Chính sách này cho phép các cộng đồng, hộ gia đình được quyền nhận đất lâm nghiệp để gây trồng phát triển các loài cây lâp nghiệp, bên cạnh đó hộ gia đình còn nhận được phí quản lý và có
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
************
CAO HOÀNG TÍNH
QUẢN LÝ VÀ BẢO VỆ LÂM SẢN NGOÀI GỖ DỰA VÀO NGƯỜI DÂN TẠI XÃ TÂN HÒA THUỘC RỪNG PHÒNG HỘ DẦU TIẾNG
TỈNH TÂY NINH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH LÂM NGHIỆP
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 07/2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
************
CAO HOÀNG TÍNH
DỰA VÀO NGƯỜI DÂN TẠI XÃ TÂN HÒA THUỘC RỪNG PHÒNG HỘ DẦU TIẾNG
TỈNH TÂY NINH
Ngành: Lâm Nghiệp
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: Th.s NGUYỄN QUỐC BÌNH
Trang 3CẢM TẠ
Xin chân thành gửi lời cảm ơn đến với:
Quý thầy cô khoa Lâm Nghiệp
Thầy Nguyễn Quốc Bình, giáo viên hướng dẫn thực hiện đề tài
Tập thể lớp DH07NK
Cán bộ khu Ban Quản Lý rừng phòng hộ Dầu Tiếng
Cán Bộ Xã Tân Hòa
Trưởng ấp của ấp Cây Khế và ấp Sóc Con Trăng
Người dân địa phương: ấp Cây Khế và ấp Sóc Con Trăng
Đã ủng hộ và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và làm đề tài Chính nhờ vào những kiến thức được trang bị ở trường, sự dẫn dắt của thầy cô, cùng với sự giúp
đỡ của tập thể lớp, sự nhiệt tình của cán bộ và dân địa phương Đề tài đã hoàn tất đúng thời gian quy định
Do còn thiếu nhiều kinh nghiệm trong thực tế, nên quá trình thực hiện luận văn chắc chắn không tránh khỏi sơ suất, mong nhận được sự cảm thông và ý kiến đóng góp của quý thầy cô cùng quý đọc giả
Sinh viên Cao Hoàng Tính
Trang 4 Tìm hiểu thực trạng quản lý, khai thác và sử dụng lâm sản ngoài gỗ tại Ban Quản
Lý rừng phòng hộ Dầu Tiếng
Ưu điểm và khuyết điểm trong việc quản lý để bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, trong đó có lâm sản ngoài gỗ dựa trên sự phụ thuộc của người dân địa phương
Các biện pháp quản lý và phát triển bền vững lâm sản ngoài gỗ có sự tham gia
cộng đồng địa phương trên cơ sở các bên liên quan cùng có lợi
Phương pháp được sử dụng chủ yếu để thu thập thông tin là phỏng vấn từ hai nguồn: Hộ gia đình và nguồn thông tin chủ chốt thu thập từ nhóm các cơ quan quản lý rừng Phương pháp xử lý và phân tích bằng cách tổng hợp, ghép bảng và tính tay
Kết quả thu được :
Thực trạng quản lý của Ban Quản Lý và người dân xã Tân Hòa còn nhiều hạn chế, với sự khai thác và sử dụng lâm sản ngoại gỗ tràn lan và không hợp lý của người dân Trong Ban Quản Lý các Cán Bộ đều đã học các lớp về các lớp Lâm Nghiệp và Nghiệp Vụ Kiểm Lâm Phần lớn cán bộ đều có hiểu biết về khoa học kĩ thuật và quản lý cần thiết cho bảo tồn đa dạng sinh học nhưng còn hạn chế về nhân lực, Ban Quản Lý có 8 trạm và 7 chốt bảo vệ Tình trạng săn bắt động vật, khai thác lâm sản ngòai gỗ lén lút vẫn còn xảy ra
Trang 5thác lâm sản ngoài gỗ là một ”nghề” của người dân Hầu hết người dân ở đây đều có khai thác và sử dụng lâm sản ngoài gỗ, người dân cũng không có sự tham gia vào công tác quản lý
Ban Quản Lý chưa đưa ra các chính sách cụ thể cho từng loại lâm sản ngoại, người dân địa phương phần lớn vẫn chưa chấp nhận các chính sách hiện nay Tình hình giao khoán vẫn chưa được đồn bộ trong Ban Quản Lý
Các giải pháp mang tính bảo tồn đa dạng sing học : Nâng cao nhận thức cho các của người dân; Tăng cường phổ biến thể chế pháp luật cho cộng đồng; Xây dựng quy chế phối hợp giữa lực lượng kiểm lâm với lực lượng dân phòng và công an tại địa phương, lực lượng quản lý bảo vệ rừng là Ban Quản Lý và hạt kiểm lâm; Những giải pháp khoa học công nghệ; Kiểm soát nhu cầu thị trường
Trang 6MỤC LỤC
Trang
Trang tựa i
CẢM TẠ ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC v
DANH SÁCH CÁC HÌNH ix
DANH SÁCH CÁC BẢNG x
Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Tổng quan về lâm sản ngoài gỗ 3
2.1.1 Khái niệm về lâm sản ngoài gỗ 3
2.1.2 Phân loại lâm sản ngoài gỗ 4
2.1.3 Thực trạng lâm sản ngoài gỗ tại Việt Nam 6
2.1.4 Tình hình khai thác và sử dụng lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam 7
2.1.5 Tình hình quản lý lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam 8
2.1.6 Thị trường lâm sản ngoài gỗ tại Việt Nam 10
2.2 Địa điểm nghiên cứu 10
2.2.1 Điều kiện tự nhiên 10
Chương 3 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
3.1 Mục tiêu 15
3.2 Nội dung nhiên cứu 15
3.3 Phương pháp nghiên cứu 17
3.3.1 Thu thập thông tin thứ cấp 17
3.3.2 Thu thập thông tin sơ cấp 17
Trang 7Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 19
4.1 Thực trạng quản lý, khai thác và sử dụng Lâm sản ngoài gỗ tại Ban Quản Lý rừng phòng hộ Dầu Tiếng 19
4.1.1 Các chính sách có liên quan đến lâm sản ngoài gỗ được thực hiện tại rừng phòng hộ Dầu Tiếng 19
4.1.2 Lực lượng quản lý của Ban Quản Lý rừng phòng hộ Dầu Tiếng 20
4.1.3 Các hoạt động quản lý tài nguyên của Ban Quản Lý rừng phòng hộ Dầu Tiếng 21
4.2 Thực trạng khai thác lâm sản ngoài gỗ của người dân tại khu vực rừng phòng hộ Dầu Tiếng 22
4.2.1 Các loại lâm sản ngoài gỗ được người dân sử dụng 22
4.2.2 Khai thác và sử dụng lâm sản ngoài gỗ của người dân 25
4.2.3 Mục đích sử dụng các loại lâm sản ngoài gỗ của người dân 28
4.2.4 Những thuận lợi và khó khăn trong việc thu hái lâm sản ngoại gỗ của người dân 30
4.2.5 Giá cả và thị trường tiêu thụ một số lâm sản ngoài gỗ 31
4.3 Ưu điểm và khuyết điểm trong việc quản lý để bảo tồn tài nguyên thiên nhiên 32
4.3.1 Sự phù hợp của các chính sách với thực trạng lâm sản ngoài gỗ của rừng phòng hộ Dầu Tiếng 32
4.3.2 Lợi ích của người dân từ việc thực thi các chính sách quản lý lâm sản ngoài gỗ của Ban Quan Lý rừng phòng hộ Dầu Tiếng 35
4.3.3 Nhu cầu của người dân trước những chính sách quản lý của ban quản lý rừng phòng hộ 37
4.3.4 Những mặt tích cực và tồn tại của các chính sách bảo tồn và quản lý lâm sản ngoài gỗ có sự tham gia của người dân 39
4.4 Các biện pháp quản lý và phát triển bền vững lâm sản ngoài gỗ có sự tham gia của cộng đồng địa phương trên cơ sở các bên liên quan cùng có lợi 41
4.4.1 Những tồn tại và thách thức trong quản lý tài nguyên thiên nhiên hiện tại 41 4.4.2 Các giải pháp từ phía người dân đóng góp vào việc quản lý và phát triển lâm sản
Trang 8Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 47
5.1 Kết luận 47
5.2 Kiến nghị 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
PHỤ LỤC 52
Trang 9DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
FAO Food and Agriculture Organization
SWOT Strength – Weakness – Opportunity - Threat
CITES Convention on International Trade in Endangered Species
Trang 10DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 4.1: Dòng thị trường của măng 31
Trang 11DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 4.1: Các loại lâm sản ngoài gỗ và mục đích sử dụng tại rừng phòng hộ 25
Bảng 4.2: Số lần, số lượng và thời gian thu hái các loại lâm sản ngoại gỗ 26
Bảng 4.3: Lịch mùa vụ một số loại lâm sản ngoài gỗ người dân thường khai thác 27
Bảng 4.4: Các loại lâm sản ngoài gỗ và mục đích sử dụng tại rừng phòng hộ 28
Bảng 4.5: Giá của một số loại lâm sản ngoài gỗ 31
Bảng 4.6: Ý kiến của người dân của người dân về sự phù hợp của chính sách quản lý 32
Bảng 4.7: Ý kiến của người dân về thực trạng lâm sản ngoài gỗ tại địa phương 33
Bảng 4.8: Giống và khác nhau giữa nhận khoán và không nhận khoán 36
Bảng 4.9: Nhu cầu của người dân trước chính sách của ban quản lý 37
Bảng 4.10: Những tích cực và tồn tại của các chính sách trong quản lý lâm sản ngoài gỗ39 Bảng 4.11: Nghề nghiệp của người dân 42
Bảng 4.12: Trình độ học vấn của chủ hộ 43
Trang 12Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Lâm sản ngoài gỗ không những góp phần quan trọng về kinh tế xã hội mà còn
có giá trị lớn đối với sự giàu có của hệ sinh thái và sự đa dạng sinh học của rừng Đã từ lâu, lâm sản ngoài gỗ được sử dụng đa mục đích trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội như làm dược liệu, đồ trang sức, đồ gia dụng, hàng thủ công mỹ nghệ, thực phẩm…, do vậy chúng đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống của nhân dân
Đặc biệt là đối với người dân sống gần rừng cuộc sống của họ phụ thuộc vào rừng
Hiện nay, lâm sản ngoài gỗ hiện nay được quản lý và phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau: quản lý nhà nước, quản lý cộng đồng, quản lý ở cấp hộ gia đình, cá nhân với nhiều mục đích khác nhau (kinh doanh, sử dụng cho mục đích tự cung cấp, nghiên cứu…).Trong đó việc quản lý và phát triển bền vững lâm sản ngoài gỗ dựa vào cộng đồng là một trong những vấn đề được quan tâm và nó đang ngày càng thể hiện rõ vai trò tích cực trong phát triển nguồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ
Rừng phòng hộ Dầu Tiếng là khu vực đa dạng về nguồn lâm sản ngoài gỗ, cuộc sống của người dân nơi đây còn gặp nhiều khó khăn cuộc sống của họ chủ yếu dựa vào rừng Ban Quản Lý rừng phòng hộ đã có chính sách giao khóan bảo vệ rừng cho người dân nhằm nâng cao ý thức bảo vệ rừng và hạn chế khai thác lâm sản ngoài gỗ của người dân Tuy nhiên các chính sách đưa ra vẫn chưa mang lại hiệu quả, tài nguyên lâm sản ngoài gỗ vẫn bị người dân sử dụng và khai thác trái phép
Trước tình trạng khai thác sử dụng trái phép nguồn lâm sản ngoài gỗ trong khi các biện pháp quản lý, bảo vệ và phát triển chưa mang lại kết quả trên cả nước nói
Trang 13nghiên cứu đề tài: “quản lý và bảo vệ lâm sản ngoài gỗ dựa vào người dân tại xã Tân Hòa thuộc rừng phòng hộ Dầu Tiếng tỉnh Tây Ninh”
Đề tài này được thực hiên với mục đích quản lý và phát triển lâm sản ngoài gỗ trong mục tiêu bảo tồn nhưng vẫn đảm bảo đời sống người dân ở địa phương
Trang 14Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tổng quan về lâm sản ngoài gỗ
2.1.1 Khái niệm về lâm sản ngoài gỗ
Có rất nhiều định nghĩa về lâm sản ngoài gỗ, những định nghĩa này có thể thay đổi tùy theo điều kiện kinh tế, xã hội, quan điểm sử dụng, phát triển tài nguyên và nhu cầu khác Sau đây là các định nghĩa tham khảo của các tài liệu trên thế giới :
– Lâm sản ngoài gỗ là tất cả những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật không kể gỗ, cũng như những dịch vụ có được từ rừng và đất rừng Dịch vụ trong định nghĩa này là những hoạt động từ du lịch sinh thái, làm dây leo, thu gom nhựa và các hoạt động liên quan đến thu hái và chế biến các sản vật này (FAO, 1995)
– Lâm sản ngoài gỗ là các sản phẩm nguồn gốc sinh vật, loại trừ gỗ lớn, có ở rừng, ở đất rừng và ở các cây bên ngoài rừng (FAO, 1999)
– Nhiều loài cây rừng cho các sản phẩm tự nhiên ngoài gỗ đó là cây cho đặc sản Các sản phẩm tự nhiên đó có thể được sử dụng trực tiếp như một số loài cây cho thuốc, cây cho quả hoặc làm thức ăn gia súc nhưng phần lớn phải qua gia công chế biến như cây cho nguyên liệu, giấy sợi, cây cho cao su, cho dầu” (Lê Mộng Chân, 1993)
– Lâm sản ngoài gỗ bao gồm các nguyên liệu có nguồn gốc sinh vật, không phải gỗ, được khai thác từ rừng để phục vụ con người Chúng bao gồm thực phẩm, thuốc, gia
vị, tinh dầu, nhựa, nhựa mủ, tanin, thuốc nhuộm, cây cảnh, động vật hoang dã ( còn sống hay sản phẩm của chúng), củi, các nguyên liệu thô như: tre, nứa, mây song, gỗ nhỏ và sợi
Trang 152.1.2 Phân loại lâm sản ngoài gỗ
Lâm sản ngoài gỗ rất đa dạng, phong phú, và được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau Do vậy, việc phân loại chúng cũng có nhiều quan điểm khác nhau Hiện nay, lâm sản ngoài gỗ được phân theo hai phương pháp chủ yếu sau:
2.1.2.1 Phân loại theo hệ thống sinh
Theo phương pháp phân loại này thì các loại lâm sản ngoài gỗ được phân theo
hệ thống tiến hóa của sinh giới bao gồm hai nhóm chính: động vật và thực vật Giới động vật và giới thực vật tuy rất phong phú và đa dạng nhưng đều có thể sắp xếp một cách khách quan vào hệ thống các bậc phân loại từ lớn đến nhỏ:
Giới/Ngành/Lớp/Bộ/Họ/Loài
2.1.2.2 Phân loại theo công dụng
Phân loại lâm sản ngoài gỗ theo công dụng là các loại lâm sản ngoài gỗ khác nhau không kể về nguồn gốc trong hệ thống sinh, nơi phân bố Có cùng giá trị sử dụng thì được xếp trong cùng một nhóm Hệ thống phân loại các lâm sản ngoài gỗ đã thông qua trong Hội nghị tháng 11 năm 1991 tại Băng Cốc, Thái lan Trong hệ thống này lâm sản ngoài gỗ được chia làm 6 nhóm :
– Nhóm 1 - Sản phẩm cây có sợi: tre nứa, song mây, các loại lá, thân vỏ, có sợi và cỏ
+ Phân loại theo hình thài, nguồn gốc như : sợi libe, sợi bó mạch, sợi gỗ, lông,
+ Phân loại theo công dụng như sợi dùng để : dệt vải, làm dây, làm bàn chải, thảm, làm bột giấy,
– Nhóm 2 - Sản phẩm dùng làm lương thực, thực phẩm:
+ Có nguồn gốc động vật đóng một vai trò hết sức quan trọng , trong đó việc cung cấp thực phẩm từ động vật rừng đã đóng góp không nhỏ cho sự phát triển của loài người như các loại sau : mật ong, thịt chim thú rừng, cá trai ốc;
+ Có nguồn gốc thực vật : các loại rau, quả,
Trang 16+ Dùng làm lương thực : các loài cây cho các sản phẩm là tinh bột dưới dạng
củ, quả, hạt thân dùng để ăn hoặc chăn nuôi như : củ mài, củ từ, khoai sọ, đoát, búng búng
+ Nhóm dùng làm thực phẩm : cho măng, cây cho gia vị, cây cho rau ăn lá, một số nấm rừng ăn được như : luồng, mai, quế, me, lá lốt, lá giang, mộc nhĩ, nấm hương
– Nhóm 3 - Các sản phẩm thuốc và mỹ phẩm:
+ Thuốc có nguồn gốc thực vật- theo kết quả điều tra, nghiên cứu đã công bố của viện dược liệu nước ta có trên 1800 loài cây thuốc, chủ yếu là mọc từ tự nhiên Nhiều loài cây đã được sử dụng cách đây hàng ngàn năm để chữa bệnh, làm thuốc bổ Hiện nay các loài cây đã và đang được nghiên cứu thành phần các chất để chế tạo ra các loài thuốc có nguồn gốc từ thực vật, sử dụng an toàn và hiệu quả như : tam thất, nhâm sâm, trầm hương, thiên thảo,
+ Dầu béo được lấy từ hạt của một số loài cây như hạt quả sở, lai sử dụng trực tiếp hoặc qua chiết xuất sử dụng dầu béo như : dừa, ko nia,
+ Nhựa sáp, sơn là sản phẩm của quá trình quang hợp của cây nhựa luyện Nhựa sáp là loại nhựa chảy từ trong thân cây, cành, gốc được dùng để chế vecni trong công nghiệp giấy, sơn, xà phòng, đốt, gắn thuyền bè Sơn cũng là một loại nhựa luyện
do cây tiết ra, được dùng để quết lên bề mặt các sản phẩm để bảo vệ chúng
+ Gôm là những chất ở thể keo do cây tiết ra sau đó cô đặc lại do tác dụng của không khí như : trôm, củ nứa
Trang 17+ Tannin là chất chát không định hình, là hợp chất hữu cơ do 3 nguyên tố C,
H, O tạo thành, có khả năng kết hợp với protein làm thành các chất không bị thối rửa Dại diện là : cây dà đỏ, các loài chiêu liêu,
+ Thuốc nhuộm các sản phẩm màu nhuộm được sử dụng rộng rãi trong đời sống hàng ngày của nhân dân như nhuộm quần áo, vải may mặc, chỉ thiêu, các sản phẩm này được dùng rộng rãi vì an toàn, không ô nhiễm và an toàn mang tính tự nhiên, các sản phẩm này được chiếc xuất từ các loại cây như : cây vang, cây điều nhuộm, cây trắc,
– Nhóm 5 - Động vật sống và các sản phẩm động vật không làm thực phẩm và làm thuốc
– Động vật sống, chim và côn trùng sống: da, sừng, xương, lông vũ…
– Nhóm 6 - Các sản phẩm khác:
+ Cây cảnh;
+ Lá để gói thức ăn,
+ Hàng hóa
2.1.3 Thực trạng lâm sản ngoài gỗ tại Việt Nam
Hiện nay, lâm sản ngoài gỗ của Việt Nam được xuất khẩu sang gần 90 nước và vùng lãnh thổ, với tổng kim ngạch đạt gần 200 triệu USD/năm Tuy nhiên, việc xuất khẩu lâm sản ngoài gỗ như vậy vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của các kiểu rừng Việt Nam Với địa hình chia cắt phức tạp lại trải dài trên nhiều vĩ độ địa lý, đã tạo cho Việt Nam có nhiều kiểu rừng có những đặc trưng về đa dạng sinh học Hiện nay, có khoảng 30/64 tỉnh có hoạt động gây trồng và thu hái lâm sản ngoài gỗ, trong đó diện tích thu hái từ rừng tự nhiên gần 1,2 triệu ha và gây trồng gần 500.000 ha Các loài cây chủ yếu được gây trồng hoặc thu hái là tre trúc, song mây, thông lấy nhựa, quế, hồi, thảo quả, bời lời đỏ nhưng các hoạt động thu hái này vẫn còn mang tính tự phát, phân tán, chưa có quy hoạch, kỹ thuật giống và lâm sinh còn lạc hậu (theo báo thanh niên, 13/6/2007 Việt Nam có tiềm năng lớn về xuất khẩu lâm sản ngoài gỗ)
Trang 18Lâm sản ngoài gỗ là thành phần quan trọng của rừng nhiệt đới có giá trị kinh tế
và dược lý cao (khoảng 1800 loài thảo mộc có giá trị dược lý, 40 loài song mây, 76 loài cho nhựa thơm, 600 loài có ta nanh, 160 loài cho tinh dầu và 260 loài cho dầu béo …) Lâm sản ngoài gỗ là nguyên liệu của nhiều ngành công nghiệp: Công nghiệp dược phẩm, thực phẩm, mỹ phẩm và công nghiệp hoá chất
Trong các thập kỷ gần đây do sự suy giảm của diện tích rừng và sự khai thác quá mức làm cho nguồn lâm sản ngoài gỗ giảm không chỉ về trữ lượng mà còn cả chất lượng Nguồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ với đặc điểm đa dạng và phong phú về loài, nhưng trữ lượng ít, chất lượng không đồng đều, phân tán và phân bố chủ yếu ở các vùng rừng núi nơi mà cơ sở hạ tầng còn có nhiều khó khăn (lâm sản ngoài gỗ Việt Nam: vấn đề nghiên cứu và chuyển giao)
Như vậy, nguồn lâm sản ngoài gỗ của Việt Nam đa dạng và phong phú về thành phần và chủng loại nhưng đang đứng trước nguy cơ bị giảm sút một cách nhanh chóng
cả về chất lượng và số lượng Trước tình hình đó chúng ta cần phải có các biện pháp quản lý, bảo vệ và phát triển nguồn lâm sản ngoài gỗ để phát huy hết tiềm năng nguồn tài nguyên thiên nhiên này cũng như tránh sự suy thoái của chúng
2.1.4 Tình hình khai thác và sử dụng lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam
Lâm sản ngoài gỗ được sử dụng rất rộng rãi trong cuộc sống hằng ngày của người dân (Kết quả nghiên cứu của dự án lâm sản ngoài gỗ cho thấy, thu nhập cho hộ gia đình từ lâm sản ngoài gỗ lên đến 59%) Đặc biệt lâm sản ngoài gỗ đóng vai trò quan trọng đối với các cộng đồng dân cư sống gần rừng Người dân miền núi phía Bắc trong bữa ăn luôn có măng tre, nứa Các loại rau rừng là nguồn rau xanh chính của họ
Lá lồm, tai cua, quả bứa dùng nấu canh chua Củ mài, rau chuối, củ vớn có thể là nguồn lương thực những khi giáp hạt mà người dân đồng bằng không thể có nguồn dữ trữ tương tự Cá suối, thịt một số loại thú rừng, ốc, cua, ếch là nguồn đạm động vật chính của dân cư miền núi Ngoài ra còn có các loại lâm sản khác làm vật liệu xây
Trang 19dựng, công cụ nông nghiệp, săn bắn Người dân miền núi từ lâu đã có cách khai thác bền vững nguồn tài nguyên của họ
Ở Việt Nam lâm sản ngoài gỗ là một trong những nguồn thu nhập quan trọng trong kinh tế hộ gia đình; gây trồng lâm sản ngoài gỗ trên diện tích đất lâm nghiệp được giao hoặc thu hái mang lại nguồn thu trung bình chiếm từ 10 – 20% trong thu nhập kinh tế hộ gia đình, góp phần xoá đói giảm nghèo cho người dân Tuy nhiên việc phát triển lâm sản ngoài gỗ còn chưa được rộng khắp và mạnh mẽ như mong muốn.( phát triển lâm sản ngoài gỗ: một hướng đi cho xóa đói giảm nghèo)
Tình hình khai thác các loại lâm sản ngoài gỗ hiện nay đang là vấn đề nóng cần phải được điều chỉnh và khai thác hợp lý Thí dụ như tỉnh Sơn La năm 1961 khai thác
114 tấn cánh kiến đỏ, năm 1965 khai thác156 tấn, đến năm 1983 chỉ còn sản lượng 13,8 tấn Cây sa nhân trước năm 1987 khai thác được khoảng 20 tấn đến sau năm 1987 sản lượng khai thác chỉ còn vài ba tấn một năm Đã vậy đầu tư cho chế biến để tăng giá trị của sản phẩm cũng không được chú ý đúng mức
Nhìn chung nhà nước đã có nhiều chính sách nhằm hạn chế khai thác, bảo vệ và gây trồng nhưng vẫn còn thực hiện một cách lẽ tẻ chưa đạt được kết quả như mong muốn
2.1.5 Tình hình quản lý lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam
Nhận thấy rõ tầm quan trọng của lâm sản ngoài gỗ, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chương trình, chính sách cho việc phát triển và bảo tồn rừng trong đó có đề cập đến nội dung quản lý lâm sản ngoài gỗ
Trước năm 1991, hệ thống quản lý rừng nhấn mạnh trên khía cạnh quản lý nhà nước theo tiếp cận từ trên xuống với hệ thống kiểm soát của chính phủ qua các doanh nghiệp nhà nước trong vấn đề quản lý và thị trường của các loại lâm sản ( kể cả cây gỗ lớn và các loại lâm sản ngoài gỗ)
Sau năm 1991, hệ thống quản lý và luật lâm nghiệp của Việt Nam thay đổi nhanh do chính phủ đã ban hành nhiều chính sách nhằm phát triển và bảo tồn tài
Trang 20nguyên rừng Hệ thống quản lý rừng đang dịch chuyển từ hình thức quản lý nhà nước sang phương thức quản lý bởi nhiều thành phần xã hội- Định hướng phát triển lâm nghiệp xã hội
Một số chính sách quan trọng đã tạo nên sự chuyển biến về phát triển và quản lý lâm sản ngoài gỗ như chính sách của chính phủ về Giao đất giao rừng cho hộ gia đình
và cộng đồng quản lý (Nghị định 02/CP ngày 15 tháng 1 năm 1994; thông tư 06LN/KN
về giao đất lâm nghiệp Chính sách này cho phép các cộng đồng, hộ gia đình được quyền nhận đất lâm nghiệp để gây trồng phát triển các loài cây lâp nghiệp, bên cạnh đó
hộ gia đình còn nhận được phí quản lý và có quyền thu hái các loại lâm sản ngoại gỗ trong khu rừng mà họ được nhận hợp đồng bảo vệ
Nghị định 163/CP ngày 16/11/1999 về giao đất và cho thuê đất lâm nghiệp, chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng cũng đã đề cập đến việc phát triển Lâm sản ngoài gỗ( dự án 661 theo quyết định số 661/QĐ-TTg ra ngày 29/07/1998 của thủ tướng chính phủ) cũng đề cập đến việc phát triển các loại cây làm nguyên liệu cho công nghiệp giấy, ván nhân tạo, cây đặt sản, cây làm thuốc,
Luật bảo vệ và phát triển rừng (19/8/1991), thông tư 13LN/KL của Bộ Lâm nghiệp đã ban hành nhiều quy định nhằm bảo vệ và phát triển tài nguyên động thực vật rừng quý hiếm, mà nhiều loài lâm sản ngoài gỗ có giá trị
Quyết định số 927/QĐ của Bộ Lâm Nghiệp ngày 29/08/1994 kèm theo qui chế quản lý khai thác gỗ củi và tre nứa qui định rằng : chỉ được khai thác củi và tre nứa tại các khu rừng tự nhiên hỗn loại có trữ lượng giàu và trung bình Tất cả các khu rừng này muốn đưa vào khai thác tre nứa đều phải tiến hành thiết kế
Quyết định số 664/TTg của thủ tướng chính phủ ra ngày 18/10/1995 qui định về việc xuất khẩu một số lâm sản ngoài gỗ có giá trị Nghiêm cấm xuất khẩu tre, mây, song dạng nguyên liệu thô được phép xuất khẩu các sản phẩm chế biến từ tre, nứa, giang, vầu, luồng, trúc, lồ ô, song mây, lá cây rừng
Trang 21Nhà nước đã đưa ra nhiều hình thức quản lý lâm sản ngoài gỗ như quản lý nhà nước, giao khoán rừng cho người dân để họ bảo vệ rừng trong đó có tài nguyên lâm sản ngoài gỗ, quản lý theo cộng đồng Tuy nhiên vẫn chưa có các chủ trương chính sách riêng cho lâm sản ngoài gỗ mà vẫn lồng ghép vào các chính sách liên quan đến tài nguyên rừng
2.1.6 Thị trường lâm sản ngoài gỗ tại Việt Nam
Lâm sản ngoài gỗ rất đa dạng và phong phú, nhiều sản phẩm được thu hái/gây trồng/canh tác cho mục đích sử dụng gia đình, địa phương Bên cạnh đó cũng có nhiều loại lâm sản ngoài gỗ đã cung cấp một nguồn thu nhập tiền mặt đáng kể cho người dân nông thôn
Ở Việt Nam thì hệ thống thông tin dữ liệu về vấn đề thị trường của lâm sản ngoài gỗ còn rất hạn chế Đây cũng là một thách thức lớn trong thương mại lâm sản ngoài gỗ của Việt Nam Đặt biệt là những người sản xuất và trực tiếp thu hái thì lại càng ít được tiếp súc với nguồn thông tin này Trong đó có các sản phẩm từ song mây một trong những mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế cao Còn các loại lâm sản ngoài
gỗ thuộc nhóm dược và thực phẩm cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc mang lại nguồn ngoại tệ lớn cho Quốc Gia Các loại lâm sản ngoài gỗ này được xuất khẩu dưới dạng tinh chế đã qua chế biến sơ chế như tinh dầu quế, trầm hương, hồi hoặc các loại nấm hương, mộc nhĩ bên cạnh đó còn nhiều loại động vật rừng dùng làm thuốc như rùa, rắn, baba
2.2 Địa điểm nghiên cứu
2.2.1 Điều kiện tự nhiên
– Vị trí địa lý:
Tân Hòa là một xã biên giới vùng sâu, vùng xa nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Tây Ninh
Phía Đông giáp với huyện Lộc Ninh và huyện Hớn Quản tỉnh Bình Phước
Phía Tây giáp xã Suối Ngô của Huyện Tân Châu tỉnh Tây Ninh
Trang 22Phía Nam giáp xã Minh Hòa tỉnh Bình Dương
Phía bắc giáp với xã Karavien-Campuchia
Xã có đường biện giới với Campuchia dài 13km
– Đất đai:
Đất chủ yếu là loại đất xám bạc màu, loại đất này là thành phần cơ giới nhẹ, dễ thoát nước, mức độ giữ nước và chất dinh dưỡng kém, dễ xói mòn, rửa trôi Tuy nhiên, đây lại là loại đất phù hợp với cây cao su
Tổng diện tích đất của xã là : là 27165,31 ha
Đất rừng phòng hộ Dầu Tiếng là 18923,19 ha,
Đất sản xuất nông nghiệp là 6272,92 ha
Đất phi nông nghiệp là 1969,2 ha
– Địa hình:
Xã Tân Hòa có địa hình từ bằng phẳng đến một ít lượn sóng, cao dần từ Nam lên Bắc và từ Tây sang Đông Độ cao bình quân 65m, độ dốc bình quân của toàn vùng không quá 30
– Khí hậu thủy văn:
C Nhiệt độ bình quân: 270
C
Lượng mưa:
Lượng mưa bình quân năm: 1800 – 2000 mm/năm, tập trung vào tháng 8 – 10 (chiếm 89%)
Trang 23Số ngày mưa:130 – 150 ngày/năm
Lượng bốc hơi 1.500 mm/năm,trong đó mùa khô bốc hơi 980 mm (chiếm xấp xỉ 2/3 cả năm)
Địa bàn cư trú của người Chăm và Khơ me thường tập trung theo sắc tộc và xen
kẽ với người Kinh (Sóc con trăn, Suối Bà Chiêm), hoạt động kinh tế của dân tộc Chăm
và Khơ me chủ yếu là làm rẫy, chăn thả gia súc và trồng cây lúa nước
Trang 24+ Tình hình s ản xuất, đời sống, thu nhập
Từ các chương trình khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, chăn nuôi gia súc của các ban ngành trong tỉnh nên tình hình trồng trọt, chăn nuôi gia súc dần dần phù hợp với tình hình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong sản xuất
Do đặc thù kinh tế của khu vực, nên đời sống cũng như thu nhập của người dân,
lệ thuộc vào tình hình giá cả nông sản, gia súc trên thị trường theo từng thời điểm nhất định Hiện nay, một số mặt hàng nông sản có giá cao (củ mì, cao su, …) nên thu nhập của người dân cũng được nâng lên Từ đó người dân đã trang bị các phương tiện, các công cụ lao động hiện đại để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và đời sống
Các hộ dân có hợp đồng trồng rừng thì nguồn thu nhập từ các khoản trồng xen cây nông nghiệp và tiền bán sản phẩm tỉa thưa rừng trồng còn đại bộ phận người dân sống chủ yếu dựa vào trồng cây lâu năm , cây lương thực, chăn nuôi gia súc và làm thuê
Hiện nay người dân sống trong vùng dự án có thu nhập tương đối khá
+ Cơ sở hạ tầng:
Hiện nay trên địa bàn xã có một trường Trung Học Cơ Sở, một trạm xá, một bưu điện.Đường giao thông nông thôn, được phân bố đều khắp, nhưng chất lượng đường còn kém Đường giao thông liên tỉnh (Tây Ninh, Bình Phước) đi qua Xã đã được láng nhựa, nên rất thuận tiện trong việc chuyên chở hàng hoá nông nghiệp.Mạng lưới truyền tải điện (trung thế, hạ thế) cũng như hệ thống thông tin liên lạc xuống đến các trục đường tập trung dân cư sinh sống
+ Tình hình dân sinh k inh tế:
Từ ngày thực thi Dự án 661, nhìn chung tình hình dân sinh, kinh tế xã hội đã thay đổi theo hướng tích cực, các nhóm dân tộc sống chan hoà, đoàn kết; Lao động trẻ, khoẻ; Sản phẩm chăn nuôi, nông nghiệp, công nghiệp cao giá, chi phí đầu tư thấp (do được cơ giới hoá và tư vấn sản xuất từ các chương trình của Nhà nước) nên thu nhập
Trang 25cao và ổn định; Người dân có điều kiện hưởng thụ thành quả lao động, từ đó trình độ dân trí dần được nâng cao
Nhưng hiện nay, do tình hình phát triển dân số tự nhiên, giá nguyên liệu cao su, nông sản … nâng cao, phương tiện giao thông thuận lợi, hạ tầng cơ sở đầy đủ nên tình hình giá cả đất nông nghiệp biến động rất lớn, từ đó sẽ dẫn đến tình trạng phá rừng làm rẫy, bao, lấn chiếm đất rừng để sản xuất nông nghiệp, trồng cây công nghiệp; Đất quy hoạch trồng rừng thì trồng các loài cây khác hoặc cố ý để đất trống, để sản xuất nông nghiệp kéo dài từ năm này qua năm khác
Tổng diện tích gieo trồng trong năm 2010 là 2787 ha đạt 163,9% so với kế hoạch, bằng 80% so với cùng kỳ, trong đó một số cây trồng chính như sau: mì 2269 ha/1500 ha đạt 151,2% so với chỉ tiêu nghị quyết, bằng 73,38% so với cùng kỳ Trong
đó bao gồm cả xen canh trong cao su Mía trồng mới và lưu gốc là 118ha/50 ha đạt 236% so với chỉ tiêu của nghị quyết, bằng 78,66% so với cùng kỳ Cao su trồng mới là 400/150 ha đạt 266% so với chỉ tiêu Nghị Quyết, bằng 224% so với cùng kỳ Cây trồng khác là 87 ha Thu hoạch: Mì là 3116ha x 27 tấn/ha, sản lượng đạt 84132 tấn, đạt 100%
so với chỉ tiêu của Nghị Quyết Mía : 118ha x 75 tấn/ha, sản lượng đạt 8858 tấn Trong năm hơn 1176 ha bị bệnh vàng lá đã ảnh hưởng đến việc khai thác mũ của nông dân
Các hoạt động hỗ trợ nông nghiệp như khuyến nông, bảo vệ thực vật, thú y được duy trì và đẩy mạnh tổ chức được 3 cuộc hội thảo do trạm bảo vệ thực vật triển khai cho hơn 217 lượt người tham gia Tổ chức tiêm phòng được 5 đợt với 37885 liều vaccin cho gia cầm, gia súc Hiện trên địa bàn xã có 20231 con gia súc, gia cầm Trong
đó gia cầm là 18110 con, heo 935 con, trâu, bò 318, chó 868 con Trong năm trên đại bàn xã có 46 hộ chăn nuôi bị dịch heo tai xanh, Ban chỉ đạo đã tiến hành tiêu hủy 310 con heo với trọng lượng là 14491 con
Trang 26Chương 3 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
3.1 Mục tiêu
Để đáp ứng được mục đích nghiên cứu, các mục tiêu được thực hiện như sau:
• Tìm hiểu thực trạng quản lý, khai thác và sử dụng lâm sản ngoài gỗ ở rừng phòng hộ Dầu Tiếng
• Phân tích ưu điểm và khuyến điểm trong việc quản lý để bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, trong đó có lâm sản ngoài gỗ dựa trên sự phụ thuộc của người dân địa phương
• Xác định các biện pháp quản lý và phát triển bền vững lâm sản ngoài gỗ có sự tham gia cộng đồng địa phương trên cơ sở các bên liên quan cùng có lợi
3.2 Nội dung nhiên cứu
Để đạt được các mục tiêu đề ra cần thực hiện các nôi dung sau:
(1) T hực trạng quản lý, khai thác và sử dụng lâm sản ngoài gỗ ở rừng phòng hộ Dầu Tiếng
Trang 27 Các hoạt động tham gia của người dân trong quá trình quản lý lâm sản ngoài gỗ tại rừng phòng hộ Dầu Tiếng
Khai thác :
Thực trạng khai thác tại địa phương
Những loại lâm sản ngoài gỗ thường lấy ?
Số lần đi lấy lâm sản ngoài gỗ của người dân (số lần/ tháng)
Số lượng lấy lâm sản ngoài gỗ trong một lần đi lấy
Thời gian đi vào rừng lấy lâm sản ngoài gỗ của người dân
Những khó khăn gặp phải khi vào rừng lấy lâm sản ngoài gỗ của người dân
Lợi ích từ các chính sách quản lý lâm sản ngoài gỗ của ban quan lý rừng phòng
hộ Dầu Tiếng đối với người dân
Nhu cầu của người dân trước những chính sách quản lý của Ban Quản Lý rừng phòng hộ
(3) Các biện pháp quản lý và phát triển bền vững lâm sản ngoài gỗ có sự tham gia cộng đồng địa phương trên cơ sở các bên liên quan cùng có lợi
Các giải pháp từ phía người dân đóng góp vào việc quản lý và phát triển lâm sản ngoài gỗ có lợi cho chính người dân
Các giải pháp từ người dân mang tính bảo tồn đa dạng sinh học
Trang 283.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Thu thập thông tin thứ cấp
Thu thập thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, dân số của địa phương nghiên cứu tại phòng văn thư của Ủy Ban Nhân Dân xã để biết được tình hình dân sinh kinh tế, cơ sở hạ tầng, thực trạng sử dụng tài nguyên rừng, dân số của hai ấp nghiên cứu (596 hộ)
Những thông tin về các chính sách liên quan đến lâm sản ngoài gỗ, thực trạng quản lý, sử dụng, tình trạng khai thác nguồn lâm sản ngoài gỗ của địa phương, danh sách các hộ dân vi phạm cũng như được giao khoán bảo vệ rừng thì được thu thập từ các báo cáo tại Ban Quản Lý rừng phòng hộ Dầu Tiếng
3.3.2 Thu thập thông tin sơ cấp
Số liệu trong bài báo cáo có được phần lớn từ kết quả phỏng vấn cán bộ của ban quản lý và người dân Tiến hành phỏng vấn với hai loại câu hỏi đóng và mở
Sử dụng câu hỏi mở đối với các thông tin cần lấy ý kiến, nhận xét từ người dân
về chính sách giao khoán bảo vệ rừng, thực trạng nguồn lâm sản ngoài gỗ và các chính sách quản lý nguồn lâm sản ngoài gỗ của địa phương Bảng câu hỏi này phỏng vấn cán
bộ địa phương, cán bộ ban quản lý và người dân tại nơi điều tra
Sử dụng câu hỏi đóng với các thông tin cần chính xác, số liệu hay ý kiến cụ thể với những lựa chọn có sẵn
Trong quá trình phỏng vấn sử dụng cả câu hỏi đóng và câu hỏi mở cho từng nội dung cần thu thập thông tin cụ thể để tìm hiểu, tư liệu hóa những thông tin cần thiết từ người dân để có thông tin chính xác nhất
Số hộ nghiên cứu: đã tiếp xúc và phỏng vấn ngẫu nhiên được 60/596 hộ ( 27 hộ
ấp Cây Khế, 33 hộ ấp Sóc Con Trang) Chiếm 10,06% tổng số hộ ở hai ấp
Phân tích SWOT: phỏng vấn người dân cùng cán bộ của ban quản lý để tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu, cũng như những cơ hội và thách thức đối với các chính sách, biện pháp quản lý và phát triển lâm sản ngoài gỗ
Trang 29Lịch thời vụ: phỏng vấn người dân địa phương về thời gian, mùa vụ, hoạt động của người dân trong khai thác từng loại lâm sản ngoài gỗ cụ thể từ đó cùng người dân xây dựng lịch thời vụ
3.3.3 Tổng hợp, phân tích và xử lý thông tin
Các thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và các thông tin về tình hình vi phạm của người dân đối với lâm sản ngoài gỗ được sắp xếp chọn lọc những thông tin có liên quan đến đề tài
Các thông tin về tình trạng khai thác, sử dụng, quản lý được kiểm tra lại những thông tin thu thập được từ cán bộ và người dân, lấy những thông tin cần thiết và xác đáng Sau đó tổng hợp, so sánh, sắp xếp thông tin thành các nhóm, tiến hành phân tích,
sử lý thông tin
Trang 30Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Thực trạng quản lý, khai thác và sử dụng Lâm sản ngoài gỗ tại Ban Quản Lý rừng phòng hộ Dầu Tiếng
4.1.1 Các chính sách có liên quan đến lâm sản ngoài gỗ được thực hiện tại rừng phòng hộ Dầu Tiếng
Hiện tại những chính sách liên quan đến lâm sản ngoài gỗ ở Ban Quản Lý rừng phòng hộ Dầu Tiếng gồm có: chương trình 327 là chương trình quốc gia về tạo mới và bảo vệ rừng phòng hộ, rừng đặc dụng Chương trình này thực hiện theo dự án, chủ yếu theo phương thức lâm nông kết hợp, lấy hộ gia đình dự án làm động lực thực hiện, nhằm bảo đảm năng lực phòng hộ bền vững của quốc gia; góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, giảm nhẹ thiên tai, củng cố quốc phòng, an ninh, sử dụng có hiệu quả đất đai, từng bước nâng cao đời sống và gắn lợi ích của hộ với lợi ích quốc gia, Quyết Định
661 Trồng mới 5 triệu ha rừng cùng với bảo vệ diện tích rừng hiện có, để tăng độ che phủ của rừng lên 43%, góp phần đảm bảo an ninh môi trường, giảm nhẹ thiên tai, tăng khả năng sinh thuỷ, bảo tồn nguồn gen và tính đa dạng sinh học Sử dụng có hiệu quả diện tích đất trống, đồi núi trọc, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, góp phần xoá đói, giảm nghèo, định canh, định cư, tăng thu nhập cho dân cư sống ở nông thôn miền núi, ổn định chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh, nhất là ở vùng biên giới Cung cấp gỗ làm nguyên liệu để sản xuất giấy, ván nhân tạo, đáp ứng nhu cầu gỗ, củi và các lâm đặc sản khác cho tiêu dùng trong nước và sản xuất hàng xuất khẩu, cùng với phát triển công nghiệp chế biến lâm sản, đưa lâm nghiệp trở thành một ngành kinh tế quan trọng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội miền núi Ở đây vẫn chưa có chính sách nào riêng biệt cho các loại lâm sản ngoài gỗ, nên tình hình quản lý vẫn có nhiều vấn đề chưa phù hợp với thực tế ở địa phương
Trang 314.1.2 L ực lượng quản lý của Ban Quản Lý rừng phòng hộ Dầu Tiếng
Ban Quản Lý rừng phòng hộ Dầu Tiếng được thành lập lại năm 2008 Trong Ban Quản Lý các cán bộ đều đã học các lớp về các lớp Lâm Nghiệp và Nghiệp Vụ Kiểm Lâm Phần lớn cán bộ đều có hiểu biết về khoa học kĩ thuật và quản lý cần thiết cho bảo tồn đa dạng sinh học Nhìn chung thì trình độ của các cán bộ ở Ban Quản Lý rừng phòng hộ Dầu Tiếng đã đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của công tác quản lý và bảo tồn hiện nay đặt ra Mặc dù vây, nhưng lực lượng của Ban Quản Lý hiện nay còn rất mỏng với 44 cán bộ kiểm lâm tuần tra 30.000ha rừng (681.82 ha/người) vẫn chưa đáp ứng được cho công tác bảo vệ và phát triển rừng
Hiện nay thì Ban Quản Lý rừng phòng hộ Dầu Tiếng có 8 trạm và 7 chốt bảo vệ được đặt cố định ở những điểm nhạy cảm, khu vực động dân cư để ngăn chặn việc khai thác lâm sản trái phép Việc ngăn chặn và kiểm soát các hành vi vi phạm hiện nay đã được thực hiện một cách tương đối Tuy vậy tình trạng săn bắt động vật, khai thác lâm sản ngoài gỗ lén lút vẫn còn xảy ra thường xuyên Theo lới chú Trung (cán bộ kiểm lâm) thì ngày nào lực lượng kiểm lâm cũng bắt gặp người dân vào rừng lấy lâm sản ngoài gỗ trái phép Đối với những vi phạm nghiêm trọng thì tịch thu tang vật và chuyển sang cho hạt kiểm lâm, Xã xử lý hành chính, các vi phạm tương đối không nghiêm trọng thì chỉ nhắc nhở cảnh cáo Có những trường hợp được người dân phát hiện báo cho Ban Quản Lý nhưng khi tới nơi thì người vi phạm đã di chuyển sang nơi khác
Do điều kiện lịch sử để lại, khi Ban Quản Lý được thành lập các cụm dân cư sinh sống trong ranh giới Ban Quản Lý và giáp ranh Ban Quản Lý Hiện tại trong phạm
vi của Ban Quản Lý còn 5 cụm dân cư sinh sống Cho nên các hoạt động sản xuất của người dân có ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý để bảo tồn tài nguyên đa dạng sinh học của Ban Quản Lý Với kiểu phân bố dân cư rải rác, làm cho công tác quản lý của Ban Quản Lý gặp rất nhiều khó khăn Với những khó khăn về công tác quản lý địa bàn, cũng như sự yếu kém về nhân lực đã để lại một số hậu quả cho Ban Quản Lý như sau:
Trang 32Trong năm 2010 Ban Quản Lý đã phát hiện và ngăn chặn 48 vụ vi phạm luât Bảo Vệ và Phát Triển Rừng:
– Đất đai : 27 vụ với tổng diên tích đất vi phạm là 42,924 ha
– Lâm sản : 21 vụ với tổng số tiền phạt là : 12200000 đ
– Tang vật và phương tiện thu giữ được:
Lâm sản: gỗ 0,606 m3
, cừ : 60 cây (6x9 : 10 cây, 3x5 : 50 cây), gỗ lục nhóm I : 200kg, le : 4280 cây dài 2,5m
Dụng cụ: rựa chặt 3 cây, cưa cá mập 1 cây
Phương tiện: xe honda: 25 chiếc, xe máy cày: 1 chiếc, xe đạp thồ: 1 chiếc, xe cobe: 1 chiếc, thùng máy cày: 1 thùng
4.1.3 Các hoạt động quản lý tài nguyên của Ban Quản Lý rừng phòng hộ Dầu
Ti ếng
Ban Quản Lý rừng phòng hộ Dầu Tiếng thường xuyên tổ chức các cuộc tuần tra rừng 1lần/ngày nhằm phát hiện những hành động trái phép của người dân để có biện pháp ngăn chặn kịp thời Trong công tác tuần tra bảo vệ này có sự tham gia của những
hộ dân đuợc nhận khoán bảo vệ rừng Những hộ được nhận giao khoán bảo vệ rừng được quyền thu hái những loại lâm sản ngoài gỗ trong phạm vi cho phép nhưng họ có nghĩa vụ tuần tra bảo vệ rừng trên những diện tích họ được nhận bảo vệ và những diện tích lân cận
Hằng quí ban quản lý tiến hành kiểm tra những diện tích giao cho người dân nhằm đánh giá những mặt được và chưa được để đề xuất ý kiến và biện pháp đền người dân nhằm giúp họ cải thiện cách làm đạt hiệu quả cao nhất Người dân được quyền đưa
ra các khó khăn mà mình gặp phải với ban quản lý để được giải quyết một cách nhanh
và hiệu quả nhất Trong những cuộc họp như vậy người dân và ban quản lý trao đổi ý kiến và khắc phục những khó khăn gặp phải từ hai phía để sựa hợp tác của hai bên ( ban quản lý và người dân) được tốt nhất
Trang 33Ban Quản Lý đưa ra các chính sách về quyền khai thác các loại lâm sản ngoài
gỗ Trong hoạt động này người dân không được tham gia đề xuất ý kiến đây là một bất cập trong công tác quản lý của Ban Quản Lý Ý kiến của người dân thường rất sát với nhu cầu cũng nhu thực trạng nguồn lâm sản ngoài gỗ hiện tại nhưng Ban Quản Lý bỏ qua ý kiến này làm cho các chính sách không đạt hiệu quả cao nhất cũng như sự chấp thuận của người dân Đối với những hộ được giao khóan bảo vệ rừng thì được quyền trao đổi ý kiến với người dân cùng chính quyền địa phương nhằm đưa ra các kế hoạch hoạt động, quy chế quản lý và khai thác lâm sản ngoài gỗ
Ban Quản Lý có quyền giao khoán bảo vệ rừng cho người dân tuy nhiên trong việc này không lấy ý kiến từ người dân mà tự quyế định chính điều này làm nhiều hộ gia đình không đồng tình Nhiều hộ gia đình muốn được nhận khoán bảo vệ rừng để có thêm thu nhập cải thiện đời sống nhưng không được gây bức xúc trong người dân
4.2 Thực trạng khai thác lâm sản ngoài gỗ của người dân tại khu vực rừng phòng
hộ Dầu Tiếng
4.2.1 C ác loại lâm sản ngoài gỗ được người dân sử dụng
Săn bắt và bẫy thú rừng hoang dã: sinh cảnh rừng phần lớn đã được Ban Quản
Lý kiểm soát, quản lý chặt chẽ Tuy nhiên một số nơi người dân vẫn còn lén lút giăng bẫy bắt thú làm ảnh hưởng đến một số động vật hoang dã nhỏ Nguyên nhân là để đáp ứng nhu cầu về sinh kế, thị trường và nhận thức kém của cộng đồng địa phương về giá trị bảo tồn các loài nguy cấp
Mặc dù đã khống chế được tình trạng khai thác gỗ trái phép và phát nương làm rẫy Tuy nhiên, một số nơi vẫn còn khai thác củi, sử dụng lửa để thu bắt một số loại lâm sản ngoài gỗ (lấy mật ong) Đây là hình thức khai thác gây đe dọa trực tiếp đến đa dạng sinh học, người dân chưa ý thức được tác hại của lửa Những hình thức khai thác này vẫn còn phổ biến ở người dân, đây cũng là một khó khăn cho công tác quản lý của Ban Quản Lý
Trang 34Trước khi thành lập lại Ban Quản Lý rừng phòng hộ Dầu Tiếng, lâm sản ngoài
gỗ đáp ứng nhiều nhu cầu hằng ngày của hộ dân sống trong vùng ven và vùng lõi của Ban Quản Lý từ thực phẩm, thuốc cho đến các nguồn thu nhập chính Vào những mùa nông nhàn người dân địa phương kéo nhau vào rừng lấy lâm sản ngoài gỗ như: cá, cua
từ các suối; các loài động vật như rắn, chim, gà, và các loài thú nhỏ là nguồn thịt tươi cải thiện đời sống của họ; các loại rau, củ, quả làm thức ăn hằng ngày; nhưng đem lại thu nhập chính là cây le để bán cho thương lái thu mua tại chỗ và lấy măng vào mùa măng Có những mùa bội thu, họ còn đem sản phẩm lấy được từ rừng về đổi hay bán cho thương lái để có một khoảng tiền mua sắm vật dụng khác mà không có từ rừng: tivi, xe máy và một số thiết bị cho gia đình Trước đây, phần lớn người dân nơi đây cứ tiếp tục cuộc sống của họ như vậy từ năm này qua năm khác, từ thế hệ này qua thế hệ khác Cho nên cuộc sống của họ phụ thuộc rất nhiều vào rừng, có thể nói đó là một
”nghề” của người dân
Đến khi Ban Quản Lý rừng phòng hộ Dầu Tiếng được thành lập lại, quy chế quản lý và bảo vệ rừng từng bước được thực thi, đã ảnh hưởng trực tiếp đến đại đa số người dân sống dựa vào rừng, và người dân phải thích nghi với bối cảnh quản lý mới
Họ tạm bằng lòng với một số mặt hàng khác được thay thế dần các nguồn lâm sản ngoài gỗ được lấy ra từ rừng Còn một số hộ dân lâu nay vẫn sống phụ thuộc rất nhiều vào rừng và không có nguồn sinh kế nào khác thì vẫn len lút vào rừng Mặc dù, họ bị các lực quản lý như kiểm lâm, chính quyền địa phương bắt và thu hết dụng cụ nhưng
họ vẫn gắn bó với rừng để tìm kế sinh nhai Bởi vì, chỉ có rừng mới phục vụ được yêu cầu bức thiết nhất cho cuộc sống của họ
Một loài lâm sản ngoài gỗ mà gần như người dân nào cũng tham gia khai thác,
đó là măng Người dân muốn lấy được loại măng ngon thì họ phải mất nhiều thời gian tìm kiếm, đặc biệt là măng le ở đây bán được với giá cao hơn các loại măng khác Sau khi thu hái, măng là nguồn thức ăn tươi trong các bữa chính của gia đình Một số hộ
Trang 35thu hái được nhiều đem luộc và bán lại cho thương lái, hoặc bán ngoài chợ để trang trải cho cuộc sống hàng ngày
Vào những tháng cây cao su ra lá non thời điểm này cũng là thời điểm những tổ ong đầy mật, lúc này người dân đi bắt được nhiều mật nhất trong năm Có những người chuyên nghiệp đi bắt ong lấy mật có thể lấy được 4-5lit mật/ ngày, nhưng những người chuyên nghiệp trong nghề này rất ít, thường thì những người dân gặp đâu bắt đó Mật ong được người dân sử dụng làm thuốc cho gia đình, hoặc bán lại cho thương lái
Một loại lâm sản ngoài gỗ thu hút nhiều người tham gia đi lấy nữa là nấm tràm,
do diện tích trồng keo lá tràm của Ban Quản Lý ngày càng được mở rộng, nên loại lâm sản ngoài gỗ này có rất nhiều vào những tháng mưa Thông thường người dân đi lấy Nấm Tràm về để bán cho thương lái, một phần nhỏ dùng trong gia đình
Tất cả các loại cành nhánh khô trong rừng đều có thể lấy về làm củi để đun nấu, nếu lấy được nhiều thì đem bán lại cho thương lái Tre, le được người dân chặt từ rừng
về để sửa sang lại cột nhà bị mối mọt, làm gian bầu hay làm hàng rào, và dùng làm giàn leo cho bí, bầu đặc biệt là Le thường xuyên được người dân vào rừng thu hái, có những hộ lấy đó làm “nghề” để bán cho thương lái với giá cao Người dân cũng thường
xuyên vào rừng lấy các loại lan rừng về trang trí cho nhà, hoặc bán lại cho các hộ khác làm cây cảnh Các loại cây cảnh khác như : sung, vừng được người dân vào rừng lựa chọn kỉ lưỡng rồi mang về bán hoặc làm cây cảnh với giá trị rất cao Đặt biệt cây Lộc Vừng hiện nay là một loài được rất nhiều người tìm kiếm
Trang 36Bảng 4.1: Các loại lâm sản ngoài gỗ và mục đích sử dụng tại rừng phòng hộ
STT Tên loài Số lần(ngày/tuần) Số lượng Thời gian thu hái
1 Mây 7 ngày/tuần 3 - 5 bó/lần Quanh năm
2 Măng 7 ngày/tuần 25 - 30 kg/lần Tháng 6 - 8
3 Củ 1 - 2 ngày/ tuần 1 - 2 kg/lần Quanh năm
4 Mật ong 1- 2 ngày/ tuần 3 - 5 lít/lần Tháng 2 - 4
5 Cheo 7 ngày/tuần 0 - 2 con/lần Quanh năm
6 Gà rừng 7 ngày/tuần 0 - 2 con/lần Quanh năm
7 Nấm mối 7 ngày/ tuần 1 - 3 kg/lần Tháng 6
8 Nấm mèo 7 ngày/ tuần 1 - 2 kg/lần Tháng 6 - 8
9 Củi 7 ngày/ tuần 0,1 - 0,3 m3/lần Quanh năm
10 Dầu chai 1 - 3 ngày/tuần 0 - 1 kg/lần Quanh năm
11 Tắt kè 7 ngày/ tuần 0 - 4 con/lần Quanh năm
12 Tre 7 ngày/ tuần 5 - 10 cây/lần Quanh năm
13 Bá bệnh 7 ngày/tuần 2 - 3 kg/lần Quanh năm
14 Heo rừng 7 ngày/ tuần 0 - 1 con/lần Quanh năm
15 Lộc vừng 0-1 ngày/ tuần 1 cây/lần Quanh năm
16 Lan 3 - 4 ngày/ tuần 2 - 4 ổ/lần Quanh năm
17 Đọt lưới 7 ngày/ tuần 5 - 10 kg/lần Quanh năm
18 Khổ qua 3- 4 ngày/ tuần 1 - 2 kg/lần Quanh năm
19 Rau má 3 - 4 ngày/ tuần 3 - 4 kg/lần Quanh năm
20 Rau diếp 3 - 4 ngày/ tuần 3 - 4 kg/lần Quanh năm
21 Nấm tràm 7 ngày/ tuần 3 - 4 kg/lần Tháng 6 - 8
22 Quả rừng 1 - 2 ngày/tuần 3 - 4 kg/lần Quanh năm
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu phỏng vấn Qua bảng số liệu có thể thấy được các loài lâm sản ngoài gỗ tại địa phương rất phong phú, được chia ra làm 5 nhóm công dụng khác nhau Phần lớn những loại lâm sản ngoài gỗ ở đây được người dân sử dụng trong gia đình một ít, phần lớn họ bán để lấy tiền phục vụ nhu cầu cuộc sống hàng ngày
4.2.2 Khai thác và sử dụng lâm sản ngoài gỗ của người dân
Các loại lâm sản ngoài gỗ được người dân khai thác và sử dụng tại địa điểm nghiên cứu được thống kê theo số lần, số lượng của mỗi lần thu hái trung bình và thời
Trang 37gian thu hái trong năm Từ đó tính ra được lượng khai thác của từng loại này một cách ước lượng trong năm của người dân
Bảng 4.2: Số lần, số lượng và thời gian thu hái các loại lâm sản ngoại gỗ
STT Tên loài Số lần(ngày/tuần) Số lượng Thời gian thu hái
2 Măng 7 ngày/tuần 25 - 30 kg/lần Tháng 6 - 8
3 Củ 1 - 2 ngày/ tuần 1 - 2 kg/lần Quanh năm
4 Mật ong 1- 2 ngày/ tuần 3 - 5 lít/lần Tháng 2 - 4
6 Gà rừng 7 ngày/tuần 0 - 2 con/lần Quanh năm
7 Nấm mối 7 ngày/ tuần 1 - 3 kg/lần Tháng 6
8 Nấm mèo 7 ngày/ tuần 1 - 2 kg/lần Tháng 6 - 8
9 Củi 7 ngày/ tuần 0,1 - 0,3 m3/lần Quanh năm
10 Dầu chai 1 - 3 ngày/tuần 0 - 1 kg/lần Quanh năm
11 Tắt kè 7 ngày/ tuần 0 - 4 con/lần Quanh năm
12 Tre 7 ngày/ tuần 5 - 10 cây/lần Quanh năm
13 Bá bệnh 7 ngày/tuần 2 - 3 kg/lần Quanh năm
14 Heo rừng 7 ngày/ tuần 0 - 1 con/lần Quanh năm
15 Lộc vừng 0-1 ngày/ tuần 1 cây/lần Quanh năm
16 Lan 3 - 4 ngày/ tuần 2 - 4 ổ/lần Quanh năm
17 Đọt lưới 7 ngày/ tuần 5 - 10 kg/lần Quanh năm
18 Khổ qua 3- 4 ngày/ tuần 1 - 2 kg/lần Quanh năm
19 Rau má 3 - 4 ngày/ tuần 3 - 4 kg/lần Quanh năm
20 Rau diếp 3 - 4 ngày/ tuần 3 - 4 kg/lần Quanh năm
21 Nấm tràm 7 ngày/ tuần 3 - 4 kg/lần Tháng 6 - 8
22 Quả rừng 1 - 2 ngày/tuần 3 - 4 kg/lần Quanh năm
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu phỏng vấn Các loại mây, tre thì được những người dần ông khỏe mạnh tổ chức thành nhóm khoảng 3 người đi thu hái, một phần được dùng để dựng nhà và dan lát các loại đồ dùng gia dụng sử dụng trong gia đình, phần khác được thương lái mua về bán lại cho những xưởng làm tăm, dũa và thủ công mĩ nghệ