Hệ sinh thái là tổ hợp của một quần xã sinh vật với môi trường vật lý mà quần xã đó tồn tại, trong đó các sinh vật tương tác với nhau và với môi trường để tạo nên chu trình vật chất chu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG HỆ SINH THÁI NHÂN TẠO TRONG ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KHU DU LỊCH SINH THÁI
CAO MINH TỈNH ĐỒNG NAI
Họ và tên sinh viên: NGUYỄN HỮU NHẬT Ngành: QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG VÀ DU LỊCH SINH THÁI Khóa: 2007-2011
Tháng 07/2011
Trang 2NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG HỆ SINH THÁI NHÂN TẠO TRONG ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KHU DU LỊCH SINH THÁI CAO MINH
Giáo viên hướng dẫn:
TS Lê Quốc Tuấn
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 7/2011
Trang 3& TÀI NGUYÊN
- Nghiên cứu ứng dụng hệ sinh thái nhân tạo Khu Du Lịch Sinh Thái Cao Minh
- Tiềm hiểu hiện trạng về tài nguyên môi trường
Trang 4TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG HỆ SINH THÁI NHÂN TẠO TRONG ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KHU DU LỊCH SINH THÁI
CAO MINH TỈNH ĐỒNG NAI
Ngành: QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG VÀ DU LỊCH SINH THÁI Khóa: 2007-2011
Trang 5Tiến sĩ Lê Quốc Tuấn trưởng khoa Môi Trường và Tài Nguyên và toàn thể thầy cô
bộ môn Quản lý môi trường và Du lịch sinh thái đã tận tình giảng dạy và giúp cho chúng tôi trong quá trình học tập
Toàn thể quí thầy cô trường Đại Học Nông Lâm
Tiến sĩ Lê Quốc Tuấn đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới ban lãnh đạo Khu du lịch sinh thái Cao Minh, số 457/Tổ 2/Ấp 2, Xã Vĩnh Tân, Huyện Vĩnh Cửu, Tỉnh Đồng Nai
Các bạn sinh viên cùng khóa, các bạn bè thân hữu đã giúp đỡ Nhật trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện luận văn này
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 6 – 2011
Sinh viên: Nguyễn Hữu Nhật
Trang 6TÓM TẮT
Đề tài “Nghiên cứu ứng dụng hệ sinh thái nhân tạo trong định hướng phát triển khu du lịch sinh thái Cao Minh” được tiến hành tại Khu du lịch sinh thái Cao Minh, số 457/Tổ 2/Ấp 2, Xã Vĩnh Tân, Huyện Vĩnh Cửu, Tỉnh Đồng Nai
Kết quả đạt được:
- Đánh giá được hiện trạng tài nguyên tại Khu du lịch sinh thái Cao Minh
- Đánh giá các hoạt động du lịch sinh thái tại Khu du lịch sinh thái Cao Minh
- Đánh giá hiện trạng, tổ chức các khu chức năng ở Khu du lịch sinh thái Cao Minh
- Đề xuất mốt số bổ sung quy hoạch phát triển du lịch sinh thái như: Xây thêm phòng trưng bày, khu trưng bày, xây dựng các trò chơi teambuilding
- Đề xuất kế hoạch phát triển du lịch sinh thái theo hướng bền vững như các kế hoạch giáo dục và tuyên truyền về DLST, phát triển các điểm, tuyến DLST, phát triển mạng lưới thông tin liên lạc, tu bổ, các giải pháp về môi trường trong quá trình phát triển
Trang 7MỤC LỤC
Trang
TRANG TỰA……… i
LỜI CẢM ƠN iv
TÓM TẮT vi
MỤC LỤC vii
DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT x
DANH SÁCH CÁC BẢNG xi
DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ xi
DANH SÁCH CÁC HÌNH xii
Chương 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề ……1
1.2 Mục tiêu 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Khái niệm hệ sinh thái 3
2.2 Khái niệm hệ sinh thái nhân tạo 5
2.3.1 Cấu trúc và chức năng của hệ sinh thái 5
2.3.2 Sự chuyển hóa vật chất trong hệ sinh thái 7
2.3.3 Chuỗi và lưới thức ăn 7
2.3.3.1 Chuỗi thức ăn (foodchain) 7
2.3.3.2 Lưới thức ăn (foodweb) 8
2.3.3.3 Bậc dinh dưỡng (trophic levels) 8
2.3.4 Sự chuyển hóa năng lượng trong hệ sinh thái và năng suất sinh học 9
2.3.4.1 Năng lượng trong hệ sinh thái 9
2.3.4.2 Dòng năng lượng đi qua hệ sinh thái 9
2.3.5 Năng suất sinh học của hệ sinh thái 10
2.3.5.1 Năng lượng sinh học sơ cấp 11
2.3.5.2 Năng suất sinh học thứ cấp của HST 11
2.3.5.3 Các tháp sinh thái 11
2.3.5.4 Sự biến động năng suất sinh học của HST 13
2.4 Các nhân tố sinh thái 13
2.4.1 Các nhân tố không sống bao gồm các yếu tố tự nhiên 13
2.4.2 Các nhân tố sống 13
2.4.3 Nhân tố con người 13
2.5 Một số quy luật cơ bản của sinh thái học 14
2.5.1 Quy luật giới hạn sinh thái 14
2.5.2 Quy luật tác động tổng hợp các nhân tố sinh thái 14
2.5.3 Quy luật tác động không đồng đều của nhân tố sinh thái lên chức năng sống của cơ thể 15
Trang 82.6 Cân bằng sinh thái 15
2.7 Giới thiệu chung về DLST 16
2.7.1 Khái niệm du lịch sinh thái 16
2.7.2 Các yêu cầu cần thiết lựa chon một khu vực để phát triển DLST 18
2.7.3 Nguyên tắc cơ bản để phát triển DLST 19
2.7.4 Tình hình DLST trên thế giới 20
2.7.5 Tính tất yếu về du lịch sinh thái tại Việt Nam 20
2.8 Giới thiệu huyện Vĩnh Cửu, tĩnh Đồng Nai 21
2.8.1 Đặc điểm tự nhiên 21
2.8.2 Xã hội 21
2.8.3 Kinh tế 22
2.8.4 Khí hậu, thời tiết 22
2.9 Tổng quan về khu du lịch sinh thái Cao Minh 23
2.9.1 Vị trí địa lý 23
2.9.2 Lịch sử hình thành 24
Chương 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
3.1 Nội dung 25
3.2 Phương pháp nghiên cứu 25
3.2.1 Phương pháp khảo sát, thu thập dữ liệu 25
3.2.2 Phương pháp so sánh, phân tích, xử lý dữ liệu 25
3.2.3 Phương pháp điều tra, phỏng vấn 25
3.2.4 Phương pháp phân tích SWOT 26
Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27
4.1 Hiện trạng cơ sở vật chất – hạ tầng và các hoạt động du lịch 27
4.1.1 Hồ Cao Minh 27
4.1.2 Sân khấu Thăng Long và khu cắm trại 28
4.1.3 Khu nuôi động vật 28
4.1.4 Khu văn phòng 28
4.1.5 Cầu treo 28
4.1.6 Hệ thống nhà hàng 29
4.1.7 Hệ thống nhà nghỉ 29
4.2 Cơ cấu, tổ chức, hoạt động kinh doanh của KDL 30
4.2.1 Tổ chức bộ máy quản lý 30
4.2.2 Tình hình hoạt động du lịch và doanh thu 30
4.3 Nghiên cứu ứng dụng hệ sinh thái nhân tạo KDLST Cao Minh 31
4.3.1 Hệ sinh thái nhân tạo KDLST Cao Minh bao gồm các thành phần 31
4.3.2 Môi trường đất 32
4.3.3 Hiện trạng sử dụng đất 32
4.3.4 Môi trường nước 34
4.3.5 Môi trường không khí 36
4.3.6 Môi trường sinh vật 37
4.3.7 Dòng năng lượng của hệ sinh thái Cao Minh 38
Trang 94.3.7.1 Dòng năng lượng đi qua hệ sinh thái 39
4.3.7.2 Năng suất sinh học của hệ sinh thái 39
4.3.7.3 Năng lượng sinh học sơ cấp 40
4.3.7.4 Năng suất sinh học thứ cấp của HST 41
4.4 Các đặc điểm cơ bản của hệ sinh thái KDLST Cao Minh 45
4.5 Điều tra xã hội học về đánh giá của du khách về KDLST Cao Minh 46
4.5.1 Nét đặc trưng của KDL 46
4.5.2 Chất lượng môi trường không khí 47
4.5.3 Chất lượng môi trường nước hồ Cao Minh 48
4.5.4 Những hoạt động dịch vụ ảnh hưởng đến môi trường tại KDL 48
4.5.5 Phân loại khách tại KDLST Cao Minh – 2010 49
4.5.6.Thời gian lưu trú khác tại KDL 50
4.5.7 Đánh giá chung của du khách về KDL 50
4.6 Định hướng phát triển khu DLST Cao Minh 51
4.7 Một số giải pháp nhằm phát triển khu du lịch sinh thái Cao Minh 51
4.7.1 Phân tích SWOT về khu du lịch sinh thái Cao Minh 52
4.7.2 Giả pháp xây dựng thêm phòng trưng bày 53
4.7.3 Giải pháp về quy hoạch 54
4.7.4 Giải pháp về quản lý và sức chứa 54
4.7.5 Giải pháp về thị trường 56
4.7.6 Tổ chức các hoạt động DLST, đào tạo nhân lực 56
4.8 Giám sát các hoạt động đến môi trường tự nhiên và xã hội thuộc chương trình du lịch 57
4.9 Dự kiến hiệu quả phát triển du lịch ở khu du lịch sinh thái Cao Minh 57
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 58
5.1 Kết luận 58
5.2 Kiến nghị 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
PHỤ LỤC 61
Trang 10KDLST : Khu du lịch sinh thái
UBND : Uỷ ban nhân dân
Ha : Hecta
TP.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh
DLST : Du lịch sinh thái
NSSCT : Năng suất sơ cấp thô
NSSCN : Năng suất sơ cấp nguyên
QCVN : Quy chuẩn Việt Nam
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
S : Điểm mạnh (Strength)
W : Điểm yếu (Weakness)
O : Cơ hội (Opportunity)
T : Thách thức (Threat)
Trang 11DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Lượng khách và doanh thu của KDL qua các năm……… ….32
Bảng 4.2 Hiện trạng sử dụng đất tại KDL……… ……… …34
Bảng 4.3 Nguồn gây ảnh hưởng chính tới môi trường đất tại KDL……….….35
Bảng 4.4 Chất lượng nước hồ Cao Minh……….………… 36
Bảng 4.5 Chất lượng nước ngầm KDL……… ………36
Bảng 4.6 Nguồn thải tác động tới môi trường nước tại khu du lịch……… … 37
Bảng 4.7 Kết qủa đo nhiệt độ KDL Cao Minh tháng 6 năm 2011……… ….48
Bảng 4.8 SWOT phân tích chiến lược phát triển DLST khu du lịch Cao Minh…………55
DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 4.1 Nồng độ bụi khu vực xã Vĩnh Tân , huyện Vĩnh Tân, 2010……… 39
Biểu đồ 4.2 Nồng độ CO khu vực xã Vĩnh Tân, huyện Vĩnh Cửu, 2010……… 39
Biểu đồ 4.3 Nét đặc trưng của KDL thu hút du khách……… 49
Biểu đồ 4.4 Cảm nhận của du khách về môi trường không khí tại KDL……… 50
Biểu đồ 4.5 Nhận xét của du khách về nước hồ Cao Minh……… …51
Biểu đồ 4.6 Đánh giá của du khách về mức độ ảnh hưởng đến môi trường của KDL……… 51
Biểu đồ 4.7 Đặc điểm khách du lịch tại KDLST Cao Minh – 2010………52
Biểu đồ 4.8 Thời gian lưu lại của du khách tại KDLST Cao Minh……….…53
Biểu đồ 4.9 Đánh giá của du khách về những mặt tích cực và hạn chế của KDL………54
Trang 12DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 2.1 Hệ sinh thái………6
Hình 2.2 Năng lượng được biến đổi và chuyển vận theo dòng qua chuỗi thức ăn……….10
Hình 2.3 Lưới thức ăn……….12
Hình 2.4 Huyện Vĩnh Cửu……… 21
Hình 2.5 Đường đến khu du lịch sinh thái Cao Minh……….23
Hình 4.1 Hồ Cao Minh……… 27
Hình 4.2 Khu nuôi động vật……….……… 28
Hình 4.3 Cầu treo………28
Hình 4.4 Nhà hàng Tây Nguyên………29
Hình 4.5 Hệ thống nhà nghỉ……… 29
Hình 4.6 Các thành phần hệ sinh thái KDL Cao Minh……… 31
Hình 4.7 Đất ngoài KDL……… ….37
Hình 4.8 Một số loài thực vật tại KDL……….38
Hình 4.9 Quang hợp cây xanh……… 41
Hình 4.10 Năng lượng trong chuỗi thức ăn………….39
Hình 4.11 Chu trình dinh dưỡng thực vật………40
Hình 4.12 Tóm tắt dòng năng lượng của hệ sinh thái Cao Minh trong một ngày……….43
Hình 4.13 Dòng chuyển hóa năng lượng KDL Cao Minh…………44
Trang 13Du lịch sinh thái đang có chiều hướng phát triển và trở thành một bộ phận có tốc
độ tăng trưởng mạnh nhất về tỷ trọng trong ngành du lịch Phát triển du lịch sinh thái là một xu thế tất yếu Du lịch sinh thái phát triển nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày một tăng của khách du lịch, của cộng đồng Nhu cầu này liên quan chặt chẽ đến sự phát triển không ngừng của xã hội, đảm bảo tổng thể một tương lai phát triển lâu dài của hệ sinh thái với tư cách là một ngành kinh tế Bên cạnh xu thế phát triển du lịch sinh thái do nhu cầu khách quan, bởi đó là một loại hình du lịch có trách nhiệm với thiên nhiên, hỗ trợ các mục tiêu bảo tồn môi trường tự nhiên, các giá trị văn hóa bản địa, phát triểm cộng đồng, đồng thời đem lại những lợi ích kinh tế to lớn, góp phần tích cực vào việc phát triển du lịch nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội nói chung
Ở Tỉnh Đồng Nai đã và đang phát triển đa dạng loại hình DLST và các khu DLST
có quy mô lớn đến các điểm DLST có quy mô nhỏ trang trại hoặc nhà vườn
Trước nhu cầu trên tôi quyết định chọn loại hình du lịch sinh thái trong việc thực
hiện đề tài “Nghiên cứu ứng dụng hệ sinh thái nhân tạo trong định hướng phát triển
khu du lịch sinh thái Cao Minh tỉnh Đồng Nai”
Trang 141.2 Mục tiêu
Nghiên cứu ứng dụng hệ sinh thái nhân tạo trong định hướng phát triển khu du lịch sinh thái Cao Minh
Tiềm hiểu hiện trạng về tài nguyên môi trường
Nghiên cứu ứng dụng hệ sinh thái nhân tạo tại Khu Du Lịch Sinh Thái Cao Minh Xác định các giới hạn có thể chấp nhân được
Dựng kế hoạch theo dõi, quan trắc các tác động
Đề xuất các giải pháp giảm thiểu các tác động và các định hướng phát triển du lịch sinh thái đúng hướng phù hợp
Trang 15Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Khái niệm hệ sinh thái
Hệ sinh thái là tổ hợp của một quần xã sinh vật với môi trường vật lý mà quần xã
đó tồn tại, trong đó các sinh vật tương tác với nhau và với môi trường để tạo nên chu trình vật chất (chu trình sinh-địa-hoá) và sự chuyển hóa của năng lượng trong ao, hồ, một khu rừng, một con sông, thậm chí một vùng biển là những hệ sinh thái điển hình
Hệ sinh thái lại trở thành một bộ phận cấu trúc của một hệ sinh thái duy nhất toàn cầu hay còn gọi là sinh quyển (Biosphere)
Hệ sinh thái được nghiên cứu từ lâu và vì vậy, khái niệm này đã ra đời ở cuối thế
kỷ thứ XIX dưới các tên goị khác nhau như “Sinh vật quần lạc” (Dakuchaev, 1846, 1903; Mobius,1877) Sukatsev (1944) mở rộng khái niệm “Sinh vật quần lạc” thành khái niệm
“Sinh vật địa quần lạc hay Sinh địa quần lạc” (Biogeocenose) Thuật ngữ “Hệ sinh thái” (Ecosystem) được A Tansley nêu ra vào năm 1935 và trở thành phổ biến, được sử dụng rộng rãi nhất vì nó không chỉ bao hàm các hệ sinh thái tự nhiên mà cả các hệ sinh thái nhân tạo, kể cả con tàu vũ trụ Đương nhiên, tàu vũ trụ là một hệ thống kín, đang hướng đến trạng thái mở khi con người tạo ra trong đó quá trình tự sản xuất và tiêu thụ nhờ tiếp nhận nguồn năng lượng và vật chất từ bên ngoài Hiện tại, tàu vũ trụ tồn tại được là do con người cung cấp cho nó các điều kiện thiết yếu (vật chất, năng lượng, nước ) để con người và các sinh vật mang theo tồn tại được Do vậy, nó trở thành một hệ đặc biệt, không giống với bất kỳ hệ sinh thái nào trên mặt đất Thuật ngữ hệ sinh thái của A Tansley còn chỉ ra những hệ cực bé (Microecosystem), đến các hệ lớn như một khu rừng, cánh đồng rêu (Tundra), biển, đại dương và hệ cực lớn như sinh quyển
Hệ sinh thái luôn là một hệ động lực hở và tự điều chỉnh, bởi vì trong quá trình tồn tại và phát triển, hệ phải tiếp nhận cả nguồn vật chất và năng lượng từ môi trường Điều
Trang 16này làm cho hệ sinh thái hoàn toàn khác biệt với các hệ thống vật chất khác có trong tự nhiên
Do là một hệ động lực cho nên hoạt động của hệ tuân theo các định luật thứ nhất
và thứ hai của nhiệt động học Định luật I cho rằng: năng lượng không tự sinh ra và cũng không tự mất đi mà chỉ chuyển từ dạng này sang dạng khác, còn định luật thứ II có thể phát biểu dưới nhiều cách, song trong sinh thái học cho rằng: năng lượng chỉ có thể truyền từ dạng đậm đặc sang dạng khuếch tán, ví dụ, nhiệt độ chỉ có thể truyền từ vật nóng sang vật lạnh, chứ không có quá trình ngược lại
Bản thân hệ sinh thái hoàn chỉnh và toàn vẹn như một cơ thể, cho nên tồn tại trong
tự nhiên, hệ cũng có một giới hạn sinh thái xác định Trong giới hạn đó, khi chịu một tác động vừa phải từ bên ngoài, hệ sẽ phản ứng lại một cách thích nghi bằng cách sắp xếp lại các mối quan hệ trong nội bộ và toàn thể hệ thống phù hợp với môi trường thông qua những “mối liên hệ ngược” để duy trì sự ổn định của mình trong điều kiện môi trường biến động Tất cả những biến đổi trong hệ xảy ra như trong một “hộp đen” mà kết quả tổng hợp của nó là “sự trả lời” (hay “đầu ra”) tương ứng với những tác động (hay “đầu vào”) lên hệ thống Trong sinh thái học người ta gọi đó là quá trình “nội cân bằng”
Những tác động quá lớn, vượt ra khỏi sức chịu đựng của hệ, hệ không thể tự điều chỉnh được và cuối cùng bị suy thoái rồi bị hủy diệt
Các hệ sinh thái, do đó, được đặc trưng bởi đặc điểm cấu trúc và sự sắp xếp các chức năng hoạt động của mình một cách xác định Cấu trúc của hệ phụ thuộc vào đặc tính phân bố trong không gian giữa các thành viên sống và không sống, vào đặc tính chung của môi trường vật lý cũng như sự biến đổi của các gradient thuộc các điều kiện sống (như nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, độ cao…) theo chiều thẳng đứng và theo chiều nằm ngang Tổ chức các hoạt động chức năng của hệ được thiết lập phù hợp với các quá trình
mà chúng đảm bảo cho vật chất được quay vòng và năng lượng được biến đổi Do hoạt động của hệ trước hết là của quần xã sinh vật, các nguyên tố hoá học di chuyển không ngừng dưới dạng các chu trình để tạo nên các hợp chất hữu cơ từ các chất khoáng và nước, còn năng lượng từ dạng nguyên khai (quang năng - ánh sáng Mặt Trời) được
Trang 17chuyển thành dạng năng lượng hóa học (hoá năng) chứa trong cơ thể thực, động vật thông qua các quá trình quang hợp (ở thực vật) và đồng hóa (ở động vật) rồi chuyển đổi thành nhiệt thông qua quá trình hô hấp của chúng Chính vì lẽ đó, bất kỳ một hệ thống nào của động, thực vật và vi sinh vật với các điều kiện thiết yếu của môi trường vật lý, dù rất đơn giản, như một phần tử phế liệu (Detritus) chẳng hạn, hoàn thành một chu trình sống hoàn chỉnh thì đều được xem là một hệ sinh thái thực thụ
2.2 Khái niệm hệ sinh thái nhân tạo
Hệ sinh thái nhân tạo tức là những hệ sinh thái do con người tạo ra Chúng cũng rất
đa dạng về kích cỡ , về cấu trúc , lớn như các hồ chứa, đồng ruộng, nương rẫy canh tác, các thành phố, đô thị và nhỏ như những hệ sinh thái thực nghiệm (một bể cá cảnh, một hệ sinh thái trong ống nghiệm ) Nhiều hệ có cấu trúc đa dạng chẳng kém các hệ sinh thái tự nhiên (như thành phố, hồ chứa ) song cũng có những hệ có cấu trúc đơn giản, trong đó, quần xã sinh vật với loài ưu thế được con người lựa chọn cho mục đích sử dụng của mình, chẳng hạn như đồng ruộng, nương rẫy Những hệ như thế thường không ổn định Sự tồn tại và phát triển của chúng hoàn toàn dựa vào sự chăm sóc của con người Nếu không có sự chăm sóc, hệ sẽ suy thoái và nhanh chóng được thay thế bằng một hệ tự nhiên khác ổn định hơn
2.3.1 Cấu trúc và chức năng của hệ sinh thái
Một hệ sinh thái điển hình được cấu trúc bởi các thành phần sau:
- Sinh vật sản xuất (producer)
- Sinh vật tiêu thụ (consunmer)
- Sinh vật phân hủy (decomposer)
- Các chất hữu cơ (protein, lipit, gluxit, vitamin, enzyme, hoocmon…)
- Các chất vô cơ (CO2, O2, H2O, các chất dinh dưỡng khoáng)
- Các yếu tố khí hậu (nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm, giáng thủy…)
Thực chất, 3 thành phần đầu chính là quần xã sinh vật, còn 3 thành phần sau là môi trường vật lý mà quần xã đó sử dụng để tồn tại và phát triển
Trang 18Hình 2.1 Hệ sinh thái (nguồn: diễn đàn sinh thái)
Ở đây, năng lượng thông qua quang hợp ở cây xanh và một số giới hạn nấm và vi khuẩn là những sinh vật tự dưỡng hay sinh vật sản xuất Chúng đã chuyển hóa những thành phần vô cơ như CO2, H2O thành các dạng vật chất hóa học (những phân tử hữu cơ đặc trưng cho vật chất sống) Chính năng lương, bằng quang hợp đã liên kết các phân tử nhỏ thành những phân tử hữu cơ lớn, phức tạp Nhờ hoạt động quang hợp và ở phân vi nhỏ là hóa tổng hợp của sinh vật sản xuất mất nguồn thức ăn được tạo thành để nuôi sống trước hết cho sinh vật sản xuất, sau đó là những sinh vật khác, kể cả con người
Sinh vật tiêu thụ là những sinh vật dị dưỡng như tất cả loài động vật và những vi khuẩn không có khả năng quang hợp và hóa tổng hợp Những sinh vật này tồn tại được và dựa vào nguồn thức ăn ban đầu do các sinh vật tự dưỡng tạo ra Khi nói về năng xuất hệ sinh thaí thì động vật vừa là sinh vật tiêu thụ, vừa là sinh vật sản xuất: động vật ăn cỏ là sinh vật tiêu thụ khi chúng dùng cây xanh làm thức ăn, nhưng chúng lại là động vật sản xuất khi thịt sữa của chúng được người và động vật ăn thịt sử dụng
Sinh vật phân hủy là các sinh vật dị dưỡng, sống hoại sinh gồm vi khuẩn, nấm,… chúng tiếp nhận nguồn năng lượng hóa học được giải phóng ra khi phân hủy và bẻ gãy
Trang 19các đại phân tử hữu cơ để tồn tạ và phát triển đồng thời lại đào thải vào môi trường những hợp chất đơn giản hoặc các nguyên tố hóa học mà lúc đầu được các sinh vật sản xuất sử dụng để tổng hợp các chất hữu cơ như CO2, H2O, N2, NO3
Ngoài cấu trúc theo thành phần, hệ sinh thái còn có cấu trúc theo chức năng Theo E.D.Odum (1983), cấu trúc của hệ gồm các phạm trù sau:
- Quá trình chuyển hóa năng lượng của hệ
- Chuỗi thức ăn trong hệ
- Các chu trình sinh địa hóa diễn ra trong hệ
- Sự phân hóa trong không gian và theo thời gian
- Các quá trình phát triển và tiến hóa của hệ
- Các quá trình tự điều chỉnh
Một hệ sinh thái cân bằng là một hệ trong đó 4 quá trình đầu tiên đạt trạng thái cân bằng động tương đối với nhau (Vũ Trung Tạng, 2000)
2.3.2 Sự chuyển hóa vật chất trong hệ sinh thái
Trong hệ sinh thái luôn xảy ra sự trao đổi vật chất và năng lượng trong nội bộ quần
xã, giữa quần xã và môi trường bên ngoài của nó (sinh cảnh) Trong chu trình trao đổi vật chất, luôn có các nguyên tố hóa học, muối hòa tan, khí CO2 và O2 từ sinh cảnh tham gia tạo thành cơ thể sinh vật (quần xã), đồng thời lại có bộ phận của quần xã lại chuyển hóa thành sinh cảnh thông qua quá trình phân hủy xác sinh vật thành những chất vô cơ
2.3.3 Chuỗi và lưới thức ăn
Các thành phần của quần xã liên kết với nhau bằng quan hệ dinh dưỡng Quan hệ dinh dưỡng của các loài trong quần xã được thực hiện bằng chuỗi và lưới thức ăn
2.3.3.1 Chuỗi thức ăn (foodchain)
Chuỗi thức ăn được coi là một dãy bao gồm nhiều sinh vật, mỗi loài là một “mắt xích” thức ăn, mắt xích thức ăn phía trên tiêu thụ mắt xích ở phía trước và nó lại bị mắt xích thức ăn phía sau tiêu thụ
Có hai loại chuỗi thức ăn:
Chuỗi thức ăn mở đầu bằng câu xanh: chuỗi này bao gồm những thành phần cơ bản sau:
Trang 20Sinh vật sản xuất hay tự dưỡng (autotrophs): bao gồm cây xanh có khả năng tổng hợp và tích tụ năng lượng tiềm tàng dưới dạng hóa năng trong các chất hữu cơ tổng hợp được như gluxit, protein, vitamin…Ở môi trường nước biển có tảo hiển vi (diatone, perinidien) và phụ thuộc vào nó là các tảo lớn ở các dải cát vùng triều và một số thực vật hạt kín ở các vùng rừng ngập mặn hoặc thảm cỏ biển Ở môi trường nước ngọt cũng có tảo hay thực vật hạt kín
Sinh vật tiêu thụ hay dị dưỡng (Heterotrophs): bao gồm nhiều chuỗi thức ăn tùy theo đặc điểm tiêu thụ của chúng Chúng được chia ra:
Sinh vật tiêu thụ bậc 1: bao gồm những động vật ăn thức vật, sử dụng sinh vật sản xuất làm thức ăn Sinh vật tiêu thụ bậc 1 có thể là ký sinh trùng sống ký sinh trên thực vật cây xanh ở môi trường cạn, động vật ăn thực vật gồm hầu hết là sâu bọ như cào cào, chim
ăn thực vật và thú Ở môi trường biển và nước lợ có giáp xác cỡ nhỏ, than mềm sống bằng thực vật nổi.…
Sinh vật tiêu thụ bậc 2: bao gồm động vật ăn thịt, sử dụng sinh thật tiêu thụ bậc 1 làm thức ăn
Sinh vật tiêu thụ bậc 3 và bậc 4: có thể là sinh vật ăn thịt (bắt, giết và ăn móc) cũng
có thể là ký sinh trùng sống ký sinh trên sinh vật tiêu thụ bậc 1 hoặc bậc 2 hoặc động vật
ăn xác chết
Sinh vật phân hủy: là thành phần cuối cùng của chuỗi thức ăn bao gồm chủ yếu những sinh vật (vi khuẩn, nấm hoại sinh) ăn xác chết và phân hủy chúng dần dần từ các chất hữu cơ thành các chất hữu cơ
Chuỗi thức ăn mở đầu bằng sinh vật phân hủy: là thành phần đầu tiên của chuỗi thức ăn, ăn và phân hủy xác chết dần dần từ các chất hữu cơ thành các chất vô cơ
2.3.3.2 Lưới thức ăn (foodweb)
Là phức hợp các chuỗi thức ăn có quan hệ với nhau trong hệ sinh thái Vì mỗi loại trong quần xã không những chỉ liên hệ với một chuỗi thức ăn mà có thể liên hệ với nhiều chuỗi thức ăn Tất cả các chuỗi thức ăn trong quần xã hợp thanh lưới thức ăn
2.3.3.3 Bậc dinh dưỡng (trophic levels)
Trang 21Bậc dinh dưỡng bao gồm những mắt xích thức ăn thuộc một nhóm sắp xếp theo các thành phần của chuỗi thức ăn như: sinh vật sản xuất, sinh vật tiêu thụ bậc 1, bậc 2…
2.3.4 Sự chuyển hóa năng lượng trong hệ sinh thái và năng suất sinh học
2.3.4.1 Năng lượng trong hệ sinh thái
Các hệ sinh thái ở cạn tồn tại và phát triển chủ yếu nhờ nguồn năng lượng vô tận của Mặt Trời Sự biến đổi của năng lượng Mặt Trời thành hóa năng trong quá trình quang hợp là điểm khởi đầu của dòng năng lượng trong các HST Khi NLMT xâm nhập vào HST, nó biển đổi từ dạng nguyên khai sang dạng hóa năng nhờ quá trình quang hợp của sinh vật sản xuất, rồi từ hóa năng sang cơ năng và nhiệt năng trong trao đổi chất trong tế bào của nhóm sinh vật tiêu thụ, phù hợp với các quy luật về nhiệt động học Những biến đổi xảy ra liên tiếp như thế là chìa khóa của chiến lược năng lượng cảu cơ thể sống cũng như của HST (Vũ Trung Tạng 2000)
2.3.4.2 Dòng năng lượng đi qua hệ sinh thái
Có thể nói, thực vật là sinh vật duy nhất có khả năng sử dụng NLMT để làm nên những kỳ tích trên: nguồn thức ăn ban đầu và dưỡng khí O2 Đây là những điều kiện tối cần thiết cho sự phát triển hưng thịnh của mọi sự sống, trong đó có con người Tuy nhiên, khi đi qua HST NLMT phải qua một trong ba quá trình: nói có thể qua HST bởi chuỗi thức ăn, nó có thể tích hủy trong HST dưới dạng năng lượng hóa học, trong nguyên liệu động vật và thực vật Nó có thể đi khỏi HST ở dạng nhiệt hoặc sản phẩm thu hoạch, sản phẩm nguyên liệu
Một vấn đề đặt ra là NLMT sẽ như thế nào khi qua HST Nhiều nghiên cứu đã khẳng định rằng năng lượng sẽ giảm dần từ bậc dinh dưỡng này đến bậc dinh dưỡng kế tiếp Điều đó xảy ra do 2 nguyên nhân: năng lượng mất đi giữa các bậc dinh dưỡng và năng lượng mất đi trong mỗi bậc dinh dưỡng
Thực vật có một số rất ít các cây được gieo trồng trong điều kiện tối ưu có thể chuyển hóa BXMT thành dạng hóa năng đạt 5 – 7 %, còn tuyệt đại bộ phận các HST nói chung và HST nông nghiệp nói riêng chỉ có thể chuyển hóa được 1% NLMT Ước tính cụ thể hiệu quả trung bình của sản xuất thế giới trên quy mô lớn chỉ đạt 0,5% mà trong số
Trang 22này mất 0,25% sử dụng cho quá trình chuyển hóa và tăng trưởng, cộng với sự thoái hóa nhiệt Phần hữu hiệu cho sản xuất chỉ còn 0,025%
Như vậy, khác với vật chất, năng lượng được biến đổi và chuyển vận theo dòng qua chuỗi thức ăn rồi thoát ra khỏi hệ dưới dạng nhiệt Do vậy, năng lượng chỉ được sử dụng một lần trong khi vật chất lại được sử dụng lặp lại
Hình 2.2Năng lượng được biến đổi và chuyển vận theo dòng qua chuỗi thức ăn
2.3.5 Năng suất sinh học của hệ sinh thái
Chu trình vật chất của HST có ba quá trình vận động cơ bản của vật chất: tạo thành, tích tụ và phân hủy Ba quá trình này quan hệ chặt chẽ với nhau và chính đặc tính của mối quan hệ này quyết định khả năng của quần xã trong HST trong việc sản sinh ra chất sống, quyết định chiều hướng phát triển của HST: giàu lên hay nghèo đi về mặt sản phẩm sinh học Do đó, năng suất sinh học của HST là khối lượng chất hữu cơ được sản sinh trong hệ qua chu trình vật chất trong một khoảng thời gian nhất định và diện tích đã cho Năng suất sinh học của HST được chia ra:
Trang 232.3.5.1 Năng lượng sinh học sơ cấp
Là khối lượng chất hữu cơ sinh sản xuất trình bằng kg vật chất khô hoặc gam cacbon tồn trữ, hoặc số năng lượng tương đương theo calo trên một đơn vị diện tích hoặc thể tích theo một đơn vị thời gian nhất định
Năng suất sinh học sơ cấp của các HST nước ngọt tùy thuộc vào mức độ dinh dưỡng của thủy vực và nơi phân bố
2.3.5.2 Năng suất sinh học thứ cấp của HST
Là khối lượng chất hữu cơ sản xuất được và tồn trữ ở sinh vật phân hủy Vì khối lượng các sinh vật phân hủy quá nhỏ bé nên thực tế chỉ tính đến sinh vật tiêu thụ là chủ yếu Để sống và phát triển, cơ thể sinh vật cần năng lượng để đảm bảo 4 loại hoạt động sau:
- Hoạt động trong điều kiện cơ sở (năng lượng tiêu hao trong điều kiện cơ sở)
- Hoạt động sống ở những nơi cơ thể có khả năng vận chuyển (năng lượng tiêu hao trong điều kiện hoạt động)
- Năng lượng cần cho sinh trưởng nhằm sản sinh ra chất sống mới
- Sự tạo ra những yếu tố trong sinh sản (trứng, phôi, hạt) và tạo ra chất dự trữ
2.3.5.3 Các tháp sinh thái
Một đặc tính quan trọng của dòng năng lượng là hầu hết dinh dưỡng chuyển từ bậc dinh dưỡng này đến bậc dinh dưỡng khác trong chuỗi thức ăn và lưới thức ăn bị phát tán vào môi trường Các giá trị tương đối của bậc dinh dưỡng được biểu thị một các hình tượng hóa bằng các tháp sinh thái Có ba loại tháp sinh thái chính: tháp số lượng, tháp sinh khối và tháp năng lượng
Tháp số lượng: chỉ ra số lượng các sinh vật ở mỗi bậc dinh dưỡng trong một hệ sinh thái đã cho tới những số lượng lớn hơn, được minh họa bằng những phần rộng hơn của hình tháp
Ở HST nước, trong hầu hết các tháp số lượng, mỗi bậc dinh dưỡng kế tiếp do một
số sinh vật ít hơn chế ngự Chính vì vậy, ở những đồng cỏ điển hình số lượng ngựa vằn và cào cào (động vật ăn cỏ) lớn hơn số lượng sư tử (động vật ăn thịt) Ở HST nước, thực vật
Trang 24phù du lớn hơn nhiều lần so với cá Cá lớn hơn nhiều lần so với chinh nước Ngược với tháp số lượng là trong đó các bậc dinh dưỡng cao hơn lại có nhiều sinh vật hơn đó là sinh vật phân hủy, ký sinh và các loại sâu đục thân Một cây có thể cung cấp cho hàng trăm con trùng ăn lá
Tháp sinh khối biểu thị sinh khối tổng thể ở mỗi bậc dinh dưỡng kế tiếp hoặc tổng các cơ thể sống Đơn vị đo của nó thay đổi: sinh khối có thể biểu thị những tổng khối lượng, trọng lượng khô hoặc trọng lượng tươi Điển hình những tháp sinh khối biểu thị sự giảm liên tiếp sinh khối trong các bậc dinh dưỡng
Tháp năng lượng minh họa các mối quan hệ năng lượng của một HST bằng việc chỉ ra năng lượng (calo) của sinh khối ở một bậc dinh dưỡng
Hình 2.3 Lưới thức ăn
Trang 252.3.5.4 Sự biến động năng suất sinh học của HST
Năng suất sơ cấp thô : sản phẩm của quá trình quan hợp do thực vật tạo ra được gọi là “Năng suất sơ cấp thô” Ký hiệu là PG Nó bao gồm phần chất hữu cơ được sủ dụng cho quá trình hô hấp của chính thực vật và phần còn lại cho các sinh vật dinh dưỡng
Trong hoạt động sống, thực vật sử dụng một phần đáng kể năng suất sơ cấp thô Mức độ sử dụng phụ thuộc vào dặc tính của quần xã thực vật, vào độ tuổi, và nơi phân bố (trên cạn, dưới nước, theo độ cao và vĩ độ).Các loại thực vật đồng cỏ còn non thường chỉ tiêu hao 30% năng suất sơ cấp thô, còn ở đồng già tới hơn 70% Rừng ôn đới sử dụng và đồng hóa để tạo nên chất hữu cơ động vật đầu tiên của chuỗi thức ăn, hoặc năng suất sơ cấp thô (NSSCR) trừ đi phần năng lượng bị tiêu hao trongh quá trình hô hấp (R) Đó là chất hữu cơ được tích lũy để làm tăng khối lượng sinh vật:
NSSCN = NSSCT – Hô hấp thực vật ( Sinh trưởng thực vật) (Quang hợp tổng số)
2.4 Các nhân tố sinh thái
Nhân tố sinh thái là nhân tố của môi trường có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp lên hệ sinh vật Người ta chia thành 3 nhóm:
2.4.1 Các nhân tố không sống bao gồm các yếu tố tự nhiên
Địa hình: độ cao, độ trũng, độ dốc, hướng phơi địa hình
Khí hậu: nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm, gió…
cùng loài hay khác loài Nhóm nhân tố này trong thế giới hữu cơ rất quan trọng
2.4.3 Nhân tố con người
Trang 26Về thực chất, con người và động vật đều có những tác động tương tự đến môi trường như lấy thức ăn, thải bỏ chất thải vào môi trường Nhưng do sự phát triển cao về trí tuệ nên con người còn tác động vào môi trường bởi các nhân tố xã hội và thể chế Tác động của con người vào tự nhiên là tác động có ý thức và có quy mô rộng lớn Đo đó, ở
nhiều nơi, nhiều lúc, tác động của con người đã làm thay đổi hẳn môi trường và sinh giới
Tuy nhiên, các nhân tố sinh thái không phải có tác động giống nhau đến sinh vật,
mà phụ thuộc vào đặc điểm của từng loài và hoàn cảnh môi trường cụ thể Một số nhân tố
có tác động định hướng hoặc điều khiển sự tồn tại và phát triển của sinh vật, những nhân
tố này được gọi là nhân tố điều khiển Ví dụ: với môi trường trên cạn thì ánh sáng, nhiệt
độ và nhân tố điều khiển với các thủy vực thì ánh sáng, nhiệt độ và nồng độ muối là ba nhân tố điều khiển
2.5 Một số quy luật cơ bản của sinh thái học
2.5.1 Quy luật giới hạn sinh thái
Mỗi loài có một giới hạn đặc trưng về mỗi nhân tố sinh thái nhất định Nhân tố sinh thái giới hạn là nhân tố tác động đến sinh vật đi từ điểm cực tiểu qua điểm cực thuận
và đến điểm cực đại Cường độ của một nhân tố sinh thái mà ở đó cơ thể chịu đựng được gọi là “Biên độ sinh thái” của sinh vật đó Những loài khác nhau có giới hạn sinh thái và điểm cực thuận khác nhau Giới hạn sinh thái và điểm cực thuận còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tuổi của cá thể, trạng thái cơ thể…
2.5.2 Quy luật tác động tổng hợp các nhân tố sinh thái
Tất cả các nhân tố sinh thái đều gắn bó chặt chẽ với nhau thành tổ hợp sinh thái Tác động đồng thời của nhiều nhân tố tạo nên một tác động tổng hợp lên cơ thể sinh vật Đồng thời mỗi nhân tố sinh thái của MT chỉ có thể biểu hiện hoàn toàn tác động của nó đến đời sống sinh vật khi mà các nhân tố sinh thái khác cũng ở điều kiện thích hợp Trong đất có nhiều chất dinh dưỡng, nhưng cây trồng chỉ hút thu được các chất này khi đất có độ
ẩm thích hợp, hoặc khi cây sống ở điều kiện có đầy đủ ánh sáng Mặt trời, nhưng khả năng quang hợp của nó sẽ kém đi khi trong đất thiếu độ ẩm, thiếu các chất dinh dưỡng khoáng
Trang 272.5.3 Quy luật tác động không đồng đều của nhân tố sinh thái lên chức năng sống của cơ thể
Các nhân tố sinh thái có ảnh hưởng khác nhau lên các chức năng của cơ thể sống,
có nhân tố thuận lợi đối với quá trình này, nhưng lại có hại hoặc nguy hiểm đối với quá trình khác Nếu nhiệt không khí tăng lên 40 – 50 độ C làm tăng quá trình trao đổi chất ở động vật máu lạnh, nhưng lại kiềm hãm sự duy chuyển, con vật rơi vào tình trạng đờ đẫn
vì nóng
2.5.4 Quy luật tác động qua lại giữa sinh vật và môi trường
Môi trường tác động thường xuyên lên cơ thể sinh vật làm chúng không ngừng biến đổi, ngược lại sinh vật cũng tác động qua lại làm cải biến MT và có thể làm thay đổi
cả tính chất của một nhân tố sinh thái nào đó, như trồng mới và bảo vệ rừng cải thiện đáng kể những điều kiện sinh thái, làm giảm sâu hại, cải thiện nguồn nước, độ phì nhiêu đất và làm giàu khu hệ động thực vật của vùng
2.6 Cân bằng sinh thái
Mỗi một quần thể sống trong một môi trường xác định đều có xu hướng được điều chỉnh hoặc tự điều chỉnh ở trạng thái số lượng cá thể ổn định, phù hợp nhất với các yếu tố
MT gọi là trạng thái cân bằng
Trong tự nhiên, nhiều khi do tác động nhân sinh mà nguồn thức ăn trở nên rấy phong phú, vược trên mức bình thường, làm cho số cá của quần thể tăng vọt khiến cho sau một thời thời gian nguồn thức ăn bị thiếu hụt, nơi đẻ và nơi ở không đủ làm nhiều cá thể bị chết Quần thể lại điều chỉnh về mức bình thường và người ta gọi là cơ chế điều hòa mật độ Như vậy, cơ thể điều hòa mật độ của quần thể là sự thống nhất mối liên hệ giữa tỷ
lệ sinh sản và tỷ lệ tử vong, nhờ đó mà tốc độ sinh trưởng của quần thể được điều chỉnh Giữa các quần thể trong quần xã thường xuyên diễn ra các mối quan hệ hỗ trợ hoặc đối địch
Tác động các nhân tố sinh thái học do ảnh hưởng của yếu tố môi trường đến một quần thể thường xảy ra theo phương thức:
Trang 28Phương thức điều hòa khắc nghiệt gây ảnh hưởng rõ rệt tới tỷ lệ tử vong của cá thể trong quần thể cũng như hình thức tự tỉa ở thực vật, hình thức ăn lẫn nhau ở động vật, đẻ,
tử vong ở những cá thể khác
Tuy nhiên cân bằng sinh thái không phải là một trạng thái tĩnh của hệ Khi có một nhân tố nào đó của MT bên ngoài tác động tới bất kỳ một thành phần nào của hệ, nó sẽ biến đổi Sự biến đổi của một thành phần trong hệ sẽ tạo theo sự biến đổi của các thành phần kế tiếp, dẫn đến sự biến đổi của cả hệ Sau một thời gian, hệ sẽ thiết lập một cân bằng mới, khác với tình trạng cân bằng trước khi bị tác động Bằng cách đó, hệ biến đổi nhưng vẫn cân bằng Khả năng của hệ tự điều chỉnh để lập lại cân bằng còn gọi là “khả năng tự làm sạch” Về mặt bản chất, đây là sự điều chỉnh dòng năng lượng và vật chất giữa ba loại sinh vật: sinh vật sản xuất, sinh vật tiêu thụ và sinh vật phân hủy Cần nhấn mạnh rằng, khả năng tự thiết lập trạng thái cân bằng mới của hệ là có giới hạn
Nếu một thành phần nào đó của hệ bị tác động quá mạnh, nó sẽ không khôi phục lại được, kéo theo sự suy thoái các thành phần kế tiếp, làm cho toàn hệ mất cân bằng, suy thoái Những HST, đặc biệt là các HST tự nhiên thường phức tạp về phần loài, có nhiều mức tiêu thụ trong chuỗi thức ăn, nên nếu có một sự tắc nghẽn ở một khâu nào đó sẽ dẫn đến mất cân bằng sinh thái thì nó sẽ dễ dàng tự điều chỉnh, giữa cho hệ ổn định không bị
đe dọa
2.7.Giới thiệu chung về DLST
2.7.1 Khái niệm du lịch sinh thái
Du lịch sinh thái (Ecotourism) là một khái niệm rộng, được hiểu khác nhau từ
những góc độ khác nhau Đối với một số người, DLST là sự kết hợp ý nghĩa cử hai từ
ghép là “ du lịch” và “ sinh thái”
Một số người quan niệm DLSTlà du lịch thiên nhiên, đã xuất hiện từ 1800
(Ashton, 1993), mọi hoạt động du lịch có liên quan đến thiên nhiên như leo núi, tắm
biển, đều được hiểu là DLST
Có quan niệm DLST là loại hình du lịch có lợi cho sinh thái, ít có những tác động tiêu cực đến sự tồn tại và phát triển của các hệ sinh thái Có ý kiến cho rằng DLST đồng
Trang 29nghĩa với du lịch đạo lý, du lịch có trách nhiệm, du lịch xanh có lợi cho môi trường hay
Các quan niệm trên cùng cho rằng DLST là hoạt động du lịch với những hoạt động
có sự nhận thức mạnh mẽ về thiên nhiên và ý thức trách nhiệm đối với xã hội
Càng ngày thuật ngữ “ Responsible travel” (Du lịch có trách nhiệm) được nhấn
mạnh khi nói đến khái niệm DLST hay nói một cách khác DLST là hình thức du lịch có trách nhiệm, là không làm ảnh hưởng đến các khu bảo tồn thiên nhiên, không ảnh hưởng đến môi trường góp phần duy trì, phát triển cuộc sống của cộng đồng người dân địa phương
DLST Hector Ceballos – lascurain đưa ra năm 1987 : “Du lịch sinh thái là du lịch
đến những khu vực tự nhiên còn ít bị thay đổi, với những mục đích đặc biệt nghiên cứu, tham quan với ý thức trân trọng thế giới hoang dã và những giá trị văn hóa được khám phá”
Hiệp hội Du Lịch sinh thái quốc tế (WTO): “Du lịch sinh thái là việc đi lại có
trách nhiệm tới các khu vực thiên nhiên mà bảo đảm được môi trường và cải thiên phúc lợi cho người dân địa phương”
Theo Phạm Trung Lương (2002), du lịch sinh thái còn được hiểu tên gọi khác nhau như:
Du lịch thiên nhiên (Nature tourism)
Du lịch dự vào thiên nhiên (Nature – Based Tourism)
Du lịch môi trường (Environmental Tourism)
Du lịch đặc thù (Particular Tourism)
Du lịch xanh (Green Tourism)
Trang 30Du lịch thám hiểm (Adventure Tourism)
Du lịch bản xứ (Indigenous Tourism)
Du lịch có trách nhiệm (Responsible Tourism)
Du lịch nhạy cảm (Sensitized Tourism)
Du lịch nhà tranh (Cottage Tourism)
Du lịch bền vững (Sustainable Tourism)
Định nghĩa chính xác và hoàn chỉnh nhất là định nghĩa của Honey (1999):
“DLST là du lịch tới những khu vực nhạy cảm và nguyên sinh thường được bảo vệ với mục đích nhằm gây ra tác hại và quy mô nhỏ nhất Nó giúp giáo dục du khách, tạo quỹ để bảo vệ môi trường, nó trực tiếp đem lại nguồn lợi kinh tế và sự tự quản lý cho người dân địa phương và nó khuyến khích tôn trọng các giá trị văn hóa và quyền con người”
Ở Việt Nam, DLST là lĩnh vực mới được nghiên cứu từ giữa thập kỷ 90 của thế kỷ
XX, cũng còn nhiều điểm chưa thống nhất
Tổng cục Du Lịch Việt Nam, đã đưa ra định nghĩa DLST ở Việt Nam:
“Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”
2.7.2 Các yêu cầu cần thiết lựa chon một khu vực để phát triển DLST
Một khu vực được ưu tiên lựa chọn để phát triển du lịch sinh thái cần có một số yêu cầu theo Phạm Trung Lương, 2002 như sau:
Có cảnh quan thiên nhiên đẹp, hấp dẫn, cùng với sự phong phú độc đáo của các giá trị văn hóa bản địa, có tính đại diện cho một vùng
Có tính đại diện cao cho một hoặc vài hệ sinh thái điển hình, với tính đa dạng sinh học cao, có sự tồn tại của những loài sinh vật đặc hữu có giá trị khoa học, có thể dùng làm nơi tham quan nghiên cứu
Gần với những khu du lịch khác trong vùng, để có thể tổ chức một tour du lịch trọn gói, trong đó khu được quy hoạch là một điểm du lịch sinh thái nổi bật và quan trọng
Trang 31Có những điều kiện áp dụng được các yếu cầu của hoạt động du lịch sinh thái về
cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật… Và có thể tiếp cận một cách dễ dàng thuận lợi
2.7.3 Nguyên tắc cơ bản để phát triển DLST
Theo Phạm Trung Lương, 2002, các nguyên tắc cơ bản phát triển du lịch sinh thái như sau:
Du lịch sinh thái phải phù hợp với nguyên tắc tích cực về môi trường, tăng cường
và khuyến khích trách nhiệm đạo đức đối với môi trường tự nhiên
Du lịch sinh thái là không làm tổn hại đến tài nguyên, môi trường, những nguyên tắc về môi trường không những chỉ áp dụng cho những nguồn tài nguyên bên ngoài (tự nhiên và văn hóa) nhằm thu hút khách mà còn bên trong của nó
Du lịch thái phải tập trung vào giá trị bên trong hơn là giá trị bên ngoài và thức đẩy
sự công nhận các giá trị này
Các nguyên tắc về môi trường và sinh thái cần phải đặt lên hàng đầu, do đó mỗi người khách du lịch sinh thái phải chấp nhận tự nhiên theo đúng nghĩa của nó, chấp nhận
sự hạn chế của nó hơn là làm biến đổi môi trường cho sự thuận tiện cá nhân
Du lịch sinh thái phải đảm bảo lợi ích lâu dài đối với tài nguyên, đối với địa phương và đối với ngành (lợi ích về bảo tồn hoặc lợi ích về mặt kinh tế, văn hóa, xã hội hay khoa học)
Du lịch sinh thái phải đưa ra những kinh nghiệm đầu tay khi tiếp xúc với môi trường tự nhiên, đó là những kinh nghiệm được hòa đồng, làm tăng sự hiểu biết hơn là đi tìm cái lạ cảm giác mạnh hay mục đích tăng cường thể trạng cơ thể
Ở đây nhưng kinh nghiệm có tác động lớn và có nhận thức cao nên đòi hỏi chuận
bị kỹ càng của cà người hướng dẫn và các thành viên tham gia
Cần có sự đào tạo đối với tất cả các ban ngành chức năng: địa phương, chính quyền, tổ chức đoàn thể, hãng lữ hành và các khách du lịch (rước, trong và chuyến đi)
Thành công đó phải dựa vào dự tham gia của địa phương, tăng cường sự hiểu biết
và phối hợp với các ban ngành chức năng
Trang 32Các nguyên tắc về đạo đức, cách ứng xử và nguyên tắc thực hiện là rất quan trọng
Nó đòi hỏi cơ quan giám sát của ngành phải đưa ra các nguyên tắc và các tiêu chuẩn được chấp nhận và giám sát toàn bộ hoạt động
Là một hoạt động mang tính chất quốc tế, cần phải thiết lập một khuôn khổ quốc tế cho ngành
2.7.4 Tình hình DLST trên thế giới
Theo Phạm Trung Lương, 2002:
Du lịch thiên nhiên ở các nước phát triển là một ngành kinh doanh sinh lợi, nhiều triển vọng
Chỉ tính riêng hệ thống vườn quốc gia của Mỹ hằng năm đón khoảng 270 triệu lược khách, ở Canada khoảng 30 triệu khách với doanh thu hàng chục tỷ USD
Đối với nhiều nước đang phát triển, DLST đóng vai trò quan trọng trong việc thu ngoại tệ Ở Costa Rica hang năm, DLST đem lại khoảng 500 triệu USD, đứng thứ hai sau xuất khẩu chuối
Theo đánh giá Tổ chức du lịch thế giới, số lượng Khách du lịch quốc tế năm 1989 đến các vung thiên nhiên chiếm khoảng 7% tổng số khách đến phạm vi toàn cầu
Ở vùng Đông Nam Á, kinh tế du lịch thu hút được khoảng 17 triệu lao động trong vùng (chiếm khoảng 7.9% tổng lao động trong ngành du lịch thế giới) và chiếm 9,9% trong tổng lao động trong ngành nghề Du lịch tao ra 10% tổng sản phẩm xã hội và 9% GDP trong vùng
2.7.5 Tính tất yếu về du lịch sinh thái tại Việt Nam
Phát triển du lịch sinh thái là một xu thế tất yếu Du lịch sinh thái phát triển nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày một tăng của khách du lịch, của cộng đồng Nhu cầu này liên quan chặt chẽ đến sự phát triển không ngừng của xã hội, đảm bảo tổng thể một tương lai phát triển lâu dài của hệ sinh thái, với tư cách một ngành kinh tế
Bên cạnh xu thế phát triển du lịch sinh thái do nhu cầu khách quan, xu thế này còn không nằm ngoài xu thế chung và phát triển xã hội của loài người khi các giá trị tài nguyên ngày càng bị suy thoái, khai thác cạn kiệt Việt Nam là một nước nằm trong vùng
Trang 33khí hậu nhiệt đới gió mùa, nằm hoàn toàn trong vòng đai nhiệt đới nửa cầu bắc, thiên về
chí tuyến hơn là xích đạo Vị trí đó tạo nên một nền nhiệt độ cao, độ ẩm không khí cao,
mưa nhiều Việt Nam có đường bờ biển dài hơn 3000km, lưng dựa vào dãy Trường Sơn
Chính các điều kiện đó đã mang lại cho Việt Nam một hệ động thực vật vô cùng phong
phú, đa dạng và độc đáo Kết hợp nhiều yếu tố đã tạo nên cho Việt Nam một lợi thế to lớn
trong phát triển du lịch sinh thái Cùng với nỗ lực bảo tồn, khai thác phát huy các giá trị
tài nguyên thiên nhiên và văn hóa phục vụ phát triển kinh tế thông qua du lịch sinh thái là
một xu thế tất yếu Với tư cách là một ngành kinh tế mũi nhọn, du lịch trong đó có du lịch
sinh thái ngày càng khẳng định vị thế của mình đối với sự phát triển kinh tế xã hội đất
nước
2.8 Giới thiệu huyện Vĩnh Cửu, tĩnh Đồng Nai
2.8.1 Đặc điểm tự nhiên
Vị trí: Nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Đồng Nai,
phía Bắc giáp huyện Đồng Phú và Bù Đăng tỉnh Bình
Phước, phía Nam giáp TP.Biên Hòa và huyện Thống
Nhất, phía Đông giáp huyện Định Quán và Thống
Nhất, phía Tây giáp huyện Tân Uyên tỉnh Bình
Dương
Tổng diện tích tự nhiên: 1.091,99 km2
,chiếm
18,52% diện tích tự nhiên toàn tỉnh Hình 2.4 Huyện Vĩnh Cửu
(nguồn huyện Vĩnh Cửu)
Dân số năm 2007: 110.855 người, mật độ dân số 0,101người/km2
Huyện có 12 đơn vị hành chính gồm:Thị trấn Vĩnh An và các xã Trị An, Thiện
Tân, Bình Hòa, Tân Bình, Tân An, Bình Lợi, Thạnh Phú, Vĩnh Tân, Phú Lý, Mã Đà, Hiếu
Liêm
2.8.2 Xã hội
Từ khi thành lập, huyện Vĩnh Cửu đã nhanh chóng đẩy mạnh tốc độ xây dựng phát
triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật Bộ mặt nông thôn và đô thị đã từng bước được cải tạo và
Trang 34chỉnh trang Rất nhiều dự án phúc lợi công trình công cộng quy mô lớn đã được thực hiên: cầu, đường, trường học, trạm xá… góp phần đáp ứng nhu cầu chăm sóc y tế, học tập, sinh hoạt… của nhân dân, từng bước được thức đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định trật
tự xã hội
Đến nay bộ mặt huyện Vĩnh Cửu đã có những thay đổi khá rõ rệt Nhiều con đường nhiều khu phố khang trang trên khắp địa bàn Đặt biệt, ở Xã nào cũng có trường học cho con em từ mầm non đến cấp 3, Xã nào cũng có trạm y tế và mỗi trạm y tế đều có bác sĩ Hệ thống các công trình phúc lợi xã hội của huyện bao gồm: Trung tâm dạy nghề, Trung tâm Thể dục Thể thao, Trung tâm Y tế dự phòng, Bệnh viên huyện Vĩnh Cửu, Trung tâm văn hóa
2.8.3 Kinh tế
Là một huyện có lịch sử, lại nằm vị trí phía Tây tỉnh Đồng Nai, huyện Vĩnh Cửu là một đại bàn có tốc độ tăng trưởng kinh tế và đô thi hóa khá Tốc độ tăng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội bình quân 19,1%/năm
Tỷ lệ thất nghiệp năm 2010 giảm xuống còn 10,6% Cơ cấu lao động năm 2010 là: khu vực công nghiệp - xây dựng 20,1%, khu vực dịch vụ 30,9%, khu vực nông nghiệp 40%
2.8.4 Khí hậu, thời tiết
Huyện Vĩnh cũng như các tỉ
), có hai mùa tương phản nhau (mùa khô và mùa mưa)
Nhiệt độ cao quanh năm là điều kiện thích hợp cho phát triển cây trồng nhiệt đới, đặc biệt là các cây công nghiệp có giá trị xuất khẩu cao
Nhiệt độ bình quân sơ bộ năm 2010 là: 25,90C
Số giờ nắng trung bình trong sơ bộ năm 2010 là: 2.454 giờ
Lượng mưa tương đối lớn và phân
Trang 35
Độ ẩm trung bình sơ bộ năm 2010 là 82%
2.9 Tổng quan về khu du lịch sinh thái Cao Minh
2.9.1 Vị trí địa lý
Khu du lịch sinh thái Cao Minh cách TP.HCM hơn 75km (thuộc xã Vĩnh Tân, huyện Vĩnh Cửu, Đồng Nai), khu du lịch được bố trí khá đẹp với nhiều đồi núi, ao hồ 20,4ha chỉ với 32 căn nhà nhỏ nằm rải rác trong những cánh rừng Ngoài ra còn có khu nhà sàn với khoảng 6-7 căn dựng chơ vơ cách mặt đất hơn 1m, bằng gỗ “thập cẩm”, bàn ghế đóng bằng xàn nhà cũ, giường ngủ là cái ghế matxa cũ hoặc nằm chiếu Những mái
lá đơn sơ ẩn mình trong tán lá um tùm Có khói đốt đồng, có con sông, chiếc xuồng nhỏ hiền hòa, có chiếc võng đung đưa giữa trưa hè
Hình 2.5 Đường đến khu du lịch sinh thái Cao Minh
(Nguồn: KDLST Cao Minh)
Từ trung tâm TP.Hồ Chí Minh, chạy theo xa lộ Hà Nội đến ngã tư Vũng Tàu Từ ngã tư Vũng Tàu đi theo quốc lộ 1 đến ngã ba Trị An (16,5km), rẽ trái theo đường ĐT
767 (11,5km) gặp bảng hướng dẫn vào khu du lịch sinh thái Cao Minh, rẽ phải 800 m con đường đất đỏ sẽ đến khu du lịch sinh thái Cao Minh
Trang 362.9.2 Lịch sử hình thành
Được xây dựng từ hơn 10 năm trước (khởi công 2001) , khởi đầu chỉ với ý định làm một trang trại để gia đình nghỉ ngơi cuối tuần, dần dần với lòng đam mê du lịch, ca sĩ Cao Minh đã - đang - và sẽ tiếp tục hoàn thiện hơn nữa Vườn sinh thái hiện có để phục
vụ ngày càng tốt hơn tất cả các du khách
Khu du lịch sinh thái Cao Minh thuộc loại hình du lịch dã ngoại, tham quan, giải trí, nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng (dựa vào phân loại các loại hình du lịch sinh thái ở Việt Nam) Loại hình du lịch này phục vụ khách du lịch tìm về với thiên nhiên có không khí trong lành
Trang 37Chương 3
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Nội dung
Khảo sát, đánh giá hiện trạng tài nguyên tại khu du lịch sinh thái Cao Minh
Khảo sát, đánh giá các hoạt động du lịch sinh thái tại khu du lịch sinh thái Cao Minh
Nghiên cứu ứng dụng hệ sinh thái nhân tạo tại khu du lịch sinh thái Cao Minh Khảo sát, đánh giá hiên trạng các phân khu chức năng ở khu du lịch sinh thái Cao Minh
Đề xuất việc quy hoạch phát triển du lịch sinh thái theo hướng bền vững
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Được thực hiện nhằm nắm bắt các giá trị tài nguyên của KDL đồng thời xác định các cơ sở hạ tầng hiện có của KDL Quá trình khảo sát thông qua ba giai đoạn: tìm hiểu thông tin, xác định địa điểm khảo sát và tiến hành khảo sát Các phương pháp được áp dụng để thực hiện nội dung này bao gồm:
3.2.1 Phương pháp khảo sát, thu thập dữ liệu
Tham quan, khảo sát hiện trạng môi trường các KDL
Thu thập các dữ liệu về môi trường tại KDL
3.2.2 Phương pháp so sánh, phân tích, xử lý dữ liệu
Từ các số liệu thu thập được, tính toán, so sánh với các TCVN về môi trường để nhận định, đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường
3.2.3 Phương pháp điều tra, phỏng vấn
Điều tra bằng phương pháp phát phiếu phỏng vấn cho du khách tham quan và
Trang 38Tống số phiếu điều tra du khách là 130 phiếu, số phiếu hợp lệ dùng để phân tích kết quả là 100 phiếu
Phỏng vấn trực tiếp nhà quản lý, nhân viên KDL về các dịch vụ
3.2.4 Phương pháp phân tích SWOT
(S: Strenghts, W: Weakness, O: Opportunities, T: Threats)
Phân tích những ưu khuyết điểm bên trong và những đe dọa, thuận lợi bên ngoài Phương pháp ma trận SWOT (Wikipedia, 2010) được sử dụng trong đề tài để phân tích khả năng phát triển DLST Ma trận được xây dựng với 4 nhóm yếu tố đặc trưng: các điểm mạnh (Strengths), các điểm yếu (Weaknesses), các cơ hội (opportunities), và các thách thức (Threat)
Dựa trên bốn nhóm yếu tố trên, trong quá trình phân tích tôi kết hợp các nhóm yếu
tố với nhau nhằm tìm kiếm phương hướng phát triển phù hợp trong thời gian tới cho KDL
3.2.5 Phương pháp phỏng vấn chuyên gia
Phương pháp phỏng vấn chuyên gia được sử dụng nhằm mục đích chỉnh lí quá trình diễn giải, đánh giá kết quả và đưa ra đề xuất trong đề tài Đối tượng và nội dung phỏng vấn bao gồm:
Các nhân viên đang công tác tại KDL: chỉnh lí về độ chính xác của thông tin đồng thời cung cấp thêm các thông tin xảy ra trong lịch sử hình thành và hoạt động của KDL
Các giảng viên tại ĐH Nông Lâm Tp.HCM: là những chuyên gia có kinh nghiệm lâu năm trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học nên đánh giá về mức độ khoa học của đề tài của các giảng viên ĐH Nông Lâm Tp.HCM là vô cùng cần thiết để đề tài có tính khách quan, có giá trị thực tiễn cao
Các chuyên gia đang hoạt động trong lĩnh vực DLST và bảo tồn tài nguyên: cung cấp kinh nghiệm của những người đã thực hiện và tham gia vào hoạt động bảo tồn cũng như DLST, nguồn tri thức quí báu cho quá trình thực hiện đề tài
Trang 39Chương 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Hiện trạng cơ sở vật chất – hạ tầng và các hoạt động du lịch
4.1.1 Hồ Cao Minh
Hồ Cao Minh lúc đầu chỉ là một hồ nước
nhỏ và ca sĩ Cao Minh mở rộng như hiện nay Hồ
có diện tích 4,2ha
Dịch vụ vui chơi, giải trí:
- Chèo thuyền trên hồ
Với nhiều loại thuyền được đưa vào phục
vụ du khách: thuyền ba lá, thuyền thúng, thuyền
kayak, thuyền đụng nhưng do hư hỏng và Hình 4.1 Hồ Cao Minh
không thu hút được nhiều du khách nên hiện nay chỉ còn lại hai loại thuyền
+ Thuyền ba lá
+ Thuyền kayak
Số lượng thuyền còn lại chỉ khoảng 12 chiếc
Nhằm đảm bảo an toàn, KDL đã trang bị áo phao đầy đủ cho du khách tham gia trò chơi
- Ngắm cảnh hồ
KDL đã tận dụng vẻ đẹp hình dạng cũng như cảnh quan khu vực hồ, xây dựng hệ thống các chòi tranh, nhà sàn là điểm dừng chân cho du khách Các phòng nghỉ đều hướng ra hồ với tổng cộng 32 phòng nghỉ được làm chất liệu đơn giản để tạo cho du khách cảm giác thích thú
Trang 404.1.2 Sân khấu Thăng Long và khu cắm trại
Khu vực có diện tích 360m2 có sân khấu lớn, không gian thoáng mát rất thích
hợp cho việc tổ chức các chương trình ca nhạc, sự kiện, liên hoan tổng kết vào các dịp
cuối năm
Đây là khu vực chuyên biệt dành cho du khách cắm trại
4.1.3 Khu nuôi động vật
Khu vực có điện tích 100m2 với 5 chuồng nuôi
động hoan dã (Khỉ, Đại Bàng, Vượn, Ngựa, Bò)
Cách đây 2 năm số lượng Khỉ chỉ có 2 con
nhưng hiện tại bây giờ số lượng Khỉ sinh sản được 6
con
Hình 4.2 Khu nuôi động vật 4.1.4 Khu văn phòng
Văn phòng được xây dựng với diện tích 90m2 , chất liệu bằng gỗ, mái làm tôn giả
ngói, kiểu dáng nhà sàn 2 tầng, bố trí như sau: Tầng trên 2 phòng như nhau, diện tích
40m2/phòng, bố trí phòng làm việc cho Giám Đốc và một phòng cho các bộ phận nghiệp
vụ, khu vệ sinh 12m2 được bố trí cho nam và nữ, tầng dưới 2 phòng, bố trí 1 phòng tiếp
khách diện tích 24m2, một phòng cho đội vệ sinh KDL
4.1.5.Cầu treo
Cầu được xây dựng bằng gỗ dài 50m, rộng 2m
nối liền sân khấu với nhà hàng Vũ Hoàng, từ đây có
thể nhì hết khu cắm trại
…