Vì vậy, người nghiên cứu thực hiện đề tài “Tìm hiểu nhu cầu tư vấn tâm lí học đường của học sinh trường THPT Thủ Đức, quận Thủ Đức Tp.. Việc yêu cầu cao ở một xã hội hiện đại làm gia tăn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
KHOA NGOẠI NGỮ - SƯ PHẠM
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
TÌM HIỂU NHU CẦU TƯ VẤN TÂM LÍ HỌC ĐƯỜNG CỦA HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THỦ ĐỨC, QUẬN THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngành sư phạm kỹ thuật nông nghiệp Niên khóa: 2007 - 2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TÌM HIỂU NHU CẦU TƯ VẤN TÂM LÍ HỌC
ĐƯỜNG CỦA HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THỦ ĐỨC, QUẬN THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH
Tác giả Trần Thị Ngân
Luận văn được đề trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng cử nhân ngành
SƯ PHẠM KỸ THUẬT NÔNG NGHIỆP
Giáo viên h ướng dẫn
GV Hà Thị Ngọc Thương
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN – PHẢN BIỆN
I Nhận xét của giáo viên hướng dẫn
1 Nội dung
………
………
………
2 Phương pháp nghiên cứu ………
………
………
3 Kết luận đề tài ………
………
………
II Nhận xét của giáo viên phản biện 1 Nội dung ………
………
………
2 Phương pháp nghiên cứu ………
………
………
3 Kết luận đề tài ………
………
………
………
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Qua nhiều năm học tập gian khổ, có được kết quả như ngày hôm nay Con xin ngàn lời cảm ơn cha mẹ đã sinh ra con, đã hy sinh và nuôi dạy con nên người, ơn nghĩa sinh thành của cha mẹ con không bao giờ quên Em cũng xin cám ơn các chị đã hy sinh tất cả cho em để em có được mọi điều kiện tốt trong thời gian em theo học tại trường
Em cũng xin chân thành cảm ơn:
Toàn thể qúy thầy cô, ban giám hiệu các trường tiểu học mương mán, trung học cơ sở mương mán, phổ thông trung học Bán Công Phan Chu Trinh,
đã tận tình dạy bảo em trong những ngày đầu của thời học sinh
Ban giám hiệu trường Đại Học Nông Lâm đã dạy bảo em trong suốt 4 năm theo học tại trường
Toàn thể qu ý thầy, cô trong Bộ Môn Sư Phạm Kỹ Thuật Nông Nghiệp, trường Đại Học Nông Lâm đã tận tình giúp đỡ và dạy dỗ em trong suốt quá trình là sinh viên trong khoa
Giảng viên Hà Thị Ngọc Thương, bộ Môn Sư Phạm Kỹ Thuật Nông Nghiệp đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành đề tài này
Ban giám hiệu, qúy thầy cô cùng toàn thể các bạn học sinh trường THPT Thủ Đức đã tạo điều kiện giúp em hoàn thành đề tài này
Mình cũng xin cám ơn các bạn sinh viên lớp DH07SP đã luôn bên mình, động viên an ủi những khi mình cần, để mình có thể hoàn thành công việc học tập tại trường trong thời gian xa nhà vừa qua
Chúc mọi người sức khỏe để hoàn thành công việc của mình, thành công trong cuộc sống!
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
THPT Trung học phổ thông THCS Trung học cơ sở GVHD Giáo viên hướng dẫn
UNICEF
Qũy cứu trợ nhi đồng quốc tế của Liên Hiệp Quốc
Trang 6TÓM TẮT
Trong xã hội công nghiệp, con người trở nên bận rộn hơn, năng động hơn, cuộc sống vật chất đầy đủ hơn nhưng con người lại phải đối mặt với những hiện tượng tâm lí - xã hội Việc yêu cầu cao ở một xã hội hiện đại làm gia tăng áp lực của gia đình, xã hội lên hoạt động học tập, nghề nghiệp, những chứng bệnh của nền công nghiệp hóa như trầm cảm, stress, rối loạn cảm xúc, hành vi, các thắc mắc về giới tính vướng mắc trong quan hệ bạn
bè, cha mẹ, thầy cô,… làm các em rơi vào tâm trạng dồn nén, lúng túng, lo
âu Do đó nhu cầu được tư vấn tâm lí là hết sức cần thiết Vì vậy, người nghiên cứu thực hiện đề tài “Tìm hiểu nhu cầu tư vấn tâm lí học đường của học sinh trường THPT Thủ Đức, quận Thủ Đức Tp HCM”
Thời gian nghiên cứu: 9/2010 đến tháng 5/2011
Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình thực hiện đề tài người nghiên cứu sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học sau: phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp phỏng vấn, điều tra khảo sát (khảo sát 350 học sinh), phương pháp thống kê, xử lí số liệu
Kết quả thu được
Phần lớn học sinh trường THPT Thủ Đức gặp khó khăn trong cuộc sống hằng ngày với các mức độ khác nhau Và vì thường gặp những khó khăn trong cuộc sống nên đa phần các em có tâm trạng không thoải mái
Đa số học sinh trường THPT Thủ Đức gặp khó khăn trong cuộc sống hằng ngày, nhất là trong các lĩnh vực như học tập, lí tưởng nghề nghiệp tương lai, sức khỏe, giới tính và xây dựng quan hệ với những người xung quanh (cha
mẹ, anh chị em trong gia đình, thầy cô và bạn bè) Việc gặp những khó khăn trên làm cho tâm trạng của các em thường xuyên lo lắng và nó gián tiếp ảnh hưởng đến cuộc sống thường ngày của các em
Việc giải quyết được những khó khăn các em gặp phải là rất cần thiết vì những khó khăn sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của các em Vậy cách giải quyết với những khó khăn của học sinh trường THPT Thủ Đức là gì? Và các em có hài lòng với cách giải quyết đó không
Trang 7Từ kết quả khảo sát cho thấy cách giải quyết khó khăn mà học sinh trường THPT Thủ Đức lựa chọn nhiều nhất là tìm đến sự giúp đỡ của những người xung quanh và người mà các tìm đến lúc gặp khó khăn đó là bạn bè Mặc dù cách thức giải quyết trên được các em lựa chọn nhiều nhất nhưng đa số các em vẫn có tâm trạng hồi hộp và lo lắng sau khi giải quyết những khó khăn đó Sở
dĩ học sinh trường THPT Thủ Đức vẫn có tâm trạng hồi hộp và lo lắng sau khi giải quyết khó khăn là vì các em thấy được hiệu quả của các cách thức giải quyết trên không cao, cho nên những khó khăn của các em vẫn chưa được giải quyết dứt điểm
Từ đây thấy nhu cầu chia sẽ của học sinh trường THPT Thủ Đức là rất lớn nhưng lại chưa có nơi thật sự tin tưởng để các em tới
Học sinh THPT Thủ Đức ít hiểu biết về các dịch vụ tư vấn tâm lí trong
xã hội nên tỉ lệ các em tham gia tư vấn tâm lí là rất ít
Thực tiễn công tác tư vấn - hướng nghiệp cho học sinh tại trường THPT Thủ Đức còn yếu
Thực tế học sinh trường THPT Thủ Đức có nhu cầu được tư vấn tâm lí
và hình thức tổ chức tư vấn mà các em mong muốn là tư vấn trực tiếp tại trường, sau đó là tư vấn qua điện thoại, internet, đài phát thanh và cuối cùng
là thư
Do đó, trường THPT Thủ Đức cần phát triển mạng lưới phòng tư vấn để thỏa mãn nhu cầu cần được tư vấn của học sinh
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC v
DANH SÁCH CÁC BẢNG ix
DANH SÁCH CÁC BIỀU ĐỒ x
Chương I: GIỚI THIỆU 1
1.1 Lí do chọn đề tài 1
1.2 Giới thiệu về nghiên cứu 2
1.2.1 Mục đích nghiên cứu 2
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.2.3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
1.2.4 Giả thuyết nghiên cứu 2
1.2.5 Đối tượng nghiên cứu 3
1.2.6 Phương pháp nghiên cứu 3
1.2.7 Phạm vi nghiên cứu 3
1.3 Tiến trình nghiên cứu 3
1.4 Cấu trúc luận văn……… 4
Chương 2: CƠ SỞ LÍ LUẬN 5
2.1 Lược khảo những nghiên cứu trước đây 5
2.2 Một số khái niệm, thuật ngữ 8
2.2.1 Nhu cầu là gì? 8
2.2.2 Tâm lí là gì? 9
2.2.3 Tư vấn và tham vấn 10
2.2.4 Tư vấn tâm lí là gì? 12
2.2.5 Tư vấn tâm lí học đường là gì? 13
2.3 Những vấn đề về nhu cầu 13
2.3.1 Đặc điểm nhu cầu 13
2.3.2 Phân loại nhu cầu 13
2.4 Những vấn đề về tư vấn tâm lí học đường 15
Trang 92.4.1 Sơ lược lịch sử ngành tư vấn tâm lí 15
2.4.2 Các hình thức tư vấn tâm lí 15
2.4.3 Nguyên tắc thực hiện tư vấn tâm lí 16
2.4.4 Một số khía cạnh đạo đức nghề nghiệp của nhà tư vấn tâm lí 18
2.4.5 Vai trò của tư vấn tâm lí học đường 19
2.5 Tâm lí học sinh THPT 20
2.5.1 Khái niệm tuổi thanh niên 20
2.5.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lí 21
2.5.2.1 Đặc điểm về thể chất 21
2.5.2.2 Giới tính – sức khỏe sinh sản 22
2.5.3 Hoạt động học tập và lựa chọn nghề nghiệp của học sinh THPT 22
2.5.3.1 Hoạt động học tập 22
2.5.3.2 Hoạt động lựa chọn nghề nghiệp 23
2.5.4 Đặc điểm nhân cách ở lứa tuổi THPT 24
2.5.4.1 Sự phát triển của tự ý thức, tự đánh giá 24
2.5.4.2 Sự hình thành thế giới quan 26
2.5.4.3 Hoạt động giao tiếp 27
2.6 Một số khó khăn về mặt tâm lí ở học sinh THPT 30
2.6.1 Một số khó khăn trong học tập 30
2.6.2 Một số khó khăn trong quan hệ với cha mẹ 31
2.6.3 Một số khó khăn trong quan hệ với thầy cô giáo 31
2.6.4 Một số khó khăn nảy sinh trong quan hệ với bạn bè 32
2.7 Nhu cầu tư vấn tâm lí của học sinh THPT 33
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
3.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 34
3.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu câu hỏi 34
3.3 Phương pháp phỏng vấn 35
3.4 Phương pháp phân tích định tính 36
3.5 Phương pháp phân tích định lượng 36
3.6 Phương pháp so sánh 36
Trang 104.1 Sơ lược về trường THPT Thủ Đức 374.2 Tâm lí của học sinh trường THPT Thủ Đức 384.2.1 Thực trạng những khó khăn mà học sinh trường THPT Thủ Đức gặp phải 38 4.2.2 Tâm lí hiện tại của học sinh trường THPT Thủ Đức 39
4.2.3 Những vấn đề học sinh trường THPT Thủ Đức đang khó khăn và cần tư vấn hiện nay 41 4.2.4 Ảnh hưởng của những khó khăn tâm lí đến cuộc sống của học sinh trường THPT Thủ Đức 44 4.2.5 Cách thức giải quyết với những khó khăn tâm lí của học sinh trường THPT Thủ Đức 46 4.2.6 Người mà các em tìm đến để nhờ sự giúp đỡ 50 4.2.7 Hiệu quả từ sự giúp đỡ mà học sinh trường THPT Thủ Đức nhận được 52 4.2.8 Mức độ hài lòng của học sinh trường THPT Thủ Đức sau khi giải quyết khó khăn tâm lí 53 4.3 Mức độ tiếp cận dịch vụ tư vấn tâm lí trong xã hội của học sinh trường THPT Thủ Đức 564.4 Mức độ tham gia các chuyên mục tư vấn tâm lí trong xã hội của học sinh trường THPT Thủ Đức 584.5 Nhận thức của học sinh trường THPT Thủ Đức về tầm quan trọng của phòng tư vấn tâm lí 604.5.1 Nhận thức của học sinh trường THPT Thủ Đức về tầm quan trọng của hoạt động tư vấn tâm lí 60 4.5.2 Thực tế về phòng tư vấn tâm lí học sinh của trường THPT Thủ Đức 61 4.5.3 Nhu cầu của học sinh trường THPT Thủ Đức về việc mở phòng tư vấn tâm
lí tại trường 62 4.5.4 Nhu cầu của học sinh trường THPT Thủ Đức về cán bộ tư vấn 64 4.5.5 Nhu cầu của học sinh trường THPT Thủ Đức về hình thức tư vấn 67 4.5.6 Đánh giá hiệu quả của tư vấn tâm lí đối với học sinh trường THPT Thủ Đức 69Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 725.1 Kết luận 72
Trang 115.2 Kiến nghị 76
5.2.1 Về phía nhà trường 76
5.2.2 Về phía giáo viên 77
5.2.3 Về phía gia đình 78
5.2.4 Về phía học sinh 78
5.3 Hướng mới của đề tài 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
PHỤ LỤC 1 4
PHỤ LỤC 2 5
Trang 12DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 4.1: Thực trạng những khó khăn mà học sinh trường THPT Thủ Đức gặp phải 38Bảng 4.2: Tâm lí hiện tại của học sinh trường THPT Thủ Đức 39Bảng 4.3: Những vấn đề học sinh trường THPT Thủ Đức đang gặp khó khăn và cần tư vấn hiện nay 41Bảng 4.4: Ảnh hưởng của những khó khăn tâm lí đến cuộc sống của học sinh trường THPT Thủ Đức 44Bảng 4.5: Cách thức giải quyết với những khó khăn tâm lí hiện tại của học sinh trường THPT Thủ Đức 46Bảng 4.6: Người mà các em tìm đến để nhờ sự giúp đỡ 50Bảng 4.7: Hiệu quả từ sự giúp đỡ mà học sinh trường THPT Thủ Đức nhận được 52Bảng 4.8: Mức độ hài lòng của học sinh trường THPT Thủ Đức sau khi giải quyết khó khăn tâm lí 53Bảng 4.9: Sự hiểu biết của học sinh trường THPT Thủ Đức với dịch vụ tư vấn tâm lí trong xã hội 56Bảng 4.10: Mức độ tham gia các chuyên mục tư vấn tâm lí trong xã hội của học sinh trường THPT Thủ Đức 58Bảng 4.11: Nhận thức của học sinh trường THPT Thủ Đức về tầm quan trọng của hoạt động tư vấn tâm lí 60Bảng 4.12: Thực tế về phòng tư vấn tâm lí học sinh của trường THPT Thủ Đức 61Bảng 4.13: Nhu cầu của học sinh trường THPT Thủ Đức về việc mở phòng tư vấn tâm lí tại trường 62Bảng 4.14: Nhu cầu của học sinh trường THPT Thủ Đức về cán bộ tư vấn 64Bảng 4.15: Nhu cầu của học sinh trường THPT Thủ Đức về hình thức tư vấn 67Bảng 4.16: Đánh giá hiệu quả của tư vấn tâm lí đối với học sinh trường THPT Thủ Đức 69
Trang 13DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1: So sánh thực trạng những khó khăn của học sinh khối 10, 11, 12 gặp phải 38Biểu đồ 4.2: So sánh trạng thái tâm lí của học sinh khối 10, 11, 12 40Bảng 4.3: So sánh những vấn đề học sinh trường THPT Thủ Đức đang gặp khó khăn và cần tư vấn hiện nay 43Biểu đồ 4.4: So sánh ảnh hưởng của khó khăn tâm lí đến cuộc sống của học sinh khối 10, 11, 12 45Biểu đồ 4.5: So sánh cách giải quyết với những khó khăn của học sinh khối 10,
11, 12 49Biểu đồ 4.6: So sánh người mà học sinh khối 10, 11, 12 tìm đến khi gặp khó khăn 51Biểu đồ 4.7: So sánh hiệu quả từ sự giúp đỡ mà học sinh khối 10, 11, 12 nhận được 53Biểu đồ 4.8: So sánh tâm lí sau khi giải quyết khó khăn của học sinh khối 10,
11, 12 54Biểu đồ 4.9: So sánh mức độ hiểu biết về các dịch vụ tư vấn tâm lí trong xã hội của học sinh khối 10, 11, 12 57Biểu đồ 4.10: So sánh mức độ tham gia các dịch vụ tư vấn tâm lí trong xã hội của học sinh khối 10, 11, 12 59Biểu đồ 4.11: So sánh nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động tư vấn tâm lí của học sinh khối 10, 11, 12 61Biểu đồ 4.12: Nhu cầu của học sinh trường THPT Thủ Đức về việc mở phòng
tư vấn tâm lí tại trường 63Biểu đồ 4.13: Nhu cầu của học sinh trường THPT Thủ Đức về cán bộ tư vấn 65Biểu đồ 4.14: So sánh nhu cầu của học sinh trường THPT Thủ Đức về hình thức tư vấn tâm lí 68Biểu đồ 4.15: So sánh đánh giá hiệu quả của tư vấn tâm lí đối với học sinh khối
10, 11, 12 70
Trang 14Chương I: GIỚI THIỆU 1.1 Lí do chọn đề tài
Trong xã hội công nghiệp, con người trở nên bận rộn hơn, năng động hơn,
cuộc sống vật chất đầy đủ hơn nhưng bên cạnh đó con người lại phải đối mặt
với những hiện tượng tâm lí – xã hội Việc yêu cầu cao ở một xã hội hiện đại
làm gia tăng áp lực của gia đình, xã hội lên hoạt động học tập, nghề nghiệp,
những chứng bệnh của nền công nghiệp hóa như trầm cảm, stress, rối loạn cảm
xúc, hành vi, các thắc mắc về giới tính vướng mắc trong quan hệ bạn bè, cha
mẹ, thầy cô,… Không phải ai cũng có thể tự mình vượt qua được những áp lực
đó Nhu cầu tư vấn tâm lí trở thành một nhu cầu cấp thiết và mang một ý nghĩa
xã hội rất lớn Nhu cầu tư vấn là nhu cầu không thể thiếu đối với mọi lứa tuổi
Đặc biệt nhất là học sinh THPT đang chịu nhiều áp lực từ vấn đề học tập
Theo Nguyễn Tùng Lâm (2009), thì hoạt động tư vấn tâm lí học đường
cần tồn tại dưới nhiều hình thức, mức độ khác nhau Các hoạt động tư vấn tâm
lí học đường cần đa dạng từ hoạt động đào tạo đến nghiên cứu, ứng dụng và
sâu chuỗi lại thành một hoạt động chung thống nhất về mục tiêu, chương trình
Cần làm tốt công tác tuyên truyền cho học sinh, phụ huynh và những người làm
công tác giáo dục nhận thức được tính cấp thiết của tâm lí học đường với mỗi
trường học, mỗi học sinh Nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống học sinh, nâng
cao chất lượng giáo dục
Tổ chức y tế thế giới (WHO) đã thống kê rối nhiễu tâm lí đứng thứ 5
trong số 10 nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật cho con người Ở lứa tuổi học
đường, rối nhiễu tâm lí là nguyên nhân chính làm giảm sút chất lượng đào tạo,
tăng tỉ lệ bỏ lớp
Thế hệ trẻ là thế hệ tương lai xây dựng đất nước Trước tình hình xã hội
tác động tâm lí như thế, nhà trường gia đình và xã hội nói chung phải có biện
pháp để giúp đỡ, định hướng cho các em Xuất phát từ yêu cầu thực tế trên
người nghiên cứu tiến hành nghiên cứu đề tài “Tìm hiểu nhu cầu tư vấn tâm lí
học đường của học sinh trường THPT Thủ Đức, quận Thủ Đức Tp HCM”
Trang 151.2 Giới thiệu về nghiên cứu
1.2.1 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu nhu cầu tư vấn tâm lí học đường của học sinh trường THPT Thủ
Đức nhằm nắm bắt được tâm lí, nhu cầu tư vấn tâm lí của học sinh Từ đó đề
xuất các giải pháp giúp học sinh giải quyết những khó khăn trong đời sống tinh
thần và nhằm hoàn thiện dần quá trình giáo dục
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu
Câu 1: Tâm lí học sinh trường THPT Thủ Đức hiện nay như thế nào?
Câu 2: Học sinh trường THPT Thủ Đức có nhu cầu tư vấn tâm lí hay không?
Câu 3: Các phương diện cần được tư vấn tâm lí của học sinh khối 10, 11, 12
trường Thủ Đức có gì giống và khác nhau không?
1.2.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để phục vụ cho việc trả lời các câu hỏi nghiên cứu trên, người nghiên cứu
sẽ thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Nhiệm vụ 1: Nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài về tư vấn tâm lí, đặc điểm
tâm lí chung học sinh THPT, một số khía cạnh khó khăn tâm lí học sinh thường
gặp (phục vụ cho câu hỏi nghiên cứu 1, 2, 3)
- Nhiệm vụ 2: Đi khảo sát, phát phiếu điều tra lấy kết quả thực tế về nhu cầu tư
vấn tâm lí của học sinh trường THPT Thủ Đức (phục vụ câu hỏi nghiên cứu 1,
2, 3)
- Nhiệm vụ 3: Tiến hành phân tích, đánh giá và so sánh số liệu khảo sát (phục
vụ câu hỏi nghiên cứu 1, 2, 3)
- Nhiệm vụ 4: Đề xuất các giải pháp giải quyết khó khăn tâm lí, giải pháp mở
phòng tư vấn tâm lí cho học sinh trường THPT Thủ Đức
1.2.4 Giả thuyết nghiên cứu
Nhu cầu tư vấn tâm lí của học sinh trường THPT Thủ Đức là rất cao Có
sự khác biệt giữa mức độ và biểu hiện nhu cầu tư vấn tâm lí giữa các nhóm
khách thể khảo sát Nội dung và hình thức học sinh trường THPT Thủ Đức
mong đợi là rất phong phú và đa dạng, mặc dù vậy các em vẫn chưa được tiếp
cận với hoạt động tư vấn tâm lí
Trang 161.2.5 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nhu cầu tư vấn tâm lí học đường của học sinh trường
THPT Thủ Đức
- Khách thể nghiên cứu: 350 học sinh khối 10, 11, 12 trường THPT Thủ Đức
1.2.6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp điều tra bằng phiếu câu hỏi
Do khả năng của người nghiên cứu và giới hạn của phạm vi thực hiện luận
văn, đề tài chỉ khảo sát 350 học sinh của 3 khối 10, 11, 12 trường THPT Thủ
Đức
1.3 Tiến trình nghiên cứu
Đề tài sẽ thực hiện từ 15/9/2010 đến 1/5/2011 cụ thể như sau:
STT Các giai đoạn Công việc Người thực
hiện Ghi chú
1 Tháng 9/2010 Hoàn thành và nộp đề
cương
Người nghiên cứu
2 Tháng 10/2010 Sửa đề cương Người nghiên
4 Tháng 1-3/2011
Phát phiếu hỏi Phỏng vấn Thu thập số liệu
Người nghiên cứu
Trang 175 Tháng 4/2011
Hoàn thành chương 4, 5 Chỉnh sửa và hoàn thành
đề tài
Người nghiên cứu
6 Tháng 5/2011 Báo cáo Người nghiên
cứu
1.4 Cấu trúc luận văn
Khóa luận gồm 5 chương:
1) Chương 1: Giới thiệu
- Lí do chọn đề tài
- Giới thiệu về nghiên cứu
- Kế hoạch nghiên cứu
- Giới thiệu cấu trúc luận văn
2) Chương 2: Cơ sở lí luận
- Những lí thuyết mà người nghiên cứu dựa vào đó để tiến hành nghiên cứu
như:
+ Các khái niệm về tâm lí, nhu cầu, tư vấn
+ Những vấn đề về tư vấn tâm lí học đường
+ Tâm lí của học sinh THPT
- Tóm tắt, nhận định về cách làm, cách phân tích của những nghiên cứu trước
đây
3) Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
- Mô tả một số phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài
- Mô tả những giai đoạn, công việc chính, hoạt động thực hiện phục vụ cho
nghiên cứu
4) Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Trình bày số liệu nghiên cứu và phân tích kết quả thu được
5) Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Người nghiên cứu rút ra kết luận từ vấn đề nghiên cứu và từ đó có thể đưa
ra một số đề xuất cho việc thành lập phòng tư vấn tam lí học đường nhằm nâng
Trang 18Chương 2: CƠ SỞ LÍ LUẬN 2.1 Lược khảo những nghiên cứu trước đây
Trong quá trình thực hiện đề tài người nghiên cứu đã tìm hiểu sơ lược về
những công trình nghiên cứu có liên quan trước đây làm cơ sở cho vấn đề
nghiên cứu của mình
Tác giả Trần Minh Đức và Đỗ Hoàng, 2006 Tham vấn học đường –
nhìn từ góc độ giới Tạp chí tâm lí Số 11 Trang 45-51.Trong bài viết đã đề cập
đến vấn đề tham vấn tâm lí học đương nhìn từ góc độ giới Nhóm tác giả đã đề
cập đến sự khác biệt về nhu cầu tham vấn của học sinh nam và nữ Theo nhóm
tác giả, nhà tham vấn tâm lí học đường cần nắm bắt được mối quan hệ khác
nhau giữa học sinh nam và học sinh nữ, phân tích được mối tác động của mối
quan hệ tham vấn, hiệu quả của nhà tham vấn tâm lí học đường là nam hay là
nữ Từ đó đề xuất việc nâng cao nhận thức về giới của các nhà tham vấn học
đường của các nhà khoa học lấy giới hạn trung tâm trong quá trình tham vấn
Nguyễn Phương Hoa, 2002 Cần có chuyên viên tư vấn tâm lí trong
trường học Tạp chí tâm lí Số 9 Trang 44 – 45 Trong bài viết đã đề cập đến
nhu cầu tư vấn tâm lí của học sinh THPT hiện nay cũng như sự cần thiết của
chuyên viên trong trường học
Hội thảo Khoa học quốc gia, 2006 Tư vấn tâm lí – giáo dục – lí luận,
thực tiễn và định hướng phát triển Tp HCM Trong đó có bài viết của Lê Thị
Ngọc Dung với chủ đề “Hoạt động tư vấn tâm lí giáo dục – thực trạng và giải
pháp”, qua bài viết tác giả đã nêu lên được tầm quan trọng của hoạt động tham
vấn tâm lí học đường, và nêu lên được thực trạng hiện nay học sinh rất cần
phòng tư vấn tâm lí, từ đó tác giả đưa ra một số giải pháp cho tư vấn tâm lí
Hội thảo Khoa học quốc gia, 2006 Tư vấn tâm lí – giáo dục – lí luận, thực
tiễn và định hướng phát triển Tp HCM Trong đó có bài viết của Trần Thị
Hương với chủ đề “Một số ý kiến về hoạt động tham vấn tâm lí học đường”
Qua bài viết tác giả đã đề cập đến tư vấn tâm lí học đường và các yêu cầu của
học sinh về phẩm chất, năng lực của nhà tư vấn Nội dung và hình thức của
tham vấn tâm lí học đường Ngoài ra trong bài viết còn nêu ra việc tìm hiểu ý
kiến của nhà trường và phụ huynh học sinh về tham vấn tâm lí học đường
Trang 19Hội thảo Khoa học quốc gia, 2006 Tư vấn tâm lí – giáo dục – lí luận,
thực tiễn và định hướng phát triển TP HCM Trong đó có bài viết của tác giả
Bùi Ngọc Oánh với chủ đề “Kết hợp việc tham vấn trong tư vấn” Trong bài
viết tác giả đã phân biệt hoạt động tư vấn là gì và tham vấn là gì nhằm từ đó có
thể lồng ghép hai hoạt động trên vào nhau và làm cho hoạt động tư vấn hiệu
quả hơn
Hoàng Thị Nhuận, 2008 Nhu cầu về phòng tư vấn tâm lí học đường của
trường THPT Tân Phú Định Quán – Đồng Nai Luận văn tốt nghiệp Niên khóa
2004 – 2008
Trong luận văn nổi bật một số ưu điểm như: người nghiên cứu tham khảo
nhiều tài liệu và đưa ra cơ sở lí luận rõ ràng, kết luận vấn đề nghiên cứu phù
hợp với mục tiêu mà người nghiên cứu đã đề ra, đặc biệt nghiên cứu nêu bật
được sự khác nhau về nhu cầu tư vấn tâm lí giữa học sinh khối 10, 11, 12 Song
bên cạnh những ưu điểm nghiên cứu có một số nhược điểm như: fomat chưa
đẹp, người nghiên cứu có trình bày lược khảo vấn đề nghiên cứu nhưng chưa
đưa ra được ưu điểm, nhược điểm của tài liệu tham khảo nhằm để rút ra được
các lỗi mà người nghiên cứu trước phạm phải, đề tài chưa nêu lên được câu hỏi
nghiên cứu
Nguyễn Thị Bích Hạnh, 2008 Tìm hiểu nhu cầu tư vấn tâm lí học
đường của sinh viên trường ĐH khoa học xã hội và nhân văn ĐH quốc gia Tp
HCM Luận văn tốt nghiệp khoa sư phạm kỹ thuật nông nghiệp Niên khóa
2004 – 2008
Trong luận văn nổi bật một số ưu điểm như: người nghiên cứu tham khảo
nhiều tài liệu và có phần cơ sở lí luận rõ ràng, song bên cạnh những ưu điểm
nghiên cứu còn mắc phải các lỗi như luận văn có đề cập đến nhu cầu tư vấn
tâm lí nhưng chưa đưa ra được khái niệm nhu cầu tư vấn tâm lí là gì, người
nghiên cứu chưa nêu bật được câu hỏi của vấn đề cần nghiên cứu
Trần Thị Thái Huyền, 2008 “Tìm hiểu nhu cầu tư vấn học tập sinh viên
trường ĐH Nông Lâm Tp HCM” Luận văn tốt nghiệp ĐH – sinh viên khoa sư
phạm kỹ thuật nông nghiệp Niên khóa 2004 – 2008
Trang 20Đề tài nghiên cứu có một số ưu điểm nổi bật so với các đề tài cùng niên khóa là
đã nêu bật được vấn đề cần nghiên cứu, người nghiên cứu tham khảo nhiều tài
liệu, có cơ sở lí luận khá đầy đủ Bên cạnh đó thì nghiên cứu còn mắc phải một
số hạn chế như chưa nêu được giả thuyết nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, lỗi
fomat nhiều và cách ghi tài liệu tham khảo chưa thống nhất
Phan Thị Mỹ Phú, 2008 “Tìm hiểu nhu cầu tư vấn tâm lí của sinh viên
trường ĐH Nông Lâm Tp HCM” Luận văn tốt nghiệp ĐH – sinh viên khoa sư
phạm kỹ thuật nông nghiệp Niên khóa 2004 – 2008
Đề tài có ưu điểm cấu trúc cơ sở lí luận rõ ràng, người nghiên cứu có tham
khảo nhiều tài liệu, kết luận và kiến nghị phù hợp với mục tiêu đề ra xong đề
tài còn phạm phải nhiều lỗi chính tả, đề tài giống những đề tài cùng khóa là
chưa có câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu, phiếu thăm dò ý kiến có
câu có quá nhiều ý nhỏ sẽ làm cho khách thể nghiên cứu dễ nhàm chán và
không nhiệt tình (câu 1: nội dung khúc mắc tâm lí có tới 43 ý nhỏ) ngoài ra đề
tài không có hướng phát triển tiếp theo
Trần Thị Thu Thảo, 2010 “Tìm hiểu nhu cầu về tư vấn tâm lí học
đường của học sinh THPT” Luận văn tốt nghiệp ĐH – sinh viên khoa sư phạm
kỹ thuật nông nghiệp Niên khóa 2006 – 2010 Đề tài có nhiều ưu điểm nỗi bật
như cơ sở lí luận ngắn gọn nhưng đầy đủ, tài liệu tham khảo rõ ràng, đề tài nêu
bật được sự khác nhau về nhu cầu tư vấn tâm lí giữa học sinh thành thị và nông
thôn, phiếu tham dò ý kiến xúc tích, ngắn gọn và đầy đủ, ở mỗi nội dung đưa ra
người nghiên cứu có kết luận rõ ràng, sâu sắc Song đề tài trên chưa nêu lên
được giả thuyết nghiên cứu
Nguyễn Thị Trang, 2007 “ Tìm hiểu vai trò của giáo viên chủ nhiệm
trong tư vấn tâm lí học sinh ở một số trường trung học phổ thông, quận Thủ
Đức Tp HCM” Đề tài có khá nhiều ưu điểm nổi bật như đề tài có cơ sở lí luận
rõ ràng, nhiều tài liệu tham khảo, có kết quả nghiên cứu rõ ràng xong đề tài còn
tồn tại một số nhược điểm như lỗi đánh máy, trình bày luận văn chưa được đẹp
mắt, đề tài chưa nêu được giả thuyết nghiên cứu
Qua lược khảo các nghiên cứu trên, người nghiên cứu đã rút ra được nhiều
bài học kinh nghiệm cho nghiên cứu của mình Để nghiên cứu có thể hoàn
Trang 21thiện hơn, người nghiên cứu sẽ khắc phục những hạn chế mà các nghiên cứu
trước đã mắc phải và phát huy các ưu điểm của các nghiên cứu trên
2.2 Một số khái niệm, thuật ngữ
2.2.1 Nhu cầu là gì?
Nhu cầu với tư cách là một hiện tượng tâm lí của con người, nó chi phối
một cách mãnh liệt đến đời sống tâm lí nói chung, đến hành vi của con người
nói riêng
Nhu cầu là một hiện tượng tâm lí của con người; là đòi hỏi, mong muốn,
nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển
Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lí, mỗi
người có những nhu cầu khác nhau (http://vi.wikipedia.org)
Nhu cầu là những đòi hỏi mà con người cần để sống, tồn tại và phát triển
Nhu cầu là nguồn gốc của tính tích cực, đó chính là động cơ thúc đẩy con
người họat động Vì vậy muốn giáo dục và phát triển nhân cách của con người
cần chú trọng đến việc giáo dục nhu cầu, tạo nên cho họ những nhu cầu đúng
đắn, lành mạnh phù hợp với yêu cầu và sự phát triển của tâm lí con người
(Nguyễn Thị Thu Hiền, 2000)
Nguyễn Quang Uẩn (2003), cho rằng nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu mà con
người thấy cần thỏa mãn để tồn tại và phát triển
Theo Herry Musay (2002), khi nghiên cứu về vấn đề nhu cầu khẳng định:
“Nhu cầu là một tổ chức cơ động, hướng dẫn và thúc đẩy hành vi Nhu cầu ở
mỗi người khác nhau về mức độ, đồng thời các loại nhu cầu chiếm ưu thế cũng
khác nhau ở mỗi người” (http://www.tuvantamli.com.vn)
Đề cập đến vấn đề nhu cầu khi nghiên cứu về nhân cách Theo
B.Ph.Lomov (2000), cho rằng nhu cầu về vật chất không phải là tất cả, nhu cầu
về mặt xã hội có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân
cách Các nhu cầu có mức độ của nó Ví dụ như: nhu cầu nhận thức đi từ sự tò
mò tới sự tìm kiếm chân lí một cách say mê, nhu cầu nghỉ ngơi đi từ việc cần
phải thư giản, ngủ cho đến cách li tạm thời với các hình thức quen thuộc của
đời sống xã hội… Nhu cầu cao nhất là nhu cầu sáng tạo
Trang 22Tóm lại, nhu cầu là một tổ chức cơ động, hướng dẫn và thúc đẩy hành
vi Nhu cầu chi phối mạnh mẽ đến đời sống tâm lí nói chung, đến hành vi của
con người nói riêng Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con người hành động, nhu cầu
càng cấp bách thì khả năng chi phối con người càng cao Nhu cầu của mỗi cá
nhân đa dạng và vô tận, việc thỏa mãn nhu cầu nào đó của cá nhân đồng thời
tạo ra một nhu cầu khác theo định hướng mới Nhu cầu là một động lực quan
trọng thúc đẩy con người hành động nhằm đạt được mục tiêu nhất định
2.2.2 Tâm lí là gì?
Từ điển tiếng việt (1988), định nghĩa “Tâm lí là ý nghĩ, tình cảm làm
thành thế giới nội tâm, thế giới bên trong của con người”
Thế giới tâm lí con người rất phong phú và đa dạng, để thực sự hiểu được
“tâm lí là gì?” thật không đơn giản Tùy theo thế giới quan của mỗi tác giả và
các trào lưu văn hóa, tư tưởng của loài người mà các nhà tư tưởng, nhà tâm lí
học có cách định nghĩa tâm lí khác nhau Sau đây xin giới thiệu một số khái
niệm
Theo Phạm Minh Hạc (1988), cho rằng tâm lí là chức năng của não
Thông qua hình ảnh tâm lí, não điều khiển hoạt động của con người Tác động
đến tâm lí tức là tác động đến thần kinh
Nguyễn Thị Thu Hiền (2000), cho rằng tâm lí của con người là một dạng
đặc biệt và là dạng cao nhất của sự phản ánh hiện thực khách quan vào não
người Hoạt động phản ánh có ý thức đó thể hiện ở các quá trình nhận thức,
tình cảm, ý chí và các thuộc tính tâm lí như phẩm chất, năng lực của cá nhân
Khái niệm tâm lí trong tâm lí học bao gồm tất cả những hiện tượng tinh
thần như cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy, tư tưởng, tình cảm, năng lực, lí
tưởng sống hình thành trong đầu óc con người; định hướng điều chỉnh, điều
khiển mọi hành động và hoạt động của con người
Trong lịch sử của tiếng la tinh: “psyche” là “linh hồn”, “tinh thần” và
“logos” là học thuyết, là “khoa học”, vì thế tâm lí học “psychologie” là khoa
học về tâm hồn (Nguyễn Quang Uẩn, 2003)
Trang 23Nói một cách chung nhất: Tâm lí là tất cả những hiện tượng tinh thần nảy
sinh trong đầu óc con người, gắn liền và điều hành mọi hành động, hoạt động
của con người
2.2.3 Tư vấn và tham vấn
Hiện nay, ở nước ta lí thuyết về tư vấn và tham vấn chưa được biên soạn
thành hệ thống và có giáo trình bài bản như các ngành khoa học khác mà chỉ
được đề cập rải rác ở một số bài báo và các bài tham luận tại các hội nghị, hội
thảo cũng như một số sách dịch từ nước ngoài Vì vậy chúng ta vẫn chưa có
một khái niệm chính thức về tư vấn cũng như tham vấn Sau đây người nghiên
cứu xin giới thiệu một số khái niệm về tư vấn và tham vấn
Tư vấn
Theo từ điển tiếng việt: Tư vấn là phát triển ý kiến về những vấn đề
được hỏi đến, nhưng không có quyền quyết định
Theo Bùi Thị Xuân Mai (2005), cho rằng tư vấn được xem như một quá
trình tham khảo về lời khuyên hay sự trao đổi quan điểm về vấn đề nào đó để đi
đến một quyết định Hoạt động này diễn ra dưới dạng hỏi và đáp
Theo Vũ Thị Kim Thanh (2001), cho rằng tư vấn là hoạt động cung ứng
lời khuyên sự chỉ dẫn cụ thể để giải quyết vấn đề từ phía nhà tư vấn (người có
kiến thức chuyên môn hiểu biết nhất định về một lĩnh vực cụ thể) cho cá nhân
hay tổ chức xã hội có nhu cầu được cung cấp thông tin, hỏi ý kiến hoặc tìm giải
pháp hay một lời khuyên cho vấn đề của họ mà thuộc phạm vi chuyên môn của
nhà tư vấn, để giúp họ giải quyết vấn đề một cách có hiệu quả
Theo hiệp hội tư vấn Hoa Kỳ: Tư vấn là ứng dụng sức khỏe tâm thần, tâm
lí và những nguyên tắc trong quá trình phát triển con người, thông qua những
can thiệp về nhận thức, cảm xúc và hành vi có hệ thống và chiến lược nhằm
hướng đến đời sống lành mạnh, phát triển cá nhân, phát triển nghề nghiệp và trị
liệu những rối loạn
Trang 24 Tham vấn
Theo Rogers jenny (1990), cho rằng tham vấn là hoạt động nhằm giúp
đỡ con người tự giúp chính mình, hoạt động này giúp đối tượng (người cần
tham vấn) nâng cao khả năng tự tìm giải pháp, đối phó với vấn đề và thực hiện
chức năng của mình trong cuộc sống (Nguyễn Thơ Sinh, 2006)
Theo hiệp hội hoa kỳ: Tham vấn là quá trình giúp đỡ giữa hai cá nhân có
chuyên môn nghiệp vụ về một vấn đề có liên quan đến nghiệp vụ
Ở Việt Nam, counseling được dịch ra với nhiều các tên khác nhau như
tham vấn, tư vấn tâm lí, trị liệu… Tuy nhiên, người ta gặp một số khó khăn
trong dịch thuật các khái niệm counseling và consultation sang tiếng việt bởi
chúng đều được dịch thành tư vấn và ngược lại
Song cần nhấn mạnh rằng, chức năng của tham vấn không phải là đưa ra
lời khuyên Có sự khác nhau cơ bản giữa tư vấn và tham vấn
Về mục tiêu của tư vấn là giúp thân chủ giải quyết vấn đề hiện tại còn
tham vấn hướng tới mục tiêu lâu dài hơn, đó là giúp thân chủ nâng cao khả
năng giải quyết vấn đề sau khi được tham vấn
Tiến trình của tư vấn diễn ra trong một thời gian ngắn, giải quyết vấn đề
tức thời còn tiến trình của tham vấn diễn ra trong thời gian dài tùy thuộc vào
vấn đề mà thân chủ gặp phải Nhà tham vấn chỉ thực sự đưa ra lời khuyên khi
thân chủ đang gặp những nguy cơ như có hành vi gây hại, huỷ hoại bản thân
hay người khác
Mối quan hệ giữa thân chủ và nhà tư vấn là mối quan hệ trên – dưới,
người được xem là “uyên bác” với những thông tin chuyên môn, còn người kia
“thiếu hiểu biết” về vấn đề đó Còn mối quan hệ trong tham vấn là mối quan hệ
mang tính ngang bằng, bình đẳng và đòi hỏi có sự tích hợp tích cực giữa hai
bên
Về cách thức tương tác: cách thức can thiệp của tư vấn chính là cung cấp
thông tin và lời khuyên bổ ích từ người tư vấn với đầy đủ kiến thức vế vấn đề
cần tư vấn Còn trong tham vấn sự thành công phụ thuộc vào kỹ năng tương tác
của các nhà tham vấn để thân chủ tự nhận thức, hiểu chính mình và hoàn cảnh
của mình để chủ động tìm kiếm giải pháp phù hợp và thực hiện nó
Trang 25Tóm lại, tham vấn về mặt căn bản có chung những điểm rất gần với tư
vấn Phần nhiều các tư vấn viên trong trường hợp nhất định đã trở thành tham
vấn viên Mục đích của tham vấn và tư vấn nhiều khi gối lên nhau Do đó để
thống nhất trong việc sử dụng thuật ngữ của đề tài, trong suốt quá trình nghiên
cứu người nghiên cứu sẽ dùng counseling với nghĩa là tư vấn
2.2.4 Tư vấn tâm lí là gì?
Theo Trần Tấn Lộ (2003), cho rằng : “Tư vấn tâm lí học đường giúp thân
chủ hiểu được chính tâm lí của bản thân thân chủ, tâm lí của một người khác
hoặc tâm lí xã hội, và giúp thân chủ xác định được thái độ, hoạt động đúng đắn
và cần thiết đối với ai đó, đối với một nhóm người nào đó, đối với xã hội hoặc
đối với bản thân mình, thậm chí giúp thân chủ biết cách rèn luyện, sửa chữa,
hoàn thiện nhân cách của mình, kể cả việc điều trị tâm bệnh của mình”
Trần Thị Minh Đức (2006), cho rằng tư vấn tâm lí là một quá trình tương
tác thông qua trao đổi chia sẽ thân mật, tâm tình giữa nhà tư vấn và thân chủ
nhằm làm cho thân chủ hiểu và chấp nhận thực tế của mình như nó đang tồn tại
một cách khách quan, tự phát hiện ra tiềm năng của bản thân để tự giải quyết
vấn đề của chính mình
Theo UNICEF “Tư vấn giống như cuộc nói chuyện Tư vấn tâm lí là một
mối quan hệ, một quá trình, trong đó nhà tư vấn giúp thân chủ cải thiện cuộc
sống của họ bằng cách khai thác, hiểu và nhìn nhận được nội dung, ý nghĩ, cảm
giác, và hành vi của họ Nhà tư vấn không giải quyết vấn đề cho thân chủ Cụ
thể là nhà tư vấn giúp đỡ thân chủ cải thiện trạng thái tâm lí của họ Việc này
xem như là quá trình giúp đỡ thân chủ nghĩ, cảm giác và hành động khác với
trước và để từ đó họ có thể đương đầu với những khó khăn trong cuộc sống
một cách có hiệu quả hơn (http://www.tuvantamli.com.vn)
Tóm lại tư vấn tâm lí là một cuộc nói chuyện mang tính cá nhân giữa một
chuyên gia về một lĩnh vực nhất định với một hoặc nhiều người đang cần sự hỗ
trợ để đối phó với khó khăn, thách thức trong cuộc sống Nhà tư vấn giúp thân
chủ ra quyết định bằng cách giúp họ xác định và làm sáng tỏ vấn đề, xem xét
tất cả các khả năng và đưa ra lựa chọn tối ưu Trong quá trình tư vấn, thân chủ
Trang 26làm chủ cuộc nói chuyện của họ, nhà tư vấn lắng nghe, phản hồi, tổng kết và
đặt câu hỏi
2.2.5 Tư vấn tâm lí học đường là gì?
Theo hiệp hội tư vấn học đường của Mỹ - ASCA (1990) tư vấn tâm lí học
đường là: “Giúp đỡ tất cả các học sinh trong học tập, trong quan hệ xã hội,
trong công việc, trong việc nâng cao năng lực cá nhân Giúp đỡ họ thành người
có trách nhiệm và hữa ích Nhà tư vấn tâm lí học đường trợ giúp hình thành và
tổ chức tất cả những chương trình này, cũng như cung cấp các hoạt động can
thiệp tư vấn thích hợp” (Trần Thị Minh Đức, 2006)
Tóm lại tư vấn tâm lí học đường là hoạt động nhằm giúp học sinh, sinh
viên giải quyết những vấn đề khó khăn trong học tập, cuộc sống,… Tạo tinh
thần thoải mái cho các em nhằm nâng cao quá trình giáo dục
2.3 Những vấn đề về nhu cầu
2.3.1 Đặc điểm nhu cầu
Theo Nguyễn Quang Uẩn (2003), nhu cầu của con người có những đặc
điểm cơ bản sau:
- Nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng Nghĩa là phải nhằm tới một đối tượng cụ
thể Khi chưa có đối tượng nhu cầu chưa tồn tại theo đúng nghĩa của nó mà lúc
ấy ở cá nhân chỉ là trạng thái thiếu hụt, mong muốn một cách mơ hồ Khi nào
nhu cầu gặp đối tượng có khả năng thỏa mãn nó thì lúc đó nhu cầu trở thành
động cơ thúc đẩy con người hành động tới đối tượng
- Nội dung của nhu cầu do những điều kiện và phương thức thỏa mãn quyết
định
- Nhu cầu của con người khác xa về chất so với nhu cầu về con vật Nhu cầu
con người mang tính xã hội
2.3.2 Phân loại nhu cầu
Theo Maslow (1943), nhu cầu của con người được chia làm hai nhóm
chính là nhu cầu cơ bản và nhu cầu bậc cao
Nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố thể lí của con người như mong
muốn có đủ thức ăn, nước uống, được ngủ nghỉ Những nhu cầu cơ bản này
đều là các nhu cầu không thể thiếu hụt vì nếu con người không được đáp ứng
Trang 27đủ những nhu cầu này, họ sẽ không tồn tại được nên họ sẽ đấu tranh để có được
và tồn tại trong cuộc sống hàng ngày
Các nhu cầu cao hơn nhu cầu cơ bản trên được gọi là nhu cầu bậc cao
Những nhu cầu này bao gồm nhiều nhân tố tinh thần như sự đòi hỏi công bằng,
an tâm, vui vẻ, địa vị xã hội, sự tôn trọng, vinh danh với một cá nhân
Theo Nguyễn Khắc Viện (2004), có ba loại cơ bản: Nhu cầu vật chất, nhu
cầu xúc cảm và nhu cầu xã hội
Các nhu cầu vật chất có liên quan mật thiết đến hoạt động của cơ thể và
đôi khi được mô tả như là các xung năng sơ cấp hoặc sinh lí Chẳng hạn như
xung năng tình dục, xu năng đói Đó là các nhu cầu bẩm sinh Các nhu cầu vật
chất thông thường ở người là nhu cầu về thực phẩm, phương tiện sinh sống như
nước, ôxy và nhu cầu bài tiết, quần áo và nơi che chở để bảo vệ và giữ cơ thể
ấm áp Nhu cầu được hoạt động, hoặc được kích thích cảm giác và vận động kể
cả khoái cảm, tình dục, luyện tập thân thể và nghỉ ngơi
Nhu cầu về cảm xúc loại nhu cầu này cũng đóng một vai trò quan trọng
trong việc tạo ra động lực cho hành vi và khi cảm xúc bị hụt hẫng thì dẫn đến
hậu quả gây ra các rối loạn trong hành vi Các nhu cầu chung về cảm xúc như
là nhu cầu về tình thương yêu của con người, sự tán thành và kính trọng, nhu
cầu được thừa nhận, nhu cầu về sự xứng đáng, nhu cầu được cần tới và được
người khác mong muốn
Các nhu cầu xã hội: các nhu cầu xã hội và các cách thỏa mãn các nhu cầu
đó nảy sinh từ nền văn hóa hoặc bối cảnh xã hội mà con người là một thành
viên Các nhu cầu xã hội đan xen với các nhu cầu vật chất và nhu cầu cảm xúc
Những nhu cầu xã hội chung là nhu cầu đồng nhất hóa hay nhu cầu được quy
thuộc một nhóm đó là: Nhu cầu giáo dục, nhu cầu theo tôn giáo, nhu cầu giải
trí Các nhu cầu xã hội cũng như các nhu cầu khác được đáp ứng trong tác
động qua lại với những người gần gũi, các thành viên của cộng đồng, các nhóm
xã hội cũng như gia đình
Trang 282.4 Những vấn đề về tư vấn tâm lí học đường
2.4.1 Sơ lược lịch sử ngành tư vấn tâm lí
Dựa vào lịch sử hiện có, ngành tư vấn ở các nước phát triển là một
ngành tương đối trẻ Trước năm 1900, tư vấn chủ yếu là cho ý kiến, tập trung
vào việc cung cấp những phúc lợi nhân đạo căn bản cho những người kém may
mắn trong thời kì cách mạng công nghiệp
Theo Nguyễn Thơ Sinh (2006), thì cho rằng lịch sử ngành tư vấn lúc
đầu chỉ dành cho người trẻ, liên quan đến những chương trình hướng nghiệp và
những bài học đạo đức căn bản Tư vấn thời gian đầu chủ yếu là cung cấp
thông tin và hướng dẫn giáo dục
Vào 1907, jesse B.Dvis là người đầu tiên xây dựng cơ sở hướng dẫn có
hệ thống ở tiêu bang Michigan, Hoa Kì và cho xuất bản cuốn “Chọn nghề”
(1909) Cho đến bây giờ nó trở thành một nghề có mặt khắp nơi, giúp đỡ người
quá tải về mặt tinh thần
Ở Việt Nam, chưa có một thông tin cụ thể về thời điểm đầu hoạt động
chính thức của ngành tư vấn, chưa có một tài liệu nào công bố rõ ràng về từng
bước, từng giai đoạn
Ngày 18 – 12 – 2006, tại hội thảo khoa học quốc gia về vấn đề “Tư vấn
tâm lí – giáo dục lí luận, thực tiễn và định hướng phát triển” tổ chức tại Tp
HCM Từ báo cáo của hội nghị cho biết tư vấn tâm lí đã được thực hiện trong
nhiều năm gần đây trên các địa bàn, đặc biệt là trên khắp các thành phố
(Nguyễn Thơ Sinh, 2006)
Dựa vào báo cáo hội thảo khoa học này, tư vấn tâm lí giáo dục đã được
thực hiện trong nhiều năm gần đây, trên các địa bàn đặc biệt ở các thành phố
2.4.2 Các hình thức tư vấn tâm lí
Tư vấn trực tiếp: Đây là hình thức phổ biến và xuất hiện từ rất sớm Là
quá trình đối thoại được thực hiện trực tiếp tại các trung tâm tư vấn tâm lí trong
đó người được tư vấn (thân chủ, khách hàng) sẽ bày tỏ trực tiếp vấn đề của
mình với chuyên viên tư vấn tại văn phòng của trung tâm tư vấn hoặc cơ sở tư
vấn
Trang 29Tư vấn qua điện thoại: Là quá trình trao đổi trực tiếp nhà tư vấn và thân
chủ được thực hiện trực tiếp qua điện thoại Trong hình thức tư vấn này thì
người được tư vấn có thể được nói chuyện trực tiếp qua điện thoại với chuyên
viên tư vấn từ đó chuyên viên tư vấn có thể đưa ra lời khuyên cho (thân chủ,
khách hàng) ngay tại thời điểm diễn ra cuộc nói chuyện
Tư vấn cộng đồng: Quá trình đối thoại được tiến hành trực tiếp giữa nhà
tư vấn với một tổ chức, đơn vị (trường học, cơ quan, xí nghiệp)
Tư vấn qua đài truyền hình: Đây là hình thức tư vấn đặc biệt nhất trong tất
cả loại hình tư vấn đã được đề cập, người được tư vấn sẽ trình bày vấn đề của
mình dưới dạng một bức thư gởi về đài truyền hình Chuyên viên tư vấn sẽ
phân tích về vấn đề này Điều này đặc biệt sự chia sẽ, trao đổi này ghi hình và
phát sóng trực tiếp cho tất cả mọi người cùng theo dõi
Tư vấn qua thư trên báo hoặc đài: Đây là hình thức xuất hiện sớm nhất
trong các hình thức tư vấn ở nước ta Người muốn được tư vấn trình bày cô
đọng (nặng về mô tả sự kiện “nan giải” hơn là nói về tâm trạng, cảm xúc của
mình) để các nhà tư vấn khuyên giải Thông qua hình thức tư vấn này, nhiều
bạn đọc, khán giả nghe đài đặc biệt là những người từng gặp khó khăn trong
chuyện tình cảm có thể tìm được sự cảm thông, chia sẽ và lấy lại thăng bằng
trong cuộc sống
Tư vấn qua dịch vụ internet: Đối với hình thức tư vấn khá mới mẻ này thì
người tư vấn sẽ gởi thư nhưng không phải ghi bằng tay mà bằng điện tử và gởi
đến hộp thư điện tử của các báo, các trung tâm, cơ sở tư vấn Trong thư, người
được tư vấn sẽ trình bày vấn đề mình gặp phải và chuyên viên tư vấn sẽ phân
tích, chia sẽ trao đổi vấn đề đó và phản hồi trên diễn đàn trực tuyến hoặc theo
địa chỉ mail của người tư vấn (nếu người tư vấn mong muốn)
2.4.3 Nguyên tắc thực hiện tư vấn tâm lí
Tư vấn là một tiến trình giao tiếp chủ yếu thông qua đối thoại vấn đáp giữa
một bên là người tư vấn và một bên là người được tư vấn về một vấn đề mà
người được tư vấn gặp phải
Trang 30Do đó tư vấn có hiệu quả hay không phụ thuộc rất lớn vào khả năng chấp
hành, vận dụng các nguyên tắc quy định của một quá trình tư vấn do tư vấn
viên đảm nhiệm
Có nhiều nguyên tắc đảm bảo tư vấn có hiệu quả, xong theo Lê Hồng Minh
(2001) thì tóm lược được 5 nguyên tắc cơ bản sau đây:
• Nguyên tắc 1: Tạo niền tin và tin vào khả năng thân chủ (tr 18)
Niềm tin là điều không thể lí giải, nhưng để tạo niềm tin giữa cá nhân
mình và người khác thì trước hết là mình phải tin vào những khả năng vươn
lên, luôn hướng về chân thiện mỹ của con người và những dấu hiệu thân thiện
ở những người vốn cô đơn đều có nhu cầu giao tiếp và cố vươn lên Như vậy
nếu tư vấn viên có những phẩm chất đặc thù thì khả năng gây niềm tin trong
ánh mắt tương giao với thân chủ và tư vấn viên sẽ nhận được ngay mối tương
giao lành mạnh đầy niềm tin giữa hai người
• Nguyên tắc 2: Tôn trọng không phán xét thân chủ (tr 19)
Thân chủ là một người có tính cách cá biệt, vừa phạm lỗi…Nhưng cũng là
con người có nhu cầu cần thân thiện, cần tìm một tương lai phù hợp hoàn cảnh
và đặc điểm tâm sinh lí…Vì vậy tư vấn viên phải tuyệt đối tôn trọng thân chủ,
không phán xét trong giọng điệu, ánh mắt, chấp nhận thân chủ như những gì
thân chủ thể hiện
• Nguyên tắc 3: Trao quyền và hỗ trợ thân chủ tự quyết định (tr 19)
Đây là nguyên tắc tư vấn quan trọng mà nhiều tư vấn viên do nhiệt tình và
đã đưa ra lời khuyên quá sớm về một quyết định Cần có thời gian trao đổi trực
tiếp với thân chủ, xác định mối tương quan giữa kết quả đó với mức độ thỏa
mãn yêu cầu của nghề Kết quả khoa học phải được phân tích kỹ hơn, bảo đảm
không có sự mâu thuẫn giữa các cứ liệu và các mặt đánh giá Tìm ra những dữ
liệu cần thiết để giúp thân chủ suy nghĩ và lựa chọn, tư vấn viên chỉ là người hỗ
trợ thân chủ đi đến một quyết định phù hợp mà thôi
• Nguyên tắc 4: Phát huy nguồn lực của chính bản thân và môi trường (tr 21)
Nguồn lực của thân chủ là khả năng và cả tiềm lực mà thân chủ có thể có
được Những đặc điểm tâm sinh lí tuổi trẻ cũng là một nguồn lực Tính hăng
hái nhiệt tình và những hiểu biết, sự nhận thức về mình, về hoàn cảnh của mình
Trang 31và quyết tâm hành động, quyết chí vào nghề, học tập một nghề cũng là một sức
mạnh Dĩ nhiên có những tiềm lực khó thăm dò được tồn tại trong tiềm thức mà
đôi khi chính thân chủ cũng khó mà cảm nhận được… Đặc biệt nguồn lực từ
môi trường hoàn cảnh gia đình, tiểu sử bản thân, những biến cố trong học tập
gắn liền với việc đi học, quan điểm nề nếp sinh hoạt cũng có những ảnh hưởng
đáng kể, khi chuẩn đoán để định hướng một tương lai
• Nguyên tắc 5: Bảo đảm bí mật tín cẩn, thận trọng, kín đáo, luôn giữ bí mật
những điều đọc được nghe được từ thân chủ, bảo đảm mối tương giao bí nhiệm
chỉ có hai cá nhân cảm nhận được là một nguyên tắc xuyên suốt trong quá trình
tư vấn giữa tư vấn viên và thân chủ, nhất là khi thân chủ là người trẻ tuổi rất dễ
tuyệt vọng khi thấy người mình tin tưởng làm mất niềm tin
2.4.4 Một số khía cạnh đạo đức nghề nghiệp của nhà tư vấn tâm lí
Đạo đức trong tham vấn là thước đo quy định xem hành vi của nhà tư vấn
trong quá trình tư vấn có đúng, có tốt, có làm sai, làm hại đến thân chủ không,
có đảm bảo tính nguyên tắc hay không, chính vì vậy để đảm bảo tính nghề
nghiệp thì nhà tư vấn cần lưu ý đến các vấn đề sau:
Nhà tư vấn luôn ý thức mình là ai, đang làm gì và điều đó ảnh hưởng đến
cuộc đời người khác như thế nào? Và dám chịu trách nhiệm về sức khỏe tinh
thần của thân chủ
Nhà tư vấn chỉ tác nghiệp khi đã được huấn luyện bài bản, có kinh nghiệm
và học hỏi không ngừng về những điều mình đang thực hành, tự học và học với
đồng nghiệp để nâng cao tay nghề
Sẵn sàng và liên tục trong việc nhìn lại mình, tự phê bình mình, nhận ra
những giới hạn của mình, biết những gì mình có thể làm và không nên làm,
không hứa hẹn những gì mà mình không làm được
Không quảng bá liều lĩnh và tự đánh bóng chuyên môn của mình
Nhà tư vấn không gắn mình với các mối quan hệ riêng tư của thân chủ,
việc có quan hệ tình cảm với thân chủ là một vi phạm đạo đức trong tư vấn
(Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia tư vấn tâm lí giáo dục lí luận thực tiễn và
định hướng giáo dục, 2006)
Trang 322.4.5 Vai trò của tư vấn tâm lí học đường
Nhận thấy vai trò và tầm quan trọng của tư vấn trong học đường ngày 28
tháng 10 năm 2005 Bộ giáo Dục đã có công văn số: 9971/BGD&ĐT-HSSV về
việc triển khai công tác tư vấn cho học sinh, sinh viên Trong công văn đã nêu
rõ vai trò của tư vấn tâm lí trong học đường: “Tư vấn tâm lí học sinh, sinh viên
là phương pháp tác động mang tính định hướng giáo dục tới học sinh, sinh viên
đang có những khó khăn tâm lí, tình cảm những bức xúc của lứa tuổi cần được
giải đáp, những vướng mắc trong học tập, sinh hoạt, hướng nghiệp, trong tìm
kiếm việc làm Nhà tư vấn tâm lí sẽ tham vấn và giúp đỡ học sinh, sinh viên lựa
chọn được cách xử lí phù hợp, góp phần ổn định tâm lí, tình cảm”
Theo Hồ Văn Hiếu (2006), nhu cầu tư vấn của học sinh, sinh viên nói riêng
đã đặt ra những vấn đề bức thiết Phần lớn những chuyên ngành ứng dụng tâm
lí học vào tư vấn tâm lí của trường thường đề cập đến những mặt khác của xã
hội như tâm lí sư phạm, tâm lí xã hội, tâm lí pháp luật, tâm lí giáo dục, tâm lí
lâm sàng… Song tư vấn cho học sinh, sinh viên chưa thấy đề cập đến
Vai trò rất quan trọng của hoạt động tư vấn tâm lí thể hiện cụ thể là:
Đối với cá nhân
• Giúp một số người mất cân bằng trong cuộc sống tự biết điều chỉnh, có
thêm sức mạnh để vượt qua khó khăn, những người đang bị khủng hoảng về
mặt tinh thần hiểu rõ hơn về vấn đề họ đang gặp phải và giúp chính bản
thân họ tìm ra hướng giải quyết có hiệu quả
• Giúp bản thân thay đổi một quan niệm, một thói hư tật xấu Giúp họ củng
cố niềm tin và hơn thế nữa giúp họ thay đổi mình theo hướng tích cực hơn
và tìm lại ý nghĩa của cuộc đời
• Kết quả của công tác tư vấn kịp thời và đúng đắn có tác dụng ngăn chặn
những tình huống xấu có thể xảy ra khi con người bị khủng hoảng về mặt
tâm lí
• Đem lại cho các thành viên trong cộng đồng những thông tin để xác lập một
nhận thức mới, thái độ mới, hành vi phù hợp Một giải pháp hữu hiệu sẽ
góp phần cải thiện tình hình, ngăn chặn sự bất hạnh, những việc làm không
Trang 33hay cho những người thiếu quan tâm chia sẽ, thiếu hiểu biết hoặc khủng
hoảng về mặt tâm lí
Đối với học đường:
• Giảm bớt các cảm giác tiêu cực trong hoàn cảnh khó khăn của học sinh
bằng cách lắng nghe, ủng hộ, chấp nhận thái độ của học sinh
• Giúp học sinh tăng thêm sự hiểu biết về bản thân và hoàn cảnh của mình
• Giúp học sinh nhận diện được vấn đề (sàng lọc được nguyện vọng, nhu
cầu), thu nhập thông tin, giúp các em xác định vấn đề, phân mảng và hoạch
định vấn đề ưu tiên cũng như nhận biết tiềm năng và hạn chế của bản thân
• Giúp học sinh đưa ra các quyết định lành mạnh
• Hướng dẫn học sinh thi hành các quyết định của mình: Có kế hoạch thay
đổi hành vi, khuyến khích các em thực hiện các kế hoạch tự đề ra, giúp các
em đánh giá được vấn đề
Điều quan trọng là cán bộ tư vấn tâm lí giúp học sinh hiểu và chấp nhận
thực tế của mình tự tìm lấy tiềm năng bản thân để giải quyết vấn đề của chính
mình chứ không phải theo ý của họ Chuyên viên tư vấn tâm lí giúp cho học
sinh chấp nhận thực tế của mình, khơi gợi được cho các em sức mạnh tiềm tàng
để sự chịu trách nhiệm về các vấn đề của mình trong hiện tại và cả cuộc sống
sau này (http://www.spnttv.edu.vn)
2.5 Tâm lí học sinh THPT
2.5.1 Khái niệm tuổi thanh niên
Lứa tuổi học sinh THPT (còn gọi là lứa tuổi đầu thanh niên) là lứa tuổi
bao gồm các em từ khoảng 15, 16 tuổi, đến 17, 18 tuổi, phần lớn đang học
trường THPT, từ lớp 10 đến lớp 12 Đây là lứa tuổi có nhiều nét khác biệt Ta
thường gọi tắt là lứa tuổi thanh niên học sinh (Bùi Ngọc Oánh, 1996)
Sự bắt đầu trưởng thành của con người như một cá thể (sự trưởng thành
về chất), một nhân cách (sự trưởng thành công dân), một chủ thể nhận thức (sự
trưởng thành trí tuệ) và một chủ thể lao động (năng lực lao động) là không
trùng hợp nhau về thời gian (B.D Annanhiev, 1968)
Do gia tốc phát triển mà các giới hạn của tuổi thiếu niên được hạ thấp
Trang 34thanh niên cũng bắt đầu sớm hơn… Nhưng nội dung cụ thể của thời kỳ phát
triển này được quyết định không đơn giản bởi tuổi, mà trước hết bởi điều kiện
xã hội Thời gian con người chưa lao động và học tập là chủ yếu càng kéo dài
thì sự trưởng thành thực sự về mặt xã hội càng đến chậm Do đó mà có sự kéo
dài của tuổi thanh niên và tính không xác định của các giới hạn lứa tuổi Đối
với đa số thanh niên thì tuổi thanh niên là thời kỳ từ 14, 15 đến tuổi 25 Trong
đó chia làm hai thời kỳ:
Từ 14, 15 – 17, 18 tuổi: giai đoạn đầu tuổi thanh niên (còn gọi là thanh
niên mới lớn, thanh niên học sinh)
Từ 17, 18 – 25 tuổi: giai đoạn hai của tuổi thanh niên (Lê Văn Hồng,
2002)
Qua đó ta thấy lứa tuổi thanh niên được xác định trong độ tuổi khoảng từ
14, 15 đến 17, 18 Đây là giai đoạn bắt đầu từ lúc dậy thì và kết thúc khi bước
vào tuổi người lớn, là thời kỳ đặc biệt quan trọng đối với cuộc đời con người
Đây là thời kì kết thúc căn bản cả một quá trình phát triển lâu dài của đứa trẻ về
sinh lí cũng như tâm lí Đây là thời kỳ phát triển cân đối, hài hòa, đẹp đẽ của
con người, là thời kỳ mà năng lực trí tuệ, thế giới quan và toàn bộ nhân cách
của con người biến đổi lớn về lượng làm cho các em sẵn sàng và có đủ khả
năng để trưởng thành, để bước vào đời Xét dưới góc độ của tâm lí học lứa tuổi
và tâm lí học sư phạm thì hoàn toàn có thể gọi giai đoạn này là lứa tuổi học
sinh THPT
2.5.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lí
2.5.2.1 Đặc điểm về thể chất
Theo Bùi Ngọc Oánh (1996), cho rằng đặc điểm cơ bản của tuổi thanh
niên học sinh về thể chất là cơ thể của các em đã trãi qua thời kỳ phát triển
nhiều biến động, căng thẳng mất cân đối để bước vào thời kỳ phát triển bình
thường, cân đối và hài hòa Cơ thể của các em đã đạt tới mức phát triển của
người trưởng thành Ở lứa tuổi này, quá trình phát triển đã hoàn thành về căn
bản, các bộ phận, các cơ quan cơ thể, cũng như chức năng của nó dần dần trở
nên cân đối, hoàn thiện Trong điều kiện bình thường ở cuối tuổi này, con
người bước vào giai đoạn có thân hình đẹp nhất, cân đối và khỏe nhất đời
Trang 35người Giới tính của các em đã biểu hiện rõ ràng cả về thể hình bề ngoài lẫn về
chức năng của nó Tuy nhiên ở một số em có thể chất phát triển chậm hơn, có
thể vẫn còn gầy ốm, bé nhỏ như tuổi thiếu niên
Tuổi đầu thanh niên là thời kỳ đạt được sự trưởng thành về mặt thể lực,
nhưng sự phát triển còn kém so với sự phát triển của người lớn Tuổi thanh
niên bắt đầu thời kỳ phát triển tương đối êm ả về mặt sinh lí (Lê Văn Hồng,
2002)
2.5.2 2 Giới tính – sức khỏe sinh sản
Lứa tuổi học sinh THPT là lứa tuổi hoàn thiện các chức năng sinh dục các
em thường quan tâm đến mối quan hệ của bạn khác giới, các thay đổi của cơ
thể như vấn đề sinh sản, kinh nguyệt, trinh tiết, mộng tinh, tình dục,… Nhưng
lại rất ít thông tin về vấn đề này (Lê Văn Hồng, 2002)
Vì vậy các em cần sự giúp đỡ của giáo viên, phụ huynh, nhà tư vấn tâm lí
nhằm tư vấn những thông tin cần thiết về giới để các em có cái nhìn đúng đắn
về sức khỏe sinh sản Từ đó các em có thể tự lí giải được những thay đổi của
bản thân và bảo vệ mình trước các quan hệ khác giới, nhất là sống trong thời
đại thông tin bùng nổ như hiện nay
Tình yêu và đời sống tình cảm của học sinh THPT có quan hệ mật thiết
với đời sống tâm lí của các em, những quan hệ này đưa các em đến vấn đề về
đạo đức, trách nhiệm, kỹ luật và thông thường học sinh rất bối rối, đôi khi bế
tắc, sai lầm trong giải quyết vấn đề, xử lí các tình huống trong quan hệ khác
giới Thực tế cho thấy 1/3 trẻ vị thành niên quan hệ tình dục trước hôn nhân
Nhưng các em lại thiếu hiểu biết về quan hệ tình dục an toàn và cách bảo vệ
sức khỏe của mình (www.giaoducgioitinh.org.vn)
Do đó phụ huynh cần phải quan tâm, thông cảm và hướng dẫn các em có
cái nhìn đúng đắn trong quan hệ bạn bè khác giới, không nên cấm đoán, can
thiệp thô bạo hay bỏ mặc các em
2.5.3 Hoạt động học tập và lựa chọn nghề nghiệp của học sinh THPT
2.5.3.1 Hoạt động học tập
Hoạt động học tập là hoạt động được điều khiển một cách có ý thức nhằm
Trang 36Nội dung và tính chất của hoạt động học tập ở thanh niên học sinh khác
hơn nhiều so với hoạt động học tập ở thiếu niên Sự khác nhau cơ bản không
phải ở chổ nội dung học tập ngày một sâu hơn mà là hoạt động học tập của
thanh niên đòi hỏi tính năng động và tính độc lập ở mức độ cao, đồng thời cũng
đòi hỏi muốn nắm bắt được chương trình một cách sâu sắc thì cần phát triển tư
duy lí luận ở các em (Lê Văn Hồng, 2002)
Thái độ của thanh niên đối với từng môn học trở nên có lựa chọn hơn Ở
các em đã hình thành những hứng thú học tập gắn liền với khuynh hướng nghề
nghiệp Cuối bậc THPT các em đã xác định được hứng thú ổn định đối với một
môn học nào đó, đối với một lĩnh vực tri thức nhất định (Nguyễn Quang Uẩn,
2003)
Do đó, muốn hình thành động cơ học tập ở học sinh thì nhà giáo dục cần
phải khơi gợi ở các em nhu cầu nhận thức, nhu cầu chiếm lĩnh đối tượng học
tập, đó chính là yếu tố kích thích tính tích cực của hoạt động học tập ở các em
2.5.3.2 Hoạt động lựa chọn nghề nghiệp
Điều quan trọng là việc lựa chọn nghề nghiệp đã trở thành công việc của
học sinh Càng cuối cấp học thì sự lựa chọn càng nổi bật Các em hiểu rằng
cuộc sống tương lai phụ thuộc vào chổ mình có lựa chọn nghề nghiệp một cách
đúng đắn hay không Việc quyết định một nghề nào đó có nhiều em đã có căn
cứ Nhiều em biết so sánh đặc điểm riêng về thể chất, tâm lí, khả năng của
mình với yêu cầu nghề nghiệp, dù sự hiểu biết của các em về yêu cầu nghề
nghiệp là chưa đầy đủ
Hiện nay học sinh THPT còn định hướng một cách phiến diện vào việc
học tập ở đại học Đại đa số các em hướng dần vào các trường đại học (hơn là
học nghề) Tâm thế chuẩn bị bước vào đại học như thế sẽ có ảnh hưởng tiêu
cực đối với các em, nếu dự định của các em không được thực hiện Điều đó
cũng cho thấy các em (hoặc vô tình, hoặc cố ý) không chú ý đến yêu cầu của xã
hội đối với ngành nghề khác nhau và mức độ đào tạo của các nghề trong khi
quyết định đường đời Những điều đó phần lớn là do công tác hướng nghiệp
của nhà trường và đoàn thể còn thiếu sót (Lê Văn Hồng, 2002)
Trang 37Do đặc điểm thể chất đã phát triển, do vai trò vị trí của các em đối với
gia đình, xã hội khá lớn và do nhiều đặc điểm tâm lí khác (nhận thức, tình cảm,
xu hướng, lí tưởng) ở thanh niên học sinh xuất hiện một nét tâm lí đặc biệt là
xu hướng nghề nghiệp rõ ràng, cấp bách hơn, ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống
của các em, các em luôn băn khoăn suy nghĩ “mình sẽ làm nghề gì”, “mình sẽ
trở thành người như thế nào”
Ở lứa tuổi học sinh THPT một số em đã có thiên hướng, hứng thú chủ
đạo, có kế hoạch sống cho tương lai Song do nhiều nguyên nhân chủ quan và
khách quan việc xác định xu hướng nghề nghiệp đối với các em thường gặp
nhiều khó khăn Các em thường băn khoăn không biết lựa chọn nghề nào, thậm
chí các em không biết có những nghề nào để chọn, và sự am hiểu nhất định về
nghề ngày càng ít hơn Có nhiều em thực sự chưa biết lựa chọn nghề gì cả Ở
những em đã có sự lựa chọn nào đó thường lại không giải thích được động cơ
lựa chọn của mình một cách đúng đắn Nhất là sự chuẩn bị cho nghề mình đã
chọn lại càng ít hơn Có nhiều học sinh chọn một nghề nào đó, nhưng không hề
hiểu biết về nghề ấy, hoặc chỉ hiểu bề ngoài hình thức Một đặc điểm rất phổ
biến nữa là các em thường không tính đến việc không đối chiếu với đặc điểm
cá nhân của mình với yêu cầu nghề nghiệp đề ra xem có phù hợp hay không
Có nhiều em có thái độ nông nỗi, quá dễ dãi trong việc chọn nghề Có những
học sinh quá chặt chẽ, khó tính trong việc lựa chọn, đến cuối cùng chẳng biết
chọn nghề nào
Do những đặc điểm tâm lí của thanh niên học sinh trong việc chọn nghề,
do bản chất của việc chọn nghề rất phước tạp, quan trọng và khó khăn Nên
việc hướng dẫn, định hướng nghề nghiệp cho các em phải là một vấn đề quan
trọng trong công tác giáo dục, giảng dạy ở nhà trường THPT (Bùi Ngọc Oánh,
1996)
2.5.4 Đặc điểm nhân cách ở lứa tuổi THPT
2.5.4.1 Sự phát triển của tự ý thức, tự đánh giá
Theo Phan Thị Mai Hương (2007), tự ý thức đã được phát triển là một
trong những đặc điểm nhân cách nổi bật ở lứa tuổi này Các em không những
Trang 38còn biết xem xét chính bản thân mình, cũng như mối quan hệ giữa bản thân và
môi trường một cách toàn diện Các em đã ý thức được mình là một nhân cách
độc lập, có quyền được tin cậy, được tôn trọng như những người lớn
Theo Lê Văn Hồng (2002), cho rằng sự phát triển tự ý thức là một đặc
điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cách của thanh niên mới lớn, nó có ý
nghĩa to lớn đối với sự phát triển tâm lí của lứa tuổi thanh niên
Quá trình tự ý thức rất phong phú, phước tạp và có một số đặc điểm cơ
bản sau:
- Từ tuổi thiếu niên, các em đã bắt đầu tri giác những đặc điểm cơ thể của
mình một cách hoàn toàn mới và đến tuổi thanh niên các em vẫn tiếp tục chú ý
đến hình dáng bên ngoài của mình như vậy (hay soi gương, chú ý sửa tư thế,
quần áo hơn,…) Hình ảnh về thân thế là một thành tố quan trọng của sự tự ý
thức ở thanh niên mới lớn
- Sự hình thành tự ý thức ở lứa tuổi thanh niên là một quá trình lâu dài,
trải qua những mức độ khác nhau Ở tuổi thanh niên quá trình phát triển tự ý
thức diễn ra mạnh mẽ, sôi nổi và có tính chất đặc thù riêng: Thanh niên có nhu
cầu tìm hiểu và đánh giá những đặc điểm tâm lí của mình theo quan điểm về
mục đích cuộc sống và hoài bão của mình Chính điều này khiến các em quan
tâm sâu sắc tới đời sống tâm lí, phẩm chất nhân cách và năng lực riêng
- Đặc điểm quan trọng trong sự tự ý thức của thanh niên là sự tự ý thức
của họ xuất phát từ yêu cầu của cuộc sống và hoạt động - địa vị mới mẽ trong
tập thể, những quan hệ mới với thế giới xung quanh buộc thanh niên mới lớn
phải ý thức được những đặc điểm nhân cách của mình Các em hay ghi nhật kí,
so sánh mình với nhân vật mà họ coi là tấm gương (thanh niên thường chú ý
đối chiếu mình với động cơ và rụng động của họ nhiều hơn là cử chỉ, hành vi
của họ như ở thiếu niên)
- Nội dung của tự ý thức cũng khá phước tạp Các em không chỉ nhận
thức về cái tôi của mình trong hiện tại như thiếu niên, mà còn nhận thức vị trí
của mình trong xã hội, trong tương lai (tôi cần trở thành người như thế nào, cần
làm gì để tốt hơn…)
Trang 39- Học sinh THPT có thể hiểu rõ mình ở những phẩm chất nhân cách bộc
lộ rõ (lòng yêu lao động, tính cần cù, dũng cảm…) Học sinh THPT còn có thể
hiểu rõ những phẩm chất phước tạp, biểu hiện những quan hệ nhiều mặt của
nhân cách (tinh thần trách nhiệm, lòng tự trọng, tình cảm, nghĩa vụ…)
- Học sinh THPT không chỉ có nhu cầu đánh giá, mà còn có khả năng
đánh giá sâu sắc và tốt hơn thiếu niên về những phẩm chất, mặt mạnh, mặt yếu
của những người xung quanh và của chính mình Những nhận thức người khác
cũng đỡ khó khăn hơn là nhận thức bản thân Tự đánh giá bản thân không phải
là dễ dàng Thanh niên mới lớn thường có xu hướng cường điệu trong khi tự
đánh giá Hoặc là các em đánh giá thấp cái tích cực; hoặc là đánh giá quá cao
nhân cách mình - tỏ ra tự cao, coi thường người khác
Chúng ta phải thừa nhận là thanh niên mới lớn có thể có sai lầm khi tự
đánh giá Nhưng vấn đề cơ bản là việc tự phân tích có mục đích là một dấu
hiệu cần thiết của một nhân cách đang trưởng thành và là tiền đề của sự tự giáo
dục có mục đích Do vậy, khi sự tự đánh giá đã được suy nghĩ thận trọng, thì dù
có sai lầm chúng ta cũng cần có thái độ nghiên túc khi nghe các em phát biểu,
không được chế diễu ý kiến tự đánh giá của họ Cần phải giúp đỡ thanh niên
một cách khéo léo để họ hình thành được một biểu tượng khách quan về nhân
cách của mình
2.5.4.2 Sự hình thành thế giới quan
Tuổi thanh niên mới lớn là lứa tuổi quyết định thế giới quan, hệ thống
quan điểm về xã hội, về tự nhiên, về các nguyên tắc và quy tắc cư xử… Sự
hình thành thế giới quan là nét chủ yếu trong sự phát triển tâm lí của thanh niên
học sinh (Lê Văn Hồng, 2002)
Sự hình thành thế giới quan là nét chủ yếu trong sự phát triển tâm lí của
thanh niên học sinh
Việc hình thành thế giới quan không chỉ giới hạn ở tính tích cực nhận
thức mà còn thể hiện ở phạm vi nội dung nữa Học sinh mới lớn quan tâm
nhiều nhất đến các vấn đề có liên quan đến con người, vai trò con người trong
lịch sử, quan hệ giữa con người và xã hội, giữa nghĩa vụ và quyền lợi, nghĩa vụ
Trang 40của thanh niên mới lớn Họ thường đặt câu hỏi cuộc sống của mình có ý nghĩa
xã hội thứ thế nào? Tất nhiên việc trả lời câu hỏi này không đơn giản Nội dung
cụ thể của câu hỏi do đạo đức xã hội, định hướng giá trị cá nhân học sinh quyết
định, nó cũng còn do hệ thống tri thức của học sinh về đời sống nói chung, về
kinh tế nói riêng quyết định
Tuy vậy một bộ phận thanh niên chưa được giáo dục đầy đủ về thế giới
quan Thế giới quan của họ còn chịu ảnh hưởng của tàn dư tiêu cực của quá
khứ (say mê những sản phẩm “nghệ thuật” không lành mạnh, đánh giá quá cao
cuộc sống hưởng thụ,…) Hoặc một bộ phận khác chú ý đến vấn đề thế giới
quan, sống thụ động (Bùi Ngọc Oánh,1996)
Trần Thị Tuyết Oanh (2007), cho rằng trong điều kiện của nền kinh tế vận
hành theo cơ chế thị trường, bên cạnh những mặt tích cực vẫn còn không ít tác
động tự phát tiêu cực ảnh hưởng xấu đến quá trình hình thành, phát triển thế
giới quan của thế hệ trẻ Lứa tuổi THPT là lứa tuổi rất sôi nổi, ham thích hoạt
động, nhiều mơ ước Do đó, nhà trường, các bậc phụ huynh, các đoàn thể cần
quan tâm đúng mức, giúp đỡ các em có định hướng đúng đắn phù hợp với các
lĩnh vực như chọn nghề, quan điểm tình yêu, hôn nhân gia đình và nghĩa vụ đối
với xã hội của một người công dân chính chắn
2.5.4 3 Hoạt động giao tiếp
Giao tiếp với người lớn
Ở tuổi thanh niên thì quan hệ giao tiếp với những người lớn tuổi hoặc ít
tuổi hơn chỉ chiếm một vị trí nhỏ bé Điều này chứng tỏ các em khao khát
muốn có những quan hệ bình đẳng trong cuộc sống Cùng với sự trưởng thành
về nhiều mặt, lòng khao khát này cũng thể hiện trong quan hệ của thanh niên
đối với cha mẹ, quan hệ phụ thuộc dựa dẫm vào cha mẹ dần dần được thay
bằng quan hệ bình đẳng, tự lập Các em cũng thể hiện nhu cầu, thái độ khác
nhau trong quan hệ với người lớn (Phạm Minh Hạc và ctv, 1988)
Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy thanh niên định hướng vào bạn
bè cùng tuổi nhiều hơn, rõ rệt hơn so với định hướng vào cha mẹ Nhưng khi
nói đến giá trị đạo đức, thì ảnh hưởng của cha mẹ mạnh hơn và trong trường
hợp có sự va chạm, thì ảnh hưởng của bạn bè được xem xét lại