Nhiều vụ vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng tuy đã được được xử lý hình sự, song kết quả xử lý còn nhẹ, chưa tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội nên các đ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HUỲNH KHẮC DŨNG
TỘI VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH VỀ KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ RỪNG THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NGÃI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2018
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN TRUNG THÀNH
HÀ NỘI, năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là khách quan và trung thực, chưa từng được công
bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác
Tác giả luận văn
Huỳnh Khắc Dũng
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LẬP PHÁP QUY ĐỊNH
VỀ VI PHẠM VÀ TỘI VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH VỀ KHAI THÁC
VÀ BẢO VỆ RỪNG 7
1.1 Những vấn đề lý luận về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng 71.2 Phân biệt tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng với tội vi phạm các quy định về quản lý rừng và tội hủy hoại rừng 151.3 Khái quát lịch sử lập pháp quy định về vi phạm và tội vi phạm các quy định khai thác và bảo vệ rừng 18
CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VÀ BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015 (SỬA ĐỔI, BỔ SUNG 2017) VỀ TỘI VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH VỀ KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ RỪNG VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỈNH QUẢNG NGÃI 26
2.1 Quy định của BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015 về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng 262.2 Thực trạng áp dụng các quy định của BLHS năm 1999 về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng tại tỉnh Quảng Ngãi 38
CHƯƠNG 3 ĐIỀU KIỆN VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO ÁP DỤNG ĐÚNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH VỀ KHAI THÁC, BẢO VỆ RỪNG VÀ LÂM SẢN 66
3.1 Điều kiện đảm bảo áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự về tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản 663.2 Các giải pháp khác 72
KẾT LUẬN 79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Thống kê số vụ vi phạm các quy định về khai thác và
bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi (2013 – 2017)
39
Bảng 2.2 Phân tích các hành vi vi phạm các quy định về khai
thác và bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi (2013 – 2017)
40
Bảng 2.3 Thống kê tình hình xét xử sơ thẩm tội vi phạm các
quy định về khai thác và bảo vệ rừng
45
Bảng 2.4 Thống kê quyết định hình phạt đối với tội vi phạm
các quy định về khai thác và bảo vệ rừng
47
Bảng 2.5 Thống kê số vụ án vi phạm các quy định về khai thác
và bảo vệ rừng được định tội danh theo cấu thành cơ bản của tội phạm
47
Bảng 2.6 Thống kê số vụ án vi phạm các quy định về khai thác
và bảo vệ rừng được định tội danh theo cấu thành tăng nặng của tội phạm
52
Bảng 2.7 Thống kê các vụ án vi phạm các quy định về khai
thác và bảo vệ rừng bị kháng cáo, kháng nghị và kết quả giải quyết
58
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quảng Ngãi là một tỉnh duyên hải miền Trung, có tổng diện tích tự nhiên là 515.249,62 ha, với 13 huyện và 01 thành phố, trong đó có 06 huyện miền núi; phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp tỉnh Gia Lai và Kon Tum, phía Nam giáp tỉnh Bình Định, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam Với đặc điểm
về vị trí địa lý, tỉnh Quảng Ngãi được thiên nhiên ưu đãi về tài nguyên rừng, với tổng số 174/184 xã, phường, thị trấn có rừng và đất lâm nghiệp, với tổng diện tích rừng là 310.156,02 ha, trong đó: rừng tự nhiên là 109.461,99 ha, rừng trồng là 198.486,85 ha, rừng trồng cây công nghiệp và cây đặc sản là 2.027,18 ha Rừng được phân thành ba loại, với diện tích như sau: rừng phòng
hộ là 144.663,92 ha, rừng sản xuất là 144.065,56 ha, rừng quy hoạch cho đất lâm nghiệp là 51.462,54 ha Rừng của tỉnh Quảng Ngãi phong phú về lâm sản với nhiều chủng loại gỗ có giá trị kinh tế cao, như: Trắc, Lim, Muồng đen, Sao, Dổi, Sến… Ngoài các loại cây lấy gỗ, còn có cây nguyên liệu đặc sản nổi tiếng đó là cây Quế, tập trung nhiều ở huyện Trà Bồng
Trong những năm qua, thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước về công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng như: Chỉ thị số 43-CT/TU, ngày 16/11/2005 của Tỉnh ủy Quảng Ngãi về tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh; Chương trình hành động số 22-CTr/TU, ngày 04/4/2017 của Tỉnh ủy Quảng Ngãi thực hiện Chỉ thị số 13-CT/TW, ngày 04/4/2017 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo
vệ và phát triển rừng; Kế hoạch số 153/2011/UBND, ngày 04/11/2011 của UBND tỉnh thực hiện Chỉ thị số 1685/2011/CT-CP, ngày 27/9/2011 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ; Quyết định
Trang 8số 54/2013/QĐ-UBND, ngày 05/12/2013 của UBND tỉnh Quảng Ngãi về phân cấp quản lý Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp; Chỉ thị số 06/CT-UBND, ngày 19/3/2015 của Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi về việc tăng cường các biện pháp quản lý, bảo vệ, phát triển rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn tỉnh… Cùng với đó, các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương đã tăng cường công tác tuyên truyền, vận động, xử lý các hành vi vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ, phát triển rừng Tuy nhiên, tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng trái pháp luật để lấy đất sản xuất; săn bắn, đặt bẫy bắt động vật hoang dã để lấy thịt hoặc mua bán, kinh doanh vẫn còn xảy ra Đặc biệt là tình trạng khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép vẫn còn diễn biến khá phức tạp và ngày càng tinh vi, trong khi đó, việc phát hiện, điều tra, xử lý đối với hành vi này bằng pháp luật hình sự hiệu quả chưa cao Số vụ án vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng được đưa ra xét xử trong những năm qua chưa nhiều, chưa tương xứng với thực trạng vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, chủ yếu vẫn là xử lý hành chính Nhiều vụ vi phạm các quy định
về khai thác và bảo vệ rừng tuy đã được được xử lý hình sự, song kết quả xử
lý còn nhẹ, chưa tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội nên các đối tượng coi thường pháp luật, hoạt động ngày càng tinh vi; việc xử lý hình sự chủ yếu vẫn tập trung vào người làm thuê, người đồng bào dân tộc thiểu số thiếu hiểu biết về pháp luật nên chưa mang lại hiệu quả trong việc răn
đe, giáo dục, phòng ngừa
Tình trạng trên do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân do quy định của BLHS hiện hành còn có những bất cập, thiếu thống nhất; Thông tư liên tịch số 19/2007/TTLT-BNN-BTP-BCA-VKSNDTC-TANDTC, ngày 08/3/2007 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao, Tòa án Nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số điều của BLHS về các tội phạm trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản và các văn bản quy phạm pháp luật khác có
Trang 9liên quan chưa cụ thể, còn nhiều vướng mắc khi áp dụng trong thực tiễn truy
tố, xét xử; trình độ áp dụng pháp luật để xử lý tội phạm này của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng còn bất cập, có lúc chưa thống nhất quan điểm về nhận thức nên việc xử lý đối với loại tội phạm này đạt hiệu quả không cao… Đây là vấn đề cần đặt ra để nghiên cứu
Làm thế nào để áp dụng pháp luật hình sự xử lý hiệu quả đối với tội phạm vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng? Thiết nghĩ cần phải nghiên cứu một cách nghiêm túc, có hệ thống về mặt lý luận, đồng thời bám sát thực tiễn; nghiên cứu làm sáng tỏ những dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội
vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng theo Điều 175, BLHS Việt Nam và các văn bản hướng dẫn thi hành, đồng thời đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự xét xử tội danh này của Tòa án Nhân dân các cấp tỉnh Quảng Ngãi trong 5 năm (2013 – 2017) nhằm tìm ra các giải pháp nâng cao hiệu quả việc áp dụng pháp luật hình sự để xử lý đối với tội phạm này
Với những lý do trên, tôi chọn đề tài “Tội vi phạm các quy định về khai
thác và bảo vệ rừng theo Luật Hình sự Việt Nam từ thực tiễn địa bàn tỉnh Quảng Ngãi” làm luận văn thạc sỹ Luật học, chuyên ngành Luật Hình sự và
Tố tụng Hình sự, với mong muốn tìm hiểu sâu hơn về tội phạm này, để nâng cao nhận thức về quy định của pháp luật hình sự và những hạn chế, thiếu sót khi áp dụng pháp luật hình sự đối với tội vi phạm các quy định về khai thác
và bảo vệ rừng Qua đó, có cơ sở để đề xuất một số ý kiến cá nhân nhằm góp phần nâng cao hơn nữa công tác điều tra, truy tố, xét xử đối với tội phạm này
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng dưới dạng luận án tiến
sỹ, luận văn thạc sỹ và các công trình nghiên cứu khoa học khác Có thể kể
đến như bài viết của tác giả Phạm Văn Beo “Tội vi phạm các quy định về khai
thác và bảo vệ rừng tại Điều 175, BLHS” (Tạp chí Tòa án Nhân dân số 1/2011); Luận án Tiến sỹ: “Phòng ngừa tội phạm vi phạm các quy định về
Trang 10khai thác và bảo vệ rừng” của NCS Nguyễn Văn Chánh, Học viện Cảnh sát
Nhân dân, năm 2015; Luận văn Thạc sỹ: “Tội vi phạm các quy định về khai
thác và bảo vệ rừng trong Luật Hình sự Việt Nam” của tác giả Vũ Thị Huyền,
Đại học Luật Hà Nội, năm 2010; Luận văn Thạc sỹ: “Tội vi phạm các quy
định về khai thác và bảo vệ rừng theo luật Hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Kon Tum”, của tác giải Mai Xuân Thành, Học viện Khoa học Xã hội, năm
2016; Luận văn Thạc sỹ “Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ
rừng theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng” của
tác giả Trần Minh Triết, Học viện Khoa học Xã hội, năm 2017…
Ngoài ra, khi chọn đề tài này để nghiên cứu, tác giả đã tham khảo một
số giáo trình sau đại học có liên quan của GS.TS Võ Khánh Vinh, TS Lê Văn Đệ ; Bộ Luật Hình sự Việt Nam, Bộ Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam và một
số văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan
Những tài liệu trên rất có giá trị để nghiên cứu và tham khảo khi thực
hiện đề tài “Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng theo Luật
Hình sự Việt Nam từ thực tiễn địa bàn tỉnh Quảng Ngãi”
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Trên cơ sở phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận, quy định của pháp luật về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng, luận văn hướng tới mục đích đưa ra những giải pháp đảm bảo áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự về tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
3.2 Nhiệm vụ
- Phân tích, làm rõ khái niệm, dấu hiệu pháp lý của tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng theo Luật Hình sự Việt Nam
- Khái quát lịch sử lập pháp về hành vi vi phạm các quy định về khai
thác và bảo vệ rừng trong pháp luật Việt Nam từ năm 1945 đến nay
- Phân biệt tội phạm này với một số tội phạm liên quan đến rừng khác
Trang 11trong BLHS 1999 (Điều 176, Điều 189), nhằm áp dụng đúng đắn điều luật trong thực tiễn xét xử
- Phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự đối với tội danh này trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi; những ưu điểm, hạn chế, bất cập; nguyên nhân
- Đề xuất giải pháp đảm bảo áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự về tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng
Những vấn đề lý luận, quy định của pháp luật về tội vi phạm các quy định
về khai thác và bảo vệ rừng và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng dưới góc độ luật hình sự và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2013 – 2017
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước ta về công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng nói riêng
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng đồng bộ các phương pháp nghiên cứu truyền thống, như: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, quy nạp, diễn dịch… Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác, như: nghiên cứu tài liệu, tham khảo kinh nghiệm thực tiễn từ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, xét xử tội vi phạm các quy định về khai thác
và bảo vệ rừng nói riêng của các cơ quan chức năng trên địa bàn tỉnh
Trang 126 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Về mặt lý luận
Luận văn là công trình khoa học nghiên cứu một cách toàn diện, khoa học dưới góc độ pháp luật hình sự về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm phong phú lý luận chuyên ngành luật hình sự về tội phạm cụ thể, đó là tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo
vệ rừng
6.2 Về mặt thực tiễn
Nội dung của luận văn có thể được dùng để làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo cho các nhà nghiên cứu khoa học luật hình sự, cho các học viên, sinh viên đang theo học ngành Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự và những ai quan tâm đến lĩnh vực này
Kết quả nghiên cứu đề tài, góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử đối với tội phạm vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, cũng như trong phạm
vi cả nước
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được cơ cấu thành ba chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận và lập pháp quy định về vi phạm và tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng
Chương 2: Quy định của BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015 về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Ngãi
Chương 3: Điều kiện và giải pháp đảm bảo áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng
Trang 13CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LẬP PHÁP QUY ĐỊNH VỀ VI PHẠM
VÀ TỘI VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH VỀ KHAI THÁC VÀ
BẢO VỆ RỪNG 1.1 Những vấn đề lý luận về tội vi phạm các quy định về khai thác
và bảo vệ rừng
1.1.1 Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội phạm vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng
1.1.1.1 Khái niệm về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng
Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004 đã được Quốc hội khoá XI thông qua tại kỳ họp thứ 6, ngày 03/12/2004 thay thế Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 1991, tại khoản 1, Điều 3, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng định
nghĩa:“Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật
rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây
gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng”; khoản 1, 2, 3, Điều 7, Luật
Bảo vệ môi trường năm 2005 quy định các hành vi bị nghiêm cấm: “Nghiêm
cấm phá hoại, khai thác trái phép rừng, các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác; khai thác, kinh doanh, tiêu thụ, sử dụng các loại thực vật, động vật hoang dã quý hiếm thuộc danh mục cấm do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định” Bên cạnh đó, nhằm để quản lý việc khai thác và bảo vệ rừng có
hiệu quả, Chính phủ và các cơ quan chức năng ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh, như: Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; Quy chế quản lý rừng được ban hành kèm theo Quyết định 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ quy định việc tổ chức quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và
Trang 14rừng sản xuất; Chỉ thị số 08/2006/CT-TTg ngày 08/3/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường các biện pháp cấp bách để ngăn chặn tình trạng chặt phá, lấn chiếm rừng, khai thác rừng trái phép; Chỉ thị số 1685/CT-TTg ngày 27/9/2011
về việc tăng cường chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ; Thông tư số 35/2011/TT-BNNPTNT ngày 20/5/2011 của Bộ NN&PTNT hướng dẫn thực hiện khai thác, tận thu gỗ và lâm sản ngoài gỗ; Thông tư số 01/2012/TT-BNNPTNT ngày 04/01/2012 của Bộ NN&PTNT quy định hồ sơ lâm sản hợp pháp và kiểm tra nguồn gốc lâm sản Quyết định số 57/QĐ-TTg ngày 09/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020; Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg ngày 08/02/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng
Liên quan đến việc xử lý trách nhiệm hình sự đối với các hành vi xâm hại đến rừng, BLHS 1999 (bổ sung, sửa đổi năm 2009) quy định 5 tội danh gồm: Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng (Điều 175); Tội vi phạm các quy định về quản lý rừng (Điều 176) (thuộc Chương XVI các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế); Tội hủy hoại rừng (Điều 189); Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm (Điều 190) và Tội vi phạm chế
độ bảo vệ đặc biệt đối với khu bảo tồn thiên nhiên (Điều 191) (thuộc Chương XVII các tội về Môi trường) Để thống nhất phương hướng xử lý hình sự các
vụ án xâm hại đến rừng, ngày 08/3/2007, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư liên tịch số 19/2007/TTLT/BNN&PTNT-BTP-BCA-VKSNDTC-TANDTC hướng dẫn áp dụng một số điều của BLHS năm 1999 về các tội phạm trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm
sản (sau đây viết tắt là Thông tư số 19/TTLT)
Trong quá trình nghiên cứu cho thấy ở Việt Nam hiện chưa có một định nghĩa chính thức về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng
Trang 15trong các giáo trình chính thống Tuy nhiên, có thể dựa trên các cơ sở sau để đưa ra khái niệm về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng:
- Quan điểm của PGS.TSKH Lê Cảm về tội phạm, gồm ba bình diện là:
+ Bình diện khách quan: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội + Bình diện pháp lý: Tội phạm là hành vi trái pháp luật hình sự
+ Bình diện chủ quan: Tội phạm là hành vi do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi
- BLHS 1999
+ Điều 8 khái niệm về tội phạm như sau: “Tội phạm là hành vi nguy
hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế
độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm các lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”
+ Khoản 1, Điều 175 quy định tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng, như sau: Người nào có một trong các hành vi sau đây gây hậu quả
nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu
đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:
a) Khai thác trái phép cây rừng hoặc có hành vi khác vi phạm các quy định của nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 189 của Bộ luật này;
b) Vận chuyển, buôn bán gỗ trái phép, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 153 và Điều 154 của Bộ luật này
Điều luật trên quy định bốn loại hành vi khách quan của tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng, đó là các hành vi: khai thác trái phép cây
Trang 16rừng, vận chuyển gỗ trái phép, buôn bán gỗ trái phép và các hành vi khác vi phạm quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng Tuy nhiên, hành vi khai thác trái phép cây rừng hoặc hành vi khác vi phạm các quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng chỉ bị coi là tội phạm theo Điều 175 BLHS năm 1999 nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 189 BLHS; hành vi vận chuyển gỗ trái phép, hành vi buôn bán gỗ trái phép chỉ bị coi là tội phạm theo quy định tại Điều 175 nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 153
và 154 BLHS
- Mục 1, phần IV, Thông tư số 19/TTLT hướng dẫn như sau:
+ Khai thác trái phép cây rừng, là một trong các hành vi sau đây:
Khai thác cây rừng ở rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép trong trường hợp pháp luật quy định việc khai thác đó chỉ được thực hiện khi đã được cấp giấy phép và giấy phép còn trong thời hạn;
Khai thác cây rừng ngoài khu vực cho phép;
Khai thác cây rừng không có dấu búa bài cây trong các trường hợp theo quy định của pháp luật phải có dấu búa bài cây;
Khai thác cây rừng vượt quá khối lượng cho phép
+ Hành vi vi phạm các quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng: là ngoài hành vi khai thác trái phép cây rừng còn có hành vi khác vi phạm các quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng
Trường hợp khai thác trái phép rừng trồng, rừng khoanh nuôi tái sinh
đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giao cho tổ chức, tập thể,
hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp mà người được giao đã bỏ vốn đầu tư trồng rừng, chăm sóc, bảo vệ thì bị xử lý như sau:
Nếu chủ rừng khai thác cây rừng trái phép thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 175 BLHS;
Nếu người khai thác cây rừng trái phép mà không phải là chủ rừng thì
Trang 17bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo các điều luật tương ứng quy định tại Chương XIV “Các tội xâm phạm sở hữu” của BLHS
+ Vận chuyển, buôn bán gỗ trái phép: là hành vi vận chuyển, buôn bán
gỗ không đúng quy định của Nhà nước (như vận chuyển gỗ không có thủ tục, buôn bán gỗ không có giấy phép kinh doanh hoặc có giấy phép nhưng đã hết hiệu lực ) Trường hợp buôn bán, vận chuyển gỗ trái phép qua biên giới thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 153 hoặc Điều 154 BLHS
Căn cứ các cơ sở trên, chúng ta có thể nhận thức về hành vi vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng là hành vi khai thác trái phép cây rừng hoặc có hành vi khác vi phạm các quy định của Nhà nước về khai thác
và bảo vệ rừng hoặc vận chuyển, buôn bán gỗ trái phép
Như vậy, có thể định nghĩa tội vi phạm các quy định về khai thác và
bảo vệ rừng như sau: “Tội phạm vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ
rừng là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình
sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý bằng cách khai thác trái phép cây rừng, vận chuyển, buôn bán gỗ trái phép hoặc có hành vi khác trong khai thác và bảo vệ rừng trái với quy định của pháp luật”
1.1.1.2 Các dấu hiệu pháp lý của tội vi phạm các quy định về khai thác
và bảo vệ rừng
Từ khái niệm nêu trên và căn cứ vào Điều 175 BLHS, Thông tư số 19/TTLT, tác giả rút ra đặc điểm pháp lý của tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng như sau:
- Khách thể của tội phạm
+ Là quan hệ xã hội được BLHS xác lập, bảo vệ và bị hành vi vi phạm
quy định về khai thác và bảo vệ rừng xâm hại, đó là chế độ quản lý về khai thác, bảo vệ rừng và trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước Ngoài ra, tội phạm
còn làm ảnh hưởng tác động đến hệ sinh thái và môi trường tự nhiên
Trang 18+ Đối tượng tác động của tội phạm này là cây rừng (rừng tự nhiên, rừng trồng, rừng khoanh nuôi tái sinh), gỗ (gỗ tròn, gỗ xẻ, gỗ đẽo) và thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nhóm IA
- Mặt khách quan của tội phạm
Mặt khách quan của tội phạm vi phạm các quy định về khai thác và bảo
vệ rừng có thể được hiểu là tổng thể những dấu hiệu biểu hiện ra bên ngoài của tội phạm xâm hại đến các quy định trong quản lý nhà nước về khai thác
và bảo vệ rừng, thể hiện qua hành vi khách quan, hậu quả, thiệt hại, mối quan
hệ giữa hành vi khách quan và hậu quả, thiệt hại
Trước tiên, mặt khách quan của tội phạm được thể hiện ở một trong các hành vi sau: khai thác trái phép cây rừng, hành vi khác vi phạm các quy định của nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng, vận chuyển gỗ trái phép, hành vi buôn bán gỗ trái phép
+ Hành vi khai thác trái phép cây rừng thường được biểu hiện cụ thể dưới các dạng như:
Tổ chức, cá nhân khai thác trái phép cây rừng ở rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng mà không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép trong trường hợp pháp luật quy định việc khai thác đó chỉ được thực hiện khi đã được cấp giấy phép và giấy phép còn trong thời hạn Dạng hành vi này bao gồm cả trường hợp khai thác cây rừng ngoài khu vực cho phép
Tổ chức, cá nhân khai thác cây rừng ở rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng khi đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép
và giấy phép còn trong thời hạn nhưng đã thực hiện không đúng quy định ghi trong giấy phép
+ Hành vi khác vi phạm các quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng được hiểu là những hành vi không được quy định tại Điều 175, BLHS mà được quy định trong các văn bản pháp luật khác có liên quan và những hành vi này phải là những hành vi vi phạm các quy định của Nhà nước
về khai thác và bảo vệ rừng
Trang 19+ Hành vi vận chuyển, buôn bán gỗ trái phép: Là hành vi vận chuyển, buôn bán gỗ không đúng với quy định của Nhà nước (như vận chuyển gỗ không có thủ tục, chứng từ hợp pháp hoặc có chứng từ hợp pháp nhưng số
gỗ thực tế sai so với chứng từ (sai về chủng loại, quy cách, khối lượng ); buôn bán gỗ không có giấy phép kinh doanh hoặc giấy phép hết hiệu lực…)
Ngoài ra, mặt khách quan của tội phạm còn có các dấu hiệu khác: “Gây
hậu quả nghiêm trọng” là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này Trường hợp
chưa gây hậu quả nghiêm trọng thì người có hành vi nêu trên phải thuộc trường hợp đã bị xử phạt hành chính về hành vi nêu trên hoặc đã bị kết án về tội này nhưng chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này Đây là trường hợp trước đó người có hành vi vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng đã bị xử phạt hành chính (cảnh cáo, phạt tiền ) nay lại thực hiện một trong các hành vi được quy định tại khoản 1, Điều 175 hoặc đã bị kết án về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, nghĩa là tính từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án chưa quá thời hạn theo quy định tại Điều 64, BLHS
Mức độ gây hậu quả nghiêm trọng được quy định tại khoản 1, Điều
175 BLHS được hướng dẫn cụ thể tại Thông tư số 19/TTLT
Như vậy, các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng cho thấy, tội phạm này có cấu thành vật chất Hậu quả của tội phạm này là những thiệt hại về vật chất, như số lượng gỗ, diện tích rừng bị khai thác, vận chuyển, buôn bán trái phép xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực khai thác và bảo vệ rừng Hậu quả của tội phạm là dấu hiệu, là điều kiện bắt buộc để truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội
- Chủ thể của tội phạm
Tội phạm được thực hiện bởi bất kỳ người nào có đủ năng lực trách
Trang 20nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo luật định Họ là những người chuyên khai thác hoặc buôn bán gỗ trái phép; chủ phương tiện và những người điều khiển phương tiện để vận chuyển gỗ trái phép; người dân sống gần khu vực có rừng khai thác rừng trái phép; dân di cư tự do khai thác rừng trái phép; cán bộ nhà nước trong các lâm trường, cán bộ có chức vụ quyền hạn trong cơ quan nhà nước lợi dụng chương trình, kế hoạch liên quan đến quản lý, bảo vệ rừng để khai thác hoặc vận chuyển gỗ trái phép Ở loại tội phạm này, nhân thân của người phạm tội có ý nghĩa đối với việc định tội Ở cấu thành tội phạm cơ bản của tội này đòi hỏi người phạm tội phải có dấu hiệu phản ánh đặc điểm xấu về
nhân thân như “đã bị xử phạt vi phạm hành chính” hoặc “đã bị kết án”
Những người nói trên phạm tội tại khoản 1, Điều 175, BLHS phải đủ 16 tuổi trở lên Nếu người từ đủ 14 tuổi trở lên phạm tội ở khoản 2, Điều 175, BLHS phải là lỗi cố ý mới phải chịu trách nhiệm hình sự
- Mặt chủ quan của tội phạm
Lỗi của người phạm tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng
có thể là lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý Những người thực hiện hành vi khai thác trái phép cây rừng, vận chuyển gỗ trái phép, buôn bán gỗ trái phép thì lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý, tức là người thực hiện hành vi khai thác, vận chuyển hoặc buôn bán gỗ trái phép biết rõ được tính chất nguy hiểm cho xã hội về hành vi của mình, biết trước hậu quả tác hại do hành vi của mình gây ra là trái với những quy định của Nhà nước trong quản lý lâm sản, ảnh hưởng đến trật tự trong quản lý kinh tế, song họ vẫn mong muốn thực hiện bằng được hành vi của mình, hoặc bỏ mặc cho hậu quả xảy ra
Trong một số trường hợp đặc biệt, tội phạm có thể được thực hiện dưới hình thức lỗi vô ý trong khai thác gỗ vì cẩu thả không thực hiện đúng quy trình khai thác nên đã gây thiệt hại đến cây non và cây mới trồng, trường hợp này nếu
đủ yếu tố và gây thiệt hại theo quy định của pháp luật sẽ bị truy cứu về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng Động cơ, mục đích phạm tội ở
Trang 21mỗi tội phạm có khác nhau, song chiếm đa số là mang tính vụ lợi
- Về hình phạt: Điều luật quy định hình phạt chính ở hai khung như sau: + Khung cơ bản: Quy định hình phạt là tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm và được áp dụng đối với trường hợp không có tình tiết tăng nặng
+ Khung tăng nặng: Quy định hình phạt tù từ hai năm đến mười năm và được áp dụng đối trường hợp gây hậu quả rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng
+ Hình phạt bổ sung được quy định tại khung 3 là người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến hai mươi triệu đồng
- Các dấu hiệu định khung hình phạt trong cấu thành tăng nặng của tội phạm vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng
Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là các tình tiết làm tăng mức
độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi tội phạm, là căn cứ để tăng nặng trách nhiệm hình sự của người phạm tội (trong phạm vi một khung hình phạt) so với các trường hợp phạm tội khác nhưng không có tình tiết tăng nặng đó, cấu thành tăng nặng bao giờ cũng có khung hình phạt nặng hơn so với cấu thành cơ bản Trong BLHS Việt Nam, các tình tiết tăng nặng được quy định cụ thể tại Khoản
1, Điều 48
Đối với tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng, BLHS quy định khung hình phạt trong cấu thành tăng nặng tại khoản 2, Điều 175:
“Phạm tội trong trường hợp rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì
bị phạt tù từ hai năm đến mười năm” và được hướng dẫn cụ thể tại Thông tư
số 19/TTLT
1.2 Phân biệt tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng với tội vi phạm các quy định về quản lý rừng và tội hủy hoại rừng
1.2.1 Tội vi phạm các quy định về quản lý rừng (Điều 176)
- Giống nhau: Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng
Trang 22(Điều 175) và Tội vi phạm các quy định về quản lý rừng (Điều 176) là tội phạm đều xâm phạm đến trật tự quản lý nhà nước về kinh tế gây thiệt hại cho Nhà nước; được xếp vào Chương các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
- Khác nhau: Đối tượng tác động của hai tội này là khác nhau:
+ Điều 175 đối tượng tác động chính là rừng và các sản phẩm của rừng như gỗ và các lâm thổ sản khác, còn ở Điều 176, đó chính là những chính sách, những quy định về quản lý kinh tế trong quản lý rừng
+ Về mặt khách quan: Theo quy định tại Điều 175, hành vi của tội phạm (hành động hoặc không hành động) tác động trực tiếp đến rừng, còn Điều 176 là hành vi (hành động hoặc không hành động) tạo ra các quyết định hành chính cho phép người khác thực hiện
Cũng từ mặt khách quan cho thấy, đối với Điều 176 có dấu hiệu khác,
đó là chủ thể đặc biệt, người phạm tội phải là người có chức vụ, quyền hạn cụ thể và lỗi phải là lỗi cố ý; còn Điều 175 không đòi hỏi dấu hiệu này
1.2.2 Tội hủy hoại rừng (Điều 189)
+ Đối tượng tác động: Hành vi phạm tội tác động trực tiếp đến rừng và các yếu tố có liên quan đến rừng Biểu hiện của hành vi cũng có một số đặc điểm giống nhau, như sử dụng công cụ, phương tiện để chặt phá, đốt rừng
- Khác nhau:
+ Khách thể
Tội vi phạm các quy định khai thác và bảo vệ rừng: Xâm phạm trật tự
Trang 23quản lý của nhà nước trong việc nuôi trồng, khai thác, bảo vệ rừng Có thể định lượng được khi đánh giá về thiệt hại.
Tội hủy hoại rừng: Xâm phạm những quy định của Nhà nước về bảo
vệ và phát triển rừng (theo Luật Bảo vệ môi trường) Không thể định lượng được khi đánh giá về thiệt hại
+ Mặt khách quan
Tội vi phạm các quy định khai thác và bảo vệ rừng: Người phạm tội
có một trong các hành vi sau: Khai thác trái phép cây rừng hoặc có những hành vi khác vi phạm các quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng, trừ những trường hợp quy định tại Điều 189 (Tội hủy hoại rừng); Hành vi vận chuyển hoặc buôn bán gỗ trái phép, trừ các trường hợp quy định tại Điều 153 (Tội buôn lậu), Điều 154 (Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới); Có hậu quả nghiêm trọng xảy ra hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành
vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm
Tội hủy hoại rừng: Tội phạm này thể hiện bằng hành vi: Đốt rừng trái phép; phá rừng trái phép; hành vi khác hủy hoại rừng Trách nhiệm hình sự chỉ đặt ra khi người thực hiện hành vi gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị
xử phạt hành chính mà còn vi phạm
Về mục đích của người phạm tội: Khi thực hiện hành vi với lỗi cố ý, điều họ nhận thức được đó là việc làm của họ gây hủy hoại cho môi trường sinh thái, họ mong muốn hoặc chấp nhận để hậu quả xảy ra Do vậy, ngoài động cơ vụ lợi vì mục đích kinh tế như người có hành vi vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng, người có hành vi hủy hoại rừng có thể được thực hiện với động cơ, mục đích khác nhau; đó có thể là để trả thù, giải quyết mâu thuẫn cá nhân… Dù với động cơ gì đi chăng nữa, nhưng mục đích của họ
là hủy hoại rừng Do vậy, tội hủy hoại rừng không giới hạn chủ thể đặc biệt Điều luật xác định, chủ thể của tội phạm là bất kỳ ai có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo luật định; có thể đó là chủ rừng, tự hủy hoại rừng do mình bỏ vốn đầu tư
Trang 241.3 Khái quát lịch sử lập pháp quy định về vi phạm và tội vi phạm các quy định khai thác và bảo vệ rừng
1.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi ban hành BLHS năm
1985
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời Ngay từ khi thành lập nước, Đảng và Nhà nước ta đã xác định ba nhiệm vụ lớn, đó là: diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm, cùng với đó, nhiều công việc cấp bách được đặt ra để khôi phục kinh tế,
ổn định đời sống nhân dân Tuy nhiên, với điều kiện kinh tế, xã hội giai đoạn này, Nhà nước ta không thể ban hành ngay các văn bản pháp luật Do vậy, ngày 10/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số 47/SL quy định tạm thời sử dụng luật lệ cũ hiện hành ở Việt Nam Theo Sắc lệnh này thì khi xét xử, Tòa án xét xử theo luật hình sự cũ mà thực dân phong kiến đã đề
ra với điều kiện không được trái với độc lập của nước Việt Nam và chính thể cộng hòa Vì vậy, giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954, việc xét xử đối với các tội phạm nói chung, tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng nói riêng chủ yếu vẫn dựa vào luật lệ cũ
Tuy nhiên, những quan hệ xã hội liên quan đến việc quản lý và bảo vệ rừng đã được Nhà nước chú trọng điều chỉnh bằng việc ban hành Thông tư số 1303/BCN, ngày 28/6/1946 của liên bộ Nội vụ - Công nghiệp quy định điều chỉnh những hành vi xâm phạm đến rừng; Sắc lệnh số 142/SL, ngày 21/12/1949 quy định việc lập biên bản vi phạm các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ rừng; Nghị định số 181/TTg, ngày 08/7/1952 của Thủ tướng Chính phủ nghiêm cấm đốt phá rừng để bảo vệ đường giao thông
Năm 1954, sau khi Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giành thắng lợi, đất nước bị chia cắt làm hai miền, điều kiện kinh tế, xã hội ở miền Bắc có nhiều biến đổi, việc điều chỉnh các quan hệ xã hội nói chung, điều chỉnh quan
hệ xã hội trên lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng nói riêng bằng pháp luật được
Trang 25quan tâm Trên cơ sở Hiến pháp năm 1959, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội Trên lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng được Nhà nước điều chỉnh bằng các văn bản, như: Quyết định số 72/CP, ngày 07/7/1962 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Khu rừng Quốc gia Cúc Phương; Nghị định số 39/CP, ngày 06/9/1963 của Hội đồng Chính phủ ban hành Điều lệ tạm thời về săn, bắt chim, thú rừng… Đặc biệt, ngày 06/9/1972, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh quy định việc bảo vệ rừng; ngày 03/10/1973, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị quyết số 155/CP thi hành Pháp lệnh quy định việc bảo vệ rừng Đây là văn bản có tính pháp lý cao đầu tiên được ban hành trực tiếp quy định về việc quản lý, bảo vệ rừng và khai thác, sử dụng các nguồn lợi từ rừng Việt Nam
Sau ngày đất nước thống nhất (1975), Đảng và Nhà nước ta bắt tay vào lãnh đạo công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước, việc xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, hoàn chỉnh để quản lý xã hội được đặt ra Trên lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng, Nhà nước đã ban hành một số văn bản, như: Thông tư số 24-TT/75, ngày 20/9/1975 của Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời về việc bảo vệ và phục hồi rừng; Thông tư số 3984-LN/KL, ngày 15/10/1977 của Bộ Lâm nghiệp hướng dẫn việc xử phạt hành chính đối với các vi phạm luật lệ và bảo vệ rừng…
Nhìn chung, việc điều chỉnh các quan hệ xã hội trên lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng giai đoạn 1945 đến trước khi có BLHS năm 1985 chưa chặt chẽ
do điều kiện kinh tế, xã hội còn nhiều khó khăn nên nhận thức trên lĩnh vực lập pháp nói chung và các quy định cũng như pháp luật hình sự bảo vệ rừng chưa đầy đủ Việc xử lý hình sự đối với các loại tội phạm nói chung và tội vi phạm các quy định về bảo vệ rừng thường viện dẫn các tội danh khác trên cơ
sở xác định mục đích là yếu tố quan trọng để định tội danh Tội vi phạm các quy định về bảo vệ rừng được xử lý dựa trên các văn bản pháp luật, như: Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng, ngày 30/10/1967; Pháp lệnh trừng trị
Trang 26các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa, ngày 21/10/1970; Pháp lệnh quy định việc bảo vệ rừng, ngày 06/9/1972… Tuy do những điều kiện khách quan, nên trong giai đoạn này những quy định của pháp luật hình sự điều chỉnh loại tội phạm này còn ít và trong thực tiễn cũng ít áp dụng pháp luật hình sự để xử
lý Song, các văn bản quy phạm pháp luật ở giai đoạn này cũng đã thể hiện được quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta đối với công tác bảo vệ rừng; đồng thời, đặt nền móng cho việc xây dựng pháp luật hình sự để xử lý
đối với tội phạm Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng sau này
1.3.2 Giai đoạn từ khi ban hành BLHS năm 1985 đến trước khi ban hành BLHS năm 1999
Giai đoạn này, trên cơ sở nhận thức được vị trí, vai trò, tầm quan trọng của rừng đối với nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản để bảo vệ rừng, như: Chỉ thị số 34/CNR, ngày 28/12/1985 của Bộ Lâm nghiệp về chấn chỉnh việc khai thác, cung cấp gỗ; Thông tư số 02-TT/LB, ngày 13/01/1986 của liên Bộ Nội vụ -
Bộ Lâm nghiệp về công tác bảo vệ rừng và quản lý vật tư lâm sản; Thông tư
số 23-TT/LB, ngày 21/10/1986 của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Lâm nghiệp về mối quan hệ phối hợp giữa hai ngành Kiểm sát và Lâm nghiệp trong việc phòng, chống các vi phạm, tội phạm về quản lý và bảo vệ rừng Đặc biệt, BLHS năm 1985 được Quốc hội thông qua ngày 27/6/1985 và có hiệu lực từ ngày 01/01/1986 là một bước tiến lớn trong ngành lập pháp của nước ta, đánh dấu một bước ngoặc lịch sử trong lập pháp hình sự Việt Nam Theo đó, các tội phạm xâm phạm đến rừng đều được quy định cụ thể trong BLHS, trong đó tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng được quy định tại Điều 181 Chương VII, Phần các tội phạm về kinh tế Điều 181 BLHS năm 1985 trực tiếp điều chỉnh các hành vi, như: khai thác trái phép cây rừng, săn bắn trái phép chim, thú hoặc các hành vi khác vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý và bảo vệ rừng; đồng thời, quy định hình phạt cụ thể cho
Trang 27các hành vi này tùy theo tính chất, mức độ của hành vi phạm tội Như vậy, lần đầu tiên trong BLHS, hành vi vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng được quy định một tội danh cụ thể, là cơ sở pháp lý thống nhất cho việc đấu tranh phòng, chống tội phạm này, bảo đảm thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về quản lý và bảo vệ rừng đạt hiệu quả
Bên cạnh đó, nhằm tạo cơ sở pháp lý vững chắc để bảo vệ nguồn tài nguyên rừng, nhiều văn bản quy phạm pháp luật quan trọng cũng được ban hành, như: Luật bảo vệ và phát triển rừng ban hành ngày 19/8/1991 là cơ sở pháp lý nhằm cụ thể hóa việc điều chỉnh các quan hệ xã hội trên lĩnh vực này; Chỉ thị số 90/CT, ngày 19/3/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về thực hiện những biện pháp cấp bách để chặn đứng nạn phá rừng; Nghị định số 14/CP, ngày 05/12/1992 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng; Nghị định số 77/CP, ngày 29/11/1996 của Chính phủ (thay thế Nghị định số 14/CP) về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản
BLHS năm 1985 với ý nghĩa là nguồn duy nhất trong đó quy định tội phạm và hình phạt được xây dựng trên cơ sở kinh tế xã hội của nền kinh tế bao cấp và thực tiễn của tình hình tội phạm của thời kì đó Do vậy, có thể nói, ngay khi ra đời BLHS 1985 đã ở trong tình trạng không phù hợp với chủ trương đổi mới Trong khoảng 5 năm tồn tại, BLHS 1985 đã được sửa đổi, bổ sung 04 lần (1989, 1991, 1992, 1997), đã phần nào đáp ứng đòi hỏi của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm trong điều kiện đổi mới
Điều 181 BLHS năm 1985 tuy đã góp phần đáng kể trong công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng, song vẫn còn bộc lộ những hạn chế nhất định Điều 181 không những điều chỉnh các hành vi vi phạm quy định về khai thác và bảo vệ rừng
mà còn điều chỉnh các hành vi vi phạm quy định về quản lý rừng Điều này chưa hợp lý, bởi vì trong cùng một điều luật điều chỉnh quá nhiều hành vi vi
Trang 28phạm như vậy sẽ dẫn đến khó khăn trong việc định tội danh và áp dụng hình phạt, dễ dẫn đến việc bỏ lọt tội phạm Trong cấu thành tội phạm của tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng có những dấu hiệu pháp lý đặc trưng, song việc xác định dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm phải dựa vào các văn bản pháp lý chuyên ngành, trong khi đó tại thời điểm năm 1985, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng chưa được ban hành Để truy cứu trách nhiệm
hình sự một người theo Điều 181 BLHS 1985 mà trước đó họ “đã bị xử lý
hành chính mà còn vi phạm” là chưa thỏa đáng, bởi quy định như vậy không
thể xem xét đến mức độ hậu quả về kinh tế, chính trị, xã hội, thiệt hại trực tiếp hoặc gián tiếp do hành vi của người đó gây ra Vì vậy, sẽ là bất cập, máy móc, thiếu tác dụng răn đe, giáo dục khi truy cứu trách nhiệm hình sự một người
mà trước đó họ vi phạm và bị phạt hành chính 20.000đ, lần này họ lại vi phạm với hành vi phát, đốt có 0,2 ha rừng sản xuất (quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 6, Nghị định số 77/CP)
Mặt khác, hình phạt đối với người phạm tội theo Điều 181 là chưa tương xứng với hành vi phạm tội Khoản 1, Điều 181 quy định khung hình phạt đối với hành vi khai thác trái phép cây rừng, săn bắn trái phép chim, thú rừng hoặc có hành vi khác vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý và bảo vệ rừng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc bị xử lý hành chính mà còn vi phạm thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba
tháng đến ba năm; chưa quy định hình phạt bổ sung (đến năm 1989 mới sửa
đổi, bổ sung, quy định hình phạt bổ sung cho tội phạm này với mức tối đa là 50.000.000đ) Điều này chưa đủ răn đe cần thiết đối với người phạm tội và
đáp ứng mục đích giáo dục, phòng ngừa chung… Khoản 2, Điều 181 quy định trường hợp phạm tội “đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm” Đây là khung tăng nặng của điều luật Tuy nhiên, do chưa có văn bản hướng dẫn nên rất khó áp dụng trong thực tiễn Hơn nữa, tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng” hoặc “đặc biệt nghiêm trọng” chưa được hướng dẫn áp
Trang 29dụng một cách chính xác thì điều luật này mới chỉ nhằm bảo vệ các giá trị kinh tế của rừng Cách nhìn nhận và bảo vệ các giá trị của rừng như vậy là chưa thỏa đáng, bởi vì ngoài giá trị kinh tế, rừng còn có tác dụng phòng hộ, bảo vệ môi trường, đây cũng là giá trị quan trọng cần được bảo vệ Mặt khác, giai đoạn này Nhà nước đã có chính sách giao rừng và đất trồng cho các cá nhân, tổ chức kinh tế tư nhân và hộ gia đình để họ sử dụng ổn định lâu dài Các chủ rừng đã đầu tư vốn và sức lao động của họ để trồng, quản lý, khai thác và bảo vệ rừng (chủ yếu là rừng sản xuất) Như vậy, nếu hành vi xâm hại đến rừng sản xuất của các chủ rừng thì có thêm khách thể bị xâm hại ở đây là quyền sở hữu công dân Trong trường hợp này, việc xử lý hành vi xâm hại rừng chỉ theo Điều 181 BLHS là chưa thỏa đáng, chưa bảo vệ được các khách thể quan trọng khác
Đến năm 1999, nền kinh tế nước ta có nhiều chuyển biến tích cực, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa được đẩy mạnh, nhu cầu sử dụng đất rừng, tài nguyên rừng vào sản xuất, phát triển kinh tế và phục vụ cho sinh hoạt của người dân tăng cao Điều này làm cho tình hình tội phạm xâm phạm tài nguyên rừng ngày càng diễn biến phức tạp; tài nguyên rừng, đặc biệt là rừng tự nhiên bị tàn phá nghiêm trọng… Đồng thời, Đảng và Nhà nước ta đã
có những nhận định, đánh giá đúng vị trí, vai trò, tầm quan trọng của rừng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh Các biện pháp bảo vệ tài nguyên rừng được quan tâm, trong đó có biện pháp xử lý hành vi xâm phạm tài nguyên rừng bằng pháp luật hình sự BLHS 1999 đã quy định 6 điều luật liên quan đến lĩnh vực tài nguyên rừng, trong đó có Điều
175 “Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng”, được tách ra từ Điều 181, BLHS 1985 Việc quy định như trên vừa thể hiện sự quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong việc bảo vệ tài nguyên rừng vừa thể hiện tính khoa học trong quy trình lập pháp; đồng thời tạo ra hành lang pháp lý thuận lợi cho các cơ quan tố tụng xử lý các hành vi xâm hại đến rừng nói chung, xử lý hành
Trang 30vi vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng nói riêng, góp phần bảo đảm an ninh, trật tự, phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội và đối
ngoại của đất nước trong tình hình mới
Kết luận Chương 1
Qua nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận; tìm hiểu về quá trình lập pháp quy định về vi phạm và tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng đến trước khi BLHS năm 1999 ra đời có thể rút ra kết luận với một số nội dung sau đây:
- Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và các quy định của pháp luật hiện hành, người nghiên cứu đã có những nhận thức và đưa ra quan điểm cá nhân
về khái niệm tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng Đồng thời, nghiên cứu, làm rõ các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng, cũng như phân biệt tội phạm này với một số tội phạm khác liên quan đến rừng có các dấu hiệu pháp lý gần giống nhau Qua đó để phân biệt, tránh nhầm lẫn trong việc nghiên cứu quá trình định tội danh và quyết định hình phạt trong áp dụng thực tiễn
- Qua việc nghiên cứu quá trình lập pháp của tội vi phạm các quy định
về khai thác và bảo vệ rừng từ năm 1945 đến nay, giúp chúng ta thấy rõ vị trí, tầm quan trọng của pháp luật hình sự trong công tác đấu tranh phòng, chống các tội phạm xâm hại đến tài nguyên rừng nói chung, tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng nói riêng, góp phần quan trọng trong việc bảo vệ tài nguyên rừng, phục vụ cho yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh một cách toàn diện, bền vững
Có thể thấy rằng, trước khi BLHS 1985 ra đời, qua các thời kỳ khác nhau, do điều kiện về kinh tế xã hội quy định, công tác bảo vệ nguồn tài nguyên rừng được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau Tuy chưa có BLHS, song Nhà nước đã quan tâm đến việc đấu tranh phòng,
Trang 31chống tội phạm nói chung; phòng, chống tội phạm vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng nói riêng bằng nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, đồng thời áp dụng tiền lệ pháp để xử lý hành vi vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng Dù chưa chặt chẽ, nhất quán, song đã thể hiện rõ quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo vệ và phát triển rừng; đồng thời, đặt nền móng cho việc xây dựng pháp luật hình sự để xử lý đối với tội phạm vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng sau này
BLHS 1999 ra đời trên cơ sở kế thừa và phát triển BLHS 1985 đã tạo một bước phát triển mới trong kỹ thuật lập pháp của Nhà nước ta Đối với tội
vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng được quy định tại Điều 175 BLHS 1999, bên cạnh thể hiện rõ tính khoa học trong quy trình lập pháp, nó còn cụ thể hóa quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong việc xử
lý hình sự đối với tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng; vừa đảm bảo tính nghiêm khắc, đồng thời phù hợp với yêu cầu công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm tội phạm trong tình hình mới
Trang 32CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VÀ BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015 (SỬA ĐỔI, BỔ SUNG 2017) VỀ TỘI VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH VỀ KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ RỪNG VÀ
THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỈNH QUẢNG NGÃI
2.1 Quy định của BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015 về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng
2.1.1 Quy định của BLHS năm 1999 về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng
a) Khai thác trái phép cây rừng hoặc có hành vi khác vi phạm các quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 189 của Bộ luật này;
b) Vận chuyển, buôn bán gỗ trái phép, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 153 và Điều 154 của Bộ luật này;
2 Phạm tội trong trường hợp rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm
3 Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến hai mươi triệu đồng
- Như vậy, Điều 175 BLHS năm 1999 quy định về các dấu hiệu định
tội như sau:
Theo quy định tại Điều 175 BLHS 1999 được chia tách từ Điều 181, BLHS 1985 (Tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng), cấu tạo lại
Trang 33thành hai tội danh khác nhau, nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm So với Điều 181 BLHS 1985, thì Điều 175 BLHS 1999 tiếp tục quy định tình tiết làm ranh giới phân biệt giữa hành vi vi phạm và hành vi phạm tội; quy định cụ thể các hành vi vi phạm cụ thể về khai thác và bảo vệ rừng Như vậy, có thể thấy rằng, tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng quy định tại Điều 175 BLHS năm 1999 vẫn được quy định tại chương về các tội xâm phạm trật quản lý kinh tế, song nó không còn điều chỉnh nhiều mối quan hệ xã hội như Điều 181 BLHS năm 1985 nữa, mà nó chỉ điều chỉnh các hành vi cụ thể: Khai thác trái phép cây rừng; vận chuyển, buôn bán gỗ trái phép; vi phạm các quy định khác của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng
+ Đối với những trường hợp phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thuộc
một trong các hành vi sau (quy định tại tiểu mục 1.4, mục 1, phần IV, Thông tư
liên tịch số 19/TTLT):
Gây thiệt hại về lâm sản (trừ động vật rừng) từ trên mức tối đa bị xử phạt
vi phạm hành chính đến hai lần mức tối đa bị xử phạt vi phạm hành chính quy định cho mỗi hành vi vi phạm
Khai thác, vận chuyển, buôn bán trái phép từ hai loại gỗ trở lên (gỗ thông thường nhóm I – III với gỗ thông thường nhóm VI – VIII; gỗ thông thường với gỗ quý, hiếm nhóm IIA) mà khối lượng của mỗi loại gỗ chưa vượt quá mức tối đa bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng tổng khối lượng gỗ trong
vụ vi phạm đó vượt quá mức tối đa bị xử phạt vi phạm hành chính đến hai lần mức tối đa bị xử phạt vi phạm hành chính quy định đối với gỗ thông thường nhóm VI – VIII quy định cho hành vi tương ứng đó
Khai thác gỗ quý, hiếm nhóm IA ở rừng sản xuất đến 2m3; ở rừng phòng
hộ đến 1,5m3; ở rừng đặc dụng đến 1m3
Khai thác thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nhóm IA ở rừng sản xuất có giá trị đến ba triệu đồng; ở rừng phòng hộ đến hai triệu đồng; ở rừng đặc dụng đến một triệu đồng
Trang 34Vận chuyển, buôn bán gỗ quý, hiếm nhóm IA đến 2m3
+ Phạm tội trong trường hợp rất nghiêm trọng khi thuộc một trong các
trường hợp sau (quy định tại tiểu mục 1.5, mục 1, phần IV, Thông tư liên tịch số
19/TTLT):
Gây thiệt hại về lâm sản (trừ động vật rừng) từ trên hai lần mức tối đa bị
xử phạt vi phạm hành chính, đến bốn lần mức tối đa bị xử phạt vi phạm hành chính quy định cho mỗi hành vi vi phạm
Khai thác, vận chuyển, buôn bán trái phép từ hai loại gỗ trở lên (gỗ thông thường nhóm I – III với gỗ thông thường nhóm IV – VIII; gỗ thông thường với gỗ quý, hiếm nhóm IIA) mà tổng khối lượng trong vụ vi phạm từ trên hai lần đến bốn lần mức tối đa bị xử phạt vi phạm hành chính đối với gỗ thông thường nhóm IV – VIII quy định cho hành vi tương ứng đó
Khai thác gỗ quý, hiếm nhóm IA, thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nhóm IA trên mức tối đa của hậu quả nghiêm trọng được hướng dẫn tại các điểm
c và d, tiểu mục 1.4, mục 1, phần IV, Thông tư liên tịch số 19/TTLT đến hai lần mức tối đa của hậu quả nghiêm trọng tương ứng đó
Vận chuyển, buôn bán gỗ quý, hiếm nhóm IA trên mức tối đa của hậu quả nghiêm trọng được hướng dẫn tại điểm đ, tiểu mục 1.4, mục 1, phần IV, Thông tư liên tịch số 19/TTLT
Gây hậu quả nghiêm trọng được hướng dẫn tại tiểu mục 1.4, mục 1, phần IV, Thông tư số 19/TTLT và còn thực hiện một trong các hành vi: chống người thi hành công vụ; gây thương tích cho người thi hành công vụ; đập phá nơi làm việc, trang thiết bị, phương tiện của cơ quan có trách nhiệm quản lý và bảo vệ rừng mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự về tội độc lập
+ Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khi thuộc một trong
các trường hợp sau (quy định tại tiểu mục 1.6, mục 1, phần IV, Thông tư liên tịch
số 19/TTLT):
Gây thiệt hại về lâm sản (trừ động vật rừng) trên bốn lần mức tối đa bị
Trang 35xử phạt vi phạm hành chính quy định cho mỗi hành vi vi phạm
Khai thác, vận chuyển, buôn bán trái phép từ hai loại gỗ trở lên (gỗ thông thường nhóm I – III với gỗ thông thường nhóm IV – VIII; gỗ thông thường với gỗ quý, hiếm nhóm IIA) mà tổng khối lượng gỗ trong vụ vi phạm từ trên bốn lần mức tối đa bị xử phạt vi phạm hành chính đối với gỗ thông thường thuộc nhóm IV – VIII quy định cho hành vi tương ứng đó
Khai thác gỗ quý, hiếm nhóm IA, thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nhóm IA trên mức tối đa của hậu quả rất nghiêm trọng
Vận chuyển, buôn bán gỗ quý, hiếm nhóm IA trên mức tối đa của hậu quả rất nghiêm trọng
Phạm tội trong trường hợp rất nghiêm trọng hướng dẫn tại các điểm a, b,
c, d và còn thực hiện một trong các hành vi nêu tại điểm đ, tiểu mục 1.5
- Về hình phạt: Điều luật quy định hình phạt chính ở hai khung chính và một khung bổ sung, như sau:
+ Khung 1: Quy định phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm và được áp dụng đối với trường hợp có đủ yếu tố cơ bản nêu ở mặt khách quan của tội phạm và không có tình tiết tăng nặng
+ Khung 2: Quy định hình phạt tù từ hai năm đến mười năm và được áp dụng đối với trường hợp gây hậu quả rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng
+ Hình phạt bổ sung được quy định tại khung 3 là người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến hai mươi triệu đồng
Có thể nhận thấy rằng, Điều 175 BLHS năm 1999 đã thể hiện rõ chủ trương của Nhà nước trong việc cụ thể hóa phạm vi điều chỉnh đối với từng hành
vi vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng; tạo cơ sở pháp lý cho việc
áp dụng pháp luật thống nhất, tránh tình trạng khái quát, áp dụng pháp luật tùy tiện trong xử lý tội phạm Tuy nhiên, đây vẫn là điều luật chưa hoàn chỉnh, chủ
yếu trên các phương diện sau: Việc quy định “đã bị xử phạt hành chính về hành
Trang 36vi này” là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm là chưa phù hợp, do quy
định tại khoản 1, Điều 7, Luật xử lý vi phạm hành chính quy định thời hạn được
coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính “Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm
hành chính, nếu trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày chấp hành xong quyết định
xử phạt cảnh cáo hoặc 01 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính khác hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính mà không tái phạm thì được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính” Trong thực tế hiện nay, có rất nhiều hành vi vi phạm các quy định về
khai thác và bảo vệ rừng đủ căn cứ để xử phạt vi phạm hành chính nhưng các cơ quan chức năng vì nhiều lý do có cả khách quan và chủ quan mà không xử phạt; mặt khác, theo Điều 52, Luật xử phạt vi phạm hành chính và Nghị định số 99/NĐ-CP (nay là Nghị định số 157/NĐ-CP) của Chính phủ, có nhiều cơ quan chức năng và chính quyền các cấp có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng, một người có thể bị xử phạt hành chính nhiều lần về hành vi này bởi nhiều cơ quan, ở nhiều địa phương khác nhau Tuy nhiên, hiện nay, cơ chế phối hợp trao đổi, tổng hợp thông tin giữa các cơ quan chức năng và các địa phương còn nhiều bất cập, do
vậy, việc quy định xem xét dấu hiệu “đã bị xử phạt hành chính về hành vi này”
là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo
vệ rừng rất dễ bỏ lọt tội phạm, đồng thời cũng dễ bị các đối tượng lợi dụng để phạm tội
Mặt khác, đối tượng tác động của khách thể bị xâm hại còn chung chung,
là rừng và các sản phẩm của rừng, như gỗ và các lâm, thổ sản khác; thuộc phạm
vi điều chỉnh của nhiều điều luật khác nhau, nên dễ dẫn đến việc áp dụng pháp luật sai Hành vi phạm tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng, ngoài hậu quả gây ra còn có thể có các yếu tố khác có thể xem là tình tiết tăng nặng theo luật định, như phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, tái phạm, tái phạm nguy hiểm nhưng chưa làm rõ dấu hiệu định tội và tình tiết tăng nặng
Trang 37trách nhiệm hình sự trong điều luật; quy định hành vi gây hậu quả rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng trong cùng một nhóm Vấn đề định lượng để cụ thể hóa hình phạt trong cùng một hành vi chưa được quy định cụ thể, gây khó khăn cho việc vận dụng trong thực tiễn, dễ dẫn đến việc vận dụng tùy tiện trong
xử lý hành vi phạm tội Một vấn đề nữa là trong thực tiễn hành vi phạm tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng gây ra hậu quả rất lớn, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Mặc dù Đảng, Nhà nước, Chính phủ đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách để bảo vệ và phát triển rừng, song hiện nay rừng vẫn đang tiếp tục bị xâm hại ngày càng nghiêm trọng, các loại động, thực vật rừng quý, hiếm đang bị khai thác ngày càng cạn kiệt, gây mất cân bằng sinh thái, gia tăng các hiện tượng thiên tai bất thường, tuy nhiên, chế tài xử lý đối với tội phạm này còn nhẹ, chưa phù hợp với yêu cầu công tác đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm trong lĩnh vực bảo vệ rừng trước nguy cơ rừng bị tàn phá nặng nề
2.1.2 Quy định của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội
vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản (Điều 232)
1 Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 243 của Bộ luật này thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt
tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Khai thác trái phép rừng sản xuất là rừng trồng từ 20 mét khối (m 3 ) đến dưới 40 mét khối (m 3 ) gỗ loài thực vật thông thường hoặc từ 15 mét khối (m 3 ) đến dưới 30 mét khối (m 3 ) gỗ thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA;
b) Khai thác trái phép rừng sản xuất là rừng tự nhiên từ 10 mét khối (m 3 ) đến dưới 20 mét khối (m 3 ) gỗ loài thực vật thông thường hoặc từ 07 mét khối (m 3 ) đến dưới 15 mét khối (m 3 ) gỗ thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA;
Trang 38c) Khai thác trái phép rừng phòng hộ là rừng trồng từ 15 mét khối (m 3 ) đến dưới 30 mét khối (m 3 ) gỗ loài thực vật thông thường hoặc từ 10 mét khối (m 3 ) đến dưới 20 mét khối (m 3 ) gỗ thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm Nhóm IIA;
d) Khai thác trái phép rừng phòng hộ là rừng tự nhiên từ 07 mét khối (m 3 ) đến dưới 15 mét khối (m 3 ) gỗ thuộc loài thực vật thông thường hoặc từ 05 mét khối (m 3 ) đến dưới 10 mét khối (m 3 ) gỗ thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA;
đ) Khai thác trái phép rừng đặc dụng là rừng trồng từ 10 mét khối (m 3 ) đến dưới 20 mét khối (m 3 ) gỗ loài thực vật thông thường hoặc từ 05 mét khối (m 3 ) đến dưới 10 mét khối (m 3 ) gỗ thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA;
e) Khai thác trái phép rừng đặc dụng là rừng tự nhiên từ 03 mét khối (m 3 ) đến dưới 08 mét khối (m 3 ) gỗ thuộc loài thực vật thông thường hoặc từ 01 mét khối (m 3 ) đến dưới 03 mét khối (m 3 ) gỗ thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA;
g) Khai thác trái phép thực vật rừng ngoài gỗ thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng; thực vật rừng thông thường ngoài gỗ trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
h) Khai thác trái phép gỗ thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm Nhóm
IA từ 01 mét khối (m 3 ) đến dưới 02 mét khối (m 3 ) tại rừng sản xuất, từ 0,5 mét khối (m 3 ) đến dưới 1,5 mét khối (m 3 ) tại rừng phòng hộ hoặc từ 0,5 mét khối (m 3 ) đến dưới 01 mét khối (m 3 ) tại rừng đặc dụng;
i) Khai thác trái phép thực vật rừng ngoài gỗ thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA trị giá từ 30.000.000 đồng đến dưới 60.000.000 đồng;
Trang 39k) Tàng trữ, vận chuyển, chế biến hoặc mua bán trái phép từ 1,5 mét khối (m 3 ) đến dưới 03 mét khối (m 3 ) gỗ thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA hoặc gỗ có nguồn gốc từ nước ngoài thuộc Phụ lục I Công ước về buôn bán quốc tế các loại động vật, thực vật hoang dã, nguy cấp; từ 10 mét khối (m 3 ) đến dưới 20 mét khối (m 3 ) gỗ thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA hoặc gỗ có nguồn gốc từ nước ngoài thuộc Phụ lục II Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã, nguy cấp; từ 20 mét khối (m 3 ) đến dưới 40 mét khối (m 3 ) gỗ loài thực vật rừng thông thường;
l) Tàng trữ, vận chuyển, chế biến hoặc mua bán trái phép loài thực vật rừng ngoài gỗ trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 600.000.000 đồng;
m) Khai thác, tàng trữ, vận chuyển, chế biến hoặc mua bán trái phép gỗ hoặc thực vật rừng ngoài gỗ có khối lượng hoặc trị giá dưới mức quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm l khoản này nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.500.000.000 đồng hoặc bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Khai thác trái phép rừng sản xuất là rừng trồng từ 40 mét khối (m 3 ) đến dưới 80 mét khối (m 3 ) gỗ loài thực vật thông thường hoặc từ 30 mét khối (m 3 ) đến dưới 50 mét khối (m 3 ) gỗ thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA;
b) Khai thác trái phép rừng sản xuất là rừng tự nhiên từ 20 mét khối (m 3 ) đến dưới 40 mét khối (m 3 ) gỗ thuộc loài thực vật thông thường hoặc từ 15 mét khối (m 3 ) đến dưới 30 mét khối (m 3 ) gỗ thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA;
c) Khai thác trái phép rừng phòng hộ là rừng trồng từ 30 mét khối (m 3 )
Trang 40đến dưới 60 mét khối (m 3 ) gỗ loài thực vật thông thường hoặc từ 20 mét khối (m 3 ) đến dưới 40 mét khối (m 3 ) gỗ thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA;
d) Khai thác trái phép rừng phòng hộ là rừng tự nhiên từ 15 mét khối (m 3 ) đến dưới 30 mét khối (m 3 ) gỗ loài thực vật thông thường hoặc từ 10 mét khối (m 3 ) đến dưới 20 mét khối (m 3 ) gỗ thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA;
đ) Khai thác trái phép rừng đặc dụng là rừng trồng từ 20 mét khối (m 3 ) đến dưới 40 mét khối (m 3 ) gỗ loài thực vật thông thường hoặc từ 10 mét khối (m 3 ) đến dưới 20 mét khối (m 3 ) gỗ thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA;
e) Khai thác trái phép rừng đặc dụng là rừng tự nhiên từ 08 mét khối (m 3 ) đến dưới 15 mét khối (m 3 ) gỗ loài thực vật thông thường hoặc từ 03 mét khối (m 3 ) đến dưới 10 mét khối (m 3 ) gỗ thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA;
g) Khai thác trái phép thực vật rừng ngoài gỗ thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; thực vật rừng thông thường ngoài gỗ trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 400.000.000 đồng;
h) Khai thác trái phép gỗ thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được
ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA từ 02 mét khối (m 3 ) đến dưới 04 mét khối (m 3 ) tại rừng sản xuất, từ 1,5 mét khối (m 3 ) đến dưới 03 mét khối (m 3 ) tại rừng phòng hộ hoặc từ 01 mét khối (m 3 ) đến dưới 02 mét khối (m 3 ) tại rừng đặc dụng;
i) Khai thác trái phép thực vật rừng ngoài gỗ thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA trị giá từ 60.000.000 đồng đến dưới 120.000.000 đồng;