BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA NÔNG HỌC KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ CÁC CÔNG THỨC PHÂN BÓN ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ PHẨM CHẤT CỦA G
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA NÔNG HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ CÁC CÔNG THỨC PHÂN BÓN ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ PHẨM CHẤT CỦA GIỐNG
MÈ VDM 3 VỤ XUÂN HÈ TẠI HUYỆN GÒ DẦU,
Trang 2ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ CÁC CÔNG THỨC PHÂN BÓN ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ PHẨM CHẤT CỦA GIỐNG MÈ VDM 3
VỤ XUÂN HÈ TẠI HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
Tác giả
VÕ ĐỨC DƯƠNG
Luận văn tốt nghiệp được đệ trình để hoàn thành yêu cầu
cấp bằng kỹ sư ngành Nông học
Giảng viên hướng dẫn:
Ths NGUYỄN THỊ THÚY LIỄU
Ks NGUYỄN THỊ HOÀI TRÂM
Tháng 08/2011
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Con xin chân thành cảm ơn sự hy sinh to lớn của cha mẹ và người đã nuôi dưỡng và tạo mọi điều kiện cho con học tập đến ngày hôm nay
Xin chân thành cảm ơn:
- Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh
- Quý Thầy cô khoa Nông học đã tận tâm truyền đạt kiến thức trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài tốt nghiệp
- Quý Thầy cô khoa Nông học đã tận tâm truyền đạt kiến thức trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài tốt nghiệp
- Các cô chú và các anh chị đang công tác tại Viện nghiên cứu dầu và cây có dầu đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện và hoàn thành đề tài
Em xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến cô Nguyễn Thị Thúy Liễu và chị Nguyễn Thị Hoài Trâm đã tận tình hướng dẫn và và tạo mọi điều kiện cho em hoàn thành tốt đề tài tốt nghiệp
Sinh viên thực hiện
VÕ ĐỨC DƯƠNG
Trang 4TÓM TẮT
Võ Đức Dương, tháng 7/2011, Trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh, “ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ CÁC CÔNG THỨC PHÂN BÓN ĐẾN NĂNG
SUẤT VÀ PHẨM CHẤT CỦA GIỐNG MÈ VDM 3 VỤ XUÂN HÈ TẠI HUYỆN
GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH”
Giảng viên hướng dẫn: ThS NGUYỄN THỊ THÚY LIỄU
Đề tài được thực hiện từ 4/2010 đến 6/2011, được bố trí theo kiểu thí nghiệm có
lô phụ (split-plot design), 3 lần lặp lại
Đề tài đánh giá ảnh hưởng của mật độ và các công thức phân bón lên giống mè
VDM 3 Đồng thời xác định công thức phân bón và mật độ thích hợp nhất cho giống
mè VDM 3 sinh trưởng và phát triển Giống mè VDM 3 là giống mè được chọn lọc từ
Viện nghiên cứu dầu và cây có dầu
Kết quả chung của đề tài cho thấy:
Chiều cao lớn nhất khi bón phân với công thức phân bón 1 (90 - 60 - 30) và mật
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang tựa i
LỜI CẢM TẠ ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ viii
Chương 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề: 1
1.2 Mục đích và yêu cầu 2
1.2.1 Mục đích của đề tài: 2
1.2.2 Yêu cầu: 2
1.2.3 Giới hạn đề tài: 2
Chương 2 TỔNG QUAN 3
2.1 Giới thiệu chung về cây mè 3
2.1.1 Phân loại 3
2.1.2 Nguồn gốc 3
2.1.3 Phân bố 3
2.1.4 Một số giống mè trồng phổ biến hiện nay 4
2.1.5 Các giống mè triển vọng 5
2.2 Công dụng và giá trị kinh tế 5
2.2.1 Công dụng 5
2.2.1.1 Hạt mè 5
2.2.1.2 Dầu mè 5
2.2.2 Giá trị dinh dưỡng 6
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến đến sinh trưởng và phát triển của cây mè 6
2.4 Tình hình sản xuất, nghiên cứu mè trong nước và thế giới 8
2.4.1 Tình hình sản xuất trên thế giới và nghiên cứu trên thế giới 8
2.4.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu trong nước 10
Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
Trang 63.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 14
3.1.1 Thời gian 14
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu 14
3.1.2.1 Đất thí nghiệm 14
3.1.2.2 Điều kiện khí hậu thời tiết 15
3.2 Nội dung nghiên cứu 16
3.3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 16
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu 16
3.3.3 Chăm sóc 18
3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và lấy mẫu 18
3.4.1 Cách lấy mẫu theo dõi 18
3.4.2 Các chỉ tiêu theo dõi 18
3.4.2.1 Các chỉ tiêu về sinh trưởng 18
3.4.2.2 Các chỉ tiêu về phát triển: 19
3.4.2.3 Các chỉ tiêu về năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất: 19
3.5 Phương pháp xử lý số liệu 20
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 21
4.1 Các chỉ tiêu sinh trưởng 21
4.1.1 Thời gian sinh trưởng và tỷ lệ nảy mầm 21
4.1.2 Chiều cao cây (cm) và tốc độ tăng trưởng chiều cao cây (cm/ngày) 22
4.1.3 Số lá (lá/cây) và tốc độ ra lá (lá/7ngày) 26
4.2 Các chỉ tiêu về năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất: 30
4.2.1 Các yếu tố cấu thành năng suất 30
4.2.2 Năng suất lý thuyết (tạ/ha) 33
4.2.3 Năng suất thực tế (tạ/ha) 34
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 36
5.1 Kết luận: 36
5.2 Đề nghị: 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO 38
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Diện tích, năng suất và sản lượng mè trên thế giới năm 2008 9
Bảng 2.2: Diện tích, năng suất và sản lượng mè trên các vùng sinh thái nông nghiệp nước ta từ 2000 đến 2004 11
Bảng 3.1: Diện tích, năng suất và sản lượng mè trên tại Việt Nam từ năm 2004 -2008 12
Bảng 3.2: Kết quả phân đất khu thí nghiệm - Tầng đất (0 – 30 cm) 14
Bảng 4.1 So sánh thời gian sinh trưởng và tỷ lệ nảy mầm của các nghiệm thức thí nghiệm 21
Bảng 4.2 So sánh tăng trưởng chiều cao cây của các nghiệm thức thí nghiệm 22
Bảng 4.3 So sánh về tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của các nghiệm thức thí nghiệm (cm/7 ngày) 24
Bảng 4.4 So sánh về biến thiên số lá trên cây theo thời gian của các nghiệm thức thí nghiệm 27
Bảng 4.4 So sánh tốc độ ra lá theo thời gian của các nghiệm thức thí nghiệm
(lá/7ngày) 29
Bảng 4.5: Các yếu tố cấu thành năng suất của các nghiệm thức trong thí nghiệm 30
Bảng 4.6:Tỷ lệ trọng lượng hạt/trái, vỏ/trái, hạt lép/trái, hạt chắc/trái 32
Bảng 4.7 So sánh năng suất lý thuyết của các nghiệm thức thí nghiệm 33
Bảng 4.8 So sánh năng suất thực thu của các nghiệm thức thí nghiệm 34
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ
Trang
Hình 3.1: Toàn cảnh khu vực thí nghiệm ở giai đoạn cây ra hoa 46 NSG 17 Hình 4.1: Hình vỏ và hạt giống mè VDM 3 35 Biểu đồ 3.1: Diễn biến khí hậu thời tiết (từ 03/2011 đến 06/2011) 16
Trang 10Chương 1
GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề:
Cây mè (vừng) có tên khoa học là Sesamum indiucum L., thuộc bộ Tubiflorae,
họ Pedaliacea, mè là cây lấy dầu ngắn ngày mà bộ phận thu hoạch chính là hạt Các sản phẩm từ hạt mè ngoài việc cung cấp những chất dinh dưỡng cần thiết như lipid, protein… thì dầu mè còn được sử dụng phổ biến và có thể thay thế mỡ động vật, đặc biệt sử dụng dầu mè giúp chống một số bệnh như: tim mạch, huyết áp ở người cao tuổi
Ở nước ta, những năm trước đây, cây mè chưa được chú ý trong sản xuất cũng như trong nghiên cứu Nguyên nhân chính là do: sản phẩm làm ra chỉ với mục tiêu tự cung tự cấp, nên nếu muốn tăng diện tích và sản lượng thì phải tìm đầu ra ổn định cho cây mè Chất lượng hạt mè của những giống phổ biến rất thấp không đáp ứng các tiêu chuẩn xuất khẩu nên gặp bế tắc khâu tiêu thụ Thêm vào đó, khi đòi hỏi lương thực ngày càng tăng thì cây mè vốn được coi là cây trồng phụ sẽ bị thay thế bởi những cây lương thực khác
Tuy vậy, trong thập kỷ chín mươi và những năm gần đây, trên thế giới việc thay
mỡ động vật bằng dầu thực vật, do đó các loại dầu thực vật như dầu mè ngày càng được sử dụng phổ biến, theo xu thế chung của thời đại cùng với tính ưu việt của một
số giống mè mới đã được khảo nghiệm và được sản xuất thừa nhận, tình hình đã được cải thiện hơn Ở nước ta mè được trồng nhiều ở các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long, Miền Đông Nam Bộ và Trung Bộ (riêng tỉnh An Giang, diện tích trồng mè hiện nay tăng lên đến 16.000 ha)
Tại vùng Châu Phú An Giang, năng suất đạt từ 400 - 600 kg/ha Nếu áp dụng biện pháp canh tác thích hợp, năng suất mè có thể đạt 1 tấn/ha Để nâng cao năng suất thì biện pháp kỹ thuật là mật độ và phân bón cần được quan tâm nhiều nhất Mật độ ảnh hưởng đến năng suất cây mè rất lớn Khi gieo mật độ quá dày ở những vùng đất
Trang 11tốt thì cây sẽ bị che bóng hỗ tương và bị nhiều sâu bệnh ảnh hưởng đến năng suất cây, ngược lại ở những vùng đất xấu kém màu mỡ thì việc gieo thưa làm cho không tận dụng hết tiềm năng đất đai Mật độ gieo trồng như thế nào phụ thuộc vào thành phần dinh dưỡng có trong đất Các công thức phân bón khác nhau có ảnh hưởng đến thành phần dinh dưỡng đất rất lớn vì thế gián tiếp ảnh hưởng đến mật độ gieo trồng.Vì thế việc tìm ra mật độ và công thức phân bón thích hợp để cây mè đạt được năng suất cao
là một việc cần được giải quyết Trước vấn đề như trên dưới sự hướng dẫn của thạc sĩ Nguyễn Thị Thúy Liễu và kỹ sư Nguyễn Thị Hoài Trâm nên tôi thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng của mật độ và các công thức phân bón đến năng suất và phẩm chất của giống
mè VDM3 tại huyện Gò Dầu tỉnh Tây Ninh”
1.2.3 Giới hạn đề tài:
Địa điểm thực hiện: tại xã Bàu Đồn, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh
Thời gian thực hiện đề tài: từ tháng 4 năm 2011 đến tháng 6 năm 2011 trong vụ Xuân Hè
Đánh giá ảnh hưởng của mật độ và các công thức phân bón đến năng suất của giống mè VDM 3
Trang 12Chương 2 TỔNG QUAN
2.1 Giới thiệu chung về cây mè
chenkii, Sasemum laniniatum có 2n = 64
Có nhiều cách phân loại giống mè khác nhau của nhiều tác giả Một số giả thuyết cho rằng, có một số đoàn du khảo của Liên Xô đi khắp thế giới đã thu được 500 mẫu, chia ra 111 dạng khác nhau, dựa vào đặc điểm thực vật học như hình dạng thân,
màu sắc hạt, số cành, số quả trên nách lá, trái bị nứt khi thu hoạch hay không bị nứt
Cách phân loại dựa vào màu sắc hạt, giá trị thương phẩm của hạt, dựa vào lông trên thân (loại nhẵn và loại có lông), dựa vào khả năng phân cành của giống hiện nay được áp dụng phổ biến
2.1.2 Nguồn gốc
Cây mè có nguồn gốc từ châu Phi, có nhiều ý kiến cho rằng Etiopi là nguyên sản của giống mè trồng hiện nay Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng vùng Afghan – Persian mới là nguyên sản của các giống mè trồng Mè đã sớm được trồng phổ biến ở vùng phía Tây châu Á, đến Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản và chính những nơi này trở thành trung tâm phân bố thứ hai của cây mè
2.1.3 Phân bố
Vùng phân bố chính của cây mè ở giữa 250 vĩ độ bắc và 250 vĩ độ nam Nhưng
mè cũng phát triển tới 400 vĩ độ bắc thuộc các nước Trung Quốc, Liên Bang Nga và
Trang 13Mỹ, tới 300 vĩ độ nam ở Úc và 350 vĩ độ bắc ở Nam Mỹ Mè trồng phổ biến ở độ cao dưới 1250 m so với mặt biển, nhưng cũng có trường hợp được trồng ở độ cao 1500 m
2.1.4 Một số giống mè trồng phổ biến hiện nay
Nhóm mè vàng
Mè vàng An Giang: Trổ hoa 30 ngày sau khi trồng phân cành ít (2-3 cành trên cây), thân màu xanh, chiều cao khoảng 80cm, thời gian sinh trưởng ngắn, khoảng 85 ngày Năng suất bình quân 1,2 tấn/ha, giống này có sáu hoa, trái có tám khía, trồng phổ biến ở vùng Châu Phú (An Giang)
Mè vàng Miền Đông: Trổ hoa 30 ngày sau khi trồng, phân cành trung bình (4 cành/cây), thân màu xanh đậm, chiều cao thấp (70 cm), thời gian sinh trưởng ngắn (80 ngày), năng suất khá cao (1,5 tấn/ha) Giống trồng phổ biến ở Đồng Nai, Sông Bé trên vùng đất cao, trái có bốn đến tám khía
Mè vàng Cồn Khương: Trổ hoa ngày thứ 35 sau khi trồng, phân cành 4-6 cành/cây), chiều cao 90 cm, thời gian sinh trưởng 75 ngày, năng suất 1,4 tấn/ha Trồng phổ biến ở Cồn Khương (Cần Thơ), trái có bốn đến sáu khía
Nhóm mè đen
Mè đen Trà Ôn: Trổ hoa ngày thứ 35 sau khi gieo, phân cành nhiều (4-6 cành/cây), chiều cao 90 cm, thời gian sinh trưởng 95 ngày, năng suất khá cao (1,4 tấn/ha) Trồng phổ biến ở Trà Ôn (Vĩnh Long), trái có từ 4 đến 6 khía
Mè đen Campuchia: Nhập từ Ấn Độ, phân cành rất nhiều, có cả cành cấp hai mang trái, chiều cao từ 90 - 100cm, thời gian sinh trưởng 100 ngày, năng suất cao nhất trong các giống (1,6 tấn/ha), tuy nhiên hạt có nhiều màu sắc khác nhau (có cả đỏ, trắng, nâu), rấtkhó khi chọn hạt để xuất khẩu
Giống mè V6
Đây là giống mè được chọn lọc ra từ tập đoàn giống mè do công ty Mitsui của Nhật Bản đưa vào Nghệ An từ năm 1994 Giống có thời gian sinh trưởng ngắn, có tiềm năng năng suất cao và khả năng thích ứng rộng, chất lượng hạt tốt, tỷ lệ dầu cao
52 – 53% nên giống đã được phát triển tương đối nhanh và trở thành giống mè chủ lực
ở các tỉnh phía Nam
Thời gian sinh trưởng 75 – 80 ngày Trồng được 2 vụ trong năm Năng suất trung bình 8 – 10 tạ/ha, thâm canh cao đạt 13 – 14 tạ/ha
Trang 142.1.5 Các giống mè triển vọng
Giống mè VDM 3
Đây là giống được chọn lọc từ Viện nghiên cứu dầu và cây có dầu, trổ hoa ngày thứ 26 sau khi gieo, phân cành ít (1- 2 cành/cây), chiều cao 90 – 120 cm, thời gian sinh trưởng 76 - 80 ngày, năng suất khá cao (1,3 tấn/ha), trái có 4 khía, hạt màu trắng
Giống mè VDM 8
Đây là giống được chọn lọc từ Viện nghiên cứu dầu và cây có dầu, trổ hoa ngày thứ 26 sau khi gieo, chiều cao 80 – 110 cm, thời gian sinh trưởng 76 - 80 ngày, năng suất khá cao (1,3 tấn/ha), hạt màu trắng
Giống mè VDM 9
Đây là giống được chọn lọc từ giống Trung Quốc, trổ hoa ngày thứ 27 sau khi gieo, chiều cao 90 – 110 cm, thời gian sinh trưởng 80 ngày, năng suất khá cao (1,3 tấn/ha), hạt màu trắng
Giống mè VDM 14
Đây là giống được chọn lọc từ giống Trung Quốc, trổ hoa ngày thứ 27 sau khi gieo, chiều cao 82 – 120 cm, thời gian sinh trưởng 76 - 80 ngày, năng suất khá cao (1,3 tấn/ha), hạt màu trắng
2.2 Công dụng và giá trị kinh tế
2.2.1 Công dụng
2.2.1.1 Hạt mè
Được sử dụng rất phổ biến để chế biến nhiều dạng thức ăn (kẹo mè, chè mè ) Trong dân gian, còn dùng mè để nấu cháo (nếp với mè) cho người mẹ cho con bú rất tốt
2.2.1.2 Dầu mè
Tiêu thụ nhiều nhất, dầu mè rất tốt, khác với các loại dầu khác là không bị oxy hóa nên nên không chuyển thành mùi khó chịu Vì trong mè có chứa chất sesamol, ngăn cản quá trình oxy-hóa
Trong kỹ nghệ, dầu mè sử dụng để bôi trơn máy móc cao cấp: máy bay, máy dùng trong khoa học kỹ thuật, dầu dùng để pha sơn, pha vecni rất tốt vì có màu láng bóng
Trang 15Trong y học, dùng để làm thuốc viên con nhộng Dầu mè còn dùng trong mỹ phẩm, ở Ấn Độ, người ta còn dùng dầu mè để bôi vào tóc cho bóng mượt
2.2.2 Giá trị dinh dưỡng
Mè có giá trị dinh dưỡng cao, trong hạt mè có chứa: 45 - 55% dầu, 19 - 20% Protein, 8 - 11% đường, 5% nước, 4 - 6% chất tro Thành phần axit hữu cơ chủ yếu của dầu mè là 2 loại acid béo chưa no sau:
18oC sẽ gây khó khăn cho sự phát triển và nếu nhiệt độ dưới 10oC cây ngừng phát triển
và chết Nhiệt độ cao trên 40oC vào thời kỳ ra hoa sẽ cản trở sự thụ phấn, thụ tinh, tăng
tỷ lệ hoa rụng và do đó làm giảm số quả
Trang 16Nhiệt độ biến động từ 28-35oC trong suốt thời gian sinh trưởng là thuận lợi nhất cho sự sinh trưởng, phát triển và khả năng cho năng suất của mè
Ánh sáng:
Mè là cây ngày ngắn Trong điều kiện thời gian chiếu sáng dưới 10 giờ/ngày sẽ rút ngắn thời gian sinh trưởng dinh dưỡng của mè Mè sẽ ra hoa sớm hơn 15 - 20 ngày trong điều kiện tự nhiên (12 giờ/ngày)
Cường độ ánh sang, số giờ nắng trong ngày ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất của mè Trong thời gian sinh trưởng, nhất là sau khi trổ hoa, mè cần khoảng 200 - 300 giờ nắng/tháng cho tới khi trái chín
Một số kết quả nghiên cứu cho thấy: Cường độ ánh sáng trong thời gian kết quả đến khi chín 28.000 lux thích hợp nhất cho quá trình hình thành dầu Hàm lượng dầu trong hạt giảm 8% nếu cường độ ánh sáng giảm xuống 7.000 lux
Nước:
Nước là yếu tố ảnh hưởng lớn đến năng suất mè Mè tương đối chịu hạn nhưng cho năng suất thấp nếu độ ẩm dưới 70% Mè cho năng suất cao ở lượng mưa 500 –
650 mm Trong điều kiện có tưới tổng lượng nước cần từ 900 – 1000 mm
Mè yêu cầu lượng nước phân bố đều trong vụ: Thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng 34%; thời kỳ ra hoa kết quả 45%; và thời kỳ chín là 21% Độ ẩm đất thích hợp cho sự sinh trưởng, phát triển và cho năng suất của mè khoảng 70 - 80%
Mưa lúc thu hoạch sẽ làm phẩm chất mè giảm do nhiễm bệnh Mè rất dễ mẫn cảm với nước, nếu mưa liên tục sẽ làm cây đổ ngã và chết Trong lúc gieo hạt, mưa nhiều hạt sẽ không nảy mầm
Cao độ:
Mè thích hợp ở độ cao dưới 1520 m, nhưng có những trường hợp trồng ở độ cao khoảng 1000 m, mè trồng ở vùng này thường cây nhỏ, không phân cành, chỉ có một hoa ở dưới nách lá, do đó năng suất thấp
Ở Ấn Độ và Venezuela, người ta thấy cùng một giống đem trồng ở nhiều nhiệt
độ khác nhau thì càng lên cao năng suất càng giảm
Trang 17Đất đai:
Mè phát triển được trên nhiều loại đất khác nhau, nhưng phát triển tốt nhất là trên loại đất phì nhiêu, thoát thủy tốt Cơ cấu đất không quan trọng bằng khả năng
thoát nước, cây sẽ chết nếu nước ngập kéo dài, nhất là thời kỳ sinh trưởng đầu
Các loại đất cát, cát pha có pH từ 5,5 đến 8 đều trồng mè được, nhưng tốt nhất
là pH = 6 Ẩm độ thích hợp nhất là 70% Đối với Đồng bằng sông Cửu Long như An Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, một số vùng ven thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Trung là nơi thích hợp phát triển mè Mè rất thích hợp với đất phù sa ven sông
Gió:
Mè rất dễ bị thiệt hại do gió, nhất là khi thân chính phát triển, gió cũng làm cho mất hạt khi trái bị nứt Do đó, khi chọn thời vụ trồng mè nên tránh vào thời gian mưa
to gió lớn Trong thời vụ gió lớn, khi canh tác mè cần chọn những giống có lóng ngắn,
chiều dài của thân tương đối ngắn có thể cho nhiều trái, và phải vun gốc cho cây 2.4 Tình hình sản xuất, nghiên cứu mè trong nước và thế giới
2.4.1 Tình hình sản xuất trên thế giới và nghiên cứu trên thế giới
Hằng năm, trên thế giới có khoảng hơn 7 triệu ha mè được gieo trồng và tập trung chủ yếu ở một số nước khu vực châu Á, châu Phi và châu Mỹ với tổng sản lượng gần 35 triệu tấn Trong đó, các nước khu vực châu Á chiếm 57,39% diện tích và 61,85% sản lượng, các nước khu vực châu Phi chiếm 39,13% diện tích và 33,68% sản lượng, phần còn lại không nhiều được phân bố ở khu vưc châu Mỹ và một số nước khác Hiện nay, mè đang được trồng phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới với tổng diện tích 7,7 triệu ha, năng suất 3,5 – 4,5 tạ/ha Ấn Độ là nước trồng mè nhiều nhất với diện tích 1,75 triệu ha, năng suất bình quân 3,5 tạ/ha – 4,7 tạ/ha, kế đến là Trung Quốc với diện tích 620.850 ha, năng suất bình quân 12,4 tạ/ha
Trang 18Bảng 2.1: Diện tích, năng suất và sản lượng mè trên thế giới năm 2008
(ha)
Năng suất (NS) (tấn/ha)
Sản lượng (tấn) Tổng cộng 7418230 0,47 3542129
16000 18891 29651
(Nguồn FAOSTAT,2011)
Năng suất mè nói chung còn thấp năng suất bình quân thế giới chỉ 350 – 470
kg/ha Nguyên nhân chủ yếu do công tác cải tiến giống và quy trình kỹ thuật chưa
được quan tâm đúng mức Vì nguyên nhân như vậy cho nên những năm gần đây một
số nước đã tiến hành những nghiên cứu về giống và kỹ thuật canh tác mè Một số công
trình công trình nghiên cứu hiện nay:
Trang 19Theo Bennet và cộng sự (1997), ở Úc đất trồng mè nên có pH từ 5,4 - 6,7; ít cỏ
lá rộng; mật độ trồng: 30 – 35 cây mè/m2 hàng cách hàng 50 cm, mật độ ít nhất 300.000 đến 350.000 cây/ha, lượng giống cần gieo cho 1 ha khoảng 3,3 kg; lượng phân bón thích hợp 30 – 70 kg N, 0 – 20 kg P, 0 – 50 kg K, 0 – 10 kg S và 0 – 5 kg Zn
Tại Ấn Độ, các kết quả nghiên cứu về phân bón cho cây mè cũng cho thấy rằng việc bón NPK, kết hợp xử lý hạt và phun trên lá phân vi lượng làm tăng năng suất 30,5%
Giữa những năm 1940 và 1981, nhiều nhà nghiên cứu đã nghiên cứu thay đổi các thiết bị máy móc nông nghiệp để giải quyết vấn đề cơ giới hóa cây mè Hiệp hội trồng mè của Mỹ (American sesame Growers Association) cho biết vào năm 1982, tác giả Sesaco đã lai tạo các giống mè phù hợp với việc canh tác ứng dụng cơ giới hóa trong thu hoạch như: Chiều cao cây (cây mè thấp cây chống đổ ngã), khoảng cách quả đầu tiên từ gốc phù hợp ( đủ để thanh cắt nằm bên dưới quả thấp nhất), sự phân cành (cây có số cành vừa phải), cây chống chịu được sự đổ ngã, kiểm soát cỏ dại, cây phải khô vào lúc thu hoạch, không nứt quả và quả dính chặt vào thân (để hạn chế thất thoát khi thu hoạch), độ sạch của hạt (hạt mè khi thu hoạch bằng máy thường lẫn nhiều cuống lá, cuống quả và tuyến mật (các nhà chọn giống đang cố gắng tạo ra các giống
có tuyến mật ngắn hoặc xử lý đột biến để không có tuyến mật Ngoài ra tuyến mật còn
có thể được loại bỏ bằng cách chọn những dòng có nhiều quả ở mỗi nách lá)), sử dụng hạt giống có tỷ lệ nảy mầm cao (hạt càng bị tổn thương thì tỷ lệ mọc mầm càng thấp
Để sử dụng máy gieo hạt cần tỷ lệ nảy mầm dao động từ 65% đến 80% Để sử dụng hạt mè có tỷ lệ nảy mầm tốt, lúc thu hoạch cây phải có ẩm độ thấp), tỷ lệ mọc mầm (một trong những khó khăn khi gieo hạt mè là do hạt quá nhỏ, các nhà nghiên cứu cố gắng lai tạo các giống mè có hạt to hơn để có thể mọc mầm khi gieo sâu (LangHam, 2002)) Cây mè gieo theo hàng bằng máy, mật độ để cho năng suất cao nhất là hàng cách hàng biến động từ 18 inch (45,72 cm) đến 30 inch (76,2 cm) khoảng 250.000 – 300.000 cây /acre (mẫu Anh) Chiều sâu gieo hạt thay đổi tùy theo loại đất và độ ẩm đất khoảng 1 – 2 inch (2,54 – 5,08 cm)
2.4.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, đất đai và khí hậu rất thích hợp cho cây mè sinh trưởng, phát triển
và thực tế cũng cho thấy mè có thể trồng ở khắp các vùng sinh thái trong cả nước, có
Trang 20khả năng thích ứng rộng, dễ trồng và đầu tư sản xuất mè cũng không nhiều Tuy nhiên,
do không được coi trọng như cây trồng chính nên các hình thức canh tác chủ yếu vẫn
là quảng canh, năng suất thấp Bên cạnh đó, việc đầu tư nghiên cứu và ứng dụng tiến
bộ kỹ thuật trong sản xuất mè cũng chưa được quan tâm đầu tư đúng mức cũng là một trong những yếu tố hạn chế phát triển sản xuất mè trong thời gian qua Diện tích mè hàng năm biến động từ 30.000 đến hơn 40.000 ha trong suốt hai thập niên qua, con số này rất khiêm tốn so với một số cây có dầu ngắn ngày khác như đậu phộng, đậu nành
Bảng 2.2: Diện tích, năng suất và sản lượng mè trên các vùng sinh thái nông nghiệp nước ta từ 2000 đến 2004
Vùng sinh
thái
Diện tích (ha)
NS (tấn/ha)
Sản lượng (tấn)
Diện tích (ha)
NS (tấn/ha)
Sản lượng (tấn)
Trang 21Bảng 3.1: Diện tích, năng suất và sản lượng mè trên tại Việt Nam từ năm 2004
-2008
Diện tích (ha)
NS (tấn/ha)
Sản lượng (tấn)
cứu còn hạn chế Những công trình nghiên cứu trong nước hiện nay như:
Sản xuất thành công giống mè V6 do tác giả: Ngô Thị Lam Giang, Thái
Nguyễn Quỳnh Thư, Đào Ngọc Hải và CTV (2002)
+Kết quả thực hiện:
Sản xuất thành công giống mè V6 đạt năng suất 1.000 – 1.500 kg/ha
Ứng dụng phương pháp chiếu xạ tạo giống mè đột biến do Th.S Đoàn Phạm
Ngọc Nga (2007)
+Kết quả thực hiện:
Trong thế hệ đầu, sau khi chiếu tia, cây mè đen xuất hiện nhiều biến dị như chẻ
nhánh và ngọn nhiều quả Trong cả hai thế hệ, các biến dị chẻ nhánh nhiều quả và
thấp cây thường xuất hiện cùng nhau có triển vọng giúp gia tăng năng suất hạt thô
(6,4% - 10,4%) nhưng không hề giảm hàm lượng dầu và chất lượng dầu có trong
hạt mè
Kết quả đạt được ở thế hệ thứ hai cho thấy các dòng biến dị chọn lọc được ở thế
hệ thứ nhất vẫn tiếp tục di truyền cho thế hệ thứ hai
Năng suất hạt thô ở thế hệ thứ hai tăng so với thế hệ nhất và đặc biệt hàm lượng
dầu trong hạt không bị ảnh hưởng Đối với biến dị nhiều quả, nghiên cứu cho thấy
đây là loại biến dị có triển vọng theo hướng lai tạo để tạo ra giống mè mới
Trang 22 Nghiên cứu chọn tạo giống mè mới bằng phương pháp lai hữu tính do tác giả : Nguyễn Thị Hoài Trâm, Tạ Hùng, Đinh Viết Toản (2009 – 2011)
+Kết quả đạt được :
Trong năm 2009, đề tài đã nghiên cứu và thu được các kết quả như sau :
+ Nội dung 1 : Thu thập mẫu giống mè làm vật liệu khởi đầu
→ Kết quả đạt được: Thu thập 16 giống mè từ nguồn giống trong nước và nhập nội Trong đó có 8 dòng và 2 giống của Viện, 5 giống từ Trung Quốc, 1 giống từ Hàn Quốc
STT Tên dòng/giống Nguồn gốc dòng/giống
+ Nội dung 2: So sánh và đánh giá dòng/giống phổ biến
→ Kết quả đạt được: Thí nghiệm đã chọn được 4 giống VDM 3, VDM 8, VDM 9 và VDM 14 là những giống triển vọng cho năng suất cao đạt (1346-1376kg/ha)
Trang 23Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
3.1.1 Thời gian
Thời gian thực hiên đề tài: Từ tháng 4/2011 đến tháng 6/2011
Ngày gieo: 10/4/2011
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Địa điểm thực hiện: tại xã Bàu Đồn, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh
3.1.2.1 Đất thí nghiệm
Thành phần lý hóa đất trước thí nghiệm:
Bảng 3.2: Kết quả phân đất khu thí nghiệm - Tầng đất (0 – 30 cm)
Trang 24Kết quả phân tích đất cho thấy:
Đất có pH thấp Đất chua nên cần bón vôi để cải tạo đất Đất canh tác lúa nhiều năm luân canh với cây mè, tuy có cung cấp bón phân đầy đủ nhưng không bón vôi và khai thác nhiều năm nên đất đã bị chua và hàm lượng N,P,K đều thấp Do đó cần bón thêm vôi để cải tạo đất và bón phân ở đầy đủ để tạo điều kiện cho cây mè có đủ dinh dưỡng phát triển Đất thuộc loại đất sét pha thịt thoát nước không được tốt Vì vậy nên cần xẻ rảnh hay có biện pháp thoát nước khi trời mưa to
3.1.2.2 Điều kiện khí hậu thời tiết
Thời gian Lượng mưa
và đang bước qua sinh trưởng sinh thực nên cần phải tưới nước bổ sung Vào tháng 5 lượng mưa quá cao mà cây đang giai đoạn ra hoa và kết quả làm giảm khả năng thụ phấn và hoa bị rụng nhiều Tháng 6 lượng mưa khá cao cộng với ẩm độ không khí quá cao làm cho việc phơi và chất lượng hạt bị ảnh hưởng Nhìn chung khí hậu không được thuận lợi lắm cho cây mè phát triển
Trang 25Độ ẩm trung bình (%) Nhiệt độ trung bình
Lượng mưa (mm/tháng)
số giờ nắng
Biểu đồ 3.1: Diễn biến khí hậu thời tiết (từ 03/2011 đến 06/2011)
3.2 Nội dung nghiên cứu
Xác định công thức phân bón và mật độ thích hợp để giống mè VDM 3 đạt năng suất cao và chất lượng tốt tại xã Bàu Đồn, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh
3.3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Vật liệu
Giống mè VDM 3: Là giống mè được chọn lọc từ Viện nghiên cứu dầu và cây
có dầu
Phân bón:
Công thức phân bón B1: 90-60-30 (90 kg N - 60 kg P2O5 - 30 kg K2O)
Công thức phân bón B2: 60-60-30 (60 kg N - 60 kg P2O5 - 30 kg K2O)
Phân đạm: Sử dụng dạng Ure 46% (N)
Phân lân: Sử dụng dạng Superlan 16% (P2O5)
Phân kali: Sử dụng dạng Kaliclorua 60% (K2O)
Thuốc bảo vệ thực vật
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu thí nghiệm có lô phụ (split-plot design), 3 lần lặp lại
- Yếu tố A (yếu tố chính – bố trí trên lô phụ): Mật độ
A1: Khoảng cách 25 cm x 5 cm với mật độ 800.000 cây/ha
A2: Khoảng cách 25 cm x 10 cm với mật độ cây 400.000 cây/ha
Trang 26A3: Khoảng cách 25 cm x 15 cm với mật độ cây 266.667 cây/ha
A4: Khoảng cách 25 cm x 20 cm với mật độ cây 200.000 cây/ha
- Yếu tố B (yếu tố phụ - bố trí trên lô chính): Phân bón
Chiều biến thiên
Sơ đồ bố trí thí nghiệm xác định ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến sự sinh trưởng và phát triển của cây mè VDM 3
Diện tích mỗi ô thí nghiệm là: 5 m2
Tổng diện tích các ô thí nghiệm: 8 x 3 x 5 = 120 m2 (chưa kể diện tích các hàng bảo vệ)
Hình 3.1: Toàn cảnh khu vực thí nghiệm ở giai đoạn cây ra hoa 46 NSG
Trang 27Bón lót: toàn bộ phân hữu cơ, lân , vôi, 1/2 ure và 1/2 kali
Bón thúc: khi cây ở giai đoạn 22 ngày sau gieo lượng phân còn lại và kết hợp lần bón thúc này với làm cỏ, vun gốc
Lượng phân bón:
Bón phân theo công thức: 90 – 60 - 30 và 60 – 60 - 30
Phòng trừ sâu bệnh: Xịt thuốc khi có dấu hiệu bệnh và sâu
3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và lấy mẫu
3.4.1 Cách lấy mẫu theo dõi
Trên mỗi ô thí nghiệm chọn 5 điểm chéo góc, mỗi điểm chọn 2 cây để đo đếm chỉ tiêu, chọn 10 cây/ô
Thời gian theo dõi định kỳ 7 ngày/lần
Tổng số cây theo dõi: 10 x 8 x 3 = 240 cây Thời gian theo dõi định kỳ 7 ngày/lần
3.4.2 Các chỉ tiêu theo dõi
3.4.2.1 Các chỉ tiêu về sinh trưởng
¾ Ngày nảy mầm (NSG): Theo dõi sau khi gieo 2 ngày, mỗi ngày theo dõi một lần
¾ Tỷ lệ nảy mầm (%): Tổng số cây mọc mầm/tổng số hạt gieo, tính tỷ lệ mọc mầm ở 7 ngày sau gieo