Mặt khác, Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành chưa có quy định cụ thể về căn cứ kháng nghị phúc thẩm, thời hạn kháng nghị đan xen với thời hạn cấp phát, gửi bản án sơ thẩm của Toà án cấp s
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THÀNH AN
KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THÀNH AN
KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 838.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS ĐINH THỊ MAI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu sử dụng phân tích trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác
Tôi viết lời cam đoan này để Hội đồng cho phép tôi bảo vệ luận văn./
Tác giả
Nguyễn Thành An
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VỀ KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM 7
1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò kháng nghị phúc thẩm hình sự 7 1.2 Thẩm quyền, đối tượng, căn cứ và thời hạn của kháng nghị phúc thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam 15 1.3 Trình tự, thủ tục và hậu quả của kháng nghị phúc thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam 26
CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM Ở TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG 37
2.1 Hoạt động kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh tại khu vực Miền Trung, Tây Nguyên 37 2.2 Thực tiễn giải quyết những vụ án bị kháng nghị của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng 52
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM HÌNH SỰ 62
3.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về kháng nghị phúc thẩm và xét xử phúc thẩm 62 3.2 Kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng kháng nghị phúc thẩm hình sự 69
KẾT LUẬN 80 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLHS : Bộ luật hình sự BLTTHS : Bộ luật Tố tụng hình sự TANDTC : Toà án nhân dân tối cao VKSND : Viện kiểm sát nhân dân VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Trang 6lý hình sự phúc thẩm từ năm 2015 – 2017 tại Tòa án nhân
dân cấp cao tại Đà Nẵng
40
2.3
Biểu đồ so sánh số lượng án kháng nghị của Viện kiểm
sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và Viện kiểm sát nhân
dân các tỉnh Miền Trung và Tây Nguyên qua các năm
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời đại ngày nay, quyền con người, quyền công dân ngày càng được chú trọng bảo vệ trên toàn cầu Chính sách lãnh đạo của Đảng và Nhà nước cũng như Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 cũng
không nằm ngoài xu thế đó, ngày càng tập trung cải cách tư pháp mục tiêu “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” [12.tr.02] góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Viện kiểm sát nhân dân được giao một vị trí quan trọng trong hoạt động tư
pháp với nhiệm vụ trọng tâm là: “…thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động
tư pháp…” quy định tại Điều 107 của Hiến pháp năm 2013 Trong tố tụng hình
sự, kháng nghị phúc thẩm hình sự là một quyền năng riêng biệt của Viện kiểm sát nhân dân và cũng là căn cứ mở ra giai đoạn xét xử phúc thẩm Xét xử phúc thẩm là một trong hai cấp xét xử trong nguyên tắc xét xử hai cấp nhằm kiểm tra lại tính hợp pháp của bản án hoặc quyết định sơ thẩm Qua đó phát hiện và khắc phục những sai lầm, thiếu sót trong quá trình xét xử, áp dụng pháp luật và đánh giá chứng cứ của Toà án cấp sơ thẩm
Kháng nghị phúc thẩm hình sự là quy trình và là công cụ sắc bén để kiểm tra, rà soát quá trình xét xử sơ thẩm có thực sự vô tư, khách quan và đúng quy định pháp luật Kháng nghị phúc thẩm hình sự góp phần quan trọng trong việc xét xử đúng người, đúng tội, phục vụ công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm, bảo vệ quyền con người, bảo vệ công lý cũng là mục đích của pháp luật tố tụng hình sự Vì vậy, việc tập trung nghiên cứu, đánh giá thực trạng kháng nghị phúc thẩm hình sự, từ đó đề ra các phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác này có giá trị thiết thực và góp phần quan trọng trong công cuộc cải cách tư pháp nước ta hiện nay
Trang 8Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng được thành lập tháng 6 năm 2015 với hai nhiệm vụ trọng tâm là xét xử phúc thẩm và xem xét giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án của Toà án nhân dân các tỉnh Miền Trung và Tây Nguyên Trong đó, công tác xét xử phúc thẩm là công tác hàng đầu không những có chức năng kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của bản án, quyết định sơ thẩm mà còn hướng dẫn Tòa án cấp dưới áp dụng thống nhất pháp luật Thực tiễn xét xử phúc thẩm cho thấy, công tác kháng nghị phúc thẩm đối với bản án, quyết định hình sự sơ thẩm
đã đạt được kết quả nhất định và đang có xu hướng chuyển biến tích cực Chất lượng kháng nghị ngày càng nâng cao, đa phần đảm bảo được về hình thức cũng như nội dung, căn cứ pháp lý Tỷ lệ vụ án bị kháng nghị được Toà án cấp phúc thẩm chấp nhận tăng lên góp phần không nhỏ trong việc loại trừ những sai sót do nguyên nhân chủ quan cũng như khách quan của Toà án cấp sơ thẩm Qua thực tiễn xét xử của Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng từ thời điểm thành lập (năm 2015) đến nay đã phản ánh được phần nào chất lượng kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh Miền Trung và Tây Nguyên Tuy nhiên, ngoài những kết quả đã đạt được, trên thực tiễn, công tác này cũng còn tồn tại nhiều hạn chế, khó khăn Chẳng hạn như còn có một bộ phận không nhỏ những bản kháng nghị không đạt yêu cầu cả chất lượng lẫn nội dung dẫn đến việc Viện kiểm sát cấp trên phải rút kháng nghị của Viện kiểm sát cấp dưới, hoặc Toà án cấp phúc thẩm bác kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân, việc này không những gây tổn thất về tài chính
và thời gian của Cơ quan tiến hành tố tụng cũng như những người tham gia tố tụng mà còn làm mất lòng tin của nhân dân đối với hoạt động của ngành kiểm sát Nguyên nhân chủ yếu là do năng lực và trách nhiệm của cán bộ, Kiểm sát viên còn hạn chế, một số đơn vị chạy theo chỉ tiêu kháng nghị lấy thành tích, lãnh đạo một số đơn vị chưa thật sự quan tâm tới công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự, mối quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát các cấp cũng như sự phối hợp giữa Viện kiểm sát và các cơ quan tư pháp trong công tác kháng nghị phúc thẩm
Trang 9chưa thống nhất Mặt khác, Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành chưa có quy định
cụ thể về căn cứ kháng nghị phúc thẩm, thời hạn kháng nghị đan xen với thời hạn cấp phát, gửi bản án sơ thẩm của Toà án cấp sơ thẩm cho Viện kiểm sát còn chậm, trang thiết bị, cơ sở vật chất hỗ trợ cho công tác thực hành quyền công tố
và kiểm sát xét xử chưa đầy đủ
Từ những lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài “Kháng nghị phúc thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ luật Nội dung cơ bản của đề tài là
tác giả nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh Miền Trung, Tây Nguyên và kết quả giải quyết của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng Tác giả sẽ tổng hợp, đánh giá và tìm ra nguyên nhân của hạn chế và tồn tại, đưa ra một số giải pháp
và kiến nghị để nâng cao chất lượng kháng nghị phúc thẩm hình sự, qua đó góp phần giúp ngành kiểm sát thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Kháng nghị phúc thẩm hình sự là quyền năng pháp lý quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân và ngày càng được chú trọng nâng cao nên đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu vấn đề này, Luận văn thạc sĩ hoặc các bài báo khoa học có nội dung liên quan của một số tác giả dưới nhiều góc độ, khía cảnh khác
nhau Trong đó, một số Luận văn Thạc sĩ luật học như: Kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, tác giả Chu Thị Thanh Tú, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2007 Kháng nghị phúc thẩm các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, một
số vấn đề lý luận và thực tiễn, tác giải Trần Thị Minh Ngọc, Đại học Quốc gia
Hà Nội năm 2011 Các bài báo, tạp chí: Bàn thêm về kháng nghị theo thủ tục
Trang 10phúc thẩm vụ án hình sự, tác giả Đinh Văn Quế, Tạp chí kiểm sát số 15 (tháng 8/2007), số 17 (tháng 9/2007) Một số đề xuất nhằm thực hiện có hiệu quả hơn công tác kháng nghị phúc thẩm án hình sự, tác giả Lê Doãn Tiết, Tạp chí Kiểm sát số 17 (tháng 9/2009) Nâng cao chất lượng công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự, Chuyên đề của Tạp chí Kiểm sát, số 16 (tháng 8/2010) Ngoài ra, còn
có một số các bài viết của các tác giả trên một số tạp chí, sách báo pháp lý… Tuy nhiên, chưa có bài viết nào nghiên cứu, đánh giá, nhìn nhận ở khía cạnh thực tiễn xét xử phúc thẩm những bản án hình sự bị kháng nghị của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng để rút ra nguyên nhân, lý giải các yếu tố ảnh hưởng, những tồn tại, đưa ra giải pháp, kiến nghị nâng cao hơn nữa chất lượng kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân nói chung và chất lượng kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh Miền Trung, Tây Nguyên nói riêng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
Một là, làm rõ cơ sở lý luận của kháng nghị phúc thẩm hình sự: Khái niệm,
đặc điểm, vai trò, thẩm quyền, căn cứ, thời hạn, trình tự, thủ tục kháng nghị phúc thẩm hình sự Phân tích sâu sắc các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm
2015 về kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm của Viện kiểm sát
Hai là, đánh giá toàn diện thực trạng công tác kháng nghị phúc thẩm hình
Trang 11sự của Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh Miền Trung, Tây Nguyên trong thời gian
từ năm 2015 đến nay, từ đó rút ra những mặt tích cực và hạn chế về công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự cũng như việc áp dụng quy định này trên thực tế xét xử ở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng hiện nay
Ba là, đề xuất các giải pháp, kiến nghị khả thi nhằm nâng cao chất lượng,
hiệu quả công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu vấn đề lý luận về quyền kháng nghị của Viện kiểm
sát và thực tiễn công tác xét xử của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng những
vụ án hình sự bị kháng nghị ở các tỉnh Miền Trung, Tây Nguyên
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu quy định về quyền kháng nghị trong BLTTHS Việt Nam và thực tiễn xét xử phúc thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đối với kháng nghị Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và Viện kiểm sát
nhân dân các tỉnh Miền Trung, Tây Nguyên từ năm 2015 đến năm 2017
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Cơ sở phương pháp luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác– Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, về cải cách tư pháp; những tri thức khoa học của triết học, xã hội học, luật học, các học thuyết chính trị pháp lý…
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, điều tra xã hội học Ngoài
ra, trong quá trình nghiên cứu, tác giả tham khảo ý kiến chuyên gia, tọa đàm và
Trang 12phương pháp nghiên cứu các bản án và hồ sơ vụ án
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiển của luận văn
Đây là công trình đầu tiên ở cấp độ luận văn thạc sĩ nghiên cứu hệ thống, toàn diện về kháng nghị phúc thẩm theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng Những kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa khoa học và thực tiễn quan trọng sau:
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Những lý luận và pháp luật tố tụng hình sự về kháng nghị phúc
Trang 13Chương 1 NHỮNG LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VỀ KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM
1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò kháng nghị phúc thẩm hình sự
1.1.1 Khái niệm kháng nghị phúc thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự
Bản án, quyết định của Toà án là văn bản pháp lý thể hiện sự phán quyết đối với hành vi của con người, phản ánh công bằng xã hội Do vậy, Hiến pháp và pháp luật Việt Nam quy định nguyên tắc hai cấp xét xử: Chế độ xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm được bảo đảm (Điều 103 Hiến pháp năm 2013) nhằm mục đích khắc phục những sai sót trong quá trình xét xử sơ thẩm, đảm bảo áp dụng pháp luật một cách thống nhất và bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Một trong những cơ sở phát sinh thủ tục xét xử phúc thẩm là quyền kháng nghị của Viện kiểm sát Chế định kháng nghị là quy định hiện thực hoá nguyên tắc hai cấp xét xử của Tòa án và cũng là biện pháp quan trọng thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân (Điều 107 Hiến pháp năm 2013)
Về mặt lý luận có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm kháng nghị phúc
thẩm hình sự Trước hết, tác giả muốn phân tích khái niệm “kháng nghị” và khái niệm “xét xử phúc thẩm” để từ đó đưa ra khái niệm “kháng nghị phúc thẩm hình sự”
Nếu hiểu nghĩa thông dụng, theo Từ điển Tiếng Việt, thuật ngữ kháng nghị:
Là bày tỏ ý kiến chống lại điều đã quyết nghị [54.tr.180] Như vậy, theo cách
hiểu về câu từ thì kháng nghị là việc đưa ra ý kiến chống lại quyết định của một nhóm người, hay tổ chức nào đó Ở khía cạnh của những người nghiên cứu Luật
học và lịch sử tố tụng, thì kháng nghị có một số định nghĩa như: “Kháng nghị là hành vi tố tụng của người có thẩm quyền, thể hiện sự phản đối một phần hoặc toàn bộ nội dung bản án, quyết định của Toà án với mục đích bảo đảm cho việc
Trang 14xét xử được chính xác, công bằng đồng thời sửa chữa những sai lầm trong bản
án, quyết định của Toà án” [53.tr.88] Hoặc theo Từ điển giải thích Luật học của Trường đại học Luật Hà Nội thì kháng nghị được định nghĩa: “Là việc người có thẩm quyền yêu cầu Toà án xét lại bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật theo thủ tục phúc thẩm” [55.tr.183] Cả hai cách định nghĩa về thuật
ngữ Luật học đều thể hiện được chủ thể thực hiện quyền kháng nghị chung chung là người có thẩm quyền chứ chưa xác định cụ thể người nào, cơ quan, tổ chức nào có quyền kháng nghị cũng như chưa xác định được đối tượng kháng nghị cụ thể là bản án, quyết định có hiệu lực hay chưa có hiệu lực
Đối với khái niệm xét xử phúc thẩm: Theo Từ điển Tiếng Việt năm 1994,
chủ biên Giáo sư Hoàng Phê thì “phúc thẩm là Tòa án cấp trên xét xử lại một vụ
án do cấp dưới đã xét xử sơ thẩm mà có chống án” [33.tr.780] Về cơ bản khái
niệm này đã nêu được phúc thẩm là Tòa án cấp trên xét xử lại vụ án của Tòa án cấp dưới trong trường hợp có cá nhân, tổ chức trong vụ án có phản đối lại bản án
và yêu cầu Tòa án xét xử lại ở cấp cao hơn Tuy nhiên, khái niệm này cũng chưa chưa chỉ rõ Tòa án cấp trên là Tòa án nào, khái niệm này cũng chưa luận giải rõ chống án là gì, ai có quyền chống án, đối tượng chống án Trong khi theo quy định của Luật tổ chức hệ thống Tòa án nhân dân năm 2014 thì hệ thống tổ chức Toà án nhân dân của nước ta có hai Toà có quyền xét xử phúc thẩm: Toà án nhân dân cấp cao, Tòa án nhân dân cấp tỉnh
Hiện nay, thuật ngữ xét xử phúc thẩm đã được Bộ luật tố tụng hình sự định nghĩa chính thức, theo quy định tại Điều 330 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
thì khái niệm xét xử phúc thẩm được định nghĩa là: “việc Toà án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị”[17.tr.280] Theo định nghĩa này thì xét xử phúc thẩm với ý nghĩa là cấp
xét xử thứ hai; căn cứ làm phát sinh thủ tục phúc thẩm là kháng cáo, kháng nghị Đối tượng xét xử phúc thẩm là bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp
Trang 15luật và phải do Toà án cấp trên trực tiếp xét xử lại
Từ việc nghiên cứu hai định nghĩa về kháng nghị và xét xử phúc thẩm Chúng ta đã phần nào hình dung được khái niệm kháng nghị phúc thẩm hình sự
Theo tác giả Đinh Văn Quế thì “Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm hình sự là một văn bản do Viện kiểm sát ban hành yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xét xử lại
vụ án mà Toà án cấp sơ thẩm cùng cấp hoặc cấp dưới trực tiếp đã xét xử, nhưng xét thấy không đúng pháp luật” [37.tr.235] Về cơ bản thì khái niệm này đã làm
rõ được Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền kháng nghị nhưng lại cho rằng Viện kiểm sát ban hành văn bản kháng nghị hình sự phúc thẩm yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử nhưng xét thấy không đúng pháp luật là chưa thật sự cụ thể, chưa thể hiện rõ đối tượng kháng nghị là bản án, quyết định chưa có lực pháp luật mới bị kháng nghị, và cũng chưa thể hiện đây là quyền năng chỉ có Viện kiểm sát mới có được
Pháp luật Việt Nam hiện hành vẫn chưa có điều luật định nghĩa khái niệm kháng nghị phúc thẩm hình sự, nhưng có những quy định xoay quay chế định kháng nghị phúc thẩm hình sự
Theo Điều 17 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960: “Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát nhân dân địa phương có quyền: Kháng nghị những bản án hoặc quyết định sơ thẩm của Toà án nhân dân cùng cấp và dưới một cấp”[28.tr.17] và theo Điều 13 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981 quy định: “Khi thực hiện công tác kiểm sát xét xử, các Viện kiểm sát nhân dân có quyền: Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm các bản án và quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân cùng cấp và dưới một cấp, khi thấy có vi phạm pháp luật”[28.tr.16]
Như vậy, kháng nghị phúc thẩm hình sự được xem là quyền năng pháp lý đặc biệt mà Nhà nước chỉ giao cho ngành kiểm sát
Theo quy định tại Điều 336 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì “Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án
Trang 16hoặc quyết định sơ thẩm” [16.tr.285] Tức là, Viện kiểm sát cùng cấp và Viện
kiểm sát cấp trên trực tiếp với Tòa án đã tuyên bản án, quyết định sơ thẩm có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án và quyết định sơ thẩm của Toà án nhân dân chưa có hiệu lực pháp luật Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, thực hiện chức năng kiểm sát đối với việc áp dụng pháp luật của tất cả các chủ thể trong hoạt động tư pháp, trong đó có Toà án nhân dân vì Viện kiểm sát là cơ quan có quyền truy tố người phạm tội trước toà và để đảm bảo cho việc quyết định truy tố của mình, cũng như đảm bảo cho việc xét xử đúng pháp luật, khi phát hiện bản án, quyết định sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng, Viện kiểm sát kháng nghị phúc thẩm để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại vụ án theo đúng quy định pháp luật Trên cở sở tiếp thu những quan điểm và quy định của pháp luật tố tụng hình
sự Việt Nam, tác giả cho rằng khái niệm kháng nghị hình sự phúc thẩm được hiểu theo hai nghĩa cơ bản: Theo nghĩa rộng về mặt hình thức và hiểu theo bản chất nội dung cụ thể
Xét về nghĩa rộng về mặt hình thức thì tác giả có thể đưa ra khái niệm:
Kháng nghị phúc thẩm hình sự là quyền riêng biệt của Viện kiểm sát thể hiện bằng văn bản pháp lý yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xét xử lại bản án, quyết định hình sự chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp sơ thẩm có vi phạm pháp luật
Xét về bản chất, nội dung cụ thể thì có thể hiểu khái niệm kháng nghị phúc
thẩm hình sự như sau: Kháng nghị phúc thẩm hình sự là một quyền năng pháp lý riêng của Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp thực hiện bằng văn bản pháp lý nêu rõ lý do, căn cứ và yêu cầu của việc kháng nghị đối với bản
án, quyết định hình sự sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án khi cho rằng một phần hoặc toàn bộ nội dung bản án, quyết định đó không đúng pháp luật nhằm đảm bảo Toà án xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân
Trang 171.1.2 Đặc điểm của kháng nghị phúc thẩm theo pháp luật tố tụng hình
Chủ thể của quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự là Viện kiểm sát, cụ thể
là Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp với Tòa án đã tuyên bản án, quyết định sơ thẩm được quy định tại khoản 1 Điều 336 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 Theo quy định này, pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
đã giao quyền kháng nghị cho Viện kiểm sát chứ không phải là Kiểm sát viên hay Công tố viên Như vậy, khi đại diện của Viện kiểm sát tham gia phiên toà sơ thẩm cho rằng quá trình xét xử cũng như bản án, quyết định sơ thẩm vi phạm tố tụng hình sự, áp dụng pháp luật không đúng, không thể hiện được diễn biến khách quan của vụ án thì có thể báo cáo, đề xuất Viện trưởng ban hành quyết định kháng nghị
Kháng nghị phúc thẩm là một hoạt động quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân và chỉ Viện kiểm sát mới có quyền kháng nghị phúc thẩm, trong tất cả các văn bản pháp quy định về quyền kháng nghị từ trước đến nay đều thể hiện: Quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự là quyền năng pháp lý đặc biệt duy nhất chỉ có ở Viện kiểm sát Viện kiểm sát là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, thực hiện chức năng kiểm sát đối với việc áp dụng pháp luật của tất cả các chủ thể trong hoạt động tư pháp, trong đó có Toà
án nhân dân Toà án là cơ quan xét xử có tính độc lập, nhưng hoạt động xét xử của Tòa án chỉ có thể đạt hiệu quả cao và không có những vi phạm nghiêm trọng khi đặt dưới sự giám sát của Viện kiểm sát nhân dân Trong khi đó pháp luật của nhiều nước trên thế giới không quy định Viện kiểm sát có quyền kiểm sát hoạt động xét xử của Tòa án, vì làm như vậy vô tình ảnh hưởng đến nguyên tắc độc
Trang 18lập xét xử của Tòa án Tuy nhiên, căn cứ vào tình hình thực tại của nước ta, vấn
đề kiểm sát, ngăn chặn sự lạm dụng quyền lực trong tố tụng hình sự rất phức tạp nên quyền về tư pháp cũng như kiểm sát hoạt động tư pháp được Nhà nước giao cho nhiều cơ quan
Viện kiểm sát kháng nghị phúc thẩm đề nghị Tòa án cấp trên xét xử lại vụ
án để đảm bảo cho việc quyết định truy tố của mình, cũng như đảm bảo cho việc xét xử đúng pháp luật, khi phát hiện bản án, quyết định sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng Trong giai đoạn điều tra và giai đoạn xét xử sơ thẩm, Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật nhằm đảm bảo cho mọi hoạt động điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Thông qua kháng nghị phúc thẩm, Viện kiểm sát bảo vệ quyền truy tố của mình đồng thời cũng bảo đảm cho Tòa án ban hành một bản án chính xác, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Đây
là một trong những quyền năng pháp lý mà thông qua đó Viện kiểm sát đồng thời thực hiện hai chức năng là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp
Thứ hai, kháng nghị được thể hiện bằng văn bản pháp lý, là điều kiện pháp
lý để vụ án được xét xử lại ở cấp phúc thẩm
Không phải bất cứ vụ án nào đều phải trải qua hai cấp xét xử, mà chỉ có những vụ án có kháng cáo, bị kháng nghị mới được tiến hành xét xử ở cấp phúc thẩm Như vậy, kháng nghị phúc thẩm là một trong hai điều kiện pháp lý để vụ
án được xét xử lại ở cấp phúc thẩm Khi có kháng nghị của Viện kiểm sát thì Toà án cấp trên trực tiếp phải mở phiên toà xét xử lại bản án, quyết định bị kháng nghị
Theo quy định mới của Bộ luật tố tụng hình sự thì quyết định kháng nghị hình sự phúc thẩm phải đầy đủ nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 336 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 Đặc điểm này thể hiện sự khác biệt giữa kháng nghị của Viện kiểm sát và kháng cáo của bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị
Trang 19đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bởi lẽ, kháng nghị của Viện kiểm sát bắt buộc phải bằng văn bản có nội dung chính theo luật đinh và nêu rõ ràng căn cứ, lý do kháng nghị, đồng thời yêu cầu cụ thể Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết vấn đề nào Kháng nghị của Viện kiểm sát khác kháng cáo của đương
sự, bị cáo ở chỗ những người kháng cáo có quyền trình bày trực tiếp với Tòa án
đã xét xử sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm về việc kháng cáo của mình và được Tòa án ghi nhận bằng văn bản (khoản 1 Điều 332 BLTTHS năm 2015) Trong nội dung kháng cáo cũng không nhất thiết phải nêu rõ căn cứ kháng cáo, chỉ cần thể hiện quan điểm không đồng ý với bản án, quyết định sơ thẩm
Thứ ba, đối tượng kháng nghị là bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật
Các quyết định sơ thẩm bị kháng nghị là quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án, quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị cáo, quyết định đình chỉ vụ
án đối với bị cáo và quyết định khác của Toà án cấp sơ thẩm mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định (khoản 2 Điều 330 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015) Đây là quy định mới sửa đổi, bổ sung của BLTTHS năm 2015 so với quy định của BLTTHS năm 2003 thì nay đã quy định rõ ràng đối tượng kháng nghị là quyết định nào để tránh sự nhầm lẫn Viện kiểm sát có thể kháng nghị đối với bất cứ quyết định nào của Tòa án cấp sơ thẩm Như vậy, theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành thì những quyết định khác của Tòa án cấp sơ thẩm bị khiếu nại thì không làm phát sinh thủ tục xét xử phúc thẩm, mà do Chánh án, Phó Chánh án Tòa án ra quyết định xem xét giải quyết theo thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự
1.1.3 Vai trò của kháng nghị phúc thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự
Kháng nghị hình sự phúc thẩm là một trong những cơ sở pháp lý để vụ án được xét xử lại ở cấp phúc thẩm Mục đích nhằm khắc phục những sai phạm của bản án, quyết định sơ thẩm, đảm bảo tính có căn cứ pháp lý, hợp pháp của bản
án, quyết định, đảm bảo phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm
Trang 20tội, không để lọt người, lọt tội, không làm oan người vô tội
Kháng nghị phúc thẩm là cơ chế phát hiện kịp thời sai phạm, đề nghị khắc phục, nâng cao chất lượng xét xử vụ án Là phương tiện bảo vệ lợi ích Nhà nước,
xã hội, quyền lợi ích hợp pháp của công dân Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát giám sát mọi hoạt động của cơ quan Toà án, giám sát tính hợp pháp và tính có căn cứ của các bản án, quyết định của Toà án nhằm đảm bảo cho việc xét xử được tiến hành theo đúng các quy định của pháp luật
Thông qua quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự, Viện kiểm sát bảo vệ quan điểm truy tố, bảo đảm cho hoạt động của các cơ quan tư pháp được đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, đồng thời nhằm đảm bảo cho Tòa án ra một bản
án chính xác, có căn cứ, xét xử đúng người, đúng tội
Bằng hoạt động kháng nghị phúc thẩm hình sự, Viện kiểm sát thực hiện chức năng mà Nhà nước đã giao cho ngành kiểm sát là yêu cầu Toà án phải đưa
vụ án ra xét xử theo trình tự phúc thẩm, góp phần nâng cao chất lượng xét xử các
vụ án hình sự, đảm bảo cho việc Toà án ra một bản án dân chủ, khách quan, đúng pháp luật, đồng thời tăng cường hiệu quả giáo dục, nâng cao ý thức pháp luật, cũng cố niềm tin vào công lý cho quần chúng nhân dân và chủ động tham gia đấu tranh phòng chống tội phạm một cách có hiệu quả
Khi thực hiện tốt công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự sẽ đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa Trong Nhà nước pháp quyền mọi cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội, mọi công dân đều phải tuân thủ pháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt để và thống nhất Điều đó đòi hỏi việc tổ chức và hoạt động của Bộ máy nhà nước phải được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật trong đó có hoạt động xét xử, tất cả các công dân phải nghiêm chỉnh và triệt để tôn trọng pháp luật khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, đồng thời mọi vi phạm pháp luật đều phải được xử lý nghiêm minh
Tính thống nhất của pháp chế xã hội chủ nghĩa đòi hỏi Bộ máy nhà nước,
cơ quan, đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội và mọi công dân phải thực hiện một
Trang 21cách thống nhất, vì vậy bảo đảm tính thống nhất của pháp chế là điều kiện không thể thiếu để thực hiện quyền dân chủ đối với mọi công dân
Viện kiểm sát thực hiện chức năng kháng nghị phúc thẩm tốt sẽ đảm bảo cho hoạt động xét xử của Tòa án cũng như hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp phải tuân thủ pháp luật một cách triệt để, đảm bảo cho mọi vi phạm đều bị phát hiện và xử lý kịp thời Thông qua thực hiện quyền kháng nghị, Viện kiểm sát bảo vệ quan điểm truy tố, nhằm đảm bảo cho mọi hành vi vi phạm pháp luật đều bị xử lý nghiêm minh Đồng thời, đảm bảo cho hoạt động xét xử của Tòa án được công bằng, việc áp dụng pháp luật thống nhất trên phạm vi cả nước
Như vậy thực hiện tốt công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần nâng cao hiệu quả công tác của ngành kiểm sát
1.2 Thẩm quyền, đối tượng, căn cứ và thời hạn của kháng nghị phúc thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
1.2.1 Thẩm quyền, giới hạn và đối tượng kháng nghị phúc thẩm hình sự
* Thẩm quyền, giới hạn kháng nghị phúc thẩm hình sự
Hoạt động xét xử của Tòa án được xem là trung tâm của hoạt động tư pháp Phán quyết của Tòa án có giá trị pháp lý cao nhất xác định một con người, pháp nhân có tội hay không có tội Viện kiểm sát với chức năng thực hành quyền công
tố, buộc tội một người và truy tố người đó ra Tòa án xét xử bằng một bản cáo trạng Nếu nhận định của Tòa án không đồng thuận với cáo trạng thì sau khi xét
xử sơ thẩm, Viện kiểm sát có thể phản ứng lại bằng cách kháng nghị đối với bản
án, quyết định của Tòa án đã xét xử sơ thẩm Đồng thời, trong quá trình xét xử Tòa án có nhưng hoạt động không phù hợp với tố tụng hình sự, áp dụng pháp luật không đúng sự thật khách quan, hay quá trình thẩm vấn, tranh tụng không khách quan thì với vai trò kiểm sát hoạt động xét xử của Tòa án, Viện kiểm sát
có quyền kháng nghị
Về thẩm quyền kháng nghị, theo Điều 232 của BLTTHS năm 2003, nay là
Trang 22Điều 336 BLTTHS năm 2015 cũng không có thay đổi quy định: “Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị những bản án hoặc quyết định sơ thẩm”[15.tr.171] Như vậy, quyền kháng nghị thuộc thẩm
quyền của Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp đối với Toà án đã xét xử sơ thẩm
Việc quy định Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp cũng có quyền kháng nghị là phù hợp nhằm khắc phục ngay những hạn chế của Viện kiểm sát cấp dưới khi không phát hiện được vi phạm trong bản án, quyết định hoặc phát hiện được nhưng lại hết thời hạn kháng nghị thì có văn bản đề nghị Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp kháng nghị phúc thẩm hoặc khắc phục tình trạng Viện kiểm sát cấp dưới đồng tình với quan điểm xét xử của Toà án cùng cấp mặc dù có vi phạm nên không kháng nghị
Theo quy định của BLTTHS hiện hành cũng như Quy chế số 960/2007/QĐ-VKSTC ngày 17/9/2007 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử quy định Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm những bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, được quy định cụ thể sau:
- Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm những bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa
có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp huyện
- Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm những bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp tỉnh và Toà án cấp huyện
- Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm những bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp tỉnh
Việc quy định Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng VKSND có quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự là chưa có gì thay đổi khi BLTTHS năm 2015 ra đời
Trang 23Mặc dù Nghị quyết 49 –NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và Báo cáo Tổng kết 35-BC/CCTP ngày 12/3/2014 của Ban chỉ đạo cải cách Tư pháp đã nêu rõ những tồn tại của ngành kiểm sát như sau:
“Chưa phân công rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên được giao thực hiện quyền công tố và Kiểm sát viên được giao kiểm sát hoạt động tư pháp Việc phân định rõ thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp trong hoạt động tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân, theo hướng tăng quyền và trách nhiệm cho kiểm sát viên để họ chủ động thực thi nhiệm vụ, nâng cao tính độc lập và chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi và quyết định tố tụng của mình chậm được nghiên cứu và cụ thể hóa”[2.tr.8]
Như vậy, quan điểm của Ban chỉ đạo cải cách tư pháp là muốn nâng cao thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm cho cả Kiểm sát viên, bởi họ là người trực tiếp nghiên cứu hồ sơ, tham gia từ giai đoạn điều tra, xét xử và là người trực tiếp phát hiện vi phạm thì phải mạnh dạn giao nhiệm vụ, quyền hạn cho họ cũng như kèm theo trách nhiệm đối với việc kháng nghị
Theo định hướng của Ban chỉ đạo cải cách tư pháp thì Viện trưởng và Phó Viện trưởng là chức danh quản lý, phụ trách quản lý hành chính, nên phân định
rõ ràng về chức danh quản lý hành chính và chức danh chuyên môn để chuyên nghiệp hóa trong công tác ngành kiểm sát Bởi lẽ, Viện trưởng và Phó Viện trưởng phải quản lý nhiều mặt trong cơ quan Viện kiểm sát nhân dân các cấp nên không có thời gian nghiên cứu vụ án cụ thể, dẫn đến việc phải nghiên cứu lại mất thời gian và không đảm bảo thời hạn kháng nghị phúc thẩm Tuy nhiên, nếu giao thẩm quyền kháng nghị cho Kiểm sát viên thì vụ án chưa được nghiên cứu, bàn bạc kỹ lưỡng, có thể xảy ra tình trạng kháng nghị tràn lan theo ý chí chủ quan của Kiểm sát viên
Hiện nay, trình độ, năng lực của Kiểm sát viên chưa thực sự đạt chất lượng
dễ dẫn đến tỷ lệ vụ án Toà án không chấp nhận kháng nghị tăng, hơn nữa cũng
Trang 24chưa có quy chế xác định trách nhiệm của Kiểm sát viên khi kháng nghị không được chấp nhận Do vậy việc quy định thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm như quy định hiện hành chưa đáp ứng được yêu cầu của cải cách tư pháp
Giới hạn kháng nghị phúc thẩm có liên quan chặt chẽ với phạm vi xét xử phúc thẩm vụ án Theo Từ điển Tiếng Việt do Giáo sư Hoàng Phê chủ biên năm
1994 thì: “Giới hạn là phạm vi, mức độ nhất định, không thể hoặc không được vượt qua” [33, tr.406] Do đó, Viện kiểm sát kháng nghị phúc thẩm có nội dung
không được vượt quá phạm vi xét xử của Toà án cấp phúc thẩm
Theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự, Viện trưởng Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm các bản án, quyết định của Toà án Trong trường hợp Viện kiểm sát cùng cấp hoặc cấp trên trực tiếp nếu kháng nghị phúc thẩm theo hướng có lợi cho bị cáo hoặc các đương sự thì không bị giới hạn Tuy nhiên, nếu Viện kiểm sát cùng cấp hoặc cấp trên trực tiếp kháng nghị phúc thẩm theo hướng bất lợi cho bị cáo hoặc các đương sự thì
sẽ bị giới hạn nếu nội dung kháng nghị đó chưa được Tòa án cấp sơ thẩm xét xử hoặc không thuộc thẩm quyền xét xử và quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm
Do vậy, trước khi Viện trưởng kháng nghị cần xem xét, yêu cầu kháng nghị không được vượt quá phạm vi xét xử của Toà án cấp phúc thẩm
* Đối tượng của kháng nghị phúc thẩm hình sự
Trước đây, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 tại Điều 230 quy định:
“Xét xử phúc thẩm là việc Toà án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị”[16.tr.170]
Tại Điều 232 quy định: “Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị những bản án hoặc quyết định sơ thẩm”[16.tr.171]
Việc quy định như vậy dẫn đến việc Viện kiểm sát hiểu nhầm là mọi quyết
Trang 25định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật đều bị kháng nghị
Nay quy định tại khoản 2 Điều 330 BLTTHS năm 2015 đã dành một điều khoản riêng quy định về quyết định sơ thẩm bị kháng nghị là:
“Quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ vụ án, quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo, quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo
và quyết định khác của Tòa án cấp sơ thẩm theo quy định của Bộ luật này”[17.tr.280]
Qua nội dung điều luật trên cho thấy đối tượng của kháng nghị phúc thẩm hình sự là bản án sơ thẩm hoặc quyết định sơ thẩm của vụ án đó nhưng chưa có hiệu lực pháp luật Bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật là những bản án, quyết định sơ thẩm còn trong thời hạn kháng cáo hoặc kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Như vậy, về nguyên tắc, bản án hoặc quyết định sơ thẩm
đã có hiệu lực pháp luật không phải là đối tượng của xét xử phúc thẩm và do đó, cũng không thuộc đối tượng của kháng nghị phúc thẩm
Đối tượng kháng nghị phúc thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành là thành quả của quá trình luật hóa Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP ngày 08/12/2005 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, về việc hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ tư “Xét xử phúc thẩm” của
Bộ luật tố tụng hình sự Theo quy định mới thì ngoài những quyết định được quy định rõ ràng, cụ thể ra, còn có những quyết định khác được quy định theo Bộ luật này Tất cả các quyết định đó đều có những đặc điểm chung Theo phân tích của tác giả thì quyết định bị kháng nghị có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, phải là các quyết định sơ thẩm của Toà án liên quan trực tiếp đến
việc xử lý vụ án, bị can, bị cáo
Thứ hai, phải là những quyết định sơ thẩm có vi phạm mà nếu không kháng
nghị phúc thẩm thì không có trình tự pháp luật nào để khắc phục
Thứ ba, là những quyết định sơ thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng hình
sự mà Toà án phải có trách nhiệm gửi quyết định đó cho Viện kiểm sát
Trang 261.2.2 Căn cứ và thời hạn kháng nghị phúc thẩm hình sự
* Căn cứ kháng nghị phúc thẩm hình sự
Bộ luật tố tụng hình sự 2003 hay Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành quy định cụ thể những căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm Tuy nhiên, đối với kháng nghị phúc thẩm thì Bộ luật tố tụng hình sự lại không quy định Trong khi Quy chế kiểm sát xét xử hình sự số 48/QĐ-VKSTC ngày 06/8/1996 của Viện trưởng VKSNDTC, quy định căn cứ kháng nghị phúc thẩm bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật được thay thế bằng Quyết định số 121/2004/QĐ-VKSTC ngày 16/9/2004 và Quyết định số 960/2007/QĐ-VKSTC ngày 17/9/2007 của Viện trưởng VKSNDTC xác định có 04 căn cứ sau đây:
- Việc điều tra, xét hỏi tại phiên toà sơ thẩm phiến diện hoặc không đầy đủ;
- Kết luận của bản án hoặc quyết định hình sự sơ thẩm không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án;
- Có những vi phạm trong việc áp dụng Bộ luật hình sự;
- Có những vi phạm về thủ tục tố tụng hình sự trong giai đoạn xét xử sơ thẩm [39.tr.24]
- Việc điều tra, xét hỏi tại phiên tòa phiến diện hoặc không đầy đủ là một căn cứ cần thiết được luật hóa nhưng đến nay vẫn chưa thực hiện được Khi điều tra, xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm phiến diện hoặc không đầy đủ sẽ không phản ánh được tình tiết khách quan của vụ án Chứng cứ không được thu thập, kiểm tra, đánh giá đúng quy định thì không đủ để giải quyết đúng đắn vụ án, không đạt được giới hạn chứng minh để xét xử tại phiên tòa Từ đó, Hội đồng xét xử sẽ không xem xét thấu đáo mọi tình tiết và chứng cứ của vụ án
- Kết luận trong bản án hoặc quyết định hình sự sơ thẩm không phù hợp với tình tiết khách quan vụ án được hiểu là kết luận trong bản án, quyết định sơ thẩm không phù hợp với chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án hoặc phản ánh tại phiên tòa Bản án không nhận định được nội dung diễn biến tại phiên tòa, lập luận có nhiều điểm mâu thuẫn dẫn đến đưa ra kết luận không có sức thuyết phục
Trang 27có thể gây bất lợi cho bị cáo hoặc những người liên quan trong vụ án
Hai căn cứ kháng nghị phúc thẩm: “Việc điều tra, xét hỏi tại phiên toà sơ thẩm phiến diện hoặc không đầy đủ; Kết luận của bản án hoặc quyết định hình
sự sơ thẩm không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án” tương tự căn
cứ kháng nghị giám đốc thẩm quy định tại Điều 273 BLTTHS năm 2003 Nhưng BLTTHS năm 2015 đã bỏ căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm thứ nhất của BLTTHS năm 2003 là phù hợp Bởi lẽ, việc điều tra, xét hỏi tại phiên tòa được xem là phiến diện, vi phạm pháp luật nghiêm trọng dẫn đến làm sai lệch hồ sơ vụ
án mới được xem là căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm Việc Bộ luật tố tụng hình
sự năm 2015 bỏ căn cứ đầu tiên là phù hợp và không trùng lặp với căn cứ kháng nghị phúc thẩm theo quy chế của Viện kiểm sát vì khi việc điều tra, xét hỏi ở phiên tòa sơ thẩm phiến diện có thể bổ sung ở phiên tòa phúc thẩm
- Căn cứ kháng nghị thứ ba là có vi phạm trong việc áp dụng Bộ luật hình
sự Việc xác định vi phạm trong việc áp dụng BLHS là khá rộng bao gồm cả quy định trong phần chung và phần riêng của Bộ luật Hình sự Vi phạm của Toà án trong việc áp dụng BLHS có thể làm cho việc áp dụng tội danh không đúng, quyết định hình phạt quá nặng hoặc quá nhẹ, thường nguyên nhân sai sót là do
áp dụng không đúng điều khoản, bỏ sót, thêm bớt các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ Tuy nhiên, khi xác định mức độ vi phạm trong áp dụng BLHS nếu không ảnh hưởng sự thật khách quan hoặc hình phạt, mà chỉ là sai sót nhỏ trong việc áp dụng điều luật thì không đủ cơ sở để kháng nghị
- Căn cứ kháng nghị thứ tư là thành phần Hội đồng xét xử không đúng luật định hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng Ví dụ: Thành phần Hội đồng xét xử trong vụ án có người chưa thành niên phạm tội thì ít nhất một Hội thẩm nhân dân là giáo viên hoặc cán bộ Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Hoặc những người trong Hội đồng xét xử có quan hệ thân thích sẽ không đảm bảo sự vô tư khách quan cũng vi phạm về thành phần Hội đồng xét xử Theo Nghị quyết 04/2004/NQ-HĐTP ngày 15/11/2004 của HĐTP TANDTC
Trang 28thì: Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là trường hợp BLTTHS quy định bắt buộc phải được tiến hành hoặc tiến hành theo thủ tục tố tụng đó nhưng cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng bỏ qua hoặc thực hiện không đúng, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo, người
bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án làm cho việc giải quyết vụ án thiếu khách quan, toàn diện
Đối với hai căn cứ kháng nghị phúc thẩm: Có những vi phạm trong việc áp dụng Bộ luật hình sự; Có những vi phạm về thủ tục tố tụng hình sự trong giai đoạn xét xử sơ thẩm Quy định như vậy là khác với căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm ở điểm những vi phạm để làm căn cứ giám đốc thẩm phải ở mức nghiêm trọng Theo quy định của BLTTHS năm 2015 bổ sung thêm những nội dung cơ bản của quyết định kháng nghị thành một khoản riêng trong điều luật Tại Điều
336 quy định quyết định kháng nghị phải nêu lý do, căn cứ kháng nghị và yêu cầu kháng nghị của Viện kiểm sát Việc Bộ luật quy định nội dung bắt buộc của quyết định kháng nghị là cơ sở pháp lý và cũng là tiêu chuẩn để Viện kiểm sát soạn thảo quyết định kháng nghị đúng hình thức và nội dung
Từ những phân tích trên cho thấy, các căn cứ kháng nghị phúc thẩm hình sự trên đang từng bước phù hợp với thực tiễn và tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự Tuy nhiên, hiện nay những căn cứ để kháng nghị phúc thẩm hình sự không được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự hoặc thông tư liên ngành, hay văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Căn cứ kháng nghị phúc thẩm mới chỉ được quy định đơn phương trong quy chế nghiệp vụ của ngành kiểm sát nhân dân Do đó, dẫn đến tình trạng nhận thức và áp dụng pháp luật giữa ngành kiểm sát và Toà án không thống nhất và đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến nhiều kháng nghị của Viện kiểm sát không được Toà án chấp nhận Vì vậy, để tạo cơ sở pháp lý cho công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát trong Bộ luật tố tụng hình sự cần quy định cụ thể
về căn cứ kháng nghị phúc thẩm hình sự như đối với thủ tục kháng nghị giám
Trang 29đốc thẩm, tái thẩm
* Thời hạn kháng nghị phúc thẩm hình sự
Thời hạn kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm hình sự là khoảng thời gian cần thiết theo quy định của pháp luật để Viện kiểm sát thực hiện việc kháng nghị Tại Tập hệ thống hóa luật lệ về tố tụng hình sự năm 1976 của Toà án nhân dân tối cao khẳng định:
“Nói chung, đơn kháng cáo và bản kháng nghị quá thời hạn là không hợp
lệ và không được chấp nhận để Tòa án nhân dân xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm Sự chậm trễ dù ít, dù nhiều, việc kháng cáo, kháng nghị quá hạn dù
có nội dung đúng cũng không nên châm chước; nếu không, sẽ dẫn đến tình trạng tùy tiện, xét xử không kịp thời ở cấp phúc thẩm, không đảm bảo tính chất ổn định của bản án và tác dụng thực tế của việc xét xử” [45.tr.214-215] Việc quy định
thời hạn kháng nghị là rất quan trọng nên thời hạn kháng nghị phải là một thời gian hợp lý, đảm bảo cho Viện kiểm sát có đủ thời gian để nghiên cứu, đưa ra quyết định có nên kháng nghị hay không
Tại Điều 337 BLTTHS năm 2015 quy định: “Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 30 ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án”[17.tr.286]
Còn đối với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm thì 07 ngày đối với Viện kiểm sát cùng cấp và 15 ngày đối với Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp So với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thì thời hạn này không có gì thay đổi
về mặt thời gian nhưng có sự khác biệt là thời hạn kháng nghị được quy định thành một điều luật riêng biệt, tách hẳn với thời hạn kháng cáo Việc tách ra là phù hợp và rõ ràng, cụ thể không gây nhầm lẫn giữa kháng cáo và kháng nghị Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp và thời hạn kháng cáo của những người có quyền kháng cáo là bằng nhau thể hiện sự công bằng giữa các chủ thể có quyền kháng cáo, kháng nghị, biểu hiện nguyên tắc bình đẳng trước Tòa án
Đối với việc đánh giá thời hạn mà BLTTHS năm 2015 vẫn giữ nguyên số
Trang 30ngày mà BLTTHS năm 2003 quy định thì tác giả nhận thấy phù hợp Vì thời hạn kháng nghị phải đáp ứng được yêu cầu không thể là thời hạn quá ngắn dẫn đến việc kháng nghị mất thận trọng, vội vàng, thiếu cân nhắc dẫn đến sai lầm và lãng
phí ở cấp phúc thẩm Nhưng vẫn đảm bảo “sự nhanh chóng của phản ứng xã hội
là quan trọng hàng đầu đối với hiệu quả của sự trừng phạt” [62.tr.180], việc
kháng nghị trong thời gian kịp thời sẽ đảm bảo công lý và pháp luật được thực thi Cách tính thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc của thời hạn kháng nghị
và việc xác định ngày kháng nghị mặc dù Bộ luật tố tụng hình sự 2015 cũng không có gì thay đổi, giống quy định của BLTTHS năm 2003 Tuy nhiên, vấn đề này được hướng dẫn cụ thể tại điểm a, tiểu mục 4.1, mục 4, Nghị quyết số 05/NQ-HĐTP ngày 08/12/2005 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối
cao như sau: “Thời điểm bắt đầu tính thời hạn kháng cáo, kháng nghị là ngày tiếp theo của ngày được xác định Ngày được xác định là ngày Toà án tuyên án hoặc ra quyết định trong trường hợp Viện kiểm sát, bị cáo, đương sự có mặt tại phiên toà hoặc là ngày bản án, quyết định được giao hoặc niêm yết trong trường hợp bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên toà”[25.tr.03] Hướng dẫn của Nghị
quyết là đã rõ ràng, cụ thể, thời gian qua vẫn được áp dụng khá tốt nhưng BLTTHS năm 2015 lại không luật hoá những hướng dẫn này thành điều luật cụ thể, để dễ dàng trong việc áp dụng pháp luật
Đối với thời điểm kết thúc thời hạn kháng nghị là thời điểm kết thúc ngày
cuối cùng của thời hạn và ngày cuối cùng của thời hạn là ngày tròn “Thời điểm kết thúc thời hạn kháng cáo, kháng nghị là thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hạn Thời điểm kết thúc ngày cuối cùng thời hạn vào lúc 24 giờ ngày đó” [25.tr.3] Như vậy, việc quy định 24 giờ ngày cuối cùng là có lợi cho người
kháng cáo, kháng nghị vì theo pháp luật một số nước ví dụ như quy định ở Pháp
thì thời điểm kết thúc là hết giờ làm việc của Tòa án [61.tr.789] Nhưng có một
điểm mà đến nay, BLTTHS năm 2015 hay văn bản hướng dẫn Bộ luật tố tụng hình sự vẫn không xác định được ngày kháng nghị phúc thẩm Vì nếu, xác định
Trang 31ngày kháng nghị là ngày mà người có thẩm quyền ký quyết định kháng nghị, được thể hiện trên quyết định kháng nghị thì có nguy cơ Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị ghi ngày ký không đúng nhằm hợp pháp hóa việc kháng nghị quá thời hạn
Trường hợp ngày cuối cùng của thời hạn kháng nghị là ngày nghỉ cuối tuần (thứ bảy, chủ nhật) hoặc ngày nghỉ lễ, thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày đầu tiên tiếp theo ngày nghỉ đó
Đối với việc gửi bản án sơ thẩm, trước đây tại Điều 229 Bộ luật tố tụng
hình sự năm 2003 quy định: “Trong thời hạn mười ngày kể từ ngày tuyên án, Toà án cấp sơ thẩm phải giao bản án cho bị cáo, Viện kiểm sát cùng cấp”[16.tr.169]
Nay BLTTHS năm 2015 đã khắc phục được điểm này tại Điều 262 là trong thời hạn 10 ngày phải giao bản án cho Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, tránh việc chậm trễ trong việc kháng nghị của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp Mặc dù vậy, nhưng trên thực tế việc giao bản án của Toà án thường không đúng thời hạn theo quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự, dẫn đến tình trạng khi Viện kiểm sát nhận được bản án thì đã hết thời hạn kháng nghị, làm cho công tác kháng nghị của Viện kiểm sát gặp những khó khăn nhất định Ví dụ như trường hợp: Viện kiểm sát thấy có đủ căn cứ để kháng nghị nhưng thời hạn kháng nghị đã hết nên không kháng nghị, hoặc khi Viện kiểm sát cấp dưới không kháng nghị, Viện kiểm sát cấp trên kháng nghị thì thời hạn kháng nghị không còn Nguyên nhân của việc chậm trễ gửi bản án có thể là nguyên nhân chủ quan của Tòa án, cũng
có thể là nguyên nhân khách quan từ cơ sở vật chất, địa bàn hoạt động nên vấn
đề đặt ra là Bộ luật tố tụng hình sự chỉ quy định xét kháng cáo quá hạn chứ không quy định việc xét kháng nghị quá hạn Đến nay BLTTHS năm 2015 ra đời cũng không đề cập đến vấn đề kháng nghị quá hạn Việc không quy định kháng nghị quá hạn bởi có quan điểm lý giải là nếu xét thấy kháng nghị phúc thẩm quá hạn, dẫn đến bản án có hiệu lực pháp luật mặc dù có vi phạm thì sẽ được dành
Trang 32quyền ở kháng nghị giám đốc thẩm của Viện kiểm sát cấp trên Cách lý giải này vấp phải nhiều quan điểm không đồng tình bởi lẽ việc xét xử ở cấp phúc thẩm và xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm là hoàn toàn khác nhau Và căn cứ để xem xét lại theo thủ tục kháng nghị phúc thẩm và kháng nghị giám đốc thẩm cũng khác nhau
Hơn nữa, nếu quy kết kháng nghị giám đốc thẩm và phúc thẩm có thể thay thế cho nhau vô tình hiểu nhầm xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm là cấp xét
xử thứ 3 dẫn đến việc không đảm bảo được nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử
1.3 Trình tự, thủ tục và hậu quả của kháng nghị phúc thẩm theo quy
định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
1.3.1 Trình tự, thủ tục kháng nghị phúc thẩm hình sự
Theo quy định tại khoản 1 Điều 336 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy
định “Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án, quyết định sơ thẩm” [17.tr.285] Như vậy, ngay sau khi kết
thúc phiên toà hoặc sau khi nghiên cứu quyết định sơ thẩm của Toà án thì kiểm sát viên được phân công giải quyết vụ án phải đánh giá kết quả xét xử, nội dung bản án, quyết định của Toà án Sau đó, đối chiếu với các quy định của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự để xác định bản án hoặc quyết định có vi phạm hay không Vi phạm đến mức độ nào, có căn cứ để kháng nghị hay không Nếu thấy
đủ căn cứ kháng nghị thì phải làm báo cáo đề xuất bằng văn bản cho Viện trưởng hoặc Phó viện trưởng phụ trách trực tiếp (là người được Viện trưởng giao nhiệm vụ) để Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng xem xét quyết định Nếu Lãnh đạo viện quyết định kháng nghị phúc thẩm thì trong thời hạn kháng nghị phải ban hành quyết định kháng nghị
Quyết định kháng nghị phải đầy đủ nội dung theo khoản 2 Điều 336 BLTTHS năm 2015 nêu rõ và cụ thể những vi phạm pháp luật của bản án hoặc quyết định sơ thẩm Nội dung quyết định kháng nghị phải phân tích đánh giá
Trang 33được chứng cứ, vận dụng quy định pháp luật, quá trình Toà án cấp sơ thẩm thực hiện quy trình tố tụng và nêu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ
án nhằm khắc phục một phần hoặc toàn bộ bản án hoặc quyết định sơ thẩm Nội dung đề nghị Toà án cấp phúc thẩm phải rõ ràng và cụ thể, không đề nghị một cách chung chung như: đề nghị Toà phúc thẩm xét xử theo pháp luật hoặc nêu rõ
lý do không thoả đáng, không đảm bảo tính nghiêm minh, không công bằng hay yêu cầu xét xử phúc thẩm lại
Về thời gian gửi quyết định kháng nghị, tại Điều 233 BLTTHS năm 2003
chỉ quy định là “kháng nghị bằng văn bản, có nêu rõ lý do, kháng nghị được gửi đến Tòa án đã xử sơ thẩm”[16.tr.171], quy định như vậy sẽ không xác định
được thời gian gửi quyết định kháng nghị là thời điểm nào, sẽ gây khó khăn trong việc đưa ra xét xử ở giai đoạn phúc thẩm Theo khoản 2 Điều 338 BLTTHS năm 2015 đã khắc phục được điều này, và chỉ rõ thời hạn 02 ngày kể
từ ngày ra quyết định kháng nghị, kèm theo chứng cứ, tài liệu cho Toà án đã xử
sơ thẩm Đồng thời, quyết định kháng nghị phải gửi cho bị cáo, người liên quan đến kháng nghị và gửi cho Viện kiểm sát có quyền kháng nghị Việc quy định thành điều luật về thời hạn gửi kháng nghị rõ ràng, sẽ tạo điều kiện cho những người liên quan đến kháng nghị có quyền trình bày ý kiến của mình về kháng nghị Toà án cấp sơ thẩm làm thủ tục chuyển hồ sơ kháng nghị lên Toà án cấp phúc thẩm Hơn thế nữa, tại khoản 3 Điều 338 của BLTTHS năm 2015 cũng quy định luôn là những người có liên quan đến kháng nghị có quyền gửi văn bản nêu
ý kiến của mình về nội dung kháng nghị cho Tòa án cấp phúc thẩm khi nhận được thông báo về việc kháng nghị Đây là quy định mới, phù hợp tạo điều kiện
để cấp phúc thẩm giải quyết kháng nghị đúng đắn hơn, đảm bảo sự công khai, minh bạch của hoạt động kháng nghị
Nếu so sánh thủ tục kháng nghị và thủ tục kháng cáo, thì chủ thể có quyền kháng cáo có thể trình bày bằng miệng hoặc bằng văn bản đều hợp lệ, căn cứ kháng cáo có thể có, có thể không, yêu cầu kháng cáo có thể chung chung thể
Trang 34hiện sự không đồng tình với bản án sơ thẩm thì thủ tục kháng nghị được quy định chặt chẽ về hình thức cũng như nội dung kháng nghị đến căn cứ kháng nghị phải rõ ràng, cụ thể đúng căn cứ theo quy chế của ngành kiểm sát
Việc quy định quyết định kháng nghị được gửi đến Toà án đã xét xử sơ thẩm vụ án có một ý nghĩa lớn ở chỗ, khi nhận được kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp hoặc cấp trên trực tiếp, Toà án đã xét xử sơ thẩm vụ án tiến hành làm thủ tục để gửi hồ sơ vụ án đó lên Toà án cấp phúc thẩm theo quy định của pháp luật Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định một thời hạn cụ thể như vậy giúp cho việc giải quyết vụ án có kháng nghị không bị dây dưa, kéo dài mất thời gian
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 cũng đã khắc phục được thiếu sót của BLTTHS năm 2003 là quy định kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát phải gửi cho Viện kiểm sát có quyền kháng nghị, nghĩa là Viện kiểm sát cấp dưới khi kháng nghị xong phải gửi quyết định kháng nghị cho Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp và ngược lại Việc gửi quyết định kháng nghị cho Viện kiểm sát có quyền kháng nghị, sẽ giúp cho Viện kiểm sát đó nắm được tinh thần kháng nghị của Viện kiểm sát đã ra quyết định kháng nghị để không bị trùng quan điểm kháng nghị, tạo thời gian Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có thời gian nghiên cứu, xem xét bảo vệ quan điểm của Viện kiểm sát cấp dưới tại phiên toà phúc thẩm Đồng thời bảo đảm cho Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp thực hiện quyền thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị nếu thấy cần thiết
Điều 238 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và nay là Điều 342 BLTTHS năm 2015 quy định trước khi bắt đầu hoặc tại phiên toà phúc thẩm, Viện kiểm sát có quyền bổ sung, thay đổi kháng nghị nhưng không được làm xấu hơn tình trạng của bị cáo; rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị Như vậy, việc bổ sung, thay đổi hoặc rút kháng nghị được tiến hành trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm và ngay tại phiên toà xét xử phúc thẩm Lúc này phải đảm bảo thời hạn kháng nghị đã hết chứ thời hạn kháng nghị vẫn còn thì Viện kiểm sát vẫn có
Trang 35quyền kháng nghị làm xấu đi tình trạng bị cáo như kháng nghị xét xử tội nặng hơn, tăng mức hình phạt, áp dụng thêm tình tiết tăng nặng hay phạt bổ sung, tăng mức bồi thường
Việc thay đổi, bổ sung hoặc rút kháng nghị do Viện kiểm sát đã ban hành kháng nghị thực hiện, còn Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền rút một phần hay toàn bộ kháng nghị Như vậy Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp không có quyền thay đổi hay bổ sung kháng nghị của Viện kiểm sát cấp dưới Theo quy định tại khoản 2 Điều 342 BLTTHS hiện hành thì việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo kháng nghị đều phải được lập biên bản và gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm phải thông báo cho Viện kiểm sát, bị cáo và người liên quan đến kháng cáo biết Sở dĩ quy định bổ sung thêm điều khoản này nhằm thông báo cho người liên quan kháng cáo biết để họ tự mình kháng cáo nếu thấy quyền lợi bị xâm phạm chứ không trông chờ vào kháng nghị của Viện kiểm sát
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 cũng có thêm một điểm mới tại khoản 3 Điều
342 quy định trường hợp Viện kiểm sát rút một phần kháng nghị tại phiên tòa phúc thẩm mà không liên quan đến kháng nghị, kháng cáo khác cũng sẽ được Tòa án đình chỉ và nhận định trong bản án
Viện kiểm sát đã ban hành kháng nghị chỉ có thể bổ sung, thay đổi, rút kháng nghị trước khi bắt đầu phiên toà, còn tại phiên toà phúc thẩm việc này phải do Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát cấp phúc thẩm thực hiện Trước khi mở phiên toà, việc ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm do Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà thực hiện, còn tại phiên toà do Hội đồng xét xử thực hiện Liên quan đến vấn đề đình chỉ xét xử phúc thẩm thì việc ra quyết định đình chỉ xét
xử phúc thẩm chỉ đúng trong trường hợp thời hạn kháng nghị đã hết, nếu thời hạn kháng nghị còn thì Viện kiểm sát vẫn có quyền kháng nghị lại
Theo đó, việc xác định hiệu lực pháp luật của bản án, thì bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày Thẩm phán được phân công chủ toạ ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm hoặc hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định đình
Trang 36chỉ xét xử phúc thẩm theo điểm a, tiểu mục 7.2, mục 7 Nghị quyết HĐTP ngày 08/12/2005 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao Hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ tư “xét xử phúc thẩm” của
05/2005/NQ-Bộ luật tố tụng hình sự
Khi xét xử phúc thẩm, Toà án cấp phúc thẩm có quyền xem xét đối với các phần có kháng nghị đã bị rút mà không có liên quan đến phần kháng nghị còn lại theo quy định tại Điều 345 và khoản 3 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự năm
2015 Trường hợp nếu có căn cứ, Hội đồng xét xử có thể sửa bản án cho những
bị cáo không kháng cáo, bị cáo không bị kháng nghị
Tại điểm a, tiểu mục 7.1, mục 7 Nghị quyết 05/NQ-HĐTP ngày 08/12/2005 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao Hướng dẫn thi hành một số
quy định trong phần thứ tư “xét xử phúc thẩm” của Bộ luật tố tụng hình sự quy
định: trong trường hợp Viện kiểm sát đã rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị nhưng sau đó có kháng nghị lại mà vẫn còn trong thời hạn kháng nghị thì vẫn được chấp nhận để xét xử phúc thẩm theo thủ tục chung Thực tiễn có nhiều quyết định rút kháng nghị của Viện kiểm sát rõ ràng không có căn cứ, nhưng vì không có thủ tục để sửa lại cho đúng mà việc sửa chữa lại theo một thủ tục khác phải thông qua việc kháng nghị bản án sơ thẩm theo thủ tục giám đốc thẩm Vì thủ tục giám đốc thẩm là xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật chứ không phải là việc Toà án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm Cách giải quyết này vừa kéo dài vụ án vừa không đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng Do vậy, cần có thêm quy định những trường hợp Viện kiểm sát có quyền rút kháng nghị Viện kiểm sát chỉ rút kháng nghị (đặc biệt là rút kháng nghị của Viện kiểm sát cấp trên đối với Viện kiểm sát cấp dưới) khi có đầy đủ căn cứ xác định việc kháng nghị phúc thẩm không đảm bảo về căn cứ pháp lý, nội dung, yêu cầu kháng nghị không phản ánh đúng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả xét xử sơ thẩm, việc rút kháng nghị phải được cân nhắc cả yếu tố chính trị - xã hội ở địa phương Đặc
Trang 37biệt, việc rút quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát tại phiên toà phải đảm bảo tính có căn cứ và sự phù hợp trong việc quyết định, tức là phải trên cơ sở kết quả của việc điều tra, tranh luận tại phiên toà phúc thẩm
- Đối với việc bổ sung, thay đổi kháng nghị thì cần phải phân biệt rõ các trường hợp sau:
Nếu việc bổ sung, thay đổi kháng nghị đối với một phần hoặc toàn bộ bản
án được thực hiện trong thời hạn kháng nghị thì theo nguyên tắc có thể bổ sung, thay đổi kháng nghị theo cả hướng có lợi hoặc không có lợi cho bị cáo; kể cả trường hợp Viện kiểm sát đã rút một phần hoặc toàn bộ bản kháng nghị nhưng sau đó lại tiếp tục kháng nghị lại thì vẫn được chấp nhận để xét xử phúc thẩm Như vậy trong thời hạn kháng nghị thì Viện kiểm sát có quyền bổ sung, thay đổi kháng nghị theo bất kỳ hướng nào
Trong trường hợp đã hết thời hạn kháng nghị, thì trước khi bắt đầu hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, Viện kiểm sát có quyền bổ sung, thay đổi kháng nghị nhưng chỉ theo hướng không làm xấu đi tình trạng của bị cáo Bởi vì nếu thay đổi, bổ sung theo hướng không có lợi cho bị cáo trong trường hợp thời hạn kháng nghị đã hết thì bị cáo không thể thực hiện quyền bào chữa của mình vì không được thông báo trước Tuy nhiên, qua nghiên cứu thực tiễn xét xử thì việc
bổ sung, thay đổi kháng nghị khi bắt đầu hoặc tại phiên toà phúc thẩm chỉ theo hướng không làm xấu đi tình trạng của bị cáo như quy định tại Điều 342 BLTTHS hiện nay còn nhiều bất cập Vì việc rút kháng nghị của Viện kiểm sát không chỉ trên cơ sở quyền lợi của bị cáo mà còn phải cân nhắc đảm bảo quyền lợi của những người tham gia tố tụng khác, quyền và lợi ích của nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nói chung
1.3.2 Hậu quả của việc kháng nghị phúc thẩm hình sự
Theo quy định tại Điều 339 BLTTHS năm 2015 thì hậu quả của kháng nghị
là những phần của bản án hoặc quyết định sơ thẩm bị kháng nghị thì chưa được
Trang 38đưa ra thi hành; bản án hoặc quyết định sơ thẩm bị kháng nghị toàn bộ thì toàn
bộ bản án hoặc quyết định đó chưa có hiệu lực pháp luật và không được đưa ra thi hành, trừ các trường hợp quy định tại Điều 363 của Bộ luật tố tụng hình sự là:
bị cáo đang bị tạm giam mà Toà án cấp sơ thẩm quyết định đình chỉ vụ án, không kết tội, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt cho bị cáo, hình phạt không phải là tù giam hoặc phạt tù nhưng cho hưởng án treo hoặc khi hình phạt
tù bằng hoặc ngắn hơn thời hạn tạm giam thì bản án sơ thẩm được thi hành ngay Đối với phạm vi xét xử phúc thẩm thì về nguyên tắc, Toà án cấp phúc thẩm chỉ xem xét theo nội dung kháng nghị Nếu kháng nghị đối với toàn bộ bản
án thì Toà án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ vụ án; nếu kháng nghị đối với một phần bản án thì Toà án cấp phúc thẩm xem xét lại phần bị kháng nghị Đối với các phần khác không bị kháng nghị, Toà án cấp phúc thẩm chỉ xem xét khi cần giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo
Đối với việc xác định hậu quả của kháng nghị thì liên quan đến thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm đối với kháng nghị của Viện kiểm sát thì Toà án cấp phúc thẩm có thẩm quyền đối với bản án sơ thẩm theo quy định tại các điều 355,
356, 357, 358, 359, 360, 361 của BLTTHS năm 2015 Trong đó có các trường hợp sau:
Trường hợp không chấp nhận kháng nghị, giữ nguyên bản án, quyết định sơ thẩm khi xét thấy bản án, quyết định sơ thẩm có căn cứ, đúng pháp luật Đối với bản án sơ thẩm thì Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử phù hợp với thực tế khách quan của vụ án, phù hợp với tính chất, mức độ của tội phạm, không vi phạm các quy định của Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự và quy định trong các văn bản pháp luật khác liên quan
Trường hợp sửa bản án sơ thẩm, bản án sơ thẩm có thể bị sửa theo hướng giảm nhẹ có lợi cho bị cáo hoặc sửa theo hướng tăng nặng không có lợi cho bị cáo Sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ, có lợi cho bị cáo là:
a) Miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt cho bị cáo; không áp
Trang 39dụng hình phạt bổ sung; không áp dụng biện pháp tư pháp;
b) Áp dụng điều, khoản của Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn;
c) Giảm hình phạt cho bị cáo;
d) Giảm mức bồi thường thiệt hại và sửa quyết định xử lý vật chứng;
đ) Chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn;
e) Giữ nguyên hoặc giảm mức hình phạt tù và cho hưởng án treo [17.tr.299]
Trong trường hợp Toà án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm, Toà án cấp phúc thẩm có thể xem xét ngoài phạm vi kháng cáo, kháng nghị đối với những bị cáo không kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị Khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị, phần bản án đối với những bị cáo này sẽ có hiệu lực pháp luật và phải đưa ra thi hành Nhưng trong trường hợp cần thiết Toà án cấp phúc thẩm vẫn phải xem xét phần bản án không bị kháng cáo, kháng nghị nếu xét thấy có căn cứ
để giảm nhẹ hình phạt cho những bị cáo này Theo khoản 3 Điều 357 Bộ luật tố
tụng hình sự năm 2015 quy định: “Trường hợp có căn cứ, Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể sửa bản án sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều này cho những bị cáo không kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị” [17.tr.300]
Ví dụ: Trong vụ án có hai bị cáo, chỉ có bị cáo đầu vụ kháng cáo, bị cáo còn lại không kháng cáo và không bị kháng nghị Hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị Toà án ra quyết định thi hành hình phạt tù đối với bị cáo không kháng cáo Khi xét xử phúc thẩm, Hội đồng xét xử giảm án cho bị cáo đầu vụ và cũng giảm hình phạt cho bị cáo không kháng cáo
Khi xét xử phúc thẩm nếu chỉ có kháng nghị theo hướng có lợi cho bị cáo, thì Toà án cấp phúc thẩm chỉ có thể y án hoặc sửa bản án theo hướng có lợi cho
bị cáo chứ không được tăng nặng hoặc huỷ án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại theo hướng làm xấu hơn tình trạng của bị cáo Nếu thấy rõ ràng là bản án sơ thẩm xử quá nhẹ đối với bị cáo thì Toà án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm và báo cáo, chuyển hồ sơ lên Toà án có thẩm quyền giám đốc thẩm để xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm
Trang 40Đối với sửa bản án sơ thẩm theo hướng tăng nặng không có lợi cho bị cáo là:
a) Tăng hình phạt, áp dụng điều, khoản của Bộ luật hình sự về tội nặng hơn; áp dụng hình phạt bổ sung; áp dụng biện pháp tư pháp;
b) Tăng mức bồi thường thiệt hại;
c) Chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nặng hơn;
d) Không cho bị cáo hưởng án treo[17.tr.299]
Toà án cấp phúc thẩm chỉ có thể sửa bản án sơ thẩm theo hướng tăng nặng cho bị cáo khi có kháng nghị theo hướng này Nếu chỉ có kháng nghị theo hướng giảm nhẹ cho bị cáo thì trong mọi trường hợp Toà án cấp phúc thẩm không được sửa bản án theo hướng tăng nặng
Huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại trong các trường hợp:
a) Có căn cứ cho rằng cấp sơ thẩm bỏ lọt tội phạm, người phạm tội hoặc
để khởi tố, điều tra về tội nặng hơn tội đã tuyên trong bản án sơ thẩm;
b) Việc điều tra ở cấp sơ thẩm không đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể
Trong trường hợp huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại, nếu thời gian tạm giam đối với bị cáo đã hết và xét thấy việc tạm giam đối với bị cáo
là cần thiết thì Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo cho đến khi Viện kiểm sát hoặc Toà án cấp sơ thẩm thụ lý lại vụ án Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày huỷ án sơ thẩm, hồ sơ vụ án phải được chuyển cho Viện kiểm sát hoặc Toà án sơ thẩm để tiến hành theo thủ tục chung Sau khi