1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THIẾT KẾ VÀ THỬ NGHIỆM MỘT SỐ BÀI GIẢNG MÔN CÔNG NGHỆ 10 SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BẰNG TRÒ CHƠI Ở TRƯỜNG THPT VÕ THỊ SÁU, QUẬN BÌNH THẠNH, TP.HCM

123 208 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 5,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ MÔN SƯ PHẠM KỸ THUẬT THIẾT KẾ VÀ THỬ NGHIỆM MỘT SỐ BÀI GIẢNG MÔN CÔNG NGHỆ 10 SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BẰNG TRÒ CHƠI Ở TRƯỜNG THPT VÕ THỊ SÁU, QUẬN BÌNH THẠNH, TP.HCM Tác giả LƯƠ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HCM

BỘ MÔN SƯ PHẠM KỸ THUẬT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

THIẾT KẾ VÀ THỬ NGHIỆM MỘT SỐ BÀI GIẢNG MÔN CÔNG NGHỆ 10 SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BẰNG TRÒ CHƠI Ở TRƯỜNG THPT

VÕ THỊ SÁU, QUẬN BÌNH THẠNH, TP.HCM

GVHD: ThS PHẠM QUỲNH TRANG SVTH: LƯƠNG THỊ PHẤN

Ngành: Sư phạm kỹ thuật Nông nghiệp Niên khóa: 2007 – 2011

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Trang 2

BỘ MÔN SƯ PHẠM KỸ THUẬT

THIẾT KẾ VÀ THỬ NGHIỆM MỘT SỐ BÀI GIẢNG MÔN CÔNG NGHỆ 10 SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BẰNG TRÒ CHƠI Ở TRƯỜNG THPT

VÕ THỊ SÁU, QUẬN BÌNH THẠNH, TP.HCM

Tác giả

LƯƠNG THỊ PHẤN

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Cử nhân ngành

SƯ PHẠM KỸ THUẬT NÔNG NGHIỆP

Giáo viên hướng dẫn Ths.Phạm Quỳnh Trang

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Con xin gửi lời tri ân sâu sắc đến cha mẹ và tất cả người thân trong gia đình Cha mẹ và mọi người luôn chăm sóc, lo lắng cho con, đã động viên, ủng hộ, tạo điều kiện tốt nhất cho con trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến:

ThS Phạm Quỳnh Trang, Bộ môn Sư phạm kỹ thuật, khoa Ngoại ngữ - Sư phạm, trường ĐH Nông lâm Tp HCM đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Quý thầy cô trường ĐH Nông lâm Tp.HCM đã dạy dỗ và truyền đạt những kiến thức quý báu cho em trong những năm học vừa qua

Quý thầy cô Bộ môn Sư phạm sư phạm kỹ thuật, khoa Ngoại ngữ - Sư phạm

đã kịp thời hỗ trợ, tận tâm giảng dạy, hướng dẫn cho em

Xin cảm ơn quý thầy cô trường THPT Võ Thị Sáu, đặc biệt là cô Vương Thị Bạch Tuyết đã tạo điều kiện thuận lợi và chỉ bảo tận tình để em có thể hoàn thành thực tập và thử nghiệm đề tài

Cảm ơn những người bạn đã luôn sát cánh sẻ chia, động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Người nghiên cứu

Trang 4

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đề tài “Thiết kế và thử nghiệm một số bài giảng môn Công nghệ 10 sử dụng

phương pháp dạy học bằng trò chơi ở trường THPT Võ Thị Sáu, quận Bình Thạnh, Tp.HCM” được thực hiện từ tháng 09/2010 đến tháng 05/2011 đạt được kết quả như

sau:

1 Nội dung chính

- Nghiên cứu tài liệu có liên quan đến PPDH bằng trò chơi

- Thiết kế được 6 bài trong sách giáo khoa Công nghệ 10 sử dụng PPDH bằng trò chơi

- Tiến hành dạy thử nghiệm (có đối chứng) 2 trong số các giáo án đã soạn + Bài 22: Quy luật sinh trưởng, phát dục của vật nuôi

+ Bài 29: Sản xuất thức ăn cho vật nuôi

- Dạy thử nghiệm ở 2 lớp 10A2 và 10A3, trường THPT Võ Thị Sáu

- Thực hiện đánh giá hiệu quả giảng dạy qua các kênh đánh giá:

+ Quan sát bằng mắt, nhận xét lớp học

+ Quay video, thực hiện ở cả lớp thực nghiệm và lớp đối chứng

+ Bài kiểm tra cuối giờ học

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác giảng dạy các PPDH tích cực, trong đó có PPDH bằng trò chơi

2 Kết quả đạt được

- Quá trình dạy thử nghiệm tại trường THPT Võ Thị Sáu cho thấy dạy học bằng trò chơi có một số ưu điểm: Đa số HS thích học môn Công nghệ 10 với PPDH bằng trò chơi Bởi lẽ các em đều cho đây là môn học phụ, không cần phải đầu tư nhiều Lê Phước Lộc (2002) đã đúc kết và đưa ra 5 định hướng cho việc tổ chức giảng dạy để HS vừa nắm vững tri thức đồng thời phát triển tư duy thông qua việc

hoạt động dạy học, trong đó định hướng đầu tiên là “Tạo bầu không khí học tập tích

cực” Do vậy, tạo tâm lý thoải mái, vui vẻ cho các em khi học môn Công nghệ sẽ

thu hút được nhiều HS tham gia Chính vì vậy, kết quả của các bài kiểm tra cuối tiết học khá cao

Trang 5

- Ngoài ra, sử dụng PPDH bằng trò chơi trong giảng dạy môn Công nghệ 10 cũng có khả năng phát triển tư duy cho HS, đồng thời cũng kích thích tính tích cực, sáng tạo cho HS

- Tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế như: Một số HS vốn thụ động sẽ không hào hứng tham gia vào trò chơi, các em ngại đứng trước lớp Hơn nữa, khi tổ chức trò chơi trong lớp học, người GV khó quản lý lớp học ổn định, trật tự

- Để nâng cao hiệu quả học tập cho HS, GV cần phải đổi mới PPDH, áp dụng kết hợp nhiều PPDH tích cực trong bài giảng Trong đó, dạy học bằng trò chơi là một hướng đi mới, thể hiện nhiều mặt tích cực Do vậy, về phía nhà trường THPT nên đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện dạy học để có thể tạo điều kiện cho GV sử dụng PPDH bằng trò chơi, không chỉ ở môn Công nghệ 10 mà còn phổ biến rộng rãi cho nhiều môn học khác Ngoài ra, bản thân người GV cũng cần trau dồi cho mình kiến thức chuyên môn và rèn luyện kỹ năng tổ chức trò chơi cho HS

để làm phong phú hơn nữa giờ học môn Công nghệ 10

Trang 6

MỤC LỤC

Lời cảm ơn i

Tóm tắt kết quả nghiên cứu ii

Danh sách các bảng iv

Danh mục các từ viết tắt v

Chương 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Vấn đề nghiên cứu 3

1.3 Mục đích nghiên cứu 3

1.4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4.2 Khách thể nghiên cứu 3

1.5 Câu hỏi nghiên cứu 4

1.6 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

1.7 Phạm vi nghiên cứu 4

1.8 Giá trị thực tiễn, tính mới mẻ và hướng phát triển của đề tài 4

1.8.1 Giá trị thực tiễn của đề tài 4

1.8.2 Tính mới mẻ của đề tài 5

1.8.3 Hướng phát triển của đề tài 5

1.9 Phương pháp nghiên cứu 5

1.10 Cấu trúc luận văn 6

1.11 Kế hoạch nghiên cứu 7

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 8

2.1 Lược sử vấn đề nghiên cứu 8

2.2 Định nghĩa về phương pháp dạy học 10

2.2.1 Khái niệm 10

2.2.2 Phân loại phương pháp dạy học 11

2.3 Quan điểm lấy người học làm trung tâm 12

Trang 7

2.4 Phương pháp dạy học bằng trò chơi 13

2.4.1 Khái niệm 13

2.4.2 Vai trò của trò chơi trong dạy học 14

2.4.2.1 Trò chơi học tập kích thích hứng thú nhận thức 14

2.4.2.2 Trò chơi học tập hình thành năng lực trí tuệ 15

2.4.2.3 Trò chơi học tập thực hiện chức năng hoạt động luyện tập thực hành 15

2.4.2.4 Trò chơi học tập giúp hình thành đức tính trung thực, có kỷ luật, tính độc lập, tự chủ, có ý thức cao 16

2.4.3 Ưu và nhược điểm của trò chơi học tập 16

2.4.3.1 Ưu điểm 16

2.4.3.2 Nhược điểm 17

2.5 Quy trình tổ chức trò chơi 17

2.6 Một số lưu ý khi dạy học bằng trò chơi 17

2.7 Một số trò chơi có thể sử dụng trong môn Công nghệ 10 18

2.7.1 Trò chơi “Ô chữ” 18

2.7.2 Trò chơi “Hiểu nhau” 19

2.7.3 Trò chơi “Tiếp sức” 23

2.7.4 Trò chơi “Nhà kinh doanh tài ba” 24

2.8 Đặc điểm của học sinh THPT 25

2.8.1 Đặc điểm học tập 25

2.8.2 Đặc điểm của sự phát triển trí tuệ 26

2.9 Tổng quan môn Công nghệ 10 ở trường THPT hiện nay 29

2.9.1 Vai trò, nhiệm vụ của môn Công nghệ 10 29

2.9.1.1 Vai trò của môn Công nghệ 10 29

2.9.1.2 Nhiệm vụ của môn Công nghệ 10 30

2.9.2 Mục tiêu của môn Công nghệ 10 ở trường THPT 32

2.9.3 Nội dung môn Công nghệ 10 33

Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34

Trang 8

3.2 Phương pháp thực nghiệm 34

3.2.1 Đối tượng và cách chọn đối tượng để thử nghiệm 34

3.2.2 Phạm vi, thời gian 35

3.2.3 Cách tổ chức giảng dạy bằng PPDH sử dụng trò chơi 35

3.3 Phương pháp quan sát 36

3.3.1 Cách chọn bài thu hình 36

3.3.2 Quay video 37

3.4 Phương pháp phân tích dữ liệu 38

3.4.1 Phương pháp phân tích định lượng 38

3.4.2 Phương pháp phân tích định tính 38

Chương 4: KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH 39

4.1 Mô tả các trò chơi sử dụng trong bài giảng 39

4.1.1 Trò chơi “Ô chữ” 39

4.1.2 Trò chơi “Hiểu nhau” 40

4.2 Kết quả thu thập được từ bài kiểm tra kết thúc bài học 42

4.2.1 Tỷ lệ HS trả lời đúng câu hỏi theo thang bậc đánh giá của Bloom 43

4.2.2 Tỷ lệ điểm kiểm tra xếp loại HS 45

Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48

5.1 Thiết kế bài giảng sử dụng PPDH bằng trò chơi 48

5.2 Hiệu quả của PPDH bằng trò chơi 49

5.2.1 Mức độ hứng thú của học sinh 49

5.2.2 Khả năng tiếp thu bài học 51

5.2.3 Phát huy khả năng tư duy sáng tạo 52

5.2.4 Phát huy tính tích cực, tự giác 53

5.3 Thuận lợi và khó khăn khi thực hiện đề tài 54

5.3.1 Thuận lợi 54

5.3.2 Khó khăn 54

5.4 Kiến nghị 55

5.4.1 Đối với trường THPT 55

5.4.2 Đối với giáo viên 55

Trang 9

5.5 Hướng phát triển của đề tài 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57 PHỤ LỤC

Trang 10

DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU

Tên bảng Trang

Bảng 2.1: Phân loại các PPDH 11

Bảng 3.1: Bố trí bài dạy thử nghiệm 35

Bảng 3.2: Bố trí thời gian thực nghiệm 35

Bảng 4.1: Kiểm tra kết thúc bài học 42

Bảng 4.2: Mức độ câu hỏi theo thang đánh giá của Bloom 42

Bảng 4.3: Tỷ lệ HS trả lời đúng câu hỏi ở mức độ biết (Bài 22) 43

Bảng 4.4: Tỷ lệ HS trả lời đúng câu hỏi ở mức độ hiểu (Bài 22) 43

Bảng 4.5: Tỷ lệ HS trả lời đúng câu hỏi ở mức độ vận dụng (Bài 22) 43

Bảng 4.6: Tỷ lệ HS trả lời đúng câu hỏi ở mức độ biết (Bài 29) 44

Bảng 4.7: Tỷ lệ HS trả lời đúng câu hỏi ở mức độ hiểu (Bài 29) 44

Bảng 4.8: Tỷ lệ HS trả lời đúng câu hỏi ở mức độ vận dụng (Bài 29)…… 45

Bảng 4.9: Tỷ lệ điểm kiểm tra bài 22 46

Bảng 4.10: Tỷ lệ điểm kiểm tra bài 29 47

Trang 12

Chương 1 GIỚI THIỆU

1.1 Lý do chọn đề tài

Trong một hệ thống giáo dục, phương pháp học tập phù hợp với nội dung và được quyết định bởi mục tiêu và triết lý học tập Báo cáo về giáo dục thế kỷ 21 được đưa ra bởi UNESCO, Tổ chức giáo dục khoa học và văn hóa của Liên hiệp quốc, đã đưa ra một nhận định và trở thành kim chỉ nam cho giáo dục toàn cầu, đó

là “Học để biết, học để làm việc, học để chung sống và học để hoàn thiện nhân

cách” Thực tiễn nền giáo dục nước ta chưa đáp ứng được 4 mục tiêu đó Giáo dục

phổ thông Việt Nam mới nhấn mạnh đến “học để biết” và ít nhiều “học để hoàn thiện nhân cách” Hạn chế đó cùng với đặc thù của văn hóa phong kiến phương Đông dẫn đến một lối học thụ động theo kiểu học thuộc lòng những điều định sẵn từ sách vở, được truyền giảng bởi người thầy

Trước đây, nền giáo dục của nước ta chỉ chú ý đến việc cung cấp cho người học về khối lượng kiến thức nên dễ dẫn đến cách dạy và học nhồi nhét, thụ động, ít quan tâm đến cảm nhận, suy nghĩ, không bồi dưỡng được năng lực độc lập, chủ động sáng tạo, biết tìm tòi những tri thức mới của người học Đó là những năng lực cần thiết trong một nền kinh tế trí thức và xã hội trí thức

Trong những năm gần đây, cùng với xu hướng phát triển của thời đại về lĩnh vực khoa học công nghệ, bùng nổ về thông tin, nền giáo dục nước ta cũng đã có những bước phát triển mới, những biến đổi về nội dung và phương pháp Để đáp ứng nguồn nhân lực có đủ khả năng phục vụ cho xã hội, phát triển tương lai, việc đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) là một trong những yêu cầu cấp thiết hiện nay PPDH tích cực, lấy người học làm trung tâm là một trong những mục tiêu được nhiều nhà giáo dục nghiên cứu

Theo Võ Thị Kim Liên (2006), sự công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước (2000 – 2020) đang cần những con người toàn diện về nhân cách Điều này đồng

nghĩa với việc đặt ra cho ngành giáo dục nước ta một dấu hỏi lớn: “Phải làm gì để

nâng cao chất lượng đào tạo?” Điều 35 Hiến pháp Việt Nam (1992) có quy định:

Trang 13

“Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu” Nâng cao chất lượng giáo dục là

nhiệm vụ trọng tâm mà Đảng và Nhà nước ta đề ra trong những năm gần đây Định hướng đổi mới phương pháp dạy học đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (01/1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12/1996), được thể chế hóa trong Luật Giáo dục (12/1998), được cụ thể hóa trong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và đào tạo, đặc biệt là chỉ thị số 15 (04/1999) Luật Giáo dục, điều 24.2 đã

đề nghị: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ

động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”

Đổi mới PPDH là “Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh

trên cơ sở khai thác triệt để các đặc điểm tâm sinh lý của học sinh” Một trong

những biện pháp chủ yếu để đạt được mục đích trên là gây cho học sinh hứng thú học tập, tạo niềm tin, niềm vui bằng cách lôi cuốn các em vào những trò chơi hấp dẫn, phù hợp với trình độ nhận thức, đặc điểm lứa tuổi của các em

Có thể nói cốt lõi của việc đổi mới PPDH là hướng tới hoạt động học tập chủ động, thay đổi thói quen học tập thụ động Nhân tố quyết định sự thành công trong việc đổi mới PPDH đó chính là đội ngũ giáo viên Bởi vì PPDH của người GV là một yếu tố rất quan trọng, nó quyết định sự thành công của môn học PPDH là một trong những yếu tố quan trọng nhất của quá trình dạy học Cùng một nội dung dạy học nhưng HS học tập có hứng thú, tích cực hay không phần lớn phụ thuộc vào phương pháp của người thầy (Thái Duy Tuyên, 1999) Theo Nguyễn Gia Cầu (2008), một phương pháp dù tốt đến đâu, nếu người GV không nắm vững bản chất, thì mọi hoạt động chỉ mang tính hình thức Để làm được điều này thì người giáo viên phải có PPDH đúng, hay và độc đáo nhằm hướng học sinh vào nội dung bài giảng, làm cho học sinh thật sự bị lôi cuốn, tiếp thu bằng tất cả trí tuệ và tình cảm của mình Thế nhưng để làm được điều đó thật không đơn giản, đòi hỏi người giáo viên không những phải có kiến thức vững vàng, có lòng yêu nghề mà còn phải biết tìm tòi, sáng tạo không ngừng Giáo viên phải vận dụng một cách sáng tạo các

Trang 14

của học sinh; từng bước áp dụng những thành tựu của khoa học kỹ thuật vào hoạt động dạy và học

Mặt khác, thực tế ở hầu hết các trường THPT, học sinh vẫn còn học một cách thụ động, mang tính đối phó với môn Công nghệ 10, bởi ý nghĩ đây chỉ là một môn học phụ Ngoài ra, phương pháp giảng dạy của GV không thu hút được học sinh, PPDH theo truyền thống “thầy đọc – trò chép” đã không còn phát huy được tác dụng, dễ dẫn đến nhàm chán Thiết nghĩ tích cực hóa phương pháp giảng dạy là con đường đúng đắn để thay đổi cách nghĩ, cách học của học sinh Điều này phụ thuộc vào sự khéo léo của người giáo viên trong việc lựa chọn phương pháp giảng dạy

cho phù hợp Chính vì vậy, đề tài “Thiết kế và thử nghiệm một số bài giảng môn

Công nghệ 10 sử dụng phương pháp dạy học bằng trò chơi ở trường THPT Võ Thị Sáu, quận Bình Thạnh, Tp.HCM” được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả của

nó trong công cuộc đổi mới giáo dục, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học ở trường THPT

1.2 Vấn đề nghiên cứu

Đề tài được tiến hành nhằm nghiên cứu các vấn đề sau:

- Thiết kế một số bài giảng sử dụng PPDH bằng trò chơi

- Thử nghiệm 2 trong số các bài giảng đã được thiết kế để đánh giá hiệu quả của PPDH bằng trò chơi trong việc giảng dạy môn Công nghệ 10

1.3 Mục đích nghiên cứu

Đề tài thực hiện nhằm mục đích đánh giá hiệu quả của PPDH bằng trò chơi trong dạy học môn Công nghệ 10 Từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn Công nghệ 10

1.4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Việc áp dụng PPDH bằng trò chơi vào môn công nghệ 10 ở trường THPT Võ Thị Sáu, Quận Bình Thạnh, Tp.HCM

1.4.2 Khách thể nghiên cứu

- Quá trình dạy và học môn Công nghệ 10

Trang 15

- Học sinh 2 lớp 10 (10A2 và 10A3), lớp dạy thử nghiệm và lớp dạy đối chứng

1.5 Câu hỏi nghiên cứu

- Câu hỏi 1: Thiết kế bài giảng sử dụng PPDH bằng trò chơi như thế nào?

- Câu hỏi 2: Sử dụng trò chơi trong dạy học có mang lại sự hứng thú trong hoạt động học tập của học sinh hay không?

- Câu hỏi 3: Học tập bằng trò chơi có giúp học sinh phát triển kỹ năng tư duy, sáng tạo hay không?

- Câu hỏi 4: Khả năng tiếp thu bài của học sinh như thế nào khi học với PPDH bằng trò chơi?

- Câu hỏi 5: Sử dụng trò chơi trong học tập có phát huy tính tích cực, tự giác của học sinh hay không?

1.6 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nhiệm vụ 1: Tìm hiểu cơ sở lý luận của PPDH bằng trò chơi

- Nhiệm vụ 2: Thiết kế một số bài giảng sử dụng PPDH bằng trò chơi

- Nhiệm vụ 3: Dạy thử nghiệm 2 trong số các giáo án đã soạn và thu thập kết quả

- Nhiệm vụ 4: Phân tích số liệu thu thập được từ quá trình giảng dạy và đánh giá hiệu quả của việc sử dụng trò chơi trong hoạt động dạy và học

- Nhiệm vụ 5: Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy môn Công nghệ 10 với PPDH bằng trò chơi

1.7 Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi của luận văn tốt nghiệp, đề tài chỉ thực hiện trong thời gian từ tháng 09/2010 đến tháng 05/2011 ở một số lớp 10, Trường THPT Võ Thị Sáu, quận Bình Thạnh, Tp.HCM

Thiết kế và dạy thử nghiệm một số bài học của môn Công nghệ 10 sử dụng PPDH bằng trò chơi

1.8 Giá trị thực tiễn, tính mới mẻ và hướng phát triển của đề tài

1.8.1 Giá trị thực tiễn của đề tài

Trang 16

Trong xu thế đổi mới giáo dục của nước ta hiện nay, PPDH tích cực đang ngày càng được khuyến khích sử dụng Đề tài ứng dụng PPDH bằng trò chơi trong việc thiết kế và giảng dạy một số bài học môn Công nghệ 10 Đề tài thực hiện sẽ đánh giá được hiệu quả của việc áp dụng PPDH bằng trò chơi vào dạy học

1.8.2 Tính mới mẻ của đề tài

Đổi mới PPDH đã và đang là vấn đề quan tâm hàng đầu của nền giáo dục nước ta hiện nay Đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc áp dụng các PPDH tích cực trong sự nghiệp trồng người, theo đó quan điểm “lấy người học làm trung tâm” được đặc biệt nhấn mạnh Sử dụng trò chơi học tập là một hướng đi mới, sáng tạo nhằm tạo bầu không khí vui nhộn, tích cực Nội dung bài học được chuyển tải thông qua trò chơi, tạo nên tâm lý thoải mái cho người học, nhờ vậy mà việc tiếp thu kiến thức sẽ hiệu quả hơn

1.8.3 Hướng phát triển của đề tài

Đề tài tiến hành nghiên cứu sẽ làm tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo về việc áp dụng các PPDH tích cực vào giảng dạy, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục

1.9 Phương pháp nghiên cứu

1.9.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu (phục vụ cho nhiệm vụ 1, 2)

Nghiên cứu từ các sách, báo, tạp chí, Internet… về các vấn đề liên quan đến PPDH bằng trò chơi và cách thiết kế bài giảng sử dụng PPDH bằng trò chơi

1.9.2 Phương pháp thực nghiệm (phục vụ cho nhiệm vụ 2)

Dạy thử nghiệm (có đối chứng) 2 trong số các giáo án đã soạn tại 2 lớp 10 (10A2 và 10A3)

1.9.3 Phương pháp quan sát (phục vụ cho nhiệm vụ 3)

Người nghiên cứu quan sát biểu hiện về mức độ hứng thú và khả năng tiếp thu bài của học sinh khi học với phương pháp trò chơi học tập

Ngoài quan sát trên lớp người nghiên cứu còn dùng máy quay phim quay lại tiết dạy để đánh giá

1.9.4 Phương pháp phân tích dữ liệu (phục vụ cho nhiệm vụ 4, 5)

 Phương pháp phân tích định lượng

Trang 17

Thu thập kết quả và đánh giá mức độ hiểu bài của học sinh thông qua bài kiểm tra cuối buổi học

 Phương pháp phân tích định tính

Bằng cách quan sát, phân tích mức độ hứng thú của học sinh khi học với PPDH bằng trò chơi

Đưa ra kết luận, giải thích, lý giải dựa trên nền tảng cơ sở lý luận đã tìm hiểu

1.10 Cấu trúc luận văn

Luận văn gồm có 5 chương

Chương 1: Giới thiệu

Trong chương này người nghiên cứu sẽ giới thiệu những vấn đề sau:

- Giới thiệu lý do chọn đề tài

- Mục đích nghiên cứu

- Đối tượng và khách thể nghiên cứu

- Câu hỏi nghiên cứu

- Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu

- Giá trị thực tiễn, tính mới mẻ và hướng phát triển của đề tài

- Phương pháp nghiên cứu

- Cấu trúc luận văn

- Kế hoạch nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý luận

- Trình bày tóm tắt sơ lược về những nghiên cứu trước đây

- Trình bày những lý thuyết cơ bản về PPDH bằng trò chơi mà người nghiên cứu tìm hiểu được để làm cơ sở cho lý luận của đề tài

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Trong chương này, người nghiên cứu sẽ mô tả cụ thể các phương pháp được

sử dụng trong đề tài

Chương 4: Kết quả và phân tích

Trình bày kết quả từ việc dạy thử nghiệm: mô tả và phân tích kết quả đạt

Trang 18

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Từ kết quả phân tích được, người nghiên cứu đưa ra kết luận cho vấn đề nghiên cứu Ngoài ra, người nghiên cứu có thể đưa ra ý kiến của mình và đề xuất hướng phát triển cho các đề tài tiếp theo

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

1.11 Kế hoạch nghiên cứu

1 15/09/2010 Đăng ký tên đề tài Người nghiên cứu

2 16/09/2010 GVHD chỉnh sửa tên đề tài GVHD và người nghiên

cứu

3 17/09 – 23/09/2010 Tìm tài liệu Người nghiên cứu

3 24/09 – 29/09/2010 Viết đề cương Người nghiên cứu

4 30/9/2010 Nộp đề cương Người NC và GVHD

5 25/12/2010 Hoàn thành chương 2 và 3 Người nghiên cứu

6 10/01 – 21/03/2011 Thử nghiệm đề tài Người nghiên cứu

7 11/04/2011 Nộp đề tài cho GVHD Người NC và GVHD

8 16/05/2011 Nộp đề tài cho Bộ môn Người NC

9 30/05 – 04/06/2011 Báo cáo đề tài Người nghiên cứu

Trang 19

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1 Lược sử về vấn đề nghiên cứu

Ngày nay, tri thức nhân loại tăng nhanh với tốc độ chóng mặt, tăng theo hàm

số mũ Thậm chí ở một số ngành, tri thức còn biến đổi hàng ngày, hàng giờ Vì vậy dạy học bằng phương pháp thông báo kiến thức có sẵn và học theo kiểu thụ động không còn thích hợp nữa, mà phải dạy cho người học hình thành năng lực tự thu nhận, xử lý, sử dụng thông tin để tích lũy thành tri thức cho riêng mình Con đường

đi tìm các PPDH để đáp ứng nhu cầu của thời đại, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục cho trường phổ thông đã cho ra nhiều công trình nghiên cứu có giá trị:

1 Giáo trình “Phương tiện dạy học” của tác giả Tô Xuân Giáp, Nhà xuất

bản Giáo dục, 2000 Tác giả đã giới thiệu một số phương tiện dạy học hiện đại có thể sử dụng trong công nghệ dạy học Ngoài ra, tác giả cũng đã đề cập đến luyện tương tự và trò chơi học tập, đây là một trong những PPDH đem lại nhiều hứng thú cho người học Tác giả đã chỉ ra sự khác nhau cơ bản giữa luyện tương tự và trò chơi, đó là yếu tố cạnh tranh hay ganh đua Tất cả các trò chơi đều có yếu tố cạnh tranh là yếu tố tự nhiên trong thực tế mà HS phải học khi chơi, còn trong luyện tương tự hầu như không có mà chỉ tập trung thực hiện đúng các quy tắc, quy trình

đã xác lập để đạt đến kỹ năng cao

2 Luận văn cử nhân Sư phạm KTNN “So sánh việc sử dụng các phương

pháp dạy học ở một số trường THPT tại địa bàn Tp.HCM”, Bộ môn Sư phạm

KTNN, Đại học Nông Lâm Tp.HCM, 2009 Tác giả Trần Lệ Nhu đã tìm hiểu được tình hình sử dụng một số PPDH được áp dụng ở một số trường THPT trên địa bàn Tp.HCM, trong đó có PPDH bằng trò chơi Tuy nhiên, theo nghiên cứu của tác giả thì chỉ có 5% GV sử dụng khá thường xuyên, 18% thỉnh thoảng sử dụng và có đến 77% GV hầu như không sử dụng Nguyên nhân lý giải cho vấn đề này là hầu hết

GV đều cho rằng sử dụng PPDH này gây ồn ào và mất nhiều thời gian Qua đó cho

Trang 20

thấy PPDH bằng trò chơi không được nhiều giáo viên ủng hộ, dường như nó còn khá xa lạ mặc dù PPDH này thể hiện nhiều mặt tích cực

3 Đề tài “Thiết kế và sử dụng một số trò chơi trong dạy học chương I:

Trồng trọt, lâm nghiệp đại cương, môn Công nghệ 10, trung học phổ thông”, khoa

Sư phạm và ngoại ngữ, trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội, 2008 Nhóm tác giả Bùi Thị Hải Yến, Phùng Thị Chuyên, Phạm Văn Đông đã nghiên cứu, thiết kế và thử nghiệm một số trò chơi trong dạy học môn Công nghệ 10 chương I ở khâu củng

cố bài học Qua thực nghiệm các tác giả cũng đã nhận thấy được ưu điểm của PPDH bằng trò chơi Theo các tác giả “Trò chơi được đưa vào củng cố bài học môn Công nghệ 10 – THPT đã tạo hứng thú học tập ở các em, giúp các em ghi nhớ kiến thức sau mỗi bài học một cách nhẹ nhàng, sinh động, hấp dẫn” Như vậy có thể thấy, sử dụng trò chơi ở khâu củng cố bài học môn Công nghệ 10 là phù hợp và cần thiết

4 Luận văn cử nhân Sư phạm KTNN “Tìm hiểu phương pháp gây hứng thú

học môn kỹ thuật nông nghiệp ở một vài trường phổ thông ở quận Thủ Đức và quận

9 Tp.HCM”, Bộ môn Sư phạm KTNN, Đại học Nông Lâm Tp.HCM, 2006 Tác giả

Lê Thị Yến đã tìm hiểu mức độ hứng thú của học sinh khi được học với các PPDH khác nhau, đồng thời tác giả cũng đưa ra một số phương pháp gây hứng thú cho học sinh khi học môn kỹ thuật nông nghiệp như sử dụng phương tiện dạy học hiện đại, thay đổi PPDH thích hợp với mỗi bài học, pha trò lúc lớp căng thẳng … Ngoài ra tác giả cũng đề cập đến vai trò của trò chơi trong việc gây hứng thú học tập cho HS Theo tác giả, xây dựng tình huống có trò chơi là phương pháp kích thích hứng thú học tập GV có thể sử dụng trò chơi phù hợp với ý nghĩa môn học trong thời gian cho phép

Như vậy, các tác giả đã nghiên cứu tổng quan về PPDH cũng như tìm hiểu

về một số PPDH đang được sử dụng hiện nay Nhưng rất ít đề tài áp dụng PPDH bằng trò chơi trong dạy học, đặc biệt là môn Công nghệ 10 Trên cơ sở tiếp thu thành quả nghiên cứu của các tác giả, người nghiên cứu tiến hành thực hiện đề tài

“Thiết kế và thử nghiệm một số bài giảng môn Công nghệ 10 sử dụng phương pháp dạy học bằng trò chơi ở trường THPT Võ Thị Sáu, quận Bình Thạnh,

Trang 21

Tp.HCM” nhằm giúp cho các sinh viên sư phạm cũng như giáo viên THPT hiểu

thêm về một PPDH tích cực mới

2.2 Định nghĩa về phương pháp dạy học

2.2.1 Khái niệm

Theo Lê Phước Lộc (2002), “phương pháp là cách thức, con đường, phương

tiện để đạt tới đích, để giải quyết những nhiệm vụ nhất định” Theo khái niệm này

thì phương pháp được hiểu theo nghĩa chung nhất là cách thức để đạt tới mục tiêu xác định Người ta có thể đi theo nhiều con đường khác nhau và mỗi con đường được lựa chọn đó có một cách làm khác nhau Phương tiện làm việc cũng đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định một cách làm tương ứng

Theo Phan Long (2004), “PPDH là cách thức, là con đường, là phương

hướng hành động để giải quyết vấn đề nhận thức của học sinh nhằm đạt mục đích dạy học” Khái niệm PPDH này có thể được hiểu: Hoạt động dạy học luôn có tính

hai mặt, đó là hoạt động dạy và hoạt động học, hoạt động dạy được tiến hành theo các phương pháp dạy còn hoạt động học được tiến hành theo tổ chức của người thầy

Theo Trần Thị Tuyết Oanh (2007), “PPDH là hoạt động phối hợp thống

nhất của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học được tiến hành với vai trò chủ đạo của giáo viên nhằm thực hiện tối ưu mục tiêu và nhiệm vụ dạy học” Như

vậy theo khái niệm này ta có thể nhận thấy phương pháp dạy đóng vai trò chủ đạo, phương pháp học chịu sự chi phối của phương pháp dạy

Theo Thái Duy Tuyên (1999), “PPDH là hệ thống những hành động có mục

đích của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của học sinh, đảm bảo học sinh lĩnh hội nội dung học vấn” Khái niệm này cho thấy PPDH là

cách thức hoạt động tương hỗ giữa thầy và trò nhằm đạt được mục đích dạy học Hoạt động này được thể hiện trong việc sử dụng các nguồn nhận thức, các thủ thuật logic, các dạng hoạt động độc lập của HS và cách thức điều khiển quá trình nhận thức của thầy giáo

Tóm lại, hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về PPDH tùy theo cách

Trang 22

nghiên cứu nhận thấy PPDH là sự kết hợp của phương pháp dạy và phương pháp học, đó là phương thức chuyển tải nội dung kiến thức của người dạy đến người học,

và trao đổi thông tin giữa người dạy và người học, phản ánh quá trình thay đổi nhận thức của người học

2.2.2 Phân loại phương pháp dạy học

Bảng 2.1: Phân loại các phương pháp dạy học

Cơ sở 1: Các giai

đoạn QTDH

Cơ sở 2: Phương tiện truyền tin

Cơ sở 3: Con đường tư duy

Cơ sở 4: Cách tổ chức truyền tin

- Nhóm PP trực quan

- Nhóm PP tự lực của HS

- …

- PP phân tích tổng hợp

- PP quy nạp

- PP diễn dịch

- PP so sánh – đối chiếu

- …

- PP làm thử, bắt chước

- PP diễn giải

- PP kể chuyện

- PP sắm vai

- PP dạy học theo nhóm

- PP thí nghiệm

- PP giải quyết tình huống

- PP dự án

- PP dạy học nêu vấn đề

- …

(Nguồn: Lê Phước Lộc, 2002)

Nhiều nhà nghiên cứu lý luận giáo dục khác cũng có những cách phân loại PPDH khác nhau Tuy nhiên, với cách phân loại của tác giả Lê Phước Lộc (2002), người nghiên cứu nhận thấy đó là cách phân loại đơn giản, dễ hiểu và cơ bản cho dù chưa đầy đủ, nhưng phù hợp với yêu cầu tiếp cận đến các PPDH về nguồn gốc xuất phát và ý nghĩa

Trang 23

2.3 Quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm

Theo Lê Phước Lộc (2002), “quá trình dạy học là sự phối hợp các hoạt động

dạy học của giáo viên và hoạt động lĩnh hội tự giác, tích cực, tự lực sáng tạo của trò nhằm đạt được mục đích dạy học” Trong dạy học, giáo viên phải coi trọng việc

dạy khám phá kiến thức, giúp học sinh tự lực tìm kiếm kiến thức và tự đánh giá năng lực bản thân Tuy nhiên, mục đích quan trọng nhất vẫn là chất lượng tri thức

và phát triển trí tuệ cho học sinh Trong quá trình này việc dạy và học phải được định hướng rõ ràng hơn bằng những lý thuyết khái quát trước khi đi đến những phương pháp dạy học cụ thể Lê Phước Lộc (2002) đã đúc kết và đưa ra 5 định hướng trong việc tổ chức giảng dạy để học sinh vừa nắm vững được tri thức đồng thời phát triển tư duy thông qua hoạt động dạy học:

- Định hướng 1: Tạo bầu không khí học tập tích cực

- Định hướng 2: Tổ chức việc tiếp thu kiến thức và nối kết các kiến thức đã có

- Định hướng 3: Phát triển tư duy thông qua việc mở rộng, tinh lọc kiến thức

- Định hướng 4: Phát triển tư duy bằng việc sử dụng kiến thức có ý nghĩa

- Định hướng 5: Thói quen tư duy

Một bài giảng hay, hấp dẫn phải đảm bảo được 5 định hướng trên Quan điểm “lấy người học làm trung tâm” thể hiện qua việc áp dụng các PPDH tích cực trong công tác giảng dạy PPDH được GV lựa chọn phải phát huy được tính chủ động, sáng tạo trong việc lĩnh hội kiến thức của người học Theo Nguyễn Quang Huỳnh (2006), PPDH tích cực có 4 đặc trưng cơ bản sau:

- Người học, chủ thể của hoạt động học, tự học, tự nghiên cứu, tự mình tìm ra kiến thức bằng hành động của chính mình, cá nhân hóa việc học

- Người học tự thể hiện mình, hợp tác với các bạn trong lớp học, làm cho kiến thức cá nhân tự tìm ra, mang tính xã hội, khách quan hơn, tức là xã hội hóa người học

- Giáo viên là chuyên gia, người hướng dẫn về việc học, là người tổ chức và hướng dẫn quá trình kết hợp cá nhân hóa với xã hội hóa việc học của người học

Trang 24

Lê Phước Lộc (2002) cho rằng “dạy học tích cực hóa hoạt động học tập của

HS dựa trên nguyên tắc giáo viên giúp HS tự khám phá trên cơ sở tự giác và được

tự do suy nghĩ, tranh luận, đề xuất giải quyết vấn đề” Cụ thể hơn, dạy học tích cực

hóa là dạy học nhằm tổ chức, hướng dẫn HS tự tìm hiểu, phát hiện và giải quyết vấn

đề trên cơ sở tự giác, tự do, được tạo khả năng và điều kiện chủ động trong hoạt động đó GV trở thành người hướng dẫn, HS trở thành người khám phá, người thực hiện Khi sử dụng PPDH tích cực, người GV cố gắng nâng cao hiệu quả học tập, khả năng lĩnh hội kiến thức, nâng cao các kỹ năng và phát triển năng lực cá nhân cho HS Bằng cách vận dụng kết hợp tối đa mọi phương tiện, phương pháp hướng dẫn, tạo môi trường học tập tích cực, qua đó HS sẽ phát huy khả năng tìm tòi và giao tiếp với nhau Các PPDH tích cực với những đặc trưng cơ bản hướng tới quá trình học tập của người học nói chung và HS nói riêng, tạo điều kiện cho họ làm chủ bản thân và làm chủ kiến thức, từ đó vận dụng được kiến thức tốt nhất vào cuộc sống và khẳng định mình trong tập thể xã hội

2.4 Phương pháp dạy học bằng trò chơi

Theo Đặng Thành Hưng (2002), trò chơi là hoạt động chơi có luật, có quy tắc, có nhiệm vụ, yêu cầu tức là hoạt động chơi có tổ chức và thiết kế Trò chơi có tính chất cạnh tranh và có thách thức đối với người tham gia

Theo Nguyễn Thị Thu Hằng (2009), bản chất của phương pháp sử dụng trò chơi học tập là dạy học thông qua việc tổ chức hoạt động cho học sinh Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh được hoạt động bằng cách tự chơi trò chơi, trong

đó mục đích của trò chơi chuyển tải mục tiêu của bài học Luật chơi (cách chơi) thể hiện nội dung và phương pháp học, đặc biệt là phương pháp học tập có sự hợp tác

và sự tự đánh giá

Trang 25

Trong dạy học, trò chơi có thể được tổ chức khi bắt đầu bài giảng để thu hút

sự chú ý, tạo không khí vui tươi, tích cực trong lớp học Trò chơi cũng có thể sử dụng để dạy kiến thức mới, củng cố hoặc vận dụng kiến thức mới

Nói tóm lại, có thể hiểu PPDH bằng trò chơi là PP vận dụng trò chơi vào hoạt động dạy và học, trong đó người tham gia phải tuân thủ theo những quy tắc đã được quy định trước để có thể đạt được kết quả cao trong cuộc chơi Đồng thời, thông qua trò chơi cũng rèn luyện được cho HS tính tích cực, tự giác, rèn luyện kỹ năng tư duy, phán đoán… nhờ vậy mà nâng cao hiệu quả dạy và học

2.4.2 Vai trò của trò chơi trong dạy học

2.4.2.1 Trò chơi học tập kích thích hứng thú nhận thức

Trò chơi học tập bên cạnh chức năng giải trí còn giúp HS tự củng cố kiến thức, kỹ thuật, thói quen học tập một cách hứng thú, thói quen làm việc theo nhiều quy mô (cá nhân, nhóm, lớp) Các tiết học có trò chơi sẽ thu hút mức độ tập trung của HS mà không một phương pháp nào sánh được Những kiến thức khô khan và cứng nhắc sẽ sinh động, hấp dẫn nếu được tổ chức dưới hình thức trò chơi và nhờ

đó kết quả học tập của học sinh sẽ tăng lên Như vậy, việc sử dụng trò chơi trong dạy học là một trong những biện pháp tăng cường, tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh (Nguyễn Thị Thu Hằng, 2009) Hơn thế nữa, mối quan tâm và hoạt động của HS thể hiện qua các tiết học có trò chơi làm tăng thêm tình cảm của các

em đối với môn học và thầy cô giáo

Việc tìm được phương án giải khác nhau cho một “bài toán” trò chơi giúp

HS hiểu sâu sắc hơn về những tri thức đã học, có thói quen tìm tòi phương án giải quyết tốt nhất, hay nhất và đơn giản nhất Và khi đó, các em thể hiện niềm vui, hứng thú với những thành tích mà mình đạt được, thể hiện niềm vui do trò chơi mang lại và cảm thấy vui sướng khi được tham gia vào trò chơi Từ đó hình thành ở

HS tính tích cực, ý thức tự giác trong học tập, bởi vì “trong giờ lên lớp nào mà tư duy tích cực được kích thích thì cũng sẽ xuất hiện thái độ tích cực đối với học tập,

sẽ hình thành hứng thú nhận thức” (Nguyễn Thị Thu Hằng, 2009) Mặt khác, trong trò chơi, muốn hoàn thành nhiệm vụ đặt ra và chơi đúng quy tắc thì các em phải chú

Trang 26

hành động theo đúng quy tắc, bắt tính tích cực của mình phục vụ những nhiệm vụ nào đó, kiên trì phấn đấu đạt tới những kết quả và thành tựu nhất định

2.4.2.2 Trò chơi học tập hình thành năng lực trí tuệ

Hoạt động vui chơi ảnh hưởng tới sự hình thành chủ định của quá trình tâm

lý Trong trò chơi, HS bắt đầu hình thành sự chú ý có chủ định và ghi nhớ có chủ định Khi chơi học sinh tập trung chú ý hơn và ghi nhớ được nhiều hơn Bởi vì bản thân trò chơi đòi hỏi người tham gia phải tập trung vào những dữ kiện và đối tượng được đưa vào tình huống của trò chơi Nếu người chơi không chú ý và nhớ những điều kiện của trò chơi, thì sẽ hành động một cách tự phát và không đạt được kết quả chơi Bởi vậy để trò chơi được thành công buộc các em phải tập trung chú ý và ghi nhớ một cách chủ động (http://www.vusta.vn/Temps/Home/template/?nid=6122, truy cập ngày 03/12/2010)

Trong khi tham gia trò chơi, để giành phần thắng, học sinh phải linh hoạt, tự chủ, phải độc lập suy nghĩ, phải sáng tạo và có lúc phải tỏ ra quyết đoán Việc xây dựng và tổ chức các trò chơi đã giúp các em vận dụng, sáng tạo cách tìm “chiến lược” giành phần thắng trong trò chơi ban đầu và các tình huống mới, trò chơi mới Đồng thời những kinh nghiệm được rút ra từ mối quan hệ qua lại trong lúc chơi cho phép HS đứng trên quan điểm của người khác để phán đoán hành vi sắp xảy ra của bản thân mình sao cho phù hợp Như vậy, trò chơi học tập tạo khả năng phát triển trí tưởng tượng, khả năng linh hoạt độc lập sáng tạo cần thiết cho hoạt động học tập

và lao động sau này cho học sinh

2.4.2.3 Trò chơi học tập thực hiện chức năng hoạt động luyện tập thực hành

Trò chơi học tập thực hiện chức năng của hoạt động thực hành vì các em có điều kiện vận dụng những kiến thức đã học khi tham gia vào trò chơi Các em được hình thành những kỹ năng phân biệt được bản chất trong các kiến thức ở mỗi trò chơi, hiểu được sâu sắc và đầy đủ hơn các tri thức đã học Bên cạnh đó, trò chơi còn

là một trong những phương tiện để khắc phục những trở ngại khác nhau trong hoạt động trí tuệ của từng em thông qua các trò chơi cá nhân và tập thể Bởi vì đã là trò chơi thì phải có trao đổi tư tưởng, tri thức giữa các thành viên trong một nhóm khi tham gia trò chơi Thông qua trò chơi, các em có điều kiện thể hiện mình, biết hợp

Trang 27

tác với bạn bè để tìm được cách trả lời tốt nhất Và thông qua trò chơi, GV có thể tìm hiểu được nguyên nhân yếu kém, chậm tiến của các em để có biện pháp khắc phục, luyện tập nhiều lần và nâng cao dần trình độ cho các em

2.4.3 Ưu và nhược điểm của trò chơi học tập

2.4.3.1 Ưu điểm

Theo Tô Xuân Giáp (2000), trò hơi học tập có một số ưu điểm sau:

- Trò chơi học tập là một hình thức học tập bằng hoạt động hấp dẫn HS, do đó duy trì tốt hơn sự chú ý của các em với bài học

- Trò chơi làm thay đổi hình thức học tập chỉ bằng hoạt động trí tuệ, do đó giảm tính chất căng thẳng của giờ học, nhất là các giờ học kiến thức lý thuyết mới

- Trò chơi có nhiều HS tham gia sẽ tạo cơ hội rèn luyện kỹ năng học tập hợp tác cho học sinh

- Thông qua trò chơi có thể giúp HS ghi nhớ tốt các kiến thức đã học

Trang 28

- Giáo viên phải đầu tư suy nghĩ để thiết kế trò chơi

- Tốn nhiều thời gian

- Trò chơi quá đơn giản hay quá phức tạp có thể không giúp đạt được mục tiêu dạy học mong muốn (Phan Thị Hồng Vinh, 2007)

2.5 Quy trình tổ chức trò chơi

- Giới thiệu tên trò chơi

- Phổ biến luật chơi

- Tiến hành chơi

- Thảo luận rút ra kiến thức

- Đánh giá, kết luận

2.6 Một số lưu ý khi dạy học bằng trò chơi

Theo Nguyễn Thị Lộc (2010), khi sử dụng phương pháp này GV phải lưu ý:

- Lựa chọn hoặc thiết kế trò chơi đảm bảo những yêu cầu:

 Mục đích của trò chơi phải thể hiện mục tiêu của bài học hoặc một phần của chương trình

 Hình thức chơi đa dạng giúp HS được thay đổi các hoạt động học tập trên lớp, giúp HS phối hợp các hoạt động trí tuệ với các hoạt động vận động

 Luật chơi đơn giản để HS dễ nhớ, dễ thực hiện; cần đưa ra các cách chơi có nhiều HS tham gia để tăng cường kỹ năng học tập hợp tác

 Các dụng cụ chơi cần đơn giản, dễ làm hoặc dễ tìm kiếm tại chỗ

- Chọn quản trò có năng lực phù hợp với trò chơi

- Tổ chức chơi vào thời gian thích hợp của bài học để vừa làm cho học sinh hứng thú học tập, vừa hướng cho học sinh tiếp tục tập trung các nội dung khác của bài học một cách có hiệu quả

Trang 29

2.7 Một số trò chơi có thể sử dụng trong môn Công nghệ 10

2.7.1 Trò chơi “Ô chữ”

2.7.1.1 Mục đích

Trò chơi nhằm mục đích giải trí, đồng thời giúp HS củng cố kiến thức bài vừa học, giúp các em có thể thuộc bài ngay trên lớp Ngoài ra, trò chơi sẽ tạo không khí sôi nổi, phấn khích cho các em HS, góp phần tăng thêm sự hứng thú trong học tập

2.7.1.2 Luật chơi

GV chuẩn bị ô chữ với từ khóa có liên quan đến nội dung bài học (có thể 7 –

10 chữ cái) Mỗi chữ cái trong từ khóa sẽ có một ô chữ hàng ngang chứa chữ cái đó Mỗi ô hàng ngang sẽ có một gợi ý để trả lời Thời gian để tìm được mỗi ô chữ hàng ngang có thể từ 10 – 15 giây HS có thể đoán từ khóa (từ hàng dọc) bất cứ khi nào

HS trả lời đúng từ hàng ngang cũng như tìm được từ khóa (từ hàng dọc) sẽ được điểm cộng hoặc phần thưởng tương ứng do GV lựa chọn

Ví dụ:

Từ khóa: VẬT NUÔI

 Các gợi ý:

1 Đây là quá trình tăng lên về khối lượng và kích thước ở vật nuôi

2 Hiệu quả chăn nuôi là sự kết hợp giữa kỹ thuật chăn nuôi và yếu tố này

Trang 30

3 Sinh trưởng và phát dục của vật nuôi là một quá trình diễn ra có tính

6 Nhịp tim, hô hấp, trao đổi chất,… là những hoạt động có tính ………

7 Sinh trưởng và phát dục ở vật nuôi là 2 quá trình diễn ra đồng thời nhưng

Ví dụ:

Trang 31

Hình 1: Lúa (Thức ăn tinh)

Hình 2: Đậu (Thức ăn tinh)

Hình 3: Bột cá (Thức ăn tinh)

Trang 32

Hình 4: Bắp (Thức ăn tinh)

Hình 5: Cỏ voi (Thức ăn xanh)

Hình 6: Rau muống (Thức ăn xanh)

Trang 33

Hình 7: Rơm lúa (Thức ăn thô)

Hình 8: Bã mía (Thức ăn thô)

Hình 9: Thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh

Trang 34

Hình 10: Thức ăn hỗn hợp đậm đặc

Với những hình ảnh trên, HS có thể dựa vào những kiến thức đã học để tìm

ra những gợi ý để bạn chơi của mình hiểu và đoán được bức tranh mình muốn nói tới Chẳng hạn như đối với bức tranh “Rau muống” các em có thể gợi ý như sau: Một loại thức ăn xanh, cung cấp nhiều xơ, con người thường dùng để xào với tỏi ăn rất ngon Như vậy, bạn chơi của các em sẽ có thể dễ dàng nhận ra và đoán đúng

2.7.3 Trò chơi “Tiếp sức”

2.7.3.1 Mục đích

Trò chơi giúp cho HS rèn luyện tình thần đoàn kết, tính đồng đội trong trò chơi cũng như trong học tập Trò chơi cũng tạo bầu không khí sôi nổi, tích cực cho bài học

2.7.3.2 Luật chơi

Trò chơi có thể áp dụng cho những bài học có nhiều đáp án cho một câu trả

lời Chẳng hạn như người nghiên cứu đã áp dụng cho bài 51 – Lựa chọn lĩnh vực

kinh doanh, hoặc cũng có thể áp dụng cho bài 46 – Chế biến sản phẩm chăn nuôi, thủy sản

GV chia lớp làm 2 đội chơi (chia theo chỗ ngồi) Các thành viên trong đội sẽ lần lượt lên bảng liệt kê các ngành nghề trong xã hội Các thành viên còn lại trong đội sẽ thảo luận và đưa ra đáp án tiếp theo trong thời gian chờ đợi bạn Mỗi HS chỉ

Trang 35

được lên bảng 1 lần và chỉ được ghi 1 đáp án Các đáp án trùng nhau chỉ được tính

là 1 Thời gian dành cho trò chơi là 3 phút Đội nào tìm được nhiều đáp án hơn sẽ là đội chiến thắng Đội thắng sẽ giành được phần thưởng do GV trao tặng

Ví dụ: Trò chơi được áp dụng cho bài 51: GV chia lớp làm 2 đội chơi và đặt câu hỏi: Các em hãy liệt kê tất cả các ngành nghề trong xã hội mà em biết? Theo luật chơi đã được công bố trước, các đội chơi sẽ tham gia một cách hào hứng, tích cực

2.7.4 Trò chơi “Nhà kinh doanh tài ba”

2.7.4.1 Mục đích

Trò chơi giúp HS rèn luyện được trí nhớ và tính tư duy logic, đồng thời cũng

là một hình thức giải trí để tạo bầu không khí thoải mái trong giờ học

2.7.4.2 Luật chơi

GV đưa ra các câu hỏi Mỗi câu hỏi sẽ có 3 gợi ý để trả lời, các gợi ý sẽ lần lượt hé mở câu trả lời ở cấp độ dễ dần Tương ứng với mỗi gợi ý, HS trả lời đúng câu hỏi qua lần lượt các gợi ý thì điểm cộng sẽ giảm dần Cụ thể, trả lời ở gợi ý thứ nhất được 3 điểm cộng, ở gợi ý thứ 2 được 2 điểm cộng và trả lời ở gợi ý thứ 3 được

1 điểm cộng

Ví dụ: Trò chơi được người nghiên cứu áp dụng cho bài 53 “Xác định kế hoạch kinh doanh” Có 3 câu hỏi, mỗi câu hỏi có 3 gợi ý

Câu 1: Đây là kế hoạch nào?

- Gợi ý 1: Kế hoạch này cho phép người chủ doanh nghiệp ước tính được

lượng hàng hóa cần dự trữ để có thể phục vụ nhu cầu khách hàng

- Gợi ý 2: Được xác định phù hợp cả về số lượng, mặt hàng, thời gian… với

kế hoạch bán hàng của doanh nghiệp

- Gợi ý 3: Được tính bằng công thức: Mức bán hàng kế hoạch + (-) Nhu cầu

dự trữ hàng hóa

Đáp án: Kế hoạch mua hàng

Câu 2: Đây là 1 trong các căn cứ lập kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp

- Gợi ý 1: Là căn cứ để xác định kế hoạch bán hàng

Trang 36

- Gợi ý 2: Nó cho phép doanh nghiệp điều chỉnh hoạt động của mình cho phù

hợp

- Gợi ý 3: Là căn cứ quan trọng nhất

Đáp án: Nhu cầu thị trường

Câu 3: Đây là kế hoạch nào?

- Gợi ý 1: Dựa vào kế hoạch này có thể xác định quy mô của doanh nghiệp

- Gợi ý 2: Được xác định dựa vào nhu cầu hàng hóa, tiền trả công lao động,

tiền nộp thuế

- Gợi ý 3: Được tính bằng công thức: Vốn hàng hóa + Tiền công + Tiền thuế

Đáp án: Kế hoạch vốn kinh doanh

2.8 Đặc điểm của học sinh THPT

Lứa tuổi thanh niên học sinh THPT (còn gọi là lứa tuổi đầu thành niên) là lứa tuổi bao gồm các em khoảng 15, 16 tuổi đến 17, 18 tuổi, phần lớn đang học ở trường THPT, từ lớp 10 đến lớp 12 Đây là lứa tuổi có nhiều nét khác biệt với lứa tuổi thiếu nhi, ta thường gọi tắt là lứa tuổi thanh niên học sinh

2.8.1 Đặc điểm hoạt động học tập

Nội dung và tính chất của hoạt động học tập ở thanh niên học sinh khác rất nhiều so với hoạt động học tập của thiếu niên Sự khác nhau cơ bản không phải ở chỗ nội dung học tập ngày một nhiều hơn, mà ở chỗ hoạt động học tập của thanh niên học sinh đi vào những tri thức cơ bản, những quy luật của các bộ môn khoa học, phương pháp giảng dạy của giáo viên cũng thay đổi Sự thay đổi của nội dung

và phương pháp ở trường THPT đòi hỏi học sinh phải có tính năng động và tính độc lập ở mức độ cao hơn nhiều, đồng thời cũng đòi hỏi muốn nắm được chương trình một cách sâu sắc thì cần phải phát triển tư duy lý luận

Theo Lê Văn Hồng và Lê Ngọc Lan (2002), sự thay đổi ở lứa tuổi này so với lứa tuổi khác về phương diện học tập có thể nhận thấy như sau:

- Đặc điểm khác nhau cơ bản là hoạt động học tập của thanh niên đi sâu hơn

về tri thức cơ bản, những quy luật của các môn học khoa học

Trang 37

- Phương pháp dạy học ở bậc THPT cũng khác với cấp THCS, phương pháp dạy đòi hỏi tính tích cực của HS, yêu cầu tính năng động và tính độc lập ở mức độ cao

- Sự trưởng thành về kinh nghiệm sống ở HS, ý thức được mình đang đứng ở

vị trí ngưỡng cửa của cuộc đời Do đó nhu cầu tri thức ngày càng tăng cao về kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo để có đủ điều kiện bước vào cuộc sống tương lai Khả năng hứng thú mang tính sâu rộng và bền vững ở các lĩnh vực cuộc sống

- Cuối bậc THPT, học sinh đã xác định được cho mình một hứng thú ổn định với môn học hay đối với lĩnh vực tri thức nhất định Từ những hứng thú này ảnh hưởng đến việc chọn nghề nghiệp tương lai của học sinh

- Thái độ học tập của HS được thúc đẩy bởi động cơ học tập Thái độ học tập

có ý thức và năng lực điều khiển bản thân của thanh niên trong hoạt động học tập

Ở giai đoạn này, kiến thức mà HS tiếp thu được đã có sự chọn lọc, HS thường có hứng thú với những lĩnh vực nhất định Ngoài ra, việc học tập ở giai đoạn này cũng đòi hỏi các em phải tự lực học tập, năng động để tự mình khám phá ra kiến thức PPDH theo lối truyền đạt thụ động sẽ không còn phù hợp nữa Chính vì vậy sử dụng trò chơi học tập ở lứa tuổi này sẽ tạo điều kiện cho các em thể hiện bản thân, sẽ kích thích các em rèn luyện những kỹ năng cần thiết cho một phương pháp học tập mới

2.8.2 Đặc điểm của sự phát triển trí tuệ

Lứa tuổi học sinh THPT là giai đoạn quan trọng trong việc phát triển các năng lực trí tuệ Ở học sinh THPT, tính chủ định được phát triển mạnh ở tất cả các quá trình nhận thức

- Tri giác: Ở thời kỳ này, con người có độ nhạy cảm cao nhất về nhìn và nghe,

có sự phối hợp nhịp nhàng nhất giữa các cơ quan vận động Tri giác có mục đích đã đạt tới mức rất cao Quan sát trở nên có mục đích, có hệ thống và toàn diện hơn Quá trình quan sát đã chịu sự điều khiển của hệ thống tín hiệu thứ hai nhiều hơn và

Trang 38

không tách rời tư duy ngôn ngữ Thanh niên có thể điều khiển được hoạt động của mình theo kế hoạch chung và chú ý đến tất cả mọi khâu

Sự phát triển về tri giác tạo điều kiện cho HS tham gia vào trò chơi một cách

có hiệu quả Trò chơi đòi hỏi người tham gia phải có một sự tinh nhanh, quan sát tốt, phối hợp một cách nhanh nhẹn các giác quan để có thể sử dụng cho trò chơi Tuy vậy, quan sát của học sinh THPT cũng khó có hiệu quả nếu thiếu sự chỉ đạo của GV Giáo viên cần quan tâm để hướng quan sát của các em vào một nhiệm vụ nhất định, không vội vàng kết luận khi chưa tích lũy đầy các sự kiện cần quan sát

- Trí nhớ: Ở học sinh THPT, ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ Loại trí nhớ này được hoàn thiện trong quá trình rèn luyện có hệ thống của cá nhân Càng học tập và rèn luyện tích cực trí nhớ càng tốt và dễ nhớ những kiến thức mới Đồng thời, vai trò của ghi nhớ logic trừu tượng, ghi nhớ ý nghĩa ngày một tăng rõ rệt (các em biết sử dụng tốt hơn các phương pháp ghi nhớ: tóm tắt ý chính, so sánh đối chiếu…) Đặc biệt các em đã tạo được tâm thế phân hóa trong ghi nhớ Các em biết tài liệu nào nên ghi nhớ từng câu, từng chữ, tài liệu nào cần hiểu mà không cần nhớ…

Đặc điểm phát triển này rất cần thiết cho việc sử dụng trò chơi trong dạy học

Có những trò chơi đòi hỏi sự ghi nhớ, liên hệ nội dung bài học Chẳng hạn như trò chơi “Hiểu nhau” mà người nghiên cứu đã giới thiệu ở trên Trò chơi đòi hỏi người tham gia phải ghi nhớ được kiến thức của bài học thì mới có thể diễn tả cũng như đoán tranh chính xác

- Chú ý: Thái độ có lựa chọn của học sinh đối với các môn học quyết định tính lựa chọn của chú ý Khi tiếp thu tài liệu học tập, bao giờ các em cũng củng cố, đánh giá ý nghĩa của nó, tiếp thu nó thông qua ý kiến chủ quan về ý nghĩa thực tiễn của tài liệu Tài liệu mà được cho là quan trọng thì HS sẽ tích cực tiếp thu và ít chú ý đến tài liệu được xem là không quan trọng Thái độ có lựa chọn đối với các môn học cũng làm thay đổi vai trò của chú ý sau chủ định Do có hứng thú ổn định đối với môn học hoặc lĩnh vực hoạt động nào đó nên chú ý sau chủ định của các em cũng được tăng lên Các em vẫn có thể tập trung chú ý cả vào những tài liệu các em không hứng thú và hiểu được ý nghĩa quan trọng của nó

Trang 39

Đặc điểm này rất cần thiết cho trò chơi Để có thể tham gia trò chơi đúng quy định, các em phải chú ý nghe GV phổ biến luật chơi, cách thức chơi để không bị phạm luật Ngoài ra, trong quá trình học HS cũng cần chú ý những kiến thức trọng tâm, có liên quan đến trò chơi để có thể vận dụng một cách hiệu quả Trò chơi được

sử dụng nhằm nhấn mạnh những kiến thức quan trọng, đáng ghi nhớ Do vậy, mức

độ tập trung chú ý của HS rất cần thiết cho hoạt động học tập bằng phương pháp này

Năng lực di chuyển và phân phối chú ý cũng được phát triển và hoàn thiện một cách rõ rệt Các em đã có kỹ năng vừa nghe giảng, vừa ghi chép, vừa theo dõi câu trả lời của bạn… Nhưng cần thấy là nhiều khi sự tăng hoặc giảm chú ý của học sinh THPT lại diễn ra một cách không chủ định Không phải bao giờ các em cũng đánh giá đúng ý nghĩa quan trọng của các phần tài liệu Do vậy các em chú ý không chủ định khi giáo viên đề cập tới ý nghĩa thực tiễn và sự ứng dụng tri thức nhất định vào cuộc sống

- Tư duy: Do cấu trúc não phức tạp và chức năng của não phát triển, do sự phát triển của các quá trình nhận thức nói chung, do ảnh hưởng của hoạt động học tập mà hoạt động tư duy của học sinh THPT có thay đổi quan trọng về chất

Hoạt động tư duy của các em tích cực, độc lập hơn Các em có khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập sáng tạo trong những đối tượng quen biết đã được học tại trường hoặc chưa được học Điều này cũng thể hiện quan điểm của các em về tính hấp dẫn của môn học Nếu đa số HS lớp 6, 7 thích thú môn học vì sự hấp dẫn của nó thì HS lớp 10, 11 lại thích thú môn học chủ yếu vì nó đòi hỏi con người phải suy nghĩ độc lập Các em thích khái quát hóa, thích tìm hiểu những quy luật và nguyên tắc chung của các hiện tượng hằng ngày của những tri thức cần phải tiếp thu

Tư duy của các em chặt chẽ hơn, có căn cứ nhất quán hơn, đồng thời tính phê phán của tư duy cũng phát triển Những đặc điểm đó tạo điều kiện cho học sinh THPT thực hiện các thao tác tư duy logic, tư duy toán học phức tạp, phân tích nội dung cơ bản của khái niệm trừu tượng và đoán được mối quan hệ nhân quả trong tự

Trang 40

Khả năng tư duy giúp HS đạt được kết quả cao trong trò chơi Chẳng hạn đối với trò chơi “Ô chữ”, các em phải biết kết nối dữ kiện gợi ý với số lượng chữ cái có trong ô chữ đó Đôi khi không cần giải đáp hết các ô chữ hàng ngang các em cũng

đã có thể đoán được ô chữ hàng dọc Do đó, HS nào có khả năng tư duy tốt, phán đoán nhanh thì sẽ có cơ hội chiến thắng trong trò chơi Không chỉ trò chơi ô chữ, nhiều trò chơi khác cũng cần đến sự tư duy của HS

Theo Nguyễn Thị Trang (2007), đặc điểm của sự phát triển nhân cách của học sinh THPT là sự tự ý thức gắn liền với nhu cầu nhận thức và đánh giá phẩm chất đạo đức của mình Các em khao khát được tìm hiểu, được tiếp nhận thông tin mới trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Sự nhận thức của tuổi trẻ là sự nhận thức

có phê phán, do đó các em thường có những cạnh tranh sôi nổi về thế giới xung quanh Lứa tuổi học sinh THPT là tuổi vốn có khuynh hướng sáng tạo, các em khao khát được thể hiện mình, muốn được lập công

Tuy vậy, hiện nay số học sinh THPT đạt tới mức tư duy đặc trưng cho lứa tuổi như trên còn chưa nhiều Thiếu sót cơ bản hiện nay trong tư duy của các em là thiếu độc lập Nhiều khi các em chưa chú ý phát huy hết năng lực độc lập suy nghĩ của bản thân, còn kết luận vội vàng theo cảm tính, hoặc thiên về tái hiện tư tưởng của người khác, các luận chứng của người khác… Việc giúp đỡ các em phát triển khả năng nhận thức là nhiệm vụ quan trọng của giáo viên Các em cần được hướng dẫn tích cực suy nghĩ trong tiến trình phân tích, tranh luận để HS tự rút ra kết luận đúng đắn

Những phân tích trên cho thấy học sinh THPT có những đặc điểm chung của con người về mặt trí tuệ thông thường đã được hình thành và chúng tiếp tục hoàn thiện trong quá trình học tập, rèn luyện của cá nhân

2.9 Tổng quan môn Công nghệ 10 ở trường THPT hiện nay

2.9.1 Vai trò, nhiệm vụ của môn Công nghệ 10

2.9.1.1 Vai trò của môn Công nghệ 10

Môn Công nghệ 10 sẽ trang bị kiến thức cho thế hệ trẻ để tạo nguồn nhân lực trước mắt và lâu dài cho ngành nông nghiệp nước nhà, như thế sẽ trực tiếp và gián tiếp góp phần phát triển kinh tế của đất nước

Ngày đăng: 11/06/2018, 13:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm