1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO NGHIỆM HIỆU LỰC CỦA THUỐC ABEAM TOP 525SC PHÒNG TRỪ BỆNH ĐẠO ÔN, LEM LÉP HẠT TRÊN LÚA VỤ HÈ THU 2011 TẠI HUYỆN MỘC HÓA,TỈNH LONG AN

113 363 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA NÔNG HỌC KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP KHẢO NGHIỆM HIỆU LỰC CỦA THUỐC ABEAM TOP 525SC PHÒNG TRỪ BỆNH ĐẠO ÔN, LEM LÉP HẠ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA NÔNG HỌC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

KHẢO NGHIỆM HIỆU LỰC CỦA THUỐC ABEAM TOP 525SC PHÒNG TRỪ BỆNH ĐẠO ÔN, LEM LÉP HẠT TRÊN LÚA

VỤ HÈ THU 2011 TẠI HUYỆN MỘC HÓA,TỈNH LONG AN

NGÀNH: BẢO VỆ THỰC VẬT KHÓA: 2007 – 2011

SINH VIÊN THỰC HIỆN: TRẦN THỊ THANH HỒNG

Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 08/2011

Trang 3

ii

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình học và bài khóa luận này ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi còn có sự giúp đỡ về kiến thức, vật chất, tinh thần của nhiều cá nhân, cơ quan Nay tôi xin chân thành cảm ơn:

Bố mẹ đã hết lòng yêu thương và nuôi dạy con nên người, và mọi người trong gia đình luôn ở bên và động viên con những khi khó khăn nhất

Thầy Nguyễn Hữu Trúc cùng Th.S Nguyễn Thân đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận

Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, Ban Chủ nhiệm khoa Nông Học cùng toàn thể quý thầy cô trong khoa

Ban giám đốc và các cô, chú, anh, chị ở Trung tâm nghiên cứu và phát triển nông nghiệp Đồng Tháp Mười đã tận tình giúp đỡ tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành khóa luận Đặc biệt con xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cô Hồ Thị Châu

Ban giám đốc Công ty cổ phần thuốc sát trùng Việt Nam, K.S Nguyễn Hải Long đã tài trợ và giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt quá trình thực hiện khóa luận

Tất cả bạn bè luôn bên tôi, cùng tôi học tập và trưởng thành

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 02 tháng 08 năm 2010 Sinh viên thực hiện

Trần Thị Thanh Hồng

Trang 4

iii

TÓM TẮT

Đề tài nghiên cứu “Khảo nghiệm hiệu lực của thuốc ABEAM TOP 525SC

phòng trừ bệnh đạo ôn và lem lép hạt trên lúa vụ Hè thu năm 2011 tại huyện Mộc Hoá, tỉnh Long An” được tiến hành từ 03/2011 đến 07/2011 nhằm xác định ảnh

hưởng của thuốc thí nghiệm đến tỉ lệ bệnh, chỉ số bệnh đạo ôn và lem lép hạt trên ruộng lúa sạ đồng thời xác định ảnh hưởng của thuốc đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lúa

Thí nghiệm bố trí ngoài đồng theo kiểu đơn yếu tố khối đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 5 nghiệm thức, 3 lần lặp lại Kết quả thu được như sau:

Trong điều kiện sản xuất vụ Hè Thu và trên giống OM4900, nghiệm thức sử dụng thuốc Abeam top 525 SC có thành phần hoạt chất (Azoxystrobin 200 g/ l + Difenoconazole 125g/ l + Tricyclazole 200g/ l) ở giai đoạn đẻ nhánh, trước trổ và sau trổ có khả năng phòng trừ bệnh đạo ôn lá vượt trội so với các hỗn hợp thuốc nghiệm thức xử lý Amistar 250 SC (Azoxystrobin 200 g/ l + Difenoconazole 125g/ l) đồng thời cho kết quả tương đối tốt hơn so với nghiệm thức xử lý Verygold 460 SC (Azoxystrobin 60 g/l + Tricyclazole 400g/l) và nghiệm thức xử lý Cowboy 600 SE (Difenoconazole 150g/ l + Tricyclazole 450g/ l)

Nghiệm thức được xử lý thuốc Abeam top 525 SC (Azoxystrobin 200 g/ l + Difenoconazole 125g/ l + Tricyclazole 200g/ l) cho tỉ lệ và chỉ số lem thấp hơn các nghiệm thức còn lại Đồng thời cho kết quả rất khả quan với những chỉ tiêu liên quan đến năng suất và làm tăng năng suất thực tế so với nghiệm thức đối chứng không phun thuốc

Trang 5

iv

MỤC LỤC

TRANG TỰA i

TÓM TẮT iii

MỤC LỤC iv

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH SÁCH CÁC HÌNH viii

DANH SÁCH CÁC BẢNG ix

Chương 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu 3

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và ở Việt Nam 4

2.1.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới 4

2.1.2 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam 5

2.2 Bệnh đạo ôn hại lúa 7

2.2.1 Lịch sử nghiên cứu trong và ngoài nước 7

2.2.2 Triệu chứng bệnh 7

2.2.3 Tác nhân gây bệnh 8

2.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát sinh phát triển bệnh 10

2.2.5 Một số biện pháp phòng trừ trong và ngoài nước 11

2.2.5.1 Biện pháp phòng trừ trong nước 11

2.2.5.2 Biện pháp phòng trừ ngoài nước 13

2.3 Bệnh lem lép hạt trên lúa 15

2.3.1 Phân bố 15

2.3.2 Triệu chứng bệnh 15

2.3.3 Tác nhân gây bệnh 15

Trang 6

v

2.3.4 Tác hại 16

2.3.5 Biện pháp phòng trừ tổng hợp 17

2.4 Tổng quan về ba hoạt chất Azoxystrobin, Difenoconazole, Tricyclazole và một số loại thuốc phòng trừ đạo ôn, lem lép hạt trên thị trường 18

2.4.1 Azoxystrobin 18

2.4.2 Difenoconazole 19

2.4.3 Tricyclazole 21

2.4.4 Một số thuốc thương phẩm đặc trị đạo ôn và lem lép hạt 22

2.4.4.1 Beam 75WP 22

2.4.4.2 Fujione 40EC 24

2.4.4.3 Filia 525SE 24

2.4.4.4 Amistar top 325SC 25

2.4.4.5 Fuan 40EC 25

2.4.4.6 Bump gold 80WP 26

Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 27

3.2.1 Điều kiện thời tiết 27

3.2.2 Điều kiện đất đai 28

3.3 Vật liệu nghiên cứu 28

3.3.1 Giống 28

3.3.2 Phân bón 28

3.3.3 Kỹ thuật canh tác 29

3.3.4 Thuốc sử dụng trong thí nghiệm 29

3.4 Phương pháp nghiên cứu 29

3.4.1 Các nghiệm thức thí nghiệm 30

3.4.2 Bố trí thí nghiệm 30

3.4.3 Phương pháp đánh giá hiệu lực thuốc 31

3.4.3.1 Phương pháp xử lý thuốc 31

3.4.3.2 Đánh giá hiệu lực thuốc phòng trừ bệnh đạo ôn, lem lép hạt 32

Trang 7

vi

3.4.3.3 Ảnh hưởng của thuốc đến các chỉ tiêu cấu thành năng suất và năng suất

lúa 38

3.4.3.4 Xử lý số liệu 40

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 41

4.1 Ảnh hưởng của các loại thuốc đến bệnh đạo ôn ở các thời điểm xử lý thuốc 41

4.1.1 Ảnh hưởng của các loại thuốc đến bệnh đạo ôn lá 41

4.1.1.1 Ảnh hưởng của các loại thuốc đến tỉ lệ đạo ôn lá 41

4.1.2 Ảnh hưởng của các loại thuốc đến bệnh đạo ôn cổ bông 49

4.1.2.1 Ảnh hưởng của các loại thuốc đến tỉ lệ bệnh đạo ôn cổ bông 49

4.1.2.2 Ảnh hưởng của các loại thuốc đến chỉ số bệnh đạo ôn cổ bông 51

4.2 Hiệu lực đối với bênh lem lép của các loại thuốc 55

4.5 Các yếu tố cấu thành năng suất 59

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 64

5.1 Kết luận 64

5.2 Đề nghị 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

Trang 8

ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long

EC: Emulsifuable Concentrate

FAO: Food and Agriculture Organization

Trang 9

viii

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình 3.1: Toàn cảnh lô thí nghiệm 7 ngày trước thu hoạch 31

Hình 3.2: Bảng so màu lá lúa 38

Hình 4.1: Vết bệnh đạo ôn ghi nhận trên ruộng ở 25 ngày sau sạ 47

Hình 4.2: Vết bệnh đạo ôn ghi nhận trên ruộng ở 30 ngày sau sạ 48

Hình 4.3: Vết bệnh đạo ôn cổ bông ghi nhận trên ruộng thí nghiệm ở 90 ngày sau sạ 55 Hình 4.4: Hạt lúa bị bệnh lem lép 57

Hình 4.5: Thu hoạch mẫu 62

Hình 4.6: 20 bông thu hoạch ngẫu nhiên ở các nghiệm thức 62

Hình 4.7: Phơi mẫu 63

Hình 4.8: Dụng cụ đếm hạt lúa và cân điện tử 63

Trang 10

ix

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Tình hình thời tiết, khí hậu vụ Hè thu năm 2011 27

Bảng 3.2: Các nghiệm thức thí nghiệm 30

Bảng 3.3: Phân cấp bệnh đạo ôn trên lá 33

Bảng 3.4: Phân cấp bệnh đạo ôn cổ bông 35

Bảng 3.5: Phân cấp bệnh lem hạt lúa 37

Bảng 3.6: Bảng phân cấp tính ngộ độc 39

Bảng 4.1: Ảnh hưởng của các loại thuốc đến tỉ lệ bệnh đạo ôn lá 41

Bảng 4.2: Ảnh hưởng của các loại thuốc đến chỉ số bệnh đạo ôn lá 43

Bảng 4.3: Hiệu lực của các loại thuốc đối với bệnh đạo ôn lá 45

Bảng 4.4: Ảnh hưởng của các loại thuốc đến chỉ số bệnh đạo ôn cổ bông 49

Bảng 4.3: Hiệu lực của các loại thuốc đối với bệnh đạo ôn lá 51

Bảng 4.6: Hiệu lực của các loại thuốc đối với bệnh đạo ôn cổ bông 53

Bảng 4.7: Hiệu lực của các loại thuốc đối với bệnh lem lép hạt 5

5 Bảng 4.8: Cấp độ ngộ độc của cây lúa quan sát bằng mắt thường sau mỗi lần xử lý thuốc 57

Bảng 4.9 : Ảnh hưởng của thuốc tới màu sắc lá lúa sau mỗi lần xử lý thuốc 58

Bảng 4.10: Ảnh hưởng của thuốc đến yếu tố cấu thành năng suất và năng suất 59

Trang 11

1

Chương 1

MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Cây lúa (Oryza sativa L.) là một cây lương thực chính có vai trò rất quan trọng

trong nền sản xuất nông nghiệp không những ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước trên thế giới Hiện nay có khoảng 60- 70% dân số thế giới sử dụng lúa gạo làm lương thực chính, riêng châu Á tỉ lệ này đạt 90– 95 % Ở Việt Nam, dân số trên 80 triệu và 100% người dân Việt Nam sử dụng lúa gạo làm lương thực chính.Thành phần dinh dưỡng trong hạt gạo tương đối đầy đủ các chất dinh dưỡng như tinh bột chiếm 60- 88%, protein dao động từ 7 – 14% Ngày nay có trên dưới 114 nước trồng lúa mà chủ yếu tập trung ở châu Á trên 90% Cây lúa có thể thích nghi được ở nhiều địa phương và nhiều vùng khí hậu khác nhau Ở nước ta cây lúa được trồng khắp các tỉnh từ Bắc tới Nam Đến 2009 tổng diện tích lúa nước ta đạt 7,44 triệu ha với tổng sản lượng 38,89 tấn (Tổng Cục Thống Kê) Trong lịch sử phát triển của nước ta cây lúa đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội, chính trị Đặc biệt trong những năm gần đây kim ngạch xuất khẩu gạo không ngừng tăng đóng góp nguồn ngoại tệ lớn cho đất nước Năm 2009 Việt Nam xuất khẩu 6,052 triệu tấn gạo kim ngạch đạt 2,464 tỉ USD đến năm 2010 lượng gạo xuất khẩu đã lên đến 6,754 triệu tấn đạt kim ngạch 2,912 tỉ USD (Hiệp Hội Lương Thực Việt Nam)

Như ta đã thấy tầm quan trọng và tiềm năng to lớn của ngành sản xuất lúa gạo ở Việt Nam cũng như trên thế giới Tuy nhiên, một trở ngại rất lớn cho ngành sản xuất lúa gạo là cùng với mức độ thâm canh cao, tăng mùa vụ thì sự xuất hiện của dịch hại sâu, bệnh ngày càng nhiều và càng nghiêm trọng hơn Bệnh đạo ôn do nấm

Pyricularia grisea gây ra và bệnh lem lép hạt do nhiều nguyên nhân gây ra là một

Trang 12

2

trong những bệnh hại quan trọng gây thiệt hại nghiêm trọng (Ou, 1985) Mỗi năm trên thế giới bệnh đã làm thiệt hại một lượng lương thực có thể nuôi sống 60 triệu người (IRRI, 2010) nghiêm trọng nhất là ở một số nước như Nhật Bản hàng năm có khoảng 865.000 hecta lúa bị nhiễm bệnh làm giảm năng suất lúa từ 10– 20%, Trung Quốc giảm từ 10– 1 % năng suất, Ấn Độ mất 266.000 tấn tương đương 0,8% sản lượng, đặc biệt Philippines hằng năm mất lớn hơn 50% sản lượng Ở nước ta, từ năm 1955– 1961 bệnh đã phát sinh phá hại nghiêm trọng nhiều nơi ở miền Bắc như Hải Phòng, Thái Nguyên, Ninh Bình, Bắc Giang, Hà Đông Trong mấy năm gần đây dịch bệnh đạo ôn thường xuyên xảy ra ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ và đồng bằng Trung du Bắc

Bộ, đáng lưu ý nhất là ở vụ Đông Xuân 1992 - 1993 tại các tỉnh Phú Yên, Quảng Nam – Đà Nẵng và Thừa Thiên Huế Theo Cục Bảo Vệ Thực Vật (Bộ NT và PTNT) vụ Đông Xuân 2009 bệnh đạo ôn hại lá bùng phát tại 10 tỉnh: Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình, Hải Phòng, Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nam, Bình Thuận, Hà Nội, Điện Biên Trong đó nặng nhất là Thái Bình 35.000 ha Theo báo cáo của Trung tâm Bảo vệ thực vật phía Nam, trong vụ Đông Xuân 2008- 2009, tính đến ngày 23/02/2009 diện tích nhiễm bệnh cháy lá ở ĐBSCL là 87.629 ha, tăng 14.355 ha so với vụ Đông Xuân 2007

- 2008 (73.274 ha)

Hiện nay có nhiều biện pháp để phòng bệnh trừ đạo ôn, lem lép hạt nhưng biện pháp sử dụng thuốc hóa học được xem là phổ biến và hiệu quả nhất Chính vì vậy đề

tài “Khảo nghiệm hiệu lực của thuốc ABEAM TOP 525SC phòng trừ bệnh đạo

ôn và lem lép hạt trên lúa vụ Hè thu năm 2011 tại huyện Mộc Hoá, tỉnh Long An”

Trang 13

3

1.2.2 Yêu cầu

Xác định ảnh hưởng của thuốc thí nghiệm đến tỉ lệ và chỉ số bệnh đạo ôn và lem lép hạt trên ruộng lúa sạ tại huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An

Xác định ảnh hưởng của thuốc thí nghiệm đến các yếu tố cấu thành năng suất

và năng suất lúa

Trang 14

4

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và ở Việt Nam

2.1.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới

Theo thống kê của FAO (2010), diện tích canh tác lúa toàn thế giới năm 2008 là 158,96 triệu ha, năng suất bình quân là 4,31 tấn/ ha, sản lượng là 685,013 triệu tấn Trong đó, diện tích lúa của châu Á là 141,96 triệu ha, chiếm 89,31% tổng diện tích lúa toàn cầu, kế đến là châu Phi 9,53 triệu ha (5,9%), châu Mỹ 6,86 triệu ha (4,32%), châu

Âu 0,60 triệu ha (0,38%), châu Đại Dương 27,54 nghìn ha chiếm tỉ trọng không đáng

kể Những nước có diện tích lúa lớn nhất là Ấn Độ 44 triệu ha; Trung Quốc 29,49 triệu ha; Indonesia 12,31 triệu ha; Bangladesh 11,74 triệu ha; Thái Lan 10,25 triệu ha; Myanmar 8,20 triệu ha và Việt Nam 7,41 triệu ha

Mỹ và Trung Quốc là hai nước có năng suất lúa dẫn đầu thế giới với số liệu tương ứng của năm 2008 là 7,67 và 6,56 tấn/ ha Việt Nam có năng suất lúa 5,22 tấn/

ha trong khi năng suất bình quân của thế giới là 4,31 tấn/ ha và chỉ đạt 68,06% so với năng suất lúa bình quân của Mỹ

Những nước có sản lượng lúa nhiều nhất thế giới năm 2008 là Trung Quốc 193,54 triệu tấn, kế đến là Ấn Độ 148,26 triệu tấn; Indonesia 60,25 triệu tấn; Bangladesh 46,91 triệu tấn; Việt Nam 38,73 triệu tấn; Myanmar 30,50 triệu tấn và Thái Lan 30,47 triệu tấn

Theo Daniel Workman (2008), thị trường gạo toàn cầu năm 2007 ước đạt 30 triệu tấn Trong đó châu Á xuất khẩu 22,1 triệu tấn, chiếm 76,3% sản lượng gạo xuất khẩu toàn cầu, kế đến là Bắc và Trung Mỹ 3,1 triệu tấn (10,6%), châu Âu 1,6 triệu tấn

Trang 15

5

(5,4%); Nam Mỹ 1,2 triệu tấn (4,2%); châu Phi 952 ngàn tấn (3,3%) 6 nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới năm 2007 là Thái Lan 10 triệu tấn chiếm 34,5% của tổng lượng gạo xuất khẩu, Ấn Độ 4,8 triệu tấn (16,5%), Việt Nam 4,1 triệu tấn (14,1%), Mỹ 3,1 triệu tấn (10,6%), Pakistan 1,8 triệu tấn (6,3%), Trung Quốc (bao gồm cả Đài Loan) là

kể như: Ấn Độ, Pakixtan, Trung Quốc và Mỹ

2.1.2 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam

Việt Nam là nước có truyền thống trồng lúa với nền văn minh lúa nước trên 4.000 năm lịch sử Chang (1976) cho rằng Việt Nam nằm trong vùng địa lý được xem như là khởi nguyên của cây lúa, chạy dài từ chân núi Hi Mã Lạp Sơn cho đến bờ Biển Đông (trích dẫn Nguyễn Ngọc Đệ) Việt Nam nằm trên kinh tuyến 15 và giữa vĩ độ

8oB- 23 oB và được chia thành 7 vùng sinh thái nông nghiệp (Miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây nguyên, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long) Cây lúa có thể sinh sống và thích nghi trong nhiều điều kiện khác nhau: lúa rẫy, lúa nước trời, lúa nước sâu, lúa nổi; với nhiều điều kiện đất đai khác nhau như phèn, mặn, phù sa, thành phần cơ giới từ sét nặng đến cát pha; chịu được nóng, lạnh, khô, hạn ở các vĩ độ, cao độ vô cùng thay đổi mà không phải loài cây lương thực nào cũng có thể có những tính trạng vô cùng đa dạng như vậy Lúa gạo

Trang 16

6

cung cấp nguồn lương thực, tạo việc làm cho hàng triệu người, đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội, chính trị trong lịch sử phát triển đất nước Việt Nam Lúa gạo cung cấp dinh dưỡng chính: tinh bột, vi lượng trong gạo lứt có nhiều dạng protein cần thiết, chất béo, thiamin, robiflavin, niacin, α-tecopherol, các hoạt chất cần cho bệnh nhân huyết áp cao, chống oxit hóa tế bào ngăn ngừa ung thư

Vào những năm đầu của thế kỷ XX, Việt Nam nằm dưới sự đô hộ của thực dân Pháp Việc phát triển sản xuất lúa gạo của Việt Nam trong một thời gian dài chủ yếu phục vụ quyền lợi của người Pháp Nông dân Việt Nam lâm vào cảnh khốn khó vô cùng Nạn đói với 2 triệu người chết trong năm 1945 là một minh chứng

Cách mạng xanh được thực hiện trên thế giới từ giữa những năm 1960 Việt Nam là một trong những nước tiên phong của phong trào này Và đến năm 2000, diện tích lúa được tưới chiếm 65 %, và đạt 85 % hiện nay; đó là tiền đề quan trọng cho sự gia tăng năng suất lúa

Việt Nam đã nhanh chóng tiếp thu những tiến bộ từ cách mạng xanh Những năm trước đổi mới, sản lượng thóc chỉ đạt 15,87 triệu tấn đến năm 2008 thì sản lượng thóc đạt 38,89 triệu tấn, gấp 2,4 lần (Tổng Cục Thống Kê, 2011) Đây là một tốc độ tăng hiếm gặp, cũng là cao nhất trong khu vực và cao nhất những nước trồng lúa trên thế giới

Từ năm 1987 đến 2008 diện tích lúa của nước ta từ 5,60 triệu ha năm 1987 tăng lên 7,67 triệu ha năm 2000, sau đó giảm dần và đạt 7,44 triệu ha năm 2008 Năng suất lúa từ 2,69 tấn/ ha năm 1987 tăng lên 4,24 tấn/ ha năm 2000, sau đó liên tục tăng và đạt 5,22 tấn/ ha năm 2008 gấp 1,9 lần so với năng suất lúa năm 1987 (Faostat, 2010)

Những thành tựu trên cho thấy tiềm năng to lớn của cây lúa Tuy nhiên, muốn phát triển ngành sản xuất lúa việc trước tiên phải chú trọng phòng trừ các loại dịch hại

Trang 17

7

2.2 Bệnh đạo ôn hại lúa

2.2.1 Lịch sử nghiên cứu trong và ngoài nước

Từ xa xưa ở Italia, Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Ấn Độ… người ta đã nhắc đến bệnh đạo ôn Bệnh được phát hiện đầu tiên ở Italia năm 1560 sau đó là ở Trung Quốc năm 1637, Nhật Bản năm 1760, Mỹ năm 1906, và ở Ấn Độ cũng đã phát hiện được bệnh vào năm 1913 Nấm gây bệnh được Gavara ở Italia đặt tên năm 1891 và Shirai ở Nhật mô tả năm 1896 Hiện nay bệnh được coi là bệnh chính của lúa vì bệnh phân bố rộng và gây tác hại nghiêm trọng Bệnh xảy ra trên mạ hoặc lúa đẻ nhánh thường làm lúa chết hoàn toàn Vào cuối thời kỳ sinh trưởng, đạo ôn cổ bông và gié làm hạt lúa bị khô lép Bệnh đặc biệt nghiêm trọng ở Nhật Bản, Ấn Độ và Philippin

Ở nước ta, Vineens (Pháp) đã phát hiện thấy bệnh đạo ôn ở Nam Bộ năm 1921 Năm 1951 Roger (Pháp) lại phát hiện thấy bệnh ở Bắc Bộ, nhưng cho rằng bệnh không phổ biến và tác hại không đáng kể Thực tế trong những năm 1955 – 1961 bệnh đạo ôn

đã phát sinh phá hoại nghiêm trọng nhiều nơi trên miền Bắc nước ta như Hải Phòng, Thái Nguyên, Ninh Bình, Bắc Giang, Hà Đông, riêng Hà Đông năm 1961 bệnh làm mất trắng 2.000 ha lúa Từ năm 1955, Đường Hồng Dật đã tiến hành điều tra nghiên cứu bệnh đạo ôn Năm 1991−1995 Ngô Vĩnh Viễn và nhóm ctv đã thực hiện một số nghiên cứu về bệnh đạo ôn Năm 1996 – 1997 nhóm nghiên cứu của GS.TS Hà Minh Trung “Nghiên cứu bệnh đạo ôn hại lúa ở các tỉnh ven biển miền Trung và đồng bằng Bắc Bộ”

2.2.2 Triệu chứng bệnh

Bệnh đạo ôn có thể phát sinh từ thời kỳ mạ đến lúa chín và có thể gây hại ở bẹ

lá, lá, lóng thân, cổ bông, gié và hạt

Bệnh trên mạ: Vết bệnh trên lá mạ lúc đầu hình bầu dục nhỏ sau đó tạo thành hình thoi nhỏ hoặc dạng tương tự hình thoi, màu nâu hồng hoặc nâu vàng Khi bệnh

Trang 18

có màu nâu xám Trên các giống chống chịu chỉ quan sát thấy những đốm nâu li ti bằng đầu đinh ghim Trên các giống trung gian, vết bệnh hình tròn hoặc hình bầu dục nhỏ xung quanh vết bệnh có viền màu nâu (Vũ Triệu Mân, 2007)

Vết bệnh ở cổ bông, cổ gié và trên hạt lúa: các vị trí khác nhau của hạt lúa đều

có thể bị bệnh với triệu chứng các vết màu nâu xám hơi teo thắt lại Vết bệnh trên cổ bông xuất hiện sớm thì bông lúa bị lép, bạc lạc, nếu bệnh xuất hiện muộn khi hạt đã vào chắc thì gây hiện tượng gãy cổ bông Vết bệnh ở hạt không định hình, có màu nâu xám hoặc nâu đen (Vũ Triệu Mân, 2007)

2.2.3 Tác nhân gây bệnh

Nấm Pyricularia grisea (Cooke) Saccardo (tên cũ là Pyricularia oryzae Cav.et

Bri.) thuộc họ Moniliaceae, bộ Moniliales, lớp nấm bất toàn Giai đoạn hữu tính

Magnaportha grisea (Thieron và ctv., 1995) thuộc lớp nấm túi

Hình thái nấm Pyricularia grisea

Theo Giáo trình bệnh cây chuyên khoa của Vũ Triệu Mân (2007) Cành bào tử phân sinh hình trụ, đa bào không phân nhánh, đầu cành thon và hơi gấp khúc Nấm thường sinh ra các cụm cành từ 3 – 5 chiếc Bào tử phân sinh hình quả lê hoặc hình nụ sen, thường có từ 2 – 3 ngăn ngang, bào tử không màu, kích thước trung bình của bào

tử nấm 19 – 23 x 10 – 12 µm Nhìn chung kích thước của bào tử nấm biến động phụ thuộc các mẫu phân lập điều kiện ngoại cảnh khác nhau cũng như trên các giống lúa khác nhau

Trang 19

9

Sợi nấm phát triển và sinh bào tử tốt nhất ở 280C Ở nhiệt độ này bào tử sinh ra rất nhanh và giảm dần sau 9 ngày Ở nhiệt độ 16 - 240C thì bào tử được sinh ra chậm nhưng có chiều hướng gia tăng sau 15 ngày Trên bề mặt vết bệnh bào tử chỉ tạo ra khi

ẩm độ không khí trên 93%, ẩm độ càng cao thì tốc độ sinh bào tử càng nhanh Bào tử nảy mầm tốt nhất trong điều kiện nhiệt độ 25 - 280C, có lớp nước tự do hay ẩm độ không khí bão hòa (Võ Thanh Hoàng, 1993; Ou 1983; Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998)

Bào tử nấm Pyricularia oryzae phát triển tốt trong điều kiện nhiệt độ mát từ 25

- 280C, nẩy mầm phải có giọt nước, ẩm độ không khí phải trên 93% (Võ Thị Thu Oanh, 2004)

Để sinh bào tử nấm cần có sự chiếu sáng tối xen kẽ Bào tử được sinh chủ yếu vào ban đêm ngay khi trời vừa tối và đạt cao điểm trong 1 - 2 giờ, sau đó giảm dần và ngừng hẳn khi trời sáng Nấm bắt đầu sinh bào tử vào 6 ngày sau khi chủng Một vết bệnh điển hình có thể sinh 2.000 - 6.000 bào tử/ ngày, trong 14 ngày, cao điểm vào 3 -

8 ngày sau khi lộ vết bệnh ở lá (Võ Thanh Hoàng, 1993)

Cơ chế gây bệnh:

Bào tử nấm nảy mầm cho ra sợi nấm, sợi nấm sau đó hình thành đĩa áp để tạo

áp lực đủ mạnh nhằm đâm xuyên qua lớp Cutin của tế bào biểu bì Đồng thời, đĩa áp cũng tạo ra enzyme Cutinase để phá hủy lớp Cutin hoặc lớp tế bào mô bần khi xâm nhập Tức là kết hợp tác động hóa học với tác động cơ học để xâm nhập Ngoài ra, khuẩn ty còn có thể xâm nhập vào khí khổng của tế bào lá (Phạm Văn Kim, 2000)

Độc tố của nấm: mô cây bị bệnh cháy lá lúa có hai độc chất: Acid Picolynic

(C6H5NO2) và Piricularin (C18H14N2O3) Ngoài việc hút chất dinh dưỡng của cây lúa, hai độc tố này còn phá hủy các men chứa kim loại Piricularin phá hủy men hô hấp bên trong tế bào cây làm cho tế bào này không còn hô hấp và chết đi Ngoài ra Piricularin còn kích thích cây lúa tích tụ nhiều Coumarin làm cho cây lúa bị lùn đi Coumarin là

Trang 20

10

kích thích tố tăng trưởng khi sử dụng nồng độ cao thì sẽ kìm hãm sự phát triển của cây lúa (Ou, 1983)

2.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát sinh phát triển bệnh

Thời tiết khí hậu: Ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự gây bệnh và phát triển của

bệnh đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu Nấm đạo ôn ưa nhiệt độ tương đối thấp

20 – 28oC Khi mạ sinh trưởng ở nhiệt độ đất khác nhau, bệnh xảy ra hầu như nghiêm trọng trên các cây mọc ở nhiệt độ 20oC Ẩm độ không khí và ẩm độ đất có tác động lớn đến tính mẫn cảm của cây đối với sự lây lan và phát triển của bệnh Cây lúa trở nên mẫn cảm khi mọc trên đất khô, ẩm độ đất thấp hoặc ở điều kiện úng ngập Ẩm độ không khí cao thuận lợi cho bệnh phát triển Ở những vùng nhiệt đới mưa thường xuyên kéo dài thuận lợi cho bệnh phát triển gây hại nghiêm trọng

Yêu tố giống: Đặc tính của giống có ảnh hưởng rất lớn tới mức độ phát triển

của bệnh ở trên đồng ruộng Những giống nhiễm bệnh nặng (giống mẫn cảm) không những là điểm bệnh phát sinh ban đầu mà còn là điều kiện cho bệnh dễ dàng lây lan hàng loạt hình thành nên dịch bệnh trên đồng ruộng Đặc tính chống bệnh của cây tăng khi tỉ số SiO2 / N tăng

Yếu tố dinh dưỡng

+ Ảnh hưởng của phân đạm tới bệnh biến động tùy theo loại đất, phương pháp bón và diễn biến khí hậu khi bón cho cây Khi sử dụng đạm tác dụng nhanh như Amonium sunphate quá nhiều, quá muộn hoặc bón vào lúc nhiệt độ không khí thấp và cây còn non đều làm tăng tỉ lệ bệnh và mức độ gây hại của bệnh Phân bón lá làm bệnh phát triển nặng hơn (Võ Thanh Hoàng, 1993)

Trang 21

11

+ Ảnh hưởng của phân lân: phân lân ít ảnh hưởng đến mức độ nhiễm bệnh của cây Bón lân ở liều lượng nào đó với đất nhiều lần có thể làm giảm tỉ lệ bệnh, nhưng nếu sử dụng phân lân không hợp lý bệnh vẫn có thể tăng

+ Ảnh hưởng của phân kali: nếu bón thừa kali trên nền đạm cao thì bệnh sẽ gia

tăng, nếu có bón thêm magnesium khi bón kali thì bệnh sẽ giảm (Võ Thanh Hoàng, 1993; Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998) Bón kali trên nền đạm cao sẽ làm gia tăng bệnh so với trên nền đạm thấp Trong đất giàu kali nếu tăng kali bón vào trên nền đạm cao cũng có thể làm tăng mức độ bệnh của cây (Vũ Triệu Mân, 1998) Cơ chế của việc bón nhiều phân kali làm gia tăng bệnh thì chưa nhưng người ta thấy ở lá lúa được bón nhiều kali thì khi có sương đọng sẽ kích thích sự hình thành đĩa bám của bào tử nấm

+ Ảnh hưởng của phân Silic: Mức silic có tác dụng làm giảm bệnh của cây Mức độ nhiễm bệnh của cây tỉ lệ nghịch với hàm lượng silic trong cây do đó bón nhiều silic sẽ làm giảm mức độ bệnh của cây

Yếu tố đất: Những chân ruộng nhiều mùn, khó thoát nước, những vùng đất

mới vỡ hoang, đất nhẹ giữ nước kém, khô hạn và những chân ruộng có lớp sét nông rất

phù hợp cho nấm bệnh đạo ôn phát triển và gây hại

2.2.5 Một số biện pháp phòng trừ trong và ngoài nước

2.2.5.1 Biện pháp phòng trừ trong nước

Để hạn chế bệnh phát sinh phát triển gây hại, nên diệt sạch cỏ dại, rơm rạ có chứa mầm bệnh trước khi canh tác

Theo Lê Lương Tề (2005) và Võ Thanh Hoàng (1993), đưa ra một số biện pháp phòng trị bệnh cháy lá (đạo ôn lúa):

Trang 22

12

- Dự báo bệnh: muốn phòng trị bệnh có hiệu quả cao cần có biện pháp dự báo

để sớm phát hiện bệnh và áp dụng biện pháp phòng trị kịp thời

- Sử dụng giống kháng: theo Nguyễn Thị Nghiêm và Võ Thanh Hoàng (1999)

có sự tương quan tính kháng cháy lá và tính kháng thối cổ gié của một số giống lúa Sở

dĩ có hiện tượng một số giống kháng cháy lá ở giai đoạn đầu nhưng lại nhiễm thối cổ gié ở giai đoạn sau là do sự thay đổi dòng gây bệnh của nấm ở cuối vụ Trong khi đó việc lai tạo ra những giống kháng bền vững với bệnh cháy lá là rất khó, tuy nhiên có một số giống như IR 9729, IR 64, IR 42,…hiện nay vẫn tương đối bền vững với bệnh này (Phạm Văn Dư, 1997) Sử dụng nguồn giống này để trồng trong các vụ hoặc vùng thường xuyên bị đạo ôn gây hại nặng

- Xử lí hạt giống: xử lý hạt giống bằng cách ngâm trong nước ấm (ba sôi và hai

lạnh) trong 15 phút hoặc dùng các dung dịch thuốc trừ bệnh khác thì cũng có hiệu quả ngăn cản sự phát triển của bệnh sau này (Võ Tòng Xuân, 1984; Nguyễn Ngọc Đệ, 1994)

+ Bón phân cân đối, nhất là phân đạm tránh dùng nhiều phân đạm nhất là phân

SA Không nên phun trên lá, nên bón với liều lượng dưới 100 kg đạm nguyên chất/ ha, tăng cường sử dụng phân hữu cơ, không thúc đạm khi bệnh đang phát triển trên ruộng

+ Vệ sinh đồng ruộng sau khi thu hoạch, dọn sạch rơm rạ, cỏ là nơi bệnh lưu tồn cho vụ sau

Trang 23

13

- Biện pháp hóa học: theo Reissig và ctv (1993) nhiều loại thuốc trừ nấm có

thể kiểm soát được bệnh cháy lá lúa và thối cổ gié Trong đó, hỗn hợp Bordeaux và các hợp chất đồng khác có thể kiểm soát bệnh nhưng chủ yếu ngừa bệnh lây lan, không thể kiểm soát khi bệnh quá trầm trọng và đôi khi có thể gây độc cho lúa

* Các kháng sinh

+ Blasticidin - S: là sản phẩm của xạ khuẩn Streptomyces griseochromogenes

thuốc có khả năng thẩm thấu vào tế bào cây nên có tác dụng chữa trị ngăn cản việc thành lập và phát triển của vết bệnh cũng như việc tạo bào tử nấm Thuốc được phun ở nồng độ 20 ppm hay phun bột 0,2 - 0,4%, nếu phun quá liều lúa sẽ bị ngộ độc (Nguyễn Thị Nghiêm và Võ Thanh Hoàng, 1999)

+ Kasugamycin: thuốc này có khả năng lưu dẫn trị bệnh Do việc ức chế sự

nẩy mầm của bào tử nấm kém nên nấm có thể quen thuốc do đó thường trộn chung với copper oxichloride để có Kasuran và được sử dụng ở nồng độ là 0,1 - 0,2%

+ Phun thuốc khi bệnh mới xuất hiện Các loại thuốc có thể sử dụng như: Fuji – one, Beam, Filia, Amistar top, Fuji- one, Fuan

2.2.5.2 Biện pháp phòng trừ ngoài nước

Ở Nhật, biện pháp hóa học được sử dụng rất rộng rãi để phòng trừ bệnh đạo ôn Thuốc hóa học đã dùng trong những năm trước đây là các hợp chất đồng Bokuta đầu tiên đã thấy phun bordeaux có hiệu quả trong việc phòng trừ bệnh đạo ôn trên ruộng Sau đại chiến thế giới lần thứ hai, các thuốc đồng trừ nấm được dùng hỗn hợp với Phenylmercuric axetat (PMA) có hiệu lực phòng trừ đạo ôn cao hơn so với chỉ dùng thuốc đồng

Dự báo bệnh: do có một số lượng lớn thuốc hóa học được dùng để phòng trừ bệnh đạo ôn nên Nhật Bản có một hệ thống dự báo rất tinh vi, nhằm mục đích xác định thời gian sử dụng thuốc trừ nấm thích hợp nhất

Trang 24

14

Ở bang Madras (Ấn Độ), công tác tạo giống chống bệnh đạo ôn bắt đầu sớm trong những năm 1920 và đã phát hiện thấy giống CO4, giống TKM1 chống được bệnh Ở Nhật Bản hệ thống tạo giống chống bệnh bắt đầu hoạt động năm 1927, từ đó đến nay người ta đã tạo ra rất nhiều để phát triển các giống chống bệnh đạo ôn

Ngoài việc sử dụng thuốc hóa học và giống chống bệnh, ở Nhật Bản còn thực hiện các biện pháp canh tác thích hợp để phòng trừ bệnh đạo ôn Các kỹ thuật canh tác được sử dụng phù hợp với chương trình phòng trừ Thời vụ trồng lúa đã được chứng minh là một nhân tố quan trọng trong việc phát triển bệnh, ở Nhật thời vụ sớm thường

ít bị bệnh hơn so với thời vụ muộn (S.H.Ou, 1980)

Trang 25

2.3.2 Triệu chứng bệnh

Triệu chứng của bệnh thể hiện trên vỏ trấu, trong hạt gạo hay cả vỏ và hạt (Ou, 1982) Hạt lúa bị nhiễm bệnh sẽ mất màu vàng sáng, vỏ trấu sậm màu biến đổi từ nâu đến đen, từ đen lốm đốm đến đen toàn bộ vỏ trấu bao gồm cả trên hạt lúa có gạo và hạt lúa lép không có gạo ở giai đoạn cây lúa còn trên đồng ruộng trước khi thu hoạch

2.3.3 Tác nhân gây bệnh

Bằng nhiều phương pháp khác nhau người ta đã kiểm tra trên các vết lem của hạt lúa và phát hiện được nhiều loài vi sinh vật trong đó phần lớn là nấm, một số ít trường hợp là vi khuẩn Như vậy có thể có thể khẳng định tác nhân trực tiếp gây nên

sự biến màu trên vỏ hạt lúa là các vi sinh vật

Theo kết quả điều tra nghiên cứu của Viện Bảo vệ thực vật (1995), Trung tâm Bảo vệ thực vật phía Nam (1997), Viện lúa ĐBSCL (2000) kết hợp với tài liệu nước ngoài xác định bệnh lem lép hạt do nhiều nguyên nhân gây:

Do nhện gié: nhện gié thường sống trong các bẹ lá lúa khi mật số cao chúng có thể bò lên bông lúa chích hút các gié lúa đang phát triển, các bông lúa bị hại thường mọc thẳng đứng và phần lớn số hạt đều bị lép

Trang 26

16

Do vi khuẩn Pseudomonas glumae (tên mới Bukhoderia glumae) làm thối đen

hạt hoặc gây vết bệnh trên vỏ hạt

Do các loại nấm: Alternaria padwickii, Bipolaris oryzae, Fusarium sp.,

Curvularia lunata, Microdochium oryzae, Phoma sp., Pyricularia oryzae, Sarocladium oryzae, Septoria sp, Tilletia barclayana, Ustilagonoides virens…

Theo Agarwal và ctv (1989) những nấm liên quan đến bệnh lem lép hạt lúa có thể chia thành hai nhóm, một nhóm nấm ngoài đồng (nhiễm trước khi thu hoạch) và nhóm nấm mốc gây hại giai đoạn sau thu hoạch Nhóm nấm thường gặp ngoài đồng là:

Alternaria padwickii, Bipolaris oryzae, Fusarium sp., Curvularia spp., Prycularia grisea, Fusarium moniliforme, F graminearum, Nigrospora oryzae, Epicoccum nigrum, Dichitomophthoropsis nymphacearum, Heterosporium echinulatum, Sarocladium oryzae Nhóm nhiễm vào hạt sau thu hoạch gồm Aspergillus sp., Penicillium sp., Mucor sp và Rhizopus spp

Con đường lan truyền và lây nhiễm bệnh:

Thường thì các bào tử nấm và vi khuẩn tồn tại trên vỏ hạt lúa Khi hạt lúa nảy mầm sợi nấm cũng phát triển làm khô chết mầm hoặc gây hại cây con Hầu hết các loài nấm và vi khuẩn trên đều có thể gây bệnh cho cây lúa chủ yếu là trên lá Từ các vết bệnh trên lá các bào tử nấm và vi khuẩn lan truyền sang vỏ hạt lúa từ giai đoạn lúa trổ đến khi lúa chín làm cho hạt lúa bị lem lép

Ngoài ra các bào tử nấm và vi khuẩn còn có thể tồn tại trong rơm rạ và cỏ dại

2.3.4 Tác hại

Vi sinh vật gây hại trên đồng ruộng để lại nhiều tác hại khác nhau Các nấm kí sinh ngoài đồng ruộng làm hạt kém phẩm chất và nảy mầm kém, làm mạ bị cháy và bị nhiều bệnh khác (Ou, 1983) Các nấm mốc trong kho ngoài tác hại làm giảm tỉ lệ nảy mầm và giảm phẩm chất hạt còn sản sinh ra độc tố Theo Uraguchi (1942), nấm

Trang 27

17

Penicillium sp vừa làm hạt biến màu vàng vừa sinh độc tố, Iizuka (1958) cũng tìm

thấy trên hạt lúa bị bệnh lem lép hạt một độc tố gây độc cho chuột

Hạt giống bị nhiễm nấm Helminthosporium oryzae, cây mạ sẽ bị đốm nâu

Bệnh có thể giết chết 50% cây mạ, làm giảm phẩm chất và trọng lượng hạt Hạt giống

bị bệnh tỉ lệ nảy mầm kém trên tất cả các giống lúa (Imolethin, 1983)

Nấm Fusarium moniliforme (giai đoạn hữu tính là Gibberella fujikuroi) là tác

nhân gây bệnh lúa von Nấm này làm cho hạt không nảy mầm hoặc mầm chết, cây còn sống mọc vống lên màu vàng nên còn gọi là bệnh lúa đực (Ou, 1983) Bệnh gây hại nặng ở từng vùng hoặc những vụ mùa riêng biệt làm giảm 3,7 – 14,7% sản lượng lúa Thái Lan (Ou, 1985)

2.3.5 Biện pháp phòng trừ tổng hợp

Giống: gieo cấy hạt giống ít mang mầm bệnh hoặc dùng giống có xác nhận tuyệt đối, không lấy giống ở chân ruộng vụ trước bị lem lép hạt nặng để gieo sạ lại Trước khi ngâm ủ phải phơi khô, rê sạch loại bỏ những hạt lép lửng biến màu

Thời vụ: gieo cấy lúa vào thời kì thích hợp để khi lúa trổ không trùng với thời

kì mưa gió nhiều

Phân bón: bón phân đầy đủ và cân đối tùy theo giống lúa, điều kiện đất đai, mùa vụ của từng vùng Có thể áp dụng phương pháp bón phân dựa vào bảng so màu lá lúa

Sâu bệnh: phòng trừ tốt các bệnh phát sinh trong giai đoạn làm đòng, trổ làm sẽ giảm bệnh lem lép hạt

Cỏ dại: cỏ dại là ký chủ phụ của nhiều nấm gây bệnh trên lá và hạt lúa Cần phòng trừ cỏ trong ruộng cũng như trên bờ ruộng

Trang 28

2.4 Tổng quan về ba hoạt chất Azoxystrobin, Difenoconazole, Tricyclazole và một

số loại thuốc phòng trừ đạo ôn, lem lép hạt trên thị trường

Trang 29

Sử dụng: Azoxystrobin là hợp chất tổng hợp hóa học có cấu trúc đồng đẳng với Strobilurins và Oudemansins là chất chuyển hóa nấm khuẩn có trong tự nhiên (fungal metabolites) Azoxystrobin có tác dụng tiếp xúc nội hấp, ức chế bào tử nấm nẩy mầm

và sợi nấm phát triển, ức chế sự hình thành bào tử nấm khuẩn Thuốc có phổ tác động rất rộng, dùng phòng và trừ nhiều loại bệnh nấm như phấn trắng, gỉ sắt hại ngũ cốc, Đạo ôn, khô vằn hại lúa, nhiều bệnh hại cà phê, chè, chuối, cam, bệnh thán thư, đay, thuốc lá, v.v… liều sử dụng từ 100 – 375g a.i.ha-1

Tên thương mại:

Amistar top 325SC (Syngenta) Amistar 250SC (Syngenta) Score 250EC (Syngenta) Help 400SC (Công ty TNHH ADC) Myfatop 325SC (Công ty TNHH An Nông) Trobin top 325SC (Công ty TNHH Phú Nông)

2.4.2 Difenoconazole

Trang 30

20

Danh pháp: dioxolan-2-yl]phenyl 4 -chlorophenyl ether

2010 mg/ kg Tương đối độc với cá, ít độc với ong Thời gian cách ly 7 ngày

Sử dụng: Thuốc trừ nấm tác động nội hấp Phổ tác dụng rộng, phòng trừ nhiều loại nấm thuộc lớp nấm nang khuẩn, đảm khuẩn và nấm bất toàn Phòng trừ các bệnh đốm lá, gỉ sắt, thán thư, ghẻ, phấn trắng cho rau cải, hành tỏi, ớt, cà chua, khoai tây, dưa leo, đậu, cây ăn quả, cà phê, cây cảnh Khả năng hỗn hợp với Propiconazole, khi

sử dụng có thể pha chung với nhiều loại thuốc trừ sâu bệnh khác

Tên thương mại;

Score 250EC (Syngenta Vietnam Ltd.) Amistar top 325SC (Syngenta)

Tilt super 300ND (Syngenta)

Trang 31

âm nhập ho: thuốc kỹ tNhóm độc IIhời gian các

l-1, 2, 4-tria

C9H5N3S

zole yclazole ức

ắc tố đen cóoặc không pthuật ở thể

I, LD50 qua

ch ly 14 ng

n trên lúa, c

75% hoạt cChế phẩm 2

a miệng là 2gày Thuốc

có hiệu quả

chất dùng li0% dùng 1

ệt Nam) ADC)

– b] [1, 3 be

ng hợp Mel

g xâm nhiễược trong tếnóng chảy 1

200 – 314 m

c trừ nấm tcao với cả

iều lượng 0,0 – 1,5 kg/

ác động nộbệnh trên l

0,3 – 0,5 kg/ha, pha nư

Trang 32

22

Khả năng hỗn hợp: có thể pha chung với nhiều thuốc trừ sâu bệnh khác

Tên thương mại:

Beam 75WP (Dow AgroSciences) Filia 525SE (Syngenta)

Bump gold 80WP (Syngenta) Flash 75WP (Map Pacific Pte Ltd.) Fullcide 75WP (Công ty TNHH – TM Nông Phát) Tridozole 75WP, 45SC (Công ty TNHH – TM Đông Xanh) Trizole 20WP, 75WP, 75WDG (Công ty TNHH 1 TV BVTV Sài Gòn)

2.4.4 Một số thuốc thương phẩm đặc trị đạo ôn và lem lép hạt

2.4.4.1 Beam 75WP

Hoạt chất: Tricyclazole

Sản phẩm của Công ty Dow AgroSciences (Hoa Kỳ)

Công dụng:

+ Có hiệu lực rất cao đối với bệnh đạo ôn lá (cháy lá), đạo ôn cổ bông (thối cổ

gié), đạo ôn trên hạt lúa (lem lép hạt) do nấm Pirycularia grisea gây ra

+ Có tác động nội hấp, được hấp thụ nhanh qua lá lúa và thuốc tương đối bền vững với môi trường nên khó bị mưa rửa trôi Sau khi phun 1h mà gặp mưa thuốc vẫn

có tác dụng

Trang 33

23

+ Có hiệu lực kéo dài do đó cần phát hiện bệnh sớm và phun khi bệnh mới xuất hiện, thuốc có tác dụng bảo vệ lúa trong thời gian dài

+ Giúp lúa phát triển tốt gia tăng năng suất và bông mẩy, chất lượng gạo tốt, ít

bị gãy nát khi xay xát

Trang 34

Chú ý: Beam 75WP có thể pha chung với các loại thuốc khác

2.4.4.2 Fujione 40EC

Hoạt chất: Isoprothiolane

Sản phẩm của công ty Nihon Nohyaku Co., Ltd

Tính chất: nhóm độc II, LD50 qua miệng 1190 mg/ kg, LD50 qua da > 1025 mg/

kg Tương đối độc với cá, thời gian cách ly 10 ngày Thuốc trừ nấm tác động nội hấp chủ yếu phòng trừ đạo ôn, rầy nâu non

Hướng dẫn sử dụng: dùng phòng trừ đạo ôn trên lá, đạo ôn cổ bông với liều lượng 1,0 – 1,5 l /ha, pha nước với nồng độ 0,2 – 0,3 % phun ướt đều cây

Lưu ý: có thể pha chung với thuốc khác

2.4.4.3 Filia 525SE

Hoạt chất: Propiconazole 125 g/ l + Tricyclazole 400 g/ l

Sản phẩm của công ty Syngenta

Trang 35

25

Tính chất: nhóm độc III, an toàn cho cây trồng, người phun, môi trường Độc vừa với cá, thời gian cách ly 14 ngày Thuốc trừ nấm thấm sâu nhanh, phân tán mạnh đặc trị đạo ôn Kích thích tạo chất xơ giúp cây lúa cứng, đứng lá hơn

Hướng dẫn sử dụng: pha 10 ml/ bình 8 lít, phun 400 – 500 lít nướ / ha Đối với đạo ôn lá phun khi vết bệnh chớm xuất hiện, đạo ôn cổ bông phun phòng trước và sau khi lúa trổ

2.4.4.4 Amistar top 325SC

Hoạt chất: Azoxystrobin 200 g/ l + Difenoconazole 125 g/ l

Sản phẩm của công ty Syngenta

Tính chất: nhóm độc III, thuốc có tác dụng nội hấp và lưu dẫn trừ bệnh phổ rộng trên lúa, phòng và trị bệnh đốm vằn, vàng lá chín sớm, đạo ôn và lem lép hạt, giúp lúa sáng đẹp tăng năng suất

Hướng dẫn sử dụng:

+ Bệnh đốm vằn, vàng lá: liều lượng sử dụng 200 – 300 ml/ha

+ Bệnh lem lép hạt: liều lượng sử dụng 350 ml/ha Pha 15 – 17 ml/ bình 16 lít, phun 2 bình/ ha Phun sớm vào giai đoạn làm đòng để phát huy hết tiềm năng, cho năng suất cao

2.4.4.5 Fuan 40EC

Hoạt chất: Isoprothiolane

Sản phẩm phân phối bởi công ty BVTV An Giang

Tính chất: nhóm độc III, thuốc trừ nấm tác động nội hấp, lưu dẫn đặc trị đạo ôn

Trang 36

26

Hướng dẫn sử dụng:

+ Đạo ôn lá: liều lượng 1 – 1,2 lít/ha, pha 25 – 30 ml/ bình 8 lít

+ Đạo ôn cổ bông: liều lượng 1,2 – 1,5 lít/ha, pha 30 – 40 ml/ bình 8 lít

+ Phun khi bệnh chớm xuất hiện hoặc phun ngừa ở giai đoạn 10 – 15 ngày trước trổ và khi lúa trổ đều Khi phun nên giữ mực nước ruộng 2 – 3cm

2.4.4.6 Bump gold 80WP

Hoạt chất: Difenoconazole 15% W/w+ Tricyclazole 40% W/w + Isoprothiolane

25% W/w

Sản phẩm phân phối bởi công ty TNHH ADC

Tính chất: là thuốc trừ bệnh phổ rộng, có tính hấp thu và lưu dẫn mạnh Tác dụng phòng và trị triệt để bệnh lem lép hạt, khô cổ bông, đạo ôn và vàng lá chín sớm Kích thích lúa xanh hơn, hạt vàng sáng, chắc mảy Thời gian cách ly 7 ngày

Hướng dẫn sử dụng: liều lượng đối với bệnh lem lép hạt, khô cổ bông, cháy lá (đạo ôn), vàng lá chín sớm phun 25g/ bình 16 lít (phun trước và sau trổ 7 ngày) Phun ngừa hoặc khi bệnh vừa chớm xuất hiện Lượng nước sử dụng: 320 lít/ ha

Trang 37

27

Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thí nghiệm được thực hiện trong vụ Hè Thu 2011, thời gian từ ngày 15/04/2011 đến ngày 18/07/2011

Địa điểm nghiên cứu: nghiên cứu khảo nghiệm hiệu lực của thuốc ABEAM TOP 525SC được thực hiện ngoài đồng ruộng tại huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An

3.2 Điều kiện nghiên cứu

3.2.1 Điều kiện thời tiết

Bảng 3.1: Tình hình thời tiết, khí hậu vụ Hè thu năm 2011

Thời gian

Nhiệt độ không khí (0C)

Ẩm độ không khí (%)

Lượng mưa trung bình (mm/tháng)

số giờ nắng trong tháng (h/ tháng)

Trung bình

Cao nhất

Thấp nhất 04/2011 28,5 36,7 23,5 76 24,3 224 05/2011 28,8 35,0 23,8 76 130,8 222 06/2011 28,8 34,5 23,7 81 394,7 202 07/2011 27,6 34 23,8 82 83,8 189

(Nguồn: Theo Trạm Khí tượng thủy văn huyện Mộc Hóa, 2011)

Trang 38

28

Bảng 3.1 cho thấy tình hình thời tiết trong thời gian tiến hành thí nghiệm

Nhiệt độ trung bình tháng biến động trong khoảng từ 28,5 – 28,8oC Ẩm độ không khí trung bình từ 76 - 81%, Số giờ nắng của các tháng làm thí nghiệm biến động từ 202 – 224 giờ /tháng, lượng mưa trung bình trong các tháng biến động từ 24,3 – 394,7mm thuận lợi trong việc đánh giá hiệu lực của thuốc Điều kiện thời tiết trong thời gian làm thí nghiệm tương đối thích hợp cho bệnh đạo ôn phát triển

3.2.2 Điều kiện đất đai

Thí nghiệm được thực hiện trên nền đất phèn thuộc vùng trũng Đồng Tháp Mười, chủ động tưới tiêu

3.3 Vật liệu nghiên cứu

Trang 39

Cày, bừa, vệ sinh cỏ thật kỹ, san phẳng mặt ruộng

Chọn giống khô, sạch bệnh, không lẫn hạt cỏ

Mật độ sạ: 150- 180 kg/ ha

Thời điểm bón phân:

+ Lần 1: bón lót toàn bộ Super lân

+ Lần 2: 50 kg Ure + 40 kg DAP vào 10 NSS

+ Lần 3: 70 kg Ure + 40 kg DAP + 30 kg KCL vào 20 NSS

+ Lần 4: 50 kg Ure + 30 kg KCL vào 45 NSS (bón thúc đòng)

+ Lần 5: 10 kg Ure vào lúc nuôi hạt khi lúa mới trổ

Các chế độ chăm sóc khác thì áp dụng theo nông dân như phun thuốc trừ cỏ, trừ

ốc, các đối tượng sâu hại, tưới tiêu nước

3.3.4 Thuốc sử dụng trong thí nghiệm

- Abeamtop 525 SC (Azoxystrobin 200 g/l + Difenoconazole 125 g/l + Tricyclazole 200 g/l)

- Amistar 250 SC (Azoxystrobin 200 g/l + Difenoconazole 125 g/l)

- Verygold 460 SC (Azoxystrobin 60 g/l + Tricyclazole 400 g/l)

- Cowboy 600 SE (Difenoconazole 150 g/l + Tricyclazole 450 g/l)

3.4 Phương pháp nghiên cứu

Trang 40

+ Diện tích thí nghiệm (không kể bờ bảo vệ): 450m2

+ Dùng dây nilon để phân chia các nghiệm thức

Sơ đồ thí nghiệm:

Ngày đăng: 11/06/2018, 09:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w