Trong đó những chỉ tiêu về tổ thành loài, phân bố số cây theo cấp chiều cao, phân bố số cây theo cấp đường kính, lớp cây tái sinh và cây triển vọng là những chỉ tiêu có ý nghĩa quan trọn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC
THUỘC HUYỆN NAM TRÀ MY, TỈNH QUẢNG NAM
Họ và tên sinh viên: ĐOÀN NGỌC HOÀI Ngành: LÂM NGHIỆP
Niên khóa: 2007 – 2011
Tháng 06/2011
Trang 2Bước đầu nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc rừng tự nhiên trạng thái IIIA 2 tại tiểu khu 834 thuộc huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam
Tác giả
ĐOÀN NGỌC HOÀI
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu
Cấp bằng Kỹ sư ngành LÂM NGHIỆP
Giáo viên hướng dẫn:
ThS Nguyễn Minh Cảnh
Tháng 06 năm 2011
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Suốt 4 năm nỗ lực học tập và rèn luyện Hôm nay, khóa luận tốt nghiệp của tôi được thực hiện và hoàn thành tốt là nhờ sự quan tâm lo lắng từ phía gia đình, sự tận tình chỉ dạy của tất cả các Thầy Cô giáo và sự giúp đỡ của nhiều cá nhân, tập thể khác … Nhân dịp này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:
Cha - Mẹ đã sinh thành và nuôi dưỡng con nên người Sự yêu thương lo lắng, chăm sóc của cha mẹ chính là điểm tựa vững chắc để con vươn lên và hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình
Kính gửi lời cảm ơn chân thành nhất từ đáy lòng mình đến người thầy kính yêu, thầy Ths.Nguyễn Minh Cảnh, đã hết lòng dạy dỗ và giúp đỡ tận tình tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện khóa luận tốt nghiệp này
Bộ môn Quản lý tài nguyên rừng đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được thực hiện và hoàn thành khóa luận
Quý Thầy Cô giáo Khoa Lâm nghiệp cùng toàn thể quý Thầy Cô giáo Trường Đại Học Nông Lâm Tp.Hồ Chí Minh Những người đã giảng dạy, quan tâm, giúp đỡ tôi trong suốt 4 năm học và trong thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Xin cảm ơn đến Ban Lãnh đạo cùng toàn thể cán bộ, nhân viên Hạt Kiểm lâm huyện Nam Trà My đã giúp đỡ tôi trong việc thu thập số liệu để hoàn thành khóa luận
Cảm ơn đến tập thể lớp DH07QR, cảm ơn tất cả các bạn đã luôn thăm hỏi, động viên và chia sẻ với tôi trong suốt thời gian học tập
Do thời gian thực hiện khóa luận có hạn và trình độ chuyên môn còn hạn chế nên khó tránh khỏi những thiếu sót Rất mong được sự nhận xét, đóng góp ý kiến của quý Thầy Cô giáo và các bạn bè để khóa luận được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Tp HCM, tháng 06 năm 2011 Sinh viên thực hiện
Trang 4Giáo viên hướng dẫn : ThS Nguyễn Minh Cảnh
Phương pháp nghiên cứu được tiến hành trong đề tài là điều tra và thu thập
số liệu ngoài hiện trường Sử dụng phần mềm Excel 2003 và Statgraphics Centurion
V 15.1 để xử lý số liệu và thực hiện tất cả các nội dung nghiên cứu trong đề tài
Kết quả nghiên cứu bao gồm những nội dung chính sau đây:
1 Tổ thành loài thực vật
Số loài thực vật thống kê được ở trạng thái rừng IIIA2 tại khu vực nghiên cứu
là 32 loài, với các loài chiếm ưu thế là các loài Chò nâu, Trường, Chua khét, Mít
nài, Trám…
2 Phân bố số cây theo cấp chiều cao H
Đường phân bố thực nghiệm % số cây theo cấp chiều cao có dạng hai đỉnh,
với đỉnh chính lệch trái (Sk = 0,33 > 0), số cây tập trung nhiều nhất ở các cấp chiều
cao từ 9 – 17 m chiếm tỷ lệ 62,4 % số lượng cây trong lâm phần, góp phần tạo nên
tầng tán chính của rừng Trong đó, tập trung nhiều nhất ở cấp chiều cao 11- 13 m,
chiếm 17,07 % Chiều cao bình quân của rừng là: 14,04 m, với hệ số biến động: Cv
= 31% và biên độ biến động của cấp chiều cao R = 22 m
Phương trình phù hợp nhất để mô phỏng cho quy luật phân bố số cây theo
cấp chiều cao (N/H) cho trạng thái rừng IIIA2 tại khu vực nghiên cứu có dạng:
N % = - 43,9942 + 11,9949*H – 0,732083*H2 + 0,0129429*H3
Với r = 0,98; Sy/x = 1,56; Ftính = 52,11 > F0,05; χ2tính = 2,28 < χ20,05 = 12,6
Trang 5
3 Phân bố số cây theo cấp đường kính D 1,3
Phân bố số cây theo cấp đường kính có dạng của một dạng phân bố giảm Biểu hiện rõ nhất là từ cấp kính 22 – 50 cm, đây là phân bố đặc trưng của kiểu rừng
tự nhiên nhiệt đới hỗn loài Số cây ở cấp kính nhỏ chiếm đa số, chủ yếu tập trung ở cấp kính từ 10 – 18 cm chiếm tỷ lệ 54,7 % so với tổng số cây trong lâm phần, sau
đó giảm dần ở các cấp kính tiếp theo Các cây ở cấp kính trên 40 cm chỉ chiếm khoảng 6,62 % Đường kính bình quân hiện tại của lâm phần là D1,3= 22 cm, hệ số biến động về đường kính là Cv = 46,31 %
Phương trình phù hợp nhất để mô phỏng cho quy luật phân bố số cây theo cấp đường kính (N/D1,3) cho trạng thái rừng IIIA2 tại khu vực nghiên cứu có dạng:
Ln(N%) = - 9,57897 + 9,24127*Ln(D1,3) – 1,71043*Ln(D1,3)2
Với r = 0,94; Sy/x = 0,26 (≈ 1,31 cm); Ftính = 51,3 > F0,05;χ2 tính = 3,26 <χ2 bảng = 14,1
4 Tương quan giữa chiều cao H và D 1,3
Quy luật tương quan giữa chiều cao và đường kính của trạng thái IIIA2 tại khu vực nghiên cứu cho hệ số tương quan rất cao (r = 0,97), sai số của phương trình
là Sy/x = 1,08 m,
Phương trình cụ thể : H = Exp(0,986598 + 0,543963*Ln(D1,3))
Với r = 0,97; Sy/x = 1,08; Ftính = 136,66 > Fbảng ; χ2tính = 1,13 <χ20,05 = 15,5
5 Độ hỗn giao của rừng
Độ hỗn giao của rừng tại khu vực nghiên cứu là K = 32/287 = 0,11 (thấp)
6 Phân bố trữ lượng theo cấp kính
Phần lớn trữ lượng tập trung ở các cấp kính từ 26 – 46 cm chiếm tỷ lệ 70 % tổng trữ lượng lâm phần Mặc dù tổ thành loài trong lâm phần cũng khá đa dạng (32 loài) nhưng chủ yếu đều là những loài gỗ tạp và ít có giá trị về mặt kinh tế (Mít nài, Xoài rừng, Chay rừng, Bời lời, Ươi ) và phần lớn trữ lượng lâm phần tập trung vào những loài này
Trữ lượng bình quân của rừng tại khu vực nghiên cứu M = 167,5 m³/ha
Trang 67 Tình hình tái sinh dưới tán rừng
Số lượng loài cây tái sinh tự nhiên dưới tán rừng tại khu vực nghiên cứu có
27 loài, mật độ cây tái sinh là 7667 cây /ha Trong đó, có 6 loài có tỷ lệ tổ thành chiếm trên 5 %, đó là những loài như Chò nâu, Trường, Ươi, Chua khét, Du moóc, Lèo heo Trong đó loài Chò nâu chiếm tỷ lệ cao nhất (24,78 %) trong tổ thành Số lượng cây tái sinh tại khu vực nghiên cứu tập trung chủ yếu ở cấp chiều cao H < 1m
và H > 3 m chiếm 62,61 % chủ yếu là các loài cây như: Chò nâu, Trường, Ươi, Chua khét, Du moóc … và phân bố tương đối đều
8 Độ tàn che
Độ tàn che trung bình của lâm phần trạng thái IIIA2 tại khu vực nghiên cứu là: 0,663 ( 66,3%)
Trang 7MỤC LỤC
Trang tựa
Lời cảm ơn - i
Tóm tắt - ii
Mục lục - v
Danh sách các chữ viết tắt - viii
Danh sách các bảng - ix
Danh sách các hình - x
Chương 1 MỞ ĐẦU - 1
1.1 Đặt vấn đề - 1
1.2 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu - 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu - 2
1.4 Đóng góp của khóa luận - 2
Chương 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU - 4
2.1 Đặc điểm cấu trúc hệ sinh thái - 4
2.1.1 Tổ thành thực vật - 4
2.1.2 Tầng phiến - 5
2.1.3 Tầng và hiện tượng phân tầng - 5
2.1.4 Dạng sống - 6
2.1.5 Ngoại mạo các loài cây trong rừng mưa nhiệt đới. - 7
2.2 Tình hình nghiên cứu về cấu trúc rừng trên thế giới và ở Việt Nam - 8
2.2.1 Trên thế giới - 8
2.2.2 Ở Việt Nam - 9
2.3 Tình hình nghiên cứu về tái sinh rừng trên thế giới và ở Việt Nam - 10
2.3.1 Trên thế giới - 10
2.3.2 Ở Việt Nam - 11
Trang 8Chương 3 ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU - 13
3.1 Đặc điểm khu vực nghiên cứu - 13
3.1.1 Vị trí địa lý - 13
3.1.2 Đặc điểm địa hình - 13
3.1.3 Đặc điểm về đất - 14
3.1.4 Khí hậu – thủy văn - 15
3.1.4.1 Khí hậu - 15
3.1.4.2 Thủy văn - 16
3.1.5 Tình hình dân sinh kinh tế - 16
3.2 Nội dung nghiên cứu - 18
3.3 Phương pháp nghiên cứu - 18
3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu - 18
3.3.1.1 Phương pháp thu thập số liệu cơ bản - 18
3.3.1.2 Phương pháp điều tra - 18
3.3.2 Phương pháp phân tích và tính toán số liệu - 20
3.3.2.1 Cấu trúc tổ thành loài (tầng cây gỗ) - 21
3.3.2.2 Tính toán mật độ cây gỗ lớn trong rừng (N/ha) - 21
3.3.2.3 Tính toán độ hỗn giao - 21
3.3.2.4 Tính toán tiết diện ngang (G,m²/cây) và thể tích thân cây (V, m²/cây) - 22
3.3.2.5 Tính toán độ tàn che của rừng - 22
3.3.2.6 Phương pháp đánh giá tái sinh rừng - 22
3.3.2.7 Phương pháp tính toán các đặc trưng mẫu và mô hình hóa - 22
3.3.2.8 Phương pháp kiểm tra giả thuyết về luật phân bố - 24
3.3.2.9 Phương pháp đánh giá tương quan hồi quy - 24
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN - 26
4.1 Cấu trúc tổ thành loài thực vật – trạng thái IIIA2 - 27
4.2 Phân bố số cây theo cấp chiều cao (N/H) – trạng thái IIIA2 - 30
4.3 Phân bố số cây theo cấp đường kính (N/D1,3) – trạng thái IIIA2 - 34
Trang 94.4 Tương quan giữa chiều cao và đường kính (H/D1,3) – trạng thái IIIA2 - 38
4.5 Độ hỗn giao của rừng - 41
4.6 Phân bố trữ lượng theo cấp đường kính (M/D1,3) - 41
4.7 Tình hình tái sinh dưới tán rừng - 44
4.7.1 Tổ thành loài cây tái sinh - 44
4.7.2 Phân bố số cây tái sinh theo cấp chiều cao và chất lượng - 46
4.8 Độ tàn che của rừng - 47
4.9 Đề xuất một số biện pháp kĩ thuật lâm sinh - 48
Chương 5 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ - 50
5.1 Kết luận - 50
5.2 Tồn tại - 51
5.3 Kiến nghị - 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO - 54
• Phụ biểu
• Trắc đồ David và Richards
• Phiếu nhận xét của giáo viên hướng dẫn
• Phiếu nhận xét của giáo viên phản biện
Trang 10DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
a, b, c Các tham số của phương trình
Cv % Hệ số biến động, %
D1,3 Đường kính thân cây tại tầm cao 1,3 m, cm
D1,3_lt Đường kính 1,3 m tính theo lý thuyết
D1,3_tn Đường kính 1,3 m theo thực nghiệm
Ex Hệ số biểu thị độ nhọn của phân bố
H Chiều cao của cây, m
Hvn Chiều cao vút ngọn, m
H_lt Chiều cao tính theo lý thuyết, m
H_tn Chiều cao theo thực nghiệm
Log Logarit thập phân (cơ số 10)
Ln Logarit tự nhiên (cơ số e)
P_value Mức ý nghĩa (xác suất)
Pa, Pb, Pc, Pd Mức ý nghĩa (xác suất) của tham số a, b, c, d 4.1 Số hiệu của hình hay bảng theo chương (4.1) Số hiệu của hàm thử nghiệm
Trang 11DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1 Tổ thành loài thực vật trạng thái IIIA2 tại khu vực nghiên cứu - 28
Bảng 4.2 Bảng phân bố N/H trạng thái IIIA2 và các đặc trưng mẫu - 31
Bảng 4.3 Bảng so sánh các chỉ số thống kê từ các hàm thử nghiệm (N/H) - 31
Bảng 4.4 Bảng phân bố N/D1,3 trạng thái IIIA2 và các đặc trưng mẫu - 35
Bảng 4.5 Bảng so sánh các chỉ số thống kê từ các hàm thử nghiệm (N/D1,3) - 36
Bảng 4.6 Bảng so sánh các chỉ số thống kê từ các hàm thử nghiệm (H/D1,3) - 39
Bảng 4.7 Phân bố trữ lượng theo cấp đường kính (M/D1,3) - 42
Bảng 4.8 Tổ thành loài cây tái sinh trạng thái IIIA2 tại khu vực nghiên cứu - 44
Bảng 4.9 Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao và chất lượng ở trạng thái IIIA2 tại khu vực nghiên cứu - 46
Trang 12DANH SÁCH CÁC HÌNH
Trang
Hình 4.1 Biểu diễn tỷ lệ tổ thành loài tại khu vực nghiên cứu - 29 Hình 4.2 Đồ thị biểu diễn phân bố (N/H) từ các hàm thử nghiệm - 32 Hình 4.3 Biểu đồ phân bố % số cây theo cấp chiều cao (N/H) của trạng thái rừng IIIA2 tại khu vực nghiên cứu - 33 Hình 4.4 Đồ thị biểu diễn phân bố N/D1,3 từ các hàm thử nghiệm - 36 Hình 4.5 Biểu đồ phân bố % số cây theo cấp đường kính (N/D1,3) của trạng thái rừng IIIA2 tại khu vực nghiên cứu - 37 Hình 4.6 Đồ thị biễu diễn tương quan (H/D1,3) từ các hàm thử nghiệm - 39 Hình 4.7 Biểu đồ biểu diễn quy luật tương quan giữa H và D1,3 của trạng thái
rừng IIIA2 tại khu vực nghiên cứu - 40 Hình 4.8 Phân bố trữ lượng theo cấp đường kính (M/D1,3) của trạng thái IIIA2 tại khu vực nghiên cứu - 43 Hình 4.9.Tổ thành loài cây tái sinh trạng thái IIIA2 tại khu vực nghiên cứu - 45 Hình 4.10 Biểu đồ phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao và chất lượng trạng thái IIIA2 tại khu vực nghiên cứu - 46
Trang 13Hiện nay, nước ta có tổng diện tích rừng là 13.118.773 ha, trong đó rừng tự nhiên là 10.348.591 ha và rừng trồng là 2.770.182 ha (Theo thống kê của Bộ NN & PTNT, 2010) Tuy nhiên hiện nay, rừng nước ta đang bị suy thoái nghiêm trọng, hàng năm có hàng trăm ha rừng bị tàn phá Theo tổng cục Thống kê cho biết, sản lượng gỗ khai thác tháng 01/2010 ước tính đạt 280 nghìn m3, tăng 5,1 % so với cùng kỳ năm 2009; sản lượng củi khai thác ước tính đạt 2.348 nghìn ster, tăng 1,2 % (tổng cục thống kê, 1/2010) Tình trạng cháy rừng; chặt, phá rừng trái phép làm nương rẫy vẫn xảy ra tại một số nơi, đặc biệt là vùng núi phía Bắc và Tây Nguyên Theo báo cáo của các địa phương, diện tích rừng bị cháy và bị chặt, phá trong tháng 01/2010 là 58,1 ha, bao gồm 6,8 ha rừng bị cháy và 51,3 ha rừng bị phá, và còn nhiều tỉnh miền Trung lân cận khác có rừng bị xâm hại nghiêm trọng trong đó tỉnh Quảng Nam là một trong những điểm nóng đáng lưu ý, mà cụ thể là huyện miền núi Nam Trà My
Huyện Nam Trà My từng là một phần của huyện Trà My cũ của tỉnh Quảng Nam Ngày 20 tháng 6 năm 2003, Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành nghị định số 72/2003/NĐ-CP, chia tách huyện Trà My của tỉnh Quảng Nam thành hai huyện Bắc Trà My và Nam Trà My như ngày nay Lợi dụng huyện vừa mới thành lập, việc quản lý tài nguyên còn non yếu, mặc dù được sự quan tâm
Trang 14giúp đỡ tận tình của các cấp lãnh đạo nhưng thực trạng các khu rừng tự nhiên tại địa phương vẫn đang bị tàn phá một cách nghiêm trọng ảnh hưởng đến vốn rừng và tính ổn định về mặt cấu trúc của khu rừng
Vì vậy việc tìm hiểu đặc điểm cơ bản về cấu trúc rừng tại huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam là rất cần thiết và cấp bách trong giai đoạn hiện nay nhằm nắm bắt được quy luật cấu trúc rừng, làm cơ sở khoa học quan trọng cho việc áp dụng các biện pháp kĩ thuật lâm sinh nhằm đưa rừng hiện tại về trạng thái cấu trúc rừng ổn định, năng suất cao, chất lượng tốt từ đó làm cơ sở cho việc quản lý, bảo vệ chăm sóc rừng tại khu vực
Xuất phát từ những vấn đề mang tính thực tiễn trên, trong khuôn khổ của một khóa luận tốt nghiệp cuối khóa, được sự đồng ý và phân công của Bộ môn Quản lý tài nguyên rừng, dưới sự hướng dẫn của Thầy ThS Nguyễn Minh Cảnh, đề
tài: “Bước đầu nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc rừng tự nhiên trạng thái
IIIA 2 tại tiểu khu 834 thuộc huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam” được thực
hiện trong khoảng thời gian từ tháng 02 đến tháng 06 năm 2011
1.2 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài được thực hiện ở một số diện tích rừng điển hình
trạng thái IIIA2 tại tiểu khu 834 thuộc huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam
Đối tượng nghiên cứu: Rừng phục hồi sau khai thác trạng thái IIIA2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu một số đặc điểm cơ bản nhất về cấu trúc rừng tự nhiên trạng thái IIIA2 tại tiểu khu 834 thuộc huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam
- Từ đó, góp phần làm cơ sở đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp nhằm phát triển, quản lý và bảo vệ rừng theo hướng tích cực
1.4 Đóng góp của khóa luận
Việc nghiên cứu cấu trúc rừng trên địa bàn huyện Nam Trà My bước đầu đã đánh giá được tiềm năng về trữ lượng rừng Trong đó những chỉ tiêu về tổ thành loài, phân bố số cây theo cấp chiều cao, phân bố số cây theo cấp đường kính, lớp cây tái sinh và cây triển vọng là những chỉ tiêu có ý nghĩa quan trọng để từ đó làm
cơ sở để đề xuất những biện pháp lâm sinh phù hợp nhằm nâng cao năng suất và chất lượng của rừng
Trang 15Đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về cấu trúc rừng, tuy nhiên với đặc điểm về khí hậu và điều kiện tự nhiên, thành phần loài cây, lịch sử tác động … của mỗi vùng khác nhau ít nhiều sẽ có phần khác nhau Vì vậy, các kết quả có được từ đề tài này cũng góp phần làm phong phú và đa dạng hơn về các đặc điểm cấu trúc của rừng tự nhiên tại Việt Nam nói chung và khu vực nghiên cứu nói riêng
Mặc dù đã cố gắng hết sức trong việc điều tra, khảo sát, tham khảo, kế thừa các tài liệu có liên quan để thực hiện đề tài, nhưng do những hạn chế nhất định, nhất
là sự phức tạp và phong phú về mặt lâm học của rừng nhiệt đới, nên đây chỉ là những kết quả bước đầu nhằm đóng góp một phần nhỏ vào việc tìm hiểu các đặc điểm cấu trúc rừng ở vùng Trung Trung Bộ nói chung và rừng Nam Trà My nói riêng
Trang 16Chương 2
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Cấu trúc rừng là quy luật sắp xếp và tổ chức các thành phần rừng theo không gian và thời gian, sự phân bố các cây theo chiều thẳng đứng và nằm ngang Cấu trúc
là một trong những nội dung nghiên cứu quan trọng về hình thái quần thể thực vật Tuy nhiên khái niệm cấu trúc không chỉ bao gồm những cấu trúc về hình thái mà cả những cấu trúc về sinh thái bao gồm các nhân tố như tổ thành thực vật, dạng sống, tầng phiến Cấu trúc sinh thái được phân biệt thành cấu trúc trên mặt phẳng đứng (hiện tượng thành tầng) Vì vậy, mô hình cấu trúc hình thái của quần thể thường được biểu diễn thành mô hình cấu trúc không gian 3 chiều
2.1 Đặc điểm cấu trúc hệ sinh thái
2.1.1 Tổ thành thực vật
Đặc điểm quan trọng nhất của hệ sinh thái rừng mưa nhiệt đới là có tổ thành loài phong phú Tính phong phú về tổ thành loài cây trước hết là do điều kiện tự nhiên nhiệt đới thuận lợi và do tính chất cổ xưa của khu hệ thực vật hệ sinh thái rừng mưa Tuy nhiên, do điều kiện lập địa và tính giàu có của khu hệ thực vật trong từng địa phương khác nhau nên tính phong phú và tổ thành loài cây của hệ sinh thái rừng mưa cũng có sự biến động lớn Pw Richard (1952) đã phân biệt hệ sinh thái rừng mưa thành hệ sinh thái rừng mưa hỗn hợp và hệ sinh thái rừng mưa đơn ưu
Hệ sinh thái rừng mưa hỗn hợp có tổ thành loài cây phức tạp nhất, trong đó không có một loài cây nào giữ vai trò ưu thế, phần lớn loài cây chỉ có rất ít cá thể đại diện trong quần thể Đây là kiểu hình thái đặc trưng phổ biến của hệ sinh thái rừng mưa Ở những hoàn cảnh kém thuận lợi hơn, điều kiện đất đai đặc biệt thì tổ thành hệ sinh thái rừng mưa đơn ưu, đơn giản hơn nhiều và có xu hướng chỉ có một vài loài cây chiếm ưu thế Pw Richard (1952) gọi đó là hệ sinh thái rừng đơn ưu Hệ
sinh thái rừng ngập mặn (Mangrove), hệ sinh thái rừng ưu hợp họ Dầu
Trang 17(Dipterocarpaceae) ở miền Nam là một thí dụ về hệ sinh thái rừng đơn ưu trong
điều kiện nhiệt đới ở Việt Nam
Ngoài ra, trong quá trình phục hồi hệ sinh thái rừng sau nương rẫy ở điều
kiện nhiệt đới còn xuất hiện những quần thể đơn ưu tạm thời: rừng Bồ đề (Styrax tonkinensis), rừng Sau sau (Liquidamba formosana) Nhưng trong quá trình phục
hồi rừng tự nhiên sau này, sớm hay muộn những quần thể đơn ưu tạm thời sẽ bị thay thế bởi những quần thể rừng mới có tính ổn định cao hơn và phù hợp hơn với điều kiện hoàn cảnh
2.1.2 Tầng phiến
Tầng phiến (synusia) là thuật ngữ được Rubel sử dụng lần đầu tiên vào năm
1904 để phân tích quần xã thực vật Nhưng chỉ đến năm 1918, thuật ngữ này mới chính thức được các nhà sinh thái thực vật sử dụng rộng rãi Theo Gams (1918) tầng phiến được hiểu theo 3 nghĩa sau:
Tầng phiến là tập hợp các cá thể của cùng một loài nằm trong giới hạn một vùng nhất định, tương tự như thuật ngữ quần thể loài
Tầng phiến là tập hợp các loài cây khác nhau thuộc cùng một nhóm dạng sống và gần gũi nhau về nhịp điệu sinh trưởng theo mùa
Tầng phiến là tập hợp các loài cây khác nhau, nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và cùng sinh sống trong một môi trường nhất định
2.1.3 Tầng và hiện tượng phân tầng
VN Xukasov đã định nghĩa “tầng là khái niệm sinh thái học, khái niệm vật quần lạc và cũng là khái niệm sinh địa quần lạc, nó bao gồm nhiều thực vật hình thức sinh trưởng và đặc tính sinh thái giống nhau” (Lâm Xuân Sanh, 1990)
Theo Thái Văn Trừng (1970, 1978) sự sắp xếp các cây gỗ rừng mưa nhiệt đới theo chiều thẳng đứng thành 5 tầng, trong đó có 3 tầng cây gỗ lớn, 1 tầng cây gỗ bụi, 1 tầng cỏ và dương xỉ Đặc điểm cơ bản của các tầng như sau:
Tầng vượt tán (A1) Đây là tầng được hình thành bởi những cây gỗ cao đến
40 m Tham gia vào tầng này thường là những loài cây to: Họ Dầu
(Dipterocarpaceae), họ Dâu tằm (Moraceae), họ Đậu (Fabaceae) Những loài cây
thuộc tầng này thường có đặc điểm là cây thường xanh, tán lá rộng đôi khi cũng gặp
Trang 18cây rụng lá vào mùa khô lạnh Tầng A1 không liên tục cả theo chiều ngang và chiều đứng
Tầng ưu thế sinh thái (A2) Tầng này có chiều cao trung bình từ 20 – 30 m, phân bố liên tục cả theo chiều thẳng đứng và chiều ngang Những loài cây gỗ hình thành tầng này thường có đặc điểm là thân thẳng, tán lá tròn và dẹp, lá thường xanh
Tham gia cấu tạo tầng này bao gồm các loài cây thuộc họ Giẻ (Fagaceae), họ Re (Lauraceae), họ phụ Vang (Caesalpinioideae), họ phụ Trinh nữ (Mimosoideae)…
Tầng dưới tán (A3) Tầng này bao gồm những loài cây thân hình nhỏ, mọc rãi
rác, cao trung bình từ 8 – 15 m, thuộc họ Bứa (Clusiaceae), họ Máu chó (Myristicaceae)… Ngoài ra cấu tạo tầng này còn bao gồm những cây non, cây nhỡ
của các loài cây thuộc tầng trên
Tầng cây bụi thấp (B) Tầng này cao từ 2 – 8 m, được hình thành từ những
loài cây bụi thuộc các họ Cà phê (Rubiacea), họ Na (Annanoceae)… Ngoài ra ở tầng này còn bao gồm nhiều loại cây thuộc các họ Dừa (Palmaceae), họ phụ Tre nứa (Bambusoideae) Các loại cây tầng này thường có đặc điểm: Chịu bóng cao,
sinh trưởng rất chậm, thân nhỏ bé đôi khi chỉ có một thân độc nhất với một túm lá ở trên ngọn
Tầng cỏ quyết (C3) Tầng này bao gồm các loài cây thân thảo có chiều cao
dưới 2 m, thuộc các họ Ô rô (Acanthaceae), họ Gai (Urticacea), họ Gừng (Zingziberaceae)
2.1.4 Dạng sống
Trái đất qua một quá trình tiến hóa chọn lọc tự nhiên lâu dài, nhiều loài cây khác nhau rất xa trong hệ thống phân loại, nhưng khi cùng chung sống với nhau trong cùng một hoàn cảnh sinh thái nhất định, để bảo tồn nòi giống đó đòi hỏi phải
có tính thích ứng với các nhân tố môi trường bên ngoài Tính thích ứng đó biểu hiện bởi sự biến đổi về cấu tạo giải phẫu, chức năng sinh lý… Nhằm duy trì khả năng tồn tại của chúng trong một sinh thái cảnh nhất định Qua nhiều thế hệ, những biến đổi đó được lặp đi lặp lại và trở thành đặc tính sinh vật học tương đối ổn định duy trì từ đời này sang đời khác
Dựa trên cơ sở đó các nhà sinh vật học đã đưa ra khái niệm về dạng sống:
Trang 19“Dạng sống là một đơn vị phân loại sinh thái, nó bao gồm nhiều loài thực vật
có thể khác nhau rất xa trong hệ thống phân loại trong tự nhiên nhưng cũng giống nhau về biện pháp và con đường thích nghi với cùng một hoàn cảnh sinh thái” (Lâm Xuân Sanh,1990)
Các dạng sống trong hệ sinh thái rừng mưa:
- Dạng sống các loài cây gỗ lớn
- Dạng sống các loài cây dây leo
- Dạng sống các loài cây thắt nghẹt
- Dạng sống khác: Phụ sinh, kí sinh, bán kí sinh và hoại sinh
2.1.5 Ngoại mạo các loài cây trong rừng mưa nhiệt đới
Rừng mưa nhiệt đới rất dễ gây cho những người lần đâu tiên tiếp xúc với nó
ấn tượng mạnh mẽ, vì nó có một số đặc điểm nhất định về ngoại mạo và thường ít hoặc không bao giờ thấy ở quần thể thực vật khác Mặc dù tất cả các cây gỗ lớn rừng mưa đều có nhiều đặc tính về hình thái chung với nhau, nhưng với mỗi tầng trong rừng lại có nhiều nét đặc trưng về ngoại mạo:
Tập tính cây gỗ lớn: Trong mọi tầng, thân các cây gỗ lớn mọc trong rừng mưa đều có hình cột thẳng tắp và thường thon mảnh hơn nhiều so với chính những loài cây đó mọc ở những quần lạc khác nhau
Hiện tượng cây có bạnh gốc
Tập tính cây bụi: Theo Duriezt (1931) gọi là “cây gỗ lùn” hoặc “cây tí hon”
đa số đều chia cành ngay từ mặt đất và cách mặt đất không bao nhiêu
Hiện tượng hoa quả mọc trên thân
Thực vật kí sinh và thực vật hoại sinh
(Nguồn: Phân viện Điều tra và Quy hoạch rừng Nam Bộ)
Trang 202.2 Tình hình nghiên cứu về cấu trúc rừng trên thế giới và ở Việt Nam
2.2.1 Trên thế giới
Thuật ngữ “cấu trúc” đã được các nhà lâm nghiệp trên thế giới nghiên cứu sử dụng và được xác định bằng nhiều phương pháp khác nhau phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu nhất định nào đó
Assmann (1968) định nghĩa: “Một lâm phần hay một rừng cây là tổng thể các cây cùng sinh trưởng và phát triển trên một diện tích tạo thành một điều kiện hoàn cảnh nhất định và có cấu trúc bên ngoài cũng như bên trong khác biệt với diện tích rừng khác” (nguồn Nguyễn Thị Ái Nhi, 2005)
Cùng quan điểm này Richards (1952) cho rằng: “Một quần xã thực vật gồm những loài cây có hình dạng khác nhau, dạng sống khác nhau nhưng tạo ra một hoàn cảnh sinh thái nhất định và được sắp xếp một cánh tự nhiên và hợp lý trong không gian”
Theo Meyer (1852), Turnbull (1963), Rollet (1969) thì “cấu trúc” dùng để xác định các quy luật phân bố cây thân gỗ theo đường kính hay phân bố diện ngang thân cây theo cấp kính … (dẫn theo Hoàng Sĩ Động, 2002)
Theo Prodan (1952) khi nghiên cứu quy luật phân bố rừng, theo ông sự phân
bố cây theo đường kính có giá trị đặc trưng nhất cho rừng, đặc biệt là rừng hỗn giao
nó đã phản ảnh được những đặc điểm lâm sinh Đó là phân bố đường kính của rừng
tự nhiên có đỉnh lệch trái, số cây tập trung rất nhiều ở các cấp nhỏ do có nhiều loài nhiều thế hệ cùng tồn tại và phát triển nhưng ở các cây có cỡ kính lớn chỉ có một số loài nhất định do bởi đặc tính sinh học hay nhờ vị trí thuận lợi trong rừng chúng mới có khả năng tồn tại và phát triển Về phân bố chiều cao rừng tự nhiên thường
có quy luật phân bố nhiều đỉnh, rừng càng có nhiều thế hệ hay do khai thác không
có quy tắc, thì phân bố chiều cao của rừng thường nhiều đỉnh và giới hạn của đường cong phân bố nhiều đỉnh, là phân bố đặc trưng cho rừng chặt chọn không đều tuổi (dẫn theo Giang Văn Thắng 2003)
Xác định cấu trúc của một loại hình rừng được Wenk (1995) nghiên cứu nhằm mục đích không những đánh giá được nhiều hiện trạng và động thái sinh trưởng của cây rừng qua các quy luật phân bố cây theo chiều cao Hvn (cấu trúc
Trang 21đứng), theo đường kính D1,3 (cấu trúc ngang), đường kính tán Dtán, tổng diện ngang (G), mà còn có thể xác định được chính xác kích thước bình quân của lâm phần phục vụ công tác điều tra quy hoạch rừng Ở loại hình rừng trồng thuần loại đều tuổi, phân bố số cây theo H, D1,3… khi mới trồng thường có quy luật chính thái sau
đó lệch trái khi đã bước vào khép tán và dần chuyển sang lệch phải khi rừng lớn tuổi (theo Giang Văn Thắng 2003)
2.2.2 Ở Việt Nam
Rừng Việt Nam thuộc dạng rừng mưa nhiệt đới nên rất đa dạng và phong phú, số lượng loài rất lớn và có cấu trúc phức tạp, việc nghiên cứu cấu trúc rừng ở Việt Nam cũng được tiến hành từ khá sớm và được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước thực hiện Tiêu biểu nhất là cuốn sách “Lâm nghiệp Đông Dương” của Paul Maurand (1943) Các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước, đầu tiên phải kể tới công trình của Thái Văn Trừng (1961) về “Thảm thực vật rừng Việt Nam trên quan điểm hệ sinh thái” cũng theo Thái Văn Trừng khi nghiên cứu rừng mưa thường xanh của nước ta, đã đưa ra cấu trúc tầng như tầng ưu thế, tầng dưới tán, tầng cây bụi và tầng cỏ quyết Tác giả còn dựa vào bốn tiêu chuẩn để phân chia kiểu thảm thực vật rừng Việt Nam: Dạng sống ưu thế của những thực vật tầng cây lập quần, độ tàn che của tầng ưu thế sinh thái, hình thái sinh thái của nó và trạng thái tán lá, dựa vào đó tác giả chia rừng Việt Nam thành mười bốn kiểu
Đồng Sỹ Hiền (1974) trong công trình nghiên cứu “Lập biểu thể tích và biểu
độ thon cây đứng cho rừng miền Bắc Việt Nam”, tác giả đã đi sâu phân tích phân bố chiều cao (Hvn) và đường kính (D1,3) làm cơ sở cho việc xây dựng biểu thể tích
Nguyễn Ngọc Lung và cộng sự (1986) đã nghiên cứu cấu trúc rừng Thông ba
lá ở Lâm Đồng làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp kinh doanh Kết quả nghiên cứu cho thấy ở rừng thuần loại đều tuổi, các phân bố có dạng một đỉnh lệch trái và các rừng non phân bố chuẩn ở những giai đoạn phát triển về sau; ở rừng tự nhiên khác tuổi do tái sinh liên tục theo lỗ trống của rừng qua phương pháp chặt chọn nên cấu trúc có dạng phân bố giảm theo nhiều đỉnh, còn cấu trúc đường kính
có dạng phân bố giảm một đỉnh lệch trái (nguồn Nguyễn Thị Ái Nhi, 2005)
Trang 22Bảo Huy (1993), Đào Công Khanh (1996), đã căn cứ vào tổ thành loài cây mục đích để phân loại rừng phục vụ cho việc xây dựng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh
Nguyễn Hải Tuất (1986), đã sử dụng hàm phân bố giảm, phân bố khoảng cách đều biểu diễn cấu trúc rừng thứ sinh và vận dụng hàm Poisson vào nghiên cứu cấu trúc quần thể rừng (dẫn nguồn Nguyễn Thị Thoa, 2003)
Trần Văn Con (1991), đã sử dụng mô hình Weibull để mô phỏng cấu trúc số cây theo cấp đường kính của rừng khộp
Trần Cẩm Tú (1996) thử nghiệm hàm Weibull, hàm Meyer và hàm khoảng cách, cuối cùng tác giả chọn hàm khoảng cách để mô phỏng vì hàm này khi kiểm tra cho tỷ lệ chấp nhận cao nhất
Công trình nghiên cứu về cấu trúc rừng ở nước ta đáng chú ý nhất là công trình của Nguyễn Văn Trương về “Quy luật cấu trúc rừng gỗ hỗn loài” xuất bản năm 1983 Theo tác giả, khi nghiên cứu đặc điểm lâm học của rừng phải tập trung xác định thành phần loài cây, tìm hiểu cấu trúc của từng loại rừng, cấu trúc đường kính qua phân bố số cây và tổng diện ngang trên mặt đất, cấu trúc nhóm loài cây, tình hình tái sinh và diễn thế rừng …Từ đó mới có những kết luận logic cho những biện pháp xử lý rừng có khoa học và hiệu quả, vừa cung cấp được lâm sản, vừa nuôi dưỡng và tái sinh rừng
Trên đây là một số công trình nghiên cứu về cấu trúc rừng của các tác giả trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài Tuy nhiên, do hạn chế về mặt thời gian cũng như hạn chế của trình độ bản thân, nên những công trình và những đề tài nghiên cứu trên là cơ sở bước đầu và tài liệu tham khảo rất hữu ích để giúp tôi học tập, tiếp tục nghiên cứu để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
2.3 Tình hình nghiên cứu về tái sinh rừng trên thế giới và ở Việt Nam
2.3.1 Trên thế giới
Tái sinh rừng đã được nghiên cứu từ hàng trăm năm trước đây, nhưng từ năm
1930 mới bắt đầu nghiên cứu tái sinh rừng nhiệt đới Do đặc điểm của rừng tự nhiên nhiệt đới là thành phần loài rất phức tạp, nên trong quá trình nghiên cứu, các tác giả chỉ tập trung vào các loại cây gỗ có ý nghĩa nhất định
Trang 23Theo Richards (1952) quá trình tái sinh tự nhiên của rừng nhiệt đới rất phức tạp và sự hiểu biết của con người về vấn đề này còn hạn chế, mặc dù có ý nghĩa thực tiễn rất lớn Theo tác giả, các cây tái sinh tự nhiên có một thời gian ức chế kéo dài ảnh hưởng đến sinh trưởng của chúng, nếu đạt được chiều cao khoảng 2 m thì chúng có thể tồn tại và tham gia vào quần thể rừng
Khi nghiên cứu tái sinh của rừng tự nhiên nhiệt đới G Van Steenis (1956) cũng đã nhận định: tái sinh của rừng mưa nhiệt đới là liên tục gần như quanh năm Còn theo các nhà nghiên cứu khác như T Haig và M.A.Huber (1956) thì sự tái sinh rừng tự nhiên được xem là căn bản nhất trong quá trình cải thiện tình hình rừng (dẫn nguồn Nguyễn Thị Ái Nhi, 2005)
Theo Xannikow (1967), Vipper (1973), trong nghiên cứu tái sinh rừng, người ta nhận thấy tầng cỏ và tầng cây bụi qua quá trình sinh trưởng thu nhận ánh sáng, các chất dinh dưỡng sẽ làm ảnh hưởng đến cây tái sinh Nhưng lâm phần thưa, rừng đã bị khai thác nhiều, tạo ra nhiều khoảng trống lớn, tạo điều kiện cho thảm tươi và cây bụi phát triển mạnh Trong điều kiện đó chúng sẽ là nhân tố cản trở sự phát triển và khả năng sinh tồn của cây tái sinh Nếu lâm phần kín, đất khô, nghèo dinh dưỡng, cây bụi thảm tươi phát triển chậm sẽ tạo điều kiện cho cây tái sinh vươn lên (dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 1995)
Dawkins (1958) đã nói: “Dù cho kinh doanh được đưa vào như thế nào, điều phải suy xét đầu tiên về lâm sinh phải là tái sinh…” Như vậy có thể nói, vấn đề tái sinh đã được bàn đến rất nhiều, nhất là khi xử lý lâm sinh liên quan đến tái sinh của các loài cây mục đích ở các kiểu rừng Từ đó, các nhà lâm học đã xây dựng thành công nhiều phương thức chặt tái sinh (dẫn theo Nguyễn Thị Ái Nhi, 2005)
Trang 24điều tra theo tuyến Từ đó tiến hành phân chia trạng thái rừng và đánh giá tái sinh (dẫn nguồn Tô Quang, 2008)
Thái Văn Trừng (1978), khi nghiên cứu về thực vật rừng Việt Nam đã có kết luận, ánh sáng là nhân tố sinh thái khống chế và ảnh hưởng đến quá trình tái sinh tự nhiên trong rừng
Trần Xuân Thiệp (1995), đã định lượng cây tái sinh tự nhiên trong các trạng thái rừng khác nhau, theo tác giả số lượng cây tái sinh biến động từ 8.000 đến 12.000, lớn hơn rừng nguyên sinh (dẫn nguồn Bùi Thế Đồi, 2002)
Trần Ngũ Phương (2000) khi nghiên cứu rừng nhiệt đới ở Việt Nam đã nhấn mạnh: “Rừng tự nhiên có nhiều tầng, khi tầng trên già cỗi tàn lụi rồi tiêu vong, tầng
kế tiếp sẽ thay thế, …” (dẫn nguồn Nguyễn Thị Thoa, 2003)
Tái sinh rừng là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng: thảm cây gỗ
và các thành phần khác của lâm phần Sự xuất hiện lâm phần mới lại góp phần hình thành môi trường rừng và các thành phần khác như thực vật tầng thấp, động vật và
vi sinh vật đặc trưng cho mỗi loại rừng Vì thế, khái niệm tái sinh rừng còn được hiểu theo nghĩa rộng là tái sinh hệ sinh thái rừng (dẫn nguồn Nguyễn Văn Thêm, 1995)
Tóm lại, qua các công trình nghiên cứu về tái sinh rừng ở trên thế giới và Việt Nam cho thấy vai trò của quá trình tái sinh rừng trong nghiên cứu cấu trúc rừng rất quan trọng Một trong những vai trò đó là giúp các nhà khoa học nghiên cứu về thành phần cơ bản của rừng, tầng tán của rừng, sự phụ thuộc của quá trình tái sinh rừng vào ngoại cảnh … Các công trình trên đây cũng là cơ sở, tài liệu tham khảo và định hướng để tôi thực hiện khóa luận này
Trang 25Chương 3
ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm khu vực nghiên cứu
3.1.1 Vị trí địa lý
Nam Trà My là huyện miền núi cao của tỉnh Quảng Nam, mới được thành lập từ ngày 01 tháng 8 năm 2003, cách Thành phố Tam Kỳ 100 km về phía Tây Nam, có vị trí địa lý như sau:
- Từ 150170’13’’ đến 15018’00’’ Vĩ độ Bắc
- Từ 108009’16’’ đến 108017’58’’ Kinh độ Đông
Ranh giới hành chính:
- Phía Bắc giáp huyện Bắc Trà My
- Phía Nam giáp tỉnh Kon tum
- Phía Đông giáp tỉnh Quảng Ngãi
- Phía Tây giáp huyện Phước Sơn
3.1.2 Đặc điểm địa hình
Toàn bộ địa hình của khu vực này chủ yếu là rừng núi hiểm trở bị chia cắt mạnh trải dài theo hướng Đông Bắc – Tây Nam Địa hình chia làm hai vùng rõ rệt, vùng núi cao và vùng đồi thấp Vùng núi cao rất phức tạp, có độ dốc lớn (từ 15 – 25º, chiếm gần 60 % diện tích tự nhiên) và bị chia cắt bởi nhiều khe suối tạo thành các sông Nậm Nin, sông Nước Vin, Nước Xa, Nước Oa rất trở ngại cho việc phát triển ngành lâm nghiệp Bên cạnh đó có sông Tranh chảy ngang giữa từ Nam lên Bắc huyện tạo thành hai vùng núi cao hai bên sông, rất trở ngại trong việc phát triển giao lưu giữa các xã trong hai huyện, nhất là vào mùa mưa vì dòng sông hẹp, tốc độ chảy lớn và nhiều ghềnh thác… Điểm cao nhất huyện Nam Trà My lên đến 2.313 m nằm phía Tây Nam và điểm thấp nhất khoảng 60 m nằm ở phía Bắc Vùng đồi núi thấp chiếm trên 40 % diện tích tự nhiên, độ cao trung bình 60 – 120 m
Trang 263.1.3 Đặc điểm về đất
Theo tài liệu điều tra thổ nhưỡng của Viện Quy hoạch thuộc Bộ Nông nghiệp năm 1978, trên địa bàn huyện có các loại đất sau:
* Đất phù sa sông suối (P):
Phân bố rải rác dọc theo các sông suối với diện tích nhỏ, ít tập trung Hướng
sử dụng là trồng lúa và hoa màu
* Đất nâu tím trên đá Pa-na-gơ-nai (Fe):
Hình thành trên đá Pa-na-gơ-nai màu Hướng khai thác là trồng hoa màu, cây công nghiệp, trồng rừng chống xói mòn
* Đất nâu đỏ trên đá macma bazơ và trung tính (Fk):
Loại đất Feralit được hình thành trên đá bazan, gabro, Andezit Đây là loại đất có đặc tính lý hóa tốt Hướng sử dụng trồng cây công nghiệp có hiệu quả kinh tế như cao su và các loại cây ăn quả
* Đất vàng đỏ trên đá macma axít (Fa):
Đây là loại đất chiếm diện tích đất nhiều nhất của huyện, cấp hạt sét thấp <
20 %, kết cấu rời rạc, khả năng giữ nước, giữ chất dinh dưỡng kém Độ pH từ 4 đến 4,5 Hiện trạng phần lớn là đất rừng tự nhiên và đất chưa sử dụng
* Đất mùn đỏ vàng trên đá Panơgnai (Hs):
Loại đất này hình thành trên vùng núi cao, độ dốc > 25%
* Đất mùn đỏ vàng trên đá sét và đá biến chất (Ha):
Sử dụng cho mục đích lâm nghiệp và một ít thuộc hoang đồi Hướng sử dụng trồng cây lâm nghiệp và công nghiệp
* Đất dốc tụ (D): Đất thích hợp cho trồng hoa màu, cây ăn quả
Trang 27Nhìn chung, đất đai khu vực Nam Trà My chủ yếu thuộc nhóm đất đỏ vàng, phân bố trên địa hình cao nên quá trình bào mòn, rửa trôi diễn ra mạnh Cần tăng cường biện pháp bảo vệ rừng, trồng rừng phủ xanh đất trống, đồi núi trọc để nâng cao độ che phủ Khai thác sử dụng tài nguyên rừng cần có kế hoạch cụ thể, trách khai thác bừa bãi gây tác hại xấu đến môi trường, đất đai, nguồn nước
3.1.4 Khí hậu – thủy văn
- Lương mưa trung bình hàng năm : 3.283 mm
- Lượng mưa cao nhất trong năm : 4.146 mm
- Lượng mưa nhỏ nhất trong năm : 2.029 mm
- Lượng mưa lớn nhất tập trung vào các tháng: 9, 10, 11, 12
* Số giờ nắng:
- Giờ nắng cả năm : 1.833 giờ
- Tháng có giờ nắng cao nhất : 233 giờ (tháng 5)
- Tháng có giờ nắng thấp nhất : 53 giờ (tháng 11)
* Gió bão:
Hướng gió chính là gió mùa Đông Bắc và gió Tây Nam Vận tốc gió lớn nhất
là 25 m/s Gió mùa Đông Bắc ảnh hưởng đến thời tiết từ tháng 11 đến tháng 03 năm
Trang 28sau, muộn nhất đến tháng 04, thường kèm theo mưa lớn Gió Tây Nam thổi từ tháng
4 đến tháng 10, thường gây khô nóng, ít chịu ảnh hưởng của bão
Khí hậu huyện Nam Trà My mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng Nam Hải Vân, nóng ẩm mưa nhiều Do chịu ảnh hưởng của địa hình, nên lượng mưa và biên độ nhiệt ngày đêm của khu vực này lớn hơn những vùng trung
du và đồng bằng
Nhìn chung, đặc điểm khí hậu ở huyện Nam Trà My rất thuận lợi cho thực vật sinh trưởng và phát triển, thích hợp cho nhiều loại cây trồng, con vật nuôi Tuy nhiên, mùa mưa do lượng mưa lớn, tập trung nên thường có lũ quét, gây ách tắc giao thông, ảnh hưởng xấu đến đời sống sản xuất của nhân dân Mùa khô thường bị hạn hán gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp
3.1.4.2 Thủy văn
- Nguồn nước mặt:
Do đặc điểm sông suối nhỏ hẹp, lưu lượng nước ít, địa hình đồi núi phức tạp, đồng ruộng manh mún nên việc xây dựng, khai thác các công trình thủy lợi quy mô lớn rất khó khăn, tốn kém Tuy nhiên, nhờ mật độ sông suối dày nên có thể đầu tư, xây dựng những công trình thủy lợi vừa và nhỏ để khai thác nước phục vụ sản xuất Nước sinh hoạt sử dụng chủ yếu từ nguồn nước các khe suối, một số nơi sử dụng giếng đào Nguồn nước hầu hết chưa qua xử lý nên chất lượng nước chưa đảm bảo
- Nguồn nước ngầm:
Nước ngầm thường ở độ sâu từ 14 – 18 m và thay đổi theo địa hình Hiện tại
nước ngầm chỉ sử dụng cho sinh hoạt một số nơi (bằng giếng đào) Nước ngầm là
nguồn nước dự trữ quan trọng, đặc biệt là ở những nơi nguồn nước mặt hạn chế hoặc bị ô nhiễm
3.1.5 Tình hình dân sinh kinh tế
Diện tích tự nhiên của huyện là 82.235 ha, tức là 822,35 km², với 10 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm các xã: Trà Dơn, Trà Leng, Trà Vân, Trà Vinh, Trà Tập, Trà Dơn, Trà Nam, Trà Cang, Trà Mai, Trà Linh Dân số toàn huyện trên 24 ngàn người, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm hơn 97 % dân số, sống phân tán (gồm các
Trang 29dân tộc Ca Dong (Xê Đăng), M'Nông, Co) dân tộc Kinh chiếm chưa đến 3 % dân số
toàn huyện Mật độ dân cư 29 người/km² (Điều tra năm 2006)
Cùng với Bắc Trà My, huyện là vùng trồng Quế nổi tiếng của tỉnh Quảng Nam Do có điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu phù hợp: Độ cao địa hình khoảng 400 – 800 m nên biên độ nhiệt giữa ngày và đêm lớn, khí hậu nhiệt đới lại được đèo Hải Vân chắn hết gió lạnh thổi từ phía Bắc, rất thích hợp với cây Quế, nên cây Quế phát triển rất tốt ở các xã Trà Dơn, Trà Leng, Trà Tập, Trà Mai, Trà Vân Cây Quế vùng này có hàm lượng tinh dầu rất cao Ngoài Quế, Nam Trà My còn có một số dược liệu nổi tiếng khác như Sâm Ngọc Linh, Sơn Trà Ngọc Linh, Sâm Nam
Dân số trong độ tuổi lao động có 10.374 người, chiếm 46,13 % dân số, tốc
độ tăng nguồn lao động bình quân hàng năm khoảng 0,029 %, hàng năm tăng khoảng 300 người
Cơ cấu lao động của huyện thể hiện đặc trưng của nền kinh tế nông nghiệp,
với 9.739 lao động nông nghiệp (chiếm 93,88 %) Nhìn chung, tốc độ chuyển dịch
cơ cấu lao động chậm, năng suất lao động thấp, đời sống người lao động nhiều khó khăn, lực lượng lao động phần lớn là lao động phổ thông chưa qua đào tạo
Đặc điểm của lao động của huyện là lao động phổ thông chưa qua đào tạo hoặc truyền nghề, chưa quen làm việc với phong cách công nghiệp Toàn huyện có trên 97 % là dân tộc ít người, với 72,68 % thuộc diện đói nghèo, đa số chưa có việc
làm thường xuyên (lao động nhàn rỗi khi mùa vụ kết thúc, chưa sử dụng hết khả năng lao động vào ngành nghề khác) Sự cần thiết phải tập trung dạy nghề và giải
quyết việc làm cho số lao động này là vấn đề cần thiết và cấp bách Đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật và công nhân lành nghề không đáng kể, đào tạo lại quá chậm, khả năng thu hút chất xám từ nơi khác đến không cao
Kết cấu hạ tầng đã có bước cải thiện đáng kể Thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư xã hội, nhiều chương trình, dự án đã được thực hiện Đã cơ bản hoàn thành
xây dựng hệ thống giao thông về các xã (7/10 xã có đường giao thông đến trung tâm xã); mạng lưới điện được mở rộng; mạng lưới bưu chính viễn thông ngày càng
được hiện đại hóa; các trụ sở làm việc ở xã, huyện; các cơ sở y tế, giáo dục được nâng cấp và xây dựng mới đã góp phần quan trọng tăng trưởng kinh tế
Trang 303.2 Nội dung nghiên cứu
Để đáp ứng mục tiêu nghiên cứu đã được xác định, các nội dung được tiến hành nghiên cứu trong khóa luận bao gồm:
- Xác định tổ thành loài thực vật
- Phân bố số cây theo cấp chiều cao (N/Hvn)
- Phân bố số cây theo cấp đường kính (N/D1,3)
- Tương quan giữa chiều cao và đường kính (H/D1,3)
- Xác định độ hỗn giao của rừng
- Phân bố trữ lượng theo cấp đường kính (M/D1,3)
- Phân bố của lớp cây tái sinh
- Xác định độ tàn che của rừng thông qua việc vẽ trắc đồ theo phương pháp
vẽ trắc đồ của David và Richards
- Sơ bộ đề xuất các biện pháp kĩ thuật lâm sinh
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
3.3.1.1 Phương pháp thu thập số liệu cơ bản
- Thu thập tài liệu có liên quan đến đề tài, kế thừa những tài liệu có sẵn (điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu ), kế thừa thành quả nghiên cứu của các tác giả đi trước làm cơ sở lựa chọn hướng nghiên cứu đơn giản, phù hợp với đối tượng nghiên cứu
- Trên cơ sở tài liệu thu thập được về diện tích đất đai và bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng, tiến hành điều tra, khảo sát sơ bộ khu vực nghiên cứu
3.3.1.2 Phương pháp điều tra
* Lập ô tiêu chuẩn:
Áp dụng các quy trình điều tra trong các công tác ngoại nghiệp để điều tra trên các ô mẫu điển hình Đề tài tiến hành lập 3 ô tiêu chuẩn tạm thời theo phương pháp điều tra lâm học, diện tích mỗi ô là 2000 m² (40 m x 50 m), đại diện cho tình hình sinh trưởng ở trạng thái rừng IIIA2 Số lượng ô mẫu cho trạng thái này là 3 ô
* Điều tra tầng cây cao (cây gỗ lớn):
Trang 31- Trong ô tiêu chuẩn (2000 m²) mô tả các chỉ tiêu như vị trí, độ dốc, hướng phơi, độ cao, lịch sử tác động, Sau đó xác định tên loài và các chỉ tiêu sinh trưởng của tầng cây cao, loài nào chưa rõ ghi ký hiệu sp1, sp2
- Đường kính ngang ngực (D1,3, cm) được đo bằng thước mét dây và ghi số hiệu cây ở vị trí 1,3 m Đo toàn bộ cây đứng có đường kính D1,3 ≥ 6 cm
- Chiều cao vút ngọn (Hvn, m) và chiều cao dưới cành (Hdc, m) được đo bằng gậy đo cao kết hợp mục trắc Chiều cao Hvn của cây rừng được xác định từ gốc cây đến đỉnh sinh trưởng của cây Chiều cao Hdc được xác định từ gốc cây đến cụm cành đầu tiên tham gia vào tán của cây rừng
- Đường kính tán lá (DT, m) được đo bằng thước mét dây Đo hình chiếu tán
lá trên mặt phẳng ngang theo hai hướng Đông Tây và Nam Bắc, sau đó tính trị số bình quân
- Xác định phẩm chất cây: Phẩm chất cây phân theo 3 loại a, b, c và ghi chú tình hình dây leo ảnh hưởng trực tiếp đến cây đứng
+ Loại a: Cây thân thẳng, phát triển tốt, tán cân đối, không có hiện tượng sam bọng, sâu bệnh, cụt ngọn, hai thân
+ Loại b: Thân cong, phát triển trung bình, tán mất cân đối, không có hiện tượng sam bọng, sâu non
+ Loại c: Thân cong queo, phát triển kém, cụt ngon, có từ hai thân trở lên, có hiện tượng sam bọng, sâu bệnh
- Kết quả đo được thống kê vào phiếu điều tra tầng cây gỗ lớn
* Điều tra cây tái sinh:
Trong ô tiêu chuẩn 2000 m², tiến hành lập 4 ô dạng bản, diện tích mỗi ô dạng bản là 25 m² (5 m x 5m) được thiết kế ở 4 góc của ô tiêu chuẩn Thống kê tất cả cây tái sinh vào phiếu điều tra theo các chỉ tiêu
+ Tên loài cây tái sinh, loài nào chưa rõ có thể ghi sp1,sp2
+ Xác định mật độ cây tái sinh, thành phần cây tái sinh
+ Chiều cao phân thành 4 cấp: H < 1 m ; H : 1 – 2 m ; H : 2 – 3 m và H > 3
m ở những cây có D1,3 < 6 cm Đo chiều cao cây tái sinh bằng sào
+ Chất lượng cây tái sinh: Được phân thành 2 loại: Khỏe và yếu
Trang 32Cây khỏe: Là cây luôn xanh, sinh trưởng và phát triển tốt, không bị sâu hại, không có biểu hiện bị ức chế
Cây yếu: Được phản ánh bằng sức sinh trưởng kém và không ổn định, cây bị sâu hại nặng, cây đang chết từng phần hoặc bị gãy đỗ
+ Điều tra số lượng cây tái sinh
+ Số liệu điều tra được ghi biểu riêng cho từng ô dạng bản
3.3.2 Phương pháp phân tích và tính toán số liệu
Số liệu đo đếm trước khi đưa vào phân tích được kiểm tra lại nhằm loại bỏ các số liệu khác biệt so với tổng thể chung trong quá trình đo đếm Sau đó nhập số liệu vào máy tính để xử lý, phân tích tính toán bằng phần mềm Excel hoặc Statgraphics Centurion V 15.1 dưới sự hướng dẫn của thầy Nguyễn Minh Cảnh
Các nhân tố điều tra, đo đếm trong ô tiêu chuẩn được tổng hợp, xử lý và tính toán bao gồm:
+ Tính tổ thành loài (IV%)
+ Tính các đặc trưng mẫu: D1,3 bình quân, Hvn bình quân, N/ha bình quân, trữ lượng bình quân
+ Xác định phân bố N theo cấp D1,3, phân bố N theo H, phân bố M theo cấp
D1,3, tương quan giữa H và D1,3 Cho trạng thái rừng IIIA2
+ Đánh giá tình hình tái sinh của loài cây dưới tán rừng
+ Vẽ trắc đồ cho trạng thái rừng đang nghiên cứu, tính toán độ tàn che
Cụ thể như sau:
Trang 333.3.2.1 Cấu trúc tổ thành loài (tầng cây gỗ)
Để tính toán xác định tổ thành loài cây, đề tài sử dụng công thức của Daniel Marmillod (Vũ Đình Huề, 1984) :
Ni : là % theo số cây của loài i trong quần xã thực vật rừng
Gi: là % theo tổng diện ngang của loài i trong quần xã thực vật rừng Theo Daniel Marmillod, những loài cây có IV ≥ 5 % mới thực sự có ý nghĩa
về mặt sinh thái trong lâm phần Theo thái văn trừng (1978), trong một lâm phần nhóm loài cây nào đó lớn hơn 50 % tổng số cá thể của tầng cây cao thì nhóm loài đó được coi là nhóm loài ưu thế Cần tính tổng IV % của những loài có trị số này lớn hơn 5 %, xếp từ cao xuống thấp và dừng lại khi tổng IV % đạt 50 %
3.3.2.2 Tính toán mật độ cây gỗ lớn trong rừng (N/ha)
Mật độ (số cây/ha) được xác định bằng công thức sau:
N/ha =
S
n
× 10.000 Trong đó :
n: Tổng số cá thể trong 3 ô tiêu chuẩn
S: Diện tích của 3 ô tiêu chuẩn (6000 m²)
Trang 343.3.2.4 Tính toán tiết diện ngang (G, m²/cây) và thể tích thân cây (V, m 3 /cây)
+ Tính tiết diện ngang của các cây trong ô tiêu chuẩn theo công thức:
G =4
π × D2
3 , 1
+ Tính thể tích thân cây đứng được xác định theo công thức:
V=
4
π ×
D2 3 ,
1 × H × f1,3 (với f1,3 = 0,45)
3.3.2.5 Tính toán độ tàn che của rừng
Kết hợp quan trắc và phẫu đồ ngang để xác định tỉ lệ che phủ (%) hình chiếu tán cây rừng so với bề mặt đất rừng theo phương pháp vẽ trắc đồ của David và Richards
3.3.2.6 Phương pháp đánh giá tái sinh rừng
+ Tổ thành cây tái sinh
Xác định số cây trung bình theo loài dựa vào công thức: n =
m
nim
+ Mật độ cây tái sinh:
Là chỉ tiêu biểu thị số lượng cây tái sinh trên một đơn vị diện tích, được xác định theo công thức sau:
N/ha =
sodb
n
×000.10
Với S là tổng diện tích các ô dạng bản điều tra tái sinh (m²) và n là số lượng cây tái sinh điều tra được Cụ thể, tổng diện tích các ô dạng bản điều tra tái sinh là:
300 m² (4 ô dạng bản/1 ô tiêu chuẩn x 25 m²/1 ô dạng bản x 3 ô tiêu chuẩn = 300 m²)
3.3.2.7 Phương pháp tính toán các đặc trưng mẫu và mô hình hóa
Để phục vụ cho việc phân bố số cây theo các chỉ tiêu D1,3, H, đề tài tập hợp số liệu theo hình thức chia tổ như sau:
Trang 35+ Số tổ: m = 5*log(n) hay m= 3,3*log(n) + 1
Phương sai: S² =
( )
1
.
1
2 2
−
−
n n
xi fi xi
Sai tiêu chuẩn trung bình mẫu: Sx =
n S
Biên độ biến động: R= Xmax - Xmin
Các đặc trưng mẫu được tính toán trực tiếp bằng các phần mềm Excel 2003 hoặc Statgraphics Centurion V 15.1
- Sau đó dựa vào đường phân bố thực nghiệm, lựa chọn các hàm toán học (hàm lý thuyết) phù hợp để mô phỏng các quy luật phân bố N/D1,3, N/H, H/D1,3
Việc mô hình hóa quy luật phân bố số cây theo các chỉ tiêu D1,3, H được thực hiện trên phần mềm Statgraphics Centurion V 15.1 Thử nghiệm lần lượt và so sánh
Trang 36để lựa chọn hàm tốt nhất căn cứ vào hệ số tương quan (lớn nhất), sai số phương trình (nhỏ nhất), các tham số phương trình đều tồn tại, dạng phân bố phải phù hợp, đồng thời cũng phù hợp với đặc tính sinh học hoặc tính quy luật của đối tượng nghiên cứu, phương trình dễ vận dụng ngoài thực tế và tính toán không quá phức tạp
3.3.2.8 Phương pháp kiểm tra giả thuyết về luật phân bố
Cho giả thuyết H0: F(x) = F0(x), trong đó F0(x) là một hàm phân bố hoàn toàn xác định Để kiểm tra giả thuyết H0, người ta dùng tiêu chuẩn phù hợp khi bình phương (χ2) của Pearson:
2
e e
2 0
Trong đó:
f0 là trị số thực nghiệm
fe là trị số lý thuyết Nếu χ 2tính ≤ χ 0 , 05 tra bảng với bậc tự do df= m - p - 1 (p là tham số của phân bố lý thuyết cần ước lượng, m là số tổ sau khi gộp) thì phân bố lý thuyết phù hợp với phân bố thực nghiệm (H−0)
3.3.2.9 Phương pháp đánh giá tương quan hồi quy
Áp dụng phương pháp phân tích hồi quy và tương quan để mô hình hóa một đường hồi quy thực nghiệm theo một dạng toán học nào đó Việc chọn một hàm lý thuyết thích hợp nhất ngoài căn cứ vào các thông số thống kê có được từ các phương trình xây dựng, kiểm tra sự tồn tại của các tham số phương trình, kiểm tra
sự tồn tại của các hàm hồi quy (logic toán học), còn phải căn cứ vào tính phù hợp với quy luật sinh trưởng và phát triển của rừng (logic sinh học) Nhìn chung, phương pháp để thiết lập một phương trình hồi quy là:
Thử nghiệm một số dạng phương trình toán học
Xác định hệ số tương quan (r)
Chỉ tiêu r có thể (+) hoặc (-), biểu thị mối quan hệ giữa hai nhân tố điều tra (X và Y) là đồng biến hay nghịch biến Giá trị r được đánh giá như sau:
Trang 37r = 0 : Không có tương quan
0 < /r/ ≤ 0,3 : Tương quan yếu
0,3 < /r/ ≤ 0,5 : Tương quan vừa phải
0,5 < /r/ ≤ 0,7 : Tương quan chặt
0,7 < /r/ ≤ 0,9 : Tương quan rất chặt
/r/ = 1 : Tương quan hàm số
Tính các tham số của mô hình bằng phương pháp hồi quy
Kiểm tra sự tồn tại của các tham số phương trình
Về phương diện lý thuyết, (1) kiểm tra sự tồn tại của phương trình (hàm hồi quy) bằng trắc nghiệm F thông qua việc so sánh số Ftính với trị số Fbảng với hai độ tự
do df1= 1 và df2= n-2 Nếu Ftính > Fbảng thì giả thuyết H0 bị bác bỏ Ngược lại, nếu
Ftính < Fbảng thì giả thuyết H0 được chấp nhận, nghĩa là hàm hồi quy không tồn tại thật sự: (2) Kiểm tra sự tồn tại của các tham số phương trình bằng trắc nghiệm T thông qua việc so sánh trị số Ttính với trị số Tbảng với độ tự do df = n – 2 nếu Ttính >
Tbảng thì giả thuyết H0 bị bác bỏ Ngược lại thì giả thuyết H0 được chấp nhận Tuy nhiên, việc xử lý và tính toán hiện nay được thực hiện trên phần mềm (Excel, Statgraphics ), các kết quả thu được bên cạnh những giá trị Ftính hay Ttính còn có mức xác suất tương ứng của nó (significance F, hay P – value tùy từng phần mềm), chúng ta chỉ cần so sánh mức xác suất này với mức ý nghĩa cho phép (α = 0,05) Nếu giá trị tính được này nhỏ hơn 0,05 nghĩa là phương trình tồn tại (significance F
< 0,05), p – value < 0,05 nghĩa là tham số phương tồn tại (khác 0) (trích nguồn Nguyễn Minh Cảnh, 2009)
Trang 38Chương 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Hệ sinh thái rừng được hình thành, tồn tại và phát triển theo quy luật khách quan và được phản ánh thông qua cấu trúc rừng Muốn tìm hiểu và đánh giá hiện trạng sinh trưởng và sức khỏe của rừng, thành phần loài thực vật, sự phân bố cây rừng trên mặt đất rừng nhằm hướng sự phát triển của rừng theo mục đích có lợi thì cần thiết phải nghiên cứu cấu trúc rừng Trong đó, cấu trúc tổ thành là một nhân tố rất quan trọng, vì nó biểu thị tỉ trọng của mỗi loài cây hay nhóm loài cây nào đó trong tổng thể rừng Cấu trúc tổ thành loài khác nhau sẽ dẫn đến sự khác nhau tương ứng về các đặc trưng cấu trúc khác của rừng, và do vậy, các biện pháp quản
lý và kinh doanh rừng, giá trị kinh tế, vai trò bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ nguồn gen cũng rất khác nhau
Mặt khác, cấu trúc rừng nó cũng biểu thị đặc điểm phân bố các cơ quan của các thành phần rừng theo không gian và thời gian (tuổi rừng) Sự phân bố của quần
xã thực vật trong không gian có thể biểu hiện ở hai khía cạnh: Theo chiều thẳng đứng và chiều nằm ngang của rừng, đó là sự phân bố của số cây theo đường kính, phân bố số cây theo chiều cao, phân bố trữ lượng theo cấp kính
Việc tìm hiểu đặc điểm cấu trúc rừng đem lại nhiều ý nghĩa khác nhau Trước hết đó là thông tin cơ bản để so sánh và phân loại giữa các quần thể thực vật rừng với nhau Bên cạnh đó, cấu trúc quần xã thực vật còn là kết quả phản ánh mối quan hệ qua lại phức tạp giữa các loài cây với nhau, giữa thực vật và các vật sống khác, cũng như giữa thực vật và môi trường Một lâm phần bất kỳ tuyệt nhiên không phải là sự tổ hợp ngẫu nhiên của các thành phần, ngược lại sự tổ hợp ấy là có nguyên nhân, nghĩa là có sự chọn lọc mang tính quy luật của chúng trong tự nhiên Nói cách khác, sự hình thành cấu trúc rừng là do ảnh hưởng qua lại giữa thực vật và môi trường sống của chúng
Trang 39Thông qua cấu trúc rừng, giúp chúng ta có thể hiểu được tính chất phức tạp của hệ thực vật rừng, các yếu tố và các quan hệ qua lại giữa các thành phần quần xã thực vật Ngoài ra, nghiên cứu cấu trúc rừng còn cho phép nhận được nhiều chỉ dẫn tốt về sinh thái cảnh và sinh vật cảnh của quần xã thực vật Chính vì thế, khi mô tả cấu trúc bất kỳ quần xã thực vật nào cũng đều phải đi kèm theo sự chỉ dẫn về các nguyên nhân sinh thái Tuy nhiên, vì tính phức tạp của hệ sinh thái rừng tự nhiên Việt Nam, nhất là sự đa dạng và phong phú về mặt lâm học nên đề tài này chỉ giới hạn trong việc tìm hiểu một số đặc điểm cơ bản về cấu trúc rừng như sau:
4.1 Cấu trúc tổ thành loài thực vật – trạng thái IIIA 2
Cấu trúc tổ thành loài thực vật đề cập đến sự tổ hợp và mức độ tham gia của các thành phần thực vật trong quần xã, đối tượng là loài cây Tổ thành loài là một trong những chỉ tiêu cấu trúc quan trọng, nó cho biết số loài cây và tỉ lệ của mỗi loài hay một nhóm loài cây nào đó trong lâm phần Tổ thành loài còn là chỉ tiêu dùng để đánh giá mức độ đa dạng sinh học, tính ổn định, tính bền vững của hệ sinh thái rừng Cấu trúc tổ thành của một lâm phần rừng nói lên toàn bộ giá trị của lâm phần
Trong điều tra lâm học, để biểu thị tổ thành rừng người ta thường sử dụng dưới dạng công thức tổ thành Về bản chất, công thức tổ thành có ý nghĩa sinh học sâu sắc, phản ánh mối quan hệ qua lại giữa các loài cây trong một quần xã thực vật
và mối quan hệ qua lại giữa quần xã thực vật với điều kiện ngoại cảnh
Nghiên cứu cấu trúc tổ thành loài đối với tầng cây gỗ lớn là nghiên cứu về thành phần và tương quan số lượng đơn vị cá thể của loài so với chỉ tiêu tương ứng của tất cả các loại hình thành rừng, đơn vị tính theo phần mười hay phần trăm (%) Nghiên cứu cấu trúc tổ thành loài là công việc quan trọng nhằm lựa chọn các biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp với từng loại hình rừng Cấu trúc tổ thành loài khác nhau sẽ dẫn đến sự khác nhau tương ứng về đặc trưng cấu trúc khác của rừng
Trong hệ sinh thái rừng tự nhiên nhiệt đới, hệ thực vật hết sức phong phú và phức tạp thể hiện ở chổ, trong một khoảng không gian nhất định, thậm chí chỉ một vài hecta, có thể bắt gặp hàng chục, hàng trăm loài cây gỗ, cây bụi, dây leo và thảm tươi cùng định cư, có những loài bắt gặp phổ biến, nhưng cũng có một số loài rất ít bắt gặp; một loài có thể ít gặp nơi này nhưng lại phong phú ở nơi khác Chính sự
Trang 40pha trộn giữa các loài cây một cách ngẫu nhiên như vậy khiến chúng ta khó nhận ra
ranh giới rõ ràng giữa các quần xã thực vật
Trong đề tài này, để nghiên cứu cấu trúc tổ thành loài thực vật tại khu vực
nghiên cứu, đề tài sử dụng chỉ số IV% (Important Value) để biểu thị công thức tổ
thành loài tính cho tầng cây gỗ ở rừng tự nhiên trạng thái IIIA2 tại khu vực nghiên
cứu Kết quả tính toán cụ thể về tổ thành các loài cây chủ yếu tại khu vực nghiên cứu được sắp xếp theo thứ tự giảm dần tính cho cả khu vực được trình bày trong bảng 4.1 và hình 4.1 dưới đây:
Bảng 4.1 Tổ thành loài thực vật trạng thái IIIA 2 tại khu vực nghiên cứu