1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kháng nghị phúc thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự việt nam từ thực tiễn tỉnh quảng ngãi

90 187 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi giải quyết, xét xử vụ án theo thủ tục sơ thẩm, vai trò của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa rất quan trọng vì phải chứng minh trong giai đoạn chuẩn bị xét xử bằng việc kiểm tra, đánh giá

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS VÕ THỊ KIM OANH

HÀ NỘI, năm 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập của tác giả Các số liệu và kết quả phân tích đánh giá nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa được công bố ở bất kỳ một công trình nào khác Các số liệu, thông tin trích dẫn trên luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Ngô Quang Vũ

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 7

1.1 Khái niệm, nội dung, đặc điểm, ý nghĩa của kháng nghị phúc thẩm 7

1.2 Cơ sở của việc quy định kháng nghị phúc thẩm 14

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNGTẠI TỈNH QUẢNG NGÃI 16

2.1 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển các quy định về kháng nghị phúc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam 16

2.2 Quy định của Bộ luật tố tụng hình 2015 về kháng nghị phúc thẩm 17

2.3 Căn cứ kháng nghị phúc thẩm 25

2.4 Thực tiễn kháng nghị phúc thẩm tại tỉnh Quảng Ngãi 25

2.5 Vướng mắc, hạn chế và nguyên nhân 38

CHƯƠNG 3 YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM TẠI TỈNH QUẢNG NGÃI 60

3.1 Yêu cầu nâng cao hiệu quả kháng nghị 60

3.2 Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kháng nghị phúc thẩm 65

KẾT LUẬN 80 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

BẢNG VIẾT TẮT

6 Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã TAND huyện

7 Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung

ương

TAND tỉnh

10 Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao HĐTPTANDTC

12 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 BLHS 1999

13 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 BLHS 2015

19 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 LTCTAND 2002

20 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 LTCTAND 2014

21 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 LTCVKSND 2002

22 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 LTCVKSND 2014

Trang 6

STT CHỮ RÕ CHỮ VIẾT TẮT

27 Người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự NBVQLHPCĐS

31 Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan NCQL&NVLQ

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự thì thủ tục xét xử sơ thẩm là trung tâm; điều đó đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành

tố tụng phải luôn cố gắng thực hiện tốt nghĩa vụ chứng minh mới lựa chọn, áp dụng đúng, đầy đủ, kịp thời các quy định của pháp luật tố tụng, pháp luật nội dung, pháp luật chuyên ngành…v v…và các văn bản hướng dẫn để giải quyết đúng đắn vụ án

Khi giải quyết, xét xử vụ án theo thủ tục sơ thẩm, vai trò của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa rất quan trọng vì phải chứng minh trong giai đoạn chuẩn bị xét xử bằng việc kiểm tra, đánh giá chứng cứ vụ án để ra quyết định tố tụng đúng đắn, kịp thời; vừa có trách nhiệm thu thập hoặc yêu cầu Viện kiểm sát thu thập chứng cứ; nếu không ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung, quyết định đình chỉ hoặc quyết định tạm đình chỉ vụ án, mà ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, thì phải tiến hành rất nhiều công việc để phục vụ hoạt động xét xử sơ thẩm; tại phiên tòa sơ thẩm, chủ tọa phải chấp hành đúng và đầy đủ tất cả các trình tự, thủ tục tố tụng trong quá trình xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản của

cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn, cùng Hội đồng xét xử nghị án và nhân danh Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhân danh công lý ra bản án, quyết định giải quyết vụ án

VKSND với chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động

tư pháp Đối tượng của công tác kiểm sát hoạt động tư pháp là việc tuân thủ pháp luật của chủ thể có thẩm quyền trong họat động tư pháp Viện kiểm sát có nhiệm vụ quyền hạn kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm những bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết vụ án và các quyết định khác theo quy định của pháp luật (bao gồm của Tòa án cùng cấp và của Tòa án cấp dưới trực tiếp chưa có hiệu lực pháp luật ) khi cho rằng bản án hoặc quyết định đó có vi phạm pháp luật mà đủ các căn cứ pháp lý kháng nghị; để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết vụ án, quyết định bị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm với hậu quả pháp lý theo quy định của pháp luật

tố tụng hình sự Thực tiễn nhiều năm qua trên toàn quốc cũng như tỉnh Quảng Ngãi

Trang 8

cho thấy Viện kiểm sát đã kháng nghị phúc thẩm không ít những bản án, quyết định

sơ thẩm của Hội đồng xét xử, quyết định sơ thẩm của Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa với nội dung và phạm vi kháng nghị rất đa dạng Sau khi cấp phúc thẩm giải quyết kháng nghị, tùy theo từng vụ án cụ thể mà không ít trường hợp khi điều tra lại dẫn đến thay đổi tội danh khởi tố, khởi tố bổ sung tội, khởi tố thêm người phạm tội, truy cứu chuyển khung tăng nặng, bổ sung các chứng cứ quan trọng của vụ án; sửa án cơ thẩm không cho bị cáo hưởng án treo; hủy quyết định sơ thẩm

…điều đó góp phần nâng cao chất lượng tố tụng, trong đó có hoạt động xét xử theo các thủ tục nói riêng Tuy nhiên, có những trường hợp kháng nghị thiếu căn cứ hoặc không cần thiết nên không được cấp phúc thẩm chấp nhận; ngược lại, có trường hợp

đủ căn cứ nhưng không được kháng nghị hoặc có kháng nghị nhưng không được chấp nhận

Góp phần thực hiện Nghị quyết số 49 của Bộ chính trị về chiến lược Cải cách tư pháp, Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự mới trong đó có yêu cầu nâng cao chất lượng hoạt động tố tụng hình sự nên tác giả làm Luận văn với đề tài

“Kháng nghị phúc thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi”

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Liên quan đến đề tài đã có nhiều văn bản, công trình nghiên cứu và có nhiều bài viết trên một số tạp chí, báo về công tác kháng nghị theo các thủ tục, trong đó có

thủ tục phúc thẩm, như: bài viết “Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền”, của PGS.TS Lê Văn Cảm (Tạp

chí Kiểm sát số 15 tháng 8/2010 và 17 tháng 9/2010); Luận văn Thạc sỹ luật học -

Học viện Khoa học xã hội Việt Nam, năm 2015 “Chứng minh trong tố tụng hình sự

Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi”, Khóa luận tốt nghiệp Đại học Luật thành

phố Hồ Chí Minh (2005) “Thực tiễn kiểm sát hoạt động điều tra trong tố tụng hình

sự”, và các bài viết: “Kháng nghị phúc thẩm để bảo vệ quyền lợi cho công dân”

(Báo Bảo vệ pháp luật số Chuyên đề tháng 9/2007), “Qua một vụ đáo tụng đình” (Báo Bảo vệ pháp luật số Chuyên đề tháng 7/2010), “Dấu ấn sâu sắc từ một vụ án” (Báo Bảo vệ pháp luật số Chuyên đề tháng 10/2012), “Hành vi của Phan H có

Trang 9

phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có ” hay chỉ là “vi phạm hành chính” (Tạp chí Kiểm sát số 09 tháng 5/2010), “Kết quả thẩm vấn và tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm hình sự” (Tạp chí Nghề Luật, số 01/2011) của tác giả

Dương Ngọc An; Bài viết “Một số ý kiến về vấn đề công bằng trong phán quyết của

Tòa án đối với vụ án hình sự” của Thạc sỹ Trần Trí Dũng (Tạp chí Kiểm sát số 18

tháng 9/2010); Chỉ thị số 03/2008/CT-VKSTC-VPT1 ngày 19/6/2008 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự và Báo cáo số 26/VKS-BC ngày 10/10/2011 của VKSND tỉnh Quảng Ngãi về việc tổng kết 3 năm thực hiện Chỉ thị này….Hiện nay chúng tôi chưa được biết có tác giả nào nghiên cứu đề tài này ở tầm luận văn hoặc luận án trong địa bàn cấp tỉnh hay toàn quốc

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm đánh giá, tổng kết hiệu quả kháng nghị phúc thẩm thông qua kết quả xét xử phúc thẩm xét kháng nghị, mà sau đó không phát sinh thủ tục giám đốc thẩm; đồng thời có sự kết hợp với nghiên cứu các yếu tố có liên quan đến hoạt động kháng nghị phúc thẩm theo quan điểm Triết học Mác – xít, để có căn cứ nêu ra những ưu điểm, vướng mắc, hạn chế và nguyên nhân

Từ đó, căn cứ quy định pháp luật thực định về kháng nghị và xét xử phúc thẩm, gắn với chủ trương của Đảng về chiến lược cải cách tư pháp, tác giả đề xuất một số giải pháp thực tế để góp phần nâng cao hiệu quả kháng nghị và xét xử phúc thẩm, nâng cao chất lượng điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm nhằm thực hiện tốt LTCTAND và LTCVKSND năm 2014, các bộ luật, đạo luật hiện hành nhất là BLHS và BLTTHS mới, góp phần bổ sung lý luận

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhiệm vụ đặt ra phải nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về khái niệm, đặc điểm, nội dung của kháng nghị phúc thẩm; Nghiên cứu có tính hệ thống các quy định của BLTTHS và pháp luật liên quan về hoạt động kháng nghị phúc thẩm để thấy những điểm bất cập không phù hợp với thực tiễn nhằm đề xuất sửa đổi hoàn thiện; Khảo sát số liệu và thực tiễn áp dụng các quy định của BLTTHS về kháng

Trang 10

nghị phúc thẩm tại tỉnh Quảng Ngãi, nghiên cứu kết quả xét xử phúc thẩm, xét xử giám đốc thẩm đối ới những vụ án phúc thẩm xét kháng nghị để thấy những kết quả, hạn chế và tìm nguyên nhân hạn chế nhằm đề ra giải pháp nâng cao chất lượng kháng nghị phúc thẩm tại tỉnh Quảng Ngãi

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Xuất phát từ phạm vi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu là các quy định của pháp luật về hoạt động kháng nghị phúc thẩm gắn với thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Ngãi

Hoạt động kháng nghị phúc thẩm là vấn đề rộng, đòi hỏi phải nghiên cứu nhiều lĩnh vực và các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình, chất lượng giải quyết các loại

án hình sự theo các thủ tục của các cơ quan tiến hành tố tụng, nhất là Tòa án trong nhiều địa bàn, nghiên cứu các nhân tố xã hội tác động đến hoạt động kháng nghị, xét xử phúc thẩm xét kháng nghị, kể cả xét kháng cáo và xét xử giám đốc thẩm, nhất là các trường hợp Tòa án kháng nghị, gắn với nghiên cứu hoạt động xây dựng,

áp dụng pháp luật hình sự và các ngành luật khác có liên quan theo các nguyên lý, các quy luật, các phạm trù trong đó có nguyên lý về mối liên hệ phổ biến giữa các

sự vật hiện tượng của chủ nghĩa Mác – Lê nin, kết hợp với vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh và việc thực hiện quan điểm của Đảng ta về chiến lược cải cách tư pháp,

để từ đó có cơ sở tin cậy trong việc xem xét, phân tích, đánh giá hiệu quả công tác kháng nghị phúc thẩm và đưa ra các giải pháp đồng bộ

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Với phạm vi luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng Hình

sự, luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng đối với hoạt động kháng nghị phúc thẩm thông qua hoạt động xét xử theo thủ tục phúc thẩm trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian qua (2007 – 2017)

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lê nin và quan điểm của Đảng ta, tư tưởng Hồ Chí Minh về vận dụng lý luận Mác - xít vào

Trang 11

quá trình thực tiễn cách mạng Việt Nam trong các lĩnh vực của đời sống xã hội như

về bản chất nhà nước và pháp luật, nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa, đấu tranh giai cấp, quyền con người, hoạt động áp dụng pháp luật, chủ trương của Đảng

và pháp luật của Nhà nước ta về cải cách tư pháp, về đấu tranh phòng chống tội phạm

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp lịch sử - cụ thể, so sánh, quy nạp, phân tích, tổng hợp, thống kê để nghiên cứu hồ sơ án sơ thẩm, phúc thẩm, các văn bản tố tụng, biên bản phiên tòa, biên bản nghị án, bản án sơ thẩm, quyết định kháng nghị phúc thẩm, bản án phúc thẩm, tham dự nhiều phiên tòa sơ thẩm của 2 cấp, phiên tòa phúc thẩm xét kháng nghị, các báo cáo tổng kết công tác năm, các báo cáo chuyên đề của TAND tỉnh Quảng Ngãi về tổng kết kinh nghiệm xét xử, các báo cáo tổng kết năm, các kết luận kiểm tra, báo cáo tổng kết hoạt động kháng nghị phúc thẩm của VKSND tỉnh Quảng Ngãi, tham khảo ý kiến chuyên gia, người tiến hành tố tụng…v…v…

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Kết quả nghiên cứu và giải pháp trong luận văn góp phần cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn về quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự, hoạt động xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, hoạt động kháng nghị và xét xử phúc thẩm nhằm góp phần nâng cao chất lượng trong quá trình tố tụng hình sự tại tỉnh Quảng Ngãi để bảo đảm điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và kịp thời, đảm bảo các bản án, quyết định có đủ căn cứ kháng nghị phải được kháng nghị; không bỏ lọt người phạm tội, không làm oan người vô tội, không làm sai, góp phần bảo đảm pháp chế thống nhất để phục vụ tích cực các mục tiêu phát triển của địa phương

Luận văn còn có thể cung cấp thông tin cho người quan tâm để ứng dụng trong thực tiễn quá trình giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, trong điều tra, truy tố, xét xử theo các thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm và hoạt động kháng nghị theo các thủ tục, góp phần nâng cao hiệu quả

Trang 12

trong đấu tranh phòng chống tội phạm trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi nói riêng, trên phạm vi toàn quốc nói chung

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo xây dựng pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự về hoạt động chứng minh của các cơ quan tiến hành tố tụng, trong đó có hoạt động kháng nghị và xét xử phúc thẩm, góp phần tích lũy tri thức, kinh nghiệm trong hoạt động tố tụng, phục vụ hoạt động quản lý hành chính – tư pháp, ngăn chặn vi phạm trong hoạt động tư pháp, phục vụ công tác nghiên cứu, học tập

7 Cơ cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm ba chương; mỗi chương đều được kết luận và có kết luận chung; kết cấu như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về kháng nghị phúc thẩm trong tố tụng hình

sự

Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về kháng nghị phúc thẩm

và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Ngãi

Chương 3: Nhu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quả kháng nghị phúc thẩm tại tỉnh Quảng Ngãi

Trang 13

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM

TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1.1 Khái niệm, nội dung, đặc điểm, ý nghĩa của kháng nghị phúc thẩm

1.1.1 Khái niệm kháng nghị phúc thẩm

Theo Từ điển Tiếng Việt của tác giả Phan Canh (Nhà xuất bản Mũi Cà Mau,

1997, tr 675), thì “Kháng nghị” là “bày tỏ ý kiến phản kháng một việc gì” Theo

https://vi.wiktionary.org/wiki/kháng nghị, thì “Kháng nghị” được hiểu là: “Bày tỏ ý

kiến chống lại điều đã quyết nghị” (Tác giả Hồ Ngọc Đức, Dự án Từ điển Tiếng

Việt) Chúng tôi đồng tình cao đối với quan điểm của tác giả Hồ Ngọc Đức khi vận dụng vào đề tài nghiên cứu cũng như quy định về các thủ tục xét xử trong tố tụng hình sự, trong đó có thủ tục phúc thẩm theo pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam từ trước đến nay

Tuy nhiên, qua nghiên cứu các quy định của pháp luật chuyên ngành, pháp luật tố tụng của Nhà nước ta trong lịch sử lập pháp, chúng tôi có thể đưa ra quan

điểm sau đây về cụm từ này: “Kháng nghị” - là sự phản ứng, phản kháng của chủ

thể nhân danh cơ quan có thẩm quyền, được thể hiện bằng văn bản với đầy đủ các yêu cầu về trình tự, thủ tục, căn cứ, phạm vi kháng nghị, hướng kháng nghị, thời hạn kháng nghị theo quy định của pháp luật trong từng trường hợp cụ thể đối với sản phẩm áp dụng pháp luật (bao hàm cả sự tuân thủ pháp luật, sử dụng pháp luật, thi hành pháp luật - gọi chung là áp dụng pháp luật) hoặc đối với hành vi pháp lý (thuộc dạng hành động hoặc không hành động) của cơ quan, tập thể, người có thẩm quyền đã ban hành sản phẩm hoặc có hành vi pháp lý đó, khi chủ thể ra kháng nghị nêu ra các căn cứ pháp lý cụ thể để cho rằng có vi phạm pháp luật, và yêu cầu chủ thể có sản phẩm hoặc hành vi pháp lý khắc phục hoặc yêu cầu chủ thể có thẩm quyền xét kháng nghị khắc phục hoặc có biện pháp pháp lý yêu cầu cơ quan, cá

nhân khắc phục hậu quả sai lầm, vi phạm đó theo quy định của pháp luật [36]

Chúng tôi cũng chưa thấy có tài liệu chính thống hoặc sự giải thích chính

thức của cơ quan có thẩm quyền về thuật ngữ pháp lý“Phúc thẩm” trong đạo luật

Trang 14

gốc cũng như luật chuyên ngành và các luật tố tụng nói chung, luật tố tụng hình sự

nói riêng Qua tìm hiểu các nguồn thông tin thấy, có một số ý kiến về vấn đề này như sau:“Phúc thẩm, là một thủ tục tố tụng được áp dụng đối với bản án, quyết định

giải quyết vụ án của tòa án chưa có hiệu lực pháp luật nhưng bị phát hiện có những

vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án, thủ tục này là hình thức

đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng” [23]; “Phúc thẩm, là một thủ tục

tố tụng nhằm xét lại bản án, quyết định của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải

quyết vụ án”; “Phúc thẩm, được hiểu là Tòa án đã áp dụng sai luật nội dung vào

giải quyết vụ án Tòa án đã sử dụng những căn cứ dựa vào đó để kết luận vụ việc

không đúng với bản chất sự việc đó”; “Phúc thẩm, là một thủ tục xét xử” Các quan

điểm trên chúng tôi thấy đều có lý

LTCVKSND và các luật tố tụng hiện hành tiếp tục có quy định về VKS có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với các bản án, quyết định sơ

thẩm của Tòa án giải quyết các loại vụ án, vụ việc chưa có hiệu lực pháp luật [21] Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật, chúng tôi cho rằng, Kháng nghị

phúc thẩm nói chung - là một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của VKS theo quy

định của pháp luật hiện hành, được thể hiện bằng một văn bản pháp lý trong đó có nêu rõ ràng và cụ thể quan điểm của VKS khi cho rằng toàn bộ hoặc những phần của bản án hoặc quyết định sơ thẩm giải quyết vụ án của Tòa án cùng cấp hoặc Tòa

án cấp dưới trực tiếp chưa có hiệu lực pháp luật có vi phạm khi áp dụng pháp luật; đồng thời nêu ra căn cứ pháp lý để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết kháng nghị nhằm khắc phục vi phạm đó của Tòa án cấp sơ thẩm đối với bản án, quyết định

bị kháng nghị Kháng nghị phúc thẩm phải đảm bảo các yêu cầu của pháp luật tố tụng về cả hình thức và nội dung thì mới có giá trị pháp lý đầy đủ

Kháng nghị phúc thẩm trong tố tụng hình sự là một dạng cụ thể của kháng nghị phúc thẩm trong tố tụng nói chung, đó là việc người có thẩm quyền của cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử án hình sự áp dụng các quy định của pháp luật ra qyết định kháng nghị đối với một phần hoặc toàn bộ bản án hoặc quyết định sơ thẩm giải quyết vụ án của Tòa án chưa có hiệu lực pháp

Trang 15

luật, để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét lại toàn bộ hoặc một phần bản án, quyết

định sơ thẩm đó bị kháng nghị Từ đó, chúng tôi đưa ra khái niệm sau đây: Kháng

nghị phúc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam, là một văn bản tố tụng do người có thẩm quyền của Viện kiểm sát ban hành can thiệp trực tiếp vào một phần hoặc toàn

bộ bản án hoặc quyết định sơ thẩm giải quyết vụ án hoặc các quyết định khác của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật khi cho rằng có vi phạm, sai lầm nghiêm trọng

đã gây ra hoặc sẽ gây ra hậu quả pháp lý, làm cho những phần của bản án, quyết định bị can thiệp đó không được đưa ra thi hành Kháng nghị phúc thẩm làm phát sinh một quan hệ pháp luật tố tụng hình sự có thể dẫn đến sự thay đổi hoặc chấm dứt hiệu lực pháp luật của một phần hay toàn bộ bản án, quyết định bị kháng nghị thông qua thủ tục xét xử phúc thẩm, ra bản án hoặc quyết định phúc thẩm và thực hiện phán quyết của Tòa án cấp phúc thẩm theo quy định của pháp luật

1.1.2 Nội dung kháng nghị phúc thẩm

Nội dung kháng nghị phúc thẩm đối với bản án, quyết định sơ thẩm giải quyết vụ án hình sự (gọi chung là bản án, quyết định sơ thẩm) chưa có hiệu lực

pháp luật, có thể nói, đó là tất cả các vấn đề liên quan đến kháng nghị khi kháng

nghị đối với toàn bộ hoặc một phần hoặc một số phần của bản án, quyết định sơ thẩm, để cấp phúc thẩm áp dụng các quy định của pháp luật trực tiếp khắc phục vi phạm của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc cấp phúc thẩm yêu cầu cấp có thẩm quyền khắc phục vi phạm của bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng nghị được chấp nhận

Xét về phạm trù “nội dung và hình thức” thì nội dung kháng nghị còn được thể hiện cả về chủ thể kháng nghị, thời hạn kháng nghị, căn cứ kháng nghị, việc bổ sung, thay đổi, rút kháng nghị, hậu quả pháp lý của kháng nghị theo các quy định của pháp luật chuyên ngành, luật tố tụng và các văn bản hướng dẫn thi hành của cơ quan có thẩm quyền, cụ thể nhất là pháp luật tố tụng hình sự

1.1.3 Đặc điểm kháng nghị phúc thẩm

Kháng nghị phúc thẩm hình sự là một trong những quyền năng pháp lý quan trọng, thông qua đó VKS đồng thời thực hiện hai chức năng là quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự Vì là một sản phẩm trong hoạt động áp dụng pháp luật của chủ thể có nhiệm vụ, quyền hạn ban

Trang 16

hành kháng nghị và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kháng nghị đó, kháng nghị

sẽ làm phát sinh quan hệ pháp luật nếu không rút kháng nghị (do hết thời hạn kháng nghị hoặc pháp luật thay đổi hoặc sự kiện pháp lý làm chấm dứt hiệu lực pháp luật của đối tượng bị kháng nghị hoặc hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc kháng nghị không có hoặc không đảm bảo căn cứ pháp lý…), nên hoạt động kháng nghị phúc thẩm có các đặc điểm cơ bản đó là:

- Mang tính nghĩa vụ, tính ý chí, tính quyền lực Nhà nước Kháng nghị phúc

thẩm là quyền năng pháp lý đặc biệt mà Nhà nước chỉ giao cho người có nhiệm vụ quyền hạn trong ngành Kiểm sát Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là công cụ đặc biệt và là một trong những biểu hiện rõ nhất về quyền năng của Viện kiểm sát trong việc thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân Bởi thế, khi phát hiện bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật mà có vi phạm nghiêm trọng gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của một hay nhiều chủ thể trong quan hệ tố tụng hình sự mà có đủ các căn

cứ kháng nghị, thì đòi hỏi người có thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm phải có nghĩa vụ ra kháng nghị để yêu cầu cấp phúc thẩm khắc phục, khôi phục lại trật tự pháp luật Vì thế, việc kháng nghị không chỉ là nhiệm vụ, quyền hạn mà cần phải được nhận thức đúng rằng chính đây chính là nghĩa vụ pháp lý của chủ thể phải ra kháng nghị theo yêu cầu đòi hỏi của Nhà nước Do vậy, việc ra kháng nghị thể hiện tính ý chí, tính quyền lực của nhà nước; không phụ thuộc vào mong muốn hay

không mong muốn của chủ thể có nhiệm vụ quyền hạn ra kháng nghị [42]

- Được tuân theo trình tự, thủ tục, thẩm quyền chặt chẽ theo pháp luật

Kháng nghị phúc thẩm là sản phẩm của hoạt động áp dụng pháp luật của chủ thể có nghĩa vụ, có tính định hướng, can thiệp trực tiếp vào hoạt động xét xử ra bản án, quyết định sơ thẩm giải quyết vụ án hình sự của Tòa án nhân danh Nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thể hiện trình độ văn minh pháp lý, cho nên pháp luật

có quy định chặt chẽ về trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết kháng nghị; do đó, việc ra kháng nghị phải tuân theo trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo đúng các quy định của pháp luật thì mới có giá trị pháp lý; vì chủ thể có thẩm quyền giải quyết

Trang 17

kháng nghị sẽ phải xem xét tính hợp pháp của kháng nghị cả về thẩm quyền về hình thức và thẩm quyền về nội dung

- Mang tính khách quan Hoạt động ban hành kháng nghị phúc thẩm hình

sự phải mang tính khách quan khi xem xét đánh giá đối với đối tượng bị kháng nghị

và phạm vi, hướng kháng nghị theo yêu cầu của pháp luật; không bị phụ thuộc vào chủ quan mong muốn hay không của người có thẩm quyền ra kháng nghị và của những người tham mưu Có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của hoạt động kháng nghị; tránh việc ra kháng nghị không có căn cứ, không hợp pháp hoặc không cần thiết khi xét ở góc độ pháp lý vì bất cứ lý do gì

- Chỉ ra vi phạm, sai lầm của bản án, quyết định bị kháng nghị Người ra

kháng nghị phải có nghĩa vụ chỉ ra cụ thể, chính xác về các căn cứ pháp lý đối với các vi phạm, sai lầm của đối tượng bị kháng nghị là phần nào hoặc toàn bộ bản án, quyết định xử lý vụ án đó dẫn đến bị kháng nghị, và chỉ ra cụ thể căn cứ pháp lý để cấp phúc thẩm khắc phục Đây là vấn đề quan trọng nhất của kháng nghị.Tuy nhiên trong thực tế, người ra kháng nghị khi cho rằng bản án, quyết định sơ thẩm có vi phạm, có thể nói đây mới chỉ là giả thiết từ phía họ mà thôi Theo quan điểm toán học thì chỉ có sự thật, chỉ có bản chất mới sinh ra giả thiết, chứ không phải ngược lại Việc xét kháng nghị phúc thẩm do HĐXXPT giải quyết theo quy định của pháp luật Cho nên, không phải mọi kháng nghị đều đúng nên đều được chấp nhận Việc chấp nhận kháng nghị hay không chấp nhận kháng nghị, chấp nhận một phần hay toàn bộ kháng nghị đều phải tuân theo quy định có hiệu lực của pháp luật và đều phải được giải quyết hậu quả pháp lý

- Mang tính linh hoạt và sáng tạo của chủ thể Tính linh hoạt và sáng tạo là

một thuộc tính của hoạt động áp dụng pháp luật nói riêng Đây là nhân tố chủ quan của người ra kháng nghị, có nền tảng từ tinh thần trách nhiệm đối với nghề nghiệp, với công việc được giao, từ trình độ văn hóa, trình độ pháp luật, từ việc đề cao ý thức pháp luật, niềm tin nội tâm, các kiến thức về khoa học, về xã hội, gắn với nghiên cứu kỹ hồ sơ tài liệu, bản án, quyết định sơ thẩm và khả năng tư duy khái quát hóa, trừu tượng hóa khoa học để ra kháng nghị được đúng đắn vì hoạt động áp dụng pháp luật không phải là khuôn mẫu cứng nhắc Tính linh hoạt và sáng tạo

Trang 18

hoàn toàn trái ngược với sự thờ ơ thiếu trách nhiệm, chủ quan duy ý chí hay tùy tiện hoặc vì động cơ cá nhân nào khác, mà đó là thể hiện cao độ của sự tinh thông nghề nghiệp, sự kết hợp giữa lý luận với năng lực thực tiễn và thể hiện cao độ trách nhiệm và bản lĩnh của người ra kháng nghị

- Làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng hình sự xét kháng nghị Sau khi

ban hành kháng nghị, nếu người ra kháng nghị hoặc người có thẩm quyền cấp trên không rút toàn bộ kháng nghị (vì kháng nghị thiếu căn cứ, không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng bị kháng nghị hoặc hết thời hạn kháng nghị,…), thì tất yếu sẽ phát sinh một quan hệ pháp luật tố tụng là cơ quan, tập thể, cá nhân được phân công thụ lý vụ án theo thủ tục phúc thẩm để xét kháng nghị phải thực hiện tất cả và đầy

đủ các hoạt động, quyết định, hành vi tố tụng theo các quy định của pháp luật để giải quyết kháng nghị, giải quyết bổ sung kháng nghị hay rút một phần kháng nghị

để chấp nhận kháng nghị (toàn bộ hoặc một phần kháng nghị) và áp dụng pháp luật giải quyết hậu quả pháp lý; hoặc không chấp nhận toàn bộ kháng nghị (vì thiếu căn

cứ hoặc kháng nghị vi phạm thẩm quyền về hình thức hoặc thẩm quyền về nội dung hoặc hết thời hạn kháng nghị); hoặc xét lại vụ án kể cả ngoài phạm vi kháng nghị theo đuy định của pháp luật (theo quy định của Điều 241 BLTTHS 2003 hoặc Điều

345 BLTTHS 2015 về phạm vi xét xử phúc thẩm); xét việc tại phiên tòa phúc thẩm

Kiểm sát viên rút toàn bộ kháng nghị [16]

1.1.4 Ý nghĩa của kháng nghị phúc thẩm

Để làm sáng tỏ ý nghĩa, chúng tôi xin xét đến các thuộc tính sau đây:

- Về ý nghĩa chính trị.Việc quy định kháng nghị phúc thẩm trong luật chuyên

ngành và luật tố tụng hình sự nói riêng có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng Nhà nước Xã hội chủ nghĩa tập quyền dân chủ nhưng có sự phân công phân nhiệm

và đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa, nhằm góp phần quan trọng vào thực thi pháp luật xã hội chủ nghĩa, đảm bảo tính thông nhất của pháp luật, tính pháp chế Xã hội chủ nghĩa, không ngừng đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

- Ý nghĩa pháp lý Việc quy định và thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm là

căn cứ, cơ sở pháp lý quan trọng làm phát sinh thủ tục phúc thẩm, đồng thời cũng

Trang 19

xác định tính chất và phạm vi xét xử của Tòa án cấp phúc thẩm và xác định hiệu lực của bản án, quyết định sơ thẩm hình sự không bị kháng nghị, không bị kháng cáo Luật tố tụng hình sự quy định về kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm tương đối cụ thể và phù hợp với mục đích của xét xử phúc thẩm là kiểm tra lại tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm, đồng thời xử lại vụ án về mặt nội dung Qua đó, một mặt bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, xã hội và của công dân, mặt khác thông qua việc sửa chữa những sai lầm, vi phạm của Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa

án cấp phúc thẩm hướng dẫn, giải thích để áp dụng thống nhất pháp luật [16]

Kháng nghị phúc thẩm đối với các bản án, quyết định sơ thẩm giải quyết các vụ án hình sự theo quy định pháp luật còn có một ý nghĩa pháp lý quan trọng khác là cơ

sở để ghi nhận cũng như đảm bảo thực hiện một số nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng, chẳng hạn như trong BLTTHS 2003 thì là cơ sở để hình thành nguyên

tắc “Thực hiện chế độ hai cấp xét xử” hoặc theo BLTTHS 2015 thì để thực hiện

“Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm” được quy định tại Điều 27, để

vụ án hình sự có thể được xét xử lại một lần nữa ở cấp phúc thẩm; nhằm giải quyết đúng đắn, kịp thời vụ án, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân Kết quả xét xử phúc thẩm nếu không chấp nhận kháng nghị mà không có căn cứ pháp luật, thì VKSND ra kháng nghị hoặc VKSND

có thẩm quyền còn có nhiệm vụ quyền hạn báo cáo lên VKSND có thẩm quyền xem xét kháng nghị giám đốc thẩm đối với bản án phúc thẩm Với các ý nghĩa nêu trên,

đã chống lại ý kiến cho rằng kháng nghị phúc thẩm cũng chỉ như là kháng cáo mà thôi; đây là một sai lầm trong nhận thức và áp dụng pháp luật Vì thế, thủ tục phúc thẩm cũng còn tự nó nói nên rằng, không phải bản án, quyết định phúc thẩm nào khi xét lại bản án hoặc quyết định sơ thẩm bị kháng nghị cũng không phải là đối tượng

có thể bị kháng nghị giám đốc thẩm Kháng nghị phúc thẩm chống lại tư tưởng chủ quan ỷ lại khi cho rằng việc xét xử ra bản án, quyết định sơ thẩm xử lý vụ án có hiệu lực pháp luật đã là trung tâm của vấn đề hoặc cho rằng xét xử phúc thẩm đối với bản án, quyết định sơ thẩm thì cấp phúc thẩm chỉ xét kháng cáo để ra bản án, quyết định phúc thẩm mà không cần chú ý xét đến các phần của bản án, quyết định

sơ thẩm không bị kháng nghị (dù có thể vi phạm nghiêm trọng) đã là chân lý tuyệt

Trang 20

đối, đã có hiệu lực pháp luật, trong khi BLTTHS 2003 và BLTTHS 2015 có quy

định về tính chất của xét xử phúc thẩm và phạm vi xét xử phúc thẩm [16]

- Ý nghĩa xã hội Kháng nghị phúc thẩm hình sự góp phần đảm bảo công

bằng xã hội, củng cố lòng tin của nhân dân vào hoạt động xét xử của Tòa án, nhằm đảm bảo uy tín của cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp là Tòa án nói riêng Việc đảm bảo pháp luật được thực thi, giải thích và áp dụng thống nhất là điều kiện quan trọng để hành vi của công dân được điều chỉnh bởi một hệ thống pháp luật thống nhất, đảm bảo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật Thực hiện một xã hội công bằng, dân chủ văn minh; đảm bảo được các quyền cơ bản của công dân, nhất là trong lĩnh vực hình sự nói riêng, hạn chế oan sai hay bỏ lọt tội phạm

1.2 Cơ sở của việc quy định kháng nghị phúc thẩm

Hoạt động áp dụng pháp luật khi ra bản án, quyết định giải quyết vụ án của Tòa án các cấp theo các thủ tục, có thể nói quá trình đó chính đó là con đường đi đến các cấp độ của chân lý; vì các CQTHTT và NTHTT, nhất là Thẩm phán giải quyết vụ án không phải là người trong cuộc, cũng không phải là những người biết hoặc chứng kiến toàn bộ vụ án, mà chỉ là những người áp dụng pháp luật mà thôi; trong khi hoạt động áp dụng pháp luật là hoạt động thể hiện quá trình nhận thức về

sự vật hiện tượng pháp lý và áp dụng pháp luật để ra sản phẩm, nhưng lại là cái chủ quan đối với cái khách quan Từ đó có thể cho rằng, không có bản án, quyết định nào của Tòa án khi giải quyết vụ án kể cả theo thủ tục đặc biệt cũng đã là chân lý tuyệt đối Do đó, cần phải có các biện pháp pháp lý mà cụ thể là quyền kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm, quyền kháng nghị và xét xử theo các thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, quyền kiến nghị kháng nghị theo các thủ tục và giải quyết kiến nghị, để tạo cơ sở pháp lý nhằm tôn trọng chân lý, hạn chế giải quyết, xét

xử oan, sai các loại án Thủ tục xét xử phúc thẩm là sản phẩm nền văn minh pháp lý

của nhân loại từ mấy trăm năm nay nhất là ở các nước Tây Âu [39]

Theo LTCTAND và LTCVKSND năm 2014, thì Tòa án là hệ thống cơ quan có nhiệm vụ chủ yếu là thực hiện quyền tư pháp, xét xử các loại án và thi hành

án hình sự; còn VKSND là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt

Trang 21

động tư pháp, trong đó có hoạt động kiểm sát xét xử các loại vụ án của Tòa án Để bảo đảm cho hoạt động kiểm sát tư pháp, thì pháp luật quy định quyền kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát Hơn nữa, để đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền, yêu cầu nâng cao chất lượng giải quyết các loại án, thì đòi hỏi phải coi trọng các thủ tục xét xử, vì thế Hiến pháp năm 2013, LTCTAND 2014 và các Luật

tố tụng mới đã thay thế quy định thủ tục 2 cấp xét xử (sơ thẩm, phúc thẩm) bằng việc bảo đảm chế độ xét xử sơ thẩm và phúc thẩm

Có thể nói, xuất phát từ quan điểm Mác – xít về sự tôn trọng chân lý, tuân theo nguyên lý về quá trình nhận thức,…, tôn trọng chứng cứ và chứng minh trong

tố tụng, kết hợp với nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta, bản chất nhà nước xã hội chủ nghĩa và các thiết chế về kiểm soát xã hội trong đó có hệ thống các cơ quan nhà nước kể cả hệ thống các cơ quan tư pháp của nhà nước, yêu cầu của bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc công bằng, đề cao công lý lẽ phải, bảo đảm chế

độ 2 cấp xét xử sơ thẩm, phúc thẩm để xét kháng cáo, kháng nghị và thủ tục tố tụng đặc biệt, đề cao ý thức pháp luật, hạn chế lạm quyền, tiêu cực,… là những cơ sở chủ yếu quy định về kháng nghị phúc thẩm

Kết luận Chương 1

Qua nghiên cứu hệ thống pháp luật, các văn bản hướng dẫn thi hành cùng những nguồn thông tin, tài liệu phục vụ việc xây dựng luận văn, kết hợp với nhận thức, chúng tôi xin trình bày Chương 1 với các nội dung đã thể hiện; điều đó làm cơ

sở tiên quyết nhằm đi sâu nghiên cứu các quy định của pháp luật và hoạt động kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân thuộc phạm vi nghiên cứu trong thời gian lấy số liệu, từ đó mới có thể giải quyết được các yêu cầu đặt ra của Chương tiếp theo

Trang 22

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ

KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNGTẠI TỈNH

QUẢNG NGÃI

2.1 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển các quy định về kháng nghị phúc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam

2.1.1.Quy định của Hiến pháp và các luật chuyên ngành

Hiến pháp 1946 quy định về Tòa án nhân dân, Tòa án quân sự và bộ phận Công tố nằm trong Tòa án; chưa quy định thủ tục 2 cấp xét xử, chưa quy định VKS

và quyền kháng nghị phúc thẩm Hiến pháp các năm: 1959, 1980, 1992 và năm

2013 đều có quy định về thủ tục 2 cấp xét xử (xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm xét kháng cáo, kháng nghị) LTCVKSND các năm: 1960, 1981, 1992, 2002 và 2014 có quy định quyền kháng nghị phúc thẩm của VKS đối với bản án, quyết định sơ thẩm giải quyết vụ án chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án các cấp LTCTAND các năm: 1960, 1981, 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 1993 và 1995), 2002 và 2014 đều quy định về thủ tục xét xử phúc thẩm để xét kháng cáo, kháng nghị

Từ 1959 đến trước khi có Hiến pháp 1992 các bản Hiến pháp và các LTCTAND, các LTCVKSND trong giai đoạn này, kể cả BLTTHS 1988 đều không quy định quyền kháng nghị phúc thẩm và xét xử phúc thẩm đối với các bản án, quyết định sơ thẩm giải quyết vụ án hình sự của Tòa hình sự TANDTC vì bản án này là sơ chung thẩm Hiến pháp năm 1992 và LTCTAND 1992 trở đi đã không quy định TANDTC xét xử vụ án hình sự theo thủ tục sơ thẩm đồng thời chung thẩm nữa; đây là một chủ trương đúng đắn để bảo đảm quyền kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm, các thủ tục tố tụng đặc biệt

2.1.2 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự

BLTTHS 1988 tại Điều 204 quy định về tính chất của phúc thẩm là việc Toà án cấp trên trực tiếp xét lại những bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị; Điều 206 quy định về quyền kháng

Trang 23

nghị của VKS đối với những bản án hoặc quyết định sơ thẩm của Tòa án; Điều 208 quy định về thời hạn kháng cáo, kháng nghị; Điều 211 về hậu quả của việc kháng cáo, kháng nghị; Điều 212 về bổ sung, thay đổi, rút kháng cáo, kháng nghị; Điều

214 về phạm vi xét xử phúc thẩm; Điều 216 về thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm; Điều 220 về bản án phúc thẩm; Điều 225 quy định phúc thẩm những quyết định của Tòa án sơ thẩm…Lần đầu tiên Nhà nước ta đã luật hóa trong tố tụng hình

sự về thủ tục xét xử phúc thẩm trong đó có xét kháng nghị Tuy nhiên, một trong những hạn chế đáng kể của Bộ luật này là không có quy định về chủ thể có quyền kháng nghị phúc thẩm, mà chỉ có LTCVKSND 1981 quy định Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS cùng cấp và VKS cấp trên trực tiếp mới có quyền kháng nghị theo thủ tục này, nhưng thời hạn kháng nghị cũng chỉ trong mười lăm ngày, kể từ ngày Tòa án ra bản án, quyết định sơ thẩm, trong khi Luật này là luật chuyên ngành

2.2 Quy định của Bộ luật tố tụng hình 2015 về kháng nghị phúc thẩm

2.2.1 Chủ thể, phạm vi, thời hạn, hậu quả kháng nghị

- Chủ thể kháng nghị Theo Điều 27 thì một trong những nguyên tắc cơ bản

của Bộ luật này là ghi nhận chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm (thay

cho thủ tục 2 cấp xét xử của BLTTHS 2003), đó chính là tiếp tục hoàn thiện về kỹ thuật lập pháp và ghi nhận quyền kháng nghị phúc thẩm của VKS Kháng nghị là sự kiện pháp lý làm phát sinh thủ tục xét xử phúc thẩm, nếu không xảy ra việc VKS hoặc Kiểm sát viên rút kháng nghị tại phiên tòa, phiên họp phúc thẩm

Cần nhận thức rằng, nếu bản án, quyết định sơ thẩm nào bị kháng nghị trong thời hạn theo quy định của pháp luật, thì không phải toàn bộ bản án, quyết định sơ thẩm đó đều chưa có hiệu lực pháp luật, mà chỉ có những phần của bản án, quyết định sơ thẩm đó hoặc toàn bộ bản án, quyết định đó bị kháng nghị mới chưa có hiệu lực pháp luật; nếu kháng nghị đều quá thời hạn theo Bộ luật này quy định, thì toàn

bộ bản án, quyết định hoặc một phần bản án, quyết định đó có hiệu lực pháp luật, hay nói một cách khác là kháng nghị khong có giá trị pháp lý về hình thức nên không phát sinh thù tục phúc thẩm

Tuy nhiên, không phải ai cũng có quyền ban hành kháng nghị phúc thẩm, mà chỉ có cơ quan và người tiến hành tố tụng có thẩm quyền theo pháp luật quy định

Trang 24

Điều 34 Bộ luật này quy định về CQTHTT và NTHTT, trong đó có quy định VKSND là cơ quan tiến hành tố tụng và Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS là những người tiến hành tố tụng

Trên cơ sở Hiến pháp 2013, LTCVKSND 2014 tiếp tục quy định hệ thống VKS được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất, đó là Viện trưởng VKSND cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng VKSND cấp trên trực tiếp và chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng VKSNDTC BLTTHS 2003 quy định thẩm quyền xét xử của Tòa án các cấp, thẩm quyền theo lãnh thổ (các Điều 170, 171) và BLTTHS 2015 cũng tiếp tục quy định về thẩm quyền xét xử của Tòa án, thẩm quyền theo lãnh thổ (các Điều 268, 269), làm cơ sở cho các cơ quan tiến hành

tố tụng và người tiến hành tố tụng các cấp thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình khi tiến hành các hoạt động tố tụng

Điểm o khoản 2 Điều 41 của BLTTHS 2015 quy định khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự, Viện trưởng VKS có nhiệm vụ, quyền hạn kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của Bộ luật này Khoản 3 Điều này quy định Viện trưởng VKS có quyền phân công cho Phó Viện trưởng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật và kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án, quyết định của Tòa án Khoản 4 Điều này quy định Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình Với quy định trên, thì việc ban hành hoặc không ban hành kháng nghị phúc thẩm chỉ thuộc về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng VKS có thẩm quyền theo quy định của pháp luật và quyền năng pháp lý ra kháng nghị xuất phát từ cơ sở để cho VKS thực hiện tốt chức năng của mình là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp

Lần đầu tiên BLTTHS 2015 quy định tại điểm o khoản 1 Điều 4 về vi phạm

nghiêm trọng thủ tục tố tụng - là việc cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và đã xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng hoặc làm

Trang 25

ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện của vụ án, thấy rằng cần

phải được cấp có thẩm quyền hướng dẫn những dạng phổ biến để áp dụng thống nhất và ràng buộc trách nhiệm của VKS vì VKS có thể là chủ thể trực tiếp hoặc gián tiếp của vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, thì xem ra không phải mọi trường hợp vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng đều có thể được VKS cùng cấp hoặc VKS cấp trên trực tiếp thừa nhận, phát hiện và kháng nghị để khắc phục

- Phạm vi kháng nghị Theo khoản 1 Điều 330 thì phạm vi kháng nghị phúc

thẩm có thể là một phần hoặc toàn bộ bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật do bị kháng nghị (ở đây ta chỉ đề cập đến bản án, quyết định sơ thẩm

bị kháng nghị, không đề cập đến kháng cáo) và phạm vi kháng nghị đó thông thường phải được BLTTHS quy định thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp phúc thẩm khi ra bản án hoặc quyết định phúc thẩm đối với bản án hoặc quyết định sơ thẩm bị kháng nghị Những gì mà bản án hoặc quyết định sơ thẩm không giải quyết, thì không thể phát sinh thủ tục phúc thẩm, hay nói một cách khác không thể bị kháng nghị Bên cạnh đó, xét theo hình thức pháp luật thành văn thể hiện bằng quy phạm pháp luật, nếu phạm vi kháng nghị phúc thẩm không được pháp luật quy định thuộc thẩm quyền giải quyết của Hội đồng xét xử phúc thẩm, thì cấp phúc thẩm không thể chấp nhận kháng nghị vì không có cơ sở pháp lý

Về khoản 2 Điều này, không phải mọi quyết định sơ thẩm đều bị kháng nghị phúc thẩm mà chỉ có thể kháng nghị phúc thẩm đối với quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ vụ án, quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo, quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo và quyết định khác của Tòa án cấp

sơ thẩm theo quy định của Bộ luật này Theo quy định của BLTTHS, quyết định tạm đình chỉ vụ án hoặc quyết định đình chỉ vụ án sẽ do Thẩm phán ban hành trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, hoặc do Hội đồng xét xử sơ thẩm ban hành tại phiên tòa sơ thẩm; quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can sẽ do Thẩm phán ban hành trong giai đoạn chuẩn bị xét xử (do bị can phạm tội đơn lẻ mà bỏ trốn cần phải truy nã hoặc cần phải trưng cầu giám định tâm thần đối với bị can,….; do bị can phạm tội có đồng phạm nhưng bị can đó bỏ trốn mà không thể xét xử vắng mặt hoặc cần phải giám định tâm thần đối với bị can,…); quyết định tạm đình chỉ vụ án

Trang 26

đối với bị cáo sẽ do Thẩm phán ban hành trong giai đoạn sau khi đã ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc do Hội đồng xét xử ban hành tại phiên tòa xét xử sơ thẩm

Chủ thể kháng nghị là VKS cùng cấp hoặc VKS cấp trên trực tiếp mà người đại diện là Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng được Viện trưởng phân công nhiệm

vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử vụ án hình sự đó mới có quyền kháng nghị phúc thẩm Phạm vi kháng nghị phúc thẩm là toàn bộ hoặc một phần bản án hoặc quyết định sơ thẩm giải quyết vụ án hoặc quyết định khác của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật, mà thuộc thẩm quyền kháng nghị của VKS và phải thuộc thẩm quyền giải quyết của hội đồng xét xử phúc thẩm, hội đồng phúc thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Ở đây, chúng tôi xin dùng cụm từ

“Phạm vi kháng nghị phúc thẩm” mà không dùng cụm từ “Đối tượng của kháng nghị phúc thẩm” vì như thế nó đã bao hàm cả giới hạn về đối tượng và giới hạn về

phạm vi của kháng nghị phúc thẩm [44]

- Thời hạn kháng nghị Theo Điều 337, thời hạn kháng nghị phúc thẩm của

VKS cùng cấp đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, của VKS cấp trên trực tiếp là 30 ngày kể từ ngày Tòa án tuyên án; thời hạn kháng nghị của VKS cùng cấp đối với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày, của VKS cấp trên trực tiếp là 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định

- Hậu quả kháng nghị Theo Điều 339, riêng đối với những phần của bản án,

quyết định của Tòa án bị kháng nghị thì chưa được đưa ra thi hành, khi có kháng nghị đối với toàn bộ bản án, quyết định thì toàn bộ bản án, quyết định đó chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp quy định tại Điều 363 “Bản án, quyết định của Tòa

án được thi hành ngay” của Bộ luật này Điều 343 quy định bản án, quyết định và những phần của bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án không bị kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng nghị Điều 363 quy định bản án, quyết định của Tòa án được thi hành ngay mặc dù vẫn có thể bị kháng nghị khi thuộc một trong các trường hợp: bị cáo đang bị tạm giam mà Tòa án cấp sơ thẩm quyết định đình chỉ vụ án, tuyên bị cáo không có tội, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt cho bị cáo, hình phạt không phải là hình phạt tù hoặc hình phạt tù

Trang 27

nhưng cho hưởng án treo hoặc khi thời hạn phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thời hạn tạm giam Hình phạt cảnh cáo được thi hành ngay tại phiên tòa

Điều 340 quy định ngay sau khi nhận được hồ sơ vụ án có kháng nghị và chứng cứ, tài liệu, đồ vật kèm theo (nếu có), Tòa án cấp phúc thẩm phải vào sổ thụ

lý và trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án, Chánh án Tòa án cấp phúc thẩm phân công Thẩm phán làm chủ tọa phiên tòa, phiên họp Quy định trên nhằm xúc tiến giải quyết vụ án, thực hiện đầy đủ và kịp thời các quy định của BLTTHS trong giai đoạn thụ lý, giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm trong từng vụ án cụ thể và để cho người tham gia tố tụng thực hiện quyền của mình theo quy định của pháp luật như yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, yêu cầu hoãn phiên tòa, nhờ người bào chữa…v…v…

Theo BLTTHS năm 2003, đối với hậu quả pháp lý của giải quyết kháng nghị phúc thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm được quy định tại khoản 2 Điều 248, tại các Điều 249, 250, 251, 252, bao gồm một trong các trường hợp sau đây: Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm; Sửa bản án sơ thẩm; Hủy bản

án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án để điều tra lại hoặc xét xử lại; Hủy bản án sơ thẩm vụ án và đình chỉ vụ án Ngoài ra, theo khoản 2 Điều 249 BLTTHS 2003, khi xét xử phúc thẩm xét kháng nghị hoặc kể cả xét kháng nghị và kháng cáo, nếu có căn cứ, Tòa án cấp phúc thẩm có thể giảm hình phạt hoặc áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn, chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn; giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án tren cho cả những bị cáo không kháng cáo hoặc không bị kháng nghị Điều 253 quy định về phúc thẩm những quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm; khi xét những quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm có những quyền hạn quy định tại Điều 248 của Bộ luật này Các quy định trên đây còn rất nhiều hạn chế về kỹ thuật lập pháp đối với đòi hỏi của thực tiễn trong hoạt động kháng nghị phúc thẩm và xét xử phúc thẩm, phúc thẩm quyết định bị kháng nghị

Về thủ tục xét xử phúc thẩm, BLTTHS 2015 có nhiều sửa đổi, bổ sung để góp phần đáp ứng yêu cầu thực tiễn Chẳng hạn, về thẩm quyền của Hội đồng xét

xử phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm được quy định tại Điều 355 và được cụ thể

Trang 28

hóa tại các Điều 356 (không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án

sơ thẩm); Điều 357 (sửa bản án sơ thẩm); Điều 358 (hủy bản án sơ thảm để điều tra lại hoặc để xét xử lại); Điều 359 (hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án); Điều 360 (điều tra lại hoặc xét xét xử lại) Điều 361 quy định thẩm quyền của Hội đồng phúc thẩm đối với quyết định sơ thẩm

Như vậy, hậu quả pháp lý của kháng nghị phúc thẩm cũng còn phải xét đến

cả kết quả xét kháng nghị: nếu bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng nghị mà có đủ các căn cứ pháp lý của kháng nghị và được cấp xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng nghị, hoặc tại phiên tòa đại diện VKS bổ sung kháng nghị và được Hội đồng xét xử chấp nhận (theo hướng cho lợi cho người bị kết án, cho bị cáo,…theo quy định pháp luật) khi thuộc thẩm quyền của cấp phúc thẩm, thì khi đó việc kháng nghị có thể nói mới có giá trị vì đem lại hậu quả tích cực; ngược lại, nếu kháng nghị không được chấp nhận vì không có hoặc không đủ căn cứ pháp lý, thì dù sao việc kháng nghị đã kéo dài việc xử lý vụ án sẽ gây thiệt hại về thời gian, thiệt hại về vật chất, thiệt hại phi vật chất khi chúng ta xét theo nguyên lý về mối liên hệ phổ biến giữa các sự vật hiện tượng và quan hệ nhân quả

2.2.2 Thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị

Điều 342 BLTTHS 2015 quy định về thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị Theo

đó, trước khi bắt đầu phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, VKS ra quyết định kháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị nhưng không được làm xấu hơn tình trạng của bị cáo; VKS ra quyết định kháng nghị hoặc VKS cấp trên trực tiếp có quyền rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị trước khi mở phiên tòa phải lập văn bản và gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm Tòa án cấp phúc thẩm phải thông báo cho VKS, bị cáo và những người có liên quan đến kháng nghị biết về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị tại phiên tòa được ghi vào biên bản phiên tòa Trường hợp VKS rút một phần kháng nghị tại phiên tòa mà xét thấy không liên quan đến kháng nghị khác thì HĐXXPT nhận định về việc rút một phần kháng nghị và quyết định đình chỉ xét xử phần kháng nghị đó trong bản án phúc thẩm Từ các quy định nêu trên, cần nhận thức đúng như sau:

Trang 29

Nếu VKS cùng cấp ra kháng nghị, nhưng khi còn trong thời hạn kháng nghị của cấp mình là 15 ngày kể từ ngày tuyên án, thì khi đó VKS mới có thể thay đổi,

bổ sung kháng nghị theo hướng làm xấu đi tình trạng của bị cáo Nếu VKS cấp trên trực tiếp ra kháng nghị, khi còn trong thời hạn kháng nghị của cấp mình là 30 ngày

kể từ ngày tuyên án, thì khi đó VKS mới có thể thay đổi, bổ sung kháng nghị theo hướng làm xấu đi tình trạng của bị cáo Việc thay đổi, bổ sung kháng nghị theo hướng làm xấu đi tình trạng của bị cáo phải đúng trong thời hạn kháng nghị của VKS có thẩm quyền nhằm bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo và nâng cao trách nhiệm của VKS trong hoạt động kiểm sát xét xử, kiểm sát bản án của Tòa án và chất lượng kháng nghị Khi đã hết thời hạn kháng nghị thì VKS các cấp chỉ có thể

thay đổi, bổ sung kháng nghị theo hướng có lợi cho bị cáo [30]

Nếu VKS cùng cấp hoặc VKS cấp trên trực tiếp đã ra kháng nghị theo hướng bất lợi cho một bị cáo hoặc một số bị cáo, mà sau đó, trong giai đoạn chuẩn bị xét

xử phúc thẩm VKS đã ra kháng nghị vẫn có quyền ra quyết định bổ sung kháng nghị theo hướng có lợi hoặc thay đổi kháng nghị từ bất lợi sang hướng có lợi cho một bị cáo hoặc một số bị cáo đó kể cả trong trường hợp đã hết thời hạn kháng nghị

Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên VKS đã kháng nghị hoặc tham gia phiên tòa phúc thẩm do VKS cấp dưới kháng nghị cũng có thể rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị hoặc bổ sung kháng nghị theo hướng có lợi cho một bị cáo hoặc một số bị cáo đó, hoặc thay đổi kháng nghị từ hướng bất lợi sang hướng có lợi cho

họ, nhưng việc rút kháng nghị, bổ sung, thay đổi kháng nghị phải được công bố trước khi HĐXXPT nghị án

Việc rút kháng nghị, thay đổi, bổ sung kháng nghị trước khi xét xử phúc thẩm chỉ có thể do người ban hành kháng nghị (Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng) hoặc Viện trưởng (nếu Phó Viện trưởng kháng nghị) có thẩm quyền, thực hiện; còn việc rút kháng nghị, bổ sung, thay đổi kháng nghị tại phiên tòa xét xử phúc thẩm sẽ

do KSV thực hiện (do diễn biến phiên tòa đặt ra hoặc có sự chỉ đạo của Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng VKS có thẩm quyền chỉ đạo).VKS ra quyết định kháng nghị hoặc VKS cấp trên trực tiếp có quyền rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị bất cứ giai đoạn nào kể từ khi ban hành kháng nghị đến trước khi HĐXXPT nghị án

Trang 30

Khoản 2 Điều 342 quy định việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị trước khi

mở phiên tòa phải được lập thành văn bản (quyết định thay đổi, bổ sung hoặc rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị), do người có thẩm quyền của VKS ký (Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng được phân công nhiệm vụ) và gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm Luật cũng quy định khi Tòa án cấp phúc thẩm nhận được quyết định thay đổi, bổ sung hoặc rút kháng nghị thì phải thông báo cho VKS, bị cáo và những người có liên quan đến kháng nghị biết về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị đó Còn việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị tại phiên tòa xét xử phúc thẩm thì luật không quy định phải ra văn bản, mà do KSV giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử thực hiện và phải được ghi vào biên bản phiên tòa

Khoản 3 Điều 342 quy định trường hợp VKS rút một phần kháng nghị tại phiên tòa mà xét thấy không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị khác thì HĐXXPT nhận định về việc rút một phần kháng nghị và quyết định đình chỉ xét xử phần kháng nghị đó trong bản án phúc thẩm Quy định này cần chú ý rằng: một bản

án, quyết định sơ thẩm có thể bị VKS cùng cấp kháng nghị một phần hoặc toàn bộ,

và cũng bị VKS cấp trên trực tiếp kháng nghị một phần hoặc toàn bộ; do vậy, nếu tại phiên tòa xét xử phúc thẩm, KSV rút một phần kháng nghị đó của VKS cấp mình và của VKS cấp dưới (chẳng hạn do 2 kháng nghị trùng về nội dung), thì Tòa

án cấp phúc thẩm mới đình chỉ phần kháng nghị đó trong bản án phúc thẩm; trường hợp 2 kháng nghị có xung đột về một nội dung kháng nghị (như: VKS cấp sơ thẩm kháng nghị giảm hình phạt tù, nhưng VKS cấp trên trực tiếp kháng nghị tăng hình phạt tù đối với bị cáo), nếu KSV rút phần kháng nghị này của VKS cấp sơ thẩm, thì HĐXXPT vẫn phải xét phần kháng nghị của VKS cấp trên trực tiếp

Theo quy định của BLTTHS, không nói đến nguyên tắc tập trung thống nhất của hệ thống VKSND, thì tại phiên tòa xét xử phúc thẩm, người kháng nghị vẫn có quyền ra quyết định định thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng

Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị đúng luật định đều xảy ra hậu quả pháp lý vì HĐXXPT phải xét đến khi xét xử phúc thẩm đối với việc thay đổi, bổ sung kháng nghị hoặc đình chỉ xét xử phúc thẩm trong giai đoạn chuẩn bị xét xử khi

Trang 31

VKS rút toàn bộ kháng nghị hoặc tại phiên tòa KSV rút toàn bộ kháng nghị (Điều

348 BLTTHS)

Nếu KSV rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị không đúng pháp luật, thì HĐXXPT vẫn phải đình chỉ phần rút kháng nghị hoặc đình chỉ việc xét xử phúc thẩm và có văn bản kiến nghị lên cấp giám đốc thẩm xem xét để khắc phục sai lầm,

vi phạm của bản án sơ thẩm và kiến nghị VKS cùng cấp xem xét việc rút kháng nghị đó

2.4 Thực tiễn kháng nghị phúc thẩm tại tỉnh Quảng Ngãi

2.4.1 Một số yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động kháng nghị

Xuất phát từ thực hiện chức năng, nhiệm vụ của VKS, giải quyết đúng đắn

và kịp thời các mâu thuẫn xã hội nảy sinh từ vụ án hình sự, bảo đảm tính đúng đắn của các bản án, quyết định giải quyết vụ án của Tòa án, đề cao công lý, nguyên tắc công bằng; kịp thời khắc phục sai lầm vi phạm nghiêm trọng các bản án, quyết định

có hiệu lực pháp luật và nhằm tác động trở lại đến các hoạt động tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng; để phục vụ hoạt động hướng dẫn xét xử, tổng kết kinh nghiệm xét xử và hoạt động kiểm sát trong giải quyết án hình

sự, công tác quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm, bố trí cán bộ, xây dựng pháp luật, công

Trang 32

tác thi đua khen thưởng, kỷ luật lao động…là những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến hoạt động kháng nghị phúc thẩm

2.4.2 Chủ thể kháng nghị, thời hạn kháng nghị

- Chủ thể kháng nghị Qua xem xét hồ sơ vụ án phúc thẩm và hồ sơ kiểm sát

của VKS các cấp, nhận thấy tất cả các kháng nghị ban hành đều đảm bảo đúng quy định tại Điều 36, Điều 232 BLTTHS 2003 về chủ thể kháng nghị, đó là: Đối với kháng nghị bản án sơ thẩm của Tòa án cùng cấp (tỉnh, huyện) thì do Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng được Viện trưởng ra quyết định phân công thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử đối với vụ án đó hoặc được Viện trưởng phân công thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án đó ban hành kháng nghị Đối với kháng nghị 1 quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Tòa án cùng cấp,

do Viện trưởng VKSND huyện kháng nghị

Đối với kháng nghị bản án của Tòa án cấp dưới (huyện, tỉnh) đều do Phó Viện trưởng VKSND tỉnh; Phó Viện trưởng VKS xét xử phúc thẩm II tại Đà Nẵng hoặc Phó Viện trường VKSNDCC tại Đà Nẵng được Viện trưởng phân công phụ trách lĩnh vực hình sự của đơn vị và phụ trách địa bàn kháng nghị

- Số lượng và thời hạn kháng nghị.Tổng số kháng nghị VKS các cấp ban

hành: 94 (kháng nghị 93 bản án với 154 bị cáo, chiếm tỷ lệ 1,8% về vụ và 2,31% về

số bị cáo đã xét xử sơ thẩm; kháng nghị 1 quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung) Gồm:

+ Có 10/14 VKS cấp huyện ban hành 62 kháng nghị (năm 2007: 3 kháng nghị, năm 2008: 2, năm 2009: 3, năm 2010: 4, năm 2011: 5, năm 2012: 4, năm 2013: 8, năm 2014: 8, năm 2015: 9, năm 2016: 10, năm 2017: 6), theo đó: Kháng nghị 61 bản án sơ thẩm với 105 bị cáo (trong đó kháng nghị toàn bộ bản án là 12

vụ 22 bị cáo, số còn lại kháng nghị một phần bản án); 1 kháng nghị quyết định trả

hồ sơ để điều tra bổ sung)

+ VKS tỉnh kháng nghị 30 bản án với 47 bị cáo, trong đó: 21 kháng nghị đối với bản án sơ thẩm của cấp huyện; 9 kháng nghị đối với bản án sơ thẩm của Tòa án cùng cấp (năm 2007: 2 kháng nghị, năm 2008: 1, năm 2009: 2, năm 2010: 2, năm 2011: 3, năm 2012: 2, năm 2013: 4, năm 2014: 3, năm 2015: 3 , năm 2016: 4, năm

Trang 33

2017: 4), theo đó: Kháng nghị bản án sơ thẩm của TAND cùng cấp là 9 vụ 20 bị cáo (trong đó có 3 vụ 15 bị cáo kháng nghị toàn bộ bản án sơ thẩm, số còn lại kháng nghị một phần bản án sơ thẩm); kháng nghị bản án sơ thẩm của TAND cấp huyện là

21 vụ 27 bị cáo (có 7 vụ 11 bị cáo kháng nghị toàn bộ bản án sơ thẩm, số còn lại kháng nghị một phần bản án sơ thẩm)

+ VKS xét xử phúc thẩm II tại Đà Nẵng (theo LTCVKSND năm 2002 và

BLTTHS 2003) kháng nghị 2 bản án với 2 bị cáo (đều kháng nghị một phần bản án

sơ thẩm 1 vụ kháng nghị năm 2009, 1 vụ kháng nghị năm 2012)

Như vậy, số liệu VKS 3 cấp kháng nghị từng năm như sau: Năm 2007: 5 vụ, năm 2008: 3 vụ, năm 2009: 6 vụ, năm 2010: 6 vụ, năm 2011: 8 vụ, năm 2012: 6 vụ, năm 2013: 13 vụ, năm 2014: 11 vụ, năm 2015: 12 vụ, năm 2016: 14 vụ, năm 2017:

10 vụ

Trong số 94 kháng nghị thì 93 kháng nghị đúng thời hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 234 BLTTHS 2003; có 1 kháng nghị của VKS huyện kháng nghị toàn bộ bản án sơ thẩm, nhưng tính theo ngày tháng năm ghi trong kháng nghị thì quá thời hạn kháng nghị 3 ngày (do BLTTHS không quy định kháng nghị quá hạn

và xét kháng nghị quá hạn vì bất cứ lý do gì, cho nên sau khi TAND huyện cùng cấp trao đổi, người ra kháng nghị đã ra quyết định rút kháng nghị) Ngoài ra, VKSNDCC tại Đà Nẵng (theo LTCVKSND năm 2014) kháng nghị 1 vụ 5 bị cáo, đến nay chưa xét xử phúc thẩm

VKS cấp huyện khi kháng nghị đều gửi cho Tòa án cùng cấp có bản án,

quyết định sơ thẩm bị kháng nghị trong vòng chậm nhất là 2 ngày kể từ ngày ban hành, gửi đến TAND tỉnh để biết và gửi lên VKS tỉnh để thay báo cáo và để kiểm tra tính căn cứ và hợp pháp, chỉ đạo, giải quyết kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm

và thẩm quyền VKS tỉnh khi kháng nghị đối với bản án của Tòa án cùng cấp đều gửi cho Tòa án tỉnh, VKS xét xử phúc thẩm II tại Đà Nẵng (nay là VKSNDCC tại

Đà Nẵng) để kiểm tra, chỉ đạo và giải quyết kháng nghị, và gửi lên Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm VKSNDTC (Vụ 3); khi kháng nghị đối với bản án của Tòa án cấp dưới thì đều gửi cho đơn vị có bản án bị kháng nghị, gửi cho VKS huyện nơi đã thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử vụ án đó để biết

Trang 34

và xem xét trách nhiệm của mình do không kháng nghị hoặc không báo cáo đề nghị VKS tỉnh kháng nghị, và gửi cho VKS cấp trên (VKS xét xử phúc thẩm II tại Đà

Nẵng/VKSNDCC tại Đà Nẵng) để báo cáo, kiểm tra và chỉ đạo [30]

2.4.3 Căn cứ kháng nghị

Qua nghiên cứu và tổng hợp các kháng nghị do VKS các cấp ban hành, nhận

thấy rất đa dạng nhưng tựu chung lại gồm có các căn cứ kháng nghị chủ yếu như sau:

- Kháng nghị toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng đề nghị cấp phúc thẩm hủy

án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại vì cho rằng xét xử sai tội danh và vi phạm Điều

196 BLTTHS “Giới hạn của việc xét xử” (do xét xử tội danh khác nặng hơn tội VKS truy tố);

- Kháng nghị theo hướng hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để điều tra lại (kể cả trường hợp Tòa án tuyên một số bị cáo không phạm tội trong số các bị cáo bị truy tố nhiều tội hoặc vụ án chỉ có 1 bị cáo mà Tòa án tuyên bị cáo không phạm tội);

- Theo hướng hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại (kể cả trường hợp Tòa án tuyên một số bị cáo không phạm tội trong số các bị cáo bị truy tố nhiều tội hoặc vụ án chỉ có 1 bị cáo mà Tòa án tuyên bị cáo không phạm tội);

- Yêu cầu cấp phúc thẩm xét xử tuyên bị cáo phạm tội như Viện kiểm sát đã truy tố (án sơ thẩm tuyên bị cáo không phạm tội – Kháng nghị sai vì cấp phúc thẩm không có thẩm quyền này và kháng nghị trái với thủ tục 2 cấp xét xử);

- Sửa án sơ thẩm về phần hình phạt không cho bị cáo hưởng án treo và tăng phần bồi thường dân sự;

- Sửa án sơ thẩm tăng hình phạt tù có thời hạn và tăng bồi thường dân sự;

- Sửa án sơ thẩm để áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 48 BLHS, tăng hình phạt;

- Sửa án sơ thẩm để áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 48 BLHS và không áp dụng Điều

47 BLHS mà áp dụng hình phạt quy định tại khung xét xử;

- Sửa án sơ thẩm không áp dụng Điều 47 BLHS đối với các bị cáo (kháng nghị chỉ nêu đề nghị cấp phúc thẩm không áp dụng Điều 47 BLHS, mà không yêu

Trang 35

cầu cấp phúc thẩm áp dụng hình phạt tù trong khung xét xử);

- Sửa án sơ thẩm về xử lý vật chứng, về án phí;

- Sửa phần “Nhận thấy”và “Xét thấy” của bản án sơ thẩm vì các phần này mâu thuẫn với phần “Quyết định” của bản án (vì cho rằng không tuân theo nguyên tắc quy nạp và các giai đoạn của quá trình áp dụng pháp luật) và đề nghị cấp phúc thẩm áp dụng Điều 248 BLTTHS để sửa bản án sơ thẩm về phần nhận định hành vi

để định tội;

- Sửa án sơ thẩm theo hướng áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “Nhiều người hiếp một người” thuộc điểm c khoản 2 Điều 111BLHS và xác định đúng giai đoạn thực hiện tội phạm là các bị cáo đã thực hiện tội phạm hoàn thành, do đó không thể áp dụng Điều 18 “Phạm tội chưa đạt” và khoản 1, khoản 3 Điều 52 BLHS “Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội chưa đạt”

Ngoài ra còn nhiều kháng nghị khác, như: Yêu cầu cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm không cho bị cáo hưởng án treo mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ; không áp dụng hình phạt tù mà cho bị cảo hưởng án treo,…

2.4.4 Rút kháng nghị

Có 3 trường hợp rút kháng nghị, trong đó, 1 kháng nghị do người ra kháng

nghị rút khi Tòa án cấp phúc thẩm chưa thụ lý vụ án, VKS cấp trên trực tiếp rút 1 kháng nghị trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm và 1 trường hợp tại phiên tòa, sau khi Hội đồng xét xử thẩm vấn, Kiểm sát viên VKS tỉnh rút kháng nghị của VKS tỉnh đối với bản án sơ thẩm của cấp huyện Cụ thể như sau:

- Rút kháng nghị đối với quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung: VKS huyện M truy tố bị can Nguyễn B tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 202 BLHS Qua nghiên cứu hồ

sơ vụ án, Thẩm phán ra Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung số 07/QĐ-TA ngày 15/7/2009 Viện trưởng VKS huyện ra Kháng nghị phúc thẩm số 227/QĐ-KNPT với nội dung kháng nghị quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung, yêu cầu cấp phúc thẩm tuyên hủy quyết định này Qua hoạt động theo dõi, chỉ đạo công tác kháng nghị phúc thẩm của VKS cấp huyện và nghiên cứu kháng nghị phúc thẩm nêu trên, Kiểm sát viên VKS tỉnh được phân công theo dõi địa bàn thấy rằng, căn cứ các

Trang 36

Điều: 230 (Tính chất của xét xử phúc thẩm), Kháng nghị của Viện kiểm sát (Điều 232), Điều 239 (Kháng nghị những quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm), Điều 248 (Bản án phúc thẩm và thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm, được cụ thể hóa tại các Điều 249, 250, 251,252), Điều 253 (Phúc thẩm những quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm) và những quy định liên quan của BLTTHS 2003 thấy, Quyết định trả

hồ sơ để điều tra bổ sung không phải là quyết định giải quyết vụ án hoặc quyết định khác theo quy định của BLTTHS năm 2003 mà có thể là đối tượng của kháng nghị phúc thẩm, và BLTTHS này cũng không có quy định về việc cấp phúc thẩm giải quyết kháng nghị đối với kháng nghị nêu trên; mặt khác, thực tiễn kháng nghị và xét xử cũng chưa thấy có trường hợp nào VKS kháng nghị phúc thẩm quyết định trả

hồ sơ để điều tra bổ sung lên cấp phúc thẩm Do đó, VKS tỉnh Quảng Ngãi đã có văn bản yêu cầu người ra kháng nghị sớm ban hành quyết định rút kháng nghị số 227; đã được chấp nhận thực hiện

- VKS xét xử phúc thẩm II tại Đà Nẵng rút toàn bộ 1 kháng nghị của Viện trưởng VKS tỉnh đối với bản án sơ thẩm trước khi xét xử phúc thẩm Tóm tắt vụ án: Nguyễn K là công nhân Khu kinh tế D thuộc xã B T., huyện B Chiều ngày 12/11/2009, khi ăn nhậu tại quán anh Q ở xã B.T, thì Nguyễn K cãi nhau với anh Q; được con anh Q là cháu T và mọi người can ngăn Nguyễn K bực tức, đi về lán trại của mình rủ 13 người công nhân cầm theo hung khí là dao, ống tuýp sắt đến quán anh Q để đánh cha con anh Q, được mọi người đồng ý Nguyễn K cầm cây mã tấu có đầu nhọn, những người còn lại cầm theo hung khí Tất cả 14 người đi đến gần quán anh Q; trên đường đi, do thấy Công an đến quán anh Q lập biên bản về sự việc xảy ra giữa K và cha con anh Q lúc nãy, nên tất cả nấp vào bụi cây ven đường; khi thấy Công an làm việc xong và đi về, thì K hô hào đồng bọn xông đến quán K cầm mã tấu cùng một người nữa chạy trước xông vào quán anh Q, những người còn lại cầm hung khí chạy theo sau Đến quán anh Q, K dùng mã tấu đâm vào cổ anh Q làm anh chết tại chỗ Vừa gây án xong K bỏ chạy ngược trở lại thì gặp những người còn lại đang đến quán anh Q, K nói với họ rằng mình đã đâm chết anh Q rồi, tất cả chạy đi Nghe vậy tất cả bỏ chạy Cáo trạng truy tố K và 12 đồng phạm khác tội

“Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 93 BLHS 1999 và tội “Gây rối trật tự công

Trang 37

cộng” theo điểm a khoản 2 Điều 245 BLHS (có một người bỏ trốn, bị truy nã) Tại phiên tòa xét xử, KSV đề nghị Hội đồng xét xử kết án các bị cáo về tội danh như Cáo trạng truy tố Bản án hình sự sơ thẩm kết án bị cáo K phạm tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 93 BLHS và tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm a khoản 2 Điều 245 BLHS; tuyên 12 bị cáo còn lại đều phạm tội Gây rối trật tự công cộng, không phạm tội “Giết người”

Kháng nghị phúc thẩm cho rằng các bị cáo đồng phạm về tội Giết người theo điểm n khoản 1 Điều 93 BLHS và tội Gây rối trật tự công cộng theo điểm a khoản 2 Điều 245 BLHS 1999, nhưng bản án sơ thẩm xét xử (như trên) là áp dụng không đúng quy định của pháp luật Từ đó, kháng nghị toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm để Tòa phúc thẩm II TANDTC tại Đà Nẵng xét xử hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ vụ

án về cho cấp sơ thẩm xét xử lại theo hướng tuyên bị cáo K cùng 12 người khác phạm tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 93 BLHS và tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm a khoản 2 Điều 245 BLHS VKS xét xử phúc thẩm II tại Đà Nẵng cho rằng 12 bị cáo khác không có ý thức giết anh Q, không cùng K giết anh Q nên không kháng nghị

Chúng tôi cho rằng, việc rút 2 kháng nghị phúc thẩm trên đây là đúng pháp luật và kịp thời, vì quyết định trả hồ sơ cho VKS để điều tra bổ sung không phải là quyết định giải quyết vụ án hoặc quyết định khác mà có thể là đối tượng của kháng nghị phúc thẩm; và không có đủ căn cứ pháp lý để truy cứu trách nhiệm hình sự 12 người trong vụ án Nguyễn K về tội Giết người với vai trò đồng phạm với Nguyễn

K về tội danh này

- Riêng trường hợp tại phiên tòa xét xử, KSV rút kháng nghị của VKS cấp mình, chúng tôi sẽ trình bày cụ thể trong phần sau

2.4.5 Bổ sung, thay đổi kháng nghị

- Bổ sung kháng nghị Trước khi xét xử phúc thẩm, khi đã hết thời hạn kháng

nghị theo Điều 234 BLTTHS 2003, VKS cấp huyện ban hành kháng nghị đã ra 2 quyết định bổ sung kháng nghị theo hướng áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với 2 bị cáo Không có trường hợp nào tại phiên tòa xét xử phúc

Trang 38

thẩm VKS cấp huyện hoặc VKS cấp tỉnh bổ sung kháng nghị theo hướng có lợi cho

bị cáo

VKSND tỉnh không bổ sung kháng nghị do cấp huyện ban hành, cũng không

bổ sung kháng nghị đối với bản án sơ thẩm của cấp huyện và kháng nghị đối với bản án sơ thẩm của Tòa án cùng cấp do mình ban hành kể cả trước khi xét xử phúc thẩm và tại phiên tòa xét xử phúc thẩm

- Thay đổi kháng nghị Không có trường hợp nào VKS cấp huyện thay đổi

kháng nghị trước khi xét xử phúc thẩm hoặc tại phiên tòa Không có trường hợp nào VKSND tỉnh thay đổi kháng nghị do cấp huyện ban hành cũng như thay đổi kháng nghị đối với bản án của cấp huyện do mình ban hành trước khi xét xử phúc thẩm

Tại phiên tòa xét xử phúc thẩm, Kiểm sát viên VKSND tỉnh đã thay đổi toàn

bộ 4 kháng nghị của VKS cấp huyện (từ hủy án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại theo hướng bị cáo có tội như VKS truy tố sang hủy án sơ thẩm đề điều tra lại), và thay đổi toàn bộ 01 kháng nghị do mình ban hành đối với 01 bản án sơ thẩm của TAND cấp huyện theo hướng kháng nghị từ yêu cầu cấp phúc thẩm áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 48 BLHS, không

áp dụng Điều 47 mà áp dụng hình phạt trong khung hình phạt thuộc điểm a khoản 3 Điều 140 BLHS sang hủy án sơ thẩm để điều tra lại (chúng tôi sẽ trình bày dưới đây)

Không có trường hợp nào VKS xét xử phúc thẩm II tại Đà

Nẵng/VKSNDCC tại Đà Nẵng bổ sung, thay đổi kháng nghị do VKS tỉnh Quảng Ngãi hay do mình ban hành

2.4.6 Kết quả xét kháng nghị

Số vụ có kháng nghị đã xét xử phúc thẩm: 91 vụ với 141 bị cáo; trong đó:

- Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận toàn bộ kháng nghị: 47 vụ 70 bị cáo (đạt 51% về số vụ, 49 % về số bị cáo);

- Hội đồng xét xử chấp nhận một số phần của kháng nghị: 23 vụ 40 bị cáo (đạt 25 % về số vụ, 28 % về số bị cáo);

- Hội đồng xét xử chấp nhận một phần của kháng nghị: 9 vụ 14 bị cáo (đạt 9,9 % về số vụ, 10 % về số bị cáo);

Trang 39

- Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng nghị: 12 vụ 17 bị cáo (13 % về số

vụ, 12 % về số bị cáo) Qua kết quả xét xử phúc thẩm, trong số những vụ án Tòa án không chấp nhận toàn bộ nội dung kháng nghị thì có 2 vụ án không phát sinh thủ tục giám đốc thẩm dù VKS tỉnh có báo cáo đề nghị VKSNDTC xem xét kháng nghị giám đốc thẩm

Qua xem xét những trường hợp Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận toàn

bộ kháng nghị, thấy nhiều kháng nghị có chất lượng, chẳng hạn như kháng nghị sau đây của VKS tỉnh đối với bản án sơ thẩm cùng cấp và cấp dưới:

- Vụ án Ph H Cáo trạng số 04/KSĐT ngày 15/7/2009 của VKS huyện L.S truy tố Ph.H tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều

250 BLHS Bản án sơ thẩm số 09/2009/HSST ngày 24/9/2009 tuyên xử: Tuyên bố

bị cáo Ph H phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, áp dụng khoản 1 Điều 250, các điểm b,h,p khoản 1 Điều 46, Điều 60 BLHS xử phạt Ph H

12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 24 tháng kể từ ngày tuyên án Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, bồi thường dân sự, án phí… Ngày 01/10/2009 bị hại kháng cáo cho rằng án sơ thẩm xử không đúng pháp luật,

bỏ lọt tội phạm; không buộc bị cáo Ph.H liên đới bồi thường dân sự là không đúng pháp luật, yêu cầu cấp phúc thẩm xét lại toàn bộ vụ án

Ngày 12/8/2009 VKS tỉnh có Kháng nghị phúc thẩm số 134/QĐ-KNPT với nhận định: Các cháu nhỏ (đều dưới 16 tuổi) là V.V.Th, L.M.C, Ng.H.Th và Ng.V.Th đã 6 lần trộm cắp tài sản (dầu điêzen, nhớt máy, vỏ can nhựa đựng dầu) của bà Ph., mỗi lần trộm cắp được, các cháu đều đem bán cho Ph.H Giữa Ph.H và các cháu không có sự bàn bạc với nhau từ trước về việc Ph.H sẽ tiêu thụ số tài sản trộm cắp được, nên Ph.H không phạm tội trộm cắp Tổng tài sản 6 lần trộm cắp là 3.936.000đ (có 2 lần mỗi lần trộm cắp dưới 500.000đ; có 4 lần mỗi lần trộm cắp trên 500.000đ) Tổng tài sản trộm cắp được Ph.H mua trả tiền 5 lần là 3.288.000đ (có 3 lần mỗi lần trên 500.000đ, có 3 lần mỗi lần dưới 500.000đ) Sở dĩ có chệnh lệch giữa tổng giá trị tài sản trộm cắp được định giá với tổng giá trị tài sản tiêu thụ

là do giá mua và do tiêu hao trong quá trình các cháu trộm cắp và vận chuyển đem bán cho Ph.H Cơ quan điều tra huyện ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự số

Trang 40

01/QĐ ngày 26/02/2009 về tội “Trộm cắp tài sản” nên không khởi tố bị can đối với

4 cháu nhỏ; không ra quyết định khởi tố vụ án về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” nên không khởi tố bị can về tội này đối với Ph H Nhưng

VKS huyện lại ra Quyết định số 01 ngày 7/5/2009 Quyết định hủy bỏ Quyết định

không khởi tố vụ án hình sự số 01/QĐ ngày 26/02/2009 với nội dung sau:

Quyết định hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự…Xét Quyết định

không khởi tố vụ án hình sự số 01/QĐ ngày 26/02/2009 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L.S là không có căn cứ; xác định có dấu hiệu tội phạm “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” xảy ra tại thôn Tây, xã A.V., huyện L.S., tỉnh Quảng Ngãi quy định tại khoản 1 Điều 250 BLHS

Sau đó, Cơ quan điều tra khởi tố bị can đối với Ph.H về tội “Tiêu thụ tài sản

do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 250 BLHS, được VKS huyện phê chuẩn

Kháng nghị đã quyết định: Kháng nghị toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm số 09/2009/HSST ngày 24/9/2009; yêu cầu TAND tỉnh xét xử phúc thẩm tuyên hủy bản án sơ thẩm nói trên, giao hồ sơ về cho VKS cấp sơ thẩm để điều tra lại Bản án Hình sự phúc thẩm số 78/2009/HSPT ngày 7/12/2009 đã áp dụng điểm d khoản 2 Điều 248, Điều 251 BLTTHS chấp nhận toàn bộ kháng nghị Chúng tôi có bình luận sau đây:

Quyết định số 01 ngày 7/5/2009 có những vi phạm, sai lầm sau đây:

Cơ quan Điều tra ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự số 01/QĐ ngày

26/02/2009, do đó không ra quyết định khởi tố bị can đối với 4 cháu nhỏ, là hoàn

toàn đúng pháp luật vì 4 cháu nhỏ khi cùng trộm cắp đều đủ 14 tuổi nhưng dưới 16

Ngày đăng: 11/06/2018, 16:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm