1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI HỖN HỢP ĐẤT VÙNG RỄ CỎLÊN SINH TRƯỞNG CỦA HAI GIỐNG CỎ TIFDWARF VÀ TIFEAGLE TẠI SÂN GOLF THỦ ĐỨC, TP. HỒ CHÍ MINH

98 320 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI HỖN HỢP ĐẤT VÙNG RỄ CỎ LÊN SINH TRƯỞNG CỦA HAI GIỐNG CỎ TIFDWARF VÀ TIFEAGLE TẠI SÂN GOLF THỦ ĐỨC, TP... Xuất phát từ vấn đề trên, đề tài “Ảnh

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI HỖN HỢP ĐẤT VÙNG RỄ CỎ LÊN SINH TRƯỞNG CỦA HAI GIỐNG CỎ TIFDWARF VÀ TIFEAGLE TẠI SÂN GOLF THỦ ĐỨC, TP HỒ CHÍ MINH

Họ và tên sinh viên: Nguyễn Văn Phu

Niên khóa: 2007 – 2011

Tháng 08/2011

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

KHOA NÔNG HỌC

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOẠI HỖN HỢP ĐẤT VÙNG RỄ CỎ LÊN SINH TRƯỞNG CỦA HAI GIỐNG CỎ TIFDWARF VÀ TIFEAGLE TẠI SÂN GOLF THỦ ĐỨC, TP HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN VĂN PHU

Khóa luận được đệ trình để hoàn thành yêu cầu cấp bằng

kỹ sư nông nghiệp ngành nông học

Giảng viên hướng dẫn:

TS NGÔ ĐẰNG PHONG

TP Hồ Chí Minh Tháng 8/2011

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Qua thời gian bốn tháng thực tập tại Sân Golf Thủ Đức, Tp Hồ Chí Minh, tôi

đã nổ lực học tập và làm việc nghiêm túc trong quá trình làm đề tài ở đây Tôi xin gởi lời cảm ơn sâu sắc và chân thành đến:

- Ban giám hiệu trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh

- Ban Chủ Nhiệm Khoa Nông Học, cùng các quý thầy cô trong khoa đã tận tình chỉ dạy những kiến thức trong suốt thời gian theo học tại trường

- Đặc biệt xin chân thành cảm ơn thầy Ngô Đằng Phong đã tận tình chỉ dạy và hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện khóa luận

- Ban lãnh đạo và công nhân Sân Golf Thủ Đức

- Bộ môn Thủy Nông, Bộ môn Nông Hóa Thổ Nhưỡng

- Tập thể lớp Nông Học đã giúp đỡ tôi thực hiện khóa luận

- Xin gởi lời cám ơn sâu sắc đến gia đình và người thân đã động viên ủng hộ tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành khoá luận này

Xin chân thành cảm ơn!

TP HCM, tháng 07 năm 2011 Sinh viên

Nguyễn Văn Phu

Trang 4

TÓM TẮT

NGUYỄN VĂN PHU, Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh Tháng 7/2011 “Ảnh hưởng của các loại hỗn hợp đất vùng rễ cỏ lên sinh trưởng của hai giống cỏ Tifdwarf

và TifEagle tại sân Golf Thủ Đức, Tp Hồ Chí Minh”

Giảng viên hướng dẫn: TS NGÔ ĐẰNG PHONG

Trong sân golf, việc chọn lựa giống cỏ, hỗn hợp đất vùng rễ thích hợp sẽ làm giảm chi phí chăm sóc và bảo dưỡng

Đề tài được thực hiện tại Sân Golf Thủ Đức nhằm tìm ra được giống cỏ tốt và loại hỗn hợp đất vùng rễ thích hợp cho Green

Thí nghiệm 2 yếu tố: Yếu tố về giống có 2 mức (Tifdwarf và TifEagle), Yếu tố về hỗn hợp đất có 4 mức (100 % cát; 90 % cát + 10 % diatomite; 90 % cát + 10 % scoria; 90

% cát + 10 % limonite) Được bố trí theo kiểu lô sọc (strip plot) với 3 lần lập lại Kết quả nghiên cứu:

Về hỗn hợp đất: Cả 3 loại khoáng đều cho kết quả lý hóa tính tốt hơn cát

Về giống cỏ: giống cỏ TifEagle cho kết quả về sinh trưởng chồi tốt hơn Tifdwarf

Sự tương tác giữa hỗn hợp đất và giống cỏ thì loại khoáng Scoria và giống cỏ TifEagle cho kết quả sinh trưởng tốt

Trang 5

MỤC LỤC

TRANG TỰA i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT iii

MỤC LỤC iv

DANH SÁCH CÁC BẢNG vii

DANH SÁCH CÁC HÌNH vii

DANH SÁCH CÁC HÌNH vii

Chương 1 GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và ý nghĩa đề tài 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Ý nghĩa đề tài 2

1.3 Giới hạn đề tài 2

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Giới thiệu về golf 3

2.1.1Lịch sử môn golf 3

2.1.2 Một số quy chuẩn về golf 4

2.1.3 Thành phần chính của sân golf 4

2.2 Tổng quan về hai giống cỏ Tifdwarf và TifEagle (Cynodon spp.) 9

2.2.1 Giống cỏ Tifdwarf 10

2.2.2 Giống cỏ TifEagle 10

2.3 Những nghiên cứu hỗn hợp đất 11

2.3.1 Những nghiên cứu về các vật liệu tạo hỗn hợp đất 11

2.3.2 Những nghiên cứu về hỗn hợp đất 14

2.3.3 Những nghiên cứu ngoài nước: 15

Chương 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

3.1 Thời gian, địa điểm nghiên cứu 17

3.1.1 Thời gian nghiên cứu 17

3.1.2 Địa điểm nghiên cứu 17

Trang 6

3.2 Bố trí thí nghiệm và nghiệm thức 17

3.3 Số liệu thu thập và chỉ tiêu theo dõi 18

3.3.1 Thu thập và phân tích mẫu đất 18

3.3.2 Thu thập và đánh giá mẫu cỏ 23

3.4 Quy trình trồng và chăm sóc 25

3.5 Phân tích thống kê 28

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 29

4.1 Những kết quả về lý tính và hóa tính của đất 29

4.2 Ảnh hưởng của hỗn hợp đất lên sinh trưởng của 2 giống cỏ 33

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 39

5.1 Kết luận 39

5.2 Khuyến cáo và đề nghị 39

TÀI LIỆU THAM KHẢO 40

PHỤ LỤC 44

Trang 7

USDA (United State Department of Agriculture): Bộ nông nghiệp Hoa Kỳ

USGA (United States Golf Association): Hiệp Hội Golf Hoa Kỳ

V (variety): giống cỏ

Trang 8

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Thành phần hóa học mẫu diatomite Phú Yên 12

Bảng 2.2 Kết quả phân tích đá bazan ở Vĩnh Thạnh, Bình Định 13

Bảng 2.3 Thành phần hóa học của đá bazan bọt ở Đồng Nai 13

Bảng 2.4 Các nghiệm thức của Nguyễn Đức Dũng và Nguyễn Thị Kim Thoa (1995) 14 Bảng 2.5: Yêu cầu về tính chất của hỗn hợp đất 16

Bảng 4.1a Tính chất vật lý của hỗn hợp đất vùng rễ ban đầu 29

Bảng 4.1b Tính chất vật lý của hỗn hợp đất vùng rễ sau 60 ngày trồng 30

Bảng 4.2a Tính chất hóa học của các hỗn hợp đất ban đầu 31

Bảng 4.2b Tính chất hóa học của các hỗn hợp đất sau 60 ngày trồng 32

Bảng 4.3a Ảnh hưởng của hỗn hợp đất lên mật độ chồi và chiều dài rễ sau 30 ngày trồng 33

Bảng 4.3b Ảnh hưởng của hỗn hợp đất lên trọng lượng khô của chồi và rễ sau 30 ngày trồng 34

Bảng 4.4a Ảnh hưởng của hỗn hợp đất lên mật độ của chồi và chiều dài rễ sau 60 ngày trồng 35

Bảng 4.4b Ảnh hưởng của hỗn hợp đất lên trong lượng khô của chồi và rễ sau 60 ngày trồng 36

Bảng 4.5a Ảnh hưởng của hỗn hợp đất lên sinh trưởng của chồi và rễ sau 90 trồng 37

Bảng 4.5b Ảnh hưởng của hỗn hợp đất lên sinh trưởng của chồi và rễ sau 90 trồng 38

Trang 9

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình 2.1 “Trái tim của sân golf” (Green) 5

Hình 2.2 Đường lăn bóng (fairway) 7

Hình 2.3 Chướng ngại vật hố cát (bunker) 8

Hình 2.4 Chướng ngại vật hồ nước (water hazard) 9

Hình 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm kiểu lô sọc 18

Hình 3.2 Dụng cụ lấy mẫu đất 18

Hình 3.3 Vị trí lấy mẫu đất trên một lô thí nghiệm đơn vị 18

Hình 3.4 Đo tốc độ thấm ngoài đồng 23

Hình 3.5 Dụng cụ đục lỗ cờ 24

Hình 3.6 Vị trí lấy mẫu cỏ trên một lô thí nghiệm đơn vị 24

Hình 3.7 Đo chiều dài rễ 25

Hình 3.8 Lấy cỏ giống từ vườn ươm 26

Hình 3.9 Trộn hỗn hợp đất 26

Hình 3.10 Rải lớp cát mỏng sau khi rải cỏ 27

Trang 10

Chương 1 GIỚI THIỆU

1.1 Đặt vấn đề

Golf đang là một môn thể thao khá mới mẻ tại Việt Nam Đánh golf giúp giải toả được các căng thẳng, cân bằng cuộc sống và công việc Sự kết hợp tuyệt vời của cảnh đẹp và một trái banh trắng nhỏ có khả năng giúp bớt mệt mỏi và khuây khỏa tinh thần Golf là cách thức tốt nhất để tiếp xúc việc kinh doanh

Sân golf Thủ đức là một trong những sân golf có lượng khách lớn nhất cả nước, cho nên việc quản lý thảm cỏ để đạt yêu cầu của người chơi đòi hỏi rất công phu và rất khó khăn

Một trong những bộ phận quan trọng của một đường Golf là Green Tuy nhiên,

đó cũng là nơi chịu sự giẫm đạp nhiều nhất bởi khách chơi và quá trình cơ giới hóa trong bảo dưỡng sân cỏ Điều đó làm cho nền Green càng bị nén chặt làm cho bộ rễ phát triển kém, hoặc do sự thoát nước kém dẫn đến bộ rễ bị chết, gây ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của cỏ Do đó việc quản lý thảm cỏ trên Green phải hoàn thiện và luôn đạt yêu cầu của người chơi golf Để chịu được những tác động như thế, vùng rễ Green phải: chịu được sức nén, thấm nhanh nhưng đồng thời giữ ẩm và dinh dưỡng tốt, thông khí vùng rễ Để chủ động tạo kết cấu đất theo yêu cầu đó, người ta thường dùng cát trong quá trình thiết lập nền cho Green Bởi vì cát làm cho nền Green thoáng khí, thoát nước tốt và đặc biệt là khả năng chống lại sự nén chặt (Bingaman và Kohnke, 1970) Tuy nhiên cát có những giới hạn nhất định như khả năng giữ nước và dinh dưỡng kém (Cale và Keith, 2000) Điều cần thiết hiện nay là phải pha trộn vào cát những vật liệu nhằm để khắc phục những đặc tính không tốt của cát

Ngoài ra việc lựa chọn giống cỏ cũng rất quan trọng Bởi giống cỏ ảnh hưởng rất lớn đến quá trình bảo dưỡng Hai giống cỏ cho Green được trồng tại sân Golf Thủ

Trang 11

Đức hiện nay là Tifdwarf và TifEagle Đó là hai giống cỏ lai được trồng phổ biến tại vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới (Brosnan và Deputy, 2008)

Do yêu cầu quản lý thảm cỏ rất cao nên việc chọn lựa giống cỏ, chăm sóc cỏ và cải thiện phẩu diện đất của green vẫn luôn phải được theo dõi kỹ càng và có những hỗ trợ kịp thời Các yếu tố khảo sát liên quan đến cỏ và chăm sóc cỏ phải được đánh giá

có hệ thống theo từng giai đoạn ở phòng thí nghiệm, vườn ươm và thực tế áp dụng ngoài sân bãi

Xuất phát từ vấn đề trên, đề tài “Ảnh hưởng của các loại hỗn hợp đất vùng rễ lên sinh trưởng của hai giống cỏ Tifdwarf và TifEagle tại sân golf Thủ Đức - TP.HCM” được thực hiện

1.3 Giới hạn đề tài

Các yếu tố về lý tính của hỗn hợp đất ảnh hưởng rất lớn đến khả năng giữ nước, dinh dưỡng, độ nén chặt của đất, cũng như sinh trưởng của cỏ Do đó cần đánh giá trong thời gian dài Tuy nhiên thời gian chỉ giới hạn trong 4 tháng

Trang 12

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Giới thiệu về golf

2.1.1Lịch sử môn golf

Theo Aindreas D Nguyễn (2010) nguồn gốc bắt đầu môn golf vẫn chưa rõ ràng đang là vấn đề tranh luận của các nhà nghiên cứu lịch sử thể thao Theo một số sử gia, trong môn paganica của người Roman, người chơi sử dụng một cây gậy cong để đánh một quả bóng da nhồi Lý thuyết này cho rằng paganica lan khắp Châu Âu khi người La Mã chinh phục trong giai đoạn thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên và cuối cùng phát triển thành các trò chơi hiện đại Những sử gia khác lại cho rằng môn golf hiện nay phát triển từ môn chuiwan (“chui” có nghĩa “đánh”, “wan” nghĩa là “quả bóng nhỏ”), một trò chơi Trung Quốc chơi giữa thế kỷ VIII Ở Việt Nam cũng có một trò chơi dân gian mang tính chất tương tự là môn “Đánh phết”, về sau trò này trở thành một môn thể thao phổ biến trong các ngày tết, ngày hội Tương truyền, từ thời Hai Bà Trưng, trò đánh phết đã được tổ chức để rèn luyện thể lực và mưu trí cho quân sĩ Tuy nhiên, theo số đông nhà nghiên cứu, môn golf có thể xuất phát từ Iceland, là trò chơi của những người chăn cừu ngày xưa Trong khi lùa cừu đi ăn, họ dùng cây gậy có một đầu to để đánh viên sỏi tròn đi xa, và họ thi với nhau xem ai đánh đi xa nhất và chính xác nhất

Năm 1744, CLB golf lần đầu tiên trên thế giới được thành lập – CLB golf của các quí ông The Gentlement Golfer of Leith (về sau CLB này đổi tên thành Hiệp hội golf danh dự Edinburgh (the Honourable Company of Edinburgh Golfer) Sự kiện đó được nối tiếp bằng việc thành lập Hiệp hội golf mang tên Thánh Andrews vào năm

1754 (St Andrews Society of Golfer) Nguyên tắc tính điểm được đưa ra vào năm 1759

Trang 13

và đến năm 1764 sân golf 18 lỗ bắt đầu trở thành mẫu sân golf tiêu chuẩn Và tới năm

1895 giới đàn ông mất thế “độc quyền” khi CLB các tay golf nữ được thành lập

2.1.2 Một số quy chuẩn về golf

Một sân golf các lỗ golf liên tiếp nhau, trong đó mỗi bao gồm các vị trí phát bóng (tee box), đường đánh (fairway), vùng gạt bóng (green), các chướng ngại vật (hazard) và vùng đệm cảnh quan xung quanh Tất cả đều được thiết kế cho một trận đấu trong sân golf Cơ số nhỏ nhất của một sân golf là 9 đường golf, bao gồm 2 đường ngắn (par 3), 5 đường trung bình (par 4) và 2 đường dài (par 5) Số đường đánh (hole)

ở một sân golf tiêu chuẩn là 18

Không có hai sân golf nào được thiết kế giống nhau, địa hình của chúng luôn luôn khác nhau Mọi sân golf đều có một điểm chuẩn (par) cộng dồn cho số đường đánh đó

và tổng số cú đánh mà một cầu thủ giỏi nhất cần thực hiện để đưa bóng tới các lỗ golf

Để tính được số điểm chuẩn cộng dồn của một sân golf, mỗi đường đánh được giao một điểm chuẩn tùy thuộc vào chiều dài của đường bóng đó Có ba điểm chuẩn khác nhau, par 3 là đường đánh có chiều dài cho đến 227m, một đường đánh par 4 có chiều dài từ 227m đến 432m và đường đánh par 5 có chiều dài trên 432m

2.1.3 Thành phần chính của sân golf

Một đường đánh bao gồm phần đất nằm giữa khu phát bóng (teeing ground) và khu

lỗ golf (puttiing green) Khoảng cách giữa khu phát bóng và khu lỗ golf là hành lang (fairway), khu cỏ cao (rough), các hố cát (bunkers), nước và các chướng ngại vật khác

do kiến trúc sư quyết định Chiều dài của sân hoàn toàn không bắt buộc nhưng theo quy ước của USGA thì chiều dài từ vị trí phát bóng, tính theo tim đường fairway tới trung tâm green thường:

¾ Đối với nam giới:

o Par 3: Dài đến 250 yards

o Par 4: Từ 251 yards đến 470 yards

o Par 5: Từ 471 yards đến 690 yards

o Par 6: từ 691 yards trở đi

¾ Đối với phụ nữ:

o Par 3: Dài đến 210 yards

o Par 4: Từ 211 yards đến 400 yards

Trang 14

o Par 5: Từ 401 yards đến 575 yards

o Par 6: Từ 575 yards trở đi

2.1.3.1 Green

Green (putting green) là nơi mà mọi giám đốc bảo dưỡng sân bãi gọi là “trái tim của sân golf” Trên green có duy nhất (nhưng putting green có thể có nhiều) một lỗ đường kính 4,25 in làm mục tiêu cho các golf thủ đánh bóng vào và được đánh dấu bằng cờ Không có green nào giống nhau và green có thể thay đổi hình dạng trong quá trình bảo dưỡng Hình dáng green phổ biến nhất là hình bầu dục hoặc hình chữ nhật

Cỏ trên green thường là các giống cỏ lá nhỏ, mịn, thân và bẹ lá rất ngắn như TifGreen (bermuda grass), Sea Isle 2000 (Paspalum grass), Bentgrass… có chiều cao thường

giao động từ 3,8 mm – 4,2 mm Bao quanh green là một vành đai đệm (collar)

Collar: Vành đai đệm quanh green có bề rộng không nhất định và thường bằng

2 - 3 bề rộng của máy cắt cỏ green Cỏ trồng ở vành đai phải cùng giống với cỏ trong green vì mục đích của vành đai là vùng đệm ngăn chặn của cỏ fairway thường mọc mạnh hơn, cắt cao hơn và chất lượng kém hơn xâm nhập, làm giảm chất lượng và tính đồng nhất của green Chiều cao cỏ vùng này dao động 12 mm - 14 mm

Hình 2.1 “Trái tim của sân golf” (Green)

Trang 15

2.1.3.2 Tee

Tee box là vùng đất được giới hạn làm vị trí phát bóng và được đặt ở đầu mỗi đường golf Hình dạng tee box thường hình vuông hoặc bầu dục Trên lý thuyết bề mặt tee box phẳng tuyệt đối để tạo điều kiện tốt nhất cho cú phát bóng nhưng khi thi công, người ta thường đánh mái dốc 1% về phía sau nhằm tăng khả năng thoát nước cho tee

Từ tee box, người chơi bắt đầu phát bóng (tee shot) để hoàn thành trận đấu của mình Thông thường vị trí phát bóng trên tee box được giới hạn bằng hai mốc gọi là “tee mark” Người chơi chỉ được phép đặt bóng mình trong giới hạn của 2 tee mark ngược

về phía sau Cỏ trồng ở tee box thường khác với cỏ ở green và fairway, chiều cao trung bình 8 cm – 12 cm

Thông thường mỗi đường golf có 3 đến 5 tee box có khoảng cách đến lỗ golf khác nhau, đành cho các trình độ, thể lực khác nhau và phân biệt bằng màu nhằm tạo một trận đấu công bằng và ngang sức

áp chế kiến trúc hoặc quy mô sân golf Cỏ ở đây thưa hơn, thô hơn cỏ ở green và tee box, do đó để có được những cú đánh có cảm giác bóng cần cỏ có chiều cao lớn hơn Trung bình giao động từ 2/8 in đến 3/4 in Chiều cao cỏ phụ thuộc nhiều vào giống cỏ,

Trang 16

điều kiện thổ nhưỡng khí hậu, ngân sách (trình độ bảo dưỡng) và giải đấu (yêu cầu của ban tổ chức và người chơi)

Hình 2.2 Đường lăn bóng (fairway) 2.1.3.4 Rough

Là khu vực bên ngoài fairway với cỏ dày hơn, mọc cao hay mọc tự nhiên tùy thuộc vào thiết kế và cách bảo dưỡng

Rough được thiết kế như một loại chướng ngại vật nhằm cản trở những người chơi đánh bóng không vào được fairway Nhưng mọi khu vực khác trên sân, rough cũng không có quy định nhất định Chiều cao cỏ rough cũng tùy thuộc vào những điều kiện tương tự fairway Chiều rộng của rough gần như không giới hạn Có 2 loại rough:

9 Loại cắt thường xuyên (mowed) Loại này bố trí xung quanh fairway, bẫy cát, bẫy nước như vùng trung gian Loại tự nhiên (unkept)

9 Loại này thường là cỏ tự nhiên ở địa phương, mọc ngoài rough cắt thấp Rough này ít được bảo dưỡng, để phát triển tự nhiên và thực sự gây khó khăn cho người chơi nào đánh bóng vào đó

2.1.3.5 Hazard

Hazard hiểu một cách đơn giản là vùng chướng ngại vật đối với người chơi Về mặt kỹ thuật thiết kế sân golf thì hazard chỉ bao gồm hai loại: Chướng ngại vật cát (bunker) và chướng ngại vật nước (water hazard):

Trang 17

- Bunker: là loại chướng ngại vật có cốt xây dựng thấp hơn so với đường đánh bóng Theo định nghĩa chính thức, bunker là khu vực mà cỏ và đất mặt khu vực ấy được bóc sạch và thay thế bằng cát hay vật liêu tương đương như bọt núi lửa… tùy theo điều kiện tự nhiên ở địa phương Cũng như tất cả các thành phần khác của một đường đánh bóng, bunker không hề có quy tắc và mọi bunker đều khác nhau về kích thức, hình dạng, độ sâu Chúng có thể nằm ở bất cứ đâu, những nơi mà nhà thiết kế cảm thấy thật

sự cần thiết phải cản trở những cú đánh liều lĩnh nhằm vượt qua mặt đối thủ của những người chơi không chuyên Ví dụ: Quanh green, giữa fairway, phía sau những đoạn ngoặt (dogleg), nấp trong rough và trong những vùng được thiết kế nhằm tạo ra ưu thế mạo hiểm (risk reward)

Hình 2.3 Chướng ngại vật hố cát (bunker)

- Water hazard: đó là những hồ chứa nước, cũng là nơi tạo cảnh quan như trồng cây thủy sinh, vòi phun nước

Trang 18

Hình 2.4 Chướng ngại vật hồ nước (water hazard)

2.2 Tổng quan về hai giống cỏ Tifdwarf và TifEagle (Cynodon spp.)

Theo Brosnan và ctv (2008), cỏ gà có tên tiếng Anh là “Bermuda grass”, ở Úc

gọi là “couch grass” và có tên khoa học là Cynodon spp., trước năm 1956 dòng thuần

C dactylon là loại cỏ được sử dụng phổ biến cho thảm cỏ vùng nhiệt đới và cận nhiệt

đới Loại cỏ này được sử dụng nhiều ở Trung Quốc, Ấn Độ, Châu Phi, Úc (Duble, 2010), vùng sa mạc phía Tây Nam và một số vùng ở Đông Nam nước Mỹ (Wenjing pang và ctv., 2010) Loài này có nguồn gốc ở châu phi, tăng trưởng chậm, mật độ dày

và đặc biệt là chịu được giẫm đạp và stress khi khô hạn, phát triển tốt nhất khi có ánh sáng mặt trời đầy đủ (Trenholm và ctv., 1991) Ngoài ra, sử dụng nước ít, chịu được ở

khoảng pH rộng, có khả năng kháng được mặn cao (David, 2003) Tuy nhiên nhược

điểm lớn của dòng thuần là chế độ bảo dưỡng cao, khả năng kháng thấp các loại côn trùng, bệnh hại và tuyến trùng, kháng lạnh và che bóng thấp (Trenholm và ctv., 1991)

Sau thập niên 50, Tifgreen (dòng lai giữa Cynodon dactylon và Cynodon trasvaalensis) được sử dụng phổ biến (Jason và Richard, 1999) Cynodon dactylon (common bermudagrass) có thể tứ bội (2n = 4x = 36) trong khi đó Cynodon trasvaalensis có nguồn gốc ở châu phi tồn tại thể lưỡng bội (2n = 2x = 18) Vì thế dòng lai được tao ra có thể tam bội (2n = 3x = 27) Đặc tính của dòng lai này là không

sản xuất ra hạt giống mà phải nhân giống vô tính (sprigs, stolons và sodding) Điểm thuận lợi của dòng lai này là cải thiện được về chất lượng, màu sắc, mật độ, cũng như chống lại stress bởi bị giẫm đạp và thời tiết khô hạn Thêm vào đó dòng này còn chịu

Trang 19

được độ cao cắt cỏ thấp hơn 1 inch Tuy nhiên điểm không tốt của dòng lai này là chi phí cao trong thiết lập và nhu cầu bảo dưỡng cao hơn (Brosnen, 2008)

2.2.1 Giống cỏ Tifdwarf

Tifdwarf có nguồn gốc từ đột biến của dòng Tifgreen và được tiến hành thử nghiệm đầu tiên vào năm 1962 Được phát hiện từ hai nguồn khác nhau tai một thời

điểm đó là T.M Baumgardner và Marion Mc Kendree tại Sea Island, bang Georgia vào

năm 1962 Cũng tại thời điểm này vườn ươm thảm cỏ phía nam Georgia cũng bắt đầu

bán Tifdwarf từ một nguồn khác (Câu lạc bộ quốc gia Glen Alvin) Tifdwarf cũng là

dòng tam bội thể như Tifton 328 Tifdwarf đã được thử nghiệm và so sánh với Tifton

328 trong ba năm ở Trạm thí nghiệm Georgia và đã chứng minh đặc điểm vượt trội để đưa ra sân cỏ so với Tifton 328 (Darren Moore, 2010) Tifdwarf có một số điểm tương

tự như Tifgreen: lá xanh vừa và mịn, với mật độ chồi cao và tăng trưởng thấp Mặc dù Tifgreen có thể sản xuất hạt giống đứng đầu, tuy nhiên việc sản xuất hạt giống không khả thi Trong khi Tifgreen thường được sử dụng trên sân golf và các lĩnh vực thể thao, nó thường đòi hỏi nhiều quản lý chuyên sâu hơn Tifway và dễ bị tuyến trùng Ngoài các đặc điểm trên Tifdwarf có một số diểm khác với Tifgreen đó là lá có màu tối hơn và lóng ngắn hơn Dòng này được sử dụng nhiều trên sân golf do có màu xanh đậm, mật độ quay cao, khả năng chịu cắt thấp rất cao (<1/8 in) Tuy nhiên nhược điểm

là dễ bị tổn thương do sâu và dế (Brosnan, 2008; Glenn, 2010)

2.2.2 Giống cỏ TifEagle

TifEagle được bắt đầu nghiên cứu từ năm 1969 tại Tifton bằng cách tạo đột biến trong Tifdwarf và Tifgreen 328 TifEagle là một dòng đột biến được tạo ra từ quá trình chiếu xạ đoạn thân (stolons) Tifway II trong năm 1990, tạo thể tam bội (2n = 3x

= 27) bằng chiếu xạ tia gamma ở mức 7.000 đến 9.000 radian từ nguồn cobalt - 60 TifEagle đã được hợp tác tạo ra bởi USDA - ARS và Đại học Georgia vào tháng 8 năm 1997 (Darren Moore, 2010)

Ngoài tên TifEagle còn được gọi là “TW - 72” Đặc điểm của dòng này là có lá mịn, màu xanh đậm và tốc độ tăng sinh chồi cao Dòng này được lựa chọn để tạo sân

cỏ chất lượng cao khi chế độ cắt với 4 mm hoặc thấp hơn, điều này tốt hơn dòng Tifdwarf Khả năng tạo stolons cao hơn Tifdwarf Màu sắc thảm cỏ vẫn tốt ngay cả khi

Trang 20

có điều kiện lạnh Tuy nhiên không chịu được bóng che (Brosnan và ctv, 2008; Darren Moore, 2010)

2.3 Những nghiên cứu hỗn hợp đất

2.3.1 Những nghiên cứu về các vật liệu tạo hỗn hợp đất

Theo Davis (2007) có hai nhóm vật liệu lớn dùng để làm hỗn hợp đất đó là vật liệu hữu cơ và vật liệu vô cơ Các vật liệu hữu cơ bao gồm: than bùn, mụn gỗ, rơm, phân,… các vật liệu vô cơ là các khoáng bao gồm: vermiculite, perlite và cát Ngoài ra

có các vật liệu phổ biến khác như đá tổ ong, diatomite, zeolite (Cale, Dan và Keith, 2000)

Các vật liệu hữu cơ khi thêm vào làm thay đổi tính chất vật lý của đất, tăng khả năng giữ nước và dinh dưỡng nhưng về lâu dài đất có thể bị nén chặt Vì thế, điều cần thiết

là tìm ra nguồn vật liệu vô cơ để làm nguyên liệu trộn với cát Trên cơ sở tận dụng được nguồn nguyên liệu sẵn có của địa phương và những đặc tính của chúng làm làm vật liệu trộn với cát để làm nền Green

2.3.1.1 Khoáng Diatomite

Diatomite còn có tên gọi là Kieselgühr là một loại đá trầm tích với thành phần gồm các khung xương tảo diatome và có nhiều ứng dụng vào công nghiệp nhờ vào tính xốp cao và bền nhiệt và các đặc tính quí giá khác (Hadjar, 2007) Diatomite có màu thay đổi từ trắng xám, vàng đến đỏ tùy thuộc vào thành phần các oxide chứa trong chúng

Diatomite có tính cách nhiệt, không cháy, không hòa tan trong nước, và bền trong không khí Do đó chúng được sử dụng rông rãi làm chất trợ lọc, chất mang xúc tác và chất hấp phụ (Korunic, 1998; Yuan, 2004) Đã có nhiều công trình nghiên cứu

về khả năng ứng dụng Diatomite trên thế giới (Breese, 1994; Onem, 2000)

Tại Việt Nam, nguồn Diatomite có trữ lượng 165 triệu tấn (Nguyễn Thị Thanh Huyền, 2006), trong đó có khu vực mỏ tại huyện Tuy An, Phú Yên với trữ lượng dự báo khoảng 60 triệu tấn Các ứng dụng của Diatomite Phú Yên đã được nghiên cứu và

áp dụng thử nghiệm làm bột trợ lọc trong công nghiệp rượu bia, nước giải khát (Nguyễn Thị Thanh Huyền, 2006) Một số công trình khác đã nghiên cứu sử dụng để sản xuất vật liệu nhẹ, vật liệu chịu nhiệt (Phạm Cẩm Nam, 1998) Bên cạnh đó,

Trang 21

Diatomite còn được nghiên cứu sử dụng làm các chất hấp thụ, chất mang, phụ gia cho công nghiệp xi măng (Trần Thanh Tuấn, 2008)

Bảng 2.1 Thành phần hóa học mẫu diatomite Phú Yên

% khối lượng SiO2 Al2O3 Fe2O3 CaO MgO SO3

(Nguồn: Chi cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng Phú Yên, 2010)

Kết quả bảng 2.1 cho thấy hàm lượng dinh dưỡng trong diatomite khá cao, đặc biệt Ca chiếm 2.2% khối lượng

Điều này chứng tỏ rằng nguồn nguyên liệu Phú Yên là loại diatomite có thành phần khoáng chủ yếu với công thức SiO2.nH2O

Bề mặt diatomite được cho là có các nhóm OH trong silanol (Si-OH) và các cầu nối oxygen trong siloxan (-Si-O-Si-), đây chính là các tâm hấp thụ

2.3.1.2 Khoáng Scoria (đá bazan bọt)

Theo Bộ Tài Nguyên Môi Trường (2008), đá bazan bọt là sản phẩm của núi lửa phun trào chỉ có trên vùng Tây Nguyên và một số ít tại tỉnh Đồng Nai Tuy nhiên, nguồn đá này tập trung nhiều ở khu vực xã Chư M’ga (huyện Chư M’ga) và huyện Krong Na (tỉnh Đắc Lắc) Đây là loại đá có lỗ nhỏ với đặc điểm nhẹ, nhưng lại có độ bền cơ học cao, cách âm và cách nhiệt tốt Loại đá này dùng làm gạch ốp lát cách âm,

cách nhiệt để xây dựng nhà cửa và các công trình xây dựng khác rất tốt

Là loại macma bazan điển hình có cấu tạo xốp, nhiều lỗ rỗng, nhẹ và dễ bị phá hủy Hàm lượng các chất kiềm trong đá cao, riêng CaO và MnO xấp xỉ 20 % Quá trình phá hủy đá giải phóng nhiều Ca và Mg

Cấu trúc lỗ rỗng giúp thoáng khí gấp hàng trăm lần so với bề mặt kết cấu thông thường có vai trò ngăn chặn sự thoát hơi nước, giữ ẩm cho đất, có thể trộn vào đất như chất phụ gia Và nó là một giá thể trồng cây lý tưởng

Tại bình định đá bazan bọt phân bố ở độ cao từ 760 m đến gần 800 m Bazan bọt và bazan ít bọt có màu xám, xám xanh, phong hóa có màu vàng, vàng nâu đỏ, tùy theo mức độ phong hóa Bazan chua bị phong hóa rắn, dòn, bazan phong hóa mềm bở, cấu tạo bọt lỗ rỗng

Trang 22

Bảng 2.2 Kết quả phân tích đá bazan ở Vĩnh Thạnh, Bình Định

Thành phần SiO2 Al2O3 FeO CaO K2O MgO Fe2O3 Na2O

(Nguồn: Sở khoa học và công nghệ Bình Định, 1997)

Kết quả bảng 2.2 cho thấy, hàm lượng dinh dưỡng có trong bazan bọt rất cao Đặc biệt hàm lượng CEC trong đá này rất cao

Kết quả phân tích phẩu diện tại Định Quán, Đồng Nai, cạnh miệng núi lửa, có

Cùng với hematit, nó đã được khai thác như quặng để sản xuất sắt Limonite có màu sậm và màu vàng-nâu Nó là một chất vô định hình rất phổ biến mặc dù có thể gặp khó khăn để tìm thấy khi khai thác với hematit và quặng bog Limonite không bao giờ là kết tinh thành tinh thể vĩ mô, nhưng có thể có ở dạng sợi hoặc cấu trúc vi mô Màu sắc khác nhau từ màu vàng đến nâu Đây là cách để phân biệt nó với hematit (màu đỏ), hoặc với magnetite (màu đen) Đôi khi được gọi là hematit màu nâu hoặc quặng sắt màu nâu Nó được đặt tên từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là đồng cỏ, ám chỉ tới sự xuất hiện của nó là "quặng đầm lầy" trong các đồng cỏ và đầm lầy Độ cứng có thể thay đổi 4 –

Trang 23

5.5 Trọng lượng riêng thay đổi từ 2.9 đến 4.3 (Nguồn: Bách khoa toàn thư mở:

http://en.wikipedia.org/wiki/Limonite)

Hiện nay Sân Golf Thủ Đức sử dụng nguồn khoáng này tại hồ Đại Viên (thuộc

Sân Golf Thủ Đức)

2.3.2 Những nghiên cứu về hỗn hợp đất

Trong những năm gần đây, giới chuyên môn ngành golf đã cân nhắc đến những

tính chất của những chất liệu để xây dựng Green Các tính chất lý học bao gồm: tốc độ

thấm cao, thoáng khí, khả năng trao đổi cation cao, khả năng giữ nước và dinh dưỡng

tốt Green là nơi chịu sự giẫm đạp rất lớn Vì thế trong việc xây dựng trắc diện Green

người ta sử dụng cát để chống lại sự giẫm đạp rất tốt Tuy nhiên, cát có khả năng giữ

nước và trao đổi cation kém, tốc độ thấm nhanh (C-H Ok và ctv., 2001) Vì vậy để

khắc phục nhược điểm của cát, cần phải tìm ra các vật liệu để phối trộn với cát để làm

nền cho Green

2.3.1.2 Nghiên cứu trong nước

Trong nghiên cứu “ Khảo sát một số hỗn hợp đất vùng rễ cỏ green” của Nguyễn Đức

Dũng và Nguyễn Thị Kim Thoa (1995) đã thí nghiệm 5 nghiệm thức:

Bảng 2.4 Các nghiệm thức của Nguyễn Đức Dũng và Nguyễn Thị Kim Thoa (1995)

(Nguồn: Nguyễn Đức Dũng và Nguyễn Thị Kim Thoa, 1995)

Kết quả NT4 đạt sinh trưởng cao nhất và người ta kết luận rằng chất hữu cơ tỉ lệ cao

trong thành phần soilmix không mang lại kết quả tối ưu về sinh trưởng mà phải kết

hợp hài hòa với cát, tuy nhiên tốc độ thấm của nó khá nhanh, giữ ẩm kém Còn các

nghiệm thức chứa nhiều hữu cơ thì ngược lại NT4 là nghiệm thức triển vọng nhất

Tuy nhiên cần khắc phục những nhược điểm nói trên và họ đã đề nghị công thức sau:

70 % Cát, 10 % than bùn, 10 % tro trấu, 10 % phân hữu cơ

Trang 24

2.3.3 Những nghiên cứu ngoài nước:

Trong thí nghiệm của C-H Ok và ctv (2001), đã thực hiện thí nghiệm với bốn nghiệm thức: California (100 % cát), USGA (90 % cát, 10 % than bùn), California-P (82 % cát, 15 % đá tổ ong, 3 % humat), California-Z (85 % cát, 15 % zeolite) Kết quả

là nghiệm thức California-P và California-Z có màu sắc và chất lượng thảm cỏ tốt hơn

so với nghiệm thức còn lại Tính thấm và trọng lượng rễ của nghiệm thức California-Z đạt cao nhất so với ba nghiệm thức còn lại Hàm lượng dinh dưỡng trong đất như CEC,

Ca, Mg ở nghiệm thức California-P đạt cao nhất Hàm lượng dinh dưỡng đạm, lân đạt cao nhất ở nghiệm thức California-Z Kết quả cho thấy hai nghiệm thức California-P

và California-Z có dấu hiệu tốt cho sự sinh trưởng của cỏ

Theo nghiên cứu của Marvin (1955) thì than bùn chiếm tối đa là 20 % trong hỗn hợp, còn đối với thành phần sét thì từ 5 - 8 % là tốt Trường hợp lớn hơn 10% thì đất dễ bị nén Đối với thịt, cát rất mịn thì tính chất của sét nên cũng giảm hàm lượng này Tùy vào thành phần các hạt khác nhau mà có tỉ lệ hỗn hợp khác nhau Họ đã đưa

ra 3 công thức khắc phục được nhược điểm của cát Đó là các hỗn hợp (HH): HH1 (85

% cát thô, 15 % than bùn), HH2 (35 % thịt, 15 % than bùn, 50 % cát thô), HH3 (10 % sét nặng, 15 % than bùn, 75 % cát thô) Với cát thô có kích thước (0,2-2 mm), cát mịn

và thịt (0,002 – 0,2 mm), sét (< 0,002 mm)

Wayne Crawley và David Zabcik (1985) đã nghiên cứu sử dụng đá trân châu (perlite) để làm hỗn hợp đất Ở đây tác giả sử dụng cát trung bình trộn với đá trân châu Khi thêm đá trân châu vào cát thì tính thấm rút giảm đi, tăng khả năng giữ nước

và chất dinh dưỡng, giảm dung trọng

Trang 25

Bảng 2.5: Yêu cầu về tính chất của hỗn hợp đất

Độ rỗng 40-55% Khả năng giữ nước 12-25%

Thịt 5% Sét 3% (USGA, 1973)

Tùy vào thành phần sét có trong cát mà có có tỉ lệ hỗn hợp đất khác nhau Sử dụng cát

trung bình với 20 % đá trân châu cũng có khả năng giữ nước khá Trong số ba cát thử

nghiệm, chỉ có cát trung bình với 1,5 % và 3,0 % đất sét và cát đất sét thô với 1.5 %

đáp ứng được các khuyến cáo của USGA cho bùn và đất sét Các loại cát có sét chiếm

1,5-4,5 % và 20 % đá trân châu theo thể tích đáp ứng tất cả các yêu cầu USGA về vật

lý Cát mịn hoặc thô cũng có thể đáp ứng tất cả các tiêu chuẩn này Kết quả của nghiên

cứu này chứng minh rằng đá trân châu có lợi về đặc tính vật lý của các loại đất quan

trọng đối với việc xây dựng vùng rễ của Green Một ưu điểm khác của đá trân châu

không giống như vật chất chất hữu cơ khác, đá trân châu trơ trong hỗn hợp đất và do

đó không thay đổi đáng kể theo thời gian

Trang 26

Chương 3

PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian, địa điểm nghiên cứu

3.1.1 Thời gian nghiên cứu

Từ đầu tháng 15/2/2011-15/6/2011

3.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Khu đất trước nhà nông cơ thuộc sân golf Thủ Đức

Về thành phần dinh dưỡng (xem ở chương 3)

Yếu tố 2: Có 2 giống cỏ cho Green:

V1: Tifdwarf

V2: TifEagle

Hai giống cỏ này được lấy từ 2 sân (sân đông và sân tây) của sân golf Thủ đức Về đặc

điểm của từng giống cỏ (xem ở chương 3)

Đây là thí nghiệm 2 yếu tố (2 giống cỏ x 4 loại hỗn hợp đất) với 8 nghiệm thức Bố trí thí nghiệm theo kiểu lô sọc với 3 lần lập lại

Trang 27

Sơ đồ thí nghiệm bố trí theo kiểu khối lô sọc với 3 lần lập lại có như hình vẽ 3.1

Rep I Rep II Rep III

Hình 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm kiểu lô sọc 3.3 Số liệu thu thập và chỉ tiêu theo dõi

3.3.1 Thu thập và phân tích mẫu đất

Dụng cụ lấy mẫu: dùng dụng cụ lấy mẫu đất như hình 3.2

Hình 3.2 Dụng cụ lấy mẫu đất

Thời gian lấy mẫu: tại thời điểm sau khi trồng 2 tuần và sau 2 tháng

Cách lấy mẫu: lấy theo đường chéo góc như hình 3.3 và lấy ở độ sâu 10 cm

Hình 3.3 Vị trí lấy mẫu đất trên một lô thí nghiệm đơn vị

Trang 28

Phân tích hóa tính

¾ pH: sử dụng pH kế đo với tỉ lệ 1:2,5 (đất: nước cất)

¾ Chất hữu cơ (OM): phân tích bằng phương pháp Walkley Black

o Cân chính xác từ 0,1 - 0,5 g đất đã qua rây 1 mm + hút chính xác 10 ml K2Cr2O7 1N vào trong mẫu đất, lắc đều + hút 10ml H2SO4 đậm đặc chovào từ từ để đảm

bảo đất tác dụng đều với hóa chất, để yên hỗn hợp 20 phút

o Nếu dung dịch có màu lục, do lượng đất quá nhiều, lượng K2Cr2O7 đều bị khử Nếu dung dịch có màu đỏ, do lượng đất quá ít, lượng K2Cr2O7 quá thừa Trong 2

trường hợp trên không nên tiếp tục, phải cân lượng đất cho phù hợp

o Đun mẫu nhẹ có đậy phểu bên trên, để nguội

o Hút 1 ml H3PO4 đậm đặc cho vào mẫu đất đã đun nhẹ trên (giúp đổi màu nhanh) +

nhỏ 1 - 2 giọt thuốc thử Diphenylamine

o Chuẩn độ mẫu bằng dung dịch muối Morh Dung dịch thể hiện màu từ nâu đỏ →

¾ Đạm dễ tiêu: sử dụng phương pháp Kjendahl

o Cân 10 g đất tươi cho vào hủ nhựa, thêm KCl 2 N Lắc bằng máy lắc trong 1 giờ Sau đó lọc dịch qua giấy thấm Lấy dịch sau lọc đem chưng cất bằng máy Kjendahl

o Cách chưng cất: Rút 20 ml dịch mẫu vào ống chưng cất, cho thêm 0,2 g Dervada, và chưng cất trên máy Dịch sau khi chưng cất cho vào bình tam giác chứa 5 ml H3BO4 và đem dịch đó chuẩn độ bằng dung dịch H2SO4 0,05 N

Trang 29

Cách tính:

NO-3 mg/100g =

m

* Vm

K

* 10000

*

Mn

* Na

* Vb) (Va −

Trong đó:

Va: Thể tích H2SO4 0,05 N chuẩn độ mẫu thí nghiệm

Vb: Thể tích H2SO4 0,05 N chuẩn độ mẫu Blank

Na: Nồng độ duong lượng H2SO4

Mn: khối lượng phân tử của Nitơ

K: Hệ số khô kiệt

Vm: Thể tích mẫu

m: Khối lượng mẫu

¾ Phân tích chỉ tiêu P dễ tiêu: Phương pháp so màu

o Cân 1 g đất + 7 ml Bray 2 vào bình nhựa lắc 5 phút rồi lọc bằng giấy lọc

o Rút 2 ml dung dịch lọc + 1 giọt 4 - nitrophenol vào bình tam giác nhỏ từng giọt NaOH đến khi xuất hiện màu vàng + 2 ml dung dịch B => lên thể tích 50 ml bằng nước cất

o So màu bằng bước sóng 882 µm

o Cách tính

Trong đó:

Reading: tính từ phương trình đường chuẩn

V: thể tích cuối cùng để so màu (50 ml)

M: khối lượng mẫu đất (2 g)

v: thể tích hút dịch lọc

Lập thang chuẩn ppm P Số ml dung dịch 25ppm P trong 50ml

0 0 2.5 5

5 10

Trang 30

¾ Phân tích chỉ tiêu K dễ tiêu: Phương pháp Matlova

o Cân 10 g đất + 100 ml CH3COONH4 1 N lắc trong 1 giờ phút rồi lọc

o Chuẩn bị mẫu đo: hút 5 ml mẫu + 0,5 ml Cs 20.000 ppm lên thể tích 25 ml

o Đo K bằng máy hấp thu nguyên tử

¾ Khả năng trao đổi cation (CEC): phân tích bằng máy hấp thu nguyên tử

− Cân chính xác 10 g đất khô không khí đã qua rây vào bình tam giác 100 ml + 100

ml CH3COONH4 1 N → lắc 30 phút → lọc Dịch này sử dụng phân tích Ca, Mg,

Na và Kali dễ tiêu trong đất

− Xác định tổng lượng Ca2+ + Mg2+ trao đổi

o Hút 10ml dịch lọc + 10ml H20 cất + 10 ml pH10 + 1 ít NET → định phân với EDTA 0,01N, dịch từ màu tím → xanh (V1)

o Nếu sự đổi màu khó nhận thấy có thể do sự hiện diện của nhiều phosphate, đưa pH của dung dịch lên pH 10 bằng cách thêm 5 - 10 ml dung dịch đệm pH 10, nếu nghi ngờ nên kiểm chứng pH bằng pH kế hay giấy thử pH

o Làm 1 mẫu đối chứng: thực hiện trong cùng điều kiện nhưng không có dịch lọc để

15 30

Trang 31

− Nếu sự đổi màu khó nhận thấy có thể do sự hiện diện của nhiều phosphate, đưa pH của dung dịch lên trên pH 12 bằng cách thêm 5 - 10 ml NaOH 10%, nếu nghi ngờ nên kiểm chứng pH

− Làm 1 mẫu đối chứng: thực hiện trong cùng điều kiện nhưng không có dịch lọc để

V1 : thể tích tổng lượng Ca2+ + Mg2+ trao đổi (ml)

V2 : thể tích lượng Ca2+ trao đổi (ml)

− Dùng đất này xác định hệ số khô kiệt và xác định khối lượng đất khô tuyệt đối

− Dung trọng của đất được tính: dv= P/V

− Trong đó:

dv: dung trọng (g.cm-3)

P: khối lượng đất khô tuyệt đối (g)

Trang 32

V: thể tích ống ring (thể tích đất) (cm3)

¾ Độ rỗng: Đánh giá theo Katrinski

Theo USDA (1999), Độ rỗng (%) = 1- (dung trọng/2,65)

¾ Tốc độ thấm: theo USDA (1999)

− Dùng ring có đường kính 6 in (15 cm)

− Đóng ring xuống để lại 1/3 chiều cao

− Dùng bao nylon mỏng đặt vao sao cho phủ bề mặt trên của ring

− Rót 666 ml (1,5 in) nước đổ vào bao nylon Sau đó rút nhẹ và bấm giờ tính thời

gian thấm

− Lập lại nhiều lần (xem hình 3.4)

Hình 3.4 Đo tốc độ thấm ngoài đồng 3.3.2 Thu thập và đánh giá mẫu cỏ

Dụng cụ lấy mẫu cỏ: dùng dụng cụ đục lỗ cờ (hold cutter) Đó là dụng cụ có đường kính 4,1 in (10,4 cm) Lấy mẫu cỏ với độ sâu 20 cm (Xem hình 3.5)

Trang 33

Hình 3.5 Dụng cụ đục lỗ cờ

Thời gian lấy mẫu: sau trồng 30, 60 và 90 ngày sau trồng Theo nghiên cứu của đại học Georgia (2010), thảm cỏ sau 30 ngày có thể đan xen được 50 %, sau 45 ngày

có thể che phủ 80 % và sau 60 ngày thảm phủ có thể đạt 100 %

Cách lấy mẫu: lấy mẫu theo hình tam giác, lần lấy mẫu sau không trùng với lần trước

rễ Sau đó đưa khối đất trên vào thau nước rửa nhẹ cho ra hết lớp cát Đem phần cỏ

đo lại chiều dài rễ Chiều dài rễ được tính từ nơi giáp giữa các chồi ngang và rễ, đo

đến sợi rễ dài nhất (Xem hình 3.7)

Trang 34

Hình 3.7 Đo chiều dài rễ

− Mật số chồi/đơn vị diện tích: Đem số chồi vừa tách đếm mật độ Chỉ những chồi

còn ngọn và có màu xanh mới tính

− Trọng lượng khô của chồi, rễ: Sau khi đếm mật độ chồi đem đi sấy ở nhiệt độ 600C

đến khi trọng lượng không đổi đem cân trọng lượng khô

Trang 35

Hình 3.8 Lấy cỏ giống từ vườn ươm

− Các dụng cụ khác: xẻng, cuốc, cào cỏ, nẹp tre, nylon chắn

Trộn hỗn hợp đất

Chia lô thí nghiệm và đổ cát lên 9 cm trên cát đã có sẵn Sau đó làm bằng phẳng Đổ 0,3 m3 lên mỗi ô 30 m2 và trộn đều lên nhiều lần

Hình 3.9 Trộn hỗn hợp đất Tiến hành trồng

Lấy cỏ ngoài vườn ươm Tifdwarf và TifEagle bằng máy Rải trên bề mặt 15 kg cỏ cho ô 15 m2 Sau đó rải một lớp cát mỏng trên bề mặt cỏ

Trang 36

Hình 3.10 Rải lớp cát mỏng sau khi rải cỏ Bón phân

- Bón lót: bón 20g.m-2 các loại: Vôi, DAP, hữu cơ Bình Điền trước khi trồng

- Bón lần 1: 15 g.m-2 Urea sau 1 tuần bón lót

- Bón lần 2: 20 g.m-2 NPK 16-8-16 sau 1 tuần bón lần 1

- Bón lần 3: 15g.m-2 Calcium Amonium Nitrat sau 1 tuần bón lần 2

Các tuần sau bón xoay vòng trở lại (bắt đầu lại lần 1, lần 2 và lần 3)

Trang 37

3.5 Phân tích thống kê

Số liệu về lý hóa tính và ảnh hưởng của hỗn hợp đất được xử lý thống kê, trắc nghiệm phân hạng bằng phần mềm SAS

Trang 38

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Những kết quả về lý tính và hóa tính của đất

Sau kết khi trồng 14 ngày lấy mẫu đo tính chất vật lý của các hỗn hợp đất ban đầu, nó vừa là cơ sở của việc chọn lựa hỗn hợp đất và còn dùng để đánh giá sự thay đổi lý tính sau này Kết quả này thể hiện ở bảng 4.1a Cụ thể phân tích thống kê xem ở phụ lục

Bảng 4.1a Tính chất vật lý của hỗn hợp đất vùng rễ ban đầu

Dựa vào bảng 4.1a Kết quả cho thấy, tốc độ thấm của nghiệm thức (NT) S1 (100% cát) cao nhất Kết quả trắc nghiệm phân hạng của các NT cho thấy nghiệm thức S1 có sự khác biệt có ý nghĩa so với các NT còn lại NT S3 có tốc độ thấm trung bình

và sự khác biệt có ý nghĩa so với nghiệm thức còn lại NT S2 và S4 có tốc độ thấm thấp nhất và không có sự khác biệt giữa 2 NT này Tuy nhiên, có khác biệt có ý nghĩa

so với NT S1 và S3

Về dung trọng của hỗn hợp đất, bảng 4.1a cho thấy Dung trọng của NT S4 là cao nhất, NT S2 thấp nhất.

Trang 39

Về độ rỗng hỗn hợp đất Kết quả bảng 4.1a cho thấy độ rỗng của NT S1 cao nhất và thấp nhất là NT S4

Sau 2 tháng trồng tiến hành lấy mẫu đánh giá sự thay đổi về tính chất vật lý của hỗn hợp đất so với vật liệu ban đầu Kết quả thể hiện ở bảng 4.1b Cụ thể phân tích thống kê xem ở phụ lục 4, 5, 6

Bảng 4.1b Tính chất vật lý của hỗn hợp đất vùng rễ sau 60 ngày trồng

Dựa vào 4.1b Kết quả cho thấy, NT S1 có tốc độ nhanh nhất và sự khác biệt rất

có ý nghĩa so với các NT còn lại NT S4 có tốc độ thấm chậm nhất và không khác biệt với NT S2 Tuy nhiên có sự khác biệt rất có ý nghĩa so với các NT khác Sau 2 tháng trồng tốc độ thấm có chiều hướng giảm Tuy nhiên, sự thay đổi không đáng kể so với ban đầu Sự thay đổi này là do thảm cỏ đã được hình thành và sự thay đổi về thành phần cơ giới của hỗn hợp đất

Theo tiêu chuẩn của USGA (1973) tính chất của hỗn hợp đất thì dung trọng của đất nằm trong khoảng 1,2 – 1,6 g/cm3, độ rỗng 40 – 55 % Dung trọng của đất càng cao thì độ rỗng càng thấp Điều đó có nghĩa là đất càng bị nén chặt, dẫn đến bộ rễ sinh trưởng kém

Dựa vào bảng 4.1b Kết quả cho thấy, NT S4 có dung trọng cao nhất và sự khác biệt có ý nghĩa so với NT S1 Các NT S2, S3, S4 và S1, S2, S3 sự khác biệt không có

ý nghĩa Độ rỗng là yếu tố tương quan nghịch với dung trọng, NT S4 có độ rỗng thấp nhất và sự khác biệt có ý nghĩa so với NT S4 Các NT S1, S2, S3 sự khác biệt không

có ý nghĩa Các NT S2, S3, S4 sự khác biệt cũng không có ý nghĩa Sau 2 tháng, dung trọng có chiều hướng tăng ở loại khoáng Limonite khá nhanh, vượt quá ngưỡng cho

Trang 40

phép theo khuyến cáo của USGA (1973) Vì thế trong trường hợp này không chọn khoáng này

Qua 2 bảng đây ta thấy, tốc độ thấm cũng như dung trọng và độ rỗng của các loai hỗn hợp đất có thể cải thiện được nhược điểm của cát Có thể lựa chọn 2 loại khoáng có những tính chất vượt trội đó là: Scoria và Diatomite

Trong cùng với khoảng thời gian đo lý tính của đất Lấy mẫu đất do tính chất hóa học của các hỗn hợp đất Kết quả về hóa tính của hỗn hợp đất lúc mới trồng và sau

2 tháng được thể hiện ở bảng 4.2a và 4.2b

Bảng 4.2a Tính chất hóa học của các hỗn hợp đất ban đầu

Dựa vào bảng 4.2a Kết quả cho thấy, về pH của các hỗn hợp đất, NT S1 có pH cao nhất sự khác biệt rất có ý nghĩa so với các NT còn lại Các NT S2, S3, S4 sự khác biệt không có ý nghĩa Về khả năng trao đổi cation (CEC) của hỗn hợp đất, NT S3 hàm lượng cao nhất và sự khác biệt có ý nghĩa so với các NT còn lại NT S1 có hàm lượng thấp nhất Tuy nhiên, sự khác biệt không có ý nghĩa so với hai NT còn lại Về hàm lượng chất hữu cơ (OM) trong hỗn hợp đất, NT S2 có hàm lượng mùn cao nhất và sự khác biệt có ý nghĩa so với các NT còn lại NT S1 có hàm lượng OM thấp nhất, và sự khác biệt có ý nghĩa so với NT S2, S4 Nhưng giữa NT S3, S1 và S3, S4 sự khác biệt không có ý nghĩa Về hàm lượng đạm dễ tiêu trong đất, NT S4 có lượng đạm dễ tiêu cao nhất và không có sự khác biệt với NT S3 NT S1 có lượng đạm thấp nhất và sự khác biệt có ý nghĩa so với các NT còn lại Đối với hàm lượng lân dễ tiêu trong đất NT S3 có hàm lượng cao nhất, không khác biệt so với NT S4 và sự khác biệt rất có ý nghĩa so với các NT còn lại Đối với Ca và Mg, hàm lượng cao nhất ở NT S3 và sự

Ngày đăng: 11/06/2018, 08:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w