SKKN tin 6 Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành họcSKKN tin 6 Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành họcSKKN tin 6 Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành họcSKKN tin 6 Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học
Trang 1I Đặt vấn đề:
Trong thời đại của chúng ta, sự bùng nổ CNTT đã tác động lớn đến công
cuộc phát triển kinh tế xã hội người Đảng và Nhà nước đã xác định rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của tin học và CNTT, truyền thông cũng như những yêu cầu đẩy mạnh của ứng dụng CNTT, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mở cửa và hội nhập, hướng tới nền kinh tế tri thức của nước ta nói riêng - thế giới nói chung
Bộ môn Tin Học là một môn học trực quan, sinh động, HS được khám phá những lĩnh vực khoa công nghệ mới nên các em rất hứng thú học, nhất là những tiết thực hành Môn Tin Học ở bậc THCS bước đầu giúp HS làm quen với một số kiến thức ban đầu về CNTT như: Một số linh kiện của máy tính điện tử, một số thuật ngữ thường dùng, được rèn luyện kỹ năng sử dụng máy
vi tính, vv
Tuy nhiên với HS lớp 6 đầu cấp THCS tư duy của các em còn non nớt, sự hiểu biết còn rất mơ hồ, dễ ngộ nhận, kỹ năng thao tác với chuột và bàn phím chưa thuần thục
Do đó việc giúp các em HS lớp 6 thực hiện thành thạo các thao tác trên máy tính điện tử là rất cần thiết với mỗi GV dạy bộ môn Tin Học Cũng chính vì vậy tôi đã xây dựng SKKN của mình thông qua quá trình giảng dạy,
tự đúc rút những kinh nghiệm và kết quả thu tổng kết thu được qua những bài kiểm tra của các em HS, nhằm giúp cho HS có kỹ năng tốt, tư duy tốt khi học bộ môn Tin Học Để từ đó trang bị cho HS những kỹ năng, kỹ xảo khi làm việc với máy vi tính, làm chủ những kiến thức về CNTT
Trang 2II Giải quyết vấn đề:
1 Cơ sở lý luận:
Sự ra đời của máy tính điện tử (MTĐT) đã mở ra một kỷ nguyên mới: kỉ nguyên con người sáng tạo ra những công cụ tự động thay thế cho những hoạt động trí óc của bản thân mình Đó là một bước ngoặt trong lịch sử phát triển của xã hội loài người
MTĐT là công cụ của một ngành khoa học mới Tin học, mà đối tượng của
nó là những thông tin và những quá trình xử lý thông tin tự động
Những năm bảy mươi bắt đầu một giai đoạn mới về chất trong sự phát triển
của Tin học Giai đoạn này gắn liền với sự phát minh ra kĩ thuật vi xử lý, làm
cơ sở cho việc chế tạo ra những máy tính mới với nhiều ưu điểm là rẻ hơn, gọn nhẹ hơn, tin cậy hơn và điều khiển đơn giản hơn Những ngôn ngữ lập trình cùng gần lại với ngôn ngữ thông thường Điều đó làm cho MTĐT nhanh chóng thâm nhập vào hầu hết mọi lĩnh vực của sản xuất, kinh tế và đời sống xã hội, tạo nên sự bùng nổ tin học trong xã hội loài người
Tin học càng phát triển, mối liên hệ giữa Tin học - Điện tử - Viễn thông ngày càng mật thiết và ba lĩnh vực này dần dần trở thành một thể thống nhất, dẫn đến thuật ngữ "Công nghệ thông tin" được sử dụng phổ biến từ những năm 90 Từ năm 2000, thuật ngữ "Công nghệ thông tin và truyền thông" được dùng ngày càng nhiều, điều đó thể hiện vị trí và tầm quan trọng của truyền thông trong đời sống loài người mà nét nổi bật là vai trò ngày càng tăng của Internet
Ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục trở thành một chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước ta:
- "Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học Phát triển các hình thức đào tạo từ xa phục vụ cho nhu cầu học tập của toàn xã hội Đặc biệt tập
Trang 3trung phát triển mạng máy tính phục vụ cho giáo dục và đào tạo, kết nối Internet tới tất cả các cơ sở giáo dục và đào tạo" (Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17 tháng 10 năm 2000 của Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam)
- "Đối với giáo dục và đào tạo, công nghệ thông tin có tác động mạnh mẽ làm thay đổi nội dung, phương pháp, phương thức dạy và học Công nghệ
thông tin là phương tiện để tiến tới một "Xã hội học tập"
"Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục và đào tạo ở tất
cả các cấp học, bậc học, ngành học theo hướng sử dụng công nghệ thông tin như là một công cụ hỗ trợ đặc lực nhất cho đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập ở tất cả các môn học" (Chỉ thị số 29/2001/CT-BGD&ĐT ngày 30 tháng 7 năm 2001 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành Giáo dục và giai đoạn 2001-2005)
Công nghệ thông tin và truyền thông được sử dụng ngày càng rộng rãi trong nhà trường là xuất phát từ ưu điểm về mặt kĩ thuật và tiềm năng về mặt
sư phạm của công nghệ này
* Ưu điểm kĩ thuật của công nghệ thông tin và truyền thông
Công nghệ thông tin và truyền thông có nhiều điểm mạnh kĩ thuật để phục
vụ cho những hoạt động trên các lĩnh vực khác nhau của con người Những điểm mạnh này cũng đang được khai thác để hỗ trợ quá trình dạy học, ngay
cả trong nhà trường phổ thông Sau đây là một số ưu điểm nổi bật c ó thể được khai thác trong giáo dục
- Kĩ thuật đồ hoạ được nâng cao tạo điều kiện mô phỏng nhiều quá trình,
hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và trong con người mà không thể hoặc không nên để xảy ra trong điều kiện nhà trường, không thể hoặc khó có thể được thể hiện nhờ những phương tiện khác Chẳng hạn sự chuyển động của
Trang 4một tinh tú trong hệ mặt trời, của một điện tử xung quanh hạt nhân, vận hành của hệ tuần hoàn, hệ bài tiết, sự phát triển của một cái cây từ lúc gieo hạt cho đến khi ra hoa, kết quả.v.v Việc mô phỏng như thế có thể giúp nhà trường tránh đựơc những thí nghiệm nguy hiểm, vượt quá những sự hạn chế về thời gian, không gian hoặc chi phí
- Sự hoà nhập giữa công nghệ thông tin và truyền thông dẫn tới hình thành
những mạng máy tính, đặc biệt là Internet cung cấp những kho thông tin và tri thức khổng lồ, tạo điều kiện để mọi người có thể giao lưu với nhau không
bị hạn chế bởi thời gian và không gian
- Công nghệ Multimedia kết hợp những hình ảnh từ phim đèn chiếu, băng
video, camera với âm thanh, văn bản, biểu đồ được trình bày qua máy tính theo một kịch bản vạch sẵn, giúp người học đạt hiệu quả tối đa một trong quá trình học tập đa giác quan
- Công nghệ tri thức đạt đến mức làm cho MTĐT- thành phần chủ chốt của
công nghệ thông tin và truyền thông -có thể tiếp nối trí thông minh của con người, thực hiện những công việc mang tính chất trí tuệ cao như suy luận, chứng minh
- Giao tiếp người- máy ngày càng được hoàn thiện làm cho công nghệ
thông tin và truyền thông ngày càng thân thiện với người sử dụng Trong quá trình chế tạo MTĐT, người ta đã phát triển những phương tiện, những ngôn ngữ giao tiếp người - máy, từ những ngôn ngữ máy tới những ngôn ngữ bậc cao rồi tới bảng chọn, cao hơn nữa là những mẫu hình tượng và cao nhất là ngôn ngữ như sự trò chuyện giữa hai người Sự đối thoại giữa người và máy ngày càng linh hoạt, đến mức người thường (chứ không bắt buộc phải là chuyên gia) được đào tạo rất ngắn cũng có thể sử dụng công nghệ thông tin
và truyền thông
Trang 5- Đặc biệt những phần mền chuyên dụng phát triển ngày càng thuận tiện cho
người sử dụng mà điển hình là những hệ soạn thảo văn bản, những hệ quản trị cơ sở dữ liệu, những bảng tính điện tử và những phần mềm trình diễn Những phần mềm chuyên dụng này giúp ta khai thác chỗ mạnh của công nghệ thông tin và truyền thông để hỗ trợ cho quá trình dạy học
Một hệ soạn thảo văn bản được cài đặt vào máy tính trước hết có tác dụng
như một chiếc máy chữ nhưng ưu việt hơn bất kì một máy chữ thông thường nào, bởi vì ta có thể điều chỉnh, sửa chữa những chữ viết sai, có thể thay đổi thứ tự các đoạn văn bản, có thể thay đổi kiểu chữ, cỡ chữ và khoảng cách giữa các dòng, có thể phân công mỗi người viết một phần rồi ghép lại theo một trình tự mong muốn Chức năng soạn thảo văn bản có thể khai thác để dạy học tiếng mẹ đẻ hoặc tiếng nước ngoài Ngày nay, những hệ soạn thảo như WinWord có tác dụng không chỉ như chiếc máy chữ mà còn như một chiếc máy in tiện lợi, giúp giáo viên in bài soạn, đề kiểm tra, phát hành những phiếu in khuyết để phục vụ quá trình dạy học
Một hệ quản trị dữ liệu (chẳng hạn Access) có khả năng lưu trữ một lượng
dữ liệu rất lớn và tái sản xuất chúng dưới những dạng khác nhau trong thời gian hạn chế Ưu điểm này có thể khai thác phục vụ việc dạy học các môn Hoá Học, Thể Dục, Địa Lý.v.v
Một bảng tính điện tử (ví dụ excel) có thể kéo dài theo chiều ngang hoặc
mở rộng chiều dọc, có thể tự động tính toán theo những công thức được cài sẵn và do đó có thể dùng cho học sinh tập điều tra, nghiên cứu trong những môn khác nhau: thể dục, địa lý, toán học
Với một phần mềm trình diễn (Chẳng hạn PowerPoint), MTĐT có thể dùng
nhưn phương tiện báo cáo, trình bày những nội dung văn hoá, xã hội giáo dục, khoa học.v.v một cách rõ ràng, sáng sủa có sử dụng những văn bản
Trang 6và siêu văn bản cùng với những hình ảnh sống động và màu sắc theo ý muốn
* Ý đồ sư phạm của việc sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông như công cụ dạy học
Những phần mềm dạy học có khả năng phục vụ những ý đồ sư phạm như sau:
- Tạo môi trường tương tác để người học hoạt động và thích nghi với môi trường Việc dạy học diễn ra trong quá trình hoạt động và thích nghi đó
- Tạo điều kiện cho người học hoạt động độc lập tới mức độ cao, tách xa thầy giáo những khoảng thời gian dài mà vẫn đảm bảo mối liên hệ ngược trong quá trình dạy học Do đó việc sử dụng những phần mềm dạy học của MTĐT dẫn đến những kiểu dạy học mới, chẳng hạn dạy học cá thể hoá và dạy học từ xa
- Tạo điều kiện thực hiện những ý tưởng vĩ đạo trong giáo dục như học mọi nơi, học mọi lúc, học suốt đời, nâng cao tính nhân văn, dân chủ của nền giáo dục Ý tưởng nêu cuối xùng (Xem Đào Thái Lan 2000, tr.143-144) khả thi ở chỗ công nghệ thông tin và truyền thông có thể giúp học sinh dù ở những nơi
xa xôi hẻo lánh đến đâu đều có khả năng chinh phục khoảng cách, tiếp thu nội dung giáo dục hiện đại nhất ở địa điểm tuỳ ý trên hành tinh Họ có thể tuỳ chọn chương trình học, tuỳ chọn thầy dạy, có thể học không chỉ một thầy giỏi, có thể giao lưu với nhiều bạn học ở những nơi khác nhau Vì thế, mọi học sinh trên mọi lãnh thổ đều có quyền và có điều kiện tiếp thu chương trình học, thậm chí có thầy học khác nhau
Đương nhiên, sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông như công cụ dạy học đòi hỏi phải có một sự đầu tư lớn Tuy nhiên hiện nay ta đã có thể trang bị cơ sở vật chất để dạy tin học trong nhà trường thì cũng có thể sử
Trang 7dụng luôn cơ sở vật chất đó để thực hiện tới mức độ nhất định việc đưa công nghệ thông tin và truyền thông vào hỗ trợ quá trình dạy học những môn khác nhau Một điều cần lưu ý là cần tránh sự lạm dụng phương tiện kĩ thuật một cách không cần thiết Trường hợp nào MTĐT không hơn gì chiếc bảng đen hoặc trang sách giáo khoa thì ta không dùng MTĐT
Môn Tin Học lớp 6 nhằm hình thành cho HS một số phẩm chất và năng lực cần thiết cho người lao động hiện đại như:
+ Góp phần hình thành và phát triển tư duy thuật giải
+ Bước đầu hình thành năng lực tổ chức và xử lý thông tin
+ Có ý thức và thói quen sử dụng máy tính trong hoạt động học tập, lao động xã hội hiện đại
+ Có thái độ đúng khi sử dụng máy tính và các sản phẩm tin học + Bước đầu hiểu khả năng ứng dụng CNTT trong học tập
+ Có ý thức tìm hiểu CNTT trong các hoạt động xã hội
+ Phần mềm soạn thảo văn bản: HS ứng dụng phần mềm Microsoft Word để trình soạn thảo những bài toán, bài văn vv sao cho đúng cách, bố cục hợp lý khoa học
+ Phần mềm vẽ: HS ứng dụng trong môn Mỹ thuật, học được từ môn
mỹ thuật để vẽ những hình ảnh sao cho sinh động, hài hoà thẩm mĩ
+ Phần mềm tập chuột Mouse Skills, gõ bàn phím bằng mười ngón tay Mario: Giúp HS luyện tập cách làm việc với bàn phím, chuột máy tính một cách chuẩn xác nhanh chóng và hiệu quả cao
2 Thực trạng của vấn đề :
Trong chương trình tin học THCS thì một số bài học được phân bố xen
kẽ giữa các bài vừa học, vừa chơi Điều đó sẽ rèn luyện cho HS óc tư duy sáng tạo trong quá trình chơi những trò chơi mang tính bổ ích giúp cho HS thư giãn sau những giờ học căng thẳng ở lớp …Tuy môn Tin học mới chỉ là
Trang 8môn học tự chọn nhưng nhà trường đã tạo điều kiện để HS có thể học từ khối lớp 6, tạo điều kiện sắm sửa máy móc, trang thiết bị phục vụ cho việc dạy và học môn Tin học
Trước khi thực hiện chuyên đề, tôi đã khảo sát khả năng thao tác trên máy tính của các em HS 2 lớp 6A và 6B thông qua giờ dạy lý thuy t, d yết, dạy ạy
th c h nh, thông qua ki m tra b i c Khi t ng h p k t qu thu ểm tra bài cũ Khi tổng hợp kết quả thu được còn ũ Khi tổng hợp kết quả thu được còn ổng hợp kết quả thu được còn ợp kết quả thu được còn ết, dạy ả thu được còn đượp kết quả thu được cònc còn
th p, c th nh sau:ấp, cụ thể như sau: ụ thể như sau: ểm tra bài cũ Khi tổng hợp kết quả thu được còn ư
Mức độ thao tác
Trước khi thực hiện SKKN
(%)
3.Các biện pháp mới đã thực hiện để giải quyết vấn đề:
3.1 Đối tượng nghiên cứu :
- Môn tin học lớp 6
- HS khối lớp 6 trường THCS Tân Đức – Việt Trì - Phú Thọ
3.2 Phương pháp nghiên cứu :
- Phỏng vấn HS khối 6
- Kiểm tra việc học tập của HS (bài cũ, bài mới)
- Xây dựng các bài giảng điện tử phù hợp với phương pháp giảng dạy theo tính đặc thù của bộ môn
- Thăm lớp, dự giờ
- Sử dụng bảng biểu đối chiếu các kết quả tổng kết môn học
- Kiểm tra chất lượng sau giờ học
- Tận dụng tối đa các buổi học thực hành để các em được làm quen và rèn cho các em có kỹ năng thao tác với máy vi tính thật tốt , qua đó HS sẽ làm chủ kiến thức trong các bài học lý thuyết
Trang 9- Với tính cách là công cụ dạy học, công nghệ thông tin và truyền thông được sử dụng dưới những hình thức cơ bản được biểu diễn Các hình thức đó là:
(a) Giáo viên trình bày bài dạy có sự hỗ trợ của CNTT Ngoài MTĐT, phương tiện thường dùng là máy chiếu multimedia và phần mềm trình diễn PowerPoint
(b) Học sinh làm việc trực tiếp với CNTT và truyền thông dưới sự hướng dẫn
và kiểm soát chặt chẽ của thầy, cô giáo
(a) (b)
(c) Học sinh học tập độc lập nhờ CNTT và truyền thông, đặc biệt là nhờ những chương trình máy tính
(d) Học sinh tra cứu tài liệu và học tập độc lập hoặc trong giao lưu trên mạng cục bộ hay internet
3.3 Một số biện pháp mới để giải quyết vấn đề:
3.3.1 GV có kế hoạch bài dạy, xây dựng ý tưởng, thiết kế bài dạy phù hợp:
Lớp
GV
CNTT CNTT
INTERNET
HS
Trang 10Ngay từ những bài học đầu tiên trong chương trình học Tin học, GV phải xác định rõ cho HS nhận biết các bộ phận của máy tính và tác dụng của các bộ phận đó bằng cách cho HS quan sát ngay trong giờ giảng lý thuyết
*VD1 : Khi học bài “Máy tính và phần mềm máy tính”
- GV giới thiệu về cấu trúc chung của máy tính điện tử, thì GV cho HS quan sát một số linh kiện điện tử của máy tính và chỉ ra chức năng, ứng dụng của chúng như :
+ CPU( Central Processing Unit) : Bộ vi sử lý để thực hiện các chức năng tính toán và điều khiện mọi hoạt động của máy tính
+ Bảng mạch chính ( MainBoard) : là bản mạch in chính trong thiết
bị điện tử Nó có chứa các socket (đế cắm) và slot (khe cắm) để cắm các linh kiện điện tử và bo mạch mở rộng khác.
+ Ram(Random Access Memory), Rom(Read Only Memory), HDD( Hard Disk Drive): Thiết bị lưu trữ
+Màn hình, bàn phím, con chuột máy tính: Là các thiết bị để nhập và xuất dữ liệu
*VD2: Khi học bài: “Luyện tập chuột”
- GV cho HS quan sát, biết rõ cấu tạo, chức năng và ảnh hưởng vô cùng quan trọng của chuột (mouse) máy vi tính như thế nào?
- GV giảng cho HS biết chuột máy tính cũng có nhiều biến đổi và cải tiến, không chỉ về kiểu dáng mà còn cả công nghệ cảm ứng Chuột ngày nay có
độ nhạy và nhiều tính năng tốt hơn rất nhiều so với vài năm trước đây.
*VD3: Khi học bài “Học gõ mười ngón”
-GV giảng cho HS biết được bàn phím (Keyboard) là thiết bị giao tiếp cơ bản giữa người dùng với máy vi tính và là thiết bị không thể thiếu, nếu thiếu
nó máy vi tính sẽ báo lỗi và không khởi động, giới thiệu chức năng của một
số hàng phím cơ bản cũng như một số phím đặc biệt trên bàn phím.