LỜI MỞ ĐẦUThịt gia cầm là thực phẩm có giá trị dinh dưỡng tốt nhất, vì trong thành phần của nó có chứa một lượng lớn các protein hoàn thiện, chất béo, khoáng và một số các vitamin cần thiết cho hoạt động sống bình thường của con người. Ngoài ra, vệ sinh an toàn thực phẩm cũng là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt. Thực phẩm an toàn đóng góp to lớn trong việc cải thiện sức khoẻ con người, chất lượng cuộc sống và chất lượng giống nòi. Ngộ độc thực phẩm và các bệnh do thực phẩm gây ra không chỉ gây ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ và cuộc sống của mỗi người, mà còn gây thiệt hại lớn về kinh tế, là gánh nặng chi phí cho chăm sóc sức khoẻ. An toàn thực phẩm không chỉ ảnh hưởng trực tiếp, thường xuyên đến sức khỏe mà còn liên quan chặt chẽ đến năng suất, hiệu quả phát triển kinh tế, thương mại, du lịch và an sinh xã hội. Tuy nhiên, trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm ở nước ta cơ bản vẫn là nhỏ lẻ, quy mô hộ gia đình nên việc kiểm soát an toàn vệ sinh rất khó khăn. Mặc dù Việt Nam đã có những tiến bộ rõ rệt trong bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm trong thời gian qua song công tác quản lý an toàn thực phẩm còn nhiều yếu kém, bất cập, hạn chế về nguồn lực và đầu tư kinh phí và chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn.Do đó, bài báo cáo này của chúng tôi với mục đích “Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá chất lượng thịt gia cầm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm” nhằm góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, xoá đói giảm nghèo và hội nhập quốc tế. 1.THỰC TRẠNG THỊT GIA CẦM HIỆN NAY1.1.Trên thế giớiChăn nuôi gia cầm cũng như thương mại các sản phẩm gia cầm trên thế giới phát triển mạnh trong vòng 35 năm qua. Sản lượng thịt và trứng gia cầm tăng nhanh hơn sản lượng thịt bò và thịt lợn. Năm 1970, sản lượng thịt gia cầm thế giới chỉ đạt 15.1 triệu tấn, thịt lợn là 38.3 triệu tấn, thịt bò 60.4 triệu tấn. Đến năm 2005, sản lượng các loại thịt này tăng lên tương ứng là: 81, 102.5 và 60.4 triệu tấn. Sản lượng thịt gia cầm năm 1970 chỉ xấp xỉ 50% sản lượng thịt lợn và bằng 25% sản lượng thịt bò nhưng đến năm 2005 sản lượng thịt gia cầm đã tăng cao hơn 25% so với thịt bò và bằng 75% thịt lợn.Trong những thập kỉ gần đây, vùng chăn nuôi gia cầm chuyển từ Bắc và Trung Mỹ, Châu Âu sang khu vực Nam và Đông Á. Nếu năm 1970 chỉ có 2 quốc gia Châu Á trong 10 quốc gia đứng đầu về chăn nuôi gia cầm đó là Trung Quốc và Nhật Bản, thì đến nay Mỹ vẫn đứng ở vị trí đầu (chiếm 22.9%), nhưng Trung Quốc và Brazil đã ở vị trí thứ 2 và 3. Năm 2005, sản lượng thịt gia cầm ở các nước đang phát triển chiếm 54.7% sản lượng thịt gia cầm thế giới. Thị phần của Bắc Mỹ, Trung Mỹ và Châu Âu bị chia sẻ bởi các nhà sản xuất lớn khác ở Châu Á và Nam Mỹ đó là Trung Quốc và Brazil. Năm 1970, sản lượng thịt của khu vực Bắc và Trung Mỹ, Châu Âu (EU) và Liên bang Nga chiếm hơn 71% sản lượng thịt gia cầm thế giới , còn Châu Á và Nam Mỹ chiếm ít hơn 24%. Đến năm 2005, tỷ lệ này là gần 50%, tốc độ tăng trưởng cao nhất là ở khu vực Châu Á gần 25 triệu tấn trong giai đoạn 1975–2005, sau đó là Nam Mỹ 12 triệu tấn.Tốc độ tăng trưởng của thương mại gia cầm tăng nhanh hơn so với khẳ năng sản xuất, cụ thể là: năm 1970 chỉ có 521 tấn thịt gia cầm được xuất khẩu nhưng đến năm 2004 đã tăng lên 9.7 triệu tấn. Ngược lại, năm 1970 thịt gia cầm chỉ chiếm 3.5% trong tổng sản lượng thịt thì đến nay tỷ lệ này là 12%. 1.2.Ở Việt NamTrước khi xảy ra dịch cúm gia cầm, số lượng thịt gia cầm của nước ta hàng năm tăng trưởng ở mức cao. Tổng đàn gia cầm cả nước năm 2001 là 216 triệu con, năm 2003 là 254 triệu con và năm 2005 chỉ còn 220 triệu con. Tốc độ tăng đàn 2001–2003 là 8.5% năm. Đồng bằng sông Hồng từ 46.9 triệu năm 2001 tăng lên 65.5 triệu năm 2003. Sản lượng thịt trong giai đoạn 2001–2005 đạt 372.7 nghìn tấn. Dịch cúm gia cầm đã bùng phát ở Việt Nam trong những năm vừa qua, gây ra những tổn thất lớn cho ngành chăn nuôi gia cầm và đặc biệt là chăn nuôi gà để lại hậu quả nặng nề cả về kinh tế, xã hội. Từ tháng 122003 đến tháng 62007, dịch đã xảy ra 5 đợt, số gà chết và tiêu hủy gần 50 triệu con, thiệt hại lên đến hàng ngàn tỷ đồng. Dịch cúm gia cầm H5N1 gây nguy hiểm và lây nhiễm sang người. Ngoài ra, dịch cúm gia cầm còn làm trì trệ nhiều ngành sản xuất liên quan, ảnh hưởng lớn đến thị trường, góp phần làm gia tăng lạm phát. Nguyên nhân bùng phát và tái phát dịch chủ yếu do phương thức chăn nuôi nhỏ lẻ, thả rông, buôn bán, vận chuyển, giết mổ thủ công tràn lan,… Dẫn đến ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và làm lây lan dịch bệnh.Nhập khẩu thịt vào Việt Nam giảm. Việt Nam đã nhập 30.000 tấn thịt trong nửa đầu năm 2013, giảm 15% so với cùng kỳ năm trước, theo ông Nguyễn Xuân Bình, một phát ngôn viên chính thức của Cục Thú y, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Nhập khẩu thịt gà chiếm 70% lượng thịt nhập khẩu vào Việt Nam, phần còn lại là thịt heo, thịt bò và thịt cừu. Và nước xuất khẩu chủ yếu lượng thịt này là Trung Quốc, Canada và Hoa Kỳ. Hiện tượng giảm số lượng thịt nhập là do các lo ngại vấn đề an toàn thực phẩm. Thông tin từ Chi cục Thú y tỉnh Sóc Trăng cho biết, hai ổ dịch cúm xuất hiện trên đàn gà ở xã An Thạnh Nhất (huyện Cù Lao Dung) và đàn vịt ở xã Tân Long (huyện Ngã Năm).Ngay sau khi phát hiện ổ dịch, cơ quan chức năng đã lấy mẫu gửi đi xét nghiệm, đồng thời cho tiêu hủy trên 330 con vịt và trên 180 con gà của hai hộ dân nói trên. Ngành chức năng cũng tiến hành phun thuốc khử trùng, tiêu độc và tăng cường các biện pháp ngăn chặn dịch lây lan.Ông Quách Văn Tây, Chi cục trưởng Chi cục thú y Sóc Trăng cho biết, trước tình hình diễn biến của dịch cúm gia cầm, ngành thú y địa phương đã tăng cường công tác lấy mẫu giám sát đối với hộ nuôi gia cầm, gia cầm sống bán tại các chợ. Tăng cường tuyên truyền sâu rộng trên các phương tiện truyền thông về tình hình dịch cúm gia cầm, tác hại của bệnh cúm; đồng thời khuyến cáo người dân không ăn tiết canh gia cầm, thịt và trứng gia cầm chưa nấu chín, đặc biệt không tiêu thụ thịt gia cầm bệnh, chết do bệnh. Trong khi đó, tại TP Cần Thơ, TP đã cho công bố dịch cúm AH5N1 tại xã Tân Thới, huyện Phong Điền. Ngoài ra, theo Chi cục Thú y TP, từ đầu năm 2014 đến nay, trên địa bàn TP đã xuất hiện 6 ổ dịch cúm tại nhiều quận, huyện. Ngành chức năng đã cho tiêu hủy gần 3.000 con gia cầm.Trước tình hình diễn biến phức tạp của dịch cúm AH5N1, ông Đào Anh Dũng Phó Chủ tịch UBND TP Cần Thơ yêu cầu các địa phương, các ngành chức năng cần giám sát chặt chẽ tình hình dịch bệnh cũng như quản lý việc vận chuyển gia cầm để tránh dịch bệnh lây lan.Tại tỉnh Bạc Liêu, theo Chi cục Thú y tỉnh cho biết, từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh xuất hiện nhiều ổ dịch cúm gia cầm tại các huyện Hồng Dân, Phước Long, Giá Rai…với hơn 4.500 con gia cầm mắc bệnh. Ngành chức năng đã cho tiêu hủy toàn bộ số gia cầm này.Tuy nhiên, theo người dân cho biết, dù các ổ dịch cúm được phát hiện và cho tiêu hủy nhưng họ vẫn quan ngại với những diễn biến phức tạp cũng như các loại chủng vi rút mới có thể lây sang người mà ngành chức năng cũng như báo chí đã phản ánh trong mấy ngày gần đây.Trong khi đó, tại tỉnh Hậu Giang, theo ngành Thú y tỉnh cho biết, ngành Thú y đã cho tiêu hủy hơn 1.500 con gà bị nhiễm cúm AH5N1 của một số hộ dân ở xã Phú Tân, huyện Châu Thành.Ngoài ra, dù dịch cúm đang có diễn biến phức tạp nhưng tại một số chợ vẫn còn bày bán công khai gia cầm sống. Nhiều gà, vịt còn sống và làm sẵn được bày bán ngay tại chợ như chưa có tình trạng dịch xảy ra. Bên cạnh đó, giá bán các loại gia cầm cũng ở mức cao, trong khi những hộ nuôi thì số lượng bán ra rất ít hoặc không bán được vì lo ngại dịch cúm.Theo nhận định của ngành chức năng, tình trạng gia cầm chết bị vứt sông vẫn còn xảy ra do người dân còn chủ quan trong công tác phòng, chống dịch cúm. Do đó, Chi cục Thú ý tỉnh đã khuyến cáo người dân khi có gia cầm chết cần báo ngay cho chính quyền địa phương hoặc các trạm thú y gần nhất để có biện pháp xử lý, tránh tình trạng vứt xuống sông sẽ gây ô nhiễm và nguy cơ bùng phát dịch bệnh là khó lường.Từ những tồn tại và nguy cơ trên, để nâng cao năng suất chăn nuôi, chủ động kiểm soát, khống chế và tiến tới thanh toán bệnh cúm gia cầm, giảm nguồn gốc của nguy cơ lây nhiễm sang người, đòi hỏi cấp bách việc tổ chức lại ngành chăn nuôi gia cầm đặc biệt là chăn nuôi theo hướng tập trung, công nghiệp, chăn nuôi có kiểm soát, đồng thời xây dựng ngành công nghiệp chế biến, giết mổ nhằm đảm bảo vệ sinh thú y, vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường, cung cấp các sản phẩm an toàn cho người tiêu dùng và nâng sao giá trị sản phẩm chăn nuôi. Đổi mới ngành chăn nuôi gà còn làm tăng năng suất, hiệu quả và phát triển bền vững, nó phù hợp với sự đi lên của nền kinh tế đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. 2.ĐẶT VẤN ĐỀThịt là nguồn thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, được xếp vào thức ăn nhóm I, đặc biệt thịt gia cầm thuộc loại thịt trắng có nhiều protein, lipit, khoáng và vitamin hơn so với thịt đỏ. Thịt nói chung và thịt gia cầm nói riêng còn là thực phẩm dễ chế biến dưới nhiều dạng món ăn ngon vì vậy nó là thực phẩm thường gặp hàng ngày trong bữa ăn của nhân dân ta. Nếu chúng ta sử dụng thịt không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh thì thịt trở nên gây hại cho người sử dụng.Thịt gia cầm có thể là nguồn lây bệnh cho người, như các bệnh ký sinh trùng, bệnh cúm gà do virus H1N1, H2N2, H5N1, … đặc biệt là loại virus H7N9, là loại virus cúm gia cầm mới vừa được phát hiện có khả năng lây từ gia cầm sang người và có tỉ lệ tử vong cao. Tình trạng vệ sinh an toàn thực phẩm hàng thịt nói chung và thịt gia cầm nói riêng đang vấn đề nan giải. Bởi một số cơ sở chăn nuôi gia súc chưa đạt tiêu chuẩn cũng như chưa đáp ưng được tiêu chuẩn đầu ra của cục thú y.Bên cạnh đó các lò mổ gia cầm thiếu vệ sinh có thể làm cho thịt bị nhiêm vi sinh vật có hại cho người tiêu dùng. Không những thế một số chủ buôn bán thịt sử dụng các hóa chất cấm để bảo quản thịt lâu dài, các hóa chất này rất độc hại đối với cơ thể người. Thông qua các điều trên ta thấy được:
Trang 1TP H Chí Minh, 03/2014 ồ Chí Minh, 03/2014
GVHD: TS NGUY N TI N L C ỄN TIẾN LỰC ẾN LỰC ỰC SVTH:
NHÓM 2 Nguy n Ng c Ph ễn Ngọc Phương Anh ọc Phương Anh ương Anh ng Anh – 11116003
Nguy n H ng Giang ễn Ngọc Phương Anh ồ Chí Minh, 03/2014 – 11116019 Nguy n Thanh Trà My ễn Ngọc Phương Anh – 11116040
Đ ng Di p Th o ặng Diệp Thảo ệp Thảo ảo – 11116059
L u Th Thu Th y ư ị Thu Thủy ủy – 11116064
XÂY D NG TIÊU CHU N ÁNH GIÁ ỰNG TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ ẨN ĐÁNH GIÁ ĐÁNH GIÁ
CH T L ẤT LƯỢNG THỊT GIA CẦM ƯỢNG THỊT GIA CẦM NG TH T GIA C M ỊT GIA CẦM ẦM
M B O AN TOÀN V SINH
ĐÁNH GIÁẢM BẢO AN TOÀN VỆ SINH ẢM BẢO AN TOÀN VỆ SINH Ệ SINH
TH C PH M ỰNG TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ ẨN ĐÁNH GIÁ
KHOA CÔNG NGH HÓA H C VÀ TH C PH M Ệ HÓA HỌC VÀ THỰC PHẨM ỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP HCM ỰC ẨM
MÔN CÔNG NGH CH BI N TH T Ệ HÓA HỌC VÀ THỰC PHẨM ẾN LỰC ẾN LỰC ỊT
Trang 2MỤC LỤC
L I M Đ U ỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP HCM Ở ĐẦU ẦU Trang 02
1 Th c tr ng th t gia c m hi n nayực trạng thịt gia cầm hiện nay ạng thịt gia cầm hiện nay ịt gia cầm hiện nay ầm hiện nay ện nay Trang 03
3 Xây d ng tiêu chu n đánh giá ch t lực trạng thịt gia cầm hiện nay ẩn đánh giá chất lượng thịt gia cầm đảm bảo ấn đề ượng thịt gia cầm đảm bảo ng th t gia c m đ m b o ịt gia cầm hiện nay ầm hiện nay ảm bảo ảm bảo
v sinh an toàn th c ph mện nay ực trạng thịt gia cầm hiện nay ẩn đánh giá chất lượng thịt gia cầm đảm bảo .Trang 9
3.1.1 Đ a đi m xây d ng tr i chăn nuôiịt gia cầm hiện nay ểm xây dựng trại chăn nuôi ực trạng thịt gia cầm hiện nay ạng thịt gia cầm hiện nay Trang 9
3.1.9 Chu n b xu t bánẩn đánh giá chất lượng thịt gia cầm đảm bảo ịt gia cầm hiện nay ấn đề Trang 13
3.2.1 Tiêu chu n đ i v i c s h t ngẩn đánh giá chất lượng thịt gia cầm đảm bảo ối với trại chăn nuôi ới ơ sở hạ tầng ở hạ tầng ạng thịt gia cầm hiện nay ầm hiện nay Trang 153.2.2 Tiêu chu n đ i v i khu nh p gia c m và nh t gia c m ẩn đánh giá chất lượng thịt gia cầm đảm bảo ối với trại chăn nuôi ới ập gia cầm và nhốt gia cầm ầm hiện nay ối với trại chăn nuôi ầm hiện nay
3.2.3 Tiêu chu n đ i v i khu v c gi t mẩn đánh giá chất lượng thịt gia cầm đảm bảo ối với trại chăn nuôi ới ực trạng thịt gia cầm hiện nay ế giới ổ Trang 163.2.4 Tiêu chu n v h th ng thoát nẩn đánh giá chất lượng thịt gia cầm đảm bảo ề ện nay ối với trại chăn nuôi ướic th i và x lý ch t th iảm bảo ử lý chất thải và bảo vệ môi trường ấn đề ảm bảo .Trang 17
3.2.6 Tiêu chu n đ i v i trang thi t b và b o dẩn đánh giá chất lượng thịt gia cầm đảm bảo ối với trại chăn nuôi ới ế giới ịt gia cầm hiện nay ảm bảo ưỡng Trang 28ng3.3 Tiêu chu n trong v n chuy n, ti p nh n và b o qu n th t gia c mẩn đánh giá chất lượng thịt gia cầm đảm bảo ập gia cầm và nhốt gia cầm ểm xây dựng trại chăn nuôi ế giới ập gia cầm và nhốt gia cầm ảm bảo ảm bảo ịt gia cầm hiện nay ầm hiện nay
Trang 28 3.3.1 Yêu c u v sinh thú y đ i v i phầm hiện nay ện nay ối với trại chăn nuôi ới ươ sở hạ tầngng ti n v n chuy nện nay ập gia cầm và nhốt gia cầm ểm xây dựng trại chăn nuôi
s n ph m đ ng v t tảm bảo ẩn đánh giá chất lượng thịt gia cầm đảm bảo ộng vật tươi sống, sơ chế ập gia cầm và nhốt gia cầm ươ sở hạ tầng ối với trại chăn nuôii s ng, s chơ sở hạ tầng ế giới Trang 28
3.3.4 Nh ng nguyên t c trong ho t đ ng v n chuy nững nguyên tắc trong hoạt động vận chuyển ắc trong hoạt động vận chuyển ạng thịt gia cầm hiện nay ộng vật tươi sống, sơ chế ập gia cầm và nhốt gia cầm ểm xây dựng trại chăn nuôi Trang 31
Trang 3KẾT LUẬN Trang 34 TÀI LI U THAM KH O Ệ HÓA HỌC VÀ THỰC PHẨM ẢO Trang 35
LỜI MỞ ĐẦU
Thịt gia cầm là thực phẩm có giá trị dinh dưỡng tốt nhất, vì trong thành phần của
nó có chứa một lượng lớn các protein hoàn thiện, chất béo, khoáng và một số cácvitamin cần thiết cho hoạt động sống bình thường của con người
Ngoài ra, v sinh aện nay n toàn th c ph m cũng là v n đ có t m quan tr ng đ cực trạng thịt gia cầm hiện nay ẩn đánh giá chất lượng thịt gia cầm đảm bảo ấn đề ề ầm hiện nay ọng đặc ặt vấn đề
bi t Th c ph m an toàn đóng góp to l n trong vi c c i thi n s c kho conện nay ực trạng thịt gia cầm hiện nay ẩn đánh giá chất lượng thịt gia cầm đảm bảo ới ện nay ảm bảo ện nay ức ăn và nước uống ẻ con
ngườngi, ch t lấn đề ượng thịt gia cầm đảm bảo ng cu c s ng và ch t lộng vật tươi sống, sơ chế ối với trại chăn nuôi ấn đề ượng thịt gia cầm đảm bảo ng gi ng nòi Ng đ c th c ph m và cácối với trại chăn nuôi ộng vật tươi sống, sơ chế ộng vật tươi sống, sơ chế ực trạng thịt gia cầm hiện nay ẩn đánh giá chất lượng thịt gia cầm đảm bảo
b nh do th c ph m gây ra không ch gây nh hện nay ực trạng thịt gia cầm hiện nay ẩn đánh giá chất lượng thịt gia cầm đảm bảo ỉ gây ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ và ảm bảo ưở hạ tầngng tr c ti p t i s c kho vàực trạng thịt gia cầm hiện nay ế giới ới ức ăn và nước uống ẻ con
cu c s ng c a m i ngộng vật tươi sống, sơ chế ối với trại chăn nuôi " ỗi người, mà còn gây thiệt hại lớn về kinh tế, là gánh nặng chi ườngi, mà còn gây thi t h i l n v kinh t , là gánh n ng chiện nay ạng thịt gia cầm hiện nay ới ề ế giới ặt vấn đềphí cho chăm sóc s c kho An toàn th c ph m không ch nh hức ăn và nước uống ẻ con ực trạng thịt gia cầm hiện nay ẩn đánh giá chất lượng thịt gia cầm đảm bảo ỉ gây ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ và ảm bảo ưở hạ tầngng tr c ti p,ực trạng thịt gia cầm hiện nay ế giới
phát tri n kinh t , thểm xây dựng trại chăn nuôi ế giới ươ sở hạ tầngng m i, du l ch và an sinh xã h i ạng thịt gia cầm hiện nay ịt gia cầm hiện nay ộng vật tươi sống, sơ chế
Tuy nhiên, trong s n xu t, kinh doanh th c ph m nảm bảo ấn đề ực trạng thịt gia cầm hiện nay ẩn đánh giá chất lượng thịt gia cầm đảm bảo ở hạ tầng ướic ta c b n v n làơ sở hạ tầng ảm bảo ẫn là
nh l , quy mô h gia đình nên vi c ki m soát an toàn v sinh r t khó khăn M cỏe mà còn liên quan chặt chẽ đến năng suất, hiệu quả ẻ con ộng vật tươi sống, sơ chế ện nay ểm xây dựng trại chăn nuôi ện nay ấn đề ặt vấn đề
dù Vi t Nam đã có nh ng ti n b rõ r t trong b o đ m an toàn v sinh th cện nay ững nguyên tắc trong hoạt động vận chuyển ế giới ộng vật tươi sống, sơ chế ện nay ảm bảo ảm bảo ện nay ực trạng thịt gia cầm hiện nay
ph m trong th i gian qua song công tác qu n lý an toàn th c ph m còn nhi uẩn đánh giá chất lượng thịt gia cầm đảm bảo ờng ảm bảo ực trạng thịt gia cầm hiện nay ẩn đánh giá chất lượng thịt gia cầm đảm bảo ề
y u kém, b t c p, h n ch v ngu n l c và đ u t kinh phí và ch a đáp ngế giới ấn đề ập gia cầm và nhốt gia cầm ạng thịt gia cầm hiện nay ế giới ề ồng nuôi ực trạng thịt gia cầm hiện nay ầm hiện nay ư ư ức ăn và nước uống
đượng thịt gia cầm đảm bảo c yêu c u c a th c ti n.ầm hiện nay " ực trạng thịt gia cầm hiện nay ễn
đánh giá ch t lấn đề ượng thịt gia cầm đảm bảo ng th t gia c m đ m b o v sinh an toàn th c ph m” nh m gópịt gia cầm hiện nay ầm hiện nay ảm bảo ảm bảo ện nay ực trạng thịt gia cầm hiện nay ẩn đánh giá chất lượng thịt gia cầm đảm bảo ằm góp
ph n quan tr ng thúc đ y phát tri n kinh t – xã h i, xoá đói gi m nghèo và h iầm hiện nay ọng đặc ẩn đánh giá chất lượng thịt gia cầm đảm bảo ểm xây dựng trại chăn nuôi ế giới ộng vật tươi sống, sơ chế ảm bảo ộng vật tươi sống, sơ chế
nh p qu c t ập gia cầm và nhốt gia cầm ối với trại chăn nuôi ế giới
Trang 41 THỰC TRẠNG THỊT GIA CẦM HIỆN NAY
1.1 Trên thế giới
Chăn nuôi gia cầm cũng như thương mại các sản phẩm gia cầm trên thế giớiphát triển mạnh trong vòng 35 năm qua Sản lượng thịt và trứng gia cầm tăng nhanhhơn sản lượng thịt bò và thịt lợn Năm 1970, sản lượng thịt gia cầm thế giới chỉ đạt15.1 triệu tấn, thịt lợn là 38.3 triệu tấn, thịt bò 60.4 triệu tấn Đến năm 2005, sản lượngcác loại thịt này tăng lên tương ứng là: 81, 102.5 và 60.4 triệu tấn Sản lượng thịt giacầm năm 1970 chỉ xấp xỉ 50% sản lượng thịt lợn và bằng 25% sản lượng thịt bò nhưngđến năm 2005 sản lượng thịt gia cầm đã tăng cao hơn 25% so với thịt bò và bằng 75%thịt lợn
Trong những thập kỉ gần đây, vùng chăn nuôi gia cầm chuyển từ Bắc và Trung
Mỹ, Châu Âu sang khu vực Nam và Đông Á Nếu năm 1970 chỉ có 2 quốc gia Châu Átrong 10 quốc gia đứng đầu về chăn nuôi gia cầm đó là Trung Quốc và Nhật Bản, thìđến nay Mỹ vẫn đứng ở vị trí đầu (chiếm 22.9%), nhưng Trung Quốc và Brazil đã ở vịtrí thứ 2 và 3 Năm 2005, sản lượng thịt gia cầm ở các nước đang phát triển chiếm54.7% sản lượng thịt gia cầm thế giới Thị phần của Bắc Mỹ, Trung Mỹ và Châu Âu bịchia sẻ bởi các nhà sản xuất lớn khác ở Châu Á và Nam Mỹ đó là Trung Quốc vàBrazil Năm 1970, sản lượng thịt của khu vực Bắc và Trung Mỹ, Châu Âu (EU) vàLiên bang Nga chiếm hơn 71% sản lượng thịt gia cầm thế giới , còn Châu Á và Nam
Mỹ chiếm ít hơn 24% Đến năm 2005, tỷ lệ này là gần 50%, tốc độ tăng trưởng caonhất là ở khu vực Châu Á gần 25 triệu tấn trong giai đoạn 1975–2005, sau đó là Nam
Mỹ 12 triệu tấn
Tốc độ tăng trưởng của thương mại gia cầm tăng nhanh hơn so với khẳ năngsản xuất, cụ thể là: năm 1970 chỉ có 521 tấn thịt gia cầm được xuất khẩu nhưng đếnnăm 2004 đã tăng lên 9.7 triệu tấn Ngược lại, năm 1970 thịt gia cầm chỉ chiếm 3.5%trong tổng sản lượng thịt thì đến nay tỷ lệ này là 12%
1.2 Ở Việt Nam
Trước khi xảy ra dịch cúm gia cầm, số lượng thịt gia cầm của nước ta hàng nămtăng trưởng ở mức cao Tổng đàn gia cầm cả nước năm 2001 là 216 triệu con, năm
Trang 52003 là 254 triệu con và năm 2005 chỉ còn 220 triệu con Tốc độ tăng đàn 2001–2003
là 8.5% năm Đồng bằng sông Hồng từ 46.9 triệu năm 2001 tăng lên 65.5 triệu năm
2003 Sản lượng thịt trong giai đoạn 2001–2005 đạt 372.7 nghìn tấn
Dịch cúm gia cầm đã bùng phát ở Việt Nam trong những năm vừa qua, gây ranhững tổn thất lớn cho ngành chăn nuôi gia cầm và đặc biệt là chăn nuôi gà để lại hậuquả nặng nề cả về kinh tế, xã hội Từ tháng 12/2003 đến tháng 6/2007, dịch đã xảy ra 5đợt, số gà chết và tiêu hủy gần 50 triệu con, thiệt hại lên đến hàng ngàn tỷ đồng Dịchcúm gia cầm H5N1 gây nguy hiểm và lây nhiễm sang người Ngoài ra, dịch cúm giacầm còn làm trì trệ nhiều ngành sản xuất liên quan, ảnh hưởng lớn đến thị trường, gópphần làm gia tăng lạm phát
Nguyên nhân bùng phát và tái phát dịch chủ yếu do phương thức chăn nuôi nhỏ
lẻ, thả rông, buôn bán, vận chuyển, giết mổ thủ công tràn lan,… Dẫn đến ô nhiễm môitrường nghiêm trọng và làm lây lan dịch bệnh
Nhập khẩu thịt vào Việt Nam giảm Việt Nam đã nhập 30.000 tấn thịt trong nửađầu năm 2013, giảm 15% so với cùng kỳ năm trước, theo ông Nguyễn Xuân Bình, mộtphát ngôn viên chính thức của Cục Thú y, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.Nhập khẩu thịt gà chiếm 70% lượng thịt nhập khẩu vào Việt Nam, phần còn lại là thịtheo, thịt bò và thịt cừu Và nước xuất khẩu chủ yếu lượng thịt này là Trung Quốc,Canada và Hoa Kỳ Hiện tượng giảm số lượng thịt nhập là do các lo ngại vấn đề antoàn thực phẩm
Thông tin từ Chi cục Thú y tỉnh Sóc Trăng cho biết, hai ổ dịch cúm xuất hiệntrên đàn gà ở xã An Thạnh Nhất (huyện Cù Lao Dung) và đàn vịt ở xã Tân Long(huyện Ngã Năm)
Ngay sau khi phát hiện ổ dịch, cơ quan chức năng đã lấy mẫu gửi đi xétnghiệm, đồng thời cho tiêu hủy trên 330 con vịt và trên 180 con gà của hai hộ dân nóitrên Ngành chức năng cũng tiến hành phun thuốc khử trùng, tiêu độc và tăng cườngcác biện pháp ngăn chặn dịch lây lan
Trang 6Ông Quách Văn Tây, Chi cục trưởng Chi cục thú y Sóc Trăng cho biết, trướctình hình diễn biến của dịch cúm gia cầm, ngành thú y địa phương đã tăng cường côngtác lấy mẫu giám sát đối với hộ nuôi gia cầm, gia cầm sống bán tại các chợ Tăngcường tuyên truyền sâu rộng trên các phương tiện truyền thông về tình hình dịch cúmgia cầm, tác hại của bệnh cúm; đồng thời khuyến cáo người dân không ăn tiết canh giacầm, thịt và trứng gia cầm chưa nấu chín, đặc biệt không tiêu thụ thịt gia cầm bệnh,chết do bệnh
Trong khi đó, tại TP Cần Thơ, TP đã cho công bố dịch cúm A/H5N1 tại xã TânThới, huyện Phong Điền Ngoài ra, theo Chi cục Thú y TP, từ đầu năm 2014 đến nay,trên địa bàn TP đã xuất hiện 6 ổ dịch cúm tại nhiều quận, huyện Ngành chức năng đãcho tiêu hủy gần 3.000 con gia cầm
Trước tình hình diễn biến phức tạp của dịch cúm A/H5N1, ông Đào Anh Phó Chủ tịch UBND TP Cần Thơ yêu cầu các địa phương, các ngành chức năng cầngiám sát chặt chẽ tình hình dịch bệnh cũng như quản lý việc vận chuyển gia cầm đểtránh dịch bệnh lây lan
Dũng-Tại tỉnh Bạc Liêu, theo Chi cục Thú y tỉnh cho biết, từ đầu năm đến nay, trênđịa bàn tỉnh xuất hiện nhiều ổ dịch cúm gia cầm tại các huyện Hồng Dân, Phước Long,Giá Rai…với hơn 4.500 con gia cầm mắc bệnh Ngành chức năng đã cho tiêu hủy toàn
bộ số gia cầm này
Tuy nhiên, theo người dân cho biết, dù các ổ dịch cúm được phát hiện và chotiêu hủy nhưng họ vẫn quan ngại với những diễn biến phức tạp cũng như các loạichủng vi rút mới có thể lây sang người mà ngành chức năng cũng như báo chí đã phảnánh trong mấy ngày gần đây
Trong khi đó, tại tỉnh Hậu Giang, theo ngành Thú y tỉnh cho biết, ngành Thú y
đã cho tiêu hủy hơn 1.500 con gà bị nhiễm cúm A/H5N1 của một số hộ dân ở xã PhúTân, huyện Châu Thành
Ngoài ra, dù dịch cúm đang có diễn biến phức tạp nhưng tại một số chợ vẫn cònbày bán công khai gia cầm sống Nhiều gà, vịt còn sống và làm sẵn được bày bán ngay
Trang 7tại chợ như chưa có tình trạng dịch xảy ra Bên cạnh đó, giá bán các loại gia cầm cũng
ở mức cao, trong khi những hộ nuôi thì số lượng bán ra rất ít hoặc không bán được vì
lo ngại dịch cúm
Theo nhận định của ngành chức năng, tình trạng gia cầm chết bị vứt sông vẫncòn xảy ra do người dân còn chủ quan trong công tác phòng, chống dịch cúm Do đó,Chi cục Thú ý tỉnh đã khuyến cáo người dân khi có gia cầm chết cần báo ngay chochính quyền địa phương hoặc các trạm thú y gần nhất để có biện pháp xử lý, tránh tìnhtrạng vứt xuống sông sẽ gây ô nhiễm và nguy cơ bùng phát dịch bệnh là khó lường
Từ những tồn tại và nguy cơ trên, để nâng cao năng suất chăn nuôi, chủ độngkiểm soát, khống chế và tiến tới thanh toán bệnh cúm gia cầm, giảm nguồn gốc củanguy cơ lây nhiễm sang người, đòi hỏi cấp bách việc tổ chức lại ngành chăn nuôi giacầm đặc biệt là chăn nuôi theo hướng tập trung, công nghiệp, chăn nuôi có kiểm soát,đồng thời xây dựng ngành công nghiệp chế biến, giết mổ nhằm đảm bảo vệ sinh thú y,
vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường, cung cấp các sản phẩm an toàn chongười tiêu dùng và nâng sao giá trị sản phẩm chăn nuôi Đổi mới ngành chăn nuôi gàcòn làm tăng năng suất, hiệu quả và phát triển bền vững, nó phù hợp với sự đi lên củanền kinh tế đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tếquốc tế
Trang 8có tỉ lệ tử vong cao Tình trạng vệ sinh an toàn thực phẩm hàng thịt nói chung và thịtgia cầm nói riêng đang vấn đề nan giải Bởi một số cơ sở chăn nuôi gia súc chưa đạttiêu chuẩn cũng như chưa đáp ưng được tiêu chuẩn đầu ra của cục thú y.Bên cạnh đócác lò mổ gia cầm thiếu vệ sinh có thể làm cho thịt bị nhiêm vi sinh vật có hại chongười tiêu dùng Không những thế một số chủ buôn bán thịt sử dụng các hóa chất cấm
để bảo quản thịt lâu dài, các hóa chất này rất độc hại đối với cơ thể người Thông quacác điều trên ta thấy được:
Tầm quan trọng của vệ sinh an toàn thực phẩm đối với sức khỏe, bệnh tật
Trước mắt, thực phẩm là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng cho sự phát triển của
cơ thể, đảm bảo sức khỏe con người nhưng đồng thời cũng là nguồn có thể gây bệnhnếu không đảm bảo vệ sinh Không có thực phẩm nào được coi là có giá trị dinhdưỡng nếu nó không đảm bảo vệ sinh
Về lâu dài thực phẩm không những có tác động thường xuyên đối với sức khỏemỗi con người mà còn ảnh hưởng lâu dài đến nòi giống của dân tộc Sử dụng các thựcphẩm không đảm bảo vệ sinh trước mắt có thể bị ngộ độc cấp tính với các triệu chứng
ồ ạt, dễ nhận thấy, nhưng vấn đề nguy hiểm hơn nữa là sự tích lũy dần các chất độc hại
ở một số cơ quan trong cơ thể sau một thời gian mới phát bệnh hoặc có thể gây các dịtật, dị dạng cho thế hệ mai sau Những ảnh hưởng tới sức khỏe đó phụ thuộc vào cáctác nhân gây bệnh Những trẻ suy dinh dưỡng, người già, người ốm càng nhạy cảm với
Trang 9các bệnh do thực phẩm không an toàn nên càng có nguy cơ suy dinh dưỡng và bệnh tậtnhiều hơn.
Vệ sinh an toàn thực phẩm tác động đến kinh tế và xã hội
Đối với nước ta cũng như nhiều nước đang phát triển, lương thực thực phẩm làmột loại sản phẩm chiến lược, ngoài ý nghĩa kinh tế còn có ý nghĩa chính trị, xã hội rấtquan trọng
Vệ sinh an toàn thực phẩm nhằm tăng lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế
Để cạnh tranh trên thị trường quốc tế, thực phẩm không những cần được sản xuất, chếbiến, bảo quản phòng tránh ô nhiễm các loại vi sinh vật mà còn không được chứa cácchất hóa học tổng hợp hay tự nhiên vượt quá mức quy định cho phép của tiêu chuẩnquốc tế hoặc quốc gia, gây ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng
Những thiệt hại khi không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm gây nên nhiềuhậu quả khác nhau, từ bệnh cấp tính, mạn tính đến tử vong Thiệt hại chính do cácbệnh gây ra từ thực phẩm đối với cá nhân là chi phí khám bệnh, phục hồi sức khỏe, chiphí do phải chăm sóc người bệnh, sự mất thu nhập do phải nghỉ làm … Đối với nhàsản xuất, đó là những chi phí do phải thu hồi, lưu giữ sản phẩm, hủy hoặc loại bỏ sảnphẩm, những thiệt hại do mất lợi nhuận do thông tin quảng cáo … và thiệt hại lớn nhất
là mất lòng tin của người tiêu dùng Ngoài ra còn có các thiệt hại khác như phải điềutra, khảo sát, phân tích, kiểm tra độc hại, giải quyết hậu quả …
Do vậy, vấn đề đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm để phòng các bệnh gây ra từthực phẩm có ý nghĩa thực tế rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế và xã hội, bảo
vệ môi trường sống của các nước đã và đang phát triển, cũng như nước ta Mục tiêuđầu tiên của vệ sinh an toàn thực phẩm là đảm bảo cho người ăn tránh bị ngộ độc do
ăn phải thức ăn bị ô nhiễm hoặc có chất độc; thực phẩm phải đảm bảo lành và sạch
Để thịt gia cầm có thể đảm bảo vệ sinh an toàn, ta cần đưa ra các tiêu chuẩnđánh giá thịt về các mặt chăn nuôi, giết mổ, vận chuyển, bảo quản Thông qua các tiêuchuẩn này ta có quản lí chất lượng của thịt trước khi đem tiêu thụ
Trang 103 XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG THỊT GIA CẦM ĐẢM BẢO AN TOÀN VỆ SINH THỰC PHẨM
Hình 1 Sơ đồ thịt gà từ “trang trại đến bàn ăn”
3.1 Tiêu chuẩn trong chăn nuôi
3.1.1 Địa điểm xây dựng trại chăn nuôi
- Địa điểm xây dựng trang trại phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của địaphương, hoặc được các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cho phép
- Trại chăn nuôi gia cầm phải xây dựng cách biệt, cách xa bệnh viện, trường học,chợ, công sở và khu dân cư đông người và đường giao thông liên tỉnh, liênhuyện ít nhất 100m và cách chợ động vật sống ít nhất 1 km
- Khu chuồng nuôi nên đặt phía cuối trại và xa nguồn nước
- Nên xây dựng trại ở nơi có đủ nước dùng cho chăn nuôi (nước uống và nướcrửa vệ sinh)
- Tổng diện tích bề mặt của trại phải phù hợp với tiêu chuẩn TCVN 3772-83 vềquản lý chất thải
3.1.2 Yêu cầu đối với trại chăn nuôi
- Có hàng rào hoặc tường kín bao quanh cách biệt với bên ngoài để bảo đảm hạnchế người và động vật từ bên ngoài xâm nhập vào trại
Trang 11- Trước cổng có hố khử trùng và phương tiện khử trùng, tiêu độc, có biển báomột số điều cấm hoặc han chế đối với khách ra vào trại.
- Có phòng làm việc của các cán bộ chuyên môn, nơi mổ khám lâm sàng và lấybệnh phẩm (đối với trại có quy mô lớn)
- Có nơi để dụng cụ, thuốc, sổ sách ghi chép tình hình sản xuất, dịch bệnh và sửdụng vác xin, thuốc của đàn gia cầm
- Có phòng thay bảo hộ lao động, khử trùng, tiêu độc trước khi vào khu chănnuôi
- Có thiết bị tẩy uế khử trùng các loại phương tiện vận chuyển, người và vật dụngtại cổng ra vào trại, khu chăn nuôi
- Có kho chứa thức ăn cách biệt với khu chăn nuôi, phải khô ráo, thoáng mát,thường xuyên có biện pháp diệt chuột, mối mọt, gián và các loại côn trùng gây hạikhác.Không để các loại thuốc sát trùng, hoá chất độc hại trong kho chứa thức ăn.Không dự trữ thức ăn trong kho quá thời hạn sự dụng
3.1.3 Yêu cầu đối với chuồng nuôi
- Chuồng trại phải bảo đảm thông thoáng, ánh sáng, nhiệt độ, ẩm độ phù hợp với cácgiai đoạn nuôi dưỡng gia cầm (gia cầm con, hậu bi, sinh sản)
- Có hố khử trùng ở lối ra vào chuồng nuôi, có ngăn cách giữa các khu chăn nuôi(Khu nuôi gia cầm con; khu nuôi gia cầm hậu bị; khu nuôi gia cầm sinh sản)
- Cống rãnh thoát nước thải phải có độ dốc thích hợp khoảng 3-5%, không bị ứđọng nước
- Diện tích chuồng nuôi phải phù hợp với số lượng gia cầm
- Máng ăn, máng uống được làm bằng vật liệu dễ vệ sinh, tiêu độc khử trùng
toàn cho người chăn nuôi và gia cầm
- Yêu cầu đối với nhà ấp trừng: Đối với các trại chăn nuôi gia cầm giống, có khuvực ấp trứng gia cầm thì tuân theo các điều kiện sau đây:
- Có hàng rào ngăn cách với bên ngoài và các khu vực khác trong trại chăn nuôi
- Nhà ấp trứng được bố trí phải phù hợp thuận lợi bảo đảm nguyên tắc một chiềutránh ô nhiễm chéo trong khu vực bao gồm nơi nhận, phân loại và sát trùng
Trang 12trứng; kho bảo quản trứng; phòng để máy ấp trứng và soi trứng; phòng để máynở; phòng chọn trống mái, đóng hộp gia cầm con và phòng xuất sản phẩm.
3.1.4 Yêu cầu chất lượng con giống
- Gia cầm giống mua về nuôi phải có nguồn gốc rõ ràng, khỏe mạnh, có giấykiểm dịch và phải có bản công bố tiêu chuẩn chất lượng kèm theo
- Gia cầm giống sản xuất tại cơ sở phải thực hiện công bố tiêu chuẩn Chất lượngcon giống phải phù hợp với tiêu chuẩn đã công bố
- Con giống khi lưu thông trong thị trường phải khoẻ mạnh, không nhiễm bệnh,phải ghi rõ nguồn gốc xuất xứ và được cơ quan thú y chứng nhận kiểm dịch
3.1.5 Yêu cầu thức ăn và nước uống
- Thức ăn phù hợp với từng lứa tuổi, tính biệt, hướng sản xuất và công nghệ sảnxuất theo quy trình sản xuất của cơ sở
- Thức ăn không được chứa các chất gây tồn dư, độc tố nấm mốc và các vi sinhvật vì chúng có hại và làm ảnh hưởng đến sức khoẻ vật nuôi và sức khoẻ ngườitiêu dùng theo quy định hiện hành
- Nước uống phải cung cấp đầy đủ theo quy trình giống của cơ sở
- Nước uống cho gia cầm phải đạt các chỉ tiêu vệ sinh thú y quy định ở phụ lụccủa quy chuẩn
3.1.6 Yêu cầu chăm sóc nuôi dưỡng
- Cơ sở chăn nuôi gia cầm phải có quy trình chăm sóc nuôi dưỡng phù hợp vớigiống, lứa tuổi, tính biệt và mục đích sản xuất
- Gia cầm nuôi sinh sản được nuôi nhốt tại các khu riêng biệt theo từng giai đoạn:gia cầm con, gia cầm hậu bị và gia cầm sinh sản
- Gia cầm nuôi thương phẩm (nuôi thịt) thực hiện theo nguyên tắc cùng vào cùngra
3.1.7 Yêu cầu điều kiện vệ sinh thú y
Các biện pháp bảo đảm an toàn sinh học trong chăn nuôi gia cầm
Trang 13- Hạn chế khách thăm quan khu chăn nuôi Khách tham quan phải chấp hành quytrình bảo hộ, tiêu độc khử trùng của cơ sở.
tiêm phòng vắc xin theo quy định hiện hành
- Cơ sở chăn nuôi gia cầm phải có thực hiện tốt quy trình nuôi dưỡng và phòngtrừ dịch bênh
- Cơ sở chăn nuôi phải có quy trình vệ sinh tiêu độc hàng ngày và định kỳ đối vớidụng cụ, chuồng trại chăn nuôi
- Gia cầm mới nhập về phải nuôi cách ly để tiến hành theo dõi kiểm tra nghiêmngặt, lấy mẫu kiểm tra các gia cầm chết, ốm (nếu có), gửi đến phòng thí nghiệmthú y hoặc báo với cơ quan thú y để xác định điều tra nguyên nhân
- Chất độn chuồng phải được chuyển ra khỏi chuồng ngay sau khi gia cầm đượcchuyển ra khỏi chuồng, sau đó làm sạch, tẩy uế, khử trùng và để trống chuồngthời gian ít nhất 15 ngày trước khi nuôi gia cầm mới
- Yêu cầu điều kiện vệ sinh thú y không khí chuồng nuôi phải đạt các chỉ tiêuquy định ở phụ lục của quy chuẩn
- Yêu cầu vệ sinh thú y không khí tại trạm ấp trứng gia cầm phải đạt các chỉ tiêuquy định ở phụ lục của quy chuẩn
3.1.8 Yêu cầu về xử lý chất thải và bảo vệ môi trường
Khu xử lý chất thải
- Có đủ diện tích và điều kiện xử lý chất thải rắn, nước thải và gia cầm chết
- Khu xử lý chất thải ở phía cuối trại, có địa thế thấp nhất của trại chăn nuôi
- Có nhà ủ phân, nền được làm bằng nguyên vật liệu chắc chắn, được chia thànhcác ô, phân gia cầm được thu gom chuyển về nhà chứa phân, phân được đánhđống ủ theo phương pháp nhiệt sinh học hoặc phương pháp tiêu độc khử trùngkhác trước khi sử dụng vào mục đích khác
Trang 14- Rãnh thu gom nước thải chăn nuôi (nếu có): độ dốc rãnh thu gom nước thảikhoảng 3-5% có nắp đậy kín hoặc để hở Nước thải được chảy vào hệ thống bểlắng, hồ sinh học bậc 1 và 2 hoặc xử lý bằng công nghệ khác trước khi đổ rangoài.
- Bố trí lò thiêu xác hoặc hầm tiêu huỷ trong khu xử lý chất thải cách xa tối thiểu
20 m đối với giếng nước, nguồn nước mặt và chuồng nuôi
- Tổng diện tích và cơ cấu diện tích giữa các khu phải phù hợp với công suất thiết
kế của cơ sở, tránh tình trạng quá tải dễ gây nhiễm bẩn và khó khăn trong quátrình sản xuất, làm sạch và kiểm tra
Thời gian ngừng cho ăn
- Người ta đã chứng minh một cách khoa học là giết mổ gà khi đường ruột đầythức ăn thì nhiều con gia cầm bị vỡ ruột, dẫn tới thịt gia cầm bị nhiễm chất bẩn
từ phân
- Tuân thủ thời gian ngừng cho ăn trước khi bắt gia cầm bán sẽ giảm được sự lâynhiễm này Các tư liệu hiện hành chỉ rằng thời gian ngừng cho ăn tốt nhất từ 6đến 10 giờ trước khi giết mổ Để đạt được thời gian ngừng cho ăn 6-10 giờ,người chăn nuôi phải tính đến thời gian vận chuyển và thời gian chờ đợi giết
mổ, người chăn nuôi phải thảo luận với chủ cơ sở giết mổ để có thông tin này
Thời gian ngừng thuốc
Trước ngày bán, kiểm tra lại việc dùng thuốc cho gia trong suốt quá trình nuôi(trộn thức ăn, pha nước uống, tiêm) để đảm bảo đúng thời gian ngừng thuốc
Trang 15Giấy chứng nhận tình trạng sức khỏe đàn gia cầm
Giấy chứng nhận tình trạng sức khỏe đàn gia cầm phải do người kiểm tra/ thanhtra thú y chuẩn bị, giấy này do Chi cục Thú y ký và đóng dấu cho từng đợt bán giacầm, 1 ngày trước khi bán
PH L C Ụ LỤC Ụ LỤC
B ng 1 Yêu c u v sinh thú y n ảo ầu vệ sinh thú y nước uống cho gia cầm ệp Thảo ước uống cho gia cầm c u ng cho gia c m ống cho gia cầm ầu vệ sinh thú y nước uống cho gia cầm
TT Tên ch tiêuỉ gây ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ và Đ n v tínhơ sở hạ tầng ịt gia cầm hiện nay Gi i han t i đaới ối với trại chăn nuôi Phươ sở hạ tầngng pháp thử lý chất thải và bảo vệ môi trường
I Thành ph n vô c ầu vệ sinh thú y nước uống cho gia cầm ơng Anh
B ng 2: ảo Yêu c u v sinh thú y không khí chu ng nuôi ầu vệ sinh thú y nước uống cho gia cầm ệp Thảo ồ Chí Minh, 03/2014
TT Ch tiêuỉ gây ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ và Đ n v tínhơ sở hạ tầng ịt gia cầm hiện nay Gi i h n t i đaới ạng thịt gia cầm hiện nay ối với trại chăn nuôi Phươ sở hạ tầngthử lý chất thải và bảo vệ môi trườngng pháp1
TCVN 6187-1996(ISO 9308-1990)3
4
Trang 16B ng 3: Yêu c u v sinh thú y không khí t i tr m p tr ng gia c m ảo ầu vệ sinh thú y nước uống cho gia cầm ệp Thảo ại trạm ấp trứng gia cầm ại trạm ấp trứng gia cầm ấp trứng gia cầm ứng gia cầm ầu vệ sinh thú y nước uống cho gia cầm
thử lý chất thải và bảo vệ môi trường1
Đ nhi m n m ộng vật tươi sống, sơ chế ễn ấn đề
B ng 4: Yêu c u tiêu chu n n ảo ầu vệ sinh thú y nước uống cho gia cầm ẩn nước thải chăn nuôi ước uống cho gia cầm c th i chăn nuôi ảo
Sối với trại chăn nuôi
TT Tên ch tiêuỉ gây ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ và Đ n v tínhơ sở hạ tầng ịt gia cầm hiện nay Gi i hới ạng thịt gia cầm hiện nayn t i đaối với trại chăn nuôi Phươ sở hạ tầngng pháp thử lý chất thải và bảo vệ môi trường
3.2 Tiêu chuẩn trong giết mổ
3.2.1 Tiêu chuẩn đối với cơ sở hạ tầng
Địa điểm:
máy, đường quốc lộ…)
Thiết kế:
sống sang thịt sạch đã xử lý
kiện về vệ sinh an toàn thực phẩm
Có hệ thống xử lý từng loại chất thải và hệ thống thoát nước thải
Trang 17 Có phòng làm việc cho cán bộ thú y.
3.2.2 Tiêu chuẩn đối với khu nhập gia cầm và nhốt gia cầm chờ giết mổ
của từng loại gia cầm
sinh khử trùng và dốc về rãnh thoát nước thải
vực nhốt gia cầm chờ giết mổ
3.2.3 Tiêu chuẩn đối với khu vực giết mổ
khu sạch
nhẵn, chống ẩm mốc, dễ vệ sinh và khử trùng
giết mổ, bảo hộ lao động tại những vị trí thuận tiện cho việc làm sạch và khử trùng
khử trùng, tránh để nước bị ứ đọng
hưởng đến an toàn thực phẩm của thịt Dây chuyền giết mổ treo phải thấp hơntrần ít nhất 1m
bệ lấy phủ tạng ít nhất 0,9m và được làm bằng vật liệu liệu bền, không thấmnước, dễ vệ sinh và khử trùng
thân thịt chưa sạch lông, dính dị vật, bị trầy xước hoặc không đủ tiêu chuẩn chờ
xử lý, có bàn để kiểm tra thân thịt hoặc bố trí nơi khám thân thịt tại cuối dâychuyền giết mổ treo
Trang 183.2.4 Tiêu chuẩn về hệ thống thoát nước thải và xử lý chất thải
Hệ thống thoát nước thải
các chất thải trong quá trình giết mổ, làm vệ sinh nhà xưởng, xe vận chuyển giacầm
thống xử lý nước thải
sau: BOD, COD, Coliforms, pH, NH3, H2S, TN, TP, TSS theo Phụ lục số 3ban hành kèm theo Thông tư số 61/2010/TT-BNNPTNT ngày 25 tháng 10 năm
2010 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về điềukiện vệ sinh thú y đối với cơ sở giết mổ gia cầm
Phụ lục số 3: Giới hạn các chỉ tiêu nước thải (Theo QCVN 01-24)
với các sản phẩm ăn được
hành nghề xử lý chất thải
dụng Phế phụ phẩm được thu dọn thường xuyên sau ca làm việc