"Đêm qua ra đứng bờ ao, Buồn trông cá cá lăn, trông soa soa mờ.
Buồn trông con nhện chăng tơ, Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai?
Buồn trông chênh chếch sao mai, Sao ơi, sao hỡi, nhớ ai sao mờ?
Đêm đêm tưởng giải ngân hà, Chuôi sao tinh đầu đã ba năm tròn.
Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn, Tào khê nước chảy hãy còn trơ trơ"
Trên đây là một bài văn biểu cảm về một bài ca dao Vì vậy, để vănbiểu cảm bao giờ cũng nêu ra được đối tượng biểu cảm và định hướng tìnhcảm cho bài viết Xác định rõ các bước làm văn biểu cả: Tìm hiểu đề, tìm ý,viết các đoạn văn mở bài, thân bài, kết bài
Để tiến hành rèn luyện các kỹ năng Tập làm văn, trước hết học sinhphải xác định ý cho đoạn văn
* Xác định ý cho bài văn biểu cảm
Giáo viên định hướng cho học sinh xác định các vấn đề sau:
+ Đối tượng biểu cảm trong đề bài trên?
+ Mục đích biểu cảm?
+ Cảm xúc, tình cảm trong các trường hợp
+ Tình cảm, cảm xuác phải chân thật, trong sáng có sức thuyết phục.+ Lời văn, hơi văn, mạch văn phải phù hợp, gợi cảm
Trước hết chúng ta hình dung cụ thể đối tượng biểu cảm ở đây là: Bài
ca dao Bài ca dao ấy nói về lòng thương nhớ và tình cảm thuỷ chung củanhân vật trữ tình khi xa quê hương
Trang 11Hình thành được cảm xúc tình cảm của mình sau khi đọc xong bài cadao.
Lời văn, giọng văn phải bộc lộ cảm xúc, tình cảm chân thành khi đọchiểu bài dao: Bài ca dao thấm thía bao nỗi buồn thương tha thiết, mong chờ,nhớ trông
Quá trình tìm hiểu đề là quá trình xác định ý cho bài văn biểu cảm Ýcủa bài văn nằm ngay trong từ ngữ, hình ảnh: Đêm qua, đứng bờ ao, trông,buồn trông, buồn trông (mức độ tăng dần), rồi: sao ơi, sao hỡi, tưởng, nhớ banăm, Đà mòn, dạ chẳng mòn; trong kết cấu của bài ca dao Vấn đề là giáoviên tổ chức hướng dẫn như thế nào để học sinh phát hiện ra các ý chính củabài mà đề yêu cầu Có như vậy việc tìm ý, triển khai ý mới trở thành kỹ năng
ở các em Tránh tình trạng khi viết đoạn lại không trúng với ý mình đã xáclập, viết lan man, từ ngữ nghèo nàn không gọi ra được cảm xúc, tình cảm củangười viết
Chẳng hạn theo yêu cầu của đề văn trên dây, giáo viên tổ chức cho các
em được các ý chính:
+ Nỗi cô đơn, buồn vắng, chờ mong
+ Cảnh vật với nỗi nhớ cố hương
+ Sự gắn bó thuỷ chung của người lữ khách đối với gia đình và quêhương
+ Nỗi lòng của nhân vật trữ tình trong bài ca dao và cảm xúc, tình cảmcủa tâm hồn con người
Như vậy, chúng ta đã xác định các ý trong bài văn biểu cảm và mỗi ýtrên đây có thể được xây dựng bằng một hoặc hai đoạn văn
* Xác định câu chủ đề
Từ những ý đã được xác định trên đây, giáo viên hướng dẫn cho họcsinh tập viết các câu chủ đề Đây là khâu quan trọng trong việc tạo lập đoạn
Trang 12văn Vì có viết được câu chủ đề thì mới có thể triển khai ý của đoạn văn vàlựa chọn nội dung trình bày của đoạn văn.
Trước hết, chúng ta xác định câu chủ đề mang tính khái quát cho toàn
bộ bài văn:
Bài ca dao "Đêm qua ra đứng bờ ao" diễn tả bao nỗi buồn thương nhớ,
cô đơn và lòng chung thuỷ của người lữ khách đối với quê nhà
Ta xác định câu chủ đề cho từng đoạn văn như sau:
Câu chủ đề 1: Tâm trạng của người lữ khách luôn lẻ loi, trống vắng,
chờ trông cứ vương vẫn mãi không thôi
Câu chủ đề 2: Nỗi nhớ quê nhà của nhân vật trữ tình diễn ra triền
miên
Câu chủ đề 3: Lời thơ thấm thía bao nỗi buồn thương, nhớ - tấm lòng
thuỷ chung đối với quê nhà
Câu chủ đề 4: Tấm lòng thuỷ chung toả sáng trong bài ca và tâm hồn
con người
Từ đó, giáo viên định hướng cho các em viết các đoạn văn bằng việclựa chọn các phép liên kết, phương tiện liên kết
* Liên kết đoạn văn và cách dùng từ, ngữ khi xây dựng đoạn văn.
Cũng như các kiểu văn bản khác, bài văn biểu cảm là một thể thốngnhất về hình thức, hoàn chỉnh về nội dung Trong đó, đoạn văn có một vai tròhết sức quan trọng trong việc cấu thành một văn bản biểu cảm hoàn chỉnh Vìvậy, các câu, các đoạn trong văn bản phải liên kết với nhau một cách chặtchẽ
Rèn kỹ năng viết đoạn văn và việc sử dụng các cách liên kết là mộtthao tác không thể thiếu được Các đoạn văn mở bài, thân bài, kết bài có thểđược viết theo các cách như sau:
*Cách viết đoạn văn biểu cảm
Trang 13Trước hết giáo viên hướng dẫn học sinh nắm một cách khái quát yêucầu của các đoạn văn mở bài, đoạn văn thân bài, đoạn văn kết bài.
Đoạn văn mở bài: Khái quát được cảm xúc, tình cảm của người viết
khi đọc bài ca dao " Đêm qua ra đứng bờ ao", nêu lên những ấn tượng sâusắc nhất của mình
Đoạn thân bài: Triển khai mạch cảm xúc, tình cảm của người viết
bằng việc sử dụng những từ ngữ gợi cảm xúc, tình cảm Lần lựơt nêu lênnhững suy nghĩ riêng của mình về những khía cạnh của tác phẩm Không lanman, dàn đều mà gây nên xoáy sâu vào các trọng tâm, trọng điểm Phải đi
"a" qua "b, c, d"
Đoạn kết bài: Nêu lên những cảm nghĩ chung, có thể đánh giá và liên
hệ tránh dài dòng, trùng lặp, đơn điệu
Thao tác văn bản: Phát biểu cảm nghĩ không thể nói chung chung màrất cụ thể Phải chỉ ra được yêu tích, thú vị ở chỗ nào, tại sao lại yêu thích,thú vị? Nghĩa là phải phân tích, trích dẫn
Có lúc phải khen chê Khen, chê chính là viết lời bình Giáo viên quanhững bài giảng cụ thể, qua việc hướng dẫn đọc sách sẽ giúp các em làmquen dần cách bình văn, biến thành kỹ năng, kỹ xảo Lúc nào viết được lờibình hay, sâu sắc thì bài cảm nghĩ mới thực sự mang vẻ đẹp trí tuệ
Có úc phải biết liên tưởng so sánh Từ hiện tượng này mà nghĩ, mànhớ đến hiện tượng khác tức là liên tưởng
Viết lời bình, so sánh, liên tưởng là thao tác cơ bản trong văn biểucảm
* Cách viết đoạn mở bải trong văn biểu cảm
Trước hết nó phải nói rừng mở bài hay nhất, biểu cảm hay nhất là đạthai yêu cầu sau:
Tính khái quát