Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay công tác cải cách tư pháp đang được đẩy mạnh thực hiện theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013 và Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về c
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BÙI MINH ĐỨC
ĐIỀU TRA VỤ ÁN LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NGÃI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - NĂM 2018
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BÙI MINH ĐỨC
ĐIỀU TRA VỤ ÁN LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NGÃI
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 838.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS VÕ KHÁNH VINH
HÀ NỘI - NĂM 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu ghi trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Học viên
Bùi Minh Đức
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA VỤ
ÁN LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 6
1.1 Những vấn đề lý luận chung về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 6 1.2 Nhận thức về hoạt động điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 11
Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA VỤ ÁN LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT ĐIỀU TRA CÔNG AN TỈNH QUẢNG NGÃI 23
2.1 Tình hình, đặc điểm có liên quan đến hoạt động điều tra vụ án lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản của lực lượng Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi23
2.2 Tổ chức lực lượng Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi trong hoạt động điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 34
2.3 Hoạt động điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của của lực
lượng Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi 36 2.4 Nhận xét và đánh giá về hoạt động điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản của lực lượng Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi trong thời
gian qua 51
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA
VỤ ÁN LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT ĐIỀU TRA CÔNG AN TỈNH QUẢNG NGÃI 60
3.1 Dự báo một số tình hình có liên quan đến hoạt động điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xảy ra trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian tới 60 3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của lực lượng Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi 69 3.3 Một số kiến nghị 75
KẾT LUẬN 79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS : Bộ luật hình sự BLDS : Bộ luật dân sự CQĐT : Cơ quan điều tra ĐTV : Điều tra viên KSV : Kiểm sát viên LDTNCĐTS : Lạm dụng tín nhiệm chiếm tài sản NXB : Nhà xuất bản
TAND : Tòa án nhân dân THTT : Tiến hành tố tụng TTHS : Tố tụng hình sự TNHS : Trách nhiệm hình sự VKS : Viện kiểm sát
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Số bị can phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 27 Bảng 2.2 Những thủ đoạn che dấu hành vi phạm tội 30 Bảng 2.3 Một số đặc điểm của đối tượng lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản
32
Bảng 2.4 Tình hình tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm 36
Bảng 2.6 Số vụ lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 41
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tỉnh Quảng Ngãi nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Miền trung của đất nước,
có các dự án lớn đang triển khai thực hiện như: Nhà máy lọc dầu Dung Quất, Khu Công nghiệp Dịch vụ, Đô thị VSIP, đường cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi, các dự
án phát triển thương mại, du dịch…; tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Quảng Ngãi trong những năm gần đây đã có những bước phát triển mạnh mẽ và đạt được những thành tựu đáng kể, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt tỷ lệ cao, tình hình an ninh trật tự được giữ vững, công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm luôn
ở thế chủ động, đạt được những hiệu quả nhất định
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, tỉnh Quảng Ngãi vẫn tiếp tục phát sinh những hiện tượng tiêu cực do mặt trái của cơ chế thị trường mang lại, nổi cộm lên là tình hình tội phạm diễn ra ngày càng phức tạp, nhiều loại tội phạm gia tăng, tính chất, mức độ và thủ đoạn ngày càng tinh vi, nguy hiểm hơn Trong đó, tội phạm
“Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” là một trong những tội phạm xảy ra khá phổ biến trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường hiện nay, đã gây nhiều biến động trong xã hội, làm thiệt hại đến tài sản Nhà Nước, tổ chức cũng như tài sản của công dân, cản trở sự phát triển của đất nước (có vụ số tiền chiếm đoạt trên 50 tỷ đồng), hình thành nhiều băng nhóm đòi nợ thuê theo kiểu “xã hội đen”, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội của tỉnh, tác động tiêu cực đến tư tưởng, cuộc sống sinh hoạt bình thường của người dân
Tuy nhiên công tác điều tra thu thập tài liệu, chứng cứ để chứng minh hành vi phạm tội của loại tội phạm này trong thực tiễn còn khó khăn, bất cập thậm chí dẫn đến thiếu sót Vấn đề thiếu chính xác trong xác định tội danh, vấn đề “hình sự hóa” các quan hệ dân sự, quan hệ kinh tế và “phi hình sự hóa” trong đấu tranh chống tội phạm những năm gần đây tuy đã giảm đi rõ rệt nhưng vẫn chưa thực sự chấm dứt (có vụ dẫn đến oan, sai) Những sai sót trên còn tồn tại một phần là do chưa nhận thức đúng đắn quy định của luật pháp về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” để phân biệt giữa tội phạm này với một số tội phạm xâm phạm sở hữu khác, dẫn đến việc Cơ quan điều tra còn lúng túng trong việc xác định tội danh làm ảnh hưởng đến chất lượng điều tra, chưa đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm Vướng mắc này đặt ra cho Cơ quan điều tra có nhiệm vụ là phải làm rõ về mặt lý luận, cũng như bản chất và ranh giới của tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm
Trang 8đoạt tài sản” với các tội phạm khác, xác định các biện pháp thu thập tài liệu, chứng
cứ gỡ tội và chứng cứ buộc tội, nhằm làm cơ sở cho nhận thức thống nhất về vấn đề này trong thực tiễn, tránh ảnh hưởng, xâm phạm đến quyền con người
Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay công tác cải cách tư pháp đang được đẩy mạnh thực hiện theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013 và Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách Tư pháp đến năm 2020; bên cạnh việc sắp xếp cơ cấu lại hệ thống Cơ quan Tư pháp, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ
và quyền hạn…thì việc tăng cường công tác điều tra đấu tranh phòng, chống tội phạm đảm bảo mọi hành vi phạm tội nói chung và tội phạm “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” nói riêng phải được kịp thời phát hiện, điều tra tỉ mỉ, thận trọng, khách quan và toàn diện để xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật hình sự, đồng thời không
bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, là một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu, được tiến hành xuyên suốt trong cả hệ thống Cơ quan Tư pháp Từ đó thúc đẩy tiến trình cải cách tư pháp đi đúng hướng Quá trình phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm và người phạm tội chính là vận dụng mô hình pháp lý được quy định trong Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự vào thực tiễn công tác điều tra, xử lý tội phạm
Vì vậy, nghiên cứu lý luận và đánh giá đúng đắn về thực trạng hoạt động điều tra vụ án “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” của lực lượng Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi, trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra, khắc phục những vướng mắc, bất cập là vấn đề rất cấp thiết hiện
nay Với ý nghĩa đó, tác giả chọn nghiên cứu đề tài: “Điều tra vụ án lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi” làm đề tài luận văn thạc sỹ luật học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Những vấn đề liên quan đến tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu, tiếp cận theo nhiều góc độ khác nhau Trong những năm gần đây, cũng có một số công trình có thể kể đến như:
* Sách chuyên khảo
- Quyền con người ( giáo trình sau đại học), tái bản làn thứ nhất có bổ sung, sửa chữa, của GS.TS Võ Khánh Vinh (Chủ biên), Nxb khoa học xã hội, năm 2015
- Giáo trình luật Hình sự Việt Nam (phần chung), của GS.TS Võ Khánh
Vin7h (Chủ biên), Nxb khoa học xã hội, năm 2014
- Lý luận chung về định tội danh (giáo trình sau đại học), của GS.TS Võ
Trang 9Khánh Vinh (Chủ biên), Nxb khoa học xã hội, năm 2013
- Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 1999 (phần các tội phạm) của tập
thể tác giải TS Phùng Thế Vắc, TS Trần Văn Luyện, LS.ThS Phạm Thanh Bình,
TS Nguyễn Đức Mai, ThS Nguyễn Sỹ Đại, ThS Nguyễn Mai Bộ, Nxb Công an nhân dân, năm 2001
- Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (phần các tội phạm cụ thể), Trường Đại
học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, năm 2015
- Sách chuyên khảo các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt tài sản,
Cao Thị Oanh (chủ biên), Nxb Tư pháp, năm 2015
* Các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ Luật học
- Luận án tiến sĩ Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu của
Nguyễn Ngọc Chí, Viện Nhà nước và pháp luật, năm 2000
- Luận văn thạc sĩ Tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo pháp
Hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hà Nội, của Đặng Xuân Sơn, Học viện
khoa học xã hội, năm 2017
Ngoài ra, còn có một số nghiên cứu, trao đổi dưới dạng bài viết tạp chí như:
- Phân biệt tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong trường hợp liên quan đến vi phạm hợp đồng, Trần Công Phàn, Tạp chí Kiểm sát 20/2006;
- Bàn về yếu tố “chiếm đoạt tài sản” trong các tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Nguyễn Thị Phương Thảo, Tạp chí Kiểm sát số 09/2012;
- Tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản - một số vướng mắc trong thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện, Trần Duy Bình, Tạp chí Tòa án nhân dân, kỳ II tháng
11, 2012
Qua nghiên cứu nội dung các công trình trên cho thấy, việc nghiên cứu tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản không phải là mới; một số công trình nghiên cứu với phạm vi rộng và chung cho cả nhóm tội, trong đó tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản chỉ là một phần nhỏ trong nội dung nghiên cứu của các tác giả trong giáo trình, sách chuyên khảo và bình luận Bộ luật hình sự Ngoài ra, tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được nghiên cứu trao đổi dưới dạng bài viết tạp chí, các bài viết đã đi vào phân tích một vài khía cạnh cụ thể của tội phạm này Tuy nhiên, các công trình trên mới chỉ nghiên cứu tội phạm này ở những khía cạnh khác
Trang 10nhau, chưa có công trình nào nghiên cứu tổng quát về điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản một cách đầy đủ có hệ thống Chính vì vậy, việc nghiên
cứu đề tài “Điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo pháp luật tố
tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi” là đề tài có tính mới và rất cần
thiết, có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn trong thời kì hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá đúng thực trạng hoạt động điều tra các vụ án
“Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” của lực lượng Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả, khắc phục những vướng mắc, bất cập trong hoạt động điều tra vụ án “Lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản” trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài cần tập trung giải quyết những nhiệm
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động điều tra các vụ án “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” của
lực lượng Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu đề tài tập trung vào thực trạng và giải pháp trong hoạt động điều tra các vụ án án “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi Từ năm 2013 đến năm 2017
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Cơ sở phương pháp luận của luận văn là phép duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; Các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng,
Trang 11pháp luật của Nhà nước và những quy định của ngành Công an về công tác phòng ngừa, phát hiện, điều tra và xử lý tội phạm
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu;
- Phương pháp thống kê hình sự;
- Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp;
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm thực tiễn;
- Phương pháp trao đổi, tọa đàm
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần hoàn thiện lý luận khoa học về phương pháp điều tra vụ án “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” của khoa học Điều tra hình sự
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được nghiên cứu, sử dụng trong thực tiễn chỉ đạo và tiến hành hoạt động điều tra các vụ án “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra các vụ án “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” của lực lượng Cảnh sát điều tra nói chung, lực lượng Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi nói riêng
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn được cấu trúc thành 3 chương:
Chương 1 Những vấn đề lý luận về hoạt động điều tra vụ án lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản
Chương 2 Thực trạng hoạt động điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của lực lượng cảnh sát điều tra công an tỉnh Quảng Ngãi
Chương 3 Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của lực lượng cảnh sát điều tra công an tỉnh Quảng Ngãi
Trang 12CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA VỤ ÁN LẠM
DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
1.1 Những vấn đề lý luận chung về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1.1.1 Khái niệm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Ngày nay việc nhận diện đúng ranh giới giữa các quan hệ này với hành vi phạm tội để áp dụng áp dụng pháp luật hình sự một cách đúng đắn, khách quan, đầy
đủ và chính xác là hết sức cần thiết nhằm loại bỏ tình trạng “hình sự hóa” các giao dịch dân sự, kinh doanh, thương mại hay ngược lại “dân sự hóa” các hành vi phạm tội Bởi vậy, quá trình nghiên cứu tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là cơ
sở phân biệt tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt với một số tội phạm khác
Theo từ điển Tiếng Việt lạm dụng có nghĩa là “sử dụng quá mức hoặc quá giới hạn đã được quy định”; tín nhiệm có nghĩa là “tin cậy trong một nhiệm vụ cụ thể nào đó” Theo nghĩa Hán - Việt, tài sản có nghĩa là dùng để “chỉ chung tiền bạc, của cải” hay “tiền của, của cải nói chung” hoặc là “của cải vật chất dùng để sản xuất hoặc tiêu dùng”
Chiếm đoạt theo nghĩa Hán - Việt, “chiếm” là “lấy làm của mình” hay chiếm đoạt là “dùng sức mạnh, thế lực mà lấy làm của mình”, chiếm đoạt còn được hiểu là
“chiếm của người khác bằng cách dựa vào quyền hành, sức mạnh vũ lực”
Dưới góc độ pháp luật hình sự chiếm đoạt tài sản là hành vi cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản đang thuộc sự quản lý của chủ tài sản thành tài sản của mình hoặc “hành vi cố ý chuyển biến một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành tài sản của mình hoặc, của một nhóm người hoặc cho người khác mà mình quan tâm”
Theo Từ điển Luật học, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là “hành vi lạm
dụng việc được giao tài sản trên cơ sở hợp đồng để chiếm đoạt toàn bộ hay một phần tài sản đó” [33, tr.454]
Như vậy, có thể hiểu hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản bao gồm hành vi vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài
sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình
không trả hoặc đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả
Trang 13năng trả lại tài sản Tội phạm này cần được xác định với hai đặc điểm chính:
Thứ nhất, người phạm tội thông qua một giao dịch hợp pháp, ngay thẳng, như vay, mượn, thuê tài sản hoặc các hình thức giao dịch bằng hợp đồng khác nhận được tài sản từ chủ sở hữu hoặc người quản lý, sử dụng tài sản hợp pháp
Thứ hai, sau khi nhận được tài sản qua các giao dịch nêu trên, người phạm tội mới nảy sinh ý thức phạm tội, thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản bằng cách dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện trả hoặc có khả năng trả nhưng cố tình không trả để chiếm đoạt tài sản đó; hoặc chiếm đoạt ở đây là hành vi không thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết, bao gồm các hành vi: vay, mượn, nhận tài sản bằng các hình thức hợp đồng rồi chiếm đoạt tài sản đó hoặc
sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không trả được nợ
Khái niệm tài sản được Từ điển Luật học định nghĩa là: Các vật có giá trị bằng tiền và là đối tượng của quyền tài sản và các lợi ích vật chất khác Tài sản bao
gồm: “Vật có thực, vật đang tồn tại và sẽ có như hoa, lợi, lợi tức, vật sẽ được chế
tạo theo mẫu đã được thoả thuận giữa các bên, tiền và các giấy tờ trị giá được bằng tiền và quyền tài sản” [33, tr.685].
Đối với vật là đối tượng của tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản phải
là vật có thực, vật đang tồn tại, có giá trị và nằm trong sự chiếm hữu của con người Tuy nhiên, những vật là tài sản mà Nhà Nước cấm tư nhân mua bán, trao đổi như thuốc phiện, ngoại tệ, rừng cây, hầm mỏ, vũ khí, thuốc nổ, chầt phóng xạ, chất cháy, chất nổ…sẽ không phải là đối tượng của tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Những vật là tài sản không còn giá trị kinh tế như thuốc đã bị tiêu hủy, hàng hóa không còn giá trị sử dụng cũng không phải là đối tượng tác động của tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản [28] Do có những đặc điểm, tính chất quan trọng nhất định nên những tài sản đó đã trở thành đối tượng của một số tội phạm riêng
Từ các khái niệm chung, quy định về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được ghi nhận trong BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tác giả xin
đưa ra khái niệm về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau: Tội Lạm
dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội của người phạm tội lợi dụng lòng tin của người khác, sử dụng hành vi vay, mượn, thuê tài sản hoặc nhận tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng trở lên bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn với mục đích chiếm đoạt tài sản hoặc
Trang 14đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả hoặc sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình
sự thực hiện một cách cố ý, trái pháp luật hình sự, xâm phạm quyền sở hữu được pháp luật hình sự bảo vệ
1.1.2 Dấu hiệu pháp lý của tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Căn cứ quy định cụ thể về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, những yếu tố đặc trưng của cấu thành tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được thể hiện như sau:
1.1.2.1 Khách thể của tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại bằng cách gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho các quan hệ xã
hội đó [29, tr 86]
Khách thể chung của tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là quan hệ sở hữu, trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa Xác định khách thể chung của tội phạm sẽ đưa ra cơ sở pháp lý chung khẳng định hành vi nguy hiểm cho xã hội của tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi phạm tội bị pháp luật hình sự cấm Khách thể trực tiếp của tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là quan hệ
sở hữu tài sản Đây là quan hệ được pháp luật Việt Nam ghi nhận và bảo hộ, BLHS
cụ thể hóa các quy định của pháp luật, coi quan hệ sở hữu tài sản là một trong các khách thể quan trọng cần bảo vệ và bảo đảm
Đối tượng tác động của tội phạm là một bộ phận của khách thể tội phạm bị người thực hiện hành vi phạm tội tác động đến gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ [29, tr.94] Đối tượng tác động của tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là tài sản của công dân, tổ chức, nhà nước Khi nghiên cứu đối tượng tác động của tội phạm này cần lưu tâm đến các loại tài sản cụ thể gồm những loại tài sản nào như đã phân tích ở phần khái niệm trên
Các tài sản bị chiếm đoạt là đối tượng tác động của tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được các nhà làm luật quy định về yếu tố định lượng tài sản và được quy định cụ thể tại Điều 175 (BLHS năm 2015 sử đổi, bổ sung năm 2017
1.1.2.2 Chủ thể của tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Luật hình sự Việt Nam coi chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm
Trang 15hình sự, đạt một độ tuổi nhất định và đã thực hiện hành vi phạm tội [29, tr.122]
Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì chỉ có người từ đủ 16 tuổi trở lên mới
có thể bị truy cứu TNHS
1.1.2.3 Mặt khách quan của tội phạm
Theo khoa học luật hình sự, mặt khách quan của tội phạm là tổng hợp những biểu hiện của tội phạm ra bên ngoài thế giới khách quan Mặt khách quan của tội phạm bao gồm các dấu hiệu có ý nghĩa pháp lý là: hành vi nguy hiểm cho xã hội; hậu quả nguy hiểm cho xã hội; mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả phạm tội; các dấu hiệu không bắt buộc (thủ đoạn, phương tiện, thời gian, địa điểm, hoàn cảnh phạm tội) [4, tr.365-366]
Hành vi khách quan của tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản để hình thành tội phạm bao gồm một chuỗi các hành vi Sau khi nhận được tài sản một cách hợp pháp, người phạm tội mới tiếp tục có hành vi chiếm đoạt tài sản được giao Đây
là hành vi mang tính quan trọng nhất dẫn đến cấu thành tội phạm Không có hành vi chiếm đoạt này thì không có tội phạm xảy ra Hành vi chiếm đoạt tài sản trong tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được biểu hiện qua các thủ đoạn như: Gian dối, bỏ trốn, có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả hoặc sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản cho chủ sở hữu
Ví dụ : Vì tin tưởng Phạm Đình Hiền là anh rể nên trong khoảng thời gian từ năm 2008 đến năm 2010 bà Bạch Thị Ái đã gửi 47 chỉ vàng 97% (trị giá 197.400.000 đồng) và 6.000.000 đồng nhờ ông Hiền cất giữ giùm Đến khi bà Ái cần tiền để chữa bệnh và nuôi con ăn học thì Phạm Đình Hiền không có tiền, vàng trả ngay vì đã tiêu xài hết Nên sáng ngày 20/01/2012, Phạm Đình Hiền tạo dựng hiện trường giả mất trộm tài sản nhằm chiếm đoạt số tài sản trên của bà Ái Hiền đã
sử dụng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản có tổng giá trị 203.400.000 đồng của bà Ái TAND huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi đã xét xử Phạm Đình Hiền về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điểm d Khoản 2 Điều 140 BLHS tại Bản án số 10/2013/HSST ngày 20/3/2013 [1]
Hậu quả của tội Lạm dụng tín nhiện chiếm đoạt tài sản:
Hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội phạm là thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho các quan hệ xã hội là khách thể được bảo vệ bởi luật hình sự [29, tr.110] Tội phạm Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản gây ra những hậu quả xấu đối với
Trang 16quan hệ sở hữu được pháp luật bảo vệ Nhà làm luật quy định yếu tố định lượng về tài sản chiếm đoạt trong chính cấu thành tội phạm
Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm được biểu hiện ở việc hậu quả của tội phạm là do hành vi chiếm đoạt gây ra Hành vi chiếm đoạt xảy
ra trước hậu quả về mặt thời gian và hậu quả là kết quả trực tiếp của hành vi chiếm đoạt Điều 175 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã đưa vấn đề định lượng để xác định thời điểm hoàn thành của tội phạm khi người phạm tội thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng số lượng tài sản bị chiếm đoạt phải thỏa mãn về mặt định lượng tài sản đã nêu trong luật hoặc các trường hợp khác được pháp luật hình sự ghi nhận mới đủ yếu tố cấu thành tội phạm
Các yếu tố về địa điểm, thời gian, v.v không phải là dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm này
1.1.2.4 Mặt chủ quan của tội phạm
Mặt chủ quan của tội phạm là mặt bên trong của tội phạm bao gồm: Lỗi, động
cơ, mục đích [29, tr.134] Trong mọi cấu thành tội phạm, dấu hiệu lỗi luôn được phản ánh thể hiện mặt chủ quan của tội phạm; dấu hiệu động cơ, mục đích phạm tội tuỳ từng cấu thành tội phạm cụ thể được thể hiện với ý nghĩa pháp lý hình sự nhất định Đối với tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, hình thức lỗi thuộc mặt chủ quan của người phạm tội là lỗi cố ý và cụ thể hơn nữa là lỗi cố ý trực tiếp Khi xác định lỗi đối với tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cần lưu ý: Ban đầu, khi giao kết hợp đồng hợp pháp và nhận được tài sản, người phạm tội vẫn có ý chí,
ý định thực hiện hợp đồng đó Chỉ đến giai đoạn sau khi đã giao kết hợp đồng và nhận được tài sản đó, người phạm tội mới nảy sinh ý định phạm tội và thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản bằng các thủ đoạn đã được cấu thành tội phạm ghi nhận
Do đó, dấu hiệu lỗi của tội phạm này được xem xét tại thời điểm thực hiện hành vi chiếm đoạt chứ không phải tại thời điểm nhận tài sản Vấn đề cần lưu ý thứ hai là: Thời điểm nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản là căn cứ rất quan trọng để phân biệt tội Lạm dụng chiếm đoạt tài sản với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản người phạm tội có ý thức chiếm đoạt từ trước khi có tài sản trong tay nên người phạm tội đã bằng thủ đoạn gian dối tạo ra các thông tin sai sự thật làm người bị hại lầm tưởng là thật và đã giao hoặc nhận nhầm tài sản cho người phạm tội, từ đó thực hiện hành vi chiếm đoạt Như vậy cả hai tội phạm đều có hình
Trang 17thức lỗi cố ý trực tiếp nhưng thời điểm xuất hiện lỗi của tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản muộn hơn tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Động cơ phạm tội được hiểu là động lực bên trong thúc đẩy quyết tâm người phạm tội thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm [4, tr.381] Động cơ phạm tội đối với tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm Tuy nhiên, khi phân tích các dấu hiệu của tội phạm này có thể thấy động cơ phạm tội xuất phát từ việc tư lợi, vụ lợi, do ham muốn những lợi ích nhất định Việc xác định động cơ phạm tội có ý nghĩa trong việc đánh giá mức độ, tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi nhằm phân hoá TNHS được rõ hơn
Mục đích phạm tội là kết quả mà người phạm tội mong muốn đạt được trong tương lai bằng việc thực hiện hành vi phạm tội [4, tr.382] Đối với tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, mục đích của chủ thể phạm tội là mong muốn có được những tài sản bằng các thủ đoạn do lợi dụng lòng tin của chủ sở hữu Mục đích của tội phạm không phải dấu hiệu bắt buộc được quy định trong cấu thành tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản vì bản thân hành vi chiếm đoạt tài sản nằm trong mặt khách quan của tội phạm đã bao hàm mục đích của tội phạm nhưng nó cũng có ý nghĩa trong việc xem xét vấn đề TNHS, đảm bảo việc cá thể hoá và phân hoá TNHS một cách chính xác
Trong cấu thành tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, mặt chủ quan của tội phạm thể hiện rõ nhất ở quy định về lỗi cố ý trực tiếp được thể hiện trong cấu thành tội phạm Các dấu hiệu về động cơ, mục đích phạm tội không phải dấu hiệu bắt buộc của tội phạm Tuy nhiên, tất cả các dấu hiệu vẫn có mối liên hệ, tương tác lẫn nhau phản ảnh tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm Nghiên cứu các dấu hiệu này giúp cho việc xác định tội phạm Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được chính xác hơn, đảm bảo tính phân hoá TNHS được cụ thể hơn
1.2 Nhận thức về hoạt động điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1.2.1 Khái niệm về điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Hoạt động điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cũng có những đặc điểm trên đây của hoạt động điều tra tội phạm nói chung Tuy nhiên, hoạt động điều tra tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có đặc thù riêng nhằm
Trang 18mang lại hiệu quả cao cho hoạt động điều tra Từ cơ sở lý luận trên, căn cứ vào quy định của Bộ luật TTHS, Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004 (Luật tổ chức điều tra hình sự năm 2015) và thực tiễn hoạt động điều tra, thì hoạt động điều tra vụ
án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được hiểu như sau: “Điều tra vụ án lạm
dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là quá trình phát hiện, thu thập chứng cứ do Cơ
quan điều tra tiến hành theo trình tự tố tụng hình sự để làm rõ hành vi phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản đã được phát hiện nhằm chứng minh tội phạm trước pháp luật, phục vụ công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, giữ gìn trật tự an toàn xã hội”
1.2.2 Cơ sở pháp lý của hoạt động điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Điều 163 Bộ luật TTHS năm 2015 quy định thẩm quyền điều tra
Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của các Cơ quan Cảnh sát điều tra như sau:
Điều 19 Nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an Điều 20 Nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh Điều 21 Nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện
Như vậy, theo những quy định nêu trên thì Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện có thẩm quyền điều tra tội phạm Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt quy định tại các khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh có thẩm quyền điều tra tội phạm Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt quy định tại khoản 4, Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017
1.2.3 Những vấn đề cần chứng minh trong điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Việc xác định những vấn đề phải chứng minh trong vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Cơ quan điều tra cần căn cứ vào Điều 140 BLHS 1999, Điều 10
và Điều 63 Bộ luật TTHS 2003 (Điều 15 và Điều 85 Bộ luật TTHS 2015) Trong điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản phải chứng minh làm rõ những vấn đề sau:
- Có xảy ra hay không có xảy ra việc:
+ Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm
Trang 19đoạt tài sản đó;
+ Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản
Như vậy cần lưu ý, việc chuyển giao tài sản từ người bị hại sang người phạm tội xuất phát từ một hợp đồng hợp pháp như vay, mượn, thuê tài sản
Sau khi đã nhận được tài sản, người phạm tội mới dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản đang do mình quản lý; về thủ đoạn gian dối cũng được thể hiện bằng hành vi cụ thể nhằm đánh lừa chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản như đối với thủ đoạn gian dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Nếu người phạm tội không dùng thủ đoạn gian dối mà sau khi đã nhận tài sản một cách hợp pháp rồi bỏ trốn với ý thức không thanh toán, không trả lại tài sản cho chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản (ý thức chiếm đoạt tài sản) hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp thì cũng là hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Đối với Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì còn có thêm một dấu hiệu là người phạm tội sau khi đã nhận tài sản một cách hợp pháp, đã đến thời hạn trả lại tài sản và mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả
- Thời gian, địa điểm diễn ra và những tình tiết khác có ý nghĩ chứng minh
hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Thủ đoạn và diễn biễn của hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Chứng minh về người bị hại: Nhân thân, lai lịch của người bị hại; mối quan
Trang 20hệ giữa người bị hại với người phạm tội như thế nào; nguyên nhân, lý do người bị hại giao tài sản; tài sản đó là gì, nguồn gốc, đặc điểm và giá trị của tài sản; thiệt hại thực tế do hành vi phạm tội gây ra; biết việc bị chiếm đoạt từ thời điểm nào; có yêu cầu, kiến nghị gì
Trong quá trình điều tra vụ án việc xác định chính xác những vấn đề cần chứng minh có ý nghĩa rất quan trọng, là cơ sở để khởi tố vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, giúp Điều tra viên xác lập những hoạt động điều tra và lập kế hoạch điều tra; xác định chính xác phương hướng hoạt động điều tra, thu thập tài liệu, chứng cứ
một cách đầy đủ, toàn diện, khách quan nhanh chóng điều tra làm rõ vụ án
1.2.4 Tổ chức và tiến hành các hoạt động điều tra
1.2.4.1 Giai đoạn điều tra ban đầu
- Tiếp nhận và xử lý tố giác, tin báo về tội phạm Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản phải thực hiện theo đúng quy định tại Điều 103 Bộ luật TTHS năm
2003 (Điều 146 Bộ luật TTHS năm 2015) và Thông tư BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC Ngày 02/8/2013 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng,
06/2013/TTLT-BCA-BQP-Bộ Tài chính, 06/2013/TTLT-BCA-BQP-Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn, Viện kiểm sát nhân tối cao
về hướng dẫn hướng dẫn thi hành quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố Chú ý thực hiện những vấn đề sau:
+ Nguồn tố giác, tin báo về tội phạm Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản: Đối với vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thông thường CQĐT tiếp nhận
tố giác, tin báo về tội phạm từ rất nhiều nguồn, nhưng chủ yếu là nguồn tố giác của công dân Họ có thể là người bị hại, người làm chứng hoặc người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
Ngoài ra CQĐT còn tiếp nhận tố giác, tin báo về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản từ các nguồn khác như: Các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội trình báo với CQĐT việc bị cá nhân hoặc cơ quan đơn vị khác lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của họ; thông tin, tài liệu về vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có thể có trên các phương tiện thông tin đại chúng; thông qua hoạt động nghiệp vụ của lực lượng Cảnh sát nhân dân; người phạm tội ra tự thú khai nhận về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của mình
+ Tiếp nhận và kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm: Tùy theo đặc điểm các nguồn tố giác, tin báo cần nhanh chóng tiếp nhận và làm các thủ tục cần
Trang 21thiết nhằm xác định những nội dung về sự việc xảy ra, những công việc cần tiến hành đó là: Lập biên bản tiếp nhận; lấy lời khai người báo tin; đề nghị người báo tin viết bản tường trình và cung cấp tài liệu, chứng cứ có liên quan đến vụ việc lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Những nội dung cần phải làm rõ khi tiếp nhận tố giác, tin báo đó là: Nhân thân lai lịch của người báo tin; mối quan hệ giữa người báo tin với người bị hại; người phạm tội và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; thủ đoạn gây án, đặc điểm nhận dạng của người phạm tội; thời gian, địa điểm xảy ra vụ án; còn ai biết được về vụ án; người bị hại của vụ án, hậu quả; đặc điểm tài sản bị chiếm đoạt, công cụ, phương tiện gây án; lý do biết tin
Ngay sau khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm cần tiến hành ngay những biện pháp kiểm tra, xác minh làm rõ tố giác, tin báo như: Cử cán bộ trực tiếp kiểm tra ở những nơi có vụ việc xảy ra; phối hợp với Công an cơ sở vận động quần chúng cung cấp những tài liệu mới, phát hiện thêm người làm chứng mới; yêu cầu người
bị hại cung cấp giấy tờ, tài liệu và những đồ vật có liên quan đến vụ việc lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản mà họ có; rà soát, nắm tình hình các đối tượng có khả năng liên quan đến vụ việc; nhanh chóng tiến hành hoạt động trưng cầu giám định các giấy tờ, tài liệu, đồ vật, tài sản có liên quan theo quy định của pháp luật để có căn cứ đánh giá nội dung, bản chất của vụ việc
Sau khi kiểm tra, xác minh cần báo cáo Thủ trưởng CQĐT và xin ý kiến chỉ đạo, Điều tra viên được phân công điều tra lập kế hoạch điều tra tiếp theo
- Lấy lời khai người bị hại, người làm chứng
+ Lấy lời khai người bị hại
Do đặc thù về phương thức hoạt động của tội phạm Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nên trong quá trình chuẩn bị gây án, tiến hành gây án, đối tượng thường tiếp xúc trực tiếp với người bị hại Vì vậy người bị hại có cơ hội để biết về thủ phạm và chứng kiến diễn biến của sự việc phạm tội xảy ra
Việc triệu tập, lấy lời khai người bị hại phải căn cứ vào quy định tại Điều 51, Điều 137 Bộ luật TTHS năm 2003 (Điều 62 và Điều 188 Bộ luật TTHS năm 2015) Lấy lời khai của người bị hại phải được tiến hành ngay sau khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm nhằm thu thập rộng rãi tin tức, tài liệu về tội phạm Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản để truy bắt thủ phạm theo dấu vết nóng, tổ chức các hoạt động điều tra kịp thời bắt giữ các đối tượng gây án, thu giữ tài sản bị chiếm đoạt và
Trang 22ngăn chặn tội phạm không để tiếp diễn
Lấy lời khai người bị hại trong vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cần làm rõ những nội dung cơ bản như: Đặc điểm nhân thân của người bị hại; thời gian, địa điểm, điều kiện, hoàn cảnh xảy ra vụ việc, ai biết về sự việc phạm tội; thông tin về người phạm tội: Giới tính, họ, tên tuổi, đặc điểm nhận dạng, phương tiện đi lại, giấy tờ tài liệu, tài sản mang theo, nơi lẩn trốn có thể ; mối quan hệ giữa người bị hại với người phạm tội: Có quen biết nhau không? Quen từ khi nào; diễn biến của hành vi phạm tội; hậu quả, thiệt hại do tội phạm gây ra: Nguồn gốc, đặc điểm, số lượng và giá trị tài sản bị chiếm đoạt, và những thiệt hại khác; những đề nghị và yêu cầu của người bị hại
+ Lấy lời khai người làm chứng
Việc triệu tập, dẫn giải, lấy lời khai người làm chứng phải theo quy định tại các Điều 55, Điều 133, Điều 134, Điều 135 Bộ luật TTHS năm 2003 (Điều 66, Điều
127, Điều 185, Điều 186, Điều 187 Bộ luật TTHS năm 2015) Người làm chứng trong vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thường nằm trong những nhóm người sau: Người thân, bạn bè hoặc những người cùng lao động, học tập, buôn bán với người bị hại, đối tượng; những người có mặt ở khu vực xảy ra vụ án; những người đã tham gia đuổi bắt thủ phạm hoặc chứng kiến diễn biến của sự việc lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xảy ra
Sau khi xác định được người làm chứng cần phải nhanh chóng tiến hành lấy lời khai của họ để phục vụ cho hoạt động điều tra vụ án Lấy lời khai người làm chứng cần phải tập trung làm rõ được những nội dung sau: Thời gian, địa điểm xảy
ra vụ án; đặc điểm nhận dạng của đối tượng gây án; hành vi và phương thức, thủ đoạn lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản mà đối tượng đã thực hiện; những hiểu biết của người làm chứng về người bị hại và tài sản bị chiếm đoạt; những hiểu biết khác liên quan đến vụ án như: Nguyên nhân xảy ra vụ án; những người làm chứng khác; lý do họ biết được những tin tức, tài liệu đó
Do thủ đoạn gây án tinh vi của tội phạm Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản mà người làm chứng mặc dù có chứng kiến cũng chỉ nhận biết được hình thức,
ít khi hiểu được hết bản chất của sự việc lạm dụng đã diễn ra Vì vậy việc lấy lời khai người làm chứng phải hết sức thận trọng và khách quan, cần phải thẩm tra xác minh mọi lời khai trước khi sử dụng
- Khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can
Trang 23+ Khởi tố vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
+ Khởi tố bị can
- Lập kế hoạch điều tra
Kế hoạch điều tra vụ án giúp Điều tra viên xác định mục đích, yêu cầu, biện pháp, phương tiện, lực lượng tiến hành hoạt động điều tra nhằm nhanh chóng khám phá vụ án với chi phí ít nhất và đảm bảo thời hạn điều tra theo quy định của pháp luật Nội dung của bản kế hoạch điều tra gồm:
+ Mục đích yêu cầu của cuộc điều tra;
+ Thời gian, địa điểm thực hiện;
+ Những người tiến hành điều tra;
+ Những giả thuyết điều tra được xây dựng;
+ Nội dung công việc phải làm;
+ Những biện pháp, phương pháp, chiến thuật điều tra sẽ thực hiện; những người tham gia, tham dự;
+ Cơ sở vật chất, phương tiện, tài chính phục vụ cho hoạt động điều tra;
+ Dự kiến tình huống đột xuất có thể xảy ra và biện pháp để khắc phục
Bản kế hoạch điều tra phải tiếp tục được bổ sung và hoàn thiện trong quá trình điều tra vụ án nhằm đảm bảo tính hiệu quả, sát hợp cho hoạt động điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong giai đoạn tiếp theo
Đối với các vụ án phức tạp, có nhiều đối tượng tham gia, xảy ra ở nhiều địa bàn thì cần lập kế hoạch chi tiết cho các biện pháp điều tra như: đối chất, nhận dạng, hỏi cung bị can, khám xét
1.2.4.2 Giai đoạn điều tra tiếp theo
Căn cứ về bắt người được quy định tại các Điều 79, Điều 80, Điều 81, Điều
Trang 2482, Điều 303 Bộ luật TTHS năm 2003 (Điều 110, Điều 111, Điều 112, Điều 113, Điều 419 Bộ luật TTHS năm 2015) Xét thấy cần thiết phải bắt thì bắt ngay để phục
vụ cho hoạt động điều tra Việc bắt đối tượng phải được tiến hành một cách kiên quyết, nhanh chóng, kịp thời, đảm bảo an toàn, đúng pháp luật Đối với những vụ án
có đồng phạm cần phải đảm bảo các yếu tố về chiến thuật của biện pháp bắt, đảm bảo bắt được đầy đủ các đối tượng, không để cho các đối tượng bỏ trốn, tẩu tán, tiêu hủy tài sản, vật chứng của vụ án, thông cung với nhau, gây khó khăn cho hoạt động điều tra sau này Tuy nhiên tùy vào tình huống cụ thể mà áp dụng chiến thuật bắt cho phù hợp, linh hoạt và hiệu quả
+ Khám xét: Là một biện pháp điều tra được tiến hành nhằm thu thập công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết của tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm hoặc những vật, tài liệu có liên quan đến vụ án hình sự đang giải quyết Công tác khám xét được quy định tại Điều 140 và Điều 141 của Bộ luật TTHS năm 2003 (Điều 192, Điều 193 Bộ luật TTHS năm 2015)
CQĐT có thể khám xét người, đồ vật, tài sản, nơi ở, nơi làm việc, thư tín, điện tín, bưu phẩm của đối tượng phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Trong điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, biện pháp khám xét
thường đi liền biện pháp bắt người phạm tội
Hoạt động khám xét trong các vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nhằm phát hiện các giấy tờ giả, các công cụ, phương tiện gây án, các đồ vật, tài sản mà người phạm tội đã chiếm đoạt được hoặc đã sử dụng để gây án Bên cạnh đó, có thể sử dụng biện pháp khám xét để phát hiện và bắt giữ đối tượng gây án đang lẩn trốn
- Hỏi cung bị can
Hỏi cung bị can là một biện pháp điều tra do những người theo Bộ luật TTHS quy định tiến hành, có ý nghĩa lớn trong việc điều tra, nhằm mục đích xác định sự thật khách quan của vụ án thông qua việc thu thập theo trình tự tố tụng hình sự lời khai của bị can về vụ án, hành vi và mức độ phạm tội của bị can, đồng phạm và những tài liệu, chứng cứ khác mà bị can biết có ý nghĩa đối với hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và phòng ngừa tội phạm
Việc hỏi cung bị can phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản do Điều tra viên tiến hành ngay sau khi có Quyết định khởi tố bị can hoặc ngay sau khi bắt được bị can Việc hỏi cung bị can phải tuyệt đối tuân thủ theo quy định của pháp
Trang 25luật, cụ thể tại các Điều 7, Điều 49, Điều 131 Bộ luật TTHS năm 2003 (Điều 11, Điều 60, Điều 183 Bộ luật TTHS năm 2015)
Nội dung hỏi cung bị can phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản bao gồm: + Lý lịch, đặc điểm nhân thân bị can;
+ Làm rõ diễn biến của vụ án: Thời gian, địa điểm; thủ đoạn gây án và che giấu tội phạm; diễn biến hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; công cụ phương tiện gây án; đặc điểm, số lượng và giá trị của tài sản chiếm đoạt; thời điểm nãy sinh ý định chiếm đoạt tài sản; đồng phạm trong vụ án, vai trò, vị trí của các đối tượng trong vụ án;
+ Những vụ án khác mà bị can đã tham gia hoặc biết
Trước khi hỏi cung bị can trong vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản,
Điều tra viên cần phải nghiên cứu kỹ hồ sơ, tài liệu, chứng cứ đã có về vụ án và đặc điểm nhân thân, tâm lý của bị can Đồng thời cần vận dụng linh hoạt các thủ thuật, chiến thuật trong quá trình hỏi cung bị can để hoạt động hỏi cung bị can đạt hiệu quả
- Trưng cầu giám định:
Trưng cầu giám định chuyên môn là biện pháp điều tra quan trọng trong các
vụ án hình sự nói chung và vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nói riêng Việc trưng cầu giám định cần căn cứ vào Điều 155, Điều 156, Điều 157 Bộ luật TTHS năm 2003 (Điều 205, Điều 209, Điều 213 Bộ luật TTHS năm 2015) Trưng cầu giám định đối với những vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được áp dụng khi có những tình tiết cần thiết phải sử dụng kiến thức trong lĩnh vực chuyên ngành, chuyên môn mới xác định được như: Giám định về tài liệu, con dấu, giấy tờ, chữ ký hoặc trưng cầu giám định về tiền, ngoại tệ vàng, kim khí quý, đá quý
Để việc trưng cầu giám định có hiệu quả, Điều tra viên cần lưu ý những vấn
đề sau: Nhanh chóng phát hiện, thu thập những tài liệu, giấy tờ là công cụ, phương
tiện phạm tội; những đồ vật liên quan đến vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản để làm mẫu vật gửi đi giám định; xác định đúng nội dung cần giám định, yêu cầu giám định phải chính xác, phù hợp; cung cấp đầy đủ những thông tin cần thiết
về vụ án cũng như mẫu vật đem so sánh; thực hiện tốt mối quan hệ phối hợp giữa CQĐT với Cơ quan giám định, Điều tra viên với giám định viên
- Đối chất, nhận dạng
+ Đối chất: Là một biện pháp điều tra do những người theo luật định tiến
Trang 26hành, bằng cách hỏi cùng một lúc hai người đã được hỏi cung hay lấy lời khai trước đây, nhưng trong lời khai của họ có những mâu thuẫn, nhằm mục đích giải quyết những mâu thuẫn đó
Biện pháp đối chất được quy định tại Điều 138 của Bộ luật TTHS năm 2003 (Điều 189 Bộ luật TTHS năm 2015) Đối với vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có nhiều đối tượng tham gia, các đối tượng thường có sự câu kết chặt chẽ với nhau, khi bị bắt thường quanh co, che giấu tội phạm, hoặc khai báo nhỏ giọt thời gian gây án thường diễn ra trong một thời gian dài, phạm tội nhiều lần những thông tin từ người bị hại, người làm chứng và bị can thường có sự mâu thuẫn với nhau Nên để giải quyết vấn đề này thì biện pháp đối chất cũng thường được các Điều tra viên tiến hành bên cạnh các biện pháp điều tra khác
Những vấn đề cần chú ý trong quá trình đối chất vụ án lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản: Nắm vững các quy định của Bộ luật TTHS về biện pháp đối chất; nắm vững yêu cầu về thủ thuật, chiến thuật đối chất trong những tình huống cụ thể; về lai lịch, đặc điểm nhân thân của những người được đưa ra đối chất; hiểu rõ bản chất vụ án và những mâu thuẫn tồn tại trong lời khai của những người sẽ đưa ra đối chất
Trong quá trình đối chất, Điều tra viên phải làm chủ được mọi tình huống diễn
ra, để có biện pháp xử lý kịp thời, phù hợp đảm bảo giải quyết được yêu cầu đã đặt
ra trong đối chất
Nếu xét thấy việc tiến hành đối chất có thể xảy ra những tình huống phức tạp thì Điều tra viên cần xây dựng kế hoạch, có sự phê duyệt của Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra
+ Nhận dạng: Là một biện pháp điều tra do những người theo luật định tiến hành nhằm mục đích làm rõ sự đồng nhất, tương đồng hay sự khác biệt giữa đối tượng nhận dạng và đối tượng có liên quan đến vụ án mà người nhận dạng đã tri giác trước đây bằng cách cho người nhận dạng quan sát, so sánh đặc điểm, vết tích của đối tượng nhận dạng với hình ảnh của đối tượng nhận dạng mà người nhận dạng
đã tri giác trước đây còn ghi trong trí nhớ của người nhận dạng
Khi tiến hành nhận dạng cần căn cứ vào quy định tại Điều 139 Bộ luật TTHS năm 2003 (Điều 190 Bộ luật TTHS năm 2015) Trong vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản khi tiến hành biện pháp nhận dạng mục đích là nhằm xác định đối tượng gây án, vật chứng và người bị hại của vụ án Có thể tổ chức cho người bị
Trang 27hại, người làm chứng nhận dạng những đối tượng nghi vấn để xác định đối tượng gây án; tổ chức cho người bị hại nhận dạng đồ vật, tài liệu, công cụ, phương tiện gây án, tài sản bị chiếm đoạt; tổ chức cho đối tượng gây án nhận dạng để xác định người bị hại, nhận dạng tài liệu đồ vật để xác định công cụ, phương tiện gây án Trong quá trình nhận dạng Điều tra viên cần phải tuân thủ những quy định của pháp luật về biện pháp nhận dạng như về trình tự thủ tục tiến hành nhận dạng, quy định về người chứng kiến trong hoạt động nhận dạng, quy định về đối tượng tương
tự trong hoạt động nhận dạng Ngoài ra, Điều tra viên cũng cần phải tuân thủ những yêu cầu nghiệp vụ về chiến thuật nhận dạng, nhằm đảm bảo được chính xác, khách quan và an toàn
Khi Điều tra viên đánh giá kết quả nhận dạng phải rất thận trọng và khách quan Cần so sánh, đối chiếu kết quả nhận dạng với kết quả của các hoạt động điều
tra đã được tiến hành trong quá trình điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt
tài sản
Nếu xét thấy việc tiến hành nhận dạng có thể xảy ra những tình huống phức tạp thì Điều tra viên cần xây dựng kế hoạch, có sự phê duyệt của Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra
Hiện nay tại Điều 190 Bộ luật TTHS năm 2015 quy định về biện pháp nhận biết giọng nói, đây cũng là một biện pháp có thể giúp phân biệt giữa người này và người khác
Đối với vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản khi hết thời hạn điều tra nhưng không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm hoặc trong quá trình điều tra mà bị can đã chết thì đình chỉ điều tra Trong vụ án có nhiều bị can mà căn
cứ để đình chỉ điều tra không liên quan đến tất cả các bị can, thì có thể đình chỉ điều tra đối với từng bị can Mặt khác, nếu trong quá trình điều tra mà bị can bị bệnh hiểm nghèo, bị tâm thần hoặc khi hết thời hạn điều tra mà không biết rõ bị can đang
ở đâu thì chỉ tạm đình chỉ điều tra Khi có lý do để huỷ bỏ quyết định tạm đình chỉ
Trang 28điều tra phải phục hồi để tiếp tục điều tra
Đối với trường hợp những vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản sau khi tiến hành hoạt động điều tra CQĐT có đầy đủ chứng cứ xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội thì kết thúc bằng hình thức ban hành bản Kết luận điều tra đề nghị truy tố, theo quy định tại Điều 162, Điều 163 của Bộ luật TTHS năm 2003 (Điều 232, Điều 233 Bộ luật TTHS năm 2015), Điều tra viên phải thực hiện những công việc:
- Hệ thống lại toàn bộ tài liệu, chứng cứ, kết quả đã điều tra được báo cáo Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng CQĐT xin ý kiến kết thúc điều tra Nếu được sự đồng
ý thì ban hành bản kết thúc điều tra;
- Viết bản kết luận điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản đề
nghị Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng CQĐT xem xét cho ý kiến để ban hành;
- Sắp xếp hoàn chỉnh hồ sơ truy tố: Kiểm tra nội dung tài liệu, chứng cứ, thủ tục của từng văn bản, đánh bút lục, làm bản thống kê tài liệu trong hồ sơ và vật chứng trong vụ án; thống kê việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn;
- Tống đạt bản kết luận điều tra vụ án hình sự cho bị can, bàn giao hồ sơ vụ án, vật chứng sang Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp để truy tố bị can theo pháp luật
Kết luận Chương 1
Trong chương 1, luận văn đã hệ thống, phân tích Những vấn đề lý luận chung
về tội phạm Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, bao gồm: Khái niệm tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; dấu hiệu pháp lý của tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Đồng thời luận văn cũng đã đi sâu phân tích Nhận thức về hoạt động điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, bao gồm: Khái niệm về điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; Cơ sở pháp lý của hoạt động điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; Những vấn đề cần chứng minh trong điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; Tổ chức và tiến hành các hoạt động điều tra Tuy chưa thật sự toàn diện, nhưng kết quả của luận văn thể hiện trong Chương 1 đã tạo cơ sở lý luận cho việc đánh giá những nội dung, quy định cụ thể của pháp luật hiện hành về áp dụng các biện pháp điều tra đối với vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, cũng như thực trạng áp dụng chúng và qua
đó tạo ra cơ sở lý luận cho việc đưa ra các giải pháp, kiến nghị ở Chương 3
Trang 29Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA VỤ ÁN LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT ĐIỀU TRA
CÔNG AN TỈNH QUẢNG NGÃI
2.1 Tình hình, đặc điểm có liên quan đến hoạt động điều tra vụ án lạm
dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của lực lượng Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi
2.1.1 Đặc điểm địa lý, dân cư, kinh tế, xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Tỉnh Quảng Ngãi nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, có Nhà máy lọc dầu và nhiều nhà máy trong Khu Kinh tế Dung Quất, các khu công nghiệp và Khu công nghiệp - đô thị - dịch vụ VSIP - Quảng Ngãi thực sự trở thành hạt nhân phát triển, góp phần tích cực trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, tổng sản phẩm trong tỉnh tăng bình quân 7,2%/năm, cao hơn mức bình quân chung của cả nước, Thu nhập bình quân đầu người ước tính đạt 2.485 USD Bình quân thu ngân sách ước đạt 128.190 tỷ đồng, tăng bình quân 16,9%/năm; từ một tỉnh nghèo, Quảng Ngãi vươn lên thành một trong 10 địa phương thu ngân sách cao,
có điều tiết cho ngân sách Trung ương
Các chương trình xây dựng nông thôn mới, phát triển kinh tế biển, giảm nghèo đạt nhiều kết quả khá; chất lượng giáo dục và đào tạo, chăm sóc sức khỏe nhân dân ngày càng tốt hơn, dịch bệnh được khống chế; 100% trạm y tế xã có bác sỹ Hoạt động văn hóa, văn nghệ được chú trọng phát triển; các di tích lịch sử - văn hóa, lễ hội truyền thống được bảo tồn, phát huy; nhiều sự kiện văn hóa, lễ kỷ niệm lớn của tỉnh được tổ chức trang trọng, thiết thực, tạo sự đồng thuận xã hội, thu hút đông đảo quần chúng tham gia An sinh xã hội được đảm bảo; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện, chất lượng sống của người dân được nâng lên Quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm, thế trận lòng dân ngày càng vững chắc
Tuy nhiên, do tốc độ đô thị hoá và phát triển kinh tế khá nhanh dẫn đến lối sống thực dụng, chạy theo lợi ích vật chất tầm thường ngày càng có dấu hiệu phổ biến Do đó, tình hình tội phạm cũng theo đó mà gia tăng nhanh chóng
Với những đặc điểm về tình hình địa bàn cùng với những nguyên nhân khách quan và chủ quan như đã đề cập ở trên đã làm cho tình hình tội phạm nói chung và
Trang 30tội phạm LDTNCĐTS nói riêng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi ngày càng diễn biến phức tạp hơn
2.1.2 Tình hình tội phạm hình sự, tội phạm xâm phạm sở hữu nói chung và tội phạm Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
+ Tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp: 02 vụ
- Năm 2015 thụ lý 424 vụ án (giảm 27 vụ so với năm 2014) Trong đó:
Trang 31Ma túy
Kinh
tế, chức
Tư Pháp
Tổng
số
Lạm dụng TNCĐTS
Nguồn: Công an tỉnh Quảng Ngãi
Trong những năm qua, tình hình tội phạm nói chung có chiều hướng giảm nhưng tội phạm trộm cắp tài sản nói riêng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi diễn biến phức tạp, có xu hướng tăng lên về số vụ và tính chất mức độ nghiêm trọng của hành
vi phạm tội Trong đó, đáng chú ý là tội phạm xâm phạm trật tự an toàn xã hội và tội phạm xâm phạm sở hữu xảy ra chiếm số lượng lớn gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản Thời gian qua mặc dù các cơ quan chức năng đã tập trung chỉ đạo các lực lượng đấu tranh triệt phá làm rõ nhiều vụ, khởi tố nhiều đối tượng, thu hồi nhiều tài sản Tuy nhiên, hiện nay tình hình tội phạm hình sự trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi vẫn chưa có chiều hướng giảm
2.1.2.2 Tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu
Theo báo cáo tổng kết công tác của Công an tỉnh Quảng Ngãi, từ năm 2013 đến năm 2017, tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu ở Cơ quan cảnh sát điều tra hai cấp như sau:
- Năm 2013, xảy ra 274 vụ, so với năm 2012 giảm 49 vụ, tỷ lệ giảm 15,17% Trong đó: Cướp tài sản 15 vụ, so với năm 2012 giảm 5 vụ, tỷ lệ 25%; Cướp giật tài sản 45 vụ, so với năm 2012 giảm 02 vụ, tỷ lệ 4,25%; Cưỡng đoạt tài sản 03 vụ, so với năm 2012 tăng 01 vụ, tỷ lệ 50%; Trộm cắp tài sản 177 vụ, so với năm 2012 giảm 50 vụ, tỷ lệ 22,02%; Lừa đảo chiếm đoạt tài sản 12 vụ, so với năm 2012 giảm
Trang 3201 vụ, tỷ lệ 7,69%; Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 07 vụ, so với năm 2012 tăng 01 vụ, tỷ lệ 16,66%; Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản 15 vụ, so với năm
2012 tăng 07 vụ, tỷ lệ 87,5% Khởi tố hình sự 278 bị can để điều tra
- Năm 2014, xảy ra 228 vụ, so với năm 2013 giảm 46 vụ, tỷ lệ giảm 16,78% Trong đó: Cướp tài sản 13 vụ, so với năm 2013 giảm 02 vụ, tỷ lệ 13,33%; Cướp giật tài sản 40 vụ, so với năm 2013 giảm 05 vụ, tỷ lệ 11,11%; Cưỡng đoạt tài sản 03
vụ, so với năm 2013 không tăng, không giảm; Trộm cắp tài sản 144 vụ, so với năm
2013 giảm 33 vụ, tỷ lệ 18,64%; Lừa đảo chiếm đoạt tài sản 09 vụ, so với năm 2013 giảm 03 vụ, tỷ lệ 25%; Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 09 vụ, so với năm
2013 tăng 02 vụ, tỷ lệ 28,57%; Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản 10 vụ, so với năm 2013 giảm 05 vụ, tỷ lệ 33,33% Đã khởi tố hình sự 232 bị can để điều tra
- Năm 2015, xảy ra 199 vụ, so với năm 2014 giảm 29 vụ, tỷ lệ 12,71% Trong đó: Cướp tài sản 11 vụ, so với năm 2014 giảm 02 vụ, tỷ lệ 15,38%; Cướp giật tài sản 45 vụ, so với năm 2014 tăng 05 vụ, tỷ lệ 12,5%; Cưỡng đoạt tài sản 04 vụ, so với năm 2014 tăng 01 vụ, tỷ lệ 33,33%; Trộm cắp tài sản 105 vụ, so với năm 2014 giảm 39 vụ, tỷ lệ 27,08%; Lừa đảo chiếm đoạt tài sản 11 vụ, so với năm 2014 tăng
02 vụ, tỷ lệ 22,22%; Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 12 vụ, so với năm 2014 tăng 03 vụ, tỷ lệ 33,33%; Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản 11 vụ, so với năm
2014 tăng 01 vụ, tỷ lệ 10% Đã khởi tố hình sự 202 bị can để điều tra
- Năm 2016, xảy ra 215 vụ, so với năm 2015 tăng 16 vụ, tỷ lệ 8,04% Trong đó: Cướp tài sản 13 vụ, so với năm 2015 tăng 02 vụ, tỷ lệ 18,18%; Cướp giật tài sản
46 vụ, so với năm 2015 tăng 01 vụ, tỷ lệ 2,22%; Cưỡng đoạt tài sản 05 vụ, so với năm 2015 tăng 01 vụ, tỷ lệ 25%; Trộm cắp tài sản 109 vụ, so với năm 2015 tăng 04
vụ, tỷ lệ 3,8%; Lừa đảo chiếm đoạt tài sản 10 vụ, so với năm 2015 giảm 01 vụ, tỷ lệ 9,09%; Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 12 vụ, so với năm 2015 tăng 02 vụ,
tỷ lệ 16,66%; Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản 18 vụ, so với năm 2015 tăng
07 vụ, tỷ lệ 63,63% Đã khởi tố hình sự 219 bị can để điều tra
- Năm 2017, xảy ra 197 vụ, so với năm 2016 giảm 18 vụ, tỷ lệ 8,37% Trong đó: Cướp tài sản 10 vụ, so với năm 2016 giảm 03 vụ, tỷ lệ 23,07%; Cướp giật tài sản 34 vụ, so với năm 2016 giảm 12 vụ, tỷ lệ 26,08%; Cưỡng đoạt tài sản 05 vụ, so với năm 2016 không tăng, không giảm; Trộm cắp tài sản 115 vụ, so với năm 2016 tăng 06 vụ, tỷ lệ 5,5%; Lừa đảo chiếm đoạt tài sản 08 vụ, so với năm 2016 giảm 02
vụ, tỷ lệ 20%; Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 11 vụ, so với năm 2016 giảm
Trang 3303 vụ, tỷ lệ 21,42%; Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản 19 vụ, so với năm
2016 tăng 01 vụ, tỷ lệ 5,56% Đã khởi tố hình sự 201 bị can để điều tra
Năm Tổng số vụ
Tổng
số bị can
Cướp tài sản
Cướp giật tài sản
Trộm cắp tài sản
Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Hủy hoại hoặc
cố ý làm
hư hỏng tài sản
Cưỡng đoạt tài sản
Nguồn: Công an tỉnh Quảng Ngãi
Từ thực trạng trên có thể thấy tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi hiện đang diễn biến rất phức tạp, xảy ra tại nhiều nơi, tác động, ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý, đời sống của người dân, gây thiệt hại cả về người và tài sản, gây mất an ninh trật tự tại các địa phương Qua đó, đang đặt ra yêu cầu hết sức cấp bách cho Cán bộ chiến sỹ của lực lượng Cảnh sát điều tra hình sự phải thường xuyên phối hợp với các lực lượng nghiệp vụ khác chú trọng công tác phòng ngừa, đấu tranh tội phạm ngay từ ban đầu Có như vậy mới nâng cao được hiệu quả hoạt động điều tra tội phạm trong thời gian tới
2.1.2.3 Tình hình tội phạm Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Bảng 2.1 Số bị can phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Năm Bị can phạm tội xâm phạm
sở hữu
Bị can phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Trang 34Qua những số liệu trên, chúng ta nhận thấy từ năm 2013 đến năm 2017 trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi xảy ra 53 vụ án LDTNCĐTS với 55 bị can, tội phạm này
có xu hướng gia tăng, với số lượng tăng không nhiều, cao nhất là thời điểm năm
2016 xảy ra 14 vụ, thấp nhất là thời điểm 2013 xảy ra 07 vụ Tuy nhiên, so với các loại tội phạm xảy ra trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi mà lực lượng Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi thụ lý thì tội phạm LDTNCĐTS chiếm tỷ lệ tương đối cao, với thủ đoạn ngày càng tinh vi, có tính chất chuyên nghiệp
Thời gian qua được sự phối hợp, hỗ trợ của các lực lượng trong và ngoài ngành trong công tác tuyên tuyền, giáo dục pháp luật nên ý thức cảnh giác của đa số người dân cũng tăng cao, có trách nhiệm trong việc quản lý tài sản của mình nên 100% vụ LDTNCĐTS đều được phát hiện, điều tra, xử lý
2.1.3 Đặc điểm hình sự của tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xảy
ra trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2013 đến năm 2017
- Thủ đoạn gây án của tội phạm và che dấu hành vi phạm tội
Thủ đoạn gây án của tội phạm LDTNCĐTS thường bị chi phối bởi đặc điểm nhân thân người phạm tội, đặc điểm nhân thân người bị hại, đặc điểm tài sản mà người phạm tội định chiếm đoạt và điều kiện, hoàn cảnh xảy ra sự việc phạm tội Đối với loại tội phạm này dường như không có giai đoạn chuẩn bị phạm tội, vì hầu hết các đối tượng phạm tội lợi dụng mối quan hệ quen biết có sẵn hoặc thông qua các mối quan hệ khác, từ đó lợi dụng lòng tin của họ để nhận được tài sản một cách hợp pháp (vay, mượn, thuê tài sản) từ người bị hại rồi người phạm tội mới nảy sinh
ý định chiếm đoạt tài sản bằng nhiều thủ đoạn khác nhau như: dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản hoặc đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản
Ví dụ 1: Từ tháng 01/2010 đến tháng 8/2010, Vũ Thị Chín (Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thương mại và dịch vụ Chín Quang, chuyên kinh doanh các lĩnh vực mua bán vật liệu xây dựng, mua bán xăng dầu và các sản phẩm có liên quan) đã vay của các tổ chức và cá nhân với tổng số tiền 2.907.472.969 đồng nhưng đến kỳ trả nợ thì Chín không trả nợ mà bỏ trôn khỏi địa phương nhằm chiếm đoạt số tiền đã vay Hành vi của Vũ Thị Chín đã bị truy tố và xét xử với tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, theo Điểm a Khoản 4 Điều
140 Bộ luật Hình sự, tại Bản án số 10/2013/HSST, ngày 04/01/2013 của Tòa án
Trang 35nhân dân tỉnh Quảng Ngãi [1]
Ví dụ 2: Ngày 16/11/2012, Tạ Thị Thu Thủy đến dịch vụ cho thuê xe máy Trần Quốc ở tổ dân phố 3, TT La Hà, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi (do anh Trần Quốc Tráng - làm chủ), làm hợp đồng thuê 01 chiếc xe mô tô hiệu Wave màu sơn đen-bạc, BKS 76K4-0093 để làm phương tiện đi lại trong vòng 7 ngày Nhưng đến ngày 21/12/2012, Thủy đã thế chấp xe trên cho anh Tiến ở Bình Sơn lấy 5.000.000 đồng đánh bạc hết Hành vi của Tạ Thị Thu Thủy bị Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 140 Bộ luật Hình sự [1]
Ví dụ 3: Ngày 08/9/2012, Nguyễn Ngọc Sư hỏi anh Vương Quốc Đông mượn
xe mô tô BKS 4266 đi công việc Sau đó, Sư điều khiển xe mô tô BKS
76Z1-4266 đến xã Nghĩa Phú, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi thế chấp xe cho Nguyễn Ngọc Nam với 3.000.000đ để đánh bạc Đến ngày 09/9/2012, Sư về nhà nói dối là xe bị Công an giữ nên anh Đông đưa giấy đăng ký xe và bảo hiểm xe cho Sư để lấy xe về Tiếp đó, Sư chuộc lại xe từ Nam và đem thế chấp cho tiệm cầm đồ Hoàng Hạnh do bà Đặng Thị Hạnh làm chủ tiệm với giá 10.000.000 đồng Hành vi của Nguyễn Ngọc Sư bị Tòa án nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi xét xử về tội
“Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 140 Bộ
luật Hình sự, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2013/HSST ngày 12/6/2013 [1]
Ngoài ra đối tượng phạm tội còn lợi dụng danh nghĩa Cơ quan, tập thể, Công
ty …hoặc chức năng, nhiệm vụ được giao vay, mượn, thuê tài sản của người bị hại rồi dùng một trong những thủ đoạn nêu trên để chiếm đoạt
Ví dụ: Từ năm 2005 đến năm 2010, bị cáo Nguyễn Thanh Hiền được Phòng giao dịch - Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Đức Phổ (PGD-NHCSXH) hợp đồng ủy nhiệm làm tổ trưởng tổ Tiết kiệm và vay vốn thuộc thôn Vĩnh An, xã Phổ Khánh, huyện Đức Phổ Nguyễn Thanh Hiền đã thu tiền lãi, tiền gửi tiết kiệm và tiền gốc của các hộ vay vốn nhưng không nộp cho PGD - NHCSXH huyện Đức Phổ
mà dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt rồi bỏ trốn Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 25.556.769đ Hành vi của Nguyễn Thanh Hiền đã bị Tòa án nhân dân huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi xét xử về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 140 Bộ luật Hình sự, tại Bản án sơ thẩm số 20/2013/HSST ngày 29/05/2013 [1]
Trang 36Bảng 2.2 Những thủ đoạn che dấu hành vi phạm tội
Năm
Bị can phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Bỏ trốn
Tiêu hủy tài liệu, chứng cứ
Tẩu tán tài sản chiếm đoạt được (Bán, thế chấp, trao
Nguồn: Công an tỉnh Quảng Ngãi
Trên cơ sở nghiên cứu 53 hồ sơ vụ án LDTNCĐTS xảy ra trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi cùng số liệu nêu trên, nhận thấy sau khi gây án đối tượng phạm tội luôn tìm mọi cách để che dấu hành vi lừa đảo của mình, với các thủ đoạn như sau:
+ Đối tượng bỏ trốn sau khi gây án, tìm đến chỗ bạn bè, người thân, hoặc trốn trong các nhà trọ, nhà nghỉ, che dấu nhân thân lai lịch của mình, xảy ra 16/55 bị can, chiếm 29,09%;
+ Đối tượng phạm tội tiêu hủy, cất giấu công cụ, phương tiện phạm tội như: Giấy tờ, tài liệu, đồ vật, sửa chửa thay đổi kết cấu, hình thức bên ngoài của tài sản
có liên quan đến hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, có 08/55 bị can, chiếm 14,54%;
+ Đối tượng phạm tội tìm cách tiêu thụ, mua bán, trao đổi hoặc phân tán những tài sản đã chiếm đoạt được bằng nhiều cách như: Bán cho những người không quen biết, đổi cho người khác, đổi sang loại tài sản khác, sử dụng tiền chiếm đoạt được vào mục đích cá nhân Sau khi phạm tội đối tượng thường chia nhỏ tài sản đã chiếm đoạt được vào hoạt động kinh doanh Đồng thời sau khi chiếm đoạt được tài sản, đối tượng phạm tội nhanh chóng chuyển quyền sở hữu tài sản cho người khác để tránh bị kê biên tài sản nếu như bị Cơ quan điều tra phát hiện và bắt giữ Thủ đoạn này xảy ra với 31/55 bị can chiếm 56,36%, có thể thấy đây là thủ đoạn chủ yếu trong các vụ án LDTNCĐTS xảy ra trong thời gian qua trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi Nếu chiếm đoạt được tài sản có giá trị thì đối tượng phạm tội thường hay bỏ trốn gây khó khăn cho quá trình điều tra, đặc biệt là việc thu hồi các tài sản đã bị chiếm đoạt
- Địa bàn và thời gian gây án
Trang 37+ Địa bàn gây án: Địa bàn phạm tội của tội phạm LDTNCĐTS thường không
cố định, không theo một tuyến hay địa bàn nhất định, bất cứ đâu và bất cứ chỗ nào cũng có thể trở thành địa bàn hoạt động của tội phạm này Đối tượng phạm tội về LDTNCĐTS thường hoạt động trên những địa bàn tập trung nhiều của cải, vật chất Đặc biệt địa điểm mà các đối tượng LDTNCĐTS thực hiện hành vi phạm tội phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm đối tượng bị chiếm đoạt tài sản là cá nhân hay cơ quan, tổ chức, cụ thể:
Trường hợp các vụ án LDTNCĐTS mà đối tượng nhằm vào các cá nhân thì địa điểm xảy ra thường là tại nhà ở, trên đường đi, các tụ điểm sinh hoạt, vui chơi, nơi công cộng, nhà hàng, khách sạn, quán cà phê Đây là những địa điểm thuận lợi cho việc tiếp cận, làm quen, gây lòng tin, cũng như che giấu hành vi phạm tội, gây khó khăn cho quá trình điều tra sau này
Ví dụ: Nguyễn Đức Thành và Hoàng Thị Trâm Anh có quan hệ yêu thương nhau Vào khoảng 19 giờ ngày 19/5/2014, Nguyễn Đức Thành và Hoàng Thị Trâm Anh đi ăn tối cùng bạn là Nguyễn Thọ Khiêm và Lê Thị Hoài Trang tại Nhà hàng Sen thuộc phường Lê Hồng Phong, thành phố Quảng Ngãi Tại đây, Khiêm mượn
xe mô tô Attila Elizabeth biển kiểm soát 76K1 - 02088 của Hoàng Thị Trâm Anh để chở Lê Thị Hoài Trang về nhà Nguyễn Đức Thành mượn xe của một ngưòi bạn khác chở Trâm Anh về phòng trọ, Thành nói với Trâm Anh là để Thành gặp Khiêm lấy lại xe cho Trâm Anh Vì có quan hệ tình cảm nên Trâm Anh tin tưởng, đồng ý Sau khi lấy được xe của Trâm Anh, do không có tiền tiêu xài nên Thành mang xe đến tiệm cầm đồ Khoa do ông Nguyễn Quốc Đạt làm chủ tiệm thế chấp lấy số tiền 19.000.000 đồng tiêu xài hết Hành vi của Nguyễn Đức Thành đã bị Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 140 Bộ luật Hình sự, tại Bản
Trang 38gây án phụ thuộc nhiều vào sự lựa chọn của đối tượng phạm tội, mối quan hệ của đối tượng với người có tài sản, động cơ mục đích, trình độ, khả năng của đối tượng Khi nghiên cứu các vụ án LDTNCĐTS xảy ra trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian từ năm 2013-2017, cho thấy phần lớn thời gian gây án của các đối tượng phạm tội LDTNCĐTS trong việc chiếm đoạt tài sản diễn ra nhanh chóng Tuy nhiên do đối tượng phạm tội tìm mọi cách để lẫn tránh việc trả lại tài sản cho người bị hại, khi biết không thể nhận lại được tài sản thì người bị hại mới trình báo với cơ quan Công an nên thời gian vụ án xảy ra đến thời gian Cơ quan Công an tiếp nhận thụ lý là khá dài
- Đặc điểm tài sản bị chiếm đoạt: Qua nghiên cứu 53 hồ sơ vụ án LDTNCĐTS
từ năm 2013-2017 trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, nhận thấy tài sản bị chiếm đoạt mang tính đa dạng chủ yếu tập trung vào các tài sản như: Tiền, vàng, ngoại tệ, xe
mô tô, xe ôtô, máy vi tính và các loại tài sản khác như kim khí quý, đất đai, giấy tờ
có giá trị khác
- Đặc điểm về đối tượng gây án: Qua khảo sát thì đối tượng phạm tội trong các
vụ án LDTNCĐTS đa số là nam giới, những người có kinh nghiệm sống, có sự hiểu biết xã hội với khả năng giao tiếp tốt, một số có trình độ khá cao Đối tượng phạm tội thường có lối sống dối trá, khi bị phát hiện thì dùng lời lẽ để ngụy biện cho hành vi của mình hoặc nhanh chóng tìm các thủ đoạn che dấu hành vi phạm tội, rồi bỏ trốn
Bảng 2.3 Một số đặc điểm của đối tượng lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
ổn định
Không nghề hoặc không
ổn định
Trang 39Tiến hành nghiên cứu đặc điểm nhân thân của 55 bị can trong 53 vụ án
LDTNCĐTS xảy ra ở tỉnh Quảng Ngãi, cho thấy như sau:
+ Giới tính: Có 48/55 bị can phạm tội là nam giới, chiếm tỷ lệ 87,27% và 7/55
bị can là nữ chiếm tỷ lệ 12,72% Từ kết quả nghiên cứu cho thấy đối tượng phạm tội là nữ chiếm tỷ lệ tương đối cao Điều này cũng chứng tỏ rằng trong thời gian qua
số lượng đối tượng là nữ phạm tội LDTNCĐTS có xu hướng ngày càng gia tăng + Độ tuổi: Qua nghiên cứu cho thấy đối tượng phạm tội LDTNCĐTS đa dạng
về thành phần và ở nhiều độ tuổi khác nhau Trong số 55 đối tượng đã phạm tội LDTNCĐTS thì chủ yếu tập trung ở độ tuổi từ 30 tuổi trở lên có 37/55 bị can (chiếm 67,27%); độ tuổi dưới 30 có 18/55 bị can chiếm (32,72%) Như vậy qua số liệu có thể thấy rằng đối tượng phạm tội LDTNCĐTS ở nhiều độ tuổi khác nhau và chủ yếu là nam giới tập trung ở độ tuổi từ 30 tuổi trở lên (67,27%), là những người
có nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống
+ Tiền án, tiền sự: Kết quả nghiên cứu nhận thấy đối tượng phạm tội trong các
vụ án LDTNCĐTS không giống với một số tội phạm có tính chất chiếm đoạt khác như: Trộm cắp tài sản, cướp tài sản, cướp giật tài sản… thì các đối tượng phạm tội
có tiền án, tiền sự thường chiếm tỷ lệ khá cao Tuy nhiên đối với các vụ án LDTNCĐTS xảy ra ở tỉnh Quảng Ngãi thì đối tượng phạm tội có tiền án, tiền sự, có 06/55 bị can (chiếm 10,9%), đối tượng thuộc loại chưa có tiền án, tiền sự có 49/55
bị can (chiếm 89,09%) Thực tế cho thấy tiền án, tiền sự mà các đối tượng này vi phạm đa số liên quan đến tội phạm về chiếm đoạt tài sản như: Trộm cắp tài sản, LDTNCĐTS, lừa đảo chiếm đoạt tài sản
+ Nghề nghiệp: Số đối tượng LDTNCĐTS đa dạng về ngành nghề, trong đó chủ yếu là không có nghề nghiệp và nghề nghiệp không ổn định chiếm tỷ lệ cao 41/55 bị can (chiếm 74,54%), đối tượng có nghề nghiệp có 14/55 bị can (chiếm 25,45%)
+ Trình độ học vấn: Qua nghiên cứu 55 bị can phạm tội LDTNCĐTS đã điều tra xử lý cho thấy trình độ học vấn của các đối tượng cũng khá đa dạng, cụ thể: Trình độ trên 12 có 34/55 bị can (chiếm 61,81%), trình độ dưới 12 có 21/55 bị can (chiếm 38,18%)
+ Đặc điểm nơi cư trú: Đa số các đối tượng phạm tội có hộ khẩu thường trú ngoài địa bàn thành phố và các huyện đồng bằng chiếm một tỷ lệ lớn với 45/55 bị can (chiếm 81,81%) Điều này cho thấy các vụ án LDTNCĐTS xảy ra trên địa bàn
Trang 40tỉnh Quảng Ngãi thời gian qua đối tượng phạm tội chủ yếu ở địa bàn thành phố và các huyện đồng bằng
- Đặc điểm nhân thân người bị hại
Người bị hại trong vụ án LDTNCĐTS rất đa dạng về thành phần, độ tuổi, nghề nghiệp cũng như hoàn cảnh sống Từ thực tiễn cho thấy, đặc điểm nhân thân của người bị hại có các đặc điểm chủ yếu như: Họ là những người có ít kinh nghiệm sống, thiếu hiểu biết về đời sống xã hội, nhẹ dạ, cả tin, thường hám lợi muốn nhanh chóng làm giàu, không nắm vững các nguyên tắc, quy định về quản lý tài sản, không cẩn thận trong các mối quan hệ xã hội, nên dễ bị các đối tượng phạm tội Lạm dụng lòng tin, thực hiện hành vi LDTNCĐTS mà không hay biết
2.2 Tổ chức lực lượng Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi trong
hoạt động điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
2.2.1 Về tổ chức lực lượng
- Tình hình tổ chức, bộ máy của Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an
Hiện nay tổ chức, bộ máy các Cơ quan Cảnh sát điều tra thuộc Bộ Công an vẫn cần phải tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện, vì tổ chức cơ quan Cảnh sát điều tra còn nhiều đầu mối và chưa thống nhất Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an có
06 đầu mối: C44; C45; C47; C48; C49; C50
Tại Công an cấp tỉnh, tổ chức cơ quan Cảnh sát điều tra cũng tương tự, chỉ có một điều khác là bộ phận điều tra tội phạm về tham nhũng không lập phòng mà lập đội trực thuộc Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức
vụ (PC46)
Ở cấp huyện, Bộ Công an giao cho Giám đốc Công an cấp tỉnh lập các đội điều tra Hiện có 1.629 đầu mối là các đội Cảnh sát điều tra, tuy vậy số lượng Đội Cảnh sát điều tra ở Công an các quận, huyện không giống nhau (có 114 Công an cấp quận, huyện lập 04 đội Điều tra; 398 Công an cấp quận, huyện lập 03 đội Điều tra; còn lại lập 01 hoặc 02 đội điều tra)
- Cơ quan Cảnh sát điều tra thuộc Công an tỉnh Quảng Ngãi, gồm:
+ Cấp tỉnh có: PC44 (có 03 đội); PC45 (có 04 đội); PC46 (có 03 đội); PC47 (có 04 đội)
+ Cấp huyện có: 14 Cơ quan Cảnh sát điều tra thuộc 14 Công an huyện thành phố Trong đó 03 huyện, thành phố có 04 đội điều tra; 03 huyện có 03 đội điều tra;
04 huyện có 02 đội điều tra; 04 huyện có 01 đội điều tra