1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tội mua bán trái phép chất ma túy theo pháp luật hình sự việt nam từ thực tiễn tỉnh đắk lắk

76 367 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 826 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu thực tiễn Thực tiễn hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu về tội mua bán trái phép chất ma túy, điển hình như các công trình sau: - Trần Văn Luyện, “Phát hiệ

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS TRẦN VĂN LUYỆN

HÀ NỘI, 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trần Văn Luyện Các số liệu, tài liệu, kết quả khảo sát nêu trong luận văn là trung thực, phản ánh đúng đắn số liệu thực tiễn và chưa từng được công bố một cách đầy đủ trong bất kỳ công trình nào Tài liệu tham khảo trong luận văn được trích dẫn từ các nguồn một cách đầy đủ và chính xác, do đó, luận văn đảm bảo tính chân thực, khoa học, pháp lý của một công trình nghiên cứu

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Đức Ngọc

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY 7

1.1 Khái quát lập pháp hình sự Việt Nam về tội mua bán trái phép chất ma túy 71.2 Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội mua bán trái phép chất ma túy theo pháp luật hình sự Việt Nam 101.3 Cơ sở lý luận của định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội mua bán trái phép chất ma túy 161.4 Phân biệt tội mua bán trái phép chất ma túy với một số tội phạm khác 2626

CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK

29292.1 Khái quát tình hình tội phạm mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 29292.2 Thực tiễn định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 3222.3 Thực tiễn quyết định hình phạt đối với tội mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 4002.4 Nhận xét, đánh giá 4646

CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK 5151

3.1 Hoàn thiện pháp luật hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy 51513.2 Hướng dẫn áp dụng pháp luật hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy 54543.3 Tổng kết thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy 58583.4 Nâng cao năng lực của cán bộ áp dụng pháp luật hình sự đối với tội mua bán trái phép chất ma túy 60603.5 Các giải pháp khác 6262

KẾT LUẬN 6565 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

Viện kiểm sát nhân dân

Cơ quan điều tra Quyết định hình phạt Cấu thành tội phạm Quy phạm pháp luật Trách nhiệm hình sự Tiến hành tố tụng Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Thống kê số vụ án và số bị cáo bị xét xử sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk từ năm 2013 đến năm 2017 2929Bảng 2.2: Tỷ lệ xét xử sơ thẩm các vụ án và bị cáo về tội mua bán trái phép chất ma túy so với các tội phạm về ma túy và các tội phạm khác trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk từ năm 2013 đến năm 2017 300Bảng 2.3: Cơ cấu xét theo mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk từ năm 2013 đến năm 2017 300Bảng 2.4: Cơ cấu xét theo mức hình phạt áp dụng đối với tội mua bán trái phép chất

ma túy trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk từ năm 2013 đến năm 2017 311

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tệ nạn ma túy đang là hiểm họa của các quốc gia trên toàn thế giới Ở nước

ta tệ nạn ma túy vẫn đang là một vấn đề nhức nhối của xã hội Theo thống kê đến tháng 12/2017 nước ta có 210.751 người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý, số người nghiện ma túy tiếp tục gia tăng và ngày càng khó kiểm soát Ma túy không chỉ hủy hoại sức khỏe của con người, làm mất khả năng lao động, học tập mà còn gây tổn hại nghiêm trọng về mặt kinh tế, ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình và trật tự xã hội, là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác, gây mất trật tự,

an toàn xã hội Những tác hại và hậu quả của tệ nạn ma túy đang tác động và gây ảnh hưởng đến tất cả chúng ta từng ngày, từng giờ

Tỉnh Đắk Lắk nằm ở trung tâm tây nguyên, phía Đông giáp Phú Yên và Khánh Hòa, phía Nam giáp Lâm Đồng và Đắk Nông, phía Tây giáp Campuchia với đường biên giới dài 193 km, phía Bắc giáp tỉnh Gia Lai Tỉnh Đắk Lắk có 15 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 1 thành phố, 1 thị xã và 13 huyện Trong đó có 184 đơn

vị hành chính cấp xã, gồm có 152 xã, 20 phường và 12 thị trấn Kinh tế chủ đạo của Đắk Lắk chủ yếu dựa vào sản xuất và xuất khẩu nông sản, lâm sản Tỉnh có tiềm năng về du lịch sinh thái Đắk Lắk có bản sắc văn hóa đa dạng, đặc biệt Đắk Lắk được xem là một trong những cái nôi nuôi dưỡng không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại Đắk Lắk đang có lợi thế với nhiều địa danh cho phép khai thác theo hướng kết hợp cảnh quan, sinh thái, môi trường và truyền thống văn hóa của nhiều dân tộc trong tỉnh, hàng năm trong tỉnh tổ chức rất nhiều lễ hội Đắk Lắk có Sân bay Buôn

Ma Thuột, 14 tỉnh lộ với tổng chiều dài 460 km, có quốc lộ 14, 14C, 27, 26, 29 Dân

số tỉnh Đắk Lắk khoảng 1,833 triệu người, trong đó số lượng người nhập cư từ các tỉnh khác chiếm tỷ lệ cao, hiện nay số thanh niên trong tỉnh đi làm ăn, buôn bán ở các thành phố lớn chiếm tỷ lệ không nhỏ

Những đặc điểm này mang lại cho tỉnh Đắk Lắk nhiều ưu thế để phát triển

Trang 8

kinh tế - xã hội, tuy nhiên Đắk Lắk cũng là một trong những địa bàn có nhiều điều kiện để tội phạm nói chung, tội phạm mua bán trái phép chất ma túy nói riêng lợi dụng hoạt động phạm tội và lẩn trốn Theo thống kê của Công an tỉnh Đắk Lắk, số người nghiện ma túy tính đến năm 2017 có hồ sơ quản lý là 1.333 người, trong đó tập trung chủ yếu tại thành phố Buôn Ma Thuột và các huyện Ea Hleo, Krông Năng, Ea Kar… Từ năm 2013 đến năm 2017, tình hình tội phạm mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk diễn ra phức tạp và chiếm tỷ trọng gần như tuyệt đối trong tình hình tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh (chiếm 86,6% về số

vụ và 85,9% về số bị cáo), còn xét trong phạm vi chung của tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh, thì tỷ lệ trung bình trong 5 năm của loại tội phạm này là 16,7% về số

vụ và 11,8% về số bị cáo (xem Bảng 2.2)

Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã đạt được những kết quả nhất định, đáp ứng yêu cầu đấu tranh và phòng chống tội phạm Tuy nhiên, chất lượng và hiệu quả chưa cao, còn có những sai sót nhất định, phần nào ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Những sai sót đó chủ yếu là do những quy định của pháp luật hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy vẫn còn những vướng mắc, bất cập cần phải được bổ sung, sửa đổi, cùng với đó hoạt động áp dụng pháp luật hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy của đội ngũ cán bộ trong các cơ quan tố tụng vẫn còn những hạn chế, thiếu sót cần phải được khắc phục

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Tội mua bán trái

phép chất ma túy theo pháp luật Hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk”

làm luận văn thạc sĩ luật học là cần thiết

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

2.1 Tình hình nghiên cứu lý luận

Một số công trình nghiên cứu về tội mua bán trái phép chất ma túy đã được công bố như:

- “Giáo trình luật hình sự Việt nam - Phần các tội phạm” (2008), GS.TS Võ

Trang 9

Khánh Vinh, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội;

- “Lý luận chung về định tội danh” (2013), GS.TS Võ Khánh Vinh, Nxb

Khoa học xã hội, Hà Nội;

- “Giáo trình luật hình sự Việt Nam - Phần chung” (2014), GS.TS Võ

Khánh Vinh, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội;

- “Hoàn thiện một số quy định về hình phạt và quyết định hình phạt của BLHS năm 1999 nhằm đảm bảo hơn nữa nguyên tắc nhân đạo trong luật hình sự”

(2008), PGS.TS Hồ Sỹ Sơn, Luật học;

- “Một số vấn đề liên quan đến hướng dẫn áp dụng Điều 194 Bộ luật hình sự” (2012), TS Cao Thị Oanh, Luật học

2.2 Tình hình nghiên cứu thực tiễn

Thực tiễn hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu về tội mua bán trái

phép chất ma túy, điển hình như các công trình sau:

- Trần Văn Luyện, “Phát hiện, điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy của lực lượng Cảnh sát nhân dân”, năm 2000, Luận án

tiến sĩ luật học, Học viện Cảnh sát nhân dân;

- Nguyễn Thanh Dung, “Định tội danh đối với các tội phạm về ma túy” năm

2012, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội;

- Nguyễn Thủy Thanh, “Các tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy trong luật hình sự Việt Nam - trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn trên địa bàn thành phố Hải Phòng” năm 2014, Luận văn thạc sĩ Luật học,

khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội;

- Nguyễn Thị Thảo Trang, “Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý từ thực tiễn quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội” năm

2015, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện khoa học xã hội;

- Hồ Kim Trình, “Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Nghệ An” năm

2016, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện khoa học xã hội;

- Nguyễn Minh Đức, “Những khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng các

Trang 10

quy định của pháp luật để giải quyết các vụ án ma túy” năm 2015, Tạp chí kiểm sát,

số 20, tr.7 - 13

Nhìn chung, các công trình đã đề cập đến những vấn đề lý luận cơ bản của tội mua bán trái phép chất ma túy ở góc độ Luật hình sự Tuy nhiên, các công trình trên mới chỉ nghiên cứu tội mua bán trái phép chất ma túy ở khía cạnh tổng quát, chưa

có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về tội mua bán trái phép chất ma túy một cách đầy đủ và có hệ thống Trong đề tài này tác giả tiếp tục nghiên cứu trên cơ sở đánh giá, khái quát những vấn đề phát sinh từ thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự đối với tội mua bán trái phép chất ma túy tại trên bàn tỉnh Đắk Lắk

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận văn đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Khái quát lịch sử lập pháp Việt Nam về tội mua bán trái phép chất ma tuý;

- Phân tích khái niệm và các dấu hiệu pháp lý về tội mua bán trái phép chất

ma túy theo pháp luật hình sự Việt Nam;

- Phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2013 – 2017 trên cơ sở hướng dẫn lý luận về định tội danh và quyết định hình phạt;

- Đề ra các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định của pháp luật hình sự

về tội mua bán trái phép chất ma tuý trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn áp

Trang 11

dụng pháp luật hình sự đối với tội mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Đề tài được nghiên cứu trong phạm vi chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự;

- Về địa bàn: Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk;

- Về thời gian: Từ năm 2013 đến năm 2017;

- Về tội danh: Đề tài nghiên cứu tội mua bán trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 194 BLHS 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng, Nhà nước về đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể khi thực hiện luận văn: Phương pháp lịch sử; phân tích; tổng hợp; thống kê; phương pháp so sánh, khảo sát thực tiễn; nghiên cứu các bản án điển hình Trong quá trình thực hiện, các phương pháp này được áp dụng đan xen lẫn nhau một cách linh hoạt để luận chứng các vấn đề khoa học và thực tiễn cần nghiên cứu của đề tài

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Về mặt lý luận

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần hoàn thiện lý luận về tội mua bán

trái phép chất ma túy trong khoa học luật hình sự Việt Nam

6.2 Về mặt thực tiễn

- Nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự đối với tội mua bán trái phép chất ma túy, đồng thời chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế, thiếu sót, cũng như nguyên nhân của những hạn chế, thiếu sót đó

Trang 12

- Đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn quy định của Bộ Luật hình sự

về tội mua bán trái phép chất ma túy, tăng cường chất lượng áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự

- Các kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy, nghiên cứu, học tập và vận dụng vào hoạt động thực tiễn trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm

Trang 13

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI MUA BÁN

"tuyệt đối cấm hút thuốc phiện"

Tiếp sau đó, ngày 05/3/1952 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 150/TTg quy định việc xử lý đối với những hành vi vi phạm thể lệ quản lý thuốc phiện Điều 1, 2, 3, 4 của Nghị định quy định khoanh vùng trồng cây thuốc phiện, theo đó cây thuốc phiện chỉ được trồng ở thượng du Bắc bộ, Liên khu 4 Người trồng cây thuốc phiện có nghĩa vụ nộp thuế bằng hiện vật là một phần ba số nhựa thuốc phiện, phần còn lại phải bán toàn bộ cho mậu dịch quốc doanh Điều 5 Nghị định quy định: “Ngoài cơ quan chuyên trách, không ai được tàng trữ và vận chuyển

nhựa thuốc phiện hay thuốc phiện đã nấu rồi”

Trên cơ sở Nghị định 150/TTg, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định 225/TTg ngày 22/12/1952 quy định những người có hành vi vi phạm thể lệ quản lý thuốc phiện của Nhà nước sẽ bị xử phạt hoặc bị truy tố trước Tòa án nhân

dân Năm 1954, cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi Sau khi hòa bình lập lại và

trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục quan tâm đến việc xây dựng hệ thống pháp luật mới, trong đó có công tác đấu tranh chống buôn lậu thuốc phiện và các chất ma túy khác Ngày 15/09/1955, Chính phủ ban hành nghị định số 580/TTg bổ khuyết Nghị định

Trang 14

150/TTg ngày 05/3/1952 quy định những trường hợp có thể bị đưa ra Tòa án nhân

dân xét xử

Bộ tư pháp còn ban hành Thông tư số 635/VVH-HS ngày 29/3/1958 quy định về đường lối truy tố đối với việc đặt cọc tiền mua thuốc phiện lậu và Thông tư

số 33/VHH-HS ngày 5/7/1958 hướng dẫn đường lối truy tố và xét xử những vụ án

về buôn lậu thuốc phiện

Sau khi miền Nam giải phóng, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị định

số 76/CP ngày 25/3/1977 về chống buôn lậu thuốc phiện Trên cơ sở nghị định này, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ đã ra Thông tư liên ngành hướng dẫn áp dụng pháp luật trong cả nước

Trước tình hình tội phạm về ma túy ngày càng diễn biến phức tạp, BLHS năm 1985 ra đời đã có thái độ kiên quyết hơn đối với loại tội phạm này theo hướng

cụ thể hóa và tăng cường hình phạt đối với loại tội phạm này

1.1.2 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến nay

Tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa VII (từ ngày 21-6 đến ngày 27-6-1985),

Bộ luật hình sự đầu tiên của Nhà nước ta được thông qua Theo BLHS năm

1985 thì chỉ có một điều (Điều 203) quy định riêng về “tội tổ chức dùng chất ma tuý”, còn hành vi mua bán, vận chuyển ma túy qua biên giới thì bị truy cứu TNHS theo Điều 97 BLHS “Tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới” và nếu mua bán, vận chuyển trái phép ma túy trong nội địa thì bị truy cứu

TNHS theo Điều 166 BLHS “Tội buôn bán hoặc tàng trữ hàng cấm” Do không

đánh giá đúng tính chất đặc biệt nguy hiểm của hành vi buôn bán, tàng trữ thuốc phiện và các chất ma túy khác cho nên đã coi ma túy là đối tượng được pháp luật hình sự điều chỉnh ngang hàng với ngoại tệ, kim khí đá quý và chỉ quy định mức hình phạt cao nhất đối với tội này là 20 năm tù Bên cạnh đó, Điều 166 BLHS cũng chỉ đề cập về TNHS đối với các hành vi buôn bán, tàng trữ trái phép chất ma túy nên hành vi sản xuất, vận chuyển trái phép chất ma túy trong nội địa không bị truy cứu TNHS Trước tình hình đó, ngày 28/12/1989 Quốc hội đã thông qua luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS, trong đó quy định Điều 96a - Tội sản xuất, tàng

Trang 15

trữ, mua bán, vận chuyển trái phép các chất ma túy, đặt trong Chương các tội xâm phạm an ninh quốc gia, với ba khung hình phạt rất nghiêm khắc, loại hình phạt cao nhất có thể bị áp dụng là tử hình; Điều 203 “Tội tổ chức dùng chất ma túy” có mức

hình phạt cao nhất đến mười năm tù [23]

Đến khi ban hành Hiến pháp năm 1992, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam

đã đánh giá được đúng mức tính chất, mức độ nguy hiểm và những ảnh hưởng lớn của các hành vi sử dụng, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép chất ma túy đến đời sống của toàn nhân dân, việc đấu tranh ngăn chặn ma túy cũng được quy định trong Hiến Pháp 1992 tại Điều 61: “…Nghiêm cấm sản xuất, vận chuyển, buôn bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc phiện và các chất ma túy khác Nhà nước quy định

chế độ cai nghiện và chữa các bệnh xã hội nguy hiểm khác” [29]

Cụ thể hóa những tư tưởng trong Hiến pháp 1992, Đảng và Nhà nước tiếp tục đổi mới chính sách hình sự đối với các tội phạm về ma túy Trong lần sửa đổi, bổ sung năm 1997, BLHS có thêm một chương mới – Chương VIIA các tội phạm về

ma tuý với 14 điều luật, quy định 13 tội danh khác nhau liên quan đến ma tuý thay thế Điều 96a và Điều 203, trong đó các hành vi sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy được quy định thành 4 tội riêng biệt; 9/13 tội có khung hình phạt cao nhất là tử hình Cụ thể các tội danh gồm: Tội trồng cây thuốc phiện hoặc các loại cây khác có chứa chất ma tuý (Điều 185a); Tội sản xuất trái phép chất

ma tuý (Điều 185b); Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 185c); Tội vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 185d); Tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 185đ); Tội chiếm đoạt chất ma túy (Điều 185e); Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 185g); Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 185h); Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 185i); Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 185k); tội sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 185l); Tội cưỡng, bức lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 185m); Tội vi phạm quy định về quản lý,

sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất ma túy khác (Điều 185n) [24]

Trang 16

BLHS năm 1985 là BLHS đầu tiên của nước CHXHCN Việt Nam, là công

cụ pháp lý sắc bén, hữu hiệu của Nhà nước để đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần đắc lực vào việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, góp phần duy trì trật tự an toàn xã hội, trật tự quản lý kinh tế, bảo đảm cho mọi người được sống trong một môi trường xã hội và sinh thái an toàn, lành mạnh, mang tính nhân văn cao

Tuy nhiên, qua 15 năm thi hành, mặc dù đã được sửa đổi bổ sung nhưng BLHS năm 1985 đã bộc lộ nhiều tồn tại, hạn chế và không còn phù hợp với điều kiện, đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội hiện tại, yêu cầu cần phải được sửa đổi một cách toàn diện Ngày 21/12/1999, Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 6 đã thông qua BLHS 1999, có hiệu lực từ 0h ngày 01/07/2000 Theo đó, các tội phạm về ma túy được quy định thành một chương riêng là Chương XVIII, gồm 10 tội, từ Điều 192 BLHS đến Điều 201 BLHS, trong đó Điều 194 quy định tội tàng trữ, vận chuyển,

mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý [25]

Ngày 27/11/2015, Quốc hội khóa XIII ban hành BLHS 2015 theo đó tội mua bán trái phép chất ma túy được tách thành tội riêng và được quy định tại Điều

251 BLHS [27]

1.2 Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội mua bán trái phép chất

ma túy theo pháp luật hình sự Việt Nam

1.2.1 Khái niệm tội mua bán trái phép chất ma túy

Khoản 1 Điều 8 BLHS năm 2015 quy định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc; xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức; xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân; xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp

luật xã hội chủ nghĩa” [25]

Trang 17

Theo Thạc sĩ Đinh Văn Quế: “Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy là hành vi cất giữ, chuyển dịch, bán hay mua để bán lại, cướp, bắt cóc nhằm chiếm đoạt, cưỡng đoạt, cướp giật, công nhiên chiếm đoạt,

trộm cắp, tham ô, lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt chất ma túy” [21, tr.78]

Theo mục 3.3 phần II, Thông tư số 17/ 2007/TTLN ngày 24/12/2007 thì hành

vi mua bán trái phép chất ma túy bao gồm: Bán trái phép chất ma túy cho người khác (không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có) bao gồm cả việc bán hộ chất ma túy cho người khác để hưởng tiền công hoặc các lợi ích khác; mua chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác; xin chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác; dùng chất ma túy nhằm trao đổi thanh toán trái phép (không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có); dùng tài sản không phải là tiền đem trao đổi, thanh toán… lấy chất ma túy nhằm bán lại trái phép cho người khác; tàng trữ chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác; vận chuyển chất ma túy

nhằm bán trái phép cho người khác [1]

Từ những quy định trên, tác giả đưa ra khái niệm tội mua bán trái phép chất

ma túy như sau: Tội mua bán trái phép chất ma túy là những hành vi nguy hiểm cho

xã hội, bao gồm các hành vi: Bán trái phép chất ma túy cho người khác (không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có) bao gồm cả việc bán hộ chất ma túy cho người khác để hưởng tiền công hoặc các lợi ích khác; mua chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác; xin chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác; dùng chất ma túy nhằm trao đổi thanh toán trái phép (không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có); dùng tài sản không phải là tiền đem trao đổi, thanh toán… lấy chất ma túy nhằm bán lại trái phép cho người khác; tàng trữ chất

ma túy nhằm bán trái phép cho người khác; vận chuyển chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác, được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, xâm phạm chế độ thống nhất quản lý của Nhà nước về các chất ma túy

Trang 18

1.2.2 Các dấu hiệu pháp lý của tội mua bán trái phép chất ma túy

1.22.1 Khách thể của tội phạm

Tội mua bán trái phép chất ma túy quy định tại Điều 251 BLHS năm 2015 có khách thể trực tiếp là chế độ thống nhất quản lý của Nhà nước về các chất ma túy

Đối tượng tác động của tội phạm: Đối tượng của tội mua bán trái phép chất

ma túy là các chất ma túy Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần, được quy định các danh mục do Chính phủ ban hành Như vậy chỉ những chất gây nghiện, chất hướng thần, được quy định trong danh mục do chính phủ ban hành thì mới bị coi là ma túy Theo Nghị định số 82/2013/NĐ-CP Chính phủ ban hành các danh mục các chất ma túy và tiền chất thì hiện nay các chất ma túy bao gồm 235 chất chia thành 3 danh mục và 41 tiền chất không thể thiếu trong quá trình sản xuất, điều chế ma túy

1.2.2.2 Mặt khách quan của tội phạm

Mặt khách quan được hiểu là những biểu hiện bên ngoài của tội phạm Việc nghiên cứu mặt khách quan của tội phạm có vai trò rất quan trọng trong việc định tội và định khung hình phạt, và thông qua mặt khách quan chúng ta cũng có thể xác định được mặt chủ quan, chủ thể và khách thể của tội phạm

Mặt khách quan của tội phạm biểu hiện rõ nét nhất các yếu tố của tội phạm

mà con người có thể nhận biết trực tiếp được bao gồm các yếu tố: Hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội; hậu quả nguy hiểm cho xã hội; mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả; các điều kiện bên ngoài của việc thực hiện hành vi phạm tội (công cụ, phương tiện, thời gian, địa điểm phạm tội…)

Hành vi mua bán trái phép chất ma túy là một trong các hành vi sau đây: Bán trái phép chất ma túy cho người khác (không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có) bao gồm cả việc bán hộ chất ma túy cho người khác để hưởng tiền công hoặc các lợi ích khác: Bán trái phép chất ma túy cho người khác là dùng ma túy mình có được dưới bất kỳ hình thức nào như: Mua được, xin được, nhặt được, người khác gửi bán hộ hoặc chiếm đoạt được ma túy… để bán cho người khác lấy tiền, tài sản hoặc lợi ích khác Trường hợp bán hộ chất ma túy cho người

Trang 19

khác để hưởng tiền công hoặc các lợi ích khác cũng đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 251 của BLHS năm 2015 là để tránh một số trường hợp trên thực

tế người phạm tội khi bị phát hiện, bắt giữ khai bán hộ chất ma túy cho người khác nhằm phủ nhận hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma túy

Mua chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác: Là dùng tiền, tài sản hoặc lợi ích khác để đổi lấy chất ma túy và dùng chất ma túy đó để bán lại cho người khác nhằm thu tiền hoặc tài sản Chỉ khi nào xác định được rõ hành vi mua chất ma túy nhằm mục đích bán lại cho người khác thì mới được truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy Việc xác định hành vi mua chất

ma túy có nhằm mục đích bán trái phép hay không cần được xác định rõ bởi đó là căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy Việc xác định mục đích người mua chất ma túy có nhằm bán trái phép hay không cũng chỉ phức tạp trong trường hợp ma túy có trọng lượng (thể tích) ít và người phạm tội khai nhận mua là để sử dụng Còn đối với trường hợp người mua lượng ma túy lớn thì việc xác định mục đích đơn giản hơn và căn cứ vào những tình tiết xung quanh

vụ án, có thể xác định được tội mua bán trái phép của người phạm tội Việc xác minh người phạm tội có mục đích bán chất ma túy cho người khác hay không là trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng Đây là nhiệm

vụ quan trọng bởi nếu không chứng minh được mục đích mua bán của người phạm tội thì tùy trường hợp chỉ có thể truy tố người phạm tội về tội tàng trữ hoặc vận chuyển trái phép chất ma túy, mà trên thực tế thì đó là những tội có mức độ nguy

hiểm thấp hơn tội mua bán trái phép chất ma túy

Xin chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác: Hành vi xin chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác là bằng lời nói hoặc hành động để người khác cho mình chất ma túy, rồi sau đó đem chất ma túy đó bán cho một người thứ ba để

lấy tiền hoặc tài sản

Dùng chất ma túy nhằm trao đổi thanh toán trái phép (không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có)

Trang 20

Dùng tài sản không phải là tiền đem trao đổi, thanh toán… lấy chất ma túy nhằm bán lại trái phép cho người khác

Tàng trữ chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác: Là hành vi cất giữ chất ma túy (không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có) sau đó đem bán chất ma túy đó cho người khác để lấy tiền hoặc tài sản

Vận chuyển chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác: Là hành vi chuyển dịch ma túy bằng bất kỳ hình thức nào từ địa điểm này đến địa điểm khác, với mục đích để bán chất ma túy cho người khác để lấy tiền hoặc tài sản Nếu không chứng minh được mục đích vận chuyển là để bán cho người khác thì chỉ có thể định tội danh là vận chuyển trái phép chất ma túy Việc chứng minh mục đích mua bán chất ma túy của người phạm tội là trách nhiệm của các cơ quan và người tiến hành

tố tụng

Với hành vi bán trái phép chất ma túy, dùng chất ma túy nhằm trao đổi, thanh toán trái phép đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 251 BLHS năm 2015, không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy đó do đâu mà có Còn lại các hành vi khác như mua, xin, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy… thì cần phải chứng minh được mục đích thực hiện hành vi này là bán trái phép chất ma túy đó Như vậy, khi xác định hành vi mua bán trái phép chất ma túy cần chú ý một số vấn

đề sau:

Thứ nhất, chất ma túy mà người phạm tội có để bán cho người khác không

phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có; không phụ thuộc vào chất ma túy đó là thật hay là giả, hàm lượng cao hay thấp Tức là hành vi mua bán trái phép chất ma túy tự nó đã xác lập tội danh cho người phạm tội, các yếu tố về chất hay về lượng và các vấn đề liên quan khác chỉ góp phần định khung hình phạt

Thứ hai, trong trường hợp người phạm tội vừa có hành vi mua bán trái phép

chất ma túy kèm theo các hành vi khác như tàng trữ, vận chuyển hoặc chiếm đoạt chất ma túy thì tùy từng trường hợp cụ thể mà định tội là “Tội tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy”, “Tội vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy”, “Tội chiếm đoạt, mua bán trái phép chất ma túy” hay tội danh đầy đủ “Tội tàng trữ, vận chuyển,

Trang 21

mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy”

Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP của hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn về trách nhiệm hình sự cho một số trường hợp về tội mua bán trái phép chất ma túy như sau:

Điểm e mục 2 phần II quy định: Người nào bán trái phép chất ma tuý cho người khác và còn cho họ sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu, chiếm hữu hoặc quản lý của mình để họ sử dụng trái phép chất ma tuý, thì ngoài tội mua bán trái phép chất ma tuý, người đó còn phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội chứa chấp sử

dụng trái phép chất ma tuý [36]

1.2.2.3 Mặt chủ quan của tội phạm

Lỗi của người phạm tội mua bán trái phép chất ma túy là lỗi cố ý, người phạm tội nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình thực hiện, biết rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được hậu quả của hành vi nhưng vẫn quyết tâm thực hiện Đối với hành vi mua bán trái phép chất ma túy chỉ

có thể được thực hiện do cố ý trực tiếp, không có trường hợp nào do cố ý gián tiếp

[21, tr.399]

1.2.2.4 Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội mua bán trái phép chất ma túy là bất kỳ ai có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt đến độ tuổi nhất định Đối với tội mua bán trái phép chất ma túy chỉ những người sau đây mới có thể là chủ thể của tội phạm này:

Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS năm 2015,

vì khoản 1 Điều 251 là tội phạm nghiêm trọng mà theo quy định thì người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do

cố ý và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Chỉ người từ đủ 16 tuổi trở lên mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều

251 Người từ đủ 14 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy thuộc trường hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều

251 BLHS 2015

Trang 22

1.3 Cơ sở lý luận của định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội mua bán trái phép chất ma túy

1.3.1 Cơ sở lý luận của định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy

1.3.1.1 Khái niệm, đặc điểm của định tội danh

- Khái niệm định tội danh

“Định tội danh là một dạng hoạt động nhận thức, hoạt động áp dụng pháp luật hình sự nhằm đi tới chân lý khách quan trên cơ sở xác định đúng đắn, đầy đủ các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội được thực hiện, nhận thức đúng nội dung quy phạm pháp luật hình sự quy định cấu thành tội phạm tương ứng và mối liên hệ tương đồng giữa các dấu hiệu của cấu thành tội phạm với các tình tiết cụ thể của

hành vi phạm tội bằng các phương pháp và thông qua các giai đoạn nhất định” [49, tr.26, 27]

Từ khái niệm định tội danh, căn cứ Điều 251 của BLHS 2015 và những dấu hiệu đặc trưng cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy, tác giả đưa ra khái niệm

định tội danh đối với tội mua bán trái phép chất ma túy như sau: “Định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi tội phạm cụ thể đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tội mua bán trái phép chất ma túy đã được quy định trong Bộ luật Hình sự”

- Đặc điểm của định tội danh

Quá trình áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự diễn ra phức tạp và đa dạng, được thể hiện ở 3 giai đoạn: Định tội danh, định khung hình phạt và quyết định hình phạt Trong đó, định tội danh là một giai đoạn quan trọng nhất trong ba giai đoạn trên của toàn bộ quá trình áp dụng PLHS Bởi vì, định tội danh được tiến hành ở tất cả các giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự từ giai đoạn khởi tố đến giai đoạn thi hành án Trong khi đó, bước quyết định hình phạt chỉ được tiến hành ở giai đoạn xét xử

Định tội danh là một trong những biện pháp đưa BLHS vào đời sống xã hội, góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng ngừa tội phạm qua đó góp phần thực

Trang 23

hiện đường lối chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta Định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy là sự xác nhận về mặt pháp lý sự phù hợp, thống nhất giữa các hành vi nguy hiểm cho xã hội thực hiện trong thực tế khách quan với dấu hiệu trong CTTP tội mua bán trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 251 BLHS năm 2015 Hay nói cách khác, định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy là việc xác định hành vi cụ thể đã thực hiện thỏa mãn đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy đã được quy định trong BLHS Về phương pháp định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy chủ yếu sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, quy nạp, diễn dịch và quan trọng hơn cả là phương pháp loại trừ Từ các vấn đề nêu trên cho thấy định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy có 4 đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy là hoạt động tiến hành tố tụng được tiến hành bởi các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) và một số cơ quan khác theo thẩm quyền Trên cơ sở xác định đúng đắn, đầy đủ tình tiết của hành vi phạm tội đã thực hiện và sự nhận thức đầy đủ, đúng đắn nội dung của các QPPL

Thứ hai, định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy là quá trình nhận thức có tính logic giữa lý luận và thực tiễn Thể hiện dưới hai khía cạnh: Xác định hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện có phù hợp với dấu hiệu CTTP tội mua bán trái phép chất ma túy quy định tại Điều 251 BLHS 2015 và đưa ra sự đánh giá nhất định về mặt pháp lý hình sự đối với hành vi mua bán trái phép chất ma túy trong thực tiễn Quá trình định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy phạm pháp luật nội dung là Điều 251 BLHS 2015 cũng như các quy phạm pháp luật của luật hình thức là BLTTHS

Thứ ba, hoạt động định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy là hoạt động đối chiếu sự phù hợp giữa các dấu hiệu thực tế của cấu thành tội phạm và dấu hiệu pháp lý của cấu thành tội phạm được mô tả trong BLHS

Thứ tư, sau khi đối chiếu sự phù hợp giữa dấu hiệu thực tế của cấu thành tội phạm và dấu hiệu pháp lý của cấu thành tội phạm được mô tả trong luật hình sự thì

Trang 24

cơ quan có thẩm quyền sẽ đưa ra kết luận người đó phạm tội gì theo điều luật nào của BLHS bằng một quyết định cụ thể

1.3.1.2 Cơ sở pháp lý của định tội danh

BLHS và BLTTHS là cơ sở pháp lý trực tiếp cho toàn bộ quá trình định tội danh Pháp luật hình sự có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình định tội danh Bản chất hoạt động định tội danh là xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu CTTP tương ứng do BLHS quy định

Khi xây dựng các quy phạm pháp luật hình sự, các nhà làm luật đã nghiên cứu các dấu hiệu đặc trưng, cơ bản nhất, phổ biến nhất và hay được lặp lại nhiều nhất trong những hành vi ấy, sau đó điển hình hóa và quy định trong BLHS với tính chất là các dấu hiệu trong CTTP Điều luật về từng tội phạm cụ thể trong BLHS đã chứa đựng đầy đủ các dấu hiệu đặc trưng, điển hình bắt buộc không thể thiếu được của một loại CTTP Tất cả các dấu hiệu đó tập hợp thành một hệ thống liên quan chặt chẽ với nhau trở thành khuôn mẫu pháp lý (mô hình tội phạm), làm cơ sở cho người định tội danh so sánh, đối chiếu với hành vi phạm tội đã xảy ra Với ý nghĩa

là cơ sở pháp lý của định tội danh, pháp luật hình sự quy định, liệt kê các hành vi nguy hiểm cho xã hội được đánh giá là hành vi tội phạm đã được quy định trong BLHS và các đạo luật hình sự khác Đó là sự liệt kê đầy đủ, thể hiện nguyên tắc

“chỉ người nào phạm tội đã được Luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm

hình sự” [49, Tr.61]

BLTTHS chứa đựng các quy phạm pháp luật quy định về các trình tự, thủ tục, thời hạn, chứng cứ… đảm bảo cho quá trình định tội danh diễn ra đúng đắn, chính xác và hợp pháp Các văn bản pháp luật khác như: Văn bản pháp luật chuyên ngành, Nghị định, Thông tư liên ngành chứa đựng các quy phạm pháp luật về nội dung chỉ là sự tiếp tục, cụ thể hóa các quy phạm đã được quy định trong BLHS là

mô hình CTTP Có tính chất là cơ sở pháp lý bổ trợ cho quá trình định tội danh

Trang 25

1.3.1.3 Ý nghĩa của định tội danh

Định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy là một giai đoạn cơ bản của việc áp dụng QPPL hình sự Định tội danh đúng có ý nghĩa chính trị - xã hội, đạo đức và pháp luật rất lớn Hoạt động định tội danh của các chủ thể có thể theo hai xu hướng: Định tội danh đúng hoặc định tội danh sai

- Đối với hoạt động định tội danh đúng

Định tội danh đúng tội mua bán trái phép chất ma túy là một biểu hiện của việc thực hiện đúng đắn đường lối của đảng, pháp luật của nhà nước, thực thi đúng

ý chí của nhân dân được thể hiện trong luật, bảo vệ có hiệu quả các lợi ích của xã hội, của Nhà nước và của con người

Định tội danh đúng tội mua bán trái phép chất ma túy là tiền đề cho sự phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt một cách công minh và có căn cứ pháp luật Định tội danh đúng sẽ hỗ trợ cho việc thực hiện một loạt các nguyên tắc tiến bộ trong Nhà nước pháp quyền như: Nguyên tắc pháp chế, trách nhiệm do lỗi, trách nhiệm cá nhân, bình đẳng trước pháp luật hình sự…

Định tội danh đúng tội mua bán trái phép chất ma túy là một trong những cơ

sở để áp dụng chính xác các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự về thẩm quyền điều tra, xét xử, tạm giam qua đó góp phần hữu hiệu cho việc bảo vệ các quyền và tự do dân chủ của công dân trong lĩnh vực tư pháp hình sự Định tội danh đúng tội mua bán trái phép chất ma túy là sự thể hiện hoạt động có hiệu quả, ý thức thủ pháp triệt

để và ý thức trách nhiệm trong hoạt động nghề nghiệp của cơ quan có thẩm quyền

- Đối với hoạt động định tội danh sai

Định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy sai sẽ không thuyết phục được người phạm tội về tính đúng đắn và nghiêm minh của bản án, làm giảm hiệu quả giáo dục của bản án, đồng thời làm giảm uy tín và hiệu lực của cơ quan bảo vệ pháp luật Mặt khác, định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy sai sẽ dẫn đến một loạt các hậu quả tiêu cực như: Truy cứu trách nhiệm hình sự người vô tội, bỏ lọt tội phạm, không bảo đảm được tính công minh, tính răn đe của pháp luật Những

Trang 26

vụ việc oan sai bắt nguồn từ việc đánh giá chứng cứ phiến diện, thiếu thận trọng, nôn nóng khởi tố, bắt tạm giam, suy diễn chủ quan

1.3.2 Cơ sở lý luận của quyết định hình phạt đối với tội mua bán trái phép chất ma túy

1.3.2.1 Khái niệm, nội dung của quyết định hình phạt

- Khái niệm quyết định hình phạt

Quyết định hình phạt là một giai đoạn, một nội dung của áp dụng pháp luật hình sự thể hiện ở việc Tòa án lựa chọn loại và mức hình phạt cụ thể được quy định trong điều luật (khoản điều luật) theo một thủ tục nhất định để áp dụng đối với

người phạm tội thể hiện trong bản án buộc tội [52, tr.386]

Dưới góc độ luật TTHS thì quyết định hình phạt là hoạt động của Tòa án mà

cụ thể là của Hội đồng xét xử (trong đó có Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân) trong giai đoạn xét xử Hình phạt được quy định trong BLHS và do Tòa án quyết định

Như vậy, quyết định hình phạt là hoạt động áp dụng pháp luật hình sự của Tòa án trong giai đoạn xét xử, trên cơ sở các quy định của Luật hình sự, Tòa án lựa chọn loại hình phạt và mức hình phạt để áp dụng đối với người phạm tội

Từ khái niệm quyết định hình phạt có thể hiểu quyết định hình phạt đối với tội mua bán trái phép chất ma túy là hoạt động thực tiễn của Tòa án do Hội đồng xét

xử thực hiện căn cứ vào các quy định của pháp luật hình sự, trên cơ sở kết quả của hoạt động định tội danh để xác định biện pháp xử lý tương ứng với tính chất, mức

độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma túy Trong quyết định hình phạt, Tòa án quyết định miễn hình phạt hoặc xác định khung hình phạt, quyết định loại và mức hình phạt hay biện pháp tư pháp thay thế hình phạt cụ thể được quy định trong luật hình sự để áp dụng đối với người phạm tội mua bán trái phép chất ma túy thể hiện trong bản án kết tội đối với họ

- Nội dung của quyết định hình phạt

Thứ nhất, Tòa án lựa chọn một trong những hình phạt cụ thể được quy định trong điều luật (khoản điều luật) được áp dụng để quyết định đối với bị cáo

Thứ hai, xác định một mức hình phạt cụ thể đối với bị cáo

Trang 27

Hai nội dung đó được tiến hành theo trình tự và được thực hiện khi áp dụng

cả hình phạt chính lẫn hình phạt bổ sung Loại mà mức hình phạt được áp dụng đối với bị cáo phải được thể hiện trong bản án buộc tội theo quy định của BLTTHS và

được công bố một cách công khai khi tuyên án [52, tr.385]

1.3.2.2 Nguyên tắc quyết định hình phạt

Các nguyên tắc quyết định hình phạt bao gồm: Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc cá thể hoá hình phạt

và nguyên tắc công bằng

- Nguyên tắc pháp chế XHCN: Nội dung của nguyên tắc này được thể hiện

trước hết ở việc Tòa án chỉ có thể quyết định một hình phạt đối với người phạm tội Một nội dung khác của nguyên tắc này là khi quyết định hình phạt, Tòa án phải tuân theo trình tự, các điều kiện áp dụng của từng loại hình phạt cụ thể và đặc biệt Tòa

án chỉ có thể tuyên những hình phạt được quy định trong BLHS Tư tưởng cơ bản của nguyên tắc này là khi áp dụng hình phạt đối với người bị kết án thì Tòa án phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng

- Nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa: Khi quyết định hình phạt, Tòa án

phải cân nhắc, đánh giá một cách hài hòa, hợp lý trong một thể thống nhất lợi ích của xã hội của Nhà nước và của người phạm tội Theo đó, Tòa án phải xuất phát từ

tư tưởng nhân đạo để áp dụng và tuân thủ triệt để các quy định của luật hình sự về việc áp dụng hình phạt đối với người phạm tội không nhằm mục đích gây đau đớn

về thể xác và hạ thấp nhân phẩm con người mà ngược lại bên cạnh mục đích chính trị thì mục đích giáo dục, cải tạo người phạm tội luôn là mục đích cao nhất mà chúng ta hướng tới

- Nguyên tắc cá thể hoá hình phạt: Nội dung của nguyên tắc này thể hiện ở

chỗ khi quyết định hình phạt, Tòa án phải cân nhắc đầy đủ các căn cứ quyết định hình phạt để từ đó làm cơ sở cho Tòa án quyết định hình phạt đúng đắn với người phạm tội

- Nguyên tắc công bằng: Nguyên tắc công bằng trong quyết định hình phạt

Trang 28

được tuyên cần phản ánh một cách đúng đắn dư luận xã hội, ý thức pháp luật và đạo đức xã hội, phải có sức thuyết phục mọi người Trong lĩnh vực hình sự, nguyên tắc công bằng còn thể hiện là sự tương xứng giữa tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và TNHS của người thực hiện hành vi phạm tội phải chịu

1.3.2.3 Căn cứ quyết định hình phạt

Các căn cứ quyết định hình phạt đối với tội mua bán trái phép chất ma túy là những đòi hỏi cơ bản có tính nguyên tắc do luật hình sự quy định hoặc do giải thích pháp luật mà có, buộc Tòa án phải tuân theo khi quyết định hình phạt đối với người thực hiện tội phạm Khi quyết định hình phạt Tòa án phải tuân theo những đòi hỏi quan trọng có tính nguyên tắc sau:

Thứ nhất, căn cứ vào các quy định của BLHS, tức là căn cứ vào các quy định của phần chung và phần các tội phạm (điều luật quy định tội phạm mà các bị cáo

Thứ ba, cân nhắc nhân thân người phạm tội

Nhân thân người phạm tội là một phạm trù lịch sử, bao gồm tổng hợp các đặc điểm về xã hội, tâm lý, đạo đức, sinh học, nói lên tính chất của con người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị quy định trong BLHS là tội phạm Các đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết vấn đề TNHS của người phạm tội một cách công minh, có căn cứ, đúng pháp luật Vì vậy, nghiên cứu về nhân thân người phạm tội sẽ cho chúng ta biết được những đặc điểm tốt, những đặc điểm xấu, những thuận lợi, khó khăn trong quá trình hình thành nhân cách của người phạm tội

để qua đó góp phần đánh giá chính xác tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của

Trang 29

hành vi phạm tội cũng như khả năng giáo dục, cải tạo họ Việc cân nhắc nhân thân người phạm tội sẽ giúp cho Hội đồng xét xử không chỉ quyết định hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà hình phạt đó còn phù hợp với khả năng giáo dục, cải tạo của người phạm tội Chỉ có như vậy mới giải quyết đúng đắn vấn đề TNHS của người phạm tội, đảm bảo cho việc

cá thể hoá hình phạt một cách chính xác nhằm đạt được tốt nhất các mục đích của hình phạt

Thứ tư, cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự Khi Tòa án quyết định hình phạt, Tòa án không chỉ căn cứ vào quy định của BLHS, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội mà còn phải cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự Cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS có ý nghĩa pháp lý hết sức quan trọng trong quyết định hình phạt nhằm đảm bảo cho hình phạt được tuyên một cách công bằng, thể hiện sự tương xứng giữa mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội với mức độ TNHS được áp dụng

1.3.2.4 Ý nghĩa của quyết định hình phạt

Quyết định hình phạt có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về chính trị, pháp luật Chỉ khi hình phạt được quyết định một cách chính xác và công bằng thì mục đích của hình phạt mới đạt được, tức là “hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống XHCN, ngăn ngừa họ phạm tội mới Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống

tội phạm.” [25] Hình phạt quá nặng so với tính chất và mức độ của hành vi phạm

tội sẽ gây phản ứng tiêu cực từ phía người bị kết án, họ không tin tưởng vào tính công bằng của pháp luật; ngược lại nếu hình phạt quá nhẹ sẽ tạo ra sự coi thường pháp luật từ chính người bị kết án và những người khác Cả hai khuynh hướng trái ngược này đều làm cho mục đích của hình phạt không đạt được

1.3.2.5 Hình phạt đối với tội mua bán trái phép chất ma túy theo pháp luật hình sự Việt Nam

Trang 30

- Khung cơ bản của tội mua bán trái phép chất ma túy

Khoản 1 Điều 251 là cấu thành tội phạm cơ bản của tội mua bán trái phép chất ma túy, áp dụng cho các trường hợp người phạm tội thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các hành vi được nêu ở mặt khách quan của tội phạm nhưng không có các tình tiết là yếu tố định khung hình phạt, tức là không thuộc trường hợp có tình tiết định khung tăng nặng quy định tại khoản 2, 3 và 4 Điều 251 Cấu thành tội phạm cơ bản của tội mua bán trái phép chất ma túy quy định hình phạt tù có thời hạn từ 2 năm đến 7 năm

Việc quyết định hình phạt đối với người phạm tội quy định tại khoản 1 Điều

251 BLHS năm 2015, Tòa án căn cứ vào các quy định về quyết định hình phạt BLHS 2015

- Khung tăng nặng của tội mua bán trái phép chất ma túy

Khi các tình tiết của tội phạm không những thỏa mãn dấu hiệu định tội mà còn thỏa mãn dấu hiệu CTTP tăng nặng sẽ cho phép chuyển khung hình phạt áp dụng đối với người phạm tội từ khung hình phạt của CTTP cơ bản sang khung hình phạt của CTTP tăng nặng Các tình tiết đó được gọi là tình tiết định khung hình phạt Hình phạt được quy định áp dụng đối với các trường hợp có các dấu hiệu định khung hình phạt tăng nặng quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 251 cụ

thể như sau:

+ Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 251 thì

người phạm tội có thể bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm, gồm:

Có tổ chức;

Phạm tội 02 lần trở lên;

Mua bán với 02 người trở lên;

Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội hoặc bán ma túy cho người

dưới 16 tuổi;

Trang 31

Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 500 gam đến

dưới 01 kilôgam;

Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ

05 gam đến dưới 30 gam;

Lá, rễ, thân, cành, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có khối lượng từ 10

kilôgam đến dưới 25 kilôgam;

Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 200 kilôgam; Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 50 kilôgam; Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 20 gam đến dưới 100 gam;

Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 100 mililít đến dưới 250

mililít;

Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với

số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm n khoản

này;

Tái phạm nguy hiểm

+ Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 251 thì

người phạm tội có thể bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm, gồm:

Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 05 kilôgam;

Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ

30 gam đến dưới 100 gam;

Lá, rễ, thân, cành, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có khối lượng từ 25 kilôgam đến dưới 75 kilôgam;

Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 200 kilôgam đến dưới 600 kilôgam; Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 150 kilôgam; Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 100 gam đến dưới 300 gam; Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 250 mililít đến dưới 750 mililít;

Trang 32

Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với

số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản

này

+ Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 251 thì

người phạm tội có thể bị phạt tù hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình, gồm:

Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng 05 kilôgam trở lên;

Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng

100 gam trở lên;

Lá, rễ, thân, cành, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có khối lượng 75 kilôgam trở lên;

Quả thuốc phiện khô có khối lượng 600 kilôgam trở lên;

Quả thuốc phiện tươi có khối lượng 150 kilôgam trở lên;

Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng 300 gam trở lên;

Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích 750 mililít trở lên;

Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với

số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản

này

Có thể nói, hình phạt quy định tại các khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 251 BLHS năm 2015 là những hình phạt hết sức nghiêm khắc Đặc biệt, bên cạnh hình phạt tù có thời hạn và hình phạt tù chung thân, người phạm tội có thể bị áp dụng

hình phạt đặc biệt là hình phạt tử hình

1.4 Phân biệt tội mua bán trái phép chất ma túy với một số tội phạm khác

Theo quy định của BLHS 2015 thì tội mua bán trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 251 và được xếp vào Chương XX (Chương các tội phạm về ma túy) So với các tội danh được quy định tại các chương khác của BLHS 2015 thì tội mua bán trái phép chất ma túy có sự khác biệt về mặt khách thể, đối tượng tác động của tội phạm và trong nhiều trường hợp là cả mặt khách quan và mặt chủ quan của tội phạm Khách thể của tội mua bán trái phép chất ma túy là chế độ thống nhất

Trang 33

quản lý các chất ma túy của Nhà nước và đối tượng tác động của tội này là các chất

ma túy Trong khi đó các tội danh khác không nằm trong chương các tội phạm về

ma túy mà lại có khách thể hoàn toàn khác, đó có thể là quan hệ nhân thân, quan hệ

sở hữu, tính mạng, sức khoẻ người khác… các tội này cũng có đối tượng tác động khác, đó có thể là những tài sản, phương tiện hoặc thân thể con người…Trong một

số trường hợp thì sự khác nhau giữa tội mua bán trái phép chất ma túy so với các tội khác còn có sự khác nhau về mặt chủ quan (các tội về lỗi vô ý như tội vô ý làm chết người, tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ…) khác nhau về mặt hành vi khách quan (như tội hiếp dâm, cưỡng dâm…)

Mặt khác thì tội mua bán trái phép chất ma tuý cũng có những điểm khác so với những tội danh về ma túy khác được quy định trong cùng chương XX (các tội phạm về ma tuý) Đó có thể sự khác nhau về mặt hành vi khách quan (như tội trồng cây thuốc phiện hoặc các loại cây khác có chứa chất ma tuý…) hay đó có thể là sự khác nhau về đối tượng tác động (như tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy), hay có đối tượng tác động là các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma tuý (như tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy) Chính những sự khác nhau đó, vì vậy khi quy định các tội danh trong BLHS, nhà làm luật

đã sắp xếp các tội danh nằm ở những chương khác nhau theo tiêu chí khách thể xâm phạm của tội phạm nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc nhận thức pháp luật, thực hiện pháp luật và áp dụng pháp luật một cách chính xác, phù hợp và đạt hiệu

quả cao

Kết luận Chương 1

Chương 1 của luận văn, tác giả đã khái quát lịch sử lập pháp đối với tội mua bán trái phép chất ma túy, để từ đó có cách nhìn toàn diện hơn về chính sách hình sự của Đảng, Nhà nước ta đối với tội phạm này Theo đó, tác giả đã khái quát lịch sử

Trang 34

lập pháp đối với tội mua bán trái phép chất ma túy theo trình tự về mặt thời gian tương ứng với các mốc thời gian của quá trình xây dựng BLHS 1985, 1999, 2015

Trên cơ sở nghiên cứu quy định khái niệm chung về tội phạm trong Bộ luật hình sự năm 2015, kết hợp với quy định tại Điều 251 BLHS, tác giả đã đưa ra khái niệm về tội mua bán trái phép chất ma túy và phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội mua bán trái phép chất ma túy, bao gồm: Khách thể của tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, mặt chủ quan của tội phạm, chủ thể của tội phạm

Đồng thời, Chương 1 của luận văn đã phân tích, làm rõ hình phạt đối với tội mua bán trái phép chất ma túy theo khung cơ bản (khoản 1 Điều 251 BLHS 2015), khung tăng nặng tội mua bán trái phép chất ma túy, phân biệt tội mua bán trái phép chất ma túy với các tội phạm khác được quy định trong BLHS

Việc nghiên cứu, làm rõ những cơ sở lý luận và pháp lý của tội mua bán trái phép chất ma túy có ý nghĩa hết sức quan trọng, là căn cứ cơ bản, tiền đề để nghiên cứu hoạt động định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội mua bán trái phép chất ma túy nói chung và trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk nói riêng

Trang 35

CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK

2.1 Khái quát tình hình tội phạm mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

Theo thống kê từ năm 2013 đến năm 2017, Tòa án nhân dân hai cấp trong

tỉnh Đắk Lắk đã xét xử sơ thẩm tổng số 946 vụ án, với 1.118 bị cáo về tội mua bán

trái phép chất ma túy Trung bình mỗi năm TAND hai cấp của tỉnh Đắk Lắk xét xử

sơ thẩm 189.2 vụ án, với 223.6 bị cáo [47]

Bảng 2.1: Thống kê số vụ án và số bị cáo bị xét xử sơ thẩm về tội mua bán trái phép

chất ma túy trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk từ năm 2013 đến năm 2017

Năm Số vụ án và bị cáo được Tòa án xét xử sơ thẩm

Nghiên cứu Bảng 2.1 cho thấy số vụ án, số bị cáo phạm tội tội mua bán trái

phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk có sự tăng, giảm đáng kể qua từng năm

và đều tăng so với năm 2013 Trong đó năm 2015 có tỉ lệ tăng cao nhất cả về số vụ

và số bị cáo (35,9% về số vụ và 28,8% về số bị cáo) so với năm 2013

Trang 36

Bảng 2.2: Tỷ lệ xét xử sơ thẩm các vụ án và bị cáo về tội mua bán trái phép chất ma túy so với các tội phạm về ma túy và các tội phạm khác trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk từ

Về các khoản xét xử các bị cáo: Trong số các bị cáo bị xét xử về tội mua bán trái phép chất ma túy thì đa số các bị cáo bị xét xử theo khoản 1 Điều 194 BLHS, tiếp đến là khoản 2 Điều 194 BLHS, các bị cáo bị xét xử theo khoản 3 và khoản 4 Điều 194 BLHS chiếm tỷ lệ nhỏ

Bảng 2.3: Cơ cấu xét theo mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk từ năm 2013 đến năm 2017

Năm Tổng số bị

cáo

CTTP cơ bản Cấu thành tội phạm tăng nặng Khoản 1 Khoản 2 Khoản 3 Khoản 4

Trang 37

Nghiên cứu Bảng 2.3 cho thấy số bị cáo phạm tội mua bán trái phép chất ma

túy trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk từ năm 2013 đến năm 2017 bị xét xử theo khoản 1

Điều 194 chiếm tỷ lệ lớn nhất với 69,1%, tiếp theo là khoản 2 Điều 194 BLHS với

tỷ lệ là 28,7%, khoản 3 chiếm tỷ lệ 2,2%

Về hình phạt: Loại hình phạt được áp dụng đối với các bị cáo đều là tù có

thời hạn trở lên, trong đó mức phạt dưới ba năm tù chiếm tỷ lệ cao nhất Loại hình

phạt chung thân và tử hình không được áp dụng

Bảng 2.4: Cơ cấu xét theo mức hình phạt áp dụng đối với tội mua bán trái phép

chất ma túy trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk từ năm 2013 đến năm 2017

Từ 7 năm đến dưới 15 năm tù

Từ 15 năm đến 20 năm tù

Chung thân

Tử hình

Số

bị cáo

Tỷ lệ

%

Số

bị cáo

Tỷ lệ

%

Số

bị cáo

Tỷ lệ

%

Số

bị cáo

Nghiên cứu Bảng 2.4 cho thấy số bị cáo bị xử phạt với mức hình phạt từ 3

năm tù đến dưới 7 năm tù chiếm tỷ lệ nhiều nhất (36,5%), tiếp theo là mức hình

phạt dưới 3 năm tù (32,6%), mức hình phạt từ 7 đến dưới 15 năm tù chiếm tỷ lệ

28,7%, mức phạt, mức phạt từ 15 đến 20 năm tù chiếm tỷ lệ 2,2% Hình phạt chung

thân và tử hình không được áp dụng

Trang 38

2.2 Thực tiễn định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

2.2.1 Thực tiễn định tội danh tội mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk theo cấu thành tội phạm cơ bản

Luật hình sự quy định tội phạm bằng cách mô tả tội phạm Những dấu hiệu

sử dụng để mô tả tội phạm phải vừa phản ánh được đầy đủ tính nguy hiểm của tội phạm cụ thể và vừa đủ để phân biệt tội phạm này với tội phạm cụ thể khác Tùy thuộc vào các tình tiết đặc trưng cho khách thể của tội phạm, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan, tội phạm có thể có mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau

Dựa vào mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, cấu thành tội phạm có thể được chia thành: Cấu thành tội phạm cơ bản; cấu thành tội phạm tăng nặng; cấu thành tội phạm giảm nhẹ

“Cấu thành tội phạm cơ bản là hệ thống các dấu hiệu đặc trưng, bắt buộc đối với mọi trường hợp phạm tội của một loại tội, phản ánh bản chất của loại tội phạm

đó và cho phép phân biệt tội phạm này với tội phạm khác” [50, tr.133]

Cấu thành tội phạm cơ bản của một loại tội phạm thường được quy định ngay trong khoản 1 của tội đó Nội dung cơ bản của cấu thành tội phạm cơ bản bao gồm những dấu hiệu định tội

Định tội danh theo cấu thành tội phạm cơ bản của tội mua bán trái phép chất

ma túy là định tội danh theo những dấu hiệu pháp lý đặc trưng bắt buộc của tội phạm quy định tại khoản 1 Điều 194 BLHS Theo đó, khoản 1 Điều 194 BLHS quy định: Người nào mua bán trái phép chất ma túy thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm

Theo số liệu thống kê của TAND tỉnh Đắk Lắk thì từ năm 2013 đến năm

2017, tổng số vụ án chung là 5661 vụ/9440 bị cáo Riêng đối với tội mua bán trái phép chất ma túy thì tổng số vụ là 946 vụ/1118 bị cáo Đối với tội mua bán trái phép chất ma túy thì số bị cáo bị định tội danh theo khoản 1 chiếm tỷ lệ nhiều nhất với 773 bị cáo (69,1%), trong đó mức hình phạt từ 3 năm tù đến dưới 7 năm tù chiếm tỷ lệ 36,5%, mức hình phạt dưới 3 năm tù chiếm tỷ lệ 32,6%

Ngày đăng: 11/06/2018, 10:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w