Đề tài nghiên cứu “SO SÁNH ẢNH HƯỞNG CỦA KHOẢNG CÁCH TRỒNG ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ HÀM LƯỢNG TINH DẦU CỦA CÂY BẠC HÀ Mentha arvensis L.. Nội dung nghiên cứu: khảo sát các chỉ ti
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 3LỜI CẢM ƠN
THÀNH KÍNH GHI ƠN
Con thành kính biết ơn cha mẹ đã nuôi con khôn lớn và trở thành người có ích cho xã hội
CHÂN THÀNH BIẾT ƠN
- Ban giám hiệu trường đại học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh và toàn thể quý thầy cô đã tận tình giảng dạy, truyền đạt
- Cô Phạm Thị Minh Tâm đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình làm đề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
- Thầy Dương Thành Lam đã chỉ dẫn và truyền đạt những kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian thực tập
- Thầy cô Viện Công nghệ Sinh học và Môi trường trường đại học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh
- Cám ơn tập thể lớp DH07NH và các bạn đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài này
Trang 4TÓM TẮT
PHẠM DUY, trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 7 năm 2011
Đề tài nghiên cứu “SO SÁNH ẢNH HƯỞNG CỦA KHOẢNG CÁCH TRỒNG
ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ HÀM LƯỢNG TINH DẦU CỦA CÂY
BẠC HÀ (Mentha arvensis L.) TẠI THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH”
Giáo viên hướng dẫn: TS PHẠM THỊ MINH TÂM
ThS DƯƠNG THÀNH LAM
Thí nghiệm nhằm tìm ra khoảng cách, mật độ trồng thích hợp cho năng suất cây bạc hà
và năng suất tinh dầu cao nhất
Nội dung nghiên cứu: khảo sát các chỉ tiêu về thời gian sinh trưởng, phát triển, chiều cao, số lá, số cành, thân ngầm, năng suất cây và năng suất tinh dầu
Thí nghiệm đơn yếu tố được bố trí theo kiểu khối đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên (Randomized Completed Block Design – RCBD), 3 lần lặp lại với 5 nghiệm thức tương ứng với 5 khoảng cách, mật độ trồng khác nhau:
Nghiệm thức 1: Khoảng cách trồng 40 cm x 15 cm x 1 hom/lỗ (166.667 cây/ha)
Nghiệm thức 2: Khoảng cách trồng 35 cm x 15 cm x 1 hom/lỗ (190.477 cây/ha)
Nghiệm thức 3: Khoảng cách trồng 30 cm x 15 cm x 1 hom /lỗ (222.223 cây/ha) (DC) Nghiệm thức 4: Khoảng cách trồng 25 cm x 15 cm x 1 hom /lỗ (266.667 cây/ha)
Nghiệm thức 5: Khoảng cách trồng 20 cm x 15 cm x 1 hom /lỗ (333.334 cây/ha)
Qua thời gian thí nghiệm (từ tháng 3 đến tháng 6/2011) bước đầu đã rút ra 1 số kết luận sau:
Chỉ tiêu sinh trưởng
- Nghiệm thức 4 (25 cm x 15 cm - 266.667 cây/ha) có tốc độ tăng trưởng chiều cao cao nhất (10,35 cm/cây/7 ngày), số lá nhiều nhất (39,61 lá/cây) và số cành nhiều nhất (27,30 cành/cây)
- Thân ngầm: Chiều dài và trọng lượng thân ngầm của nghiệm thức 1 (40 cm x 15 cm - 166.667 cây/ha) là cao nhất (699,35 cm/cây; 91,57 g/cây) Như vậy nghiệm thức 1 (40
cm x 15 cm - 166.667 cây/ha) thích hợp cho công tác nhân giống
Chỉ tiêu năng suất
Trang 5- Năng suất tinh dầu: Tất cả các nghiệm thức đều cho năng suất tinh dầu cao nhất vào giai đoạn 80 NST Nghiệm thức 4 (25 cm x 15 cm - 266.667 cây/ha) cho năng suất tinh dầu thực tế (34,21 kg/ha) và lý thuyết (145,58 kg/ha) cao nhất
- Năng suất tươi và năng suất khô: Nghiệm thức 4 (25 cm x 15 cm - 266.667 cây/ha) cho năng suất tươi (34,76 tấn/ha) và khô (5,82 tấn/ha) cao nhất
Tóm lại: Qua khảo sát các mật độ trồng cho thấy: Nghiệm thức 4 (25 cm x 15 cm x 1
hom /lỗ - 266.667 cây/ha) cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất vì thế khuyến cáo
sử dụng khoảng cách, mật độ trồng này
Trang 6Mục lục
LỜI CẢM TẠ i
TÓM TẮT iii
Mục lục v
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH SÁCH CÁC BẢNG viii
DANH SÁCH CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ ix
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích, yêu cầu và giới hạn của đề tài 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
1.2.3 Giới hạn của đề tài 2
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Nguồn gốc 3
2.2 Đặc điểm thực vật học cây bạc hà 3
2.2.1 Phân loại theo đặc điểm thực vật học 3
2.2.2 Đặc điểm hình thái 4
2.3 Điều kiện ngoại cảnh 5
2.3.1 Nhiệt độ 5
2.3.2 Độ ẩm 5
2.3.3 Ánh sáng 5
2.3.4 Dinh dưỡng 6
2.3.5 Đất 6
2.4 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển 6
2.5 Kỹ thuật trồng 7
2.5.1.Làm đất 7
2.5.2 Kỹ thuật trồng 7
2.5.3 Chăm sóc 8
2.5.4 Thu hoạch 9
2.6 Tinh dầu trong bạc hà 9
2.6.1 Đặc tính và thành phần hóa học 9
2.6.2 Các phương pháp chiết xuất tinh dầu 9
2.7 Công dụng và giá trị kinh tế 11
2.8 Các nghiên cứu về cây bạc hà 12
2.9 Kết luận 14
Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP 15
3.1 Địa điểm và thời gian 15
Trang 73.1.1 Địa điểm 15
3.1.2 Thời gian 15
3.2 Đặc điểm nơi thí nghiệm 15
3.2.1 Đặc điểm về đất đai 15
3.2.2 Đặc điểm về khí hậu thời tiết 15
Bảng 3.2 Đặc điểm khí hậu thời tiết 15
3.3 Vật liệu thí nghiệm 16
3.4 Phương pháp thí nghiệm 16
3.4.1 Bố trí thí nghiệm 16
3.4.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 17
3.4.3 Quy mô thí nghiệm 17
3.4.4 Các chỉ tiêu theo dõi 17
3.5 Xử lý số liệu và phân tích thống kê 20
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 21
4.1 Ảnh hưởng của khoảng cách, mật độ trồng dến thời gian sinh trưởng và phát triển 21
4.2 Chiều cao và tốc độ tăng trưởng 22
4.3 Số lá và tốc độ ra lá 25
4.4 Số cành và tốc độ ra cành 27
4.5 Chỉ tiêu về thân ngầm 30
4.6 Năng suất 31
4.6.1.Biến động năng suất tinh dầu 31
4.6.2 Năng suất thu hoạch 34
4.8 Tình hình sâu bệnh hại 35
4.8 So sánh, đánh giá hiệu quả kinh tế giữa các mật độ trồng 36
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 39
5.1 Kết luận 39
5.2 Đề nghị 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO 41
PHỤ LỤC 43
Trang 9DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Diễn biến tỷ lệ tinh dầu phụ thuộc vào thời gian thu hoạch trong ngày… 09
Bảng 3.1 Kết quả phân tích mẫu đất……….…15
Bảng 3.2 Đặc điểm khí hậu thời tiết……….15
Bảng 4.1: Ảnh hưởng của khoảng cách, mật độ trồng đến thời gian sinh trưởng và phát triển……….……… 21
Bảng 4.2: Động thái tăng trưởng chiều cao……… ………22
Bảng 4.3 Tốc độ tăng trưởng chiều cao………24
Bảng 4.4 Động thái ra lá……….……… 25
Bảng 4.5 Tốc độ ra lá……….……… 27
Bảng 4.6 Động thái ra cành……… 28
Bảng 4.7 Tốc độ ra cành……… ……….29
Bảng 4.8 Các chỉ tiêu thân ngầm……… 30
Bảng 4.9 Biến động năng suất tinh dầu………31
Bảng 4.10 Biến động năng suất tinh dầu lý thuyết…… ….……… 33
Bảng 4.11 Năng suất khô và tươi……….……….34
Bảng 4.12: Sơ bộ tính toán chi phí đầu tư cho 1 ha bạc hà của 5 nghiệm thức thí nghiệm……… … 37 Bảng 4.13 Sơ bộ tính toán so sánh hiệu quả kinh tế của 5 nghiệm thức thí nghiệm…38
Trang 11bạc hà Trong đó tinh dầu bạc hà từ cây bạc hà (Mentha arvensis L.) đang rất được
quan tâm do những ứng dụng của nó trong lĩnh vực liên quan đến sức khỏe con người
Cây bạc hà có giá trị kinh tế cao, sức sống mạnh mẽ, là loài có khả năng thích nghi rộng với điều kiện khí hậu và thỗ nhưỡng của vùng nhiệt đới, dễ nhân giống, chăm sóc đơn giản Bạc hà là một vị thuốc rất phổ biến ở nước ta, được sử dụng rộng rãi cả trong Tây y và Đông y Bạc hà có tên khác là kim tiền bạc - thạch bạc hà - liên tiền thảo Trong tinh dầu bạc hà có chứa chất menthol, từ đó người ta đã chế ra nhiều loại thuốc như: dầu cù là, dầu cao con hổ, kẹo ngậm ho bạc hà, rượu bạc hà, thuốc đánh răng bạc hà
Ở Việt Nam, bạc hà mọc hoang nhiều ở phía bắc (Lào Cai, Sơn La, Lai Châu) Loại này đưa về đồng bằng trồng cho năng suất cây xanh cao nhưng hiệu suất tinh dầu
và hàm lượng menthol trong tinh dầu thấp
Hiện nay có nhiều tỉnh trồng để khai thác tinh dầu như: Hà Nội, Hà Tây, Thái Bình, Quảng Nam, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Tiền Giang (Chu Thị Thơm và ctv, 2006) Nhưng nhìn chung thì việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật cho trồng trọt và chăm sóc đang còn bị hạn chế và ít được quan tâm
Trong các biện pháp nâng cao năng suất và chất lượng như chọn giống tốt, đầu
tư phân bón, xử lý vi sinh, bảo vệ thực vật, xử lý giống thì việc nghiên cứu khoảng cách, mật độ trồng cho từng loại đất khác nhau là một biện pháp thâm canh để tăng nhanh năng suất cây và năng suất tinh dầu trong bạc hà Xuất phát từ yêu cầu thực tế trên, được sự phân công của khoa Nông Học tôi đã thực hiện đề tài: “So sánh ảnh hưởng của khoảng cách trồng đến sinh trưởng, phát triển và hàm lượng tinh dầu của
cây bạc hà (Mentha arvensis L.) tại Thủ Đức thành phố Hồ Chí Minh”
Trang 121.2 Mục đích, yêu cầu và giới hạn của đề tài
1.2.1 Mục đích
Xác định được khoảng cách, mật độ trồng thích hợp nhằm tăng năng suất cây
và năng suất tinh dầu cho cây bạc hà (Mentha arvensis L.)
1.2.2 Yêu cầu
- Theo dõi các chỉ tiêu về khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của bạc hà
- Theo dõi biến động về hàm lượng tinh dầu trong các thời kì phát triển từ đó tìm ra giai đoạn đạt hàm lượng tinh dầu cao nhất
- Theo dõi thân ngầm của cây bạc hà
1.2.3 Giới hạn của đề tài
Do đề tài thí nghiệm ngắn và chỉ thực hiện trên một vụ trong năm 2011 trên 1 giống bạc hà nên kết quả rút ra chỉ có ý nghĩa bước đầu Đề tài cần được thực hiện trên nhiều giống cũng như trên nhiều loại đất qua các thời vụ khác nhau để có thể rút ra kết luận chính xác hơn
Trang 13Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Nguồn gốc
Cây bạc hà được con người sử dụng và biết đến từ rất lâu đời, chúng đã được trồng cách đây khoảng 2.000 năm tại nhiều quốc gia (Chu Thị Thơm và ctv., 2006) Bạc hà có nhiều ở Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil Bạc hà được tìm thấy trong những ngôi mộ 3.000 năm ở Ai Cập Cách đây hơn 2.000 năm, chúng được người Nhật Bản trồng để chiết xuất tinh dầu Người Trung Quốc cũng ca ngợi tính chất của loại cây này có khả năng làm giảm co thắt (CAI - PAN corporation, 1984) Hiện nay bạc hà được phân theo 2 nhóm lớn:
* Bạc hà Á (bạc hà Nhật) (Mentha arvensis L.) có chất lượng tinh dầu không cao
nhưng hàm lượng menthol lớn (70 – 90 %) Hiện sản lượng tinh dầu và menthol lấy từ loại bạc hà này là nguồn cung cấp chủ yếu cho toàn thế giới (Chu Thị Thơm và ctv., 2006)
Bạc hà Âu là kết quả của sự lai tạp từ 3 loại khác nhau là (Mentha sylves, Mentha
rotundifolia, Mentha aquatica) Do đó dễ bị tác động bởi ngoại cảnh Chúng đã được
trồng phổ biến ở khắp nơi trên thế giới, chứa 48 – 68 % menthol Bạc hà châu Âu được nhà thực vật học người Anh là John Ray (1628 – 1705) mô tả lần đầu tiên vào năm
Mentha aquatica L var aquatica (Húng lúi)
Mentha arvensis L var javanica (Bl.) Hook.f (Húng cay)
Mentha spicata Spearmint
Trang 14b Thân
Thân chính và các cành tạo thành bộ khung tán cây Thân ở dạng thân thảo, ít hóa gỗ, thân cành có tiết diện vuông, sinh sản bằng phân nhánh ở phần gốc thân ngay trên hoặc dưới mặt đất Nếu mọc ở phần gốc thân trên tạo dải bò màu tím có mang lá Tại các phần sát mặt đất sinh ra bó rễ con giữ chặt thân với mặt đất
Thân chính cao 0,6 - 1,2 m, rỗng ruột khi già Trên thân có các đốt, mỗi đốt mọc 2 mầm đối xứng nhau và rễ bất định Giữa 2 đốt là các lóng, độ dài ngắn tùy thuộc vào giống và điều kiện chăm sóc Thân chính mang tinh dầu nhưng hàm lượng thấp (Chu Thị Thơm và ctv., 2006)
c Lá
Là cơ quan dinh dưỡng quan trọng nhất làm nhiệm vụ quang hợp, hô hấp, thoát hơi nước và mang tinh dầu Là nguyên liệu chính chưng cất tinh dầu chiếm 40 - 50 % khối lượng khí sinh, tùy chủng loại mà lượng tinh dầu biến đổi từ 2 - 6 %
Lá đơn mọc đối, cuống lá ngắn, lá hình trứng, có màu xanh thẫm hoặc đỏ tía, lá nguyên hoặc khía răng cưa chiều dài từ 4 – 8 cm, chiều rộng từ 2 – 4 cm Hai phía mặt
lá là các túi tinh dầu, mặt trên số lượng lớn hơn mặt dưới
Trên lá có 2 loại lông đặc biệt: lông thẳng nhọn gồm 3 - 4 tế bào gọi là lông che chở (lông đa bào), lông ngắn hơn tù, có tinh dầu gọi là lông tiết tinh dầu (túi dầu) Cấu tạo túi dầu gồm 9 tế bào, một tế bào đáy còn 8 tế bào xếp tròn trên đáy tạo thành 1 khoảng trống Khi chứa đầy tinh dầu thì có màng phủ căng và dễ dàng bị vỡ dưới tác động cơ giới do đó khi thu hoạch phải thu hoạch đúng lúc, tránh tác động bên ngoài để
Trang 15không làm giảm năng suất tinh dầu thu hoạch được Tế bào tiết tinh dầu trên lá tăng từ đầu đến cuống lá và từ mép lá vào giữa lá (Chu Thị Thơm và ctv., 2006)
d Hoa
Hoa nhỏ, màu trắng, hồng hoặc tím hồng, mọc vòng ở kẽ lá Cánh hoa màu tím, hồng nhạt hay trắng Đài hình chuông, mặt ngoài đài có lông bao phủ Mùa hoa vào tháng 6 – 10 (Chu Thị Thơm và ctv., 2006)
2.3 Điều kiện ngoại cảnh
2.3.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ trung bình ngày đêm càng cao, cây nở hoa càng nhanh Nếu nhiệt độ trung bình trong ngày thấp, kết hợp với điều kiện ngày ngắn thì cây sẽ không ra hoa (Chu Thị Thơm và ctv., 2006)
Tôpalốp và ctv (Trần Thu dịch, 1966) cho biết, thời kì băng giá ngắn là nguyên nhân làm mất khả năng đậu quả, chín hạt bình thường Thay vào đó bắt buộc cây phải tạo thành ở bộ rễ một cơ quan có ý nghĩa hàng đầu đối với sự sinh sản sinh dưỡng, cũng chính vì vậy nó thúc đẩy quá trình phát triển và kết quả là rút ngắn thời gian sinh trưởng còn lại khoảng 90 – 100 ngày và cây trồng phát triển trong những tháng thời tiết thuận lợi nhất trong năm (tháng 4 đến tháng 7)
2.3.2 Độ ẩm
Theo Tôpalốp và ctv (Trần Thu dịch, 1966), lượng bộ phận khí sinh tương đối lớn, bộ rễ kém phát triển, lại phân bố trên lớp đất nông là những lý do làm cây bạc hà cần nước (cả độ ẩm trong đất và độ ẩm trong không khí) Nhìn chung trong thời gian sinh trưởng, nước càng đầy đủ bao nhiêu, khối lượng và chất lượng thu hoạch càng cao bấy nhiêu Ngược lại hạn hán xảy ra, khối lượng và chất lượng thu được đều kém Độ
ẩm trong đất thích hợp nhất với bạc hà là 80% (độ ẩm tương đối)
Bộ rễ của cây bạc hà phân bố nông và kém phát triển nên sức hút và giữ nước kém, mẫn cảm với hạn Trong thời kì sinh trưởng, nếu độ ẩm cao, bạc hà sẽ đạt được năng suất chất xanh cực đại nhưng hàm lượng tinh dầu sẽ giảm
2.3.3 Ánh sáng
Bạc hà là cây ngày dài, ưa ánh sáng Điều kiện ngày dài từ 14 – 16 giờ, cây sẽ chuyển từ sinh trưởng sinh dưỡng sang sinh thực và ra hoa Thời gian chiếu sáng từ 8
Trang 16– 10 giờ, cây sẽ không chuyển giai đoạn được, năng suất chất xanh giảm, tỷ lệ thân ngầm tăng (Chu Thị Thơm và ctv., 2006)
2.3.4 Dinh dưỡng
Cây bạc hà cần một khối lượng lớn các chất dinh dưỡng ở dạng dễ tiêu, bởi có
số lượng lớn cây trên đơn vị diện tích, bộ phận khí sinh tăng nhanh trong thời gian sinh trưởng tương đối ngắn và bộ rễ phân bố nông trong lớp đất canh tác
Theo kết quả nghiên cứu của Tôpalốp và ctv (Trần Thu dịch, 1966) sau khi mọc, trong cây bạc hà chứa N và K nhiều nhất, còn nguyên tố P ít nhất Trong các thời
kỳ cuối, N và K đều giảm đi, mặc dù trong các thời kỳ này khối lượng hai chất đó cũng được hấp thụ tăng lên, nhưng khối lượng chất xanh tăng lên hơn nhiều Chính vì vậy, yêu cầu về dinh dưỡng cho cây bạc hà trong suốt quá trình sinh trưởng hầu như không thay đổi
2.3.5 Đất
Theo Tôpalốp và ctv (Trần Thu dịch, 1966), bạc hà ưa đất xốp, có thành phần
cơ giới nhẹ, giàu dinh dưỡng, thoát nước tốt nhưng vẫn phải đủ ẩm Đất không có cấu tượng dễ bị khô hạn, đất sét giữ nước, úng bí, đất cát giữ ẩm kém đều không thích hợp với việc trồng bạc hà Cây trồng trên các loại đất này có hàm lượng tinh dầu thấp và chất lượng lại kém, nhìn chung cây sinh trưởng không tốt, không những hàm lượng menthol mà cả các este cũng nghèo
2.4 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển
Bạc hà có các thời kì sau:
- Thời kì mọc: thời kì này được xác định khi xuất hiện các cây mọc cho đến khi định
rõ các hàng trồng Quá trình mọc bắt đầu ở 100C và kéo dài 10 – 15 ngày Trong thời
kì này thân cây tạo thành các rễ phụ và bộ rễ phát triển Độ ẩm đất trong thời kì này ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ mọc của cây Thiếu độ ẩm nhiều, mầm không đâm thủng mặt đất để mọc lên và làm cho bộ rễ không phát triển được Điều này nói lên rằng cây bạc hà nên trồng vào mùa thu, sang xuân có đủ ẩm cây mọc được dễ dàng (Chu Thị Thơm và ctv., 2006)
- Thời kì phân cành: nhờ bộ rễ của mình, cây mới mọc lên phát triển nhanh về chiều cao, sau đó các mầm nách lá phát triển thành các cành mới
Trang 17Quá trình phân cành theo một trình tự: trước tiên là những mầm ở đôi lá dưới gốc, vì thân chính tiếp tục phát triển, những cành càng lên gần ngọn càng ra muộn hơn và ngắn hơn, vì thế cây bạc hà có hình dạng tháp (Chu Thị Thơm và ctv., 2006)
Đây là thời kì cây sinh trưởng mạnh, tăng nhanh khối lượng chất xanh và cả chất khô Cung cấp không đủ độ ẩm, dinh dưỡng, nhiệt độ và ánh sáng sẽ ảnh hưởng xấu đến quá trình phát triển và cuối cùng ảnh hưởng tới sản phẩm của cây bạc hà
- Thời kì làm nụ hoa: thời kì này lá mới không hình thành nữa, thay vào đó ở các đỉnh sinh trưởng xuất hiện mầm của hoa tự bông Thân và lá vẫn tiếp tục lớn lên về kích thước, trọng lượng và tỷ lệ tinh dầu cũng tăng lên Thời kì này không quá 10 – 15 ngày (Chu Thị Thơm và ctv., 2006)
- Thời kì nở hoa: nở hoa bắt đầu khi các hoa ở cành chính nở hoa, tiếp theo là các hoa
tự ở các cành theo thứ tự mà chúng sinh ra Trên bông, hoa nở từ dưới lên trên Nhiệt
độ cao trong thời kì này làm tăng tỷ lệ tinh dầu và chất lượng tinh dầu cũng tốt hơn, trước hết là làm tăng hàm lượng menthol trong tinh dầu Độ ẩm đất cao, trời gió, ngược lại, làm giảm tỷ lệ và chất lượng tinh dầu Hạn hán trong thời kỳ này nếu xảy ra cũng làm giảm tỷ lệ và chất lượng tinh dầu vì làm rụng lá bạc hà Ở thời kì này, cây bạc hà cần đạt đến khối lượng chất xanh lớn nhất và hàm lượng tinh dầu cao nhất (Chu Thị Thơm và ctv., 2006)
2.5 Kỹ thuật trồng
2.5.1.Làm đất
Sau khi đã chọn được đất, đem phân vãi ra đều một lượt, mỗi hecta rãi từ 2,5 tấn đến 4 tấn phân chuồng, 10 tấn phân bùn; cày sâu 27 – 33 cm, bừa nhỏ và san bằng đất
2.5.2 Kỹ thuật trồng
Theo Nguyễn Thị Thanh Bình (2004), kỹ thuật trồng gồm có: trồng bằng hạt, bằng thân ngầm, trồng bằng thân bò trên mặt đất, trồng bằng cành và trồng bằng cây con
- Trồng bằng hạt: có thể gieo thẳng hay ươm rồi nhổ cây đi trồng
- Trồng bằng thân ngầm: có thể trồng vào mùa đông và mùa xuân; ở miền Nam khí hậu ấm áp nên phần lớn là trồng vào mùa xuân (tháng 3 – 4) Trước khi trồng nên chọn những đoạn thân ngầm tốt, cắt thành đoạn từ 7 – 10 cm, cứ cách 23 – 33 cm thì đánh
Trang 18một rãnh, nếu trồng theo từng lỗ (hốc) thì cứ cách 23 – 27 cm đào một lỗ sâu 7 cm, mỗi lỗ trồng 2 – 3 hom
- Trồng bằng thân, cành: bạc hà thường được trồng vào tháng 6, 7 Người ta cắt những đoạn thân, cành bánh tẻ để trồng Thân bạc hà được cắt thành đoạn dài 10 cm và được đặt sâu xuống 2/3, khoảng cách trồng từ 5 – 7 cm, trồng xong phải che phủ để giữ ẩm Sau khi trồng được 2 – 3 tuần thì cây mọc mầm và khi mọc cao được 10 – 13 cm thì có thể nhổ để trồng chỗ khác
2.5.3 Chăm sóc
a.Làm cỏ và vun xới
Trồng bằng thân ngầm và bằng hạt khi cây đã mọc cao 7 – 10 cm, hoặc bằng những đoạn thân cành, nếu vườn có cỏ, cần làm cỏ và phá váng
Khi cây đã cao 17 – 20 cm thì xới đất lần thứ hai Khi cây đã mọc cao 27 – 33 cm, thì vun xới lần thứ ba Sau khi đã thu hoạch lần thứ nhất, cần phải vun xới kết hợp nhổ những cây có nhiều cành đâm rễ xuống đất Ngoài ra trên những ruộng bạc hà trồng để hai năm thường có rất nhiều cây con mọc lên trong năm thứ hai, lúc làm cỏ và vun xới lần thứ nhất cần phải nhổ bỏ đi, làm cho khoảng cách các cây có cự ly thích hợp, không nên để quá dày, nếu để dày thì sẽ thiếu ánh sáng, ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng của bạc hà (Nguyễn Thị Thanh Bình, 2004)
b Bón phân
Bộ phận thu hoạch là thân và lá cho nên bón phân chủ yếu là dùng phân đạm
và phân kali Loại phân dùng bón lót chủ yếu là phân chuồng, phân rác, bùn ao Phân dùng bón thúc thì dùng sulfat đạm, phân chuồng ủ hoai hay khô đầu trâu Lúc làm đất ngoài việc bón phân lót ra, sau khi cây đã mọc thì phải bón phân thúc nhiều lần, có như thế mới đảm bảo tăng thu hoạch (Nguyễn Thị Thanh Bình, 2004)
c Tưới nước và tháo nước
Bạc hà ưa đất ẩm vừa phải, nếu gặp phải đất quá khô hay sau khi bón phân thúc đều cần phải tưới nước Nhưng gặp phải trời mưa quá nhiều, không tháo nước được, thì bất lợi cho bạc hà sinh trưởng Việc tháo nước và tưới nước cần phải đặc biệt chú ý làm kịp thời và đúng mức Sau khi thu hoạch lần thứ nhất, nếu đất quá khô, cần kết hợp với bón phân có tưới nước, như vậy cây sẽ đâm chồi rất mạnh và cho thu hoạch lần thứ hai cao (Nguyễn Thị Thanh Bình , 2004)
Trang 192.5.4 Thu hoạch
Theo Tôpalốp và ctv (Trần Thu dịch, 1966), trong các cây tinh dầu, trong đó có
bạc hà cùng với quá trình sinh trưởng thì tỷ lệ dầu trong cây sẽ tăng lên Mối quan hệ này thể hiện rất rõ giữa tinh dầu và sự phát triển của lá – nơi tổng hợp và tích lũy tinh dầu Khi lá ngừng phát triển, tỷ lệ tinh dầu cũng ngừng tăng lên Sau đó bắt đầu quá trình oxy hóa, lá già rụng đi, gây nên sự mất mát Để tránh các tổn thất này, nếu thu cắt bạc hà để cất tinh dầu phải tiến hành vào lúc mà nó cho khối lượng thân lá (chủ yếu là lá) lớn nhất với tỷ lệ tinh dầu cao nhất
Với mục đích cất lấy tinh dầu, sau khi xác định được giai đoạn thu cắt thích hợp, phải tính đến các yếu tố: thời gian trong ngày, tình trạng độ ẩm trong đất Tháo nước làm khô ruộng trước khi thu cắt 5 – 6 ngày làm tỷ lệ tinh dầu tăng lên
Bảng 2.1 Diễn biến tỷ lệ tinh dầu phụ thuộc vào thời gian thu hoạch trong ngày (Tôpalốp và ctv., dịch bởi Trần Thu, 1966)
Thời gian cắt lá trong ngày Hàm lượng tinh dầu trong lá tính theo
chất khô tuyệt đối (%) Lúc 6 giờ
10 giờ
14 giờ
18 giờ
1,96 2,22 2,21 1,90
2.6 Tinh dầu trong bạc hà
2.6.1 Đặc tính và thành phần hóa học
Theo Nguyễn Thị Thanh Bình (2004), tinh dầu bạc hà là chất lỏng màu vàng nhạt hay không màu Tỷ trọng 0,895 – 0,810 Tinh dầu có trên 50 % menthol, năng suất quay cực từ -80C đến -320C, chỉ số khúc xạ 1,4600 – 1,4710
Theo Tôpalốp và ctv (Trần Thu dịch, 1966), thành phần hóa học chủ yếu trong tinh dầu gồm: rượu amilic, hidrocacbon tecpen, xineol, methol, methone, methyl acetat, menthofuran, secquitecpen, polime
2.6.2 Các phương pháp chiết xuất tinh dầu
Trang 20Theo Nguyễn Khang và Phạm Văn Khiển (2001), hiện nay có 2 phương pháp chủ yếu là: phương pháp chưng cất hơi nước và phương pháp chiết xuất bằng CO2lỏng siêu hạn
- Phương pháp chưng cất hơi nước: phương pháp này dựa trên sự thẩm thấu, hòa tan, khuếch tán, lôi cuốn theo hơi nước của những hợp chất hữu cơ trong tinh dầu khi những hợp chất này tiếp xúc với hơi nước ở nhiệt độ cao
Cho 5 g mẫu bạc hà và 250 ml nước cất vào bình cầu 500 ml Đun bình tới sôi, hơi nước bay sẽ cuốn theo tinh dầu, hơi nước cùng tinh dầu qua hệ thống sinh hàn sẽ ngưng tụ lại, rơi xuống ống ngưng tụ Tinh dầu bạc hà không tan trong nước và nhẹ hơn nước sẽ ở phía trên Sau khi hệ thống nguội, rút tinh dầu và phần nước trong ống ngưng tụ ra bình chiết Cho petroleum ether vào, lắc bình chiết Rút phần petroleum ether có chứa tinh dầu ra Cho thêm petroleum ether (3 lần) để trích kiệt tinh dầu Cô quay lại petroleum ether dưới áp suất ở 500C ta thu được tinh dầu tinh khiết Cho tinh dầu tinh khiết và 10 ml CH2Cl2 vào lọ thủy tinh, đậy kín nắp và giữ trong ngăn đá tủ lạnh
Mẫu bạc hà xay nhuyễn + nước cất
Loại dung môi
Tinh dầu tinh khiết
Hình 2.1 Quy trình chiết xuất tinh dầu theo phương pháp chưng cất hơi nước (Nguyễn Khang và Phạm Văn Khiển, 2001)
- Phương pháp chiết xuất bằng CO2 lỏng siêu hạn
Trang 21Quy trình này gồm 3 thiết bị chính là bình chứa khí CO2, máy bơm khí và thiết bị chiết xuất Dung tích của bể chứa vào khoảng 2 lít
Các bước cơ bản để thực hiện quy trình:
+ Cho nguyên liệu vào bể chứa
+ Xả khí CO2 vào bể chứa đạt áp suất 70 kg/cm2
+ Sử dụng máy bơm để bơm khí vào bể chứa
+ Tổng áp suất cần thiết là 110 kg/cm2
+ Giữ nguyên (ngâm) trong thời gian từ 15 – 20 phút
+ Thu tinh dầu ở đầu ra sản phẩm
Thời gian ngâm và số lần lặp lại có thể tùy thuộc vào người sử dụng Sau khi chiết xuất ta có thể thu hồi khí CO2 vào bình chứa
Hình 2.2 Quy trình chiết xuất tinh dầu bằng CO2 lỏng siêu hạn (Nguyễn Khang và Phạm Văn Khiển, 2001)
2.7 Công dụng và giá trị kinh tế
Bạc hà là cây thuốc, cây công nghiệp có giá trị và vai trò quan trọng Y học cổ truyền cũng như Tây y đều cho rằng bạc hà có vị cay mát, làm ra mồ hôi, chữa cảm sốt, nhức đầu, sổ mũi, đau họng, khan tiếng, kích thích tiêu hóa, chữa các bệnh đường ruột, đi ngoài, kiết lỵ, sát trùng và giảm đau (Chu Thị Thơm và ctv., 2006)
Bể chứa
Sản phẩm
Bình chứa
CO2
Máy bơm khí
Trang 22- Lá bạc hà tươi có thể phối hợp với các cây có tinh dầu khác làm nước xông rất hiệu quả đối với cảm cúm, nhức đầu, sổ mũi, đau họng
- Lá bạc hà đã sấy khô, dùng uống như uống chè, sắc làm thuốc, làm thành viên chữa
- Sau khi chưng cất, bạc hà còn 18 – 24 % protein thô, 8 – 10 % đường, 49,55 % lipid thô và hàm lượng tương đối một số acid amin không thay thế nên được dùng làm thức
ăn gia súc, sản xuất nấu ăn hoặc làm phân bón (Chu Thị Thơm và ctv., 2006)
2.8 Các nghiên cứu về cây bạc hà
- Vimolmangkang và ctv (2009) nghiên cứu về năng suất và chất lượng tinh dầu từ 2
loài bạc hà Mentha spicata và Mentha arvensis var piperascens được trồng trong hệ
thống thủy canh sử dụng kĩ thuật dòng chảy ngập (deep flow technique - DFT)
Mục đích của nghiên cứu này là đánh giá sự khác nhau giữa bạc hà Mentha spicata L (spearmint) và bạc hà Mentha arvensis L var piperascens Malinv (Japanese mint) Sự
khác nhau được đánh giá bằng năng suất và thành phần hóa học của tinh dầu (trong giai đoạn thu hoạch - hoa nở rộ)
Spearmint và Japanese mint được trồng trong 4 công thức dinh dưỡng khác nhau: dung dịch dinh dưỡng tiêu chuẩn, dung dịch dinh dưỡng tiêu chuẩn + hỗn hợp aminoacid, dung dịch dinh dưỡng tiêu chuẩn + hợp chất lưu huỳnh, dung dịch dinh dưỡng tiêu chuẩn + hỗn hợp aminoacid + hợp chất lưu huỳnh Kết quả cho thấy rằng trồng Spearmint và Japanese mint trong dung dịch dinh dưỡng bằng thủy canh là 1 phương pháp hữu hiệu cho năng suất tinh dầu cao Đối với Spearmint thì hỗn hợp aminoacid là phụ gia dinh dưỡng thích hợp để tăng sản xuất tinh dầu với lượng carvone tối thiểu Theo dõi hàm lượng menthol trong Japanese mint trong cả 4 công thức dinh dưỡng, cho thấy rằng công thức có thêm lưu huỳnh và hỗn hợp aminoacid cho năng suất tinh dầu cao nhất
Trang 23- Olennikov và Tankhaeva (2010) đánh giá hàm lượng hợp chất phenol trong lá bạc hà
(Mentha piperata L.) bằng phương pháp đo quang phổ sóng đôi Firordt Phương pháp
này cho phép đánh giá cùng 1 lúc hàm lượng acid phenolic và flavonoid trong phân
tích hợp chất phenolic trong lá bạc hà Mentha piperata L Sai số trong đánh giá của
phân tích các thành phần trong hợp chất nhỏ hơn 3 % Và kết quả cho thấy trong nguyên liệu thô của Mentha piperata L chứa 3,02 – 6,32 % flavonoid; 2,70 – 5,52 %
acid phenolic và 5,72 – 11,51 % tổng hàm lượng hợp chất phenolic
- Al-Bayati (2009) phân lập và định danh hợp chất kháng khuẩn từ Mentha longifolia
L Hợp chất được phân lập và định danh từ tinh dầu bằng các kỹ thuật quang phổ khác Nhau: TLC (Thin-layer Chromatography) và HPLC (High-performance Liquid Chromatography) Tính kháng khuẩn của hợp chất được đánh giá bằng cách sử dụng phương pháp pha loãng và khuếch tán trong 96 đĩa vi chuẩn độ
Kết quả: hợp chất phân lập từ tinh dầu được định danh là (-) menthol Hợp chất phân lập được kiểm tra tính kháng khuẩn với 7 loại vi sinh vật gây bệnh và không gây bệnh:
Staphylococcus aureus, Streptococcus mutans, Streptococcus faecalis, Streptococcus pyogenis, Lactobacillus acidophilus, Pseudomonas aeruginosa và nấm men Candida albicans
Menthol ở các liều lượng khác nhau (1:1, 1:5, 1:10, 1:20) kháng lại với tất cả vi sinh
vật trừ Pseudomonas aeruginosa, và kháng mạnh nhất đối với Streptococcus mutans
Nồng độ ngăn chặn tối thiểu (MIC) nằm trong khoảng 15,6 – 125,0 g/ml, và những
kết quả hứa hẹn nhất được quan sát trong kháng lại với Staphylococcus aureus và
Streptococcus mutans (MIC 15,6 g/ml) Trong khi đó, Streptococcus faecalis,
Streptococcus pyogenis và Lactobacillus acidophilus dao động trong mức MIC 31,2
g/ml Hơn thế nữa, menthol kháng đáng kể đối với Candida albicans (MIC 125,0) Kết luận: việc phân lập hợp chất kháng khuẩn từ lá Mentha longifolia L đã làm hữu
ích hơn trong việc điều trị các bệnh về họng và răng miệng
- Perveen và ctv (2010) phân tích ảnh hưởng của nấm Sclerotinia sclerotiorum lên sinh trưởng, phát triển, năng suất tinh dầu và biến đổi sinh hóa trong bạc hà Mentha
arvensis L Sự giảm sút trong trọng lượng tươi thân ngầm/chồi rễ và trọng lượng khô
thân ngầm/chồi rễ (39,8 %, 43,6 %, 40,3 % và 42,9 %) Theo thứ tự, được theo dõi ở mức chủng ban đầu cao nhất 12 g sợi nấm/5 kg đất so với đối chứng (không chủng) Ở
Trang 24mức chủng thấp nhất 1.0 g sợi nấm/5 kg đất, thì mức thiệt hại là 18 % Ở mức chủng cao nhất thì mức thiệt hại là 80,2 % trong năng suất tinh dầu, tổng số diệp lục, tổng lượng phenol và tổng lượng đường khi so với đối chứng
2.9 Kết luận
Các nghiên cứu về kỹ thuật trồng cũng như quy trình chăm sóc để nâng cao năng suất và hàm lượng tinh dầu ở Việt Nam đang còn bị hạn chế và chưa được quan tâm đúng mức Vì thế bài nghiên cứu này là cần thiết
Trang 25Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
3.1 Địa điểm và thời gian
3.1.1 Địa điểm: Vườn thực nghiệm Trung tâm Nghiên cứu và Chuyển giao Khoa học
Công nghệ Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh
3.1.2 Thời gian: từ tháng 3/2011 đến tháng 6/2011
3.2 Đặc điểm nơi thí nghiệm
3.2.1 Đặc điểm về đất đai
Bảng 3.1 Kết quả phân tích mẫu đất
Nguồn:Trung tâm Phân tích Thí nghiệm Hóa sinh trường Đại học Nông Lâm Tp HCM
3.2.2 Đặc điểm về khí hậu thời tiết
Bảng 3.2 Đặc điểm khí hậu thời tiết
Tháng
Nhiệt độ trung bình (0C)
Độ ẩm trung bình (%) Lượng mưa trung bình
Nguồn: Trạm khí tượng thủy văn Tân Sơn Hòa – Tp.HCM (6/2011)
Chỉ tiêu phân tích Mẫu đất Phương pháp
Trang 26Nhận xét: Thời gian tiến hành đề tài bắt đầu từ tháng 3 và trong tháng này thì lượng
mưa rất ít (40,3 mm/tháng) nên cần phải tiến hành tưới đầy đủ nước cho cây sinh trưởng tốt Độ ẩm (67 - 70 %) và nhiệt độ (28,3 – 29,1) rất thích hợp cho cây bạc hà sinh trưởng và phát triển
3.3 Vật liệu thí nghiệm
Chọn những cây bạc hà mập khỏe, không sâu bệnh Đường kính thân từ 4 – 7
mm, dài 12 – 15 cm, nhúng phần gốc vào dung dịch CuSO4 5 % trong 5 phút trước khi trồng
3.4 Phương pháp thí nghiệm
3.4.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm đơn yếu tố được bố trí theo kiểu khối đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên (Randomized Completed Block Design – RCBD), 3 lần lặp lại với 5 nghiệm thức tương ứng với 5 mật độ trồng khác nhau
Các nghiệm thức:
Nghiệm thức 1: Khoảng cách trồng 40 cm x 15 cm x 1 hom/lỗ (166.667 cây/ha)
Nghiệm thức 2: Khoảng cách trồng 35 cm x 15 cm x 1 hom/lỗ (190.477 cây/ha)
Nghiệm thức 3: Khoảng cách trồng 30 cm x 15 cm x 1 hom /lỗ (222.223 cây/ha) (DC) Nghiệm thức 4: Khoảng cách trồng 25 cm x 15 cm x 1 hom /lỗ (266.667 cây/ha)
Nghiệm thức 5: Khoảng cách trồng 20 cm x 15 cm x 1 hom /lỗ (333.334 cây/ha)
Trang 27Khoảng cách giữa các khối là: 1 m
Tổng diện tích thí nghiệm là 204 m2 chưa tính hàng bảo vệ
3.4.4 Các chỉ tiêu theo dõi
3.4.4.1 Thời gian sinh trưởng và phát triển
Ngày ra lá thật đầu tiên (NST): tính khi ≥ 50% số cây/nghiệm thức ra lá thật đầu tiên
Ngày phân cành cấp 1 đầu tiên (NST): tính khi ≥ 50% số cây/nghiệm thức phân cành
cấp 1 đầu tiên
Trang 28Ngày ra hoa (NST): khi ≥ 20% số cây/nghiệm thức có 10 % hoa nở/cây
Ngày thu hoạch (NST): khi trên ≥ 70 % số cây/nghiệm thức có 90 % hoa nở/cây
3.4.4.2 Chỉ tiêu về sinh trưởng
Cách lấy mẫu đo đếm: trên mỗi ô thí nghiệm quan sát cố định 5 cây theo 2 đường chéo
góc và theo dõi định kỳ 7 ngày/lần
- Chiều cao cây (cm/cây): Bắt đầu tính từ 20 ngày sau trồng đến 70 ngày sau trồng Đo thân chính từ vị trí 2 lá mầm đến đỉnh sinh trưởng
- Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây (cm/cây/7 ngày)= Chiều cao đo lần sau – Chiều cao đo lần trước
- Số lá trên cây (lá/cây): bắt đầu tính từ 20 ngày sau trồng đến 70 ngày sau trồng Đếm
số lá thật trên thân chính và chỉ đếm những lá xuất hiện cuống lá và phiến lá rõ
- Tốc độ ra lá (lá/cây/7 ngày) = Tổng số lá cây đếm lần sau – Tổng số lá cây đếm lần trước
- Số cành cấp 1 trên cây (cành/cây): Bắt đầu tính từ 25 ngày sau trồng đến 70 ngày sau trồng
- Tốc độ ra cành (cành/cây/7 ngày) = Số cành đo lần sau – Số cành đo lần trước
3.4.4.3 Thân ngầm
Vào ngày thu hoạch, chọn 5 cây/ô thí nghiệm theo quy tắc 2 đường chéo góc sau đó nhổ lên, rửa sạch và tính các chỉ tiêu sau:
- Chiều dài thân ngầm (cm/cây): đo chiều dài của tất cả thân ngầm
- Chiều dài của 1 thân ngầm (cm/thân ngầm): đo chiều dài trung bình của 1 thân ngầm
- Trọng lượng thân ngầm (g/cây): cân trọng lượng của tất cả thân ngầm
- Trọng lượng của 1 thân ngầm (g/thân ngầm): cân trọng lượng trung bình của 1 thân ngầm
- Số thân ngầm (thân/cây): đếm số thân ngầm trung bình thu được
3.4.4.4 Yếu tố cấu thành năng suất và hàm lượng tinh dầu
* Chỉ tiêu năng suất: thu toàn bộ thân, cành, lá, hoa của cây Dùng dao, kéo cắt ngang thân cây cách mặt đất khoảng 5 cm và cân trọng lượng trung bình cho từng nghiệm
thức
- Năng suất tươi lý thuyết (tấn/ha):
Trọng lượng tươi 1 cây (kg/cây) x Mật độ trồng (cây/ha).
1000
Trang 29- Năng suất tươi thực tế (tấn/ha):
Trọng lượng tươi của ô thí nghiệm (kg/ô) x 10000 (m2)
Diện tích ô thí nghiệm (m2) x 1000
- Năng suất khô lý thuyết (tấn/ha):
Trọng lượng khô 1 cây (kg/cây) x Mật độ trồng (cây/ha)
1000
- Năng suất khô thực tế (tấn/ha):
Trọng lượng khô của ô thí nghiệm (kg/ô) x 10000 (m2)
%, số lượng lấy cho mỗi lần ly trích từ 6- 8 g/cây
Thời gian lấy mẫu từ lúc 9 giờ sáng đến 15 giờ chiều Mẫu sau khi thu hoạch được phơi rải 2 – 3 giờ ở nhiệt độ phòng, thoáng mát, tránh ánh nắng sau đó đưa đi xay nhuyễn và chưng cất tinh dầu bằng phương pháp chưng cất hơi nước
- Năng suất tinh dầu lý thuyết (kg/ha): Hàm lượng tinh dầu (%) x Năng suất lý thuyết (kg/ha)
- Năng suất tinh dầu thực tế (kg/ha): Hàm lượng tinh dầu (%) x Năng suất thực tế (kg/ha)
3.4.4.5 Tình hình sâu bệnh
Quan sát ghi nhận các đối tượng sâu hại chính ở các ô thí nghiệm như: sâu xám, bọ nhảy, ong bạc hà, rệp…
Khi quan sát thấy có hơn 1 đối tượng sâu hại/cây thì tính là cây bị sâu hại
- Tỷ lệ sâu hại (%) = (Số cây bị sâu hại/Tổng số cây) * 100
Quan sát ghi nhận các đối tượng bệnh hại chính ở các ô thí nghiệm như: bệnh gỉ sắt, quăn lá, thán thư…
Trang 30Khi quan sát thấy có hơn 3 lá bị bệnh hại/cây thì tính là cây bị bệnh
- Tỷ lệ bệnh hại (%) = (Số cây bị bệnh hại/Tổng số cây) * 100
3.4.4.6 Sơ bộ tính toán hiệu quả kinh tế
Tổng chi phí/ha (VND/ha)
Tổng thu/ha (VND/ha) = Năng suất thực thu (kg/ha) x Giá bán 1 kg trọng lượng khô Lợi nhuận (VND/ha) = Tổng thu – Tổng chi phí
3.5 Xử lý số liệu và phân tích thống kê
Các số liệu được xử lý thống kê bằng phần mềm MSTATC (ANOVA2 và trắc nghiệm phân hạng LSD) và Microsoft EXCEL
Trang 31Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Ảnh hưởng của khoảng cách, mật độ trồng đến thời gian sinh trưởng và phát triển
Thời gian sinh trưởng và đặc tính nông học của cây bạc hà phụ thuộc vào đặc tính giống, phẩm chất thân ngầm và kỹ thuật chăm sóc đặc thù ở địa phương Xác định đúng thời gian sinh trưởng, phát triển của cây bạc hà giúp người dân và người kỹ thuật
bố trí cơ cấu cây trồng phù hợp với đất đai, khí hậu thời tiết từ đó giúp cây sinh trưởng, phát triển tốt, cho năng suất và lợi nhuận cao
Bảng 4.1: Ảnh hưởng của khoảng cách, mật độ trồng đến thời gian sinh trưởng
và phát triển (NST)
Nghiệm thức Ngày ra lá
thật (NST)
Ngày phân cành (NST)
Ngày ra hoa (NST)
Ngày thu hoạch lần 1 (NST)
Ngày thu hoạch toàn bộ (NST) NT1 (166.667 cây/ha)
- Giai đoạn ra lá: Sau khi trồng được 7 ngày thì hầu hết các nghiệm thức đều ra lá
thật, riêng nghiệm thức 2 (190.477 cây/ha) xuất hiện lá chậm hơn 1 ngày Ở giai đoạn này thì khoảng cách, mật độ trồng chưa ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây Giai đoạn này cây có sự thay đổi lớn, cây đã bắt đầu sử dụng dinh dưỡng từ đất Tuy nhiên ở giai đoạn này việc hút chất dinh dưỡng còn chậm do bộ rễ chưa hoàn chỉnh Vì vậy các biện pháp kỹ thuật như tưới nước, bón phân, phòng trừ sâu bệnh cần thực hiện cẩn
thận tránh làm tổn thương cây con
Trang 32- Giai đoạn phân cành: Thời gian các nghiệm thức phân cành cấp 1 đầu tiên dao
động trong khoảng 18 – 20 ngày sau trồng Do khoảng cách trồng thưa hơn các nghiệm thức khác nên nghiệm thức 1 (166.667 cây/ha) sinh trưởng nhanh hơn và phân cành sớm hơn 2 ngày so với nghiệm thức 5 (333.334 cây/ha) Đây là giai đoạn cây tăng trưởng mạnh nên cần lượng dinh dưỡng lớn, cần bón thúc vào giai đoạn này và phòng trừ các loại sâu ăn lá để tránh tổn thất Biện pháp vun gốc cần cho giai đoạn này
để tránh đổ ngã và kích thích các thân ngầm phát triển.
- Giai đoạn ra hoa: Nghiệm thức 1 (166.667 cây/ha) và 2 (190.477 cây/ha) ra hoa
chậm hơn 3 ngày so với các nghiệm thức còn lại do khoảng cách trồng thưa hơn nên kéo dài thời gian sinh trưởng hơn Cũng như vậy, nghiệm thức 5 (333.334 cây/ha) ra hoa sớm hơn do khoảng cách trồng dày làm thời gian sinh trưởng ngắn hơn các nghiệm thức khác
- Giai đoạn thu hoạch: Thời gian thu hoạch dao động từ 70 – 90 ngày sau trồng và
được chia làm 5 lần thu hoạch Dù thời gian sinh trưởng của các nghiệm thức có khác nhau nhưng thời gian cho thu hoạch của các nghiệm thức đều giống nhau
4.2 Chiều cao và tốc độ tăng trưởng
Bảng 4.2: Động thái tăng trưởng chiều cao (cm/cây)
Nghiệm thức Ngày sau trồng
20 27 34 41 48 55 62 69 NT1 (166.667 cây/ha)
10,9 14,2 17,1 26,2 32,6 42,5a 50,9a 52,7a NT2 (190.477 cây/ha)
10,1 11,6 15,0 23,7 28,2 35,0b 41,2bc 43,4bc NT3 (222.223 cây/ha) 12,7 14,0 16,9 23,7 30,0 35,8ab 46,2ab 48,4ab NT4 (266.667 cây/ha)
11,4 12,6 16,5 22,5 29,4 33,7b 43,5bc 46,5abc NT5 (333.334 cây/ha)
Trang 33Nhận xét:
Giai đoạn 20 NST: Sự biến động về chiều cao của các nghiệm thức từ 10,17 – 12,70
cm/cây Nghiệm thức 2 (190.477 cây/ha) có thời gian ra lá thật chậm hơn 1 ngày nên
có chiều cao thấp nhất 10,17 cm/cây Nghiệm thức 3 (222.223 cây/ha) có chiều cao cao nhất là 12,70 cm/cây Vào giai đoạn này thì khoảng cách, mật độ trồng chưa ảnh hưởng đến chiều cao cây Đây là giai đoạn mới chuyển sang sử dụng dinh dưỡng từ đất, bộ rễ chưa phát triển hoàn chỉnh, bộ phận trên mặt đất sinh trưởng chậm, bộ phận
dưới mặt đất mới bắt đầu phát triển
Giai đoạn 27 NST: Đây là giai đoạn bộ rễ phát triển khá nhanh, rễ ăn sâu, lan rộng,
khả năng ra rễ phụ rất mạnh Cần kết hợp vun xới, bón thúc, tưới nước để kích thích ra
rễ và tăng trưởng chiều cao Ở giai đoạn này thì nghiệm thức 2 (190.477 cây/ha) vẫn
có chiều cao thấp nhất (11,60 cm/cây), trong khi đó thì nghiệm thức 1 (166.667 cây/ha) có chiều cao cao nhất (14,20 cm/cây) do có khoảng cách, mật độ trồng thưa hơn nên thuận lợi cho sinh trưởng chiều cao so với nghiệm thức 3 (DC) (222.223 cây/ha) 14,02 cm/cây
Giai đoạn 34 NST: Chiều cao cây tăng khá nhanh, đã xuất hiện thân ngầm bò lên mặt
đất Chiều cao biến động trong khoảng 15,04 – 17,16 cm/cây Nghiệm thức 1 (166.667 cây/ha) có khoảng cách trồng thưa nên tạo điều kiện thuận lợi cho sinh trưởng và đạt chiều cao cao nhất 17,16 cm/cây
Giai đoạn 41 NST: Thân lá sinh trưởng nhanh để tăng cường khả năng quang hợp
Nghiệm thức 2 (190.477 cây/ha) và 3 (DC) (222.223 cây/ha) có chiều cao bằng nhau (23,74 cm/cây) Bởi vì mật độ trồng dày hơn dẫn tới cạnh tranh dinh dưỡng nên nghiệm thức 5 (333.334 cây/ha) có chiều cao thấp nhất 22,48 cm/cây.
Giai đoạn 48 NST: Chiều cao cây vẫn tăng mạnh, bộ rễ đã hoàn chỉnh nên cung cấp
dinh dưỡng tối đa giúp cho quá trình sinh trưởng dinh dưỡng tốt hơn Nghiệm thức 1 (166.667 cây/ha) có chiều cao cao nhất (32,64 cm/cây) và thấp nhất là nghiệm thức 5 (333.334 cây/ha) 26,79 cm/cây do có khoảng cách, mật độ trồng dày hơn nên ảnh hưởng đến sinh trưởng
Giai đoạn 55 NST: Chiều cao cây vẫn tăng nhanh và cây bắt đầu chuyển sang quá
trình sinh trưởng sinh thực Nghiệm thức 1 (166.667 cây/ha) có chiều cao cao nhất
Trang 34(42,56 cm/cây) và trội hơn hẳn so với nghiệm thức 2, 4 và 5 (35,02; 33,74; 31,93
cm/cây)
Giai đoạn 62 NST: Cây đã chính thức chuyển sang giai đoạn sinh trưởng sinh thực,
hoa đã xuất hiện trên các nghiệm thức Nghiệm thức 1 (166.667 cây/ha) 50,91 cm/cây
đặc biệt có chiều cao trội hơn so với nghiệm thức 5 (333.334 cây/ha) 37,71 cm/cây
Điều này hoàn toàn đúng vì nghiệm thức 5 (333.334 cây/ha) có khoảng cách trồng dày
hơn so với nghiệm thức 1 (166.667 cây/ha) Trong nghiên cứu của Đinh Hải An (2008)
về trồng bạc hà trong chậu thì ở 62 NST cây cho chiều cao tối đa 50,3 cm/cây, gần
tương đương trong nghiên cứu này (50,91 cm/cây).
Giai đoạn 69 NST: Là giai đoạn bắt đầu thu hoạch Tốc độ gia tăng chiều cao đã giảm
rất nhiều do sinh trưởng sinh thực đã ức chế quá trình sinh trưởng dinh dưỡng Nghiệm
thức 3 (222.223 cây/ha) 48,54 cm/cây có chiều cao đứng thứ 2 sau nghiệm thức 1
(166.667 cây/ha) 52,77 cm/cây
So với nghiên cứu của Sornkanok và ctv (2009) đối với bạc hà Mentha arvensis var
piperascens được trồng trong hệ thống thủy canh sử dụng kĩ thuật dòng chảy ngập
(deep flow technique - DFT) cho chiều cao 61,97 – 73,12 cm/cây (cao hơn so với
nghiên cứu này) và trồng trong đất cho chiều cao 33,50 – 40,45 cm/cây (thấp hơn so
với nghiên cứu này) Trong nghiên cứu của Topalop và ctv (Trần Thu dịch, 1966) cho
rằng chiều cao cây bạc hà biến động từ 54 – 61 cm/cây
Bảng 4.3 Tốc độ tăng trưởng chiều cao
Nghiệm thức Khoảng thời gian (NST)
20 - 27 27 – 34 34 - 41 41 - 48 48 - 55 55 - 62 62 -69 NT1 (166.667 cây/ha)
3,2 2,9 9,1 6,3 9,9 8,3 1,8 NT2 (190.477 cây/ha)
1,4 3,4 8,7 4,5 6,7 6,2 2,1 NT3 (222.223 cây/ha)
1,3 3,4 5,8 4,3 5,1 5,7 2,8 NT4 (266.667 cây/ha)
1,3 2,9 6,7 6,2 5,8 10,3 2,3 NT5 (333.334 cây/ha) 1,2 3,9 6,0 6,8 4,3 9,8 2,9
Ghi chú: NST : ngày sau trồng
Qua bảng 4.3 cho thấy tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của các nghiệm thức tăng
chậm từ khi trồng cho đến 27 NST, sau đó bắt đầu tăng nhanh cho tới giai đoạn 55 –
62 NST và nhanh nhất là ở 24 – 41 NST và 55 – 62 NST Khi so với các nghiệm thức
khác thì nghiệm thức 1 (166.667 cây/ha) đạt tốc độ tăng trưởng chiều cao nhanh nhất
Trang 35vào 3 giai đoạn 20 – 27 NST (3,28 cm/cây/7 ngày), giai đoạn 34 – 41 NST (9,12 cm/cây/7 ngày) và giai đoạn 48 – 55 NST (9,92 cm/cây/7 ngày) Nghiệm thức 4 (266.667 cây/ha) đạt mức tăng trưởng cao nhất vào giai đoạn 55 – 62 NST (10,35 cm/cây/7 ngày)
Nhìn chung do khoảng cách trồng thưa nên tốc độ tăng trưởng của nghiệm thức 1 (166.667 cây/ha) là cao nhất so với các nghiệm thức khác Biện pháp kỹ thuật cần tác động trong thời điểm này là: vun xới, giữ ẩm, bón thúc để tạo điều kiện cho cây phát triển tốt Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây giảm mạnh vào giai đoạn 62 – 69 NST do cây chuyển sang sinh trưởng sinh thực
4.3 Số lá và tốc độ ra lá
Bảng 4.4 Động thái ra lá (lá/cây)
Nghiệm thức Ngày sau trồng
20 27 34 41 48 55 62 69 NT1 (166.667 cây/ha)
9,6 12,3 16,0 19,6 24,0 28,8 31,0b 32,3bc NT2 (190.477 cây/ha)
8,4 11,3 14,1 18,4 23,4 29,7 35,6a 37,1ab NT3 (222.223 cây/ha) 9,1 12,6 15,3 19,6 24,1 28,5 32,8ab 34,4bc NT4 (266.667 cây/ha)
10,0 12,2 15,0 19,5 23,6 30,5 35,4a 39,6a NT5 (333.334 cây/ha)
- Giai đoạn 20 NST: Giai đoạn này thân lá sinh trưởng chậm và có lá nhỏ Số lá của
các nghiệm thức biến động từ 8,46 – 10,06 lá/cây Nghiệm thức 4 (266.667 cây/ha) có
số lá cao nhất (10,06 lá/cây) và nghiệm thức 2 (190.477 cây/ha) có số lá thấp nhất (8,46 lá/cây) so với nghiệm thức 3 (222.223 cây/ha) là 9,13 lá/cây Lê Thị Nhàn (2009) khảo sát bạc hà trồng thủy canh thì thấy rằng ở giai đoạn 20 NST thì số lá đạt 19,2 lá/cây, như vậy là cao hơn rất nhiều so với nghiên cứu này do trồng trong điều kiện được cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cần thiết
Trang 36- Giai đoạn 27 NST: Số lá bắt đầu tăng Đây cũng là giai đoạn chiều cao cây bắt đầu
tăng nhanh, hay nói cách khác là số lá tỉ lệ thuận với chiều cao cây Sự khác biệt không có ý nghĩa ở giai đoạn này, nghiệm thức 3 (222.223 cây/ha) có số lá cao nhất (12,66 lá/cây)
- Giai đoạn 34 NST: Khả năng ra lá của các nghiệm thức biến động từ 14,13 – 16,06
lá/cây, giữ vị trí cao nhất lúc này là nghiệm thức 1 (166.667 cây/ha) 16,06 lá/cây so với nghiệm thức 3 (222.223 cây/ha) 15,33 lá/cây Do nghiệm thức 1 (166.667 cây/ha)
có khoảng cách, mật độ trồng thưa hơn nên thuận lợi cho động thái ra lá
- Giai đoạn 41 NST: Giai đoạn này lá sinh trưởng mạnh, số lá tăng vượt trội so với
giai đoạn cây con Sự khác biệt giữa các nghiệm thức không có ý nghĩa trong thống kê,
cả 3 nghiệm thức 1, 3 và 5 đều có 19,6 lá/cây
- Giai đoạn 48 NST: Giữa các nghiệm thức thì sự khác biệt không có ý nghĩa trong
thống kê Số lá của các nghiệm thức biến động từ 23,4 – 24,86 lá/cây Nghiệm thức 3 (DC) (222.223 cây/ha) là 24,13 lá/cây
- Giai đoạn 55 NST: Giai đoạn này cây ra lá mạnh để chuẩn bị bước vào giai đoạn
sinh trưởng sinh thực Nghiệm thức 4 (266.667 cây/ha) 30,56 lá/cây có số lá trội hơn
so với các nghiệm thức còn lại Do mật độ trồng dày nên ảnh hưởng đến sinh trưởng vì
thế nghiệm thức 5 (333.334 cây/ha) có số lá thấp nhất (28,73 lá/cây)
- Giai đoạn 62 NST: Cây đã chuyển sang giai đoạn sinh trưởng sinh thực và ra hoa, số
lá vẫn tăng nhưng không nhiều so với giai đoạn 48 NST Giữa các nghiệm thức có sự khác biệt ý nghĩa trong thống kê Nghiệm thức 2 (190.477 cây/ha) và 4 (266.667 cây/ha) (35,66; 35,40 lá/cây) có số lá nhiều hơn hẳn nghiệm thức 1 (166.667 cây/ha)
và 5 (333.334 cây/ha) (31,00; 30,03 lá/cây)
- Giai đoạn 69 NST: Số lá tăng chậm do ức chế từ quá trình sinh trưởng sinh thực
Điều này thể hiện rõ qua nghiệm thức có số lá thấp nhất là nghiệm thức 5 (333.334 cây/ha) 31,12 lá/cây và nghiệm thức 4 (266.667 cây/ha) có số lá nhiều nhất (39,61 lá/cây) so với nghiệm thức 3 (DC) (222.223 cây/ha) 34,40 lá/cây So với nghiên cứu của Sornkanok và ctv (2009) thì số lá biến động trong khoảng 36,45 – 47,95 lá/cây và trong nghiên cứu của Nguyễn Trung Tính và Nguyễn Phương Vỹ (2008) thì số lá biến động trong khoảng 41 – 43 lá/cây Như vậy nghiên cứu của Sornkanok và ctv (2009)
Trang 37và nghiên cứu của Nguyễn Trung Tính và Nguyễn Phương Vỹ (2008) đều có số lá cao
hơn so với nghiên cứu này
Bảng 4.5 Tốc độ ra lá (lá/cây/7 ngày)
Nghiệm thức Khoảng thời gian (NST)
20 - 27 27 – 34 34 - 41 41 – 48 48 – 55 55 - 62 62 – 69 NT1 (166.667 cây/ha)
2,6 3,7 3,5 4,4 4,8 2,1 1,3 NT2 (190.477 cây/ha) 2,8 2,8 4,2 5,0 6,3 5,8 1,5 NT3 (222.223 cây/ha) 3,5 2,6 4,2 4,5 4,4 4,3 1,5 NT4 (266.667 cây/ha)
2,2 2,7 4,5 4,0 6,9 4,8 4,2 NT5 (333.334 cây/ha) 2,1 3,4 4,1 5,2 3,8 1,3 1,0
Ghi chú: NST : ngày sau trồng
Tốc độ ra lá phụ thuộc vào từng giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây Qua kết quả
cho thấy: tốc độ ra lá của các nghiệm thức tăng chậm lúc mới mọc và bắt đầu tăng
nhanh ở 34 - 41 NST và sau đó tăng rất nhanh và đạt mức tối đa ở 48 – 55 NST đối với
nghiệm thức 2 (190.477 cây/ha) và nghiệm thức 4 (266.667 cây/ha), riêng nghiệm thức
5 (333.334 cây/ha) đạt tốc độ cao nhất ở 41 – 48 NST (5,26 lá/cây/7 ngày) Ở giai
đoạn 62 – 69 NST tốc độ ra lá của nghiệm thức 4 (266.667 cây/ha) cao hơn các
nghiệm thức khác (4,21 lá/cây/7 ngày) Sau đó tốc độ ra lá của các nghiệm thức giảm
dần do các cành che phủ lẫn nhau làm ảnh hưởng đến khả năng ra lá, trong đó nghiệm
thức 5 (333.334 cây/ha) có tốc độ ra lá thấp nhất vào 2 giai đoạn 55 – 62 NST và 62 –
69 NST (1,3 cành/cây/7 ngày; 1,0 cành/cây/7 ngày) do khoảng cách trồng dày hơn các
nghiệm thức khác Từ tốc độ ra lá như bảng 4.5 trên ta có thể xác định được giai đoạn
mà cây cần bổ sung dinh dưỡng để giúp cây đạt số lá tối đa nhằm tăng khả năng quang
hợp, tăng năng suất thành phẩm
4.4 Số cành và tốc độ ra cành
Cành cấp 1 có vai trò rất quan trọng trong việc cho năng suất Khi biết được khả
năng phân cành và tốc độ phân cành của các nghiệm thức thì ta có thể áp dụng được
các biện pháp kỹ thuật và chăm sóc cho từng giai đoạn thích hợp và đúng lúc giúp cây
sinh trưởng phát triển tốt, cho năng suất cao
Trang 38Bảng 4.6 Động thái ra cành
Nghiệm thức Ngày sau trồng
25 32 39 46 53 60 67 NT1 (166.667 cây/ha) 2,0 5,1 11,3 15,2a 21,5 23,9ab 25,3ab NT2 (190.477 cây/ha) 1,8 5,5 10,7 16,0a 19,6 23,8ab 25,2ab NT3 (222.223 cây/ha) 2,0 4,7 8,9 13,9ab 19,1 20,5bc 21,8bc NT4 (266.667 cây/ha) 1,9 4,5 8,8 16,5a 20,1 25,5a 27,3a NT5 (333.334 cây/ha) 1,8 5,1 8,1 11,2b 15,4 18,1c 19,1c
- Ở thời điểm 46 NST: Số cành cấp 1 của nghiệm thức 4 (266.667 cây/ha) 16,5
cành/cây có sự khác biệt ý nghĩa so với nghiệm thức 5 (333.334 cây/ha) 11,2 cành/cây Điều này cho thấy rằng khoảng cách, mật độ trồng của nghiêm thức 4 (266.667 cây/ha) thuận lợi cho động thái ra cành Đinh Hải An (2008) trồng bạc hà trong chậu ở điều kiện nhà lưới thì quan sát thấy tại thời điểm 46 NST số cành cấp 1 là 23 cành/cây Như vậy là cao hơn so với thí nghiệm trồng ngoài đồng rất nhiều
- Ở thời điểm 60 NST: Số cành cấp 1 của nghiệm thức 4 (25,56 cành/cây) có sự khác
biệt ý nghĩa so với nghiệm thức 3 (222.223 cây/ha) 20,53 cành/cây và nghiệm thức 5 (333.334 cây/ha) 18,13 cành/cây Như vậy do khoảng cách, mật độ trồng ảnh hưởng đến động thái ra cành của nghiệm thức 5 (333.334 cây/ha)
- Ở thời điểm 67 NST: Nghiệm thức 4 (266.667 cây/ha) đạt số cành cao nhất (27,3
cành/cây), tiếp theo là nghiệm thức 1 (166.667 cây/ha) 25,33 cành/cây Nghiệm thức 5 (333.334 cây/ha) có số cành thấp nhất 19,1 cành/cây Điều này cũng phù hợp với nghiên cứu của Topalop và ctv (Trần Thu dịch, 1966) rằng số lượng cành trung bình
Trang 39nằm trong khoảng 24,6 – 25,6 cành/cây và nghiên cứu của Nguyễn Trung Tính và Nguyễn Phương Vỹ (2008) thì số cành biến động trong khoảng 24 - 28 cành/cây Bùi
Thị Hồng Gấm (2010) xây dựng quy trình nuôi cấy in vitro cho cây bạc hà quan sát
thấy cây bạc hà đạt 27,04 – 31,48 cành/cây, như vậy là cao hơn so với số cành trong nghiên cứu này
Bảng 4.7 Tốc độ ra cành (cành/cây/7 ngày)
Nghiệm thức Khoảng thời gian (NST)
25 - 32 32 - 39 39 - 46 46 - 53 53 - 60 60 – 67 NT1 (166.667 cây/ha)
3,1 6,2 3,8 6,3 2,4 1,4 NT2 (190.477 cây/ha) 3,6 5,2 5,2 3,6 4,2 1,3
NT3 (222.223 cây/ha)
2,6 4,2 5,0 5,2 1,4 1,2 NT4 (266.667 cây/ha)
2,5 4,3 7,6 3,6 5,4 1,7 NT5 (333.334 cây/ha) 3,3 3,0 3,0 4,2 2,7 0,9
Ghi chú: NST : ngày sau trồng
Nhìn chung thì nghiệm thức 4 (266.667 cây/ha) có tốc độ phân cành mạnh nhất đặc biệt là ở giai đoạn 39 – 46 NST (7,61 cành/cây/7 ngày) Như vậy khoảng cách, mật độ trồng của nghiệm thức 4 (266.667 cây/ha) phù hợp cho phân cành cấp 1
Ở 2 giai đoạn 53 – 60 NST và 60 – 67 NST thì tốc độ phân cành của các nghiệm thức đều giảm mạnh, riêng nghiệm thức 4 (266.667 cây/ha) vẫn ra cành cấp 1 nhiều hơn các nghiệm thức khác, cụ thể là 5,43 cành/cây/7 ngày (53 – 60 NST) và 1,74 cành/cây/7 ngày (60 – 67 NST)
Tốc độ phân cành của nghiệm thức 5 (333.334 cây/ha) không thay đổi nhiều trong tất
cả các giai đoạn, riêng giai đoạn 60 – 67 NST thì tốc độ ra cành giảm mạnh chỉ còn 0,97 cành/cây/7 ngày do các cành che phủ lẫn nhau làm cho tốc độ phân cành giảm
Trang 40Độ dài thân ngầm (cm/cây)
Trọng lượng thân ngầm (g/cây)
Độ dài của 1 thân ngầm (cm/thân ngầm)
Trọng lượng của
1 thân ngầm (g/thân ngầm) NT1 (166.667 cây/ha)
33,3 699,3a 91,5 21,1 2,7 NT2 (190.477 cây/ha) 25,6 551,8b 70,5 21,7 2,7 NT3 (222.223 cây/ha)
25,3 558,5b 69,6 22,1 2,7 NT4 (266.667 cây/ha)
33,6 641,7a 88,0 19,1 2,6 NT5 (333.334 cây/ha) 28,6 488,1b 73,0 17,4 2,5
- Số thân ngầm: Số thân ngầm của các nghiệm thức biến động trong khoảng 25,33 –
33,66 thân ngầm/cây, trong đó cao nhất là nghiệm thức 4 (266.667 cây/ha) 33,66 thân ngầm/cây so với nghiệm thức 3 (DC) (222.223 cây/ha) là 25,33 thân ngầm/cây Như vậy khoảng cách, mật độ trồng của nghiệm thức 4 (266.667 cây/ha) thuận lợi cho động thái ra rễ Trong nghiên cứu của Topalop và ctv (Trần Thu dịch, 1966) thì trung bình
có khoảng 31 thân ngầm/cây
- Độ dài thân ngầm: Qua trắc nghiệm phân hạng ta thấy được độ dài thân ngầm có sự
khác biệt ý nghĩa giữa các nghiệm thức Do mật độ trồng thưa hơn các nghiệm thức khác nên nghiệm thức 1 (166.667 cây/ha) có chiều dài thân ngầm vượt trội hơn hẳn (699,35 cm/cây) Ngược lại, nghiệm thức 5 (333.334 cây/ha) có chiều dài thân ngầm