1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA NẤM Choanephora cucurbitarum GÂY BỆNH CHẾT CÀNH ỚT

86 326 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 15,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

cucurbitarum trên các loại môi trường khác nhau và ở các mức nhiệt độ khác nhau, đánh giá khả năng gây bệnh của 4 mẫu phân lập nấm này trên ớt và trên các cây khác.. Qua hình 4.1 cho th

Trang 1

KHOA NÔNG HỌC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA NẤM

Choanephora cucurbitarum GÂY BỆNH CHẾT CÀNH ỚT

SINH VIÊN THỰC HIỆN: PHẠM THỊ NHƯ NGUYỆT

Tp Hồ Chí Minh, 2011

Trang 2

KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA NẤM

Choanephora cucurbitarum GÂY BỆNH CHẾT CÀNH ỚT

Trang 4

Đề tài được tiến hành với các nội dung: khảo sát sinh trưởng phát triển của 4 mẫu

phân lập nấm C cucurbitarum trên các loại môi trường khác nhau và ở các mức nhiệt

độ khác nhau, đánh giá khả năng gây bệnh của 4 mẫu phân lập nấm này trên ớt và trên các cây khác

Kết quả thí nghiệm đạt được

Bốn mẫu phân lập nấm C cucurbitarum đều có thể sinh trưởng phát triển trên

các môi trường PGA, CMA, PCA, MGA và WA, trong đó mọc nhanh nhất trên môi trường PGA và MGA (90 mm sau 24 giờ sau cấy) và mọc chậm nhất trên môi trường

WA

Bốn mẫu phân lập nấm C cucurbitarum có thể sinh trưởng và phát triển trong

khoảng 15 – 350C Khoảng nhiệt độ thích hợp nhất cho nấm sinh trưởng và phát triển

từ 25 – 300C; nấm không thể sinh trưởng và phát triển ở nhiệt độ ≤ 100C và ≥ 400C

Trang 5

Trong điều kiện phòng thí nghiệm, lá của cả 3 giống ớt làm thí nghiệm đều bị hại

bởi 4 mẫu phân lập nấm C cucurbitarum Trong đó lá giống ớt sừng vàng bị hại nặng nhất, lá giống ớt chỉ thiên bị hại nhẹ nhất Trong 4 mẫu phân lập nấm C cucurbitarum,

mẫu phân lập OT1CG gây hại nặng nhất trên cả 3 giống ớt làm thí nghiệm, tỷ lệ bệnh đạt 100%, chỉ số bệnh từ 80 – 100% ở 24 giờ sau chủng

Trong điều kiện phòng thí nghiệm, trái của cả 4 giống ớt làm thí nghiệm đều bị

hại bởi 4 mẫu phân lập nấm C cucurbitarum Trong đó, trái giống ớt chỉ thiên và hiểm

trắng bị hại nặng, trái ớt sừng vàng trắng và sừng vàng đỏ bị hại nhẹ hơn Trong 4 mẫu phân lập nấm thì mẫu OT1CG gây hại nặng nhất trên cả 4 giống ớt làm thí nghiệm, tỷ

lệ bệnh 100%, chỉ số bệnh 90 – 100%; Mẫu phân lập ĐB3HM gây hại nhẹ nhất, tỷ lệ bệnh 20 – 100%, chỉ số bệnh 16 – 66%

Trên trái cà tím, mẫu phân lập CT3CC và OT1CG gây ra bệnh với tỷ lệ bệnh và chỉ số bệnh lần lượt là 70%; 50% và 70%; 48%, còn mẫu phân lập M2CC và ĐB3HM không gây bệnh

Trên lá của các cây cà tím, đậu bắp, mướp và trên trái của cây mướp, đậu bắp cả

4 mẫu phân lập không gây ra bệnh

Trang 6

MỤC LỤC

Trang tựa Trang

LỜI CẢM TẠ ii

TÓM TẮT iii

MỤC LỤC v

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH SÁCH BẢNG viii

DANH SÁCH HÌNH ix

Chương 1 1

MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích, yêu cầu 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu 2

Chương 2 3

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Tổng quan về cây ớt 3

2.1.1 Giới thiệu 3

2.1.2 Nguồn gốc, phân bố, phân loại 4

2.1.3 Đặc điểm thực vật 5

2.1.4 Yêu cầu các điều kiện ngoại cảnh 5

2.2 Giới thiệu về bệnh chết cành do nấm C cucurbitarum 6

2.2.1 Phân bố 6

2.2.2 Triệu chứng và tác hại 7

2.2.3 Nấm Choanephora cucurbitarum 7

2.2.4 Chu kỳ phát triển bệnh 10

2.2.5 Biện pháp quản lý 11

Chương 3 12

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP 12

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 12

Trang 7

3.2 Nội dung nghiên cứu 12

3.3 Dụng cụ và vật liệu làm thí nghiệm 12

3.4 Phương pháp nghiên cứu 14

3.4.1 Khảo sát đặc điểm sinh trưởng và phát triển của nấm C cucurbitarum trên một số môi trường dinh dưỡng 14

3.4.2 Khảo sát sự sinh trưởng và phát triển của nấm C cucurbitarum ở các mức nhiệt độ khác nhau 15

3.4.3 Đánh giá khả năng gây bệnh của 4 mẫu phân lập nấm C cucurbitarum trên cây ớt và trên một số cây khác 16

3.5 Xử lý số liệu 17

Chương 4 18

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 18

4.1 Sự sinh trưởng, phát triển của 4 mẫu phân lập nấm C cucurbitarum trên một số môi trường dinh dưỡng khác nhau 18

4.2 Sự sinh trưởng và phát triển của nấm C cucurbitarum ở các mức nhiệt độ khác nhau 25

4.3 Khả năng gây bệnh của 4 mẫu phân lập nấm C cucurbitarum trên cây ớt và trên một số cây khác 31

4.3.1 Khả năng gây bệnh của 4 mẫu phân lập nấm C cucurbitarum trên cây ớt 31

4.3.2 Khả năng gây bệnh của 4 mẫu phân lập nấm C cucurbitarum trên một số cây trồng trong điều kiện phòng thí nghiệm 41

Chương 5 44

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 44

5.1 Kết luận 44

5.2 Đề nghị 45

TÀI LIỆU THAM KHẢO 46

PHỤ LỤC 49

Trang 8

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CAQ: Cây ăn quả

FAO: Food and Agriculture Organization

AVRDC: Asian Vegetable Research and Development Center

TLB: Tỉ lệ bệnh

CSB: Chỉ số bệnh

GSC: Giờ sau cấy, giờ sau chủng

PDA: Potato dextrose agar

PGA: Potato glucose agar

PCA: Potato carrot agar

CMA: Coin maize agar

MGA: Mungo glucose agar

WA: Water agar

Trang 9

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 2.1 Thành phần dinh dưỡng trong ớt xanh (trong 100 g phần ăn được) 4

Bảng 2.2 Ảnh hưởng của nhiệt độ đất đến sự nảy mầm của hạt giống 5

Bảng 3.1 Bốn mẫu phân lập nấm C cucurbitarum 13

Bảng 3.2 Thành phần các loại môi trường dinh dưỡng thí nghiệm 14

Bảng 4.1 Đường kính tản nấm của 4 mẫu phân lập nấm C cucurbitarum trên các môi trường dinh dưỡng khác nhau 19

Bảng4 2 Đường kính tản nấm của 4 mẫu phân lập nấm C cucurbitarum ở 7 mức nhiệt độ khác nhau 25

Bảng 4.3 Tỷ lệ bệnh (%) và chỉ số bệnh (%) của 4 mẫu phận lập nấm C cucurbitarum trên lá của 3 giống ớt 32

Bảng 4.4 Tỷ lệ bệnh (%) của 4 mẫu phận lập nấm C cucurbitarum trên trái của 4 giống ớt 38

Bảng 4.5 Chỉ số bệnh (%) của 4 mẫu phận lập nấm C cucurbitarum trên trái của 4 giống ớt 39

Bảng 4.6 Tỷ lệ bệnh (%) và chỉ số bệnh (%) trên cây cà tím và ớt (đối chứng nhiễm)42

Trang 10

DANH SÁCH HÌNH

Hình 4.1 Tốc độ phát triển trung bình tản nấm C cucurbitarum của 4 mẫu phân lập

trên 5 loại môi trường dinh dưỡng khác nhau ở 24 GSC (mm/giờ) 21

Hình 4.2A Tản nấm của 4 mẫu phân lập nấm C cucurbitarum trên 5 loại môi trường

nuôi cấy 23

Hình 4.2B Tản nấm của 4 mẫu phân lập nấm C cucurbitarum trên 5 loại môi trường

nuôi cấy 24

Hình 4.3 Tốc độ phát triển trung bình tản nấm của 4 mẫu phân lập ở 7 mức nhiệt độ

khác nhau sau 24 GSC (mm/giờ) 27

Hình 4.4A Hình thái 4 mẫu phân lập nấm C cucurbitarum qua 7 mức nhiệt độ 29 Hình 4.4B Hình thái 4 mẫu phân lập nấm C cucurbitarum qua 7 mức nhiệt độ 30

Hình 4.5 Triệu chứng bệnh do mẫu phân lập OT1CG gây ra trên lá ớt trong điều kiện

phòng thí nghiệm 34

Hình 4.6 Triệu chứng bệnh do mẫu phân lập OT1CG gây ra trên trái ớt trong điều kiện

phòng thí nghiệm 40

Hình 4.7 Triệu chứng bệnh do mẫu phân lập nấm C cucurbitarum gây ra trên trái cà

tím trong điều kiện phòng thí nghiệm 43

Trang 11

Trong những năm gần đây, năng suất, sản lượng ớt ngày càng tăng cao, đồng thời

ớt là cây cho thu hoạch nhiều lứa trong một năm, với những lợi thế như vậy kết hợp với việc giá cả ngày một tăng, chính là động lực thúc đẩy cho người nông dân phát triển sản xuất Tuy nhiên, trên thực tế cây ớt bị rất nhiều sâu bệnh phá hại, ví dụ như

bệnh thán thư (Colletotrichum gloeosporioides), cháy lá (Choanephora cucurbitarum), héo vàng (Fusarium oxysporum), phấn trắng (Oidiopsis sicula), sương mai (Phytophthora capsici), đốm lá (Cercospora capsici), thối gốc (Sclerotium rolfsii), thối rễ (Rhizoctonia solani), héo cây (Verticium sp.); bệnh thối nhũn (Erwinia carotovora), héo xanh (Ralstonia solanacearum), đốm vi khuẩn (Xanthomonas campestris pv vesicatoria); bệnh do tuyến trùng bướu rễ (Meloidogyn incognata);

bệnh khảm, đốm lá, đốm gân lá, cong lá, xoăn lá làm ảnh hưởng trực tiếp đến năng

Trang 12

suất và chất lượng ớt, nhiều khi không cho thu hoạch (Phạm Văn Biên và ctv, 2003) Trong những năm gần đây, ngoài bệnh thường gặp trên ớt như thán thư thì bệnh chết cành ớt đã xuất hiện phổ biến ở một số vùng trồng ớt của tỉnh Tiền Giang, bệnh gây hại trên ngọn non làm ảnh hưởng tới sinh trưởng và năng suất ớt Người trồng ớt ở đây chưa có kinh nghiệm phòng trị bệnh này, cũng chưa có nhiều nghiên cứu về bệnh thối cành ớt và nấm gây bệnh này ở nước ta Để hiểu rõ hơn về tác nhân gây ra bệnh chết

cành ớt chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Khảo sát một số đặc điểm sinh học của

nấm Choanephora cucurbitarum gây ra bệnh chết cành ớt ”

1.2 Mục đích, yêu cầu

1.2.1 Mục đích

Biết được đặc điểm sinh học của nấm Choanephora cucurbitarum gây ra bệnh

chết cành ớt nhằm cung cấp cơ sở cho việc nghiên cứu các biện pháp phòng trừ bệnh này

1.2.2 Yêu cầu

- Xác định môi trường nuôi cấy thích hợp cho nấm C cucurbitarum

- Xác định phạm vi nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của nấm

C cucurbitarum

- Đánh giá khả năng gây bệnh của nấm C cucurbitarum trên ớt và trên một số

cây trồng khác

Trang 13

Chương 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Tổng quan về cây ớt

2.1.1 Giới thiệu

Cây ớt (Capsicum spp.) thuộc chi Capsicum, họ Cà (Solanaceae) Ớt là cây một

năm, nhiệt độ thích hợp cho ớt sinh trưởng và phát triển là 25 – 280C Hạt ớt khó nẩy mầm, ở nhiệt độ 18 – 200C hạt ớt nảy mầm sau 10 – 12 ngày Ớt cần nhiều ánh sáng để sinh trưởng và phát triển Ớt chịu được hạn nhưng không chịu được úng, ẩm độ đất quá cao (trên 80%) làm cho bộ rễ phát triển kém, cây còi cọc (Theo Mai Thị Phương Anh, 2001)

Theo Mai Thị Phương Anh (2001), ớt là loại cây vừa được dùng làm rau tươi, vừa được dùng làm gia vị Trong quả ớt chứa nhiều các loại sinh tố, đặc biệt trong cả hai loại ớt cay và ớt ngọt đều chứa nhiều vitamin C, lượng vitamin C ở một số giống

ớt là 340mg/100g quả tươi Ngoài ra ớt còn là cây trồng rất giàu các loại vitamin: vitamin A (các tiền vitamin A như α, β, γ carotene, cryptoxanthin trong cơ thể người chuyển thành vitamin A), các vitamin nhóm B như B1 (Thiamin), B2 (Riboflavin), B3 (Niacin), Vitamin E, Vitamin PP (Bảng 2.1)

Sản lượng ớt trên toàn thế giới khoảng 9,683 triệu tấn trong đó châu Á chiếm tới 4,263 triệu tấn (theo FAO, 1992) chưa kể sản lượng ớt khô cả quả và ớt bột, những sản phẩm chiếm một vị trí quan trọng ở châu Á Theo thống kê vùng châu Á thì diện tích trồng ớt hàng năm ước tính là vào khoảng 1,6 triệu ha Các nước Ấn Độ, Indonexia, Trung Quốc, và Triều Tiên là những nước có diện tích trồng ớt lớn nhất Ở Triều Tiên

ớt là cây dẫn đầu cả về diện tích cũng như giá trị, nó được sử dụng cả dạng xanh và quả khô Dạng bột khô là phụ gia chủ yếu trong món “kimchi” Theo Poulos (1994), năng suất của ớt dao động rất lớn theo hệ thống sản xuất, đặc biệt là ở vùng nhiệt đới

Trang 14

Trên thế giới, năng suất quả tươi trung bình đạt từ 1,7 đến 38 tấn/ha hoặc thậm chí đạt

(Nguồn: Mai Thị Phương Anh, 2001)

2.1.2 Nguồn gốc, phân bố, phân loại

Cây ớt có nguồn gốc từ Mexico, Trung và Nam Mỹ Safford đã phát hiện quả ớt khô tại một nghĩa địa có 2000 năm tuổi ở Peru Đến thế kỷ 16, người Châu Âu mới biết đến cây ớt Ớt được Chrixtop Côlông đưa vào Tây Ban Nha vào năm 1493 Năm

1548 gieo trồng phổ biến ở Địa Trung Hải đến Anh và đến Trung Âu vào cuối thế kỷ thứ XVI Ớt vào Ấn Độ năm 1885 và Trung Quốc vào khoảng cuối năm 1700 Ớt được nhập vào Triều Tiên khoảng cuối thế kỷ thứ XVII

Có nhiều quan điểm khác nhau nhưng theo bảng phân loại mới nhất thì ớt có 5 loài được trồng trọt chính trong tổng số 30 loài ớt:

Loài Capsicum annuum L.; loài C frutescens L.; loài C chinense Jacquin; loài

C pendulum Willdenow var pendulum L và loài C pubescen Ruiz and Pavon (Mai

Thị Phương Anh, 2001)

Trang 15

220 hạt (Mai Thị Phương Anh, 2001)

2.1.4 Yêu cầu các điều kiện ngoại cảnh

2.1.4.1 Nhiệt độ

Nhiệt độ ảnh hưởng tới sinh trưởng, số hoa, tỷ lệ đậu quả Nhiệt độ ngày/đêm bằng 25/180C là thích hợp nhất cho sự sinh trưởng, phát triển của ớt nói chung, tăng năng suất, tăng số quả thương phẩm Nói chung ớt cay thích hợp nhiệt độ cao hơn, và dao động trong khoảng 20 – 300C, còn ớt ngọt thì ngưỡng nhiệt độ 20 – 250C là thích hợp nhất

Bảng 2.2 Ảnh hưởng của nhiệt độ đất đến sự nảy mầm của hạt giống

Trang 16

2.1.4.4 Đất và dinh dưỡng

Ớt là cây trồng tương đối dễ tính, đặc biệt là ớt cay Đất phù hợp nhất là đất thịt nhẹ, giàu vôi, ớt cũng có thể sinh trưởng, cho năng suất ở trên đất cát nhưng phải đảm bảo chế độ nước và bón phân đầy đủ Đất chua và kiềm đều không thích hợp cho ớt sinh trưởng và phát triển, ớt có thể sinh trưởng ở đất màu mỡ nhưng tỷ lệ nảy mầm và tính chín sớm bị ảnh hưởng Ớt là cây chịu mặn, người ta đã nghiên cứu và thấy rằng

ớt có thể nảy mầm ngay cả ở độ muối 4000 ppm và pH = 7,6 Đối với ớt ngọt tuy là có thể trồng ở mọi loại đất, nhưng đất thịt giữ nước và pH = 6 – 6,5 là thích hợp nhất (Mai Thị Phương Anh, 2001)

2.2 Giới thiệu về bệnh chết cành do nấm C cucurbitarum

2.2.1 Phân bố

Một vài nấm thuộc lớp Zygomycetes xâm nhiễm các cây khác nhau, đặc biệt ở

các cây trồng Chi Choanephora được biết tấn công nhiều cây trồng sau khi ra hoa và

lan sang trái Nấm này là nguyên nhân gây thối trái của một số cây trồng như cây bí

Trang 17

ngô, ớt và đậu bắp (Agrios, 1997), thối hoa của cây dã yên thảo, thối vỏ quả đậu đũa, thối hoa trên cây bông (Kwon và Jee, 2005), trên cà tím, dưa leo, đậu bắp, đậu đũa, bí, thuốc lá, đậu xanh, cỏ linh lăng, ngô (Ahmad và Mirza, 1988)

2.2.2 Triệu chứng và tác hại

Trên ớt nấm xâm nhập vào mô chết hay sắp chết trước khi xâm nhập vào mô ớt sống Giai đoạn cây con và giai đoạn cây ra hoa dễ bị nhiễm Nấm tấn công trên hoa già, đọt ớt và lan sang các hoa khác, tản nấm mọc bao phủ hoa, mô nhiễm chuyển từ màu nâu sang đen Cuống hoa, chồi, cành bị nhiễm một cách nhanh chóng Các khối sợi nấm màu trắng mọc ra bên ngoài mô ớt, bào tử xuất hiện trên đỉnh sợi nấm có màu đen, hình cầu, có thể quan sát bằng mắt thường Những trái còn non bị nhiễm có thể không phát triển Những cành nhiễm bị khô và chết, những lá trên cây bị héo, thân bị nhiễm xuất hiện vết ướt và bị bong ra thành từng mảnh (Cerkauskas, 2004)

Trên trái cà tím bệnh bắt đầu với vết mềm ướt và có màu xanh đen, và sau đó các

mô nhiễm nhũn nhanh hơn, nguồn bệnh xâm nhập chính qua vết thương trên trái và thối nhanh hơn Hầu hết trái bị nhiễm trong mô trái (Kwon và Jee, 2005)

Trên đậu đũa vỏ quả đậu bị thối ướt, có màu xanh đen, mô nhiễm lan nhanh theo từng khu vực Nguồn bệnh xâm nhập qua vết thương và nhiễm trong mô trái, không lây nhiễm qua hạt giống (Kwon và ctv, 2001)

Trang 18

2.2.3.1 Đặc điểm hình thái nấm C cucurbitarum

Khuẩn lạc nấm trên môi trường PDA có màu trắng đến vàng hơi nâu Nhiều đơn bào tử đính (monosporous sporangiola) hình thành nhanh trên môi trường Cuống bào

tử (sporangiophore) dài mảnh, phân cành ở đỉnh ngọn và mỗi cành ở đỉnh sinh ra nhiều bào tử bọc (sporangiospores) Bọc bào tử (sporangium) dạng hình cầu và kích

thước 40 – 130µm Nhiều bọc bào tử (sporangia) ban đầu hình thành không hoàn

chỉnh, màu trắng, hình cầu có phần phụ, khi trưởng thành màu nâu sẫm và có dạng hình cụm hoa ở trung tâm đĩa nuôi cấy, đường kính từ 35 – 160 µm (Frrderick, 1917) hay 42,6 – 112,6 µm (Kwon và ctv, 2001) Bào tử bọc (sporangiospores) hình elip, hình thoi hoặc hình trứng, màu nâu tối hoặc màu nâu, kích thước 14 – 22 x 7 – 16 µm

và có ba hoặc hơn ba phần phụ (Kwon và Jee, 2005) hay có kích thước 12,9 – 24,6 x 8,6 – 15,4 µm (Kwon và ctv, 2001)

Đơn bào tử đính (monosporous sporangiola) hình elip, hình thoi hoặc hình trứng, màu nâu, có cuống nhỏ, có sọc, kích thước 12 – 20 x 6 – 14 µm (Kwon và Jee, 2005) hay 9,8 – 23,4 x 7,2 – 12,8 µm (Kwon và ctv, 2001)

Bào tử tiếp hợp dạng hình cầu với lớp vỏ bào tử dày, màu nâu, hình thành ở điểm giao nhau của các sợi nấm, đường kính 55 – 90 µm (Sinha, 1939) hay 43,6 – 72,4 µm (Kwon và ctv, 2001)

2.2.3.2 Đặc điểm sinh học nấm C cucurbitarum

Trên đồng ruộng nấm C cucurbitarm tấn công trên ớt khi cây cao 20 cm và 8 –

10 ngày trước khi cây ra hoa (Blazquez, 1986) Tại vết bệnh trên trái sợi nấm sinh ra bọc bào tử (sporangia)và bào tử bọc (sporangiospores) Sợi nấm phát triển trên môi trường PDA ở nhiệt độ 15 - 400C, tối thích 300C Nấm phát triển nhanh trên môi trường PDA và sợi nấm phát triển đầy đĩa trong vòng 34 giờ (Kwon và Jee, 2005) và (Kwon và ctv, 2001) Theo Takeuchi và Horie (2000), nấm phát triển trên môi trường PDA ở 10 – 400C, tốt nhất ở 300C

Cả 2 loại bào tử bọc (sporangiospores) và bào tử đính (sporangiola) đều hình thành trong bóng tối ở điều kiện 12 giờ sáng và 12 giờ tối Các nhân tố ảnh hưởng tới

Trang 19

sự hình thành bào tử: nhiệt độ, ánh sáng, dinh dưỡng Nhiệt độ ảnh hưởng tới sự hình thành túi bào tử Ở 310C trong quá trình hình thành bào tử ảnh hưởng tới sự hình thành bọc bào tử, sợi nấm phát triển tốt nhất ở 340C Nghiên cứu về 17 môi trường cho nấm

C cucurbitarum phát triển nói rằng trên môi trường PDA sợi nấm C cucurbitarum

phát triển tốt nhất, môi trường cà rốt tốt nhất cho sự hình thành bào tử và nảy mầm bào

tử Trong ảnh hưởng của 11 nguồn carbon đến sinh trưởng và phát triển, nảy mầm của nấm thì glucose với nồng độ 2% tốt nhất cho sự phát triển và nảy mầm của nấm, trong khi đó sucrose và lactose tốt hơn cho sợi nấm phát triển Ảnh hưởng của 7 nguồn nitrogen đến sự phát triển của sợi nấm và nảy mầm của bào tử thì asparagines, tyrosine

và glycine tốt cho sự phát triển của sợi nấm và nảy mầm của bảo tử, trong khi đó trên môi trường có ammonium nitrate sợi nấm phát triển yếu nhất và môi trường có chứa chất này thì không tốt cho bào tử nảy mầm Ở pH 4,5 – 5,0 thì tốt nhất cho bào tử nảy mầm, sau 1 – 2 giờ ủ trên môi trường PGA bào tử bắt đầu nảy mầm và sau 4 giờ, 93% bào tử đã nảy mầm (trích dẫn theo Ngozi, 1988)

Bào tử đính nảy mầm dễ dàng trên môi trường dinh dưỡng như: giá đậu, khoai tây, glycerin, cellulose agar hoặc trên nước Trên môi trường agar, sự nảy mầm của

nấm C cucurbitarum không xảy ra, bào tử bắt đầu nảy mầm sau khi cấy 3 giờ ở trong

nước và trong môi trường dinh dưỡng Dấu hiệu đầu tiên của bào tử nảy mầm là bào tử gia tăng kích thước, tiếp theo có một hoặc hai ống mầm được hình thành, thường chỉ

có một ống mầm, ống mầm xuất hiện sau 2 giờ từ khi cấy trên tất cả các môi trường dinh dưỡng Dưới điều kiện nhiệt độ thích hợp, hệ sợi nấm phát triển bao kín trên môi trường agar trong vòng 24 giờ (Frrderick, 1917)

Bọc bào tử phát triển trong môi trường nuôi cấy, không phát triển trên cây ký chủ (Sinha, 1939) Khi điều kiện không thuận lợi như môi trường nhân tạo hết dinh dưỡng thì xuất hiện bọc bào tử Giai đoạn bào tử đính chỉ được tìm thấy trên cây bí ngô Bọc bào tử thường xuất hiện cùng với bào tử đính trên trái và xuất hiện riêng lẽ trên môi trường dinh dưỡng như cellulose, đậu, agar, glycerin, khi liên tục được giữ trong tối Khi cấy trên môi trường cellulose, giữ dưới ánh sáng, chỉ có bọc bào tử phát triển Bào

tử bọc được quan sát rõ hơn khi bọc bào tử trưởng thành bị vỡ ra (Frrderick, 1917)

Trang 20

Quá trình nảy mầm của các bào tử bọc giống như trên bào tử đính, 2 đến 3 giờ sau khi bào tử được đặt trong môi trường dinh dưỡng thì bào tử gia tăng kích thước, sau đó xuất hiện một hoặc hai ống mầm, vài giờ sau sợi nấm sẽ phân nhánh (Frrderick,

1917)

Bào tử tiếp hợp phát triển trên môi trường dinh dưỡng, không phát triển trên ký chủ (Sinha, 1939) Bào tử tiếp hợp trưởng thành có thể quan sát trên môi trường agar sau 48 giờ, trên lớp bề mặt của môi trường có thể nhìn thấy những đốm màu đen bằng mắt thường

Chủng bệnh nhân tạo trên cà tím: trồng giống cà tím trong chậu với đất màu mỡ 1/5000a Wagner trong 46 ngày Chuẩn bị dịch bào tử của các dòng (4 ngày trên PDA) Nồng độ bào tử được điều chỉnh đến 3x105/ml được đo bởi huyết tốc kế và buồng đếm bào tử (50ml/trái) qua vết thương trái cà tím Cây được chủng trong phòng kín, ẩm 100% ở 300C trong 24 giờ và đưa vào nhà kính cho đến khi kết thúc thí nghiệm Triệu chứng điển hình của bệnh thối trái xuất hiện sau 8 ngày sau chủng trên trái cà tím triệu chứng phát triển trên trái được chủng giống quan sát được trên đồng ruộng (Kwon và Jee, 2005)

Trên đậu đũa: tương tự trên cà tím, nhưng trồng cây giống trong 76 ngày và triệu chứng bệnh xuất hiện sau 4 ngày sau chủng (Kwon và ctv, 2001)

2.2.4 Chu kỳ phát triển bệnh

Nấm tấn công trên hoa, đọt non và rụng xuống đất rồi phân hủy Sau một thời gian mưa nhiều, ẩm độ và nhiệt độ cao (250 – 300C) Bào tử trong đất trở lại tấn công hoa, trái non và xâm nhiễm qua vết thương do cơ học hay côn trùng Những bào tử này

có thể được phân tán bởi côn trùng từ hoa này sang hoa khác như ong Bệnh phát triển mạnh khi sản xuất tập trung Bào tử nấm có thể sống lâu hơn trong đất và nó được liên kết với tàn dư thực vật (Cerkauskas, 2004)

Trang 21

2.2.5 Biện pháp quản lý

- Trồng trên đất thoát nước tốt

- Không trồng quá dày

- Tưới nhỏ giọt tránh tưới phun

- Bón phân cân đối

- Phun thuốc trừ nấm

(Cerkauskas, 2004)

Trang 22

3.2 Nội dung nghiên cứu

- Khảo sát đặc điểm sinh trưởng và phát triển của C cucurbitarum trên một số

môi trường dinh dưỡng

- Khảo sát sự sinh trưởng và phát triển của nấm C cucurbitarum ở các mức nhiệt

- Vật liệu: 4 mẫu phân lập nấm C cucurbitarum (Bảng 3.1)

+ Các môi trường nuôi cấy nấm (Bảng 3.2)

+ Các cây để chủng bệnh nhân tạo : ớt (OT), đậu bắp (ĐB), mướp (M), cà tím (CT)

Trang 23

Bảng 3.1: Bốn mẫu phân lập nấm C cucurbitarum

STT Ký hiệu mẫu

phân lập

Cây ký chủ Bộ phận cây

ký chủ

Địa điểm lấy mẫu

OT1CG: mẫu phân lập nấm C cucurbitarum lấy từ lá ớt ở Chợ Gạo

CT3CC: mẫu phân lập nấm C cucurbitarum lấy từ trái cà tím ở Củ Chi

M2CC: mẫu phân lập nấm C cucurbitarum lấy từ hoa mướp ở Củ Chi

ĐB3HM: mẫu phân lập nấm C cucurbitarum lấy từ trái đậu bắp ở Hốc Môn

Trang 24

Bảng 3.2 Thành phần các loại môi trường dinh dưỡng thí nghiệm

Môi trường Thành phần Liều lượng (g ; ml)

PGA

Khoai tây Glucose Agar Nước cất

20

20

15

1000 CMA Bột bắp

Agar Nước cất

150

20

15

1000

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Khảo sát đặc điểm sinh trưởng và phát triển của nấm C cucurbitarum trên

một số môi trường dinh dưỡng

Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 mẫu phân lập nấm

C cucurbitarum, 5 nghiệm thức (mỗi nghiệm thức tương ứng một loại môi trường), 5

lần lặp lại Mỗi lần lặp lại tương ứng với 1 đĩa petri có đường kính 90mm

Năm loại môi trường nuôi cấy được thí nghiệm gồm: PGA, WA, PCA, CMA, MGA

- Phương pháp tiến hành: Các môi trường nuôi cấy sau khi được hấp khử trùng,

đổ ra đĩa petri 20ml/đĩa Cấy 1 khoanh nấm có đường kính 4mm cùng độ tuổi (lấy từ

Trang 25

mép tản nấm 1 ngày tuổi) vào trung tâm của đĩa petri ở vị trí úp ngược cho nấm tiếp xúc với môi trường Các đĩa petri được đặt trong điều kiện tự nhiên của phòng thí nghiệm

- Các chỉ tiêu theo dõi:

+ Đường kính tản nấm (mm): đo 12 giờ/lần kể từ khi cấy cho đến khi tản nấm chạm thành đĩa petri thì ngừng quan sát

Đường kính trung bình được tính theo công thức: d = (d1 + d2)/2

d: đường kính trung bình của tản nấm

d1, d2: hai đường chéo vuông góc đo trên tản nấm

+ Màu sắc, hình thái của tản nấm được quan sát bằng mắt thường

3.4.2 Khảo sát sự sinh trưởng và phát triển của nấm C cucurbitarum ở các

mức nhiệt độ khác nhau

Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 mẫu phân lập nấm (trên ớt, cà tím, đậu bắp, mướp), 5 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại tương ứng với 1 đĩa petri có đường kính 90mm Các mức nhiệt độ thí nghiệm là: 100C, 150C, 200C, 250C, 300C, 350C và

400C

- Phương pháp tiến hành: Cấy 1 khoanh nấm có đường kính 4mm cùng độ tuổi (lấy từ mép tản nấm 1 ngày tuổi) vào trung tâm của đĩa petri ở vị trí úp ngược cho nấm tiếp xúc với môi trường PGA Các đĩa petri được đặt trong tủ định ôn Memmerl, ở các mức nhiệt độ nêu trên thời gian chiếu sáng 12 tối, 12 sáng

- Chỉ tiêu theo dõi:

+ Đường kính tản nấm (mm): đo 12 giờ/lần kể từ khi cấy cho đến khi tản nấm chạm thành đĩa petri thì ngừng quan sát

Đường kính trung bình được tính theo công thức tương tự như mục 3.3.3

+ Màu sắc, hình thái tản nấm quan sát bằng mắt thường

Trang 26

3.4.3 Đánh giá khả năng gây bệnh của 4 mẫu phân lập nấm C cucurbitarum

trên cây ớt và trên một số cây khác

3.4.3.1 Đánh giá khả năng gây bệnh của 4 mẫu phân lập nấm C cucurbitarum

Hộp nhựa được lau bằng cồn 700C, lót vỉ sắt không rỉ ở đáy hộp làm giá đỡ, cho 15ml nước cất vô trùng vào hộp để tạo ẩm độ Lá hoặc trái ớt lấy từ ngoài đồng về rửa sạch dưới vòi nước chảy, rửa qua cồn 700, rửa lại bằng nước cất vô trùng, dùng giấy thấm vô trùng thấm khô lá hoặc trái, dùng kim gây thương 1 điểm trên lá hoặc trái, đặt lên trên giá đỡ Lấy 1 khoanh sợi nấm 2 ngày tuổi đường kính 4 mm đặt úp mặt nấm cho tiếp xúc vết thương Đối chứng đặt khoanh agar không có nấm Sau đó các hộp đặt trong điều kiện bình thường của phòng thí nghiệm

Theo dõi hàng ngày các chỉ tiêu:

- Thời gian xuất hiện bệnh (Giờ sau chủng)

Trang 27

n4 : số lá hoặc trái bị bệnh cấp 4

n5 : số lá hoặc trái bị bệnh cấp 5

N : tổng số lá hoặc trái quan sát

- Phân cấp bệnh theo bảng phân cấp sau:

C0 : lá không bị bệnh

C1 : 1 – 10 % diện tích lá hoặc trái bị bệnh

C2 : 11 – 25 % diện tích lá hoặc trái bị bệnh

C3 : 26 – 50 % diện tích lá hoặc trái bị bệnh

C4 : 51 – 75 % diện tích lá hoặc trái bị bệnh

C5 : > 75 % diện tích lá hoặc trái bị bệnh

3.4.3.2 Đánh giá khả năng gây bệnh của 4 mẫu phân lập nấm C cucurbitarum trên các cây khác

Vật liệu làm thí nghiệm: lá non và trái non của các cây cà tím, đậu bắp xanh, mướp hương, ớt

Phương pháp: thí nghiệm tiến hành tương tự như ở 3.5.3.1 với 4 mẫu phân lập nấm lần lượt trên lá và trái non của các cây cà tím, đậu bắp, mướp Mỗi nghiệm thức lặp lại 10 lần, mỗi lần lặp lại là 1 lá hoặc trái Chủng tương tự trên giống ớt sừng vàng trắng làm đối chứng nhiễm Chủng với khoanh agar không có nấm làm đối chứng không nhiễm

Chỉ tiêu theo dõi: tương tự ở 3.5.3.1

3.5 Xử lý số liệu

Các số liệu được phân tích ANOVA-1, trắc nghiệm phân hạng LSD hoặc Duncan

sử dụng phần mềm MSTATC Sử dụng excel để tính toán và vẽ biểu đồ, đồ thị

Các số liệu tính bằng phần trăm được chuyển đổi sang Arcsin (x)1/2 và Arcsin (x + 0,5)1/2 trước khi thống kê

Trang 28

Chương 4

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Sự sinh trưởng, phát triển của 4 mẫu phân lập nấm C cucurbitarum trên

một số môi trường dinh dưỡng khác nhau

Nấm C cucurbitarum có thể mọc trên các môi trường dinh dưỡng khác nhau

Tuy nhiên trên mỗi loại môi trường khác nhau thì sự sinh trưởng, phát triển của nấm

rất khác nhau Để phục vụ cho quá trình nghiên cứu nấm C cucurbitarum nói chung

hay việc nhân nuôi sinh khối nấm được thuận lợi, việc khảo sát sinh trưởng phát triển

của 4 mẫu phân lập nấm C cucurbitarum trên các một số môi trường dinh dưỡng khác

nhau được tiến hành để chọn ra môi trường thích hợp nhất cho nấm này Môi trường được lựa chọn để nuôi cấy nấm gồm: MGA, PGA, PCA, CMA, WA Kết quả được thể hiện qua bảng 4.1 và hình 4.2A-B

Qua bảng 4.1 cho thấy sau 24 giờ sau cấy (GSC) tản nấm C cucurbitarum mọc

đầy đĩa trên môi trường MGA, PGA và mọc chậm nhất trên môi trường WA với cả 4 mẫu phân lập nấm

Sau 24 GSC trên mẫu phân lập CT3CC có 5 nhóm ký tự khác nhau theo sau các giá trị trung bình thể hiện sự khác nhau rất có ý nghĩa về mặt thống kê được sắp theo thứ tự cao đến thấp của đường kính tản nấm Mẫu phân lập CT3CC mọc tốt nhất trên môi trường MGA (86,6 mm) và tốt trên môi trường PGA (70,6mm), môi trường PCA (46,7 mm), môi trường CMA (32 mm), nấm mọc chậm nhất trên môi trường WA (19,7 mm) Trên tất cả các loại môi trường, tản nấm có màu trắng, tuy nhiên hình thái tản nấm trên từng loại môi trường thì khác nhau: trên MGA tản nấm mọc chồng có hình bông hoa, trên PGA tản nấm mọc tỏa tròn, trên PCA và CMA tản nấm cũng mọc tỏa

Trang 29

tròn nhưng thưa và chìm trong môi trường, trên WA tản nấm mọc thưa thớt, mảnh

(Hình 4.2A)

Bảng 4.1 Đường kính tản nấm của 4 mẫu phân lập nấm C cucurbitarum trên

các môi trường dinh dưỡng khác nhau

Ghi chú: (*) Đường kính trung bình của 5 lần lặp lại

GSC: Giờ sau cấy Trong cùng một cột, các số trung bình được theo sau bởi cùng 1 ký tự thì

sự khác biệt không có ý nghĩa theo trắc nghiệm LSD .

Sau 24 GSC trên mẫu phân lập M2CC cho thấy có 5 nhóm ký tự khác nhau theo

sau các giá trị trung bình thể hiện sự khác nhau rất có ý nghĩa về mặt thống kê được

sắp theo thứ tự từ cao đến thấp của đường kính tản nấm Mẫu phân lập M2CC mọc tốt

nhất trên môi trường PGA (90 mm), tốt hơn trên các môi trường còn lại theo thứ tự

MGA (83,9 mm), PCA (54,9 mm), CMA (51 mm), trên WA nấm mọc chậm nhất (30,7

mm) Hình thái tản nấm mọc khác nhau trên từng loại môi trường: tản nấm mọc dạng

tỏa tròn trên cả 3 loại môi trường MGA, PGA, PCA, trên CMA tản nấm mọc chìm

trong môi trường, trên WA tản nấm mọc dạng tỏa, thưa thớt, mảnh (Hình 4.2A)

Sau 24 GSC trên mẫu phân lập ĐB3HM cho thấy có 3 nhóm ký tự theo sau các

giá trị trung bình thể hiện sự khác nhau rất có ý nghĩa về mặt thống kê được sắp theo

thứ tự từ cao đến thấp của đường kính tản nấm Mẫu phân lập ĐB3HM mọc tốt trên cả

24 GSC

12 GSC

24 GSC

12 GSC

24 GSC

12 GSC

24 GSC

Trang 30

2 loại môi trường MGA (90 mm)và PGA (88,63 mm) (2 NT không có sự khác biệt về mặt thồng kê), nấm mọc chậm trên 2 loại môi trường CMA (38 mm) và WA (45,18 mm) Hình thái tản nấm mọc khác nhau trên từng loại môi trường: tản nấm mọc chồng lên nhau có hình bông hoa trên môi trường MGA, trên PGA, PCA tản nấm mọc dảng tỏa tròn, trên CMA tản nấm mọc chìm trong môi trường, trên WA tản nấm mọc sợi, thưa thớt, mảnh (Hình 4.2A)

Sau 24 GSC trên mẫu phân lập OT1CG cho thấy có 4 nhóm ký tự theo sau các giá trị trung bình thể hiện sự khác nhau rất có ý nghĩa về mặt thống kê được sắp theo thứ tự từ cao đến thấp của đường kính tản nấm Mẫu phân lập OT1CG nấm mọc tốt nhất trên môi trường PGA (85,8 mm) và trên các môi trường còn lại MGA (67,30 mm), PCA (53,90 mm), nấm mọc chậm trên môi trường CMA (46,3 mm) và WA (41,5 mm) Hình thái tản nấm mọc khác nhau trên từng loại môi trường: trên PGA sợi nấm mọc chồng lên nhau, tản nấm tỏa ra chồng lên có hình sao, trên môi trường MGA

và PCA tản nấm mọc hình tỏa tròn, trên CMA tản nấm mọc chìm trong môi trường, trên WA tản nấm mọc thành sợi, thưa thớt (Hình 4.2A)

Qua hình 4.1 cho thấy trên trường môi trường MGA có 2 nhóm ký tự theo sau các giá trị trung bình thể hiện sự khác nhau rất có ý nghĩa về mặt thống kê được sắp theo thứ tự từ nhanh đến chậm của tốc độ phát triển tản nấm Tốc độ phát triển trung bình nhanh nhất trên mẫu phân lập ĐB3HM (3,75 mm/giờ) khác biệt không có ý nghĩa với 2 mẫu phân lập CT3CC và M2CC lần lượt là 3,61 và 3,50 mm/giờ, khác biệt rất có

ý nghĩa với OT1CG có tốc độ phát triển trung bình chậm nhất 2,80 mm/giờ (hình 4.2) Hình thái tản nấm thay đổi giữa các mẫu phân lập, trên mẫu phân lập M2CC và OT1CG tản nấm có dang tỏa tròn, tản nấm có dạng bông hoa trên 2 mẫu phân lập ĐB3HM và CT3CC (Hình 4.2B)

Trang 31

Hình 4.1 Tốc độ phát triển trung bình tản nấm C cucurbitarum của 4 mẫu

phân lập trên 5 loại môi trường dinh dưỡng khác nhau ở 24 GSC (mm/giờ)

Trên môi trường PGA cho thấy có 3 nhóm ký tự theo sau các giá trị trung bình thể hiện sự khác nhau rất có ý nghĩa về mặt thống kê được sắp theo thứ tự từ nhanh đến chậm của tốc độ phát triển tản nấm Tốc độ phát triển trung bình của tản nấm nhanh nhất trên mẫu phân lập M2CC (3,75 mm/giờ) khác biệt không có ý nghĩa với ĐB3HM (3,70 mm/giờ), nhưng rất khác biệt với các mẫu phân lập còn lại Mẫu phân lập OT1CG có tốc độ phát triển trung bình đạt 3,58 (mm/giờ) khác biệt không có ý nghĩa với mẫu phân lập ĐB3HM (3,70 mm/giờ), nhưng có khác biệt rất có ý nghĩa với các mẫu còn lại Tốc độ phát triển trung bình chậm nhất đạt 2,94 mm/giờ ở mẫu phân lập CT3CC khác biệt rất có ý nghĩa với các mẫu phân lập còn lại Hình thái tản nấm trên mẫu phân lập M2CC, CT3CC và ĐB3HM có dạng tỏa tròn, có dạng tỏa ngôi sao trên mẫu phân lập OT1CG (Hình 4.2B)

Trên môi trường PCA cho thấy có 3 nhóm ký tự theo sau các giá trị trung bình thể hiện sự khác nhau rất có ý nghĩa về mặt thống kê được sắp theo thứ tự từ nhanh đến chậm của tốc độ phát triển tản nấm Tản nấm mọc nhanh nhất ở mẫu phân lập

Trang 32

ĐB3HM có tốc độ phát triển trung bình 2,53 mm/giờ khác biệt có ý nghĩa với các mẫu phân lập còn lại, tốc độ phát triển chậm nhất ở mẫu phân lập CT3CC (1,95 mm/giờ) khác biệt có ý nghĩa với các mẫu phân lập còn lại, trên mẫu phân lập M2CC và OT1CG thì tốc độ phát triển tản nấm trung bình lần lượt đạt 2,29 và 2,25 mm/giờ khác biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê nhưng khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê với các mẫu còn lại Hình thái tản nấm trên môi trường PCA của 4 mẫu phân lập đều có hình tỏa tròn (Hình 4.2B)

Trên môi trường CMA cho thấy có 4 nhóm ký tự theo sau các giá trị trung bình thể hiện sự khác nhau rất có ý nghĩa về mặt thống kê được sắp theo thứ tự từ nhanh đến chậm của tốc độ phát triển tản nấm Tốc độ phát triển trung bình tản nấm nhanh nhất trên mẫu phân lập M2CC (2,13 mm/giờ) khác biệt có ý nghĩa với các mẫu còn lại, chậm nhất trên mẫu phân lập CT3CC (1,33 mm/giờ) khác biệt có ý nghĩa với các mẫu còn lại Tản nấm có dạng tỏa tròn nhưng thưa thớt và chìm trong môi trường (Hình 4.2B)

Trên môi trường WA cho thấy có 3 nhóm ký tự theo sau các giá trị trung bình thể hiện sự khác nhau rất có ý nghĩa về mặt thống kê được sắp theo thứ tự từ nhanh đến chậm của tốc độ phát triển tản nấm Tản nấm có tốc độ mọc nhanh nhất ở mẫu phân lập ĐB3HM (1,88 mm/giờ) khác biệt không có ý nghĩa với mẫu OT1CG (1,73 mm/giờ), nhưng khác biệt có ý nghĩa với các mẫu còn lại Tốc độ phát triển của tản nấm mọc chậm nhất ở mẫu CT3CC (0,82 mm/giờ) khác biệt không có ý nghĩa với M2CC (1,28 mm/giờ) nhưng khác biệt có ý nghĩa với các mẫu còn lại hình thái tản nấm trên 4 mẫu phân lập có dạng sợi mảnh, thưa thớt (Hình 4.2B)

Tóm lại nấm có thể mọc trên các loại môi trường khác nhau, nhìn chung cả 4

mẫu phân lập nấm C cucurbitarum mọc tốt trên môi trường PGA và MGA, mọc chậm

trên môi trường WA

Trang 33

Hình 4.2A Tản nấm của 4 mẫu phân lập nấm C cucurbitarum trên 5 loại môi trường nuôi cấy

a) PGA; b) MGA; c) PCA; d) CMA; e) WA

Trang 34

Hình 4.2B Tản nấm của 4 mẫu phân lập nấm C cucurbitarum trên 5 loại môi trường nuôi cấy

a) CT3CC; b) M2CC; c) ĐB3HM; d) OT1CG

Trang 35

4.2 Sự sinh trưởng và phát triển của nấm C cucurbitarum ở các mức

nhiệt độ khác nhau

Ngoài yếu tố môi trường thì nhiệt độ cũng ảnh hưởng tới sinh trưởng phát triển

của nấm, mỗi loài nấm thích hợp với một khoảng nhiệt độ nhất định Từ kết quả thí

nghiệm khảo sát sự sinh trưởng và phát triển của nấm C cucurbitarum trên 5 loại môi

trường nuôi cấy, môi trường PGA được chọn để tiến hành thí nghiệm khảo sát sự sinh

trưởng và phát triển nấm C cucurbitarum ở 7 mức nhiệt độ nhằm xác định khoảng

nhiệt độ thích hợp cho 4 mẫu phân lập nấm

Bảng4 2 Đường kính tản nấm của 4 mẫu phân lập nấm C cucurbitarum ở 7 mức

GSC: Giờ sau cấy

(*) Đường kính trung bình của 5 lần lặp lại Trong cùng một cột, các số

trung bình được theo sau bởi cùng 1 ký tự thì sự khác biệt không có ý nghĩa theo

trắc nghiệm Duncan

Qua bảng 4.2 ta thấy ở 4 mẫu phân lập nấm có thể mọc trong khoảng nhiệt độ từ

150C – 350C và ở 100C và 400C cả 4 mẫu phân lập đều không mọc

Trang 36

Mẫu phân lập CT3CC sau 24 GSC cho thấy có 5 nhóm ký tự theo sau các giá trị trung bình thể hiện sự khác nhau rất có ý nghĩa về mặt thống kê được sắp theo thứ tự

từ cao đến thấp của đường kính tản nấm Mẫu phân lập CT3CC nấm mọc tốt nhất ở

300C (84,3 mm), mọc chậm nhất ở 150C (13,3 mm) Đường kính tản nấm tăng dần khi nhiệt độ tăng từ 150C – 300C (13,3 – 84,3 mm) và giảm ở 350C (49 mm) Hình thái tản nấm qua các mức nhiệt độ có sự thay đổi: 150C sợi nấm mọc thưa trên mặt thạch, ở

200C và 250C sợi nấm mọc xoáy, tản nấm có hình bông hoa nhưng không thể hiện rõ,

ở 300C và 350C sợi nấm mọc xoáy và chồng lên nhau, tản nấm có hình bông hoa rõ rệt (Hình 4.4A)

Mẫu phân lập M2CC sau 24 GSC cho thấy có 3 nhóm ký tự theo sau các giá trị trung bình thể hiện sự khác nhau rất có ý nghĩa về mặt thống kê được sắp theo thứ tự

từ cao đến thấp của đường kính tản nấm Mẫu phân lập M2CC nấm mọc tốt ở 300C sau 24 GSC (77,4 mm) khác biệt không có ý nghĩa với mức 250C (66,2 mm) nhưng khác biệt có ý nghĩa với các nghiệm thức còn lại Sau 12 GSC và 24 GSC ta có thể thấy được nấm mọc tốt nhất ở 300C và mọc chậm ở 150C và 200C Hình thái tản nấm thay đổi qua các mức nhiệt độ khác nhau ở 150C sợi nấm mọc thưa không thấy rõ, ở

200C và 250C sợi nấm mọc dạng tỏa, mỏng, ở 300C sợi nấm mọc xoáy và chồng lên nhau và tản nấm có hình bông hoa, ở 350C tản nấm có dạng tỏa tròn dày (Hình 4.4A)Mẫu phân lập ĐB3HM sau 24 GSC cho thấy có 5 nhóm ký tự theo sau các giá trị trung bình thể hiện sự khác nhau rất có ý nghĩa về mặt thống kê được sắp theo thứ tự

từ cao đến thấp của đường kính tản nấm Mẫu phân lập ĐB3HM nấm mọc tốt nhất ở

300C (90 mm) rất khác biết với các nghiệm thức còn lại, mọc chậm nhất ở 150C (16,5mm) Đường kính tản nấm tăng từ 150C – 300C (16,5 – 90 mm) và giảm ở mức

350C (66,6 mm) sau 24 GSC Ở 100C và 400C nấm không mọc, ở 150C sợi nấm mọc thưa trên mặt môi trường, ở 200C, 250C, 300C sợi nấm mọc xoáy, dày, tản nấm có hình bông hoa, ở 350C tản nấm có dạng tỏa tròn (Hình 4.4A)

Trang 37

Mẫu phân lập OT1CG sau 24 GSC cho thấy có 5 nhóm ký tự theo sau các giá trị trung bình thể hiện sự khác nhau rất có ý nghĩa về mặt thống kê được sắp theo thứ tự

từ cao đến thấp của đường kính tản nấm Sau 24 GSC dòng OT1CG tản nấm mọc mạnh nhất ở mức nhiệt độ 300C (86,2 mm) và khác biệt rất có ý nghĩa với các nghiệm thức còn lại, tản nấm mọc chậm nhất ở 150C (13,9 mm) Đường kính tản nấm tăng dần

từ 150C – 300C (13,9 – 86,2 mm) và giảm ở 350C (65,6 mm) Sợi nấm ở 10 và 40 không mọc, mọc thưa thớt ở 150C, ở 200C tản nấm có dạng bông hoa, ở 250C – 350C tản nấm có dạng tỏa tròn (Hình 4.4A)

Hình 4.3: Tốc độ phát triển trung bình tản nấm của 4 mẫu phân lập ở 7 mức

nhiệt độ khác nhau sau 24 GSC (mm/giờ)

Qua hình 4.3 cho thấy mức 150C giữa 4 mẫu phân lập khác biệt không có ý nghĩa

về mặt thống kê Tốc độ phát triển nhanh nhất ở mẫu ĐB3HM và chậm nhất ở mẫu CT3CC lần lượt là 0,69 và 0,55 mm/giờ Hình thái tản nấm có dạng sợi mảnh, thưa thớt (Hình 4.4B)

Ở mức 200C có 3 nhóm ký tự theo sau các giá trị trung bình thể hiện sự khác nhau rất có ý nghĩa về mặt thống kê được sắp theo thứ tự từ nhanh đến chậm của tốc

Trang 38

độ phát triển trung bình tản nấm Mẫu phân lập OT1CG có tốc độ phát triển nhanh nhất (2,03 mm/giờ) khác biệt không có ý nghĩa so với mẫu ĐB3HM (1,83 mm/giờ) nhưng khác biệt có ý nghĩa với các mẫu còn lại Mẫu phân lập M2CC có tốc độ phát triển trung bình chậm nhất là 0,43 (mm/giờ) khác biệt rất có ý nghĩa với các mẫu phân lập còn lại Hình thái tản nấm có dạng tỏa tròn, thưa trên ở mẫu M2CC và tản nấm mọc chồng xoáy tạo hình bông hoa ở mẫu CT3CC, ĐB3HM và OT1CG (Hình 4.4B)

Ở mức nhiệt độ 250C có 2 nhóm ký tự theo sau các giá trị trung bình thể hiện sự khác nhau rất có ý nghĩa về mặt thống kê được sắp theo thứ tự từ nhanh đến chậm của tốc độ phát triển trung bình tản nấm Tốc độ phát triển trung bình nhanh nhất là 3,29 (mm/giờ) ở mẫu ĐB3HM khác biệt không có ý nghĩa so với mẫu OT1CG (2,94 mm/giờ), nhưng khác biệt rất có ý nghĩa với mẫu CT3CC (2,61 mm/giờ) và M2CC (2,76 mm/giờ) Tốc độ phát triển trung bình chậm nhất trên mẫu phân lập CT3CC (2,61 mm/giờ) khác biệt không có ý nghĩa với mẫu M2CC (2,67 mm/giờ), nhưng khác biệt có ý nghĩa với các mẫu phân lập còn lại Ở mẫu phân lập CT3CC và ĐB3HM tản nấm mọc chồng lên nhau có dạng bông hoa và có dạng tỏa tròn ở mẫu M2CC và OT1CG (Hình 4.4B)

Ở mức nhiệt độ 300C không có sự khác biệt về mặt thống kê giữa các mẫu phân lập Tốc độ phát triển trung bình nhanh nhất ở mẫu ĐB3HM (3,75 mm/giờ) và chậm nhất ở mẫu M2CC (3,23 mm/giờ) Hình thái tản nấm có dạng bông hoa trên mẫu CT3CC, M2CC và ĐB3HM, trên mẫu OT1CG có dạng tỏa tròn (Hình 4.4B)

Ở mức nhiệt độ 350C có 2 nhóm ký tự theo sau các giá trị trung bình thể hiện sự khác nhau rất có ý nghĩa về mặt thống kê được sắp theo thứ tự từ nhanh đến chậm của tốc độ phát triển trung bình tản nấm Tốc độ phát triển trung bình nhanh nhất ở mẫu ĐB3HM 2,78 (mm/giờ) khác biệt không có ý nghĩa với mẫu M2CC (2,62 mm/giờ) và mẫu OT1CG (2,73 mm/giờ), nhưng khác biệt có ý nghĩa so với mẫu CT3CC có tốc độ phát triển trung bình chậm nhất là (2,04 mm/giờ) Hình thái tản nấm có dạng tỏa tròn trên cả 4 mẫu phân lập (Hình 4.4B)

Tóm lại 4 mẫu phân lập nấm C curbitarum không mọc ở mức nhiệt độ 100C và

400C, mọc trong khoảng 150C – 350C, tốt nhất trong khoảng 250C – 300C

Trang 39

Hình 4.4A Hình thái 4 mẫu phân lập nấm C cucurbitarum qua 7 mức nhiệt độ

a)150C; b) 200C; c) 250C; d) 300C; e) 350C

OT1CG ĐB3HM

Trang 40

Hình 4.4B Hình thái 4 mẫu phân lập nấm C cucurbitarum qua 7 mức nhiệt độ

Ngày đăng: 11/06/2018, 09:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm