1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG BỆNH RỤNG LÁ PHẤN TRẮNG VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU LỰC PHÒNG TRỊ BỆNH CỦA MỘT SỐ LOẠI THUỐC TRỪ NẤM TẠI TỔNG CÔNG TY CAO SU ĐỒNG NAI

70 216 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 3,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG BỆNH RỤNG LÁ PHẤN TRẮNG VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU LỰC PHÒNG TRỊ BỆNH CỦA MỘT SỐ LOẠI THUỐC TRỪ NẤM TẠI TỔNG CÔNG TY CAO SU ĐỒNG NAI Xem nội dung đầy đủ tại: https://123doc.org/document/4971621-pham-hoang-son.htm

Trang 1

KHOA NÔNG HỌC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG BỆNH RỤNG LÁ PHẤN TRẮNG VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU LỰC PHÒNG TRỊ BỆNH CỦA MỘT SỐ LOẠI THUỐC TRỪ NẤM TẠI TỔNG CÔNG TY

Trang 2

ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG BỆNH RỤNG LÁ PHẤN TRẮNG VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU LỰC PHÒNG TRỊ BỆNH CỦA MỘT SỐ

LOẠI THUỐC TRỪ NẤM TẠI TỔNG CÔNG TY

Tp Hồ Chí Minh, tháng 8/2011

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên em xin chân thành cám ơn các thầy, cô Trường Đại học Nông Lâm

TP Hồ Chí Minh và các thầy cô Khoa Nông học đã quan tâm, giúp đỡ, dạy dỗ và truyền đạt những kiến thức quý báu để em có thể học tập và nghiên cứu như hôm nay

Em xin cảm ơn Viện Nghiên cứu cao su Việt Nam, các cô, chú lãnh đạo và cán

bộ của Viện đã tạo điều kiện để em có thể hoàn thành tốt nhất đợt thực tập cũng như luận văn tốt nghiệp này

Em cũng xin cám ơn Công ty TNHH MTV Tổng Công Ty Cao su Đồng Nai, các cô, chú lãnh đạo và cán bộ của Công ty đã tạo điều kiện để em có thể hoàn thành tốt đợt thực tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Em cũng xin cảm ơn Tiến sĩ Nguyễn Anh Nghĩa, Trưởng Bộ môn Bảo vệ Thực vật - Viện nghiên cứu Cao su Việt Nam đã luôn quan tâm, chỉ bảo và giúp đỡ em trong suốt thời gian thực hiện đề tài tốt nghiệp

Em xin chân thành cảm ơn Thạc sĩ Nguyễn Minh Khang, Trưởng Phòng Kỹ thuật Nông nghiệp - Công ty TNHH MTV Tổng Công ty Cao su Đồng Nai đã tận tình giúp đỡ và chỉ bảo cho em trong suốt thời gian thực tập tại Công ty

Đồng thời, em xin chân thành cảm ơn Thạc Sĩ Trần Văn Lợt đã tận tình giúp

đỡ, hướng dẫn em từ những ngày đầu chấp bút đến khi hoàn thành luận văn này

Em cũng chân thành cảm ơn Kỹ sư Trương Văn Tuấn, Kỹ sư Nguyễn Phương Vinh và các cô, chú, anh, chị hiện đang công tác tại Bộ môn Bảo vệ Thực vật và Công

Ty TNHH MTV Tổng Công ty Cao su Đồng Nai luôn giúp đỡ em trong suốt thời gian

em thực hiện đề tài

Bên cạnh đó, tận đáy lòng mình, em cũng vô cùng biết ơn ông, bà, cha, mẹ đã yêu thương, chăm sóc, dạy dỗ, không ngại khổ cực, làm lụng vất vả để nuôi nấng và lo cho em được ăn học đến ngày hôm nay

Tp Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2011

Sinh viên Phạm Hoàng Sơn

Trang 4

TÓM TẮT

Phạm Hoàng Sơn, Khoa Nông Học, Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí

Minh Đề tài “Điều tra hiện trạng bệnh rụng lá phấn trắng và đánh giá hiệu lực

phòng trị bệnh của một số loại thuốc trừ nấm tại Tổng Công ty Cao su Đồng Nai”

Đề tài được thực hiện tại Công ty TNHH MTV Tổng Công ty Cao su Đồng Nai, nhằm điều tra đánh giá được tình hình gây hại và hiện trạng bệnh rụng lá phấn trắng trên vườn cây tại Công ty, đồng thời thử nghiệm đánh giá hiệu lực phòng trị bệnh rụng

lá phấn trắng của một số loại thuốc trên vườn nhân của Công ty Đề tài được tiến hành với các nội dung:

ƒ Tiến hành điều tra tình hình gây hại và hiện trạng bệnh rụng lá phấn trắng trên vườn cây thí nghiệm giống tại nông trường Cao su Cẩm Đường thuộc Công ty TNHH MTV Tổng Công ty Cao su Đồng Nai

ƒ Tiến hành điều tra tình hình gây hại và hiện trạng bệnh rụng lá phấn trắng trên vườn cây khai thác tại nông trường Cao su Cẩm Mỹ thuộc Công ty TNHH MTV Tổng Công ty Cao su Đồng Nai

ƒ Thử nghiệm nhằm đánh giá được hiệu lực phòng trị bệnh rụng lá phấn trắng của một số loại thuốc trên vườn nhân thuộc Công ty TNHH MTV Tổng Công ty Cao su Đồng Nai

Kết quả đạt được:

Kết quả điều tra 1:

9 Trên vườn cây thí nghiệm giống sơ tuyển tại lô L15 thuộc Nông trường Cao su Cẩm Đường kết quả điều tra 50 dòng vô tính (Dvt) cho thấy tất cả các Dvt đều nhiễm bệnh rụng lá phấn trắng với các cấp bệnh từ nhẹ đến rất nặng Trong đó, đa số các Dvt chỉ nhiễm bệnh ở mức nhẹ và trung bình như LH 05/413, LH 05/333, LH 90/952, LH 83/85 Các Dvt LH 05/811, TD 05/1046 bị nhiễm ở mức nặng Ba Dvt LH 05/667, LH 05/171, LH 05/498 nhiễm ở mức rất nặng

9 Cũng trên lô L15, kết quả điều tra 12 Dvt vườn thí nghiệm giống chung tuyển cho thấy tất cả các Dvt đều nhiễm bệnh lá phấn trắng với các cấp bệnh từ rất nhẹ đến

Trang 5

nặng Như Dvt LH 87/202 nhiễm ở mức rất nhẹ Hầu hết các Dvt khác chỉ nhiễm bệnh

ở mức nhẹ đến trung bình như: LH 95/90, LH 94/481, LH 90/952, LH 90/1094, PB

260, LH 83/85, LH 94/267, LH 95/90 Riêng 2 Dvt LH 90/276, LH 94/359 nhiễm ở mức nặng

Kết quả điều tra 2:

Kết quả điều tra cho thấy tất cả các Dvt trên vườn cây khai thác tại Nông trường Cao su Cẩm Mỹ đều nhiễm bệnh từ mức trung bình đến rất nặng Những Dvt như Poly Clone, RRIV 3, RRIC 121 nhiễm ở mức trung bình Những Dvt như PB 235, RRIM

600, VM 507 nhiễm ở mức nặng và các Dvt GT 1, RRIV 4, VM 515 nhiễm ở mức rất nặng Điều này cho thấy tỷ lệ và mức độ nhiễm bệnh của các Dvt trên các vườn cây khai thác tại Nông trường là rất cao, làm ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng vườn cây

và năng suất mủ hàng năm

Kết quả thí nghiệm đánh giá hiệu lực thuốc:

Qua 3 lần xử lý thuốc từ 3/3 đến 3/4 năm 2011, lá được chọn để bố trí thí nghiệm vào giai đoạn đỏ đồng là giai đoạn mẫn cảm nhất Kết quả cho thấy hiệu lực phòng trị của các loại thuốc là rất khác nhau và khác biệt so với đối chứng (phun nước) Trong đó, Sulox 80 WP được chọn làm đối chứng chuẩn với hoạt chất chính là lưu huỳnh vẫn cho hiệu quả cao nhất, tiếp theo là Sumi Eight 12.5 WP (diniconazole), Amistar Top 325 SC (azoxystrobin + difenoconazole) và Exin 4.5 HP (salicylic acid) Sau 3 lần xử lý, cả 4 nghiệm thức có xử lý thuốc đều cho tỉ lệ bệnh và chỉ số bệnh giảm so với đối chứng và sự khác biệt rất có ý nghĩa thống kê

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT iii

MỤC LỤC v

DANH SÁCH CÁC BẢNG viii

Chương 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích 2

1.3 Yêu cầu 2

1.4 Giới hạn của đề tài 3

Chương 2 TỒNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Cây cao su 4

2.1.1 Giới thiệu sơ lược về cây cao su 4

2.1.2 Tình hình phát triển cây cao su trong nước 4

2.2 Bệnh hại trên cây cao su 5

2.3 Những nghiên cứu trong và ngoài nước về bệnh phấn trắng 7

2.3.1 Những nghiên cứu trong nước 7

2.3.2 Những nghiên cứu trên thế giới 8

2.4 Thuốc Bảo vệ Thực vật (BVTV) và những nghiên cứu, ứng dụng phòng trị bệnh phấn trắng trên cây Cao su 10

2.4.1 Những khái niệm cơ bản về thuốc BVTV 10

2.4.2 Yêu cầu của thuốc BVTV 11

2.4.3 Phân loại thuốc BVTV 11

2.4.4 Phòng trị bệnh phấn trắng trên cây cao su bằng thuốc BVTV 11

Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14

3.1 Thời gian nghiên cứu và địa điểm điều tra 14

3.2 Phương pháp nghiên cứu 14

3.2.1 Điều tra mức độ nhiễm bệnh rụng lá phấn trắng trên vườn cây thí nghiệm giống tại Nông trường Cao su Cẩm Đường (Đồng Nai) 14

Trang 7

3.2.2 Điều tra mức độ nhiễm bệnh rụng lá phấn trắng trên vườn cây khai thác tại Nông

trường Cao su Cẩm Mỹ (Đồng Nai) 16

3.2.3 Đánh giá hiệu lực phòng trị bệnh rụng lá phấn trắng của một số loại thuốc trên vườn nhân (Đồng Nai) 17

3.3 Xử lý số liệu 18

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 19

4.1 Kết quả điều tra bệnh rụng lá phấn trắng 19

4.1.1 Kết quả điều tra bệnh rụng lá phấn trắng tại vườn thí nghiệm giống Nông trường Cao su Cẩm Đường (Đồng Nai) 20

4.1.2 Kết quả điều tra bệnh rụng lá phấn trắng trên vườn cây khai thác tại Nông trường Cao su Cẩm Mỹ (Đồng Nai) 23

4.2 Kết quả đánh giá hiệu lực phòng trị bệnh rụng lá phấn trắng của một số loại thuốc trên vườn nhân tại Công TNHH MTV Tổng Công ty cao su Đồng Nai 24

4.3 So sánh chi phí và hiệu quả đạt được ở mỗi loại thuốc thí nghiệm 26

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 28

5.1 Kết luận 28

5.2 Đề nghị 28

TÀI LIỆU THAM KHẢO 30

PHỤ LỤC 33

Trang 8

KTCB Kiến thiết cơ bản

PB Trạm Nghiên cứu Cao su Prang Besar (Malaysia)

TNHH MTV Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên

Trang 9

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Danh sách 12 Dvt tại vườn thí nghiệm giống chung tuyển 14

Bảng 3.2 Danh sách 50 Dvt tại vườn thí nghiệm giống chung tuyển 15

Bảng 3.3 Phân cấp mức độ bệnh rụng lá phấn trắng trên các lá chét cao su 16

Bảng 3.4 Phân cấp mức độ bệnh rụng lá phấn trắng trên tán lá cây cao su 16

Bảng 3.5 Phân cấp mức độ bệnh rụng lá phấn trắng trên cây cao su dựa vào cấp bệnh trung bình 17

Bảng 4.1 Đánh giá mức độ nhiễm bệnh phấn trắng 50 Dvt cao su tại vườn thí nghiệm giống sơ tuyển 20

Bảng 4.2 Phân hạng mức độ nhiễm bệnh phấn trắng của 50 Dvt cao su trên vườn thí nghiệm giống sơ tuyển 21

Bảng 4.3 Phân hạng mức độ nhiễm bệnh phấn trắng của 12 dvt cao su trên vườn thí nghiệm giống chung tuyển 22

Bảng 4.4 Đánh giá mức độ nhiễm bệnh phấn trắng trên các Dvt tại vườn cây khai thác Nông Trường Cao su Cẩm Mỹ 23

Bảng 4.5: Diễn biến TLB sau 3 đợt xử lý thuốc 25

Bảng 4.6 Diễn biến CSB sau 3 đợt xử lý thuốc 25

Bảng 4.7 So sánh chi phí và hiệu quả kinh tế đạt được ở mỗi loại thuốc trong thí nghiệm 27

Trang 10

Chương 1

MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Cây cao su (Hevea brasiliensis) là cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế

cao, từ sản phẩm chính là mủ cao su có thể được dùng để chế biến thành nhiều sản phẩm phục vụ trong ngành công nghiệp; ngoài ra gỗ cao su có thể chế biến thành các sản phẩm sử dụng trong xây dựng, vật dụng trang trí hay vật dụng gia đình – có thể xem đây là nguồn gỗ quan trọng và có giá trị thay thế cho nguồn gỗ từ khai thác rừng

Về môi trường, cao su có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ đất, cân bằng sinh thái

và bộ tán lá cây cao su đóng một vai trò như bộ lọc luôn hoạt động để làm sạch không khí

Cây cao su thích hợp với những vùng có điều kiện khí hậu nhiệt độ vào khoảng

25 – 300C, lượng mưa vào khoảng 1.500 – 2.000 mm/năm, ít có gió mạnh Điều kiện đất đai thích hợp cho cây cao su phát triển không quá khắt khe nhưng phải đạt được một số yêu cầu như: vùng đất có cao trình không quá 600 mét, có độ dốc thấp, độ dày tầng canh tác tối thiểu phải được 1 mét, không bị ngập úng và thành phần cơ giới ít hạt thô (Ø = 1 - 2 cm) Vì vậy phần lớn diện tích cao su trên thế giới được phát triển ở vùng nhiệt đới ẩm như Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam (Nguyễn Thị Huệ, 1997)

Cây cao su có nguồn gốc hoang dại ban đầu tại vùng châu thổ Amazon (Nam Mỹ) và được du nhập vào nước ta từ năm 1897, cho đến năm 2010 tổng diện tích trồng cao su trên cả nước đạt 740.000 hecta và mục tiêu trồng 800.000 hecta vào năm 2015

Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa như ở Việt Nam, cây cao su là mục tiêu cho nhiều loại sâu bệnh hại trong đó có bệnh phấn trắng (Oidium leaf fall) do nấm

Oidium heveae Steinm (O heveae) gây ra Nấm gây hại trên cây cao su vào giai đoạn

ra lá mới sau thời kì rụng lá qua đông từ tháng 1 đến tháng 3 hằng năm Nấm lan truyền rất nhanh trong không khí nhờ gió và xâm nhập chủ yếu trên lá non và cuống lá

Trang 11

Mức độ bệnh thay đổi phụ thuộc vào các yếu tố như: tuổi lá, cao trình, các yếu tố môi trường

Trên cây cao su bệnh gây hại ở mọi giai đoạn sinh trưởng, từ giai đoạn vườn ương, đến giai đoạn kiến thiết cơ bản và giai đoạn khai thác Vùng có cao trình trên

300 m thì bệnh trở nên nặng hơn, bệnh gây rụng lá nhiều lần gây chậm sinh trưởng thậm chí có thể làm chết cây con ở vườn nhân và cây con giai đoạn kiến thiết cơ bản, còn ở giai đoạn khai thác bệnh làm chậm thời gian khai thác và giảm sản lượng mủ Trong điều kiện phát triển trồng cao su ở Công ty TNHH MTV Tổng Công ty Cao su Đồng Nai như hiện nay tình hình nhiễm bệnh trên các vườn cây giai đoạn cây thay lá qua đông từ tháng 1 - 3 làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng vườn cây cũng như

sản lượng mủ khai thác Xuất phát từ tình hình trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Điều

tra hiện trạng bệnh rụng lá phấn trắng và đánh giá hiệu lực phòng trị bệnh của một số loại thuốc trừ nấm tại Tổng Công ty Cao su Đồng Nai”

1.2 Mục đích

Điều tra hiện trạng và mức độ nhiễm bệnh trên vườn cây thí nghiệm giống tại Nông trường Cao su Cẩm Đường thuộc Công ty TNHH MTV Tổng Công ty Cao su Đồng Nai

Điều tra hiện trạng và mức độ nhiễm bệnh trên vườn cây khai thác tại Nông trường Cao su Cẩm Mỹ (Đồng Nai)

Khảo sát hiệu lực của một số loại thuốc đối với sự phát triển của nấm O heveae

trên vườn nhân (Đồng Nai)

1.3 Yêu cầu

Tiến hành điều tra đánh giá tình hình gây hại và hiện trạng bệnh rụng lá phấn trắng trên vườn cây thí nghiệm giống tại Nông trường Cao su Cẩm Đường và vườn cây khai thác tại Nông trường Cao su Cẩm Mỹ (Đồng Nai)

Thử nghiệm và theo dõi các chỉ tiêu nhằm đánh giá được hiệu lực phòng trị bệnh rụng lá phấn trắng của một số loại thuốc trên vườn nhân thuộc Công ty TNHH MTV Tổng Công ty cao su Đồng Nai

Trang 12

1.4 Giới hạn của đề tài

Đề tài được giới hạn thực hiện trong thời gian 4 tháng, việc điều tra chỉ tiến hành trên Nông trường Cao su Cẩm Mỹ và Nông trường Cao su Cẩm Đường nên số liệu thu thập còn nhiều hạn chế Tuy nhiên, đề tài cũng góp phần trong công tác điều tra hiện trạng bệnh rụng lá phấn trắng ở Tổng Công ty cao su Đồng Nai và đánh giá được hiệu lực của một số loại thuốc mới trong phòng trị bệnh phấn trắng

Trang 13

Chương 2 TỒNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cây cao su

2.1.1 Giới thiệu sơ lược về cây cao su

Cây cao su (Hevea brasiliensis) thuộc chi Hevea, họ Euphorbiaceae Thích hợp

sinh trưởng và phát triển ở những vùng có nhiệt độ từ 25 – 300C, lượng mưa tối thích

từ 1.500 – 2.000 mm/năm với số ngày mưa từ 100 – 150 ngày/năm Tốc độ gió từ 1 - 2 m.s-1 là điều kiện thuận lợi giúp vườn cây thông thoáng và hạn chế bệnh hại Thời gian chiếu sáng ảnh hưởng trực tiếp đến cường độ quang hợp do đó ảnh hưởng đến sản lượng vườn cây, số giờ chiếu sáng thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây cao su là từ 1.800 – 2.800 giờ/năm (Nguyễn Thị Huệ, 2007)

Cao su có lá kép, mọc cách, mỗi lá gồm 3 lá chét, lá phát triển theo tầng Trong điều kiện khí hậu Việt Nam để hình thành một tầng lá mới cần 25 – 35 ngày trong mùa mưa và 40 – 45 ngày trong mùa khô Cây cao su từ 3 năm tuổi trở lên có đặc điểm vào một thời điểm cố định trong năm toàn bộ lá sẽ vàng úa và rụng, sau đó cây tái tạo lại lá non, hiện tượng này gọi là rụng lá sinh lý qua đông Tại Việt Nam, cây cao su rụng lá qua đông vào khoảng tháng 1 đến tháng 2 hằng năm, tùy từng Dvt mà hiện tượng này

có thể kéo dài từ 15 – 20 ngày hoặc hơn 1 tháng (Nguyễn Thị Huệ, 2007)

2.1.2 Tình hình phát triển cây cao su trong nước

(Đặng Văn Vinh, 1997), từ đó đến nay diện tích và sản lượng cao su nước ta không ngừng gia tăng Theo AGROINFO và IPSARD (2009), năm 2008 diện tích cao su tại Việt Nam là 601,8 nghìn ha (chiếm 5,4 % diện tích cao su thiên nhiên thế giới và xếp hàng thứ 5 sau Thái Lan, Indonesia, Malaysia và Ấn Độ) Hiện nay ở nước ta cây cao

su là cây công nghiệp có giá trị xuất khẩu cao, năm 2010 kim ngạch xuất khẩu cao su Việt Nam đạt gần 2,34 tỷ USD

Trang 14

2.2 Bệnh hại trên cây cao su

Cũng như các loại thực vật khác, cây cao su cũng chịu ảnh hưởng từ sự tấn công của các loại côn trùng, bệnh hại Theo ước tính của các cơ quan thống kê quốc tế, côn trùng, bệnh hại và cỏ dại đã làm mất 25% sản lượng cao su thiên nhiên thế giới trong đó các loại bệnh làm mất 15%, côn trùng làm mất 5% và cỏ dại làm mất 5% sản lượng Mức độ bệnh thay đổi tuỳ theo điều kiện khí hậu, đất đai, phương pháp chăm sóc Theo Dyakova G.A (1969) đã tổng hợp tình hình bệnh hại cao su trên thế giới thì cây cao su bị tất cả 17 loại bệnh trong đó có 14 loại gây hại trên lá, 8 loại phá hại thân cành và 5 loại phá hại rễ (Nguyễn Thị Huệ, 2007)

9 Bệnh phấn trắng trên cây cao

Trong số các bệnh hại trên cây cao su thì bệnh phấn trắng được coi là một trong những bệnh quan trọng làm ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng và phát triển của vườn cây cao su Bệnh được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1918 tại Java Đến nay, bệnh phấn trắng xuất hiện trên hầu hết các nước trồng cao su tại Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ

(Nguyễn Thị Huệ, 2007)

+ Nguyên nhân

Bệnh phấn trắng trên cao su gây ra bởi nấm Oidium heveae Steimn, thuộc họ

Erysiphaceae Triệu chứng vết bệnh trên lá tạo thành lớp bột màu trắng, bệnh có khả

năng gây hại ở mọi lứa tuổi và nặng ở giai đoạn ra lá mới hằng năm Tuy nhiên, mức

độ bệnh còn phụ thuộc vào yếu tố khí hậu, đặc tính kháng bệnh của từng dòng vô tính

và biện pháp phòng trừ

+ Sơ lược về nấm Oidium heveae Steimn

Phân loại:

Nấm O heveae là tác nhân chủ yếu gây nên tình trạng rụng lá thứ cấp trên cây cao

su trong giai đoạn ra lá mới ngay sau đợt rụng lá qua đông hằng năm Theo Phan

Thành Dũng (2004) nấm O heveae còn có tên khác là Acrosporium heveae (Steimn.) Subramania Nấm O heveae có hệ thống phân loại như sau:

Trang 15

Giới: Fungi

Giới phụ : Dikarya

Ngành: Ascomycota

Ngành phụ: Pezizomycotina Lớp: Leotiomycetes

Bộ: Erysiphales Họ: Erysiphaceae

Họ phụ: Mitofporic Erysiphaceae

Chi: Oidium

Loài: Oidium heveae

Đặc điểm hình thái:

Sợi nấm O heveae có cấu tạo đa bào, màu trắng trong suốt và phân cành Cành

sinh bào tử không màu, không phân cành và hợp với sợi nấm theo chiều thẳng đứng Bào tử có dạng elip hoặc hình trống, với kích thước biến động trong khoảng 25 – 42 x

12 – 17 µm Có 2 – 4 bào tử đính thành chuỗi trên một cành (Lê Lương Tề và Vũ Triệu Mân, 1998; Sivanesan và Holliday, 1976)

Đặc tính sinh vật học:

Những nghiên cứu in vitro và in vivo của Liyanage và cộng sự (1985) cho biết, một tỷ lệ cao bào tử O heveae lấy được từ những lá nhiễm bệnh đã không nảy mầm

nếu không được rung nhẹ để loại đi những bào tử già có sức sống kém Bào tử nấm

O heveae có thể nảy mầm ở nhiệt độ 5 – 350C, đạt cực đại ở 25 – 350C và bị ức chế hoàn toàn ở 400C Bào tử có thể nảy mầm trong khoảng biến thiên độ ẩm rất rộng, tuy nhiên để sự nhiễm bệnh diễn ra tốt hơn thì cần phải có ẩm độ cao Sự hình thành bào

tử bị ức chế khi kéo dài thời gian nấm trong nước Ánh sáng trực tiếp của mặt trời và đèn cực tím gây ảnh hưởng xấu đến sự nảy mầm của bào tử, điều này thể hiện rõ trên các bào tử rời rõ hơn trên các bào tử dính chặt với nhau trên lá

Khả năng tồn tại và phát tán trong môi trường tự nhiên:

Các bào tử nấm bệnh tồn tại suốt năm trên các cây con trong vườn ương, các chối non mọc dưới tán cây già và khi gặp điều kiện thuận lợi nó sẽ sản sinh ra các bào

tử để phát triển và gây bệnh (Nguyễn Thị Huệ, 2007) Bào tử từ các ổ nấm ban đầu

Trang 16

phát tán rơi trên lá, sau 2 giờ mọc mầm xâm nhiễm vào mô lá Qua giai đoạn tiềm dục khoảng 3 – 4 ngày nấm hình thành bào tử vô tính, phát tán đi xa tiến hành nhiều đợt xâm nhiễm lập lại, mở rộng diện tích bệnh một cách nhanh chóng

Con đường xâm nhập, phổ kí chủ và khả năng gây bệnh:

Nấm Oidium heveae Steinm là loại ký sinh bắt buộc (chỉ sống và phát triển trên cây ký chủ) Ngoài cây cao su, nấm còn ký sinh trên cỏ mực (Euphorbia hirta), cây xà bông (Jastropha curcas), cây song và cây mây.Bào tử nảy mầm và xâm nhiễm vào lá qua khí khổng hoặc xuyên qua tầng cutin và biểu bì dậu, nấm hình thành bào tử vào khoảng 48 giờ sau đó, phát tán nhờ gió, đây là nguồn lây lan bệnh chính (Phan Thành Dũng, 2004)

2.3 Những nghiên cứu trong và ngoài nước về bệnh phấn trắng

2.3.1 Những nghiên cứu trong nước

Trước năm 1980, Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam (RRIV) đã xây dựng vườn kiểm định bệnh để đánh giá mức độ nhiễm bệnh của các dòng vô tính cao su nhập nội

từ Malaysia và Sri Lanka, dựa theo phương pháp do các nhà nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Cao su Malaysia (RRIM) đề xuất Bước đầu đã xác định rõ mức độ nhiễm bệnh phấn trắng và héo đen đầu lá của các Dvt này, kết quả thu được từ vườn kiểm định bệnh cho thấy có sự tương quan với kết quả quan trắc thực hiện trên cây trưởng thành trồng ngoài sản xuất (Nguyễn Hải Đường và các cộng sự, 1990)

phòng thí nghiệm cũng đã được thực hiện và mang lại kết quả tin cậy Cùng thời gian này, một vườn kiểm định bệnh đã được xác lập với 87 Dvt và đã xác định được mức

độ nhiễm bệnh phấn trắng và héo đen đầu lá làm cơ sở cho công tác nghiên cứu giống sau này (Phan Thành Dũng và cộng sự, 2000)

Tại Việt Nam, theo khuyến cáo của Tổng Công ty Cao su Việt Nam (2004) các Dvt: VM 515, PB 235, PB 255, RRIV 4 và GT1 có tính mẫn cảm cao đối với bệnh phấn trắng

311 ít mẫn cảm với bệnh phấn trắng

Tại Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam, Lại Văn Lâm và các cộng sự đã thực hiện thí nghiệm nghiên cứu về nguồn gen IRRDB’81 trong chọn tạo giống kháng bệnh

Trang 17

phấn trắng Việc đánh giá bệnh phấn trắng được tiến hành trên các thí nghiệm tuyển non trong chương trình lai tạo giống của Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam (RRIV) từ năm 2000 đến năm 2003 Nghiên cứu gồm 1.267 cây lai từ hai dòng vô tính làm bố mang nguồn gen Wickham PB 260 và RRIC 110 với 14 Dvt làm mẹ mang nguồn gen IRRDB’81 Đánh giá bệnh được thảo luận dựa trên tỉ lệ bệnh và khả năng phối hợp chung về tính kháng nhiễm bệnh (GCA) Kết quả cho thấy có sự khác biệt về tính kháng nhiễm bệnh giữa hai nhóm cây mang nguồn IRRDB’81 và W,WA Nhiều cây lai xuất phát từ bố mang nguồn gen IRRDB’81 có tỷ lệ nhiễm bệnh thấp, trong khi đó những cây lai từ những bố khác thì tỉ lệ nhiễm bệnh cao Đáng lưu ý một số dòng bố mang nguồn gen IRRDB’81 có khả năng kháng bệnh như RO 44/268 và RO 44/71 Có

sự khác biệt ý nghĩa giữa các giá trị GCA về tính kháng nhiễm bệnh phấn trắng Hầu hết những bố mang nguồn gen IRRDB’81 đều có giá trị GCA thấp Kết quả nghiên cứu cho thấy tiềm năng của nguồn gen IRRDB’81 trong chọn tạo giống kháng bệnh phấn trắng là rất cao (Lại Văn Lâm và cộng sự, 2009)

T atrovilide, T longibrachiatum, T viride, T koningii và T aureoviride có triển vọng

phòng trừ bệnh phấn trắng trên cao su

Ngoài ra, để hạn chế tác hại của bệnh phấn trắng trên cây cao su còn có thể tiến hành gây rụng là nhân tạo vào trước thời điểm cây cao su rụng lá qua đông, tạo điều kiện cho cây cao su hình thành tầng lá mới trước mùa cao điểm bệnh Có thể kết hợp bón tăng lượng đạm và kali vào giai đoạn cao su bắt đầu ra lá để giúp cây sớm ổn định tầng lá mới và giảm thiệt hại do bệnh gây ra

2.3.2 Những nghiên cứu trên thế giới

Bệnh phấn trắng được ghi nhận ở tất cả các nước trồng cao su trên thế giới, trong mọi giai đoạn sinh trưởng từ vườn nhân, kiến thiết cơ bản đến giai đoạn trưởng thành

Một số nước trên thế giới đã sử dụng nhiều biện pháp để hạn chế mức độ lây lan phát triển của bệnh như gây rụng lá nhân tạo trước thời kỳ rụng lá qua đông, tăng cường lượng phân đạm bón cho cây vào thời kỳ rụng lá qua đông Kỹ thuật ghép tán bằng giống kháng bệnh cũng là một biện pháp tạo được cây kháng bệnh lá

Trang 18

Nhóm Bảo Vệ Thực Vật của IRRDB họp tại Thái Lan và Malaysia đã xác định rằng nhiều Dvt mới rất dễ nhiễm bệnh lá phấn trắng, bệnh gây hại phổ biến vào mùa ra

lá mới Bệnh làm sản lượng hạt giảm, sản lượng mủ mất từ 11 – 34 % Theo một số nghiên cứu thì điều kiện khí hậu ở những vùng có cao trình dưới 100 m của Sri Lanka

ít bệnh, khuyến cáo dùng biện pháp hoá học để phòng trị bệnh Tuy nhiên ở những

vùng có cao trình lớn hơn thì sử dụng những giống có gen kháng bệnh lá O heveae

hoặc sử dụng bột lưu huỳnh để phòng trị bệnh hiệu quả hơn, giúp cải thiện sản lượng, phục hồi vanh thân và độ dày vỏ Qua nhiều lần khảo sát trước đây cho thấy chưa có Dvt cao su nào hoàn toàn kháng được với loại nấm này Tuy nhiên, giữa các Dvt có sự khác nhau rõ rệt về mức độ nhiễm bệnh

Ở Congo, bệnh phấn trắng gây rụng lá trên cao su 3 lần trong năm, cho đến nay phương tiện phun từ mặt đất lên cao 20 - 30 m vẫn là vấn đề khó khăn Năm 1960, Ấn

Độ thử nghiệm dùng máy bay trực thăng để phun thuốc, Malaysia cũng thử nghiệm các loại máy phun đặt trên xe để phun thuốc, rất gọn và cơ động trên mọi địa hình (Leitch, T A T.,1971)

Tại Viện Nghiên cứu Cao su Malaysia, Kuala Lumpur, Malaysia; Lim và các cộng sự đã tìm ra phương pháp đánh giá nhanh tính mẫn cảm của các Dvt cao su đối

với bệnh phấn trắng do nấm O heveae gây ra bằng kỹ thuật dùng lá cắt rời dựa trên

mật độ ra bào tử, phương pháp này giúp thực hiện nhanh và có hệ thống trong việc

tuyển chọn giống in vitro chống lại bệnh phấn trắng, thay thế các phương pháp vườn

kiểm định bệnh và đồng ruộng hiện hành (Lim T M , 1972)

Hội Nghị Cao su Quốc tế 1985 tại Kuala Lumpur thảo luận về đặc tính sinh học

của nấm phấn trắng O heveae trên cao su Những nghiên cứu in vitro và in vivo cho biết rằng một tỉ lệ cao bào tử O.heveae lấy được từ những lá nhiễm bệnh đã không nảy

mầm Sự nảy mầm tốt nhất được đánh giá sau khi chủng bệnh 24 giờ Bào tử nấm nảy mầm ở 5 – 350C, đạt cực đại ở 25 – 300C và bị ức chế hoàn toàn ở 400C Bào tử nấm được ủ bệnh ở nhiệt ẩm cao nảy mầm tốt hơn trong trạng thái bảo hoà Khả năng nảy mầm của bào tử giảm rõ rệt khi để khô (Liyanage A S và ctv, 1985)

Lim đã phát triển hệ thống dự báo trong thời hạn ngắn dựa trên nhiệt độ và ẩm

độ, cho thấy rằng ở nhiệt độ lớn hơn 32,20C và ẩm độ nhỏ hơn 90 % thì ảnh hưởng bất lợi đến khả năng sống của bào tử nấm Những nghiên cứu chỉ ra rằng yếu tố quan

Trang 19

trọng nhất là nhiệt độ và sự nhiễm bệnh xảy ra ở nhiệt độ cao nhưng đây không phải là yếu tố giới hạn Bào tử khi đặt trực tiếp dưới ánh sáng mạnh của mặt trời cũng kém nảy mầm do tác dụng của tia cực tím Nước tự do cũng có thể gây ảnh hưởng đến bào

tử khi tiếp xúc trong chốc lát hoặc khi có mặt của nước ở dạng hạt lớn, như mưa liên tục sẽ làm giảm bệnh Một biện pháp đan xen của việc phòng trị bệnh rụng lá phấn trắng là sử dụng các Dvt kháng bệnh Khi sử dụng những Dvt như vậy có thể giảm khả năng lây nhiễm, do đó giảm được bệnh xảy ra Sự cản trở tính mẫn cảm của mô dậu và suy thoái thịt lá phản ứng lại những gì xảy ra dưới tác dụng của các gen kháng bệnh

đó Các Dvt với sự phát sinh tính kháng có thể bền hơn và giúp cho tỉ lệ lan truyền bệnh thấp hơn Biện pháp này phải được thực hiện đến cùng để phòng trừ bệnh phấn trắng nhằm giảm thiểu tối đa những thiệt hại do bệnh gây nên (Lim T M, 1972)

2.4 Thuốc Bảo vệ Thực vật (BVTV) và những nghiên cứu, ứng dụng phòng trị bệnh phấn trắng trên cây Cao su

2.4.1 Những khái niệm cơ bản về thuốc BVTV

-Thuốc BVTV: là những chất độc có nguồn gốc tự nhiên hay tổng hợp được dùng để phòng và trừ các vật hại nông nghiệp như sâu bệnh hại, cỏ dại, chuột Thuốc BVTV có nhiều nhóm khác nhau để trừ những đối tượng khác nhau và dùng trong những hoàn cảnh khác nhau Phải lựa chọn đúng thuốc, đúng dạng, dùng đúng lúc, đúng hoàn cảnh thì thuốc mới phát huy được tác dụng

- Chất độc: là những chất khi xâm nhiễm vào cơ thể sinh vật với một lượng nhỏ

có thể gây độc cho sinh vật, phá huỷ những chức năng cơ bản của sinh vật và có thể làm cho sinh vật bị chết

- Liều lượng: là lượng chất độc được tính bằng gam hay miligam cần có thể gây được một một tác động nhất định lên cơ thể sinh vật

+ Liều gây chết trung bình (Median Lethal Dose, ký hiệu là MLD hay LD50 ): là lượng độc cần thiết để gây chết cho 50 % số cá thể dùng trong thí nghiệm Chúng được xác định bằng lượng hoạt chất trên đơn vị trọng lượng cơ thể (mg/kg) Giá trị LD50 càng nhỏ, chất độc đó càng độc

+Nồng độ gây chết trung bình (Median Lethal Concentrate, viết tắt là MLC hay

LC50): là nồng độ cần thiết để gây chết cho 50 % số cá thể dùng trong thí nghiệm (Nguyễn Trần Oánh, 1997)

Trang 20

2.4.2 Yêu cầu của thuốc BVTV

Thuốc BVTV là những chất độc, nhưng muốn là thuốc BVTV phải đạt những yêu cầu sau:

- Có tính độc đối với sinh vật gây hại

- Có khả năng tiêu diệt nhiều loài dịch hại, nhưng chỉ tiêu diệt những loài sinh vật gây hại mà không ảnh hưởng đến những đối tượng không phòng trừ (có tính chọn lọc)

- An toàn đối với người, môi sinh và môi trường

- Dễ bảo quản, chuyên chở và sử dụng

- Giá thành hạ

Hiện nay chưa có một loại thuốc BVTV nào có thể đáp ứng được hết những yêu cầu trên, trong đó yếu tố an toàn với người sử dụng, môi sinh và môi trường đang được đặt lên hàng đầu

2.4.3 Phân loại thuốc BVTV

Có nhiều cách để phân loại thuốc BVTV như: phân loại dựa vào đối tượng phòng trừ, con đường xâm nhập hoặc nguồn gốc Tuy nhiên, tại Việt Nam thuốc BVTV được phân loại chủ yếu dựa vào đối tượng phòng trừ như: thuốc trừ sâu, trừ bệnh, ốc sên, cỏ, chuột, nhện và các chất điều hoà sinh trưởng cây trồng Trong mỗi nhóm trên dựa vào nguồn gốc thuốc BVTV lại được phân thành các nhóm nhỏ hơn như: nhóm lân hữu cơ, clo hữu cơ, carbamate, pyrethroid, triazole, thuốc chứa đồng và lưu huỳnh vô cơ

2.4.4 Phòng trị bệnh phấn trắng trên cây cao su bằng thuốc BVTV

Bệnh phấn trắng là một trong những bệnh hại cao su phổ biến ở hầu hết các vùng trồng cao su ở nước ta Tính chất nghiêm trọng của bệnh là gây hại ở các bộ phận sinh trưởng và sinh thực ngay thời gian đầu lúc mới hình thành, làm rụng lá non, khô ngọn thân và ngọn cành trong vườn ươm, vườn nhân giống Trên lô khai thác bệnh còn gây rụng lá làm giảm sản lượng thu hoạch mủ Bệnh còn gây rụng nụ, rụng hoa ở các

lô thu hoạch hạt làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng thu hoạch hạt (Vũ Triệu Mân, 2007)

Bệnh phấn trắng xuất hiện đầu tiên tại Indonesia vào năm 1918 (Phan Thành Dũng, 2004) sau đó tình hình bệnh hại được báo cáo xuất hiện ở hầu hết các quốc gia

Trang 21

trồng cao su trên thế giới Bệnh phấn trắng gây hại nặng và ảnh hưởng một phần không nhỏ đến năng suất và phẩm chất vườn cây, vì vậy xây dựng qui trình phòng trừ bệnh phấn trắng là vấn đề quan trọng cần được giải quyết Dưới đây là một số hoạt chất thường dùng phòng trị bệnh rụng là phấn trắng:

nấm thuộc lớp Basidiomycetes, Ascomycetes, Deuteromycetes

- Thuốc dùng trị bệnh phấn trắng trên cao su ở nồng độ 0,1 – 0,2 %, phun ở tầng lá non

2.4.4.4 Carbendazim

- Tên hóa học: Methyl 1H-benzimidazol-2-ylcarbamate

- Công thức hóa học: C9H9N3O2

- Độc tính: LD50 > 15,000 mg/kg

- Là thuốc trừ nấm phổ rộng gốc benzimidazole, dạng nguyên chất ở thể rắn không

mùi, ít tan trong nước và dung môi hữu cơ Tác dụng của Carbendazim với nấm bệnh

qua cơ chế ức chế sự phân chia tế bào Thuốc có thể sử dụng đơn hay phối trộn với

Trang 22

nhiều loại thuốc trừ nấm khác Với cây cao su, thuốc được dùng để phòng trừ nhiều loại bệnh như: phấn trắng, héo đen đầu lá, đốm mắt chim, Corynespora và Botryodiplodia (Phan Thành Dũng và Nguyễn Anh Nghĩa, 2011)

Trang 23

Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian nghiên cứu và địa điểm điều tra

Điều tra diễn biến và mức độ gây hại của bệnh rụng lá phấn trắng trên vườn thí nghiệm giống thuộc Nông trường Cao su Cẩm Đường (Đồng Nai) từ 11/3 đến 14/3 năm 2011

Điều tra diễn biến và mức độ gây hại của bệnh rụng lá phấn trắng trên vườn cây khai thác thuộc Nông trường Cao su Cẩm Mỹ (Đồng Nai) từ 15/3 đến 17/3 năm 2011

Đánh giá hiệu lực phòng trị bệnh rụng lá phấn trắng của một số loại thuốc trên vườn nhân (Đồng Nai) từ 3/3 đến 3/4 năm 2011

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Điều tra mức độ nhiễm bệnh rụng lá phấn trắng trên vườn cây thí nghiệm giống tại Nông trường Cao su Cẩm Đường (Đồng Nai)

* Vật liệu :

+ Điều tra bệnh được thực hiện trên vườn chung tuyển gồm 12 dòng vô tính

Bảng 3.1 Danh sách 12 Dvt tại vườn thí nghiệm giống chung tuyển

Trang 24

+ Điều tra bệnh được thực hiện trên vườn sơ tuyển gồm 50 dòng vô tính

Bảng 3.2 Danh sách 50 Dvt tại vườn thí nghiệm giống chung tuyển

- Chỉ tiêu điều tra: Quan trắc bệnh trên 5 lá chét giữa và ghi nhận cấp bệnh dựa theo bảng phân cấp của Tổng Công ty Cao su Việt Nam ban hành năm 2004 bảng 3.3

- Các số liệu điều tra sau đó được phân hạng mức độ bệnh theo cấp bệnh trung bình (CBTB) dựa theo bảng 3.5

Trang 25

Bảng 3.3 Phân cấp mức độ bệnh rụng lá phấn trắng trên các lá chét cao su

Bảng 3.4 Phân cấp mức độ bệnh rụng lá phấn trắng trên tán lá cây cao su

Cấp bệnh Tiêu chuẩn của lá trên cành Tuổi và sự rụng lá

5 Nấm phủ kín lá hoặc1/2 lá

héo, lá biến dạng

Hơn 1/2 cành rụng hết lá Trên cành chỉ còn lại cuống lá và bông

(Nguồn: Phan Thành Dũng, 2004)

Trang 26

Các số liệu điều tra sau đó được phân hạng mức độ bệnh theo cấp bệnh trung bình (CBTB) dựa theo bảng 3.5

Bảng 3.5 Phân cấp mức độ bệnh rụng lá phấn trắng trên cây cao su dựa vào cấp bệnh

(Nguồn: Tan và cộng sự, 1992; Tan, 1985; Trích dẫn bởi Nguyễn Thái Hoan và cộng sự, 2007)

3.2.3 Đánh giá hiệu lực phòng trị bệnh rụng lá phấn trắng của một số loại thuốc trên vườn nhân (Đồng Nai)

* Vật liệu:

Hoá chất:

+ Amistar Top 325 SC (Azoxystrobin + Difenoconazole) (xử lý ở nồng độ: 0,1%) + Sumi Eight 12.5 WP (Diniconazole) (xử lý ở nồng độ: 0,2%)

+ Exin 4.5 HP (Acid Salicylic) (xử lý ở nồng độ: 0,2%)

+ Đối chứng chuẩn: Sulox 80 WP (lưu huỳnh) (xử lý ở nồng độ: 0,3%)

- Các dụng cụ đo lường: Pipet 10ml và ống đong 100ml

- Bình đeo vai dung tích 8 lít

- Thí nghiệm được thực hiện trên Dvt RRIV 3 trồng năm 2003

Trang 27

+ Chu kỳ quan trắc: 7 ngày quan trắc 1 lần

Quan trắc lần đầu tiên ngày 3/3/2011

trước khi phân tích thống kê

3.3 Xử lý số liệu

Các số liệu được xử lý bằng phần mềm tính toán Microsoft Excel và phân tích thống

kê bằng phần mềm PC – SAS for Windows Version 8.0

Trang 28

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Kết quả điều tra bệnh rụng lá phấn trắng

Hiện nay tại Việt Nam, chưa có một Dvt cao su nào kháng được bệnh rụng lá phấn trắng, theo những kết quả nghiên cứu trước đây cho thấy có sự khác biệt về mức

độ nhiễm bệnh giữa các Dvt, ngay cả trong một Dvt nếu được trồng ở các vùng sinh thái khác nhau hoặc được điều tra đánh giá mức độ nhiễm bệnh ở các thời điểm khác nhau trong mùa bệnh thì kết quả cũng khác nhau Ngoài ra, hiện nay để tăng sản lượng

mủ thu hoạch được ngoài các biện pháp tác động truyền thống như: tăng cường lượng phân bón, áp dụng các biện pháp kích thích mủ, thực hiện các chế độ cạo khác nhau và tiến hành lai tạo - cải tiến giống để cho ra các Dvt mới với tiềm năng năng suất mủ cao hơn, nhưng những Dvt này ngoài khả năng cho năng suất và chất lượng mủ cao còn phải đảm bảo các yêu cầu như: cho năng suất ổn định trong thời gian dài, chịu được các điều kiện khí hậu bất lợi, chống chịu được các loại côn trùng, bệnh hại Xuất phát

từ mục đích trên, việc điều tra bệnh chỉ được thực hiện một lần vào khoảng thời gian cao điểm trong mùa bệnh tại Công ty TNHH MTV Tổng Công ty Cao su Đồng Nai để đánh giá mức độ nhiễm bệnh, tạo cơ sở dữ liệu về mức kháng bệnh của các Dvt, cũng như sự khác biệt giữa các Dvt với nhau nhằm tuyển chọn những Dvt có ưu điểm, có thể đáp ứng các yêu cầu để đem ra sản xuất đại trà

Trang 29

4.1.1 Kết quả điều tra bệnh rụng lá phấn trắng tại vườn thí nghiệm giống Nông

trường Cao su Cẩm Đường (Đồng Nai)

Bảng 4.1 Đánh giá mức độ nhiễm bệnh phấn trắng 50 Dvt cao su tại vườn thí nghiệm

giống sơ tuyển

Trang 30

Bảng 4.2 Phân hạng mức độ nhiễm bệnh phấn trắng của 50 Dvt cao su trên vườn thí

nghiệm giống sơ tuyển

LH 05/303, LH 05/81, LH 05/425, LH 90/952 nhiễm ở mức nhẹ (với CBTB từ 1,02 – 1,92) Các Dvt nhiễm bệnh ở mức trung bình như: LH 05/680, LH 05/185, LH 05/413,

LH 05/92, LH 05/333, LH 05/253 (với CBTB từ 2,02 – 2,93) Chỉ có 6 Dvt TD 05/1046, LH 05/811, LH 05/271, LH 05/415, LH 05/252, LH 05/593 nhiễm ở mức nặng (CBTB từ 3,15 – 3,65) và 3 Dvt nhiễm rất nặng LH 05/498, LH 05/171, LH 05/667 (CBTB từ 4,05 – 4,20)

Trang 31

Nhìn chung hầu hết các Dvt chỉ nhiễm bệnh ở mức nhẹ và trung bình (40/50 Dvt) có thể do vườn sơ tuyển ở giai đoạn kiến thiết cơ bản nên các Dvt đang ở vào giai đoạn cây con, các tầng lá non mới được hình thành sớm và ổn định trước khi có các điều kiện nhiệt độ, ẩm độ thích hợp để bào tử nấm phát tán và gây bệnh Còn những Dvt như: LH 05/252, LH 05/593, LH 05/171, LH 05/667 nhiễm bệnh ở mức nặng đến rất nặng có thể do mẫn cảm với bệnh hơn và tầng lá mới được hình thành muộn hơn vào thời điểm có đủ các yếu tố để bệnh phát sinh, phát triển

Bảng 4.3 Phân hạng mức độ nhiễm bệnh phấn trắng của 12 dvt cao su trên vườn thí

nghiệm giống chung tuyển

LH 90/1094, LH 83/85, LH 90/952, LH 90/276 nhiễm bệnh ở mức trung bình đến nặng, với Dvt LH 90/276 nhiễm bệnh nặng nhất (CBTB= 3,17)

Tuy nhiên, theo Phan Thành Dũng và cộng sự tiến hành tuyển non Dvt cao su kháng bệnh phấn trắng vào năm 2008, đề tài được tiến hành 60/72 Dvt cao su tại vườn

sơ tuyển Lai Khê – 03/Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam thì 3 Dvt LH 94/359, PB

260, LH 94/481 có mức nhiễm trung bình Theo kết quả trình bày ở bảng 4.2, Dvt LH 94/359 có mức nhiễm nặng, hai Dvt PB 260 và LH 94/481 có mức nhiễm nhẹ Từ đó cho thấy, việc nghiên cứu xác định tính kháng bệnh phấn trắng của các Dvt còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: thời gian nghiên cứu kéo dài, các vùng địa lý

Trang 32

khác nhau, điều kiện thời tiết hàng năm thay đổi Vì vậy, các yếu tố ngoại cảnh đã ảnh hưởng một phần đến công tác xác định dữ liệu về tính kháng bệnh để tìm ra Dvt thích hợp, phục vụ cho chiến lược phát triển cao su trong nước

Bên cạnh đó, biện pháp chọn Dvt có các đặc tính tốt về sinh trưởng, phát triển, năng suất và khả năng kháng được các loại sâu bệnh hại đang là mục tiêu hàng đầu, là giải pháp an toàn có hiệu quả lâu dài hơn so với các biện pháp sử dụng các biện pháp hoá học khác

4.1.2 Kết quả điều tra bệnh rụng lá phấn trắng trên vườn cây khai thác tại Nông trường Cao su Cẩm Mỹ (Đồng Nai)

Bảng 4.4 Đánh giá mức độ nhiễm bệnh phấn trắng trên các Dvt tại vườn cây khai thác Nông Trường Cao su Cẩm Mỹ

VM 507, GT 1, RRIV 4, VM 515 nhiễm từ nặng đến rất nặng (CBTB từ 3,62 đến 4,69)

Trang 33

4.2 Kết quả đánh giá hiệu lực phòng trị bệnh rụng lá phấn trắng của một số loại thuốc trên vườn nhân tại Công TNHH MTV Tổng Công ty cao su Đồng Nai

Hiện nay, trên cây cao su có rất nhiều loại bệnh hại khác nhau, hàng năm gây hại làm ảnh hưởng rất lớn về năng suất, tốn kém trong công tác quản lý và phòng trừ Trong đó, biện pháp hoá học vẫn đang là giải pháp được lựa chọn nhiều nhất để phòng trừ các loại dịch hại trên cây cao su và hiện nay các chế phẩm để phòng trừ bệnh phấn trắng trên thị trường ngày càng đa dạng và phổ biến hơn trước, tuy nhiên mỗi một chế phẩm có những ưu và nhược điểm nhất định Vì vậy, xuất phát từ thực tế trên việc tiến hành đánh giá hiệu lực phòng trị của một số loại thuốc đối với bệnh phấn trắng để tìm

ra loại thuốc thích hợp thỏa mãn các yêu cầu như: hiệu lực phòng trị của thuốc cao, chi phí thấp, ít ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của cây

Hai chỉ tiêu dùng để đánh giá bệnh hại cây trồng là TLB và CSB Trong đó, TLB thể hiện mức độ phổ biến của bệnh, CSB thể hiện mức độ nặng hay nhẹ của bệnh TLB và CSB của các nghiệm thức thí nghiệm được trình bày trong bảng 4.5 và bảng 4.6

Tỷ lệ bệnh của các nghiệm thức trước khi xử lý thuốc biến động từ 84,80 – 94,40 % và chỉ số bệnh biến động từ 32,16 – 39,84 % Sau khi xử lý thuốc lần thứ nhất nghiệm thức đối chứng (phun nước) có TLB tăng lên 100 %; Nghiệm thức: Amistar Top 325 SC có TLB tăng lên so với ban đầu nhưng mức tăng vẫn thấp hơn so với đối chứng và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê; Hai nghiệm thức Sulox 80 WP

và Sumi Eight 12.5 WP có TLB giảm so với ban đầu và so với đối chứng ở mức có ý nghĩa thống kê Bên cạnh đó, CSB của tất cả các nghiệm thức đều tăng lên Nhưng mức tăng của các nghiệm thức Amistar Top 325 SC, Sulox 80 WP, Sumi Eight 12.5

WP vẫn thấp hơn và khác biệt có ý nghĩa thống kê so với đối chứng Ta thấy ở nghiệm thức Sumi Eight 12.5 WP, CSB có mức tăng thấp nhất tạo sự khác biệt có ý nghĩa so với đối chứng và đối chứng chuẩn (Sulox 80 WP), chứng tỏ nghiệm thức Sumi Eight

12.5 WP có tác dụng ức chế tức thời sự phát triển của nấm O.heveae so với các

nghiệm thức khác Ở nghiệm thức Exin 4.5 HP, cả TLB và CSB đều tăng lên so với ban đầu và thấp so với đối chứng, nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê so với đối chứng

Trang 34

Bảng 4.5: Diễn biến TLB sau 3 đợt xử lý thuốc

(Các giá trị trong cùng một cột theo sau bởi các chữ cái cùng kí tự không có khác biệt ý nghĩa

thống kê ở mức α=0,05 trong trắc nghiệm Duncan)

Bảng 4.6 Diễn biến CSB sau 3 đợt xử lý thuốc

(Các giá trị trong cùng một cột theo sau bởi các chữ cái cùng kí tự không có khác biệt ý nghĩa

thống kê ở mức α=0,05 trong trắc nghiệm Duncan)

Ở lần quan trắc thứ hai, TLB và CSB ở các nghiệm thức có xử lý thuốc đều giảm và

thấp hơn khác biệt có ý nghĩa thống kê so với đối chứng Hai nghiệm thức Amistar Top

325 SC, Sumi Eight 12.5 WP có TLB giảm thấp hơn so với đối chứng chuẩn nhưng sự

khác biệt này không có ý nghĩa thống kê Nghiệm thức Exin 4.5 HP có TLB cao hơn khác

biệt có ý nghĩa thống kê so với đối chứng chuẩn Tất cả các nghiệm thức có xử lý thuốc

Trang 35

đều có tỷ lệ bệnh giảm ở mức có ý nghĩa thống kê so với đối chứng, nhưng sự khác biệt

này lại không có ý nghĩa so với đối chứng chuẩn

Ở lần quan trắc thứ ba, ta thấy cả TLB và CSB ở các nghiệm thức có xử lý thuốc đều giảm và thấp hơn khác biệt có ý nghĩa thống kê so với đối chứng Hai nghiệm thức Amistar Top 325 SC, Sumi Eight 12.5 WP có TLB và CSB cao hơn so với đối chứng chuẩn nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê Nghiệm thức Exin 4.5 HP có TLB và CSB thấp hơn khác biệt so với đối chứng, nhưng lại có TLB và CSB cao hơn khác

biệt có ý nghĩa thống kê so với đối chứng chuẩn

Nhìn chung, tất cả các nghiệm thức có xử lý thuốc đều cho TLB và CSB giảm so với không xử lý thuốc và sự khác biệt này có ý nghĩa trong thống kê Nghiệm thức Sulox 80

WP được chọn làm đối chứng chuẩn sau 3 lần xử lý thuốc vẫn cho hiệu quả nhất (TLB và CSB là thấp nhất) so với các nghiệm thức còn lại, tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê so với hai nghiệm thức Sumi Eight 12.5 WP và Amistar Top 325 SC Mặc

dù vậy, nghiệm thức Exin 4.5 HP vẫn được cân nhắc để có thể sử dụng vì đây là chế phẩm sinh học có tác dụng kích kháng trong cây trồng, nâng cao khả năng tự bảo vệ của cây từ bên trong và nhất là không ảnh hưởng đến môi trường như những sản phẩm thuốc hoá học

khác

4.3 So sánh chi phí và hiệu quả đạt được ở mỗi loại thuốc thí nghiệm

Để tính hiệu quả kinh tế trong phòng trị bệnh cần dựa vào nhiều yếu tố như: tiền công, vật tư (thuốc, các loại dụng cụ dùng để phun xịt) và hiệu quả kỹ thuật Tuy nhiên, do có cùng phương cách áp dụng, nên hiệu quả kinh tế giữa các loại thuốc dùng trong thí nghiệm chỉ được tính dựa vào việc so sánh chi phí tiền thuốc sau ba lần thử nghiệm

Bảng 4.7 cho thấy chi phí các loại thuốc trên mỗi hecta vườn nhân sau 3 lần xử lý khá lớn Trong đó, thuốc Sumi Eight 12.5 WP xử lý ở nồng độ 0,2 % có chi phí cao nhất là 15.000.000 VNĐ, tiếp theo là thuốc Amistar Top 325 SC được xử lý với nồng độ 0,1 % có chi phí 11.100.000 VNĐ, Exin 4.5 HP xử lý nồng độ 0,2 % có chi phí 6.000.000 VNĐ và Sulox 80 WP (đối chứng chuẩn) xử lý nồng độ 0,3 % có chi phí thấp nhất 1.590.000 VNĐ Nhìn chung, trong 4 loại thuốc dùng để xử lý thì Sulox 80 WP có chi phí xử lý thấp hơn nhiều lần so với 3 loại thuốc còn lại

Giá thành của hai loại thuốc Amistar Top 325 SC (1.100.000/1 lít) và Sumi Eight 12.5 WP (750.000/1 kg) cao hơn nhiều lần so với Sulox 80 WP (đối chứng chuẩn có giá

Ngày đăng: 11/06/2018, 08:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w