1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA GIỐNG VÀ MẬT ĐỘ TRỒNG ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CẢI NGỌT (Brassica interfloria) TRỒNG THEO PHƯƠNG THỨC THỦY CANH TRONG NHÀ MÀNG

60 301 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 560,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA NÔNG HỌC KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI: KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA GIỐNG VÀ MẬT ĐỘ TRỒNG ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA NÔNG HỌC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA GIỐNG VÀ MẬT ĐỘ TRỒNG

ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CẢI NGỌT

(Brassica interfloria) TRỒNG THEO PHƯƠNG THỨC

THỦY CANH TRONG NHÀ MÀNG

SINH VIÊN THỰC HIỆN: TRẦN NGUYỄN VÂN ANH

KHOA: NÔNG HỌC

KHÓA: 2007 – 2011

THÁNG 8/2011

Trang 2

KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA GIỐNG VÀ MẬT ĐỘ TRỒNG

ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CẢI NGỌT

(Brassica integrifolia) TRỒNG THEO PHƯƠNG THỨC

THỦY CANH TRONG NHÀ MÀNG

Tác giả

TRẦN NGUYỄN VÂN ANH

Giảng viên hướng dẫn:

TS PHẠM THỊ MINH TÂM

KS.NGÔ MINH DŨNG

Khoa Nông Học Tháng 08 năm 2011

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Cha mẹ cùng những người thân trong gia đình đã nuôi dạy và tạo điều kiện cho tôi đượic học tập như ngày hôm nay

luận tốt nghiệp này

Anh Ngô Minh Dũng, cán bộ phụ trách môn cây rau của viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp Miền Nam đã tận tình hướng dân tôi trong thời gian thực hiện khóa luận

tôi sử dụng hệ thống nhà màng, hồ thủy canh để thực hiện thí nghiệm

Chú Việt, cô Hà nhân viên trang trại đã truyền đạt cho tôi nhiều kinh nghiệm về trồng rau theo phương thức thủy canh

Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm TP.HCM

bị cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường

Tập thể lớp DH07NH A, cùng tất cả các anh chị, bạn bè đã gắn bó và giúp sức cùng tôi trong thời gian học tập và thực hiện khóa luận vừa qua

Cuối cùng một lần nữa tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc!

TP.HCM, tháng 7 năm 2011

Sinh viên thực hiện

Trần Nguyễn Vân Anh

Trang 4

TÓM TẮT

Trần Nguyễn Vân Anh, khoa Nông học, Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh ( tháng 7/2011)

Đề tài ”Khảo sát ảnh hưởng của giống và mật độ trồng đến sinh trường và năng

suất cải ngọt (Brassica integrifolia) trồng theo phương thức thủy canh trong nhà

màng”

Giáo viên hướng dẫn: TS Phạm Thị Minh Tâm, Ks Ngô Minh Dũng

Mục tiêu thực hiện đề tài: xác định được giống và mật độ trồng rau cải ngọt theo

phương thức thủy canh cho khả năng sinh trưởng tốt và năng suất cao

Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên, gồm 4 nghiệm thức với

4 lần lặp lại Dung dịch dinh dưỡng được sử dụng là dung dịch Bradley và Tabares đã điều chỉnh Giá thể là hỗn hợp mụn xơ dừa, phân bò hoai và tro trấu Đề tài gồm 2 thí nghiệm:

Thí nghiệm 1: : Khảo sát ảnh hưởng của giống đến sinh trưởng và năng suất

cải ngọt được trồng theo phương thức thủy canh 4 nghiệm thức được sử dụng là 4 giống cải ngọt của công ty Trang Nông, công ty Phú Nông, công ty Đại Địa, công ty hạt giống số 4 Thí nghiệm chọn được giống Trang Nông có năng suất cao (24,7 tấn/ha), phẩm chất tốt (thân cây cao, cứng cáp, bản lá to) Đây cũng là giống được chọn để làm thí nghiệm 2

Thí nghiệm 2: Khảo sát ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng và năng

suất cải ngọt được trồng theo phương thức thủy canh 4 nghiệm thức là 4 mật độ 120 cây/m2, 100 cây/m2, 80 cây/m2 và 64 cây/m2 Thí nghiệm cho thấy mật độ trồng càng cao, hình thái và trọng lượng cây càng nhỏ, tuy nhiên nếu mật độ quá thưa sẽ làm giảm hiệu quả kinh tế Thí nghiệm đã thu được kết quả là ở mật độ 100 cây/m2, cây cải cho năng suất cao (20,1 tấn/ha) và tỷ lệ thương phẩm cao (89%)

Vì vậy khi trồng theo phương thức thủy canh nên sử dụng giống cải ngọt Trang Nông và trồng ở với mật độ 100 cây/ m2 để cây sinh trưởng tốt và cho năng suất cao

Trang 5

MỤC LỤC

Trang tựa i

Lời cảm ơn ii

Tóm tắt iii

Mục lục iv

Danh sách các chữ viết tắt vI Danh sách các bảng viI Chương 1: GIỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu 2

1.3 Nội dung thực hiện 2

1.4 Giới hạn đề tài 2

Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Sơ lược về rau cải ngọt 3

2.2 Khái niệm thủy canh 3

2.3 Lịch sử phát triển của phương pháp trồng cây thủy canh 4

2.4 Ưu và nhược điểm của phương pháp trồng cây thủy canh 5

2.4.1 Ưu điểm 5

2.4.2 Nhược điểm 5

2.5 Một số hệ thống thủy canh thường gặp 6

Trang 6

2.5.1 Hệ thống tuần hoàn 6

2.5.2 Hệ thống không tuần hoàn 7

2.6 Một số loại giá thể sử dụng trong thủy canh 8

2.6.1 Giá thể phi hữu cơ 8

2.6.2 Giá thể hữu cơ 9

2.7 Một số công thức dinh dưỡng được dùng trong thủy canh 10

2.8 Ảnh hưởng điều kiện ngoại cảnh đến sinh trưởng và phát triển của cây trong môi trường thủy canh 12

2.9 Tình hình sản xuất một số loại rau thủy canh trên thế giới và ở Việt Nam 14

2.9.1 Trên thế giới 14

2.9.2 Tại Việt Nam 15

2.9.3 Một số nghiên cứu và ứng dụng thủy canh ở nước ta 16

Chương 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 18

3.2 Vật liệu 18

3.3 Phương pháp bố trí thí nghiệm 19

3.3.1 Thí nghiệm 1 19

3.3.1.1 Vật liệu thí nghiệm 19

3.3.1.2 Cách bố trí thí nghiệm 19

3.3.1.3 Các chỉ tiêu theo dõi 19

3.3.2 Thí nghiệm 2 20

3.3.2.1 Vật liệu thí nghiệm 20

Trang 7

3.3.2.2 Bố trí thí nghiệm 20

3.3.2.3 Các chỉ tiêu theo dõi 21

3.4 Phương pháp xử lý số liệu 21

3.5 Quy trình trồng cải ngọt bằng hệ thống thủy canh trong nhà màng 21

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Thí nghiệm 1 23

4.1.1 Giai đoạn vườn ươm 23

4.1.2 Giai đoạn trồng ra vườn sản xuất 24

4.2 Thí nghiệm 2 32

4.2.1 Giai đoạn vườn ươm 32

4.2.2 Giai đoạn trồng ra vườn sản xuất 33

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 5.1 Kết luận 38

5.2 Đề nghị 39

Tài liệu tham khảo 40

Phụ lục hình ảnh 42

Phụ lục số liệu 43

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CV: Hệ số biến thiên (Coefficient of Variation)

ĐC: đối chứng

NSG: ngày sau gieo

NSLT: năng suất lý thuyết

NSOTN: năng suất ô thí nghiệm

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Công thức dinh dưỡng của Hoagland và Arnon, Morgan, Tabares, Faulkner

Bảng 2.2: Nồng độ một số nguyên tố dinh dưỡng trong dung dịch

Bảng 2.3: Tình hình sản xuất bằng công nghệ thủy canh trên thế giới năm 2001

Bảng 3.1:Công thức dinh dưỡng Bradley và Tabares đã được điều chỉnh, dùng công thức này cho cả cải ngọt và rau xà lách

Bảng 4.1: Thời gian nảy mầm và tỷ lệ nảy mầm của các giống cải ngọt trong vườn ươm

Bảng 4.2: Chiều cao cây và số lá trên cây trước trồng

Bảng 4.3: Khả năng tăng trưởng chiều cao cây (cm/cây) của các giống cải ngọt tham gia thí nghiệm qua các giai đoạn

Bảng 4.4: Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây (cm/cây/5 ngày) của các giống cải ngọt qua các giai đoạn 

Bảng 4.5: Động thái tăng trưởng số lá (lá/cây) của các giống cải ngọt qua các giai đoạn

Bảng 4.6: Tốc độ ra lá của các giống cải ngọt

Bảng 4.7: Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống cải ngọt

Bảng 4.8: Chiều cao cây và số lá trên cây trước trồng

Bảng 4.9: Ảnh hưởng của mật độ trồng đến khả năng tăng trưởng chiều cao cây (cm/cây) của cải ngọt qua các giai đoạn

Bảng 4.10: Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây (cm/cây/5 ngày) của cải ngọt qua các giai đoạn

Bảng 4.11: Động thái tăng trưởng số lá (lá/cây) của cải ngọt qua các giai đoạn

Bảng 4.12: Tốc độ ra lá của cải ngọt ở các mật độ khác nhau qua các giai đoạn. 

Trang 10

Bảng 4.13: Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của cải ngọt ở các mật độ

Trang 11

Tuy nhiên hiện nay, tình hình sản xuất và thương mại rau quả ở nước ta còn rất nhiều điều bất cập về chất lượng sản phẩm Do chạy theo lợi nhuận mà người sản xuất sẵn sàng sử dụng bất cứ loại nông dược nào mà không cần quan tâm đến sự độc hại của nó và sau cùng thì người tiêu dùng phải gánh chịu toàn bộ hậu quả Việc sản xuất rau quả an toàn theo hướng nông nghiệp công nghệ cao bằng phương thức thủy canh

đã được thế giới công nhận và rất phù hợp cho Việt Nam mặc dù còn khá mới mẻ Phương thức thủy canh không chỉ đáp ứng nhu cầu cấp thiết về rau sạch cho người tiêu dùng trong toàn xã hội nhằm góp phần gia tăng sức khỏe cộng đồng mà còn góp phần cải thiện môi trường sống, nâng cao trình độ công nghệ trong sản xuất nông nghiệp, nhất là nông nghiệp đô thị

Hiện nay, đối với rau cải ngọt nói riêng và các loại cây khác nói chung thì mục tiêu chính là đạt năng suất và chất lượng sản phẩm Tuy nhiên, rau cải có bộ rễ ăn nông, chỉ tập trung chủ yếu trong tầng đất mặt Bộ lá khá phát triển, to bản nhưng mỏng, nên chịu hạn kém và dễ bị sâu bệnh gây hại Do đó, đây là loại rau rất thích hợp để trồng trong nhà màng theo phương thức thủy canh vì có thể hạn chế đến mức thấp nhất sự phá hại của sâu bệnh cũng như tiết kiệm công tưới nước, qua đó hiệu quả kinh tế được nâng cao hơn Tuy rau cải là loài cây thích hợp ở điều kiện khí hậu mát lạnh, nhưng cũng có nhiều giống chịu nóng rất tốt có thể trồng được trong nhà màng Mặc khác, rau cải là loại rau khá phổ biến trên thị trường nhưng chưa có nhiều nghiên cứu về giống cũng như mật độ trồng loại rau này theo phương thức thủy canh

Trang 12

Xuất phát từ tình hình thực tế đó, nhằm giúp người canh tác lựa chọn được giống

và mật độ trồng thích hợp cho cây rau cải ngọt tôi tiến hành thực hiện đề tài “ Khảo

sát ảnh hưởng của giống và mật độ trồng đến sinh trưởng và năng suất của cây

cải ngọt (Brassica integrifolia) trồng theo phương thức thủy canh trong nhà

1.3 Nội dung thực hiện

- So sánh lựa chọn giống tốt cho phương thức trồng thủy canh

- Xác định mật độ trồng đối với rau cải ngọt cho năng suất cao

Trang 13

Chương 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Sơ lược về rau cải ngọt

Cây cải ngọt: Brassica interfloria thuộc họ Brassicaceae (Phạm Hữu Nguyên, 2007)

Phân bố chủ yếu ở Ấn Độ, Trung Quốc và Việt Nam Đây là loại rau vốn thích hợp ở điều kiện mát lạnh Tuy nhiên, có nhiều giống chịu nóng rất tốt Vì vậy, có thể trồng ở nhiều vùng trên đất nước ta và trong mỗi vùng có thể trồng được nhiều vụ khác nhau (Đường Hồng Dật, 2003)

Hình thái cây cải ngọt: cây cao 50-100 cm, thân tròn không lông, lá có phiến xoăn ngược tròn dài, đầu tròn hay tù, gốc từ từ hẹp, mép nguyên không nhăn, gân bên

có từ 5-6 đôi

Công dụng: Trị bệnh co thắt, chứng đau dây thần kinh, đau khớp, trị phát ban

da, mụn nhọt, trị sốt cao co giật, mất tiếng, thanh nhiệt

Giá trị dinh dưỡng: Phần lá xanh của cải chứa nhiều acid folic - thành phần quan trọng trong quá trình tạo máu và hồng cầu Không những thế cải ngọt còn cung cấp nhiều chất sơ, giúp quá trình bài tiết dễ dàng hơn Đường tổng số dao động từ 1,33

- 1,68%; Vitamin C dao động trong khoảng 28,7 - 34,25 mg/100g; hàm lượng chất khô cũng chỉ biến động từ 6,37 - 7,02% (asimcofood, 2010)

Giá trị dược liệu: Ở Ấn Độ, hạt được dùng làm thuốc trị bệnh co thắt, chứng đau dây thần kinh và đau khớp Dầu được sử dụng như là một chất nước dùng chườm đắp trị phát ban da và mụn nhọt Ở Trung Quốc, hạt được dùng trị sốt cao co giật, mất tiếng, toàn cây được dùng làm thuốc thanh nhiệt

2.2 Khái niệm thủy canh

Năm 1937 giáo sư William Frederick Gericke,của trường Đại học California Berkeley, đặt ra thuật ngữ "hydroponics" trong đó hydro (nước) và ponics (lao động)

Vì vậy thủy canh thường được định nghĩa như là “trồng cây trong nước” (Straumietis,

Trang 14

2008) Tuy nhiên, việc cung cấp nước và dinh dưỡng cho cây có thể trực tiếp qua sự tiếp xúc giữa rễ và dung dịch hoặc có thể gián tiếp qua các giá thể trơ Do đó chúng ta

có thể hiểu rằng thuỷ canh là một hình thức “trồng cây không sử dụng đất”

Đặc điểm chính của kỹ thuật thuỷ canh là không cần đất nên đây chính là giải pháp cho ngành nông nghiệp ở những đất nước vốn có ít đất canh tác, ở các thành phố lớn hoặc những vùng đất cằn cỗi Kỹ thuật này còn giúp giữ gìn môi trường được trong sạch, đây chính là mục tiêu được coi trọng hàng đầu

2.3 Lịch sử phát triển của phương pháp trồng rau thủy canh

Hồ sơ chữ tượng hình cho thấy, người Ai Cập cổ đại là những người đầu tiên cố gắng trồng cây trong môi trường ít đất Trong đó vườn treo Babilon, có thể đã được sử dụng hình thức thủy canh nguyên thủy, và hoàng đế La Mã Tiberius đã sử dụng phương pháp này để trồng dưa chuột (Straumiestis, 2008)

Ở Châu Âu vào thế kỷ 17, một nhà tự nhiên học người Anh John Woodward bắt đầu thử nghiệm trồng bạc hà không sử dụng đất Ông phát hiện ra rằng cây trồng theo phương pháp này sẽ phát triển lớn hơn và mạnh hơn cây trồng theo phương pháp truyền thống (Straumiestis, 2008)

Trong và sau thế chiến thứ 2, Lầu Năm Góc phải đối mặt với thách thức là cung cấp thực phẩm cho binh lính trên các tàu chiến và các đảo đá Năm 1940 chính phủ đã giải quyết điều này bằng cách áp dụng kỹ thuật thủy canh để trồng cây lương thực cho binh lính và thủy thủ đồng thời kỹ thuật thủy canh cũng được ứng dụng rộng rãi cho những vùng đất bị ô nhiễm do chiến tranh (Straumiestis, 2008)

Cùng với sự ra đời của nhiều loại giá thể là các kỹ thuật như kỹ thuật dòng sâu với hệ thống tuần hoàn của người Nhật, kỹ thuật màng dinh dưỡng vào thập niên 70

Từ năm 1980 đến 1990 có sự gia tăng nhanh chóng diện tích canh tác bằng hình thức thủy canh Vào đầu những năm 1970 người Úc đã trồng xà lách và cà chua với quy mô nhỏ bằng biện pháp thủy canh với biện pháp màng dinh dưỡng, đến đầu năm 1980 các nhà các nhà khoa học Châu Âu đã thiết kế thêm hệ thống điều khiển cho hệ thống thủy canh

Trang 15

Từ năm 1966 đã có trên 500 sáng chế về kỹ thuật thủy canh Nhật Bản là nước vượt lên dẫn đầu với khoảng 260 sáng chế, chiếm 47% Theo sau đó là Hàn Quốc với

103 sáng chế, chiếm 19%, Mỹ với 46 sáng chế, chiếm 9% (Minh Huy, 2010)

2.4 Ưu và nhược điểm của phương pháp thủy canh

2.4.1 Ưu điểm của kỹ thuật thủy canh:

- Không cần đất, chỉ cần không gian để đặt hộp dụng cụ trồng, do vậy có thể triển khai ở những vùng đất cằn cỗi như hải đảo, vùng núi xa xôi cũng như tại gia đình có thể tận dụng sân thượng, balcon

- Không phải làm đất, không có cỏ dại, không cần tưới

- Trồng được nhiều vụ, có thể trồng trái vụ

- Không phải sử dụng thuốc trừ sâu bệnh và các hóa chất độc hại khác

- Năng suất cao vì có thể trồng liên tục

- Sản phẩm hoàn toàn sạch, đồng nhất Giàu dinh dưỡng và tươi ngon

- Không tích lũy chất độc, không gây ô nhiễm môi trường

- Không đòi hỏi lao động nặng nhọc, người già trẻ em đều có thể tham gia hiệu quả (Trồng trọt không dùng đất trong nghề làm vườn, FAO, 1992)

2.4.2 Nhược điểm của kỹ thuật thủy canh

- Vốn đầu tư ban đầu cao do chí phí về trang thiết bị Tuy nhiên, chi phí này không phải là cao so với những chi phí phải trả để diệt sâu bệnh và côn trùng, thuê nhân công Hơn nữa các máy móc thiết bị được tái sử dụng nhiều lần nên chỉ tốn chi phí đầu

tư cho ban đầu

- Đòi hỏi trình độ chuyên môn kỹ thuật cao để sản xuất có hiệu quả Điều này gây trở ngại cho việc đưa phương pháp thủy canh áp dụng đại trà

- Trong quá trình hấp thu các chất dinh dưỡng, thực vật làm thay đổi độ pH trong dung dịch thủy canh Do đó, cần phải điều chỉnh pH mỗi ngày Giá trị pH tối thích từ khoảng 5.8 - 6.5 Giá trị pH càng chênh lệch khỏi khoảng này thì mức độ ảnh hưởng không tốt lên hệ thống thủy canh càng lớn

- Ngoài ra, những yếu tố thay đổi đột ngột môi trường cũng như việc cung cấp chất dinh dưỡng hay tưới nước không đúng có thể gây ra những triệu chứng rối loạn sinh lý

ở cây trồng (như hiện tượng thối quả cà chua, nứt quả cà chua)

Trang 16

- Trong hệ thống thủy canh thì tảo rất hay xuất hiện đây là nguyên nhân gây cạnh tranh chất dinh dưỡng và oxygen với cây trồng Vì vậy cần phải khống chế tảo phát triển bằng cách che chắn thùng chứa chất dinh dưỡng bằng nắp đậy, lau sạch dụng cụ bằng Clo lỏng hay các chất sát trùng thông thường (Trồng trọt không dùng đất trong nghề làm vườn, FAO, 1992)

2.5 Một số hệ thống thủy canh thường gặp

2.5.1 Hệ thống tuần hoàn

a Kĩ thuật màng mỏng (Nutrient Film Technology - NFT)

Nguyên lý của kỹ thuật này là cây sẽ phát triển trong dòng nước giàu dưỡng chất được chảy liên tục Đây là một hệ thống thủy canh đúng nghĩa vì hệ thống rễ được tiếp xúc trực tiếp với dung dịch dinh dưỡng Một lớp màng mỏng dung dịch (nutrient film) dày khoảng 0,3-0,5 mm chảy trên bề mặt của các kênh (channel), điều này làm tăng diện tích tiếp xúc của dung dịch với không khí làm gia tăng lượng oxi hòa tan

Chiều dài tối đa của một kênh là từ 5-10m và độ dốc từ 1/50 - 1/75 Dung dịch dinh dưỡng được bơm vào ở đầu cao hơn của kênh, và nó sẽ chảy xuống thấp với tác dụng của trọng lực, làm ướt bộ rễ Dung dịch dinh dưỡng được thu hồi vào một bể và được điều chỉnh nồng độ trước khi tái sử dụng Lưu lượng dòng vào khoảng 2 - 3 lít/phút và phụ thuộc vào chiều dài của kênh Hệ thống này bị ảnh hưởng rất lớn nếu bị cúp điện, khi đó bộ rễ sẽ bị khô nhanh chóng do nguồn dinh dưỡng bị ngưng (Nguyễn Thị Thúy Nga, 2008)

b Kỹ thuật dòng sâu (Deep flow technique)

Kỹ thuật này sử dụng với ống nhựa PVC đường kính 10 cm, dung dịch dinh dưỡng dày khoảng 2 - 3 cm, trên hệ thống ống này có khoét các lỗ để đặt các chậu cây con sao cho đáy chậu tiếp xúc với dung dịch Các ống được bố trí trên mặt phẳng hay zic zắc phụ thuộc vào loại cây trồng Dung dịch ding dưỡng cần được thu hồi vào trong một bể cần được sục khí trước khi tái sử dụng Cây trồng được đặt trong những chậu hoặc ly nhựa có đục lỗ ở thân và đáy, phải lót lưới ở đáy chậu để không cho gía thể rơi vào dung dịch dinh dưỡng Trong mô hình này, các ống PVC cần đặt nghiêng

300 – 400 để dung dịch dinh dưỡng di chuyển dễ dàng Có thể sơn trắng ống PVC để giảm sự tăng nhiệt độ của dinh dưỡng trong đó (Trần Khánh Nam, 2008)

Trang 17

c.Kỹ thuật ngập rút định kỳ (The ebb and flow technique)

Hệ thống ngập và rút định kỳ hoạt động bằng cách làm cho cây trồng ngập tạm thời trong dung dịch dinh dưỡng sau đó rút ngược trở lại dung dịch này vào bồn chứa Hoạt động này được thực hiện với một cái bơm đặt chìm trong bể gắn với bộ đếm giờ

Bộ đếm giờ được cài đăt để xác định thời gian dung dịch dinh dưỡng được bơm vào và thoát ra khỏi khay trồng Chu kỳ ngập - rút có thể được điều chỉnh nhiều lần trong ngày tùy thuộc vào kích thước và loại thực vật, nhiệt độ, độ ẩm (Nguyễn Thị Thúy Nga, 2008)

2.5.2 Hệ thống không tuần hoàn

a Kỹ thuật nổi (Floating technique)

Phương pháp này giống phương pháp ngâm rễ nhưng sử dụng chậu cạn hơn (cao khoảng 10cm) Thùng được lót bằng tấm nhựa màu đen để tạo môi trường thuận lợi cho rễ phát triển và hạn chế tảo Cây trồng trong chậu nhỏ được gắn lên miếng xốp nổi trên mặt dung dịch dinh dưỡng Dung dịch dinh dưỡng cần được thông khí nhân tạo (Nguyễn Thị Thúy Nga, 2008)

b Kỹ thuật mao dẫn (Capillary technique)

bằng các giá thể trơ, chậu còn lại chứa dung dịch dinh dưỡng, dung dịch này được mao dẫn lên chậu chứa giá thể bằng những vật liệu có tính mao dẫn như: tim đèn, bông gòn Trong kỹ thuật này, tạo điều kiện hiếu khí là rất quan trọng Vì vậy, giá thể là xơ dừa cũ được trộn với cát hay sỏi Kỹ thuật này thích hợp cho các loại cây kiểng, hoa và các cây trong nhà (Nguyễn Thị Thúy Nga, 2008)

c Kỹ thuật ngâm rễ (Root dipping technique)

Đối với kỹ thuật này, cây trồng được trồng trong một chậu nhỏ với một ít giá thể Các chậu này được đặt trong dung dịch dinh dưỡng sao cho đáy chậu ngập 2 - 3

cm trong dung dịch Một số rễ được ngâm chìm trong nước sẽ hút chất dinh dưỡng trong khi một số khác tiếp xúc với không khí giúp chúng trao đổi khí Kỹ thuật này rất đơn giản và có thể làm bằng các vật liệu sẵn có trong gia đình Kỹ thuật này có thể áp dụng cho cả cây lấy củ và không lấy củ (Đoàn Quang Thanh, 2004)

Trang 18

2.6 Một số loại giá thể dung trong thủy canh

Giá thể để trồng cây phải có nhiều tính chất giống đất, phải là chỗ dựa cho hệ thống rễ, tạo điều kiện cho rễ mọc dài ra để tìm nước và chất dinh dưỡng và phải là phương tiện cung cấp O2, nước và dinh dưỡng cho sự sinh trưởng và phát triển của cây

2.6.1 Giá thể phi hữu cơ

2.6.1.1 Đá trân châu (Expanded pertile)

Perlite là một dẫn xuất của đá núi lửa chứa silic Vật liệu có khoảng 2 - 5% ẩm,

và sau khi nghiền và gia nhiệt tới vào khoảng 10000C, sẽ nở ra, tạo thành một vật liệu

có tỷ trọng nhẹ theo thể tích 130 - 180 kg/m3 Vật liêu có một cấu trúc chặt chẽ, khả năng giữ nước tốt, có tính ổn định vật lý, và đối với phần lớn các sử dụng có tính trơ hoá học Tuy nhiên, nó chứa 6.9% nhôm và một phần nhôm có thể giải phóng trong dung dịch pH thấp gây ra những hậu quả bất lợi cho sự sinh trưởng của cây (Nguyễn Thuận Phong, 2009)

2.6.1.3 Verticulite

Vermiculite là một loại magiê-nhôm silicate ngậm nước dạng tinh thể dẹt Sau khi được xử lý, vermiculite là một vật liệu nhẹ có tỷ trọng trung bình khoảng 80kg/m3 Đôi khi nó phải ứng kiềm do sự có mặt của đá vôi magiê trong quặng nguyên thuỷ Vermiculite có khả năng trao đổi và khả năng giữ nước cao Tuy nhiên, sau một thời gian dài, cấu trúc của nó có chiều hướng thoái hoá và vật liệu chuyên hoá về mặt vật lý

để trở lại trạng thái ban đầu tạo thành Vermiculite được dùng như Perlite, ngoài ra còn

Trang 19

có tác dụng trung hoà độ pH của đất (do nước tưới có nhiều khoáng chất và do phân bón được sử dụng lâu ngày sẽ làm độ pH của đất tăng, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của nhiều loại cây trồng) (Nguyễn Thuận Phong, 2009)

2.6.1.4 Cát

Cát là một trong những giá thể rẻ nhất có thể sử dụng Tuy nhiên, cần phải kiểm tra để chắc chắn rằng nó không bị ô nhiễm bởi đất và nó thích hợp khi trồng thủy canh Cát không nên quá nhỏ cũng không nên quá thô, kích thước hạt thay đổi tốt nhất từ 0.1

- 1mm, với mức độ trung bình từ 0.25 - 0.5mm Cát có nguồn gốc từ biển, cần phải rửa sạch loại bỏ hoàn toàn muối Vỏ sò nhỏ lẫn trong cát có thể gây rắc rối, nếu không xử

lý thích hợp Vỏ sò nhỏ phần lớn chứa đá vôi, nếu bỏ trong dung dịch nó sẽ làm cho

pH tăng lên Độ kiềm tăng giữ chặt sắt [Fe] lại trong dung dịch, gây hiện tượng thiếu hụt [Fe] cho cây (Trần Khánh Nam, 2008)

2.6.1.5 Sỏi

Cũng giống như cát, hạt sỏi không chứa đá vôi, do đó sẽ không gây ảnh hưởng đến độ pH Sử dụng sỏi có nhiều thuận lợi, vấn đề giữ nước có thể giảm đến mức tối thiểu bằng cách sử dụng hỗn hợp gồm 49% perlite và 60% sỏi về thể tích (Nguyễn Thuận Phong, 2009)

2.6.2 Giá thể hữu cơ

Trang 20

2.6.2.3 Rơm rạ, bã mía

Loại giá thể này rất rẻ và phổ biến ở nước ta, có độ thoáng khí và thoát nước tốt

2.7 Một số công thức dinh dưỡng dùng trong thủy canh

Hiện nay trên thị trường có rất nhiều công thức dinh dưỡng của nhiều tác giả đã nghiên cứu thành công Tuy nhiên có bốn công thức dinh dưỡng thường được sử dụng phổ biến cho rau ăn lá hiện nay là công thức dinh dưỡng của 4 tác giả có uy tín đó là:

(1) Công thức dinh dưỡng của Hoagland và Arnon: Căn bản của đa số các dung dịch dinh dưỡng hiện nay đều xuất phát từ công thức dinh dưỡng của hai tác giả này Hiện nay công thức này vẫn được sử dụng rộng rãi tại Mỹ

(2) Công thức dinh dưỡng của Morgan: Công thức này được sử dụng phổ biến

để sản xuất rau diếp và các loại rau xanh khác, phù hợp với hệ thống thuỷ canh nổi

(3) Công thức dinh dưỡng của Bradley và Tabares: Đây là công thức được sử dụng ở nhiều nước đang phát triển, phù hợp sản xuất hơn 30 loại rau quả, cây trang trí

Trang 21

Bảng 2.1 Công thức dinh dưỡng của Hoagland và Arnon, Morgan, Tabares,

Morgan (ppm)

Bradley

&Tabares (ppm)

Faulkner (ppm)

Trang 22

2.8 Ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh đến sinh trưởng và phát triển của cây trồng thủy canh (Đoàn Văn Duy, 2009)

2.8.1 Ánh sáng

Ánh sáng ảnh hưởng mạnh đến sự hút khoáng Ánh sáng còn ảnh hưởng đến khả năng hấp thu NH4, SO4 tăng mạnh, trong khi đó sự hấp thu Ca, Mg ít thay đổi Nhìn chung tác động của ánh sáng liên quan đến quá trình quang hợp, trao đổi nước và tính thẩm thấu của chất nguyên sinh

2.8.2 Nhiệt độ

Dao động về nhiệt độ trong môi trường dinh dưỡng thủy canh không chỉ tác động đến pH mà còn ảnh hưởng đến độ hòa tan của các dưỡng chất Nghiên cứu về nhiệt độ của nước đối với sự hòa tan của các khoáng chất được sử dụng thì nhiệt độ thích hợp là khoảng 20 - 220C Nếu nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ trên thì các chất khó mà hòa tan được

2.8.3 Nồng độ CO 2

CO2 và H2O tham gia tổng hợp chất hữu cơ, thành phần CO2 trong khí quyển tương đối ổn định (khoảng 0,03% thể tích) CO2 trong nước dạng hòa tan ở 00C là 0,5cm3/l, ở 240C là 0,2cm3/l CO2 tác dụng với nước cho H2CO3, khi nồng độ CO2trong nước giảm thì bicarbonate hòa tan trong nước sẽ phân giải thành carbonat kết tủa, CO2 và H2O Khi hàm lượng CO2 cao hơn ngưỡng thì một phần CO2 trở thành hoạt hóa và kết hợp với carbonat chuyển thành dạng bicarbonate hòa tan làm cho độ cứng của nước tăng lên Khi hàm lượng CO2 trong nước tăng lên một ít thì làm tăng cường độ quang hợp, quá trình phát triển của bộ phận trên không thuận lợi nhưng khi

CO2 trong nước tăng lên thì ảnh hưởng lớn hơn đến hô hấp của hệ rễ Hệ thống carbonat không chỉ là nguồn dinh dưỡng mà còn là chất đệm để giữ ion hydro trong môi trường nước ở gần với giá trị trung bình

2.8.4 pH

Trong môi trường dinh dưỡng, độ pH rất quan trọng cho sự sinh trưởng và phát triển của cây Độ pH được tính dựa trên mức độ hoạt động của các nguyên tố khác nhau với cây trồng Trong thủy canh đa số các cây trồng thích hợp với môi trường hơi acid đến gần trung tính, pH tối ưu từ 5.8 - 6.5 Trong nuôi trồng thủy canh, pH được cân bằng bởi hoạt động của cây Nếu pH tăng khi đó cây sẽ thải ra các muối acid vào

Trang 23

môi trường, đó có thể là nguyên nhân làm chất độc trong môi trường tăng lên và làm hạn chế sự dẫn nước Nếu pH giảm xuống thì cây sẽ thải ra các thành phần ion bazơ,

có thể làm giới hạn việc hấp thu các muối gốc acid

2.8.5 Độ dẫn điện EC (Electrical Conductivity)

Độ dẫn điện EC dùng để chỉ tính chất của một môi trường có thể truyền tải được dòng điện Độ dẫn điện của một dung dịch là sự dẫn của dung dịch này được đo giữa những điện cực có bề mặt là 1cm2, đơn vị tính là mS/cm, hoặc được thể hiện đơn

vị ppm đối với những máy đo TDS (Total dissolved salt) Chỉ số EC chỉ diễn tả tổng hợp nồng độ ion hòa tan trong dung dịch, chứ không thể hiện được nồng độ của từng thành phần riêng biệt Trong quá trình tăng trưởng, cây hấp thu khoáng chất mà chúng cần, do vậy duy trì EC ở một mức độ ổn định là rất quan trọng Nếu dung dịch có chỉ

số EC cao thì sự hấp thu nước của cây diễn ra nhanh hơn sự hấp thu khoáng chất, làm nồng độ dung dịch sẽ rất cao và gây độc cho cây Khi đó ta phải bổ sung thêm nước vào môi trường Ngược lại nếu EC thấp cây sẽ hấp thu khoáng chất và khi đó ta phải

bổ sung thêm khoáng chất vào dung dịch Trong nghiên cứu người ta có thể dựa vào giá trị của EC để điều chỉnh bổ sung chất dinh dưỡng vào môi trường nuôi trồng thủy canh Và trong môi trường nuôi trồng thủy canh thì chỉ số EC thích hợp là khoảng 1,5

- 2,5mS/m

Sự vận chuyển của dinh dưỡng khoáng

- Nhóm 1: NO3-, NH4+, P, K, Mn Các chất này được hấp thu một cách chủ động nhờ rễ và bị loại ra khỏi môi trường trong vài giờ

- Nhóm 2: Mg, S, Fe, Zn, Cu, Mo, C Các chất này được hấp thu ở mức trung bình và bị loại ra khỏi môi trường nhanh hơn nước

- Nhóm 3: Ca, B Các chất này được hấp thu một cách thụ động và thường tích lũy trong dung dịch (Trần Khánh Nam, 2008)

Trang 24

2.9 Tình hình sản xuất rau thủy canh trên thế giới và Việt Nam

2.9.1 Trên thế giới

Diện tích thủy canh trên thế giới khoảng 40ha vào những năm 40 Và diện tích này tiếp tục tăng nhanh chóng lên 300ha vào những năm 70, và 6.000ha vào thập kỷ

80

Bảng 2.3 Tình hình sản xuất bằng công nghệ thủy canh trên thế giới năm 2001

(Lê Quang Luân, 2009)

Nước Diện tích,

(ha)

Loại cây trồng

đậu, hoa cúc, hoa hồng, cẩm chướng, v.v

hoa cúc, hoa hồng và cẩm chướng

bó xôi, rau diếp, dâu tây, đậu và hoa các loại

Trang 25

Nhật Bản là một trong những nước tiên phong trong kỹ thuật trồng rau thủy canh Chính phủ Nhật Bản rất khuyến khích và trợ giúp kỹ thuật này, rau sạch sản xuất bằng phương pháp này giá đắt hơn 30% so với rau trồng ở môi trường bên ngoài nhưng người tiêu dùng vẫn chấp nhận Tại triển lãm quốc tế tổ chức ở Tsukuba, Nhật Bản vào năm 1985, cây cà chua khổng lồ trồng theo kỹ thuật hydroponics của GS KeiMori (Ðại học Tổng hợp Kelo, Tokyo) đã được giới thiệu Sau 6 tháng trồng trong môi trường dinh dưỡng và chiếu sáng nhân tạo, đường kính tán cây cà chua này đã lên đến 10m và cho đến 10.000 quả cà chua Ngoài ra, giáo sư KeiMori cũng ứng dụng kỹ thuật hydroponics trồng nhiều loại cây khác nhau, thu hoạch được 3.300 quả trên một gốc dưa chuột, 90 quả trên một gốc dưa hấu (Nguyễn Thuận Phong, 2009)

Ở Singapore liên doanh Areo Green Technology là công ty đầu tiên ở Châu Á áp dụng kỹ thuật thủy canh trồng rau trong dung dịch dinh dưỡng, không cần đất và không phải dùng phân hóa học có hại để sản xuất rau với quy mô lớn Hàng năm Singapore tiêu thụ lượng rau trị giá 260 triệu USD Ở các nước châu Mỹ La Tinh rau sạch cũng là sản phẩm chính của công nghệ thủy canh, Hà Lan có hơn 3600ha, Nam Phi có khoảng 400ha Các phức hợp nhà kính thủy canh đã được thiết lập tại Tucson, Arizona (11ha), Phoenix, Arizona (khoảng 15ha) và Abu Dhabi (5ha, hiện nay mở rộng lên đến 20ha) (Nguyễn Thuận Phong, 2009)

2.9.2 Ở Việt Nam

Việt Nam cũng đang dần dần ứng dụng thành tựu nông nghiệp của thế giới Năm

1997 trường Ðại học Nông nghiệp I Hà Nội đã nghiên cứu ứng dụng công nghệ hydroponics “Việt hóa” cho phù hợp với điều kiện ở nước ta Tại các kỳ hội chợ Techmart ở Hải Phòng, TP HCM, những thành công bước đầu của cây cà chua, dưa leo, xà lách, trồng theo công nghệ hydroponics Việt Nam đã được giới thiệu Rau xà lách có thể trồng quanh năm (canh tác với đất: 2 vụ/năm) Dưa chuột, trồng theo kỹ thuật hydroponics được 4 vụ/năm, tăng 2 vụ so với cách truyền thống; chất lượng mẫu

mã và năng suất cao gấp 4 - 5 lần so với canh tác cũ Ở khu vực phía Nam, thành phố

Hồ Chí Minh đi tiên phong ứng dụng công nghệ thủy canh trong nông nghiệp đô thị Công nghệ hydroponics là 1 trong 5 loại hình công nghệ được áp dụng tại khu nông

Trang 26

nghiệp công nghệ cao tại Củ Chi Bước đầu đã cho ra những sản phẩm xà lách, cà chua, dưa leo hoàn toàn “xanh, sạch”, nhưng giá bán vẫn còn cao nên vẫn chưa thể cạnh tranh với thị trường truyền thống Cây sống không cần đất - điều kỳ diệu ấy sẽ là

cơ hội với một nước 70% dân số làm nông nghiệp như Việt Nam (Minh Huy, 2010)

2.9.3 Một số nghiên cứu và ứng dụng thủy canh ở nước ta:

Năm 1997 TS.Ngô Quang Vinh, Mai Văn Quyền thuộc bộ môn rau Viện Khoa Học Nông Nghiệp Miền Nam đã thực hiện đề tài: “ Cải thiện giống cải ngọt Tiền Giang” Thí nghiệm được thực hiện bằng phương pháp chọn lọc hỗn hợp nhiều lần kết quả thu được như sau: Quần thể cải ngọt Tiền Giang cải thiện TG1, có độ đồng đều cao, chậm ra hoa, năng suất cao hơn dòng khởi đầu TG0 18- 20%; năng suất vụ Hè Thu trung bình 13 tấn/ha - Đông Xuân năng suất trung bình 27,5 tấn/ha; TG1 chịu mưa

khá, ít bị bệnh nổ lá (Rhizoctonia sp) và bệnh thối nhũn (Erwinia carotovora) nên có

ưu thế vào mùa mưa (Nguyễn Hữu Giao Châu, 2000)

Tháng 9/2006 phương pháp trồng rau thủy canh được thử nghiệm tại Viện Sinh Học Đà Lạt trên xà lách và khoai tây đã cho kết quả tốt Năm 2007, đề tài: “Thiết lập

hệ thống nuôi cấy thủy canh tự động” của Trịnh Hải Bình, Khoa cơ điện tử trường Đại Học Bách Khoa, tp Hồ Chí Minh đã nghiên cứu, thiết kế thành công hệ thống trồng rau an toàn tự động tuần hoàn bằng phương pháp thủy canh Trong hệ thống này tất cả các thông số về hàm lượng dinh dưỡng, nhiệt độ, EC, pH được lập trình sẵn đưa vào

bộ nhớ máy và được tự động điều chỉnh khi có bất kỳ sự thay đổi nào (Nguyễn Thị Kim Thư, 2005)

Tại Đại Học Nông Nghiệp I Hà Nội, tiến sĩ Hồ Hữu An đã đưa công nghệ thủy canh NTF vào nước ta với một số cải biến nhỏ trong đó đáng kể nhất là đã chế tạo dịch phân dùng trong thủy canh và có một số cải biến cho phù hợp với điều kiện của nước

Trang 27

Tại Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp Miền Nam, tiến sĩ Ngô Quang Vinh cùng nhóm nghiên cứu đã bước đầu thành công trong kỹ thuật trồng rau trên cát, bằng cách tạo một lớp giữ ẩm bằng rơm rạ ở dưới lớp cát của tầng canh tác nhằm hạn chế sự thoát hơi nước, nghiên cứu này hiện đang thí điểm tại xã Hòa Thắng, Hồng Phong, Bình Thuận và Hóoc Môn thành phố Hồ Chí Minh

Năm 2010, Nguyễn Hồng Đức đã xây dựng thành công quy trình sản xuất rau tần ô theo hướng an toàn bằng phương pháp thủy canh trong nhà màng Qua thí nghiệm này, đã xác định được dung dịch dinh dưỡng tối thích cho tần ô là công thức dinh dưỡng của Bradley & Tabares được điều chỉnh tăng 20% lượng N, với mật độ gieo trồng là 200 cây/m2

Mô hình thủy canh đã được nghiên cứu rất nhiều về phương pháp trồng, dung dịch dinh dưỡng, các loại giá thể và cũng đã có nhiều thành công nhất định về việc áp dụng thủy canh ở nước ta Tuy nhiên, những nghiên cứu về giống và mật độ đối với rau ăn lá nói chung và rau cải ngọt nói riêng được sản xuất trong nhà màng bằng phương thủy canh vẫn còn rất hạn chế Vì vậy, việc tiến hành nghiên cứu các vấn đề liên quan đến rau ăn lá nói chung và rau cải ngọt nói riêng được trồng theo phương thức thủy canh là cần thiết

Trang 28

Chương 3

PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

-Địa điểm: Trang trại rau sạch Hồ Bửu Khu công nghiệp VSIP II xã Phú Lợi,

‐ Công thức dinh dưỡng: Bradley & Tabares đã điều chỉnh

‐ Giá thể (mụn dừa trộn với tro trấu và phân chuồng hoai được xử lý bằng

nước vôi 5% và ủ trong 15 ngày)

Bảng 3.1: Công thức dinh dưỡng Bradley và Tabares đã được điều chỉnh, dùng công

thức này cho cả cải ngọt và rau xà lách

Nồng độ một số nguyên tố dinh dưỡng ppm

Trang 29

3.3 Phương pháp bố trí thí nghiệm

Đề tài gồm 2 thí nghiệm:

3.3.1 Thí nghiệm 1: Khảo sát ảnh hưởng của giống đến sinh trưởng, phát triển và năng

suất cải ngọt được trồng theo phương thức thủy canh trong nhà màng

3.3.1.1 Vật liệu thí nghiệm: Giống của các công ty Trang Nông, công ty Đại Địa,

công ty hạt giống số 4, công ty Phú Nông

3.3.1.2 Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên, đơn yếu

tố, gồm 4 nghiệm thức

Nghiệm thức là các giống cải ngọt

Quy mô thí nghiệm: mỗi ô thí nghiệm là 1m2 (gồm 8 khay xốp kích thước 25cm

x 45cm x 5cm xếp sát nhau) Diện tích thí nghiệm 16m2, thí nghiệm có 2 hàng khay xốp phía ngoài làm bảo vệ (tương đương 4m2) Thí nghiệm được trồng với mật độ 100cây/ m2

Sơ đồ bố trí thí nghiệm 1 3.3.1.3 Các chỉ tiêu theo dõi

Giai đoạn vườn ươm

Ngày bắt đầu nảy mầm (NSG): được tính từ khi 10% số hạt nảy mầm

Ngày nảy mầm hoàn toàn (NSG): tính từ khi hạt nảy mầm được 50-70%

Trang 30

Ngày xuất hiện lá thật (NSG): khi trên 2 lá tử diệp xuất hiện lá mới đó chính là

lá thật

Số lá thật trước trồng (lá): đếm số lá trên cây (trừ 2 lá tử diệp)

Chiều cao cây trước trồng (cm): đo từ gốc rễ đến đỉnh lá cao nhất, thực hiện 5 cây/ô thí nghiệm, các cây được lấy cố định, theo đường chéo góc

Giai đoạn trồng ra vườn sản xuất

Thời gian hồi xanh của các giống (NST): tính từ khi 75% số cây tươi trở lại Chiều cao cây (cm) và tốc độ tăng trưởng chiều cao cây (cm/5ngày): đo từ gốc

rễ đến đỉnh lá cao nhất Theo dõi 5 cây/ô, 5 ngày đo một lần Các cây được lấy cố định, theo đường chéo góc

Số lá (lá) và tốc độ ra lá (lá/5ngày): lá được tính khi thấy rõ phiến lá và cuốn lá Theo dõi 5 cây/ô, 5 ngày lấy một lần Các cây được lấy cố định, theo đường chéo góc Sâu bệnh hại:

Ghi nhận thành phần sâu bệnh hại

Tỉ lệ sâu hại (%) = (số cây bị sâu / tổng số cây trên ô) x 100

Tỉ lệ bệnh hại (%) = (số cây bị bệnh / tổng số cây trên ô) x 100

Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất

Trọng lượng trung bình 1 cây (kg): trọng lượng 5 cây theo dõi / 5

Năng suất (tấn/ha):

Năng suất lý thuyết (tấn/ha) = (trọng lượng trung bình 1 cây (kg) x số cây/ha) / 1000 Năng suất thực thu (tấn/ha) = (trọng lượng cây trên ô thí nghiệm (kg) / diện tích ô thí nghiệm (m2)) x 10000 / 1000 = (trọng lượng cây trên ô thí nghiệm (kg) / diện tích ô thí nghiệm (m2)) x 10

Tỷ lệ thương phẩm = trọng lượng cây thương phẩm / trọng lượng cây tổng số *100

3.3.2 Thí nghiệm 2: Khảo sát ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng, phát triển

và năng suất cải ngọt được trồng theo phương thức thủy canh

3.3.2.1 Vật liệu thí nghiệm: Giống được dung ở thí nghiệm 2 là giống tốt nhất được

chọn ở thí nghiệm 1

3.3.2.2 Bố trí thí nghiệm:

Ngày đăng: 11/06/2018, 09:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm