1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐIỀU TRA BỆNH PHẤN TRẮNG HẠI HOA HỒNG VÀ HIỆU LỰC PHÒNG TRỪ BỆNH CỦA MỘT SỐ LOẠI THUỐC BVTV TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT

87 257 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐIỀU TRA BỆNH PHẤN TRẮNG HẠI HOA HỒNG VÀ HIỆU LỰC PHÒNG TRỪ BỆNH CỦA MỘT SỐ LOẠI THUỐC BVTV TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT Tác giả NGUYỄN VIỆT LINH Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐIỀU TRA BỆNH PHẤN TRẮNG HẠI HOA HỒNG VÀ HIỆU LỰC PHÒNG TRỪ BỆNH CỦA MỘT SỐ LOẠI

THUỐC BVTV TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT

NGÀNH : BẢO VỆ THỰC VẬT KHÓA : 2007 – 2011

SINH VIÊN THỰC HIỆN : NGUYỄN VIỆT LINH

Tp Hồ Chí Minh, tháng 08/2011

Trang 2

ĐIỀU TRA BỆNH PHẤN TRẮNG HẠI HOA HỒNG VÀ HIỆU LỰC PHÒNG TRỪ BỆNH CỦA MỘT SỐ LOẠI THUỐC BVTV

TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT

Tác giả NGUYỄN VIỆT LINH

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng kỹ sư ngành Bảo vệ Thực vật

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

TS Từ Thị Mỹ Thuận

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này được hoàn thành theo chương trình đào tạo kỹ sư chuyên ngành Bảo vệ Thực vật, hệ chính quy tại Trường Đại Học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh

Tôi xin chân thành cảm ơn:

- Cô Từ Thị Mỹ Thuận cùng toàn thể thầy cô trong Khoa Nông Học, Trường Đại Học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh đã tận tình truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học và giúp tôi hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp

- Các anh chị cán bộ tại Chi cục bảo vệ thực vật đã hết lòng chỉ dẫn và giúp

đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

- Tất cả các chủ hộ trồng hoa tại phường 5, 7 và 8 của thành phố Đà Lạt đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện tốt khóa luận tốt nghiệp của mình

- Gia đình và bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tháng 08 năm 2011 Sinh viên thực hiện

Nguyễn Việt Linh

Trang 4

TÓM TẮT

Nguyễn Việt Linh – sinh viên khoa Nông Học, trường Đại học Nông Lâm Tp

HCM, tháng 08 năm 2011 Đề tài: “Điều tra bệnh phấn trắng hại hoa hồng và hiệu

lực phòng trừ bệnh của một số loại thuốc BVTV tại thành phố Đà Lạt”

Giáo viên hướng dẫn: TS Từ Thị Mỹ Thuận – Bộ môn BVTV – trường đại học Nông Lâm Tp HCM

Đề tài được tiến hành tại ba phường: 5, 7 và 8 của thành phố Đà Lạt từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2011

Kết quả ghi nhận được sau thời gian tiến hành điều tra đã phần nào cho biết được hiện trạng canh tác và kinh nghiệm của người nông dân trong việc chăm sóc và phòng trừ bệnh phấn trắng trên hoa hồng tại Tp Đà Lạt, đồng thời cũng xác định được mức độ phổ biến của bệnh, sự biến động của bệnh ở các giống hoa và các mật độ trồng khác nhau Qua đó, tiến hành khảo nghiệm để đưa ra loại thuốc có khả năng phòng trừ bệnh tốt nhất

Theo điều tra, hầu hết các vườn trồng hoa tại Tp Đà Lạt có diện tích trồng hoa hồng vào khoảng 1.000 – 5.000 m2 (chiếm tỷ lệ 50,01%) với số tuổi của cây vào khoảng 3 – 7 năm (chiếm tỷ lệ 70%), các giống hiện nay đang được trồng nhiều nhất tại Tp Đà Lạt là: đỏ nhung, phấn hồng, hồng vàng và hồng trắng

Bệnh phấn trắng xuất hiện ở tất cả các điểm điều tra từ giai đoạn 7 ngày sau khi

ra lá thật Ở phường 5 và 7 mức độ phổ biến bệnh cao hơn so với phường 8 Ghi nhận

về sự biến động của bốn giống hoa hồng đối với bệnh phấn trắng thu được kết quả: giống hồng trắng là giống ít nhiễm bệnh nhất còn giống phấn hồng là giống mẫn cảm nhất với bệnh Thêm vào đó, mật độ trồng cũng tác động lớn đến mức độ phát triển của bệnh, vườn trồng với mật độ dày (200 ngàn cây/ha) có tỷ lệ bệnh và chỉ số bệnh

Trang 5

Bốn loại thuốc được thử nghiệm phòng trừ bệnh phấn trắng trên hoa hồng đều

có khả năng hạn chế bệnh Trong đó, thuốc Amistar Top 325SC cho hiệu quả kỹ thuật cao nhất ở tất cả các thời điểm theo dõi, sau 4 lần phun hiệu quả kỹ thuật của thuốc đạt 87,85% Các loại thuốc thử nghiệm không làm tăng tổng số hoa thương phẩm nhưng làm tăng chất lượng hoa Ở nghiệm thức phun Amistar Top 325SC, số hoa loại 1 cao nhất là 6,3 hoa; nghiệm thức phun Acti No Vate 1SP có số hoa loại 1 không khác biệt

so với nghiệm thức đối chứng

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

Trang tựa i

Lời cảm ơn ii

Tóm tắt iii

Mục lục v

Danh sách các bảng biểu viii

Danh sách các sơ đồ hình ảnh x

Danh sách các chữ viết tắt xii

Chương 1 Giới thiệu 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu 2

1.3 Giới hạn đề tài 3

Chương 2 Tổng quan tài liệu 4

2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa cảnh trên thế giới và Việt Nam 4

2.1.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa cảnh trên thế giới 4

2.1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa cảnh tại Việt Nam 5

2.1.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa cảnh tại thành phố Đà Lạt 6

2.2 Giới thiệu chung về cây hoa hồng 7

2.2.1 Phân loại thực vật học và nguồn gốc của hoa hồng 7

2.2.2 Một số giống hoa hồng được trồng phổ biến 7

2.2.3 Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh đối với cây hoa hồng 9

2.3 Giới thiệu về bệnh phấn trắng hại hoa hồng 13

2.3.1 Triệu chứng của bệnh phấn trắng trên hoa hồng 13

2.3.2 Tác nhân gây bệnh 15

2.3.3 Quy luật phát sinh, phát triển bệnh 15

Trang 7

2.3.4 Biện pháp phòng trừ 17

2.4 Một số nghiên cứu về bệnh phấn trắng trên hoa hồng 18

Chương 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 19

3.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm 19

3.2 Vật liệu thí nghiệm 19

3.3 Phương pháp nghiên cứu 19

3.3.1 Điều tra hiện trạng canh tác cây hoa hồng và kinh nghiệm phòng trừ bệnh phấn trắng hại hoa hồng của nông dân tại thành phố Đà Lạt 19

3.3.2 Điều tra tình hình bệnh phấn trắng trên hoa hồng 20

3.3.2.1 Điều tra mức độ phổ biến của bệnh phấn trắng trên hoa hồng 20

3.3.2.2 Điều tra sự biến động của bệnh phấn trắng trên hoa hồng 21

3.3.3 Thí nghiệm khảo sát hiệu lực của một số loại thuốc phòng trừ bệnh phấn trắng trên hoa hồng 22

3.4 Phương pháp xử lý số liệu 25

Chương 4 Kết quả và thảo luận 26

4.1 Điều tra hiện trạng canh tác cây hoa hồng và các biện pháp phòng trừ bệnh phấn trắng trên hoa hồng của nông dân tại thành phố Đà Lạt 26

4.2 Điều tra tình hình bệnh phấn trắng trên hoa hồng tại thành phố Đà Lạt 32

4.2.1 Điều tra mức độ phổ biến của bệnh phấn trắng trên hoa hồng tại thành phố Đà Lạt 32

4.2.2 Khả năng chống chịu của bốn giống hoa hồng đối với bệnh phấn trắng trên hoa hồng tại thành phố Đà Lạt 37

4.2.3 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến bệnh phấn trắng trên hoa hồng tại thành phố Đà Lạt 40

4.3 Thí nghiệm khảo sát hiệu lực của một số loại thuốc BVTV phòng trừ bệnh phấn trắng hại hoa hồng tại thành phố Đà Lạt 41

4.3.1 Ảnh hưởng của 4 loại thuốc thử nghiệm đến tỷ lệ lá bệnh và chỉ số lá bệnh phấn trắng trên hoa hồng 41

Trang 8

4.3.2 Hiệu quả kỹ thuật của 4 loại thuốc thử nghiệm đối với bệnh phấn trắng trên hoa

hồng tại thành phố Đà Lạt 46

4.3.3 Ảnh hưởng của 4 loại thuốc thử nghiệm đến sự sinh trưởng, phát triển của cây hoa hồng 47

4.3.4 Ảnh hưởng của 4 loại thuốc thử nghiệm đến số hoa hồng thương phẩm 47

Chương 5 Kết luận và đề nghị 50

Tài liệu tham khảo 52

Phụ lục 54

Trang 9

DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU

Trang

Bảng 2.1 Tình hình sản xuất hoa của một số nước trên thế giới năm 2004 4

Bảng 3.1 Bảng phân cấp bệnh phấn trắng hại hoa hồng trên lá 21

Bảng 3.2 Các công thức thí nghiệm 22

Bảng 3.3 Bảng đánh giá ảnh hưởng của thuốc đối với cây hoa hồng 24

Bảng 4.1 Sự phân bố diện tích vườn trồng hoa hồng tại thành phố Đà Lạt 27

Bảng 4.2 Phân bố tuổi của cây hoa hồng tại thành phố Đà Lạt (năm 2011) 27

Bảng 4.3 Khoảng cách và mật độ trồng hoa hồng 28

Bảng 4.4 Giống hoa hồng hiện đang trồng tại thành phố Đà Lạt 29

Bảng 4.5 Các biện pháp phòng trừ bệnh phấn trắng trên hoa hồng của người nông dân tại thành phố Đà Lạt 31

Bảng 4.6 Tỷ lệ vườn bị bệnh phấn trắng tại thành phố Đà Lạt (năm 2011) 33

Bảng 4.7 Tỷ lệ lá bị bệnh phấn trắng tại thành phố Đà Lạt 34

Bảng 4.8 Chỉ số lá bị bệnh phấn trắng tại thành phố Đà Lạt 36

Bảng 4.9 Khả năng chống chịu của 4 giống hoa hồng đối với tỷ lệ lá bị bệnh phấn trắng tại thành phố Đà Lạt 37

Bảng 4.10 Khả năng chống chịu của 4 giống hoa hồng đối với chỉ số lá bị bệnh phấn trắng tại thành phố Đà Lạt 39

Bảng 4.11 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến bệnh phấn trắng trên hoa hồng tại thành phố Đà Lạt 40

Bảng 4.12 Ảnh hưởng của 4 loại thuốc thử nghiệm đến tỷ lệ lá bị bệnh phấn trắng trên hoa hồng tại thành phố Đà Lạt 42

Bảng 4.13 Ảnh hưởng của 4 loại thuốc thử nghiệm đến chỉ số lá bị bệnh phấn trắng trên hoa hồng tại thành phố Đà Lạt 44

Bảng 4.14 Ảnh hưởng của các loại thuốc thử nghiệm đến số hoa hồng thương phẩm 48

Trang 10

DANH SÁCH CÁC SƠ ĐỒ HÌNH ẢNH

Trang

Hình 2.1 Triệu chứng bệnh phấn trắng trên lá 13

Hình 2.2 Triệu chứng bệnh phấn trắng trên cành, cổ bông và lá đài 13

Hình 2.3 Chu kỳ bệnh phấn trắng trên hoa hồng do nấm Sphaerotheca pannosa var rosae gây ra 16

Hình 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 23

Hình 3.2 Toàn cảnh khu thí nghiệm 23

Hình 4.1 Một số giống hoa hồng hiện đang trồng tại thành phố Đà Lạt 30

Hình 4.2 Lá (mặt trên) của bốn giống hoa hồng trồng phổ biến tại Tp Đà Lạt 38

Hình 4.3 Bệnh phấn trắng ở thời điểm trước phun và sau phun lần 4 của nghiệm thức đối chứng 45

Hình 4.4 Bệnh phấn trắng ở thời điểm trước phun và sau phun lần 4 của nghiệm thức phun thuốc Amistar Top 325SC 46

Hình 4.5 Số hoa thương phẩm của các nghiệm thức sau khi thu hoạch lần 1 49

Biểu đồ 4.1 Biểu đồ thể hiện hiệu quả kỹ thuật của bốn loại thuốc thử nghiệm đến bệnh phấn trắng trên hoa hồng 46

Trang 12

Chương 1 GIỚI THIỆU

1.1 Đặt vấn đề

Cuộc sống sẽ trở nên vô vị và tẻ nhạt nếu thiếu đi sắc màu rực rỡ của những bông hoa Hoa là sản phẩm tinh thần không thể thiếu cho con người, hoa mang lại cảm xúc sáng tạo, gắn kết con người lại với nhau Hoa tượng trưng cho cái đẹp, cho tâm hồn cao quý, tình yêu thiêng liêng, tiêu biểu cho hoà bình, tuổi trẻ, tình hữu nghị, niềm vui và sự tốt lành Mỗi loài hoa đều mang cho mình một ý nghĩa và phong cách riêng

Ngày nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế xã hội, đời sống văn hóa của con người ngày càng tăng cao, con người ngày càng quan tâm đến cái đẹp và lợi ích mà chúng mang lại cho cuộc sống Hoa hồng là một trong những loại hoa đáp ứng đủ những nhu cầu của con người, chúng được ưa chuộng nhất trên thế giới và được xem là "Hoàng hậu của các loài hoa"

Hoa hồng đại diện cho tình yêu, tình bạn và những tình cảm thiêng liêng cao quý nhất Vào các dịp lễ như: ngày nhà giáo Việt Nam 20 – 11, ngày 8 – 3, ngày 20 –

10, valentine,… không thể thiếu những sắc màu rực rỡ của đóa hoa hồng bởi những ý nghĩa sâu sắc mà chúng mang lại là một thông điệp đầy tình cảm của người tặng hoa dành cho người được nhận

Không chỉ mang ý nghĩa về tinh thần, hoa hồng còn đóng vai trò quan trọng trong đời sống hàng ngày của con người Y học hiện đại ngày nay đã phát hiện thêm

vô số tác dụng kỳ diệu của loại hoa tượng trưng cho tình yêu này Cánh của hoa hồng

có chứa vitamin C, carotene, các loại vitamin nhóm B và vitamin K, là những chất cần thiết để điều trị bệnh ho ra máu, hạn chế mưng mủ vết thương, vết bỏng và làm dịu

Trang 13

những vết ngứa do dị ứng gây ra Ngoài ra, tinh dầu của hoa hồng là thành phần cơ bản của các loại dược phẩm tự nhiên và các loại mỹ phẩm dành cho phái nữ

Hoa hồng còn được dùng làm mứt và trà Trà hoa hồng có khả năng chống cảm lạnh, viêm họng, viêm phế quản…Đặc biệt trong thời tiết lạnh, mứt hoa hồng và trà hoa hồng là một sự kết hợp tuyệt vời

Trong các loài hoa được trồng và tiêu thụ chính tại thành phố Đà Lạt thì hoa hồng là loài hoa vừa thể hiện nét đặc trưng cho thành phố vừa mang lại giá trị kinh tế cao Hoa hồng được trồng nhiều ở phường 5, phường 7, phường 8 và một số huyện lân cận như Lạc Dương, Đơn Dương…

Với điều kiện khí hậu thuận lợi cho việc trồng hoa hồng thì Đà Lạt cũng là nơi thuận lợi cho sự phát sinh, phát triển của sâu bệnh hại hoa hồng Hiện nay trên hoa hồng có khoảng 20 loại bệnh gây hại như bệnh phấn trắng, bệnh đốm đen, bệnh rỉ

sắt… Trong vài năm gần đây, bệnh phấn trắng do nấm Sphaerotheca pannosa var rosae gây ra đang là vấn đề quan ngại của nhiều hộ nông dân trồng hoa tại Đà Lạt

Bệnh phấn trắng gây hại nghiêm trọng, làm giảm hiệu suất quang hợp, giảm sức sống cây, làm cho lá bị rụng sớm, nụ hoa biến hình không thể nở được, ảnh hưởng đến giá trị thẩm mỹ và làm giảm sản lượng

Trên thế giới đã có nhiều kết quả nghiên cứu về bệnh hại hoa hồng nhưng ở Việt Nam các nghiên cứu về bệnh hại hoa hồng nhất là bệnh phấn trắng vẫn còn hạn chế Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của thực tiễn sản xuất trong việc phòng trừ bệnh

phấn trắng hại hoa hồng, đề tài: “Điều tra bệnh phấn trắng hại hoa hồng và hiệu lực phòng trừ bệnh của một số loại thuốc BVTV tại thành phố Đà Lạt” đã được tiến

Trang 14

1.2.2 Yêu cầu của đề tài

- Điều tra mức độ phổ biến và biến động của bệnh phấn trắng trên hoa hồng tại thành phố Đà Lạt

- Khảo sát hiệu lực phòng trừ bệnh phấn trắng của một số loại thuốc ngoài đồng ruộng

Trang 15

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa cảnh trên thế giới và Việt Nam

2.1.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa cảnh trên thế giới

Bảng 2.1 Tình hình sản xuất hoa của một số nước trên thế giới năm 2004

Nước Diện tích

(1000 ha)

Tổng giá trị sản phẩm (triệu EUR)

Giá trị sản phẩm/ha (1000 ERU)

Ngày nay sản xuất hoa cây cảnh trên thế giới đang phát triển một cách mạnh mẽ

và đã trở thành một ngành thương mại mang lại giá trị kinh tế cao cho nhiều quốc gia

Trang 16

Trong đó có Châu Á, sản xuất hoa cây cảnh ở những nước này đang phát triển mạnh

và cạnh tranh quyết liệt để chiếm lĩnh thị trường thế giới

Diện tích hoa cây cảnh của thế giới ngày càng được mở rộng Năm 1995 sản lượng hoa cây cảnh thế giới đạt khoảng 31 tỷ đô la, trong đó hoa hồng chiếm tới 25 tỷ

đô la Ba nước sản xuất hoa cây cảnh lớn chiếm khoảng 50% sản lượng hoa của thế giới đó là Nhật, Hà Lan, Mỹ (Nguyễn Xuân Linh và Nguyễn Thị Kim Lý, 2005)

Giá trị nhập khẩu hoa cây cảnh của thế giới tăng lên hàng năm Tính đến năm

1996 là 7,5 tỷ đô la Trong đó thị trường hoa cây cảnh của Hà Lan chiếm gần 50%, sau

đó đến các nước Colombia, Ý, Đan Mạch, Mỹ, Bỉ, Isarel… Mỗi nước xuất trên 100 triệu đô la, tỷ lệ tăng hàng năm là 10% (Nguyễn Xuân Linh và Nguyễn Thị Kim Lý, 2005)

2.1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa cảnh tại Việt Nam

Ở Việt Nam, diện tích trồng hoa còn nhỏ, chiếm khoảng 0,02% diện tích đất đai Diện tích trồng hoa cây cảnh tập trung chủ yếu ở một số vùng như vùng đồng bằng sông Hồng: Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Hưng Yên; vùng cao nguyên Lâm Đồng: Đà Lạt; vùng Đông Nam Bộ: TP Hồ Chí Minh; vùng đồng bằng sông Cửu Long: Bến Tre, Đồng Tháp…Với tổng diện tích trồng hoa khoảng 3500 ha Trong đó chủ yếu là các loại hoa như hoa hồng (chiếm tỷ lệ cao nhất 35%), hoa cúc (30%), hoa lay ơn (15%) và một số loại hoa khác (20%) (Nguyễn Xuân Linh và Nguyễn Thị Kim

Lý, 2005)

Phong trào trồng hoa ở Việt Nam trong những năm gần đây đã được chú ý phát triển, thêm vào đó là điều kiện khí hậu và đất đai đa dạng đã tạo điều kiện để trồng nhiều loại hoa, trong đó phát triển hệ thống trồng hoa thâm canh đã được nhà nước quan tâm và hỗ trợ Theo Viện Nghiên cứu Rau – Quả thì hiện nay lợi nhuận thu được

từ 1 ha trồng hoa cao hơn 10 – 15 lần so với trồng lúa và 7 – 8 lần so với trồng rau Gần 90% các loài hoa được trồng nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ ở trong nước, tuy nhiên thị trường xuất khẩu cũng đang tăng nhanh với 1 số loại hoa đặc thù của Việt

Trang 17

mùa đông (hồng, cúc ) Theo số liệu của Tổng cục thống kê, năm 2003 cả nước có

9430 ha hoa và cây cảnh các loại với giá trị sản lượng 482,6 tỷ đồng (trích dẫn bởi Đào Thanh Vân và Đặng Tố Nga, 2007)

2.1.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa cảnh tại thành phố Đà Lạt

Được mệnh danh là thủ phủ hoa, cây cảnh của cả nước, Đà Lạt – Lâm Đồng là vùng sản xuất hoa lớn nhất Việt Nam với sản lượng hoa cắt cành hàng năm gần 800

triệu cành, trong đó xuất khẩu khoảng 35 – 40 triệu cành

Tổng diện tích canh tác hoa của toàn tỉnh Lâm Đồng tính đến cuối năm 2007 đạt 1.250 ha Trong đó thành phố Đà Lạt chiếm gần 40% diện tích và 50% sản lượng hoa của cả tỉnh Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có diện tích canh tác khoảng 150 ha, chiếm 12% diện tích và khoảng 18% sản lượng, chủ yếu là hoa chất lượng cao Số diện tích còn lại tập trung chủ yếu vào các nông hộ, các công ty trách

nhiệm hữu hạn và các trang trại trong nước

Sản phẩm hoa cắt cành của Đà Lạt được tiêu thụ chủ yếu ở các thị trường nội địa như Nha Trang, Đà Nẵng, các tỉnh miền đông nam bộ, Tp Hồ Chí Minh, Hà Nội…

Trong đó, thị trường tiêu thụ số lượng hoa lớn nhất là Tp Hồ Chí Minh

Ngoài ra, đã có một số hộ tư nhân, hợp tác xã và các doanh nghiệp tư nhân, các công ty TNHH cũng bước đầu tìm kiếm thị trường xuất khẩu chủ yếu ở một số nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Mỹ, Thái Lan, Hà Lan, Sigapore, Đài Loan, Campuchia… Đối tượng tham gia xuất khẩu hoa chủ yếu là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các công ty TNHH trong nước có khả năng khai thác thị trường tốt như Đà Lạt Hasfarm, Bonie Farm, Việt Nam Thành Công,… Song sản lượng hoa xuất khẩu còn rất khiêm tốn so với tiềm năng của toàn thành phố, hàng năm chỉ mới xuất

khẩu 5 – 8% sản lượng hoa của tỉnh

Về doanh thu, nhiều doanh nghiệp trồng hoa cao cấp theo hướng công nghệ cao

đã đạt doanh thu khoảng 2 – 2,5 tỷ đồng/năm Giá trị xuất khẩu sản phẩm hoa cắt cành

Trang 18

năm 2005 đạt 7,51 triệu USD, năm 2006 là 7,95 triệu USD và trong 6 tháng đầu năm

2007 đạt khoảng 4,5 triệu USD

(Nguồn: http://www.dalat.gov.vn/rauhoadl/DesktopDefault.aspx?tabid=41)

2.2 Giới thiệu chung về cây hoa hồng

2.2.1 Phân loại thực vật học và nguồn gốc của hoa hồng

Hồng (Rosa sp.) hay hường là tên gọi chung cho các loài thực vật có hoa, dạng cây bụi hoặc cây leo lâu năm thuộc chi Rosa, họ Rosaceae, bộ Rosales với hơn 100

loài có màu sắc đa dạng và phong phú

Hoa hồng được phân bố từ miền ôn đới đến nhiệt đới, đa phần có nguồn gốc bản địa châu Á, số ít còn lại có nguồn gốc bản địa châu Âu, Bắc Mỹ và Tây Bắc Phi Các loài bản địa, giống cây trồng và cây lai ghép đều được trồng làm cảnh và lấy hương thơm (nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/Hoa_h%E1%BB%93ng)

2.2.2 Một số giống hoa hồng được trồng phổ biến

Theo Đào Thanh Vân và Đặng Tố Nga (2007), trên thế giới hiện có hơn 20.000 giống hoa hồng, giá trị thương phẩm của các giống hoa hồng chủ yếu là màu sắc hoa

Do đó, căn cứ vào màu sắc của hoa để đặt tên cho giống, dưới đây là một số giống được trồng phổ biến ở Việt Nam

2.2.2.1 Giống đỏ nhung

Đây là giống có nguồn gốc nhập nội từ Pháp năm 1991, là giống có khả năng thích nghi với điều kiện khí hậu miền Bắc nước ta và được trồng rộng rãi với khoảng 80% diện tích các vùng trồng hồng trong nước Tuỳ theo hình thức nhân giống, khả năng chăm sóc mà cây có thể cao từ 1 – 1,1 m, đường kính thân cây to, mức độ phân cành theo hướng ngang, bộ tán tương đối rộng và dày Thân thẳng màu xanh, mỗi đốt

có khoảng 2 – 3 gai lớn, hơi cong và còn nhiều gai nhỏ phân bố xung quanh thân và tập chung nhiều ở cuống hoa Lá dạng thuôn tròn màu xanh đậm, răng cưa thưa và

Trang 19

nông Hoa có màu đỏ nhung, dạng hoa kép xếp nhiều vòng, đường kính hoa từ 6,5 – 7,5 cm Chiều dài cành mang hoa từ 25 – 27 cm Hoa ít, thường ra từng bông, ít khi thấy ra từng chùm Hiện nay, giống hồng này đang chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ, giá bán cao nhất, là giống chủ lực của người trồng hoa

2.2.2.2 Giống phấn hồng

Giống phấn hồng được nhập từ Trung Quốc năm 1998 Cây cao khoảng 1,2 – 1,4 m; có bộ tán hẹp và thưa, đường kính thân cây bé, khả năng phân cành kém theo hướng ngọn và rất ít cành tăm Cành thường phát triển mạnh về chiều cao và đều cho hoa, chiều dài cành mang hoa từ 28 – 30 cm Lá thuôn dài màu xanh đậm, răng cưa thưa và nông Hoa kép, có màu hồng phấn, đường kính hoa từ 6 – 7 cm

2.2.2.3 Giống trắng sứ

Giống trắng sứ được nhập từ Mỹ và có khả năng thích nghi rộng Cây cao 55 –

56 cm; phân cành rất mạnh Chiều dài cành mang hoa từ 21 – 23 cm Hoa có màu trắng vàng nhạt, đường kính hoa khoảng 6 – 6,5 cm; hoa kép và nhiều cánh xếp sít

nhau

2.2.2.4 Giống cá vàng

Cây cao từ 55 – 60 cm; đường kính cây nhỏ, khả năng phát triển mạnh Cây có

bộ tán rộng và dày Hoa có màu vàng hồng, đường kính hoa từ 6 – 6,5 cm; hoa kép, nhiều cánh xếp sít chặt vào nhau Chiều dài cành mang hoa từ 21 – 23 cm

2.2.2.5 Giống hồng vàng

Thân thẳng có màu xanh nhạt, cuống lá, gân lá, mép lá có màu hơi tím Cành nhánh phát sinh nhiều nụ hoa, hoa có màu vàng nhạt, đường kính hoa từ 5,5 – 6 cm, số cánh rất nhiều và xếp sít chặt vào nhau

Ngoài ra còn một số giống hồng khác như: giống hồng quế, giống hồng sen, giống hồng nhài, giống trắng xanh…được trồng rải rác ở một số nơi Gần đây, một số

Trang 20

vùng trồng hoa ở nước ta đã nhập nội và trồng thử nhiều giống hồng từ các nước khác trên thế giới, nhìn chung các giống hồng châu Âu cây cao, hoa to, cành lá xum xuê và

có nhiều màu sắc (trắng, đỏ, vàng, hồng…) Nhưng các giống này sau một vài vụ thấy

có hiện tượng bị thoái hoá nhanh, cành nhỏ, hoa bé và dễ bị sâu bệnh Các giống từ châu Á tỏ ra thích nghi với điều kiện khí hậu Việt Nam hơn Các giống có cây to, hoa đẹp, lâu tàn chủ yếu là các giống có hoa màu đỏ và hồng (Đào Thanh Vân và Đặng Tố Nga, 2007)

2.2.3 Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh đối với cây hoa hồng

2.2.3.1 Nhiệt độ

Hoa hồng là cây ưa khí hậu ôn hòa, nhiệt độ thích hợp cho hồng sinh trưởng và phát triển tốt là từ 18 – 250C Nhiệt độ trên 350C và dưới 80C đều làm ảnh hưởng đến cây Vào giai đoạn ra hoa, nhiệt độ quá cao và kéo dài làm ảnh hưởng đến độ bền của hoa và rút ngắn tuổi thọ của hoa Nhưng nếu nhiệt độ quá thấp, cành nhành phát triển yếu, hoa lá giòn, cây thấp, nụ hoa dễ bị điếc hay nở muộn và không đều do cây không tận dụng được thức ăn trong đất và trong không khí Ngoài ra, nhiệt độ trong đất có tác động mạnh đến sinh trưởng và phát triển của cây, đặc biệt là bộ phận rễ cây, ảnh hưởng đến quá trình hút nước và dinh dưỡng của cây (Nguyễn Xuân Linh và Nguyễn Thị Kim Lý, 2005)

Chênh lệch nhiệt độ ngày và đêm: ngày trời quang nhiệt độ ban ngày cao hơn ban đêm 5 – 80C có lợi cho sự tạo thành và sự dự trữ dinh dưỡng Khi nhiệt độ tới

300C thì quang hợp ngừng Những ngày nhiều mây ánh sáng yếu, nhiệt độ thấp, quang hợp giảm nhưng hô hấp thì thực hiện cả ngày và đêm và khi nhiệt độ tăng hô hấp cũng tăng vì vậy trồng hoa hồng phải chú ý đến điều tiết nhiệt độ nếu không chất lượng hoa

sẽ giảm (Đào Thanh Vân và Đặng Tố Nga, 2007)

Tangeras (1979) nghiên cứu cho kết quả: nhiệt độ ban ngày thấp, ban đêm cao

sẽ khống chế được độ dài cành đó là điều rất bất lợi cho hoa hồng, vì độ dài cành là một trong những tiêu chuẩn quan trọng đến chất lượng hoa Vì vậy phải có sự chênh

Trang 21

của sự chênh lệch nhiệt độ ngày đêm (trích dẫn bởi Đào Thanh Vân và Đặng Tố Nga, 2007)

2.2.3.2 Ẩm độ

Cây hoa hồng yêu cầu ẩm độ đất khoảng 60 – 70% và độ ẩm không khí 80 – 85%

vì hoa hồng là loại cây có tán rộng, bộ lá nhiều nên diện tích phát tán hơi nước của cây rất lớn (Đào Thanh Vân và Đặng Tố Nga, 2007)

Với lượng mưa trung bình hàng năm ở nước ta khoảng 1500 – 2000 mm, mùa hè nhiệt độ cao, mưa nhiều nên làm phát sinh rất nhiều bệnh trên hoa hồng Do đó, việc tạo ẩm cho cây chỉ nên tiến hành vào ban ngày, tránh vào ban đêm vì sẽ làm cho cây

hô hấp và tiêu hao các chất dự trữ trong cây Mặt khác những giọt nước đọng trên mặt

lá sẽ khiến nhiều loại bệnh phát sinh, vì vậy vào mùa đông nên tránh tưới nước cho cây vào lúc chiều muộn

Thời gian hồng ra hoa và kết quả, nếu ẩm độ không khí quá cao sẽ làm cho cây, hoa, quả và hạt chứa nhiều nước, khiến rễ dễ bị thối (Nguyễn Xuân Linh và Nguyễn Thị Kim Lý, 2005)

Nếu khống chế độ ẩm thích hợp thì độ dài cành tăng thêm trung bình là 8,2% (Đào Thanh Vân và Đặng Tố Nga, 2007)

2.2.3.3 Ánh sáng

Hoa hồng là loại cây ưa sáng, vì thế ánh sáng đầy đủ giúp cây sinh trưởng tốt Nếu thiếu ánh sáng, cây sẽ bị tiêu hao khá nhiều chất dinh dưỡng dự trữ Khi cây còn nhỏ, yêu cầu về cường độ ánh sáng thấp hơn khi tuổi cây tăng lên, vì thời gian đầu cây

sử dụng chất dinh dưỡng dự trữ, sau khi tiêu hao hết cây chuyển sang giai đoạn tự dinh dưỡng nên cần nhiều ánh sáng hơn (Nguyễn Xuân Linh và Nguyễn Thị Kim Lý, 2005)

Ánh sáng là nhân tố quan trọng nhất đối với sự sinh trưởng và ra hoa của hoa hồng Ánh sáng chẳng những có tác động trực tiếp với cây mà còn làm thay đổi một

Trang 22

loạt các nhân tố ngoại cảnh khác như làm tăng nhiệt độ, tăng sự tiêu hao nước Sự phân hóa hoa, sự phát dục của hoa, thời gian giãn cách giữa 2 lần cắt hoa, độ lớn của cành hoa, trọng lượng và chiều dài cành, diện tích lá, màu sắc của cánh hoa đều chịu ảnh hưởng của ánh sáng (Đào Thanh Vân và Đặng Tố Nga, 2007)

Cường độ chiếu sáng ảnh hưởng rất rõ đến sản lượng hoa hồng Che bớt ánh sáng sẽ làm tăng sự bất dục của mầm hoa Trước khi hoa phát dục (sau khi ngắt bỏ đỉnh sinh trưởng từ 10 – 20 ngày), sự phát dục của hoa có tương quan rất chặt đến cường độ chiếu sáng, nhưng cũng có khi liên quan tới thời gian chiếu sáng Trong nhà kính ở các vị trí khác nhau, các hướng khác nhau, số lượng hoa cũng khác nhau, phần giáp rãnh và đường đi lượng hoa nhiều hơn ở giữa, hướng phía Nam nhiều hơn hướng phía Bắc Các tài liệu nghiên cứu cho thấy ở Bắc bán cầu trong cùng một nhà kính số lượng hoa sẽ giảm dần theo trình tự sau Nam, Đông, Tây, Bắc và ở giữa (Đào Thanh Vân và Đặng Tố Nga, 2007)

Ngoài ra cường độ chiếu sáng còn ảnh hưởng tới sự phát sinh cành Những hàng cây càng gần hướng Nam so với hàng gần hướng Bắc, số cành càng nhiều hơn Dùng cách che ánh sáng ở phần phát sinh cành hoàn toàn có thể ức chế sự ra cành, dùng cách chiếu sáng bổ sung sẽ làm tăng số lượng cành

Chu kỳ chiếu sáng không ảnh hưởng đến sự phân hoá hoa, nhưng thời gian chiếu sáng dài sẽ kích thích sự sinh trưởng và ra hoa, giảm bớt cành mù và hoa dị hình, rút ngắn thời gian trong một chu kỳ ra hoa (Đào Thanh Vân và Đặng Tố Nga, 2007)

2.2.3.4 Dinh dưỡng

Cũng như những cây trồng khác, việc cung cấp dinh dưỡng cho hoa hồng là một biện pháp có hiệu quả trong việc nâng cao năng suất và chất lượng hoa Những chất dinh dưỡng mà cây cần bao gồm phân hóa học: N, P, K; phân hữu cơ: phân chuồng, phân xanh…; ngoài ra còn một lượng nhỏ phân vi lượng

* Đạm

Trang 23

Đạm là thành phần quan trọng, thúc đẩy quá trình phân chia tế bào, làm tế bào phát triển nhanh về số lượng và trọng lượng, vì thế nó là yếu tố quyết định sự sinh trưởng của cây Ngoài ra, đạm còn có liên quan kích thước và màu sắc của hoa

Hoa hồng cần nhiều đạm vào thời kỳ phát sinh cành nhánh cho đến lúc phân hóa mầm hoa Bón thiếu hay thừa đạm đều làm ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây Thiếu đạm làm cho nụ hoa bị “thui”, không ra hoa được hoặc trổ hoa thì cánh cong queo, nhỏ, lá vàng, ít chồi non Nhưng bón nhiều đạm cũng làm cho cành lá xum xuê, ít hoa, ngọn vượt cao, mảnh, cây yếu ớt, dễ đổ, khả năng chống chịu sâu bệnh kém Đạm chủ yếu được dùng để bón thúc cho cây (Nguyễn Xuân Linh và Nguyễn Thị Kim Lý, 2005)

* Lân

Lân có tác dụng thúc đẩy sinh trưởng của rễ, hoa, quả, hạt Lân cần cho sự tích lũy protein trong cây Đủ lân cây con khỏe mạnh, tỷ lệ sống cao, cây cứng, chóng ra hoa, hoa lâu tàn, rễ to mập Thiếu lân cây hút nước khó khăn, lá cây chuyển sang màu tím hay màu huyết dụ gây rụng lá, rễ yếu, ra hoa muộn, màu sắc hoa nhợt nhạt, quả lép

và chín không đều Thừa lân làm cho bộ lá xanh đậm, dày đặc

Hoa hồng cần lân vào thời kỳ làm nụ cho đến khi ra hoa, kết quả Lân thường được dùng để bón lót (Nguyễn Xuân Linh và Nguyễn Thị Kim Lý, 2005)

* Kali

Kali là nguyên tố cây hoa hồng hút nhiều nhất, gấp 1,8 lần đạm Nếu thiếu kali sinh hưởng kém, thiếu quá nhiều sẽ ảnh hưởng tới việc hút canxi và magiê từ đó ảnh hưởng đến độ cứng của thân cành và chất lượng hoa Hoa hồng yêu cầu lượng kali trao đổi trong đất như sau cứ 100 g đất cần khoảng 20 – 30 mg kali (Đào Thanh Vân và Đặng Tố Nga, 2007)

Kali không phải là yếu tố tham gia cấu tạo nên chất hữu cơ, nó thường ở dạng ion giúp cho quá trình đồng hóa Bộ phận non và những bộ phận hấp phụ như mầm, chóp rễ…cần nhiều kali Kali có tác dụng làm tăng tính chống đổ, tăng khả năng

Trang 24

chống chịu sâu bệnh và tăng tính chống rét cho cây Cây cần kali vào thời kỳ kết nụ cho đến khi cây ra hoa Kali dùng để bón thúc cho cây (Nguyễn Xuân Linh và Nguyễn Thị Kim Lý, 2005)

Ngoài ra để tăng năng suất và chất lượng của hoa, cũng cần chú ý bón thêm phân vi lượng như Fe, Zn, Mg,…; phân hữu cơ như phân chuồng, phân xanh,… (Nguyễn Xuân Linh và Nguyễn Thị Kim Lý, 2005)

2.3 Giới thiệu về bệnh phấn trắng hại hoa hồng

2.3.1 Triệu chứng của bệnh phấn trắng trên hoa hồng

Bệnh phấn trắng trên hoa hồng bắt đầu phát sinh từ các lá ở giữa và ở phía trên,

ở mô và đọt non Đối với những giống hoa hồng mẫn cảm với bệnh thì chồi, cành non, gai, đài hoa, quả, thậm chí cả hoa cũng có thể bị tấn công và phủ những lớp nấm dày đặc (Pataky, 1988)

Thời kỳ đầu trên lá xuất hiện đốm vàng, sau đó loang rộng dần và xuất hiện những điểm phấn trắng dạng sương rồi sinh ra một lớp phấn trắng Khi bệnh nặng thì toàn bộ lá bị cuộn dầy lên, những lá này thường chuyển sang màu đỏ tím, cùng với sự phát triển của nấm, sau đó chuyển sang màu vàng khô và rụng Cuống lá và đọt non bị nhiễm bệnh thì phồng to lên, mặt dưới lá cong lại, lá non không mở ra được, lá giá có những đốm phấn trắng hình tròn hoặc không định hình

Trang 25

Hình 2.1 Triệu chứng bệnh phấn trắng trên lá

Nụ hoa bị nhiễm bệnh thì trên mặt phủ một tầng phấn trắng, bên trong có lớp nấm dày đặc Bệnh làm cho hoa biến hình, không nở được, cánh hoa biến màu mềm rũ xuống và cuống hoa bị rụng Thường cánh hoa ít bị nhiễm bệnh hơn so với các bộ phận khác Bệnh có thể làm cho chồi non và nụ hoa biến đổi và chết, nhưng hiếm khi làm chết toàn cây Cây bị bệnh còi cọc, sinh trưởng yếu, phát lộc kém (Đặng Văn Đông và Đinh Thị Dinh, 2003)

Hình 2.2 Triệu chứng bệnh phấn trắng trên cành, cổ bông và lá đài

2.3.2 Tác nhân gây bệnh

Bệnh phấn trắng trên hoa hồng do nấm Sphaerotheca pannosa var rosae, thuộc

lớp nấm túi (Ascomycetes), bộ phấn trắng (Erysiphales) (Đặng Văn Đông và Đinh Thị Dinh, 2003)

Nấm ngoại ký sinh, sợi nấm phát triển trên bề mặt vết bệnh tạo thành một lớp nấm trắng phủ kín mô bệnh Vào mùa xuân, những chồi non bị tấn công bởi sợi nấm,

Trang 26

bào tử phân sinh (sinh sản vô tính) và bào tử túi (sinh sản hữu tính), đây là cơ quan phát tán quan trọng của nấm (Goldberg, 2006)

2.3.3 Quy luật phát sinh, phát triển bệnh

Watkins (1990) cho rằng tuổi của mô cây ký chủ tại thời điểm xâm nhiễm, tính mẫm cảm của giống, tỷ lệ phát triển của cây, chủng của nấm phấn trắng, môi trường

và điều kiện chăm sóc là yếu tố quyết định mức độ gây hại của bệnh

Những lá non dễ bị nấm bệnh tấn công còn những lá trưởng thành thường ít thấy biểu hiện triệu chứng bệnh hoặc nếu có cũng chỉ xuất hiện vài đốm nhỏ trên lá (Watkins, 1990)

Nấm qua đông dưới dạng sợi nấm và quả thể trên các lá bệnh rơi rụng xuống đất Bình thường nấm ngủ nghỉ ở dạng sợi nấm trong mầm ngủ của cây Tại đây, chúng sản sinh số lượng bào tử lớn và khi có điều kiện ngoại cảnh thích hợp sẽ phát tán nhờ gió đến những cây hoa hồng còn khỏe và tấn công vào mặt trên và mặt dưới của lá, sau đó tiếp tục chu kỳ bệnh mới (Pataky, 1988)

Goldberg (2006) cho rằng các quả thể được hình thành trong sợi nấm vào cuối mùa phát triển Khi thời tiết nóng và ẩm ướt vào mùa xuân, quả thể hấp thụ nước và tách ra để phóng thích túi đơn nhỏ hoặc nang có chứa 8 bào tử (bào tử túi) Những bào

tử túi cực nhỏ này được phát tán nhờ gió hoặc mưa đến những cây khỏe

Bào tử phân sinh và bào tử túi rơi trên bộ phận của cây, nảy mầm và hình thành đĩa bám chặt lên lá hoặc thân cây Từ phía trên của đĩa bám này, hình thành một ống

có khả năng thâm nhập tốt có thể xuyên qua lớp biểu bì và đi vào tế bào biểu bì và hình thành giác mút tại đó Gặp điều kiện thuận lợi bào tử nấm vỡ ra và phát tán trong không khí và trong nước Có khoảng ba triệu bào tử được hình thành trên một inch mô bệnh trong vòng vài tuần (Pataky, 1988)

Trang 27

Khi bào tử phân sinh hoặc bào tử túi rơi trên bề mặt cây, chúng bắt đầu nảy mầm trong khoảng 2 – 4 giờ và đạt số lượng tối đa trong vòng 25 giờ Nhiệt độ tốt nhất cho nấm phát triển là 220C, thấp nhất là 50C, cao nhất là 350C; ẩm độ khoảng 23 – 99% Sau khi tách ra khỏi cành bào tử, những bào tử có vách mỏng không sống lâu được Ở 320C, ẩm độ 70% hoặc thấp hơn, nấm nảy mầm được 95 – 100% trong 2 giờ

và giảm 8 – 20% trong 5 giờ Tại 210C, ẩm độ 70% hoặc thấp hơn, nấm nảy mầm được 20 – 40% trong 5 giờ Mặc dù bào tử nấm vẫn tồn tại ở ẩm độ 80 – 90%, nhưng

về cơ bản bào tử sẽ chết sau 48 giờ tại 210C và sau 24 giờ ở 320C (Pataky, 1988)

Môi trường thuận lợi nhất cho bào tử nấm sản sinh, trưởng thành, phát tán, nảy mầm và xâm nhiễm là chu kỳ lặp đi lặp lại của ngày và đêm: đêm lạnh (khoảng 160C)

và ẩm ướt với độ ẩm tương đối khoảng 90 – 99%, ngày ấm áp (270C) và khô với độ

ẩm tương đối khoảng 40 – 70% (Pataky, 1988)

Ở miền Bắc nước ta vụ xuân hè bệnh thường phát triển mạnh và hại mạnh nhất vào tháng 3 – 6, mùa thu bệnh vẫn còn phát triển Những vườn hồng trồng quá dày, bón phân đạm nhiều, phân kali ít dễ phát bệnh Bệnh có thể phát triển trong cả điều kiện khô hạn (Đặng Văn Đông và Đinh Thị Dinh, 2003)

Trang 28

Hình 2.3 Chu kỳ bệnh phấn trắng trên hoa hồng do nấm Sphaerotheca pannosa var

Chuẩn bị đất trồng, thoát nước tốt, cung cấp chất hữu cơ cho đất Nên trồng hoa

ở nơi có thể nhận được nhiều ánh sáng nhất (tối thiểu là 6 giờ/ngày) Nếu có thể, tránh trồng hoa hồng gần những bụi cây lớn hay những cây có khả năng cạnh tranh độ ẩm, ánh sáng, dinh dưỡng với hoa hồng Trồng trong nhà lưới, nhà kính phải tăng cường thông khí giảm nhiệt độ, ẩm độ (Đặng Văn Đông và Đinh Thị Dinh, 2003)

Nên tiến hành phân tích đất trước khi bón phân cho hoa hồng Tránh bón nhiều phân có hàm lượng nitơ cao Tăng lượng bón kali và lân Cung cấp đủ nước tưới cho cây trong suốt mùa khô Đất nên được đủ ẩm ở độ sâu 20 – 30 cm Tránh tưới ướt nụ

và tán lá đặc biệt là vào lúc chiều tối Sử dụng ống nước nằm sát đất hay phương pháp tưới khác mà không làm ướt tán lá cây (Pataky, 1988)

Phá bỏ những cây hoang dại hay những cây không có ích cho sự phát triển của hoa hồng, vì những cây này có thể là nguồn lây nhiễm bệnh (Goldberg, 2006)

Phun thuốc diệt nấm kỹ ở các bộ phận của cây hoa hồng, bao gồm cả bề mặt lá Bắt đầu phun khi thấy bệnh xuất hiện hoặc phun phòng trước Nên phun thuốc trước khi mưa để bảo vệ lá tối đa vì những bào tử nấm có thể bị bắn lên nhờ nước mưa Phun thuốc theo đúng chỉ dẫn được ghi trên nhãn hộp thuốc hoặc theo sự hướng dẫn của cán

bộ kỹ thuật Ngoài ra có thể sử dụng vôi và lưu huỳnh để trừ bệnh Cách phòng trị chủ

Trang 29

nhau thành dung dịch nhũ tương để tự bốc hơi ra toàn nhà trồng nhằm trừ bệnh (Pataky, 1988)

2.4 Một số nghiên cứu về bệnh phấn trắng trên hoa hồng

Bender và Coyier (1986), đã nghiên cứu về sự biến đổi tính độc của nấm

Sphaerotheca pannosa var rosae trên đồng ruộng và trong nhà kính ở Oregon Chỉ có

một kiểu bệnh được tìm thấy trong những mẫu bệnh phấn trắng trên hoa hồng trồng trong nhà kính, ít nhất hai đến bốn kiểu bệnh được tìm thấy trên mẫu bệnh ở những cây hoa hồng trồng ngoài đồng

Nghiên cứu về hiệu quả của một số hợp chất chống nấmSphaerotheca pannosa var rosae tại Sanremo (Bắc Italia), Carlo Pasini và ctv (1997) cho rằng trong số các

hợp chất thử nghiệm thì KH2PO2 0,5% và 1% kiểm soát dịch bệnh tốt và phù hợp nhất, NaHCO3 0,5% kiểm soát bệnh ở mức độ hài lòng còn các dầu JMS Stylet, dầu hạt cải, dịch chiết xuất từ cây neem kiểm soát dịch bệnh ở mức thỏa đáng

Trang 30

Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian, địa điểm thí nghiệm

- Thời gian: Đề tài được thực hiện trong thời gian từ 15.2.2011 đến 15.6.2011

- Địa điểm: Đề tài được thực hiện tại ba phường 5, 7 và 8, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng

- Phiếu điều tra nông dân (phụ lục 2)

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Điều tra hiện trạng canh tác cây hoa hồng và biện pháp phòng trừ bệnh phấn trắng hại hoa hồng của nông dân tại thành phố Đà Lạt

Điều tra trên các phường 5, 7 và 8, là phường có diện tích trồng hoa hồng nhiều nhất Mỗi phường chọn từ 5 – 15 vườn có diện tích trồng hoa từ 750 m2 trở lên Phỏng vấn trực tiếp chủ hộ theo phiếu điều tra đã soạn sẵn (phụ lục 2)

Trang 31

3.3.2 Điều tra tình hình bệnh phấn trắng trên hoa hồng

3.3.2.1 Điều tra mức độ phổ biến của bệnh phấn trắng trên hoa hồng

* Phương pháp điều tra: (điều tra theo phương pháp chung của Viện BVTV năm

2000)

Điều tra trên các phường 5, 7 và 8, là phường có diện tích trồng hoa hồng nhiều nhất Mỗi phường chọn từ 5 – 15 vườn có diện tích trồng hoa từ 750 m2 trở lên, mỗi vườn tiến hành điều tra theo 5 điểm chéo góc, mỗi điểm điều tra 2 cây, mỗi cây điều tra 2 cành (cố định điểm và cây điều tra) Trên mỗi cành, điều tra tất cả các lá

Điều tra định kỳ 7 ngày/lần, từ giai đoạn cành ra lá thật đến khi thu hoạch Tổng

+ n3: số lá bị bệnh cấp 3

Trang 32

Cây khỏe không thấy bệnh

Có một vài vết bệnh trên lá rất nhẹ (< 1% diện tích lá bị bệnh)

3.3.2.2 Điều tra sự biến động của bệnh phấn trắng trên hoa hồng

* Biến động của bệnh theo giống: Điều tra trên 4 giống hoa hồng: giống đỏ

nhung, giống phấn hồng, giống hồng vàng và giống hồng trắng Các giống có cùng năm tuổi và cùng điều kiện canh tác

Phương pháp điều tra: Mỗi giống tiến hành điều tra 5 điểm chéo góc, mỗi điểm điều tra 2 cây, mỗi cây điều tra 2 cành (cố định điểm và cây điều tra) Trên mỗi cành, điều tra tất cả các lá Điều tra định kỳ 7 ngày/lần, từ giai đoạn cành ra lá thật đến khi thu hoạch Tổng số lần điều tra: 7 lần

Chỉ tiêu theo dõi:

+ Tỷ lệ lá bệnh: (tương tự như phần 3.3.2.1)

Trang 33

+ Chỉ số lá bệnh: (tương tự như phần 3.3.2.1)

* Biến động theo mật độ trồng: Chọn những mật độ trồng điển hình tại 3

phường Chọn vườn có cùng giống, cùng giai đoạn sinh trưởng và cùng điều kiện canh tác

Phương pháp điều tra: Mỗi mật độ tiến hành điều tra 5 điểm chéo góc, mỗi điểm điều tra 2 cây, mỗi cây điều tra 2 cành (cố định điểm và cây điều tra) Trên mỗi cành, điều tra tất cả các lá Điều tra tại giai đoạn 21 ngày sau khi cành ra lá thật

Chỉ tiêu theo dõi:

Trang 34

Chiều biến thiên

Hình 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm

- Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD) với 5 nghiệm thức (NT) và 3 lần lặp lại (LLL), mỗi NT gồm 4 cây Các công thức thí nghiệm được ghi cụ thể tại bảng 3.2 và thí nghiệm bố trí theo sơ đồ hình 3.1

Thí nghiệm thuốc trên giống hồng vàng, khoảng cách trồng 20 x 30 (cm)

Thời điểm và số lần xử lý: Phun thuốc lần đầu khi bệnh phấn trắng chớm xuất hiện Phun thuốc định kỳ 5 ngày/lần, phun tổng số 4 lần

Phương pháp xử lý: Phun ướt đều tán cây, lượng nước thuốc là 400 lít/ha

Trang 35

Hình 3.2 Toàn cảnh khu thí nghiệm

- Phương pháp theo dõi: Mỗi nghiệm thức theo dõi 4 cây, mỗi cây 2 cành Trên

mỗi cành, điều tra tất cả các lá Theo dõi và lấy chỉ tiêu trước mỗi lần phun thuốc

- Chỉ tiêu theo dõi:

năng suất

năng suất rõ hơn

+ Hiệu quả kỹ thuật của thuốc (theo công thức Henderson – Tilton)

H % = [1 – (Ta x Cb)/(Tb x Ca)] x 100

Trang 36

- Ta: Chỉ số bệnh của ô thí nghiệm sau khi xử lý

- Tb: Chỉ số bệnh của ô thí nghiệm trước khi xử lý

- Ca: Chỉ số bệnh của ô đối chứng sau khi xử lý

- Cb: Chỉ số bệnh của ô đối chứng trước khi xử lý

+ Số hoa thương phẩm của mỗi NT (số hoa)

3.4 Phương pháp xử lý số liệu

Các số liệu sau khi thu thập được phân tích ANOVA – 2 và trắc nghiệm LSD bằng phần mềm MSTATC Số liệu tính bằng % được chuyển đổi sang arcsin(x)1/2 và (x + 0,5)1/2 tùy theo dãy số liệutrước khi xử lý

Các biểu đồ được vẽ bằng phần mềm Microsoft Excel 2003

Trang 37

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Để tìm ra biện pháp phòng trừ hợp lý nhằm hạn chế thiệt hại do bệnh gây ra thì việc điều tra về hiện trạng canh tác cây hoa hồng, các biện pháp phòng trừ bệnh phấn trắng trên hoa hồng của người nông dân, mức độ phổ biến của bệnh cũng như sự biến động của bệnh trên nhiều giống hoa và mật độ trồng khác nhau là việc làm hết sức cần thiết

4.1 Điều tra hiện trạng canh tác cây hoa hồng và biện pháp phòng trừ bệnh phấn trắng trên hoa hồng của nông dân tại thành phố Đà Lạt

4.1.1 Điều tra hiện trạng canh tác cây hoa hồng tại thành phố Đà Lạt

Hoa hồng là một trong những loài hoa chủ đạo của thành phố Đà Lạt, được trồng rải rác ở nhiều phường khác nhau, tập trung chính là ở phường 5, 7 và 8 của thành phố Qua điều tra 30 vườn trồng hoa hồng tại thành phố Đà Lạt cho thấy:

* Diện tích vườn trồng hoa hồng tại thành phố Đà Lạt

Các vườn có diện tích trồng hoa thay đổi: nhỏ nhất là 750 m2 và lớn nhất là 10.000 m2 Sự phân bố diện tích vườn được thể hiện ở bảng 4.1

Số vườn có diện tích trồng hoa từ 1.000 m2 – 5.000 m2 chiếm tỷ lệ cao nhất là 50,01%; các vườn có diện tích trồng dưới 1.000 m2 và trên 5.000 m2 đến 10.000 m2 chiếm tỷ lệ thấp hơn lần lượt là 13,33% và 36,66% Đa số hộ nông dân trồng hoa tại thành phố Đà Lạt không sử dụng toàn bộ diện tích đất của mình để trồng một loại hoa

mà thường trồng nhiều loại hoa khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường và tránh làm ùn tắc thị trường

Trang 38

Bảng 4.1 Sự phân bố diện tích trồng hoa hồng tại thành phố Đà Lạt (năm 2011)

* Tuổi của cây hoa hồng

Bảng 4.2 Phân bố tuổi của cây hoa hồng tại thành phố Đà Lạt (năm 2011)

Tuổi của cây (năm) Số vườn Tỷ lệ (%)

Hoa hồng là cây lâu năm, cũng giống như những loại cây khác, nếu để khai thác quá lâu cây sẽ bị già cỗi, ra hoa ít, hoa không đạt tiêu chuẩn và năng suất sẽ bị giảm sút, do đó phải thường xuyên cắt tỉa những cành mù và cành bị sâu bệnh Thông thường, hoa hồng trồng dưới 3 năm sẽ cho hoa to, thân thẳng và mập nhưng số lượng hoa chưa nhiều, vườn trồng hoa hồng từ 4 đến 6 năm sẽ cho năng suất đồng đều nhất

Trang 39

* Khoảng cách và mật độ trồng hoa hồng

năng sinh trưởng, phát triển mạnh thì khoảng cách trồng thích hợp là 40 cm x 50 cm với mật độ là 50.000 cây/ha còn với những giống hồng ít phân cành thì trồng với khoảng cách là 35 cm x 40 cm với mật độ khoảng 70.000 cây/ha Nhưng trên thực tế điều tra cho thấy hầu hết các hộ nông dân đều trồng với khoảng cách nhỏ hơn rất nhiều

Số liệu ở bảng 4.3 cho thấy:

Một nửa số hộ được điều tra trồng hoa hồng với khoảng cách 15 cm x 20 – < 25

cm, tương ứng với mật độ < 200 – 220 ngàn cây/ha, các khoảng cách trồng 15 cm x 25 – 30 cm và 20 cm x 30 cm, tương ứng với các mật độ là 190 – 200 ngàn cây/ha và 140 ngàn cây/ha chiếm tỷ lệ thấp hơn lần lượt là 36,67% và 13,33% Qua quá trình điều tra nhận thấy, những vườn trồng với mật độ 140 ngàn cây/ha cho số bông ít nhưng bông

to hơn so với vườn trồng ở mật độ 190 – 220 ngàn cây/ha Do đó để đảm bảo năng suất và chất lượng của hoa thì cần phải nghiên cứu để đưa ra mật độ trồng thích hợp

* Giống hoa hồng hiện đang trồng tại thành phố Đà Lạt

Hầu hết những hộ nông dân có diện tích trồng hoa hồng lớn thường trồng nhiều giống hoa hồng có màu sắc khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường

Trang 40

Bảng 4.4 Giống hoa hồng hiện đang trồng tại thành phố Đà Lạt

Giống hoa hồng Số vườn Tỷ lệ (%)

Ghi chú: Các vườn không trồng thuần một giống mà trồng từ 2 giống trở lên

Qua số liệu ở bảng 4.4 ta thấy:

100% vườn được điều tra đều trồng giống hồng đỏ nhung và phấn hồng Giống

hồng trắng và hồng vàng chiếm tỷ lệ vườn trồng thấp hơn là 66,67% và 55,33% Các

giống có tỷ lệ vườn trồng thấp nhất là giống hồng cam (16,67%), hồng cánh sen

(6,67%) và hồng tiểu muội (3,33%).Những giống hồng này mới được lai tạo, do đó

chưa được trồng nhiều Đặc biệt là giống hồng tiểu muội, đây là giống hồng bông nhỏ,

có nhiều bông trên cùng 1 cành và được trồng để xuất khẩu nên giống có giá thành cao

hơn và chưa được cung cấp rộng rãi so với những giống hoa khác vì thế chưa có nhiều

hộ nông dân trồng giống hồng này

Như vậy, các giống hồng: đỏ nhung, phấn hồng, hồng trắng và hồng vàng là

những giống có tỷ lệ vườn trồng nhiều nhất và đây cũng là giống được tiêu thụ nhiều

trên thị trường

Ngày đăng: 11/06/2018, 08:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w