TÓM TẮT Đề tài nghiên cứu “ khảo sát 3 giống hoa mười giờ và 2 loại phân bón lá đến sự sinh trưởng và phát triển trên vùng đất xám Thủ Đức ” được tiến hành tại trại thực nghiệm Nông họ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT 3 GIỐNG HOA MƯỜI GIỜ VÀ 2 LOẠI PHÂN BÓN LÁ ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN
Trang 2KHẢO SÁT 3 GIỐNG HOA MƯỜI GIỜ VÀ 2 LOẠI PHÂN BÓN LÁ ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN
Giảng viên hướng dẫn
ThS NGUYỄN THỊ THANH HƯƠNG
Tháng 8/2011
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt khoá luận tốt nghiệp ngoài sự nổ lực của bản thân, tôi còn
được sự giúp đỡ tận tình của các nhân và tập thể Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết
ơn sâu sắc đến:
Cô giáo ThS Nguyễn Thị Thanh Hương đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi
trong suốt thời gian thực hiện đề tài và viết khóa luận tốt nghiệp
Khoa Nông Học, Bộ môn Nông Hóa – Thổ Nhưỡng cùng tất cả các thầy cô giáo
của trường Đại học Nông Lâm TP.Hồ Chí Minh đã hết lòng giảng dạy và truyền đạt
cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập tại trường
Cuối cùng với lòng biết ơn sâu sắc xin dành cho bố mẹ, bạn bè đã chia sẽ, động
viên và giúp đỡ tôi trong cuộc sống, trong học tập, đặc biệt trong thời gian thực hiện
đề tài để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu “ khảo sát 3 giống hoa mười giờ và 2 loại phân bón lá đến sự
sinh trưởng và phát triển trên vùng đất xám Thủ Đức ” được tiến hành tại trại thực
nghiệm Nông học - trường Đại học Nông Lâm, phường Linh Trung, huyện Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh, được thực hiện tháng 03/2011 đến tháng 05/2011
Nội dung nghiên cứu
Khảo sát khả năng sinh trưởng và phát triển của 3 giống hoa mười giờ: mười giờ ta, mười giờ Thái, mười giờ sam
Khảo sát hiệu quả của phân bón lá ảnh hưởng lên hoa mười giờ
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hai yếu tố theo kiểu lô phụ, 3 lần lặp lại Yếu tố chính là 3 giống hoa mười giờ được mã hóa là B1, B2, B3.Yếu tố phụ là 2 loại phân bón lá và đối chứng ( nước lã) được mã hóa là A1, A2, A3
Kết quả đạt được
Số nhánh: đối với số nhánh cấp 1 mười giờ ta cho số nhánh cấp 1 cao nhất; phân Đầu Trâu 009 giúp cây sinh trưởng, phát triển tốt cho số nhánh nhiều nhất Đối với số nhánh cấp 2 mười giờ sam cho số nhánh cấp 2 cao nhất; phân Đầu Trâu 009 giúp cây sinh trưởng và phát triển tốt cho số nhánh nhiều nhất
Chiều dài nhánh: đối với nhánh cấp 1 chiều dài nhánh cấp 1 của mười giờ sam
là dài nhất; phân Đầu Trâu 009 giúp cây sinh trưởng và phát triển tốt giúp nhánh ra dài Đối với số nhánh cấp 2 chiều dài nhánh cấp 2 của mười giờ Thái là dài nhất; phân Đầu Trâu 009 giúp cây sinh trưởng và phát triển tốt cho nhánh dài nhất
Số lá: đối với số lá cấp 1: mười giờ sam cho số lá cấp 1 nhiều nhất.; phân Đầu Trâu 009 giúp cây sinh trưởng và phát triển tốt cho số lá nhiều hơn so với phân Growmore 20-20-20, đối chứng Đối với số lá cấp 2: mười giờ Thái cho số lá cấp 2 nhiều nhất, phân Đầu Trâu 009 giúp cây sinh trưởng và phát triển tốt cho số lá nhiều hơn so với phân Growmore 20-20-20, đối chứng
Số nụ: mười giờ Thái cho số nụ nhiều hơn mười giờ ta, mười giờ sam Phân Đầu Trâu 009 giúp cây sinh trưởng và phát triển tốt cho số nụ nhiều hơn phân Growmore 20-20-20, đối chứng
Trang 5Số hoa: mười giờ sam cho số hoa nhiều hơn mười giờ Thái, mười giờ ta Phân Đầu Trâu 009 giúp cây sinh trưởng và phát triển tốt cho số hoa nhiều hơn phân Growmore 20-20-20, đối chứng
Đường kính hoa: hoa mười giờ Thái có đường kính hoa lớn nhất Phân Đầu Trâu 009 giúp cây phát triển tốt để cho hoa to nhất
Khả năng tạo thảm phủ: mười giờ Thái tạo thảm phủ nhanh hơn mười giờ ta, mười giờ sam Phân Đầu Trâu giúp cây sinh trưởng và phát triển tốt tạo thảm phủ nhanh hơn phân Growmore 20-20-20, đối chứng
Trọng lượng khô: mười giờ sam cho trọng lượng khô nhiều nhất Phân Đầu Trâu 009 được cây hấp thụ nhiều hơn phân Growmore 20-20-20, đối chứng
Tóm lại: qua kết quả nghiên cứu trên cho thấy giống mười giờ Thái có khả năng sinh trưởng và phát triển thích hợp để trồng tạo thảm phủ và làm đẹp cảnh quan kết hợp với phân Đầu Trâu 009 thích hợp cho hoa mười giờ sinh trưởng và phát triển tốt hơn phân Growmore 20-20-20
Trang 6MỤC LỤC
Trang
TRANG TỰA i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
DANH SÁCH CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT viii
DANH SÁCH CÁC BẢNG ix
DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ ix
DANH SÁCH CÁC HÌNH xi
Chương 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích 2
1.3 Yêu cầu 2
1.4 Giới hạn 2
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Tình hình sản xuất hoa cây cảnh 3
2.1.1 Trên thế giới 3
2.1.2 Trong nước 5
2.2 Nguồn gốc và đặc điểm thực vật học hoa mười giờ 8
2.2.1 Nguồn gốc 8
2.2.2 Đặc điểm thực vật học 9
2.2.2.1 Hoa mười giờ ta 9
2.2.2.2 Hoa mười giờ Thái: 9
2.2.2.3 Hoa mười giờ sam: 9
2.3 Các loại phân bón lá dùng trong thí nghiệm 10
2.3.1 Growmore 20-20-20+ TE 10
Trang 72.3.2 Phân Đầu Trâu 009 10
Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 11
3.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm 11
3.1.1 Thời gian thực hiện thí nghiệm 11
3.1.2 Địa điểm thực hiện thí nghiệm 11
3.2 Điều kiện khí hậu tự nhiên 11
3.3 Đặc tính lý hóa của đất trước thí nghiệm 12
3.4 Vật liệu thí nghiệm 12
3.5 Phương pháp thí nghiệm 12
3.5.1 Bố trí thí nghiệm 12
3.5.2 Các nghiệm thức thí nghiệm 13
3.5.3 Sơ đồ thí nghiệm 13
3.6 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 13
3.6.1 Các chỉ tiêu theo dõi 13
3.6.2 Phương pháp theo dõi 14
3.7 Chỉ tiêu và phương pháp phân tích 15
3.7.1 Chỉ tiêu 15
3.7.2 Phương pháp phân tích 15
3.8 Xử lý số liệu 15
Chương 4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 16
4.1 Chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển của cây hoa mười giờ 16
4.1.1 Số nhánh 16
4.1.2 Tốc độ ra nhánh (số nhánh/cây/ngày) 20
4.1.3 Chiều dài nhánh 22
4.1.4 Tốc độ tăng trưởng chiều dài nhánh (cm) 26
4.1.4 Số lá các cấp (lá/nhánh) 28
Trang 84.1.5 Tốc độ ra lá (số lá/nhánh/cây) 32
4.1.6 Số nụ (nụ/cây/m2) 34
4.1.7 Số hoa (hoa/cây/ m2) 34
4.1.8 Đường kính hoa (cm) 35
4.2 Trọng lượng khô (g/m2) 36
4.3 Thời gian che phủ đất (NST) 37
4.4 Chi phí đầu tư 38
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 39
5.1 Kết luận 39
5.2 Đề nghị 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 41 PHỤ LỤC
Trang 9DANH SÁCH CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Ký hiệu Diễn giải
Trang 10DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Số liệu khí tượng của khu vực thành phố Hồ Chí Minh 11
Bảng 3.2 Một số đặc tính của đất trước thí nghiệm 12
Bảng 4.1 Ảnh hưởng của các giống hoa và các loại phân bón lá lên số lượng nhánh cấp 1 của hoa mười giờ 16
Bảng 4.2 Ảnh hưởng của các giống hoa và các loại phân bón lá lên số lượng nhánh cấp 2 của hoa mười giờ 18
Bảng 4.3 Ảnh hưởng của các giống hoa và các loại phân bón lá lên chiều dài nhánh cấp 1 của hoa mười giờ 22
Bảng 4.4 Ảnh hưởng của các giống hoa và các loại phân bón lá lên chiều dài nhánh cấp 2 của hoa mười giờ 24
Bảng 4.5 Ảnh hưởng của các giống hoa và các loại phân bón lá lên số lá cấp 1 của hoa mười giờ 29
Bảng 4.6 Ảnh hưởng của các giống hoa và các loại phân bón lá lên số lá cấp 2 của hoa mười giờ 30
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của các giống và loại phân bón lá lên số nụ hoa 34
Bảng 4.8 Ảnh hưởng của các giống hoa và các loại phân bón lá lên số hoa 34
Bảng 4.9 Ảnh hưởng của các giống và các loại phân bón lá lên đường kính hoa 35
Bảng 4.10 Ảnh hưởng của các giống hoa và các loại phân bón lá lên trọng lượng khô của hoa mười giờ 36
Bảng 4.11 Ảnh hưởng của các giống hoa và các loại phân bón lá lên thời gian phủ đất của hoa mười giờ 37
Bảng 4.12 Chi phí đầu tư 38
Trang 12DANH SÁCH CÁC HÌNH
Trang
Hình 1 Toàn cảnh khu thí nghiệm ( giai đoạn 14 ngày sau khi trồng) 44
Hình 2 Toàn cảnh khu thí nghiệm ( giai đoạn 21 ngày sau khi trồng) 44
Hình 3 Toàn cảnh khu thí nghiệm (giai đoạn 28 ngày sau khi trồng) 45
Hình 4 Toàn cảnh khu thí nghiệm ( giai đoạn 35 ngày sau khi trồng) 45
Hình 5 Toàn cảnh khu thí nghiệm ( giai đoạn 42 ngày sau khi trồng) 46
Hình 6 Nghiệm thức A1B1 đã phủ hết ô thí nghiệm 46
Hình 7 Hoa mười giờ ta 47
Hình 8 Hoa mười giờ Thái 48
Hình 9 Hoa mười giờ sam 49
Trang 13Chương 1 GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Từ lâu hình ảnh hoa mười giờ đã khá quen thuộc với người dân Việt Nam qua những câu thơ hay qua bài hát “ hoa mười giờ” khá nổi tiếng của nhạc sĩ Đài Trang Hoa mười giờ được nhân dân ta truyền tụng rằng : “hỡi ai đi đông về tây, thuốc tiên chữa bỏng là cây mười giờ, lấy cây mười giờ giã nhỏ đắp ngay, vừa đắp vừa trở liền tay, vết bỏng hết rát khỏi ngay tức thì” Hoa mười giờ còn được trồng làm cây cảnh rất đẹp: hoa trồng trong chậu nhỏ trưng trước hiên nhà hay được trồng trong chậu xung quanh dưới cây cảnh lớn hay trồng làm thảm hoa trước ngõ tô điểm thêm vẻ đẹp thanh bình cho ngôi nhà
Ngày xưa, nhân dân trồng hoa mười giờ gọi là hoa mười giờ ta, hoa chủ yếu màu tím hồng hay màu trắng phớt hồng Ngày nay, dựa vào nhu cầu thưởng thức cái đẹp của nhân dân, nước ta đã nhập về một số giống hoa mười giờ ngoại nhập với nhiều màu sắc: đỏ, hồng, cam, vàng, trắng Với nhiều giống mười giờ nhiều màu sắc như hiện nay, hoa mười giờ được ứng dụng rất nhiều trong hoa viên cây cảnh: hoa được trồng trong chậu nhỏ làm hoa treo, trồng làm thảm hoa ở các công viên hay dọc các đường xa lộ, trồng trang trí cho khu vườn tại nhà
Hoa mười giờ được nhân dân ta trồng khá phổ biến vì hoa có những ưu điểm sau: Chịu hạn tốt, không kén đất Dễ trồng chỉ cần cắt ngang thân giâm xuống đất là sống Khả năng phủ đất nhanh, giữ ẩm cho đất Yêu cầu dinh dưỡng không cao Ít sâu bệnh Hạn chế xói mòn đất Cạnh tranh cỏ dại Một giống nhưng có nhiều màu sắc nên làm đẹp cảnh quan và là thuốc chữa bỏng hiệu nghiệm mà nhiều người chưa được biết
đến nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “khảo sát 3 giống hoa mười giờ và 2
loại phân bón lá đến sự sinh trưởng và phát triển trên vùng đất xám Thủ Đức”
Trang 141.2 Mục đích
- Tìm ra giống hoa mười giờ có hiệu quả cao trong việc kết hợp với phân bón lá
để tạo thảm phủ nhanh, tạo nhiều hoa to và đẹp nhằm tôn vinh cảnh quan
Trang 15Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tình hình sản xuất hoa cây cảnh
2.1.1 Trên thế giới
Hiện nay, các nước như Hà Lan, Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản, Trung Quốc được xem là những nước sản xuất hoa lớn nhất trên thế giới Ngành sản xuất hoa đã trở thành ngành thương mại mang lại lợi nhuận cao của những nước trên
Ở Hà Lan, công nghiệp hoa được coi là ngành sản xuất mũi nhọn trong nền kinh tế
Hà Lan Ngành công nghiệp hoa Hà Lan có từ rất lâu đời, mà tiêu biểu nhất là loài hoa tulip xuất hiện từ thế kỷ XVII Từ những năm 1970, việc sản xuất và xuất khẩu hoa đã mang lại lợi nhuận khổng lồ cho quốc gia này Năm 1996, Hà Lan có khoảng 2 triệu hécta đất nông nghiệp, trong đó 109.000ha trồng hoa, quả, làm vườn, 12.200 ha trồng hoa và rau trong nhà kính; 108.000 trang trại hoa với khoảng 135.000 công nhân làm việc thường xuyên Năm 2005, nông dân Hà Lan đã tạo ra 17 tỷ Euro bằng việc xuất khẩu hoa FloraHollan và Aalseer là 2 trung tâm đấu giá hoa lớn nhất Hà Lan Lượng hoa giao dịch qua các bảng điện tử ở đây chiếm khoảng 60% sản lượng hoa trên thị trường thế giới (http://www2.hcmuaf.edu.vn)
Đối với ngành hoa Ấn Độ đã có những bước khởi sắc đáng kể nhờ nhu cầu tiêu thụ hoa tươi ở khu vực EU tăng cao Những loại hoa của Ấn Độ đang được tiêu thụ mạnh ở
EU có thể kể đến như hồng Hà Lan, hoa đồng tiền và hoa cẩm chướng Bên cạnh những vùng trồng hoa lớn như Bangalore, Kolkata và Pune, hoa từ một số khu vực mới như Surat ở Navasari- phía nam Gujarat - Ấn Độ cũng đã dần tìm được chỗ đứng trên thị
trường Theo đại diện cơ sở xuất khẩu ở Navasari, số lượng các dự án kinh doanh hoa ở
hai khu vực Surat và Navasari tăng mạnh trong thời gian qua là bằng chứng chứng tỏ xu
Trang 16hướng phát triển nhanh chóng của ngành hoa Ấn Độ Theo thống kê, nếu như trong năm
2003 dự án trồng hoa đầu tiên được triển khai ở Gujarat và ngày nay đã có trên 64 dự án như vậy ở hai khu vực này, diện tích đất trồng hoa ở Ấn Độ cũng tăng mạnh đạt 60-70 hecta trong năm 2007, gấp trên 10 lần năm 2003 (http://www.rauhoaquavn.vn)
Những loại hoa trồng nhiều ở phía nam Gujarat là hồng Hà Lan, hoa đồng tiền và cẩm chướng Hoa lili cũng được trồng ở Navasari nhưng chủ yếu cung cấp thị trường nội địa do loại hoa này rất nhanh hỏng Theo thống kê, mỗi hecta đất trồng hoa ở khu vực này cho thu nhập khoảng 1,5 đến 2 triệu rupi Thị trường xuất khẩu hoa lớn của Ấn
Độ là Hà Lan, Đức, Anh, Italia và Pháp Trong đó, xuất khẩu sang Hà Lan chiếm tới 50% Bên cạnh những thị trường xuất khẩu hoa truyền thống nói trên, gần đây hoa Ấn
Độ còn xuất sang một số thị trường khác ở Eu như Hà Lan, Thuỷ Điển và Na Uy (http://www.rauhoaquavn.vn)
Trước năm 1984 ngành sản xuất hoa tươi ở Trung Quốc hầu như không có tên trên bản đồ thế giới Sau 20 năm, nghề trồng hoa công nghệ cao ở nước này phát triển vượt bậc, có đến 636000 ha trồng hoa, sản xuất 9 tỷ cành/năm, trở thành nước sản xuất hoa lớn nhất thế giới (Bùi Đức Anh, 2010)
Isarel xem hoa kiểng là một ngành kinh tế mũi nhọn trong sản xuất nông nghiệp, với 2800 ha (chiếm 0,65% diện tích canh tác nhưng tỷ trọng lại chiếm 8% tổng thu nhập của ngành), xuất khẩu hoa mỗi năm 240 triệu USD (chiếm 20% tỉ trọng xuất khẩu nông sản) (Bùi Đức Anh, 2010)
Hiện nay, các nước đang phát triển đang chú trọng về nguồn lao động cũng như về khí hậu, đất đai để phát triển ngành hoa kiểng ngày càng tiến bộ hơn nữa (Bùi Đức Anh, 2010)
Trang 172.1.2 Trong nước
Hoa tươi của Việt Nam được bạn bè quốc tế biết đến qua các lễ hội hoa Đà Lạt và hiện đã được xuất khẩu đến nhiều nước trên thế giới Cùng với việc chú trọng tới khâu sản xuất, bảo quản và phát triển hệ thống phân phối hợp lý, hoa tươi Việt Nam đang tìm hướng đi để khẳng định chỗ đứng trên thị trường quốc tế (http://www.khuyennongvn.gov.vn)
Ngành trồng hoa của Việt Nam có nhiều tiềm năng nhưng việc xuất khẩu còn rất hạn chế Theo Bộ Công Thương, hiện nay, thị trường xuất khẩu hoa tươi của Việt Nam chủ yếu là Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore, Australia và Arabia Saudi Xuất khẩu hoa của các nước Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng thường gặp nhiều khó khăn khi thâm nhập thị trường Bắc Mỹ và Trung Âu vì hai thị trường này chủ yếu nhập hoa từ các nước Nam Mỹ, Trung Mỹ và các nước Nam Âu Ngoài những yếu tố khắt khe về kỹ thuật, vị trí địa lý làm tăng chi phí vận chuyển cũng là điều bất lợi cho xuất khẩu hoa của Việt Nam (http://www.khuyennongvn.gov.vn)
Cục xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương) cho biết, tại thị trường Nhật Bản, hoa tươi Việt Nam được người tiêu dùng ưa chuộng, đặc biệt là hoa sen Nhật Bản là nước có yêu cầu chất lượng cao và thủ tục hải quan nghiêm ngặt nhưng lại có giá rất cao nên đã thu hút nhiều nhà nhập khẩu hoa vào thị trường này (http://www.khuyennongvn.gov.vn)
Số liệu thống kê của Thương vụ Việt Nam tại Nhật cho thấy, năm 2002, nhập khẩu hoa tươi của Nhật chỉ chiếm tỷ trọng 10,6%, nhưng đã tăng lên 11,4% trong năm
2003, 12,9% trong năm 2004 và kim ngạch nhập khẩu hoa tươi của Nhật trong năm
2005 đã lên tới 500 triệu USD Điều này chứng tỏ hoa nhập khẩu ngày càng chiếm ưu thế tại thị trường Nhật do nhiều loại hoa không được trồng phổ biến hoặc rất khó trồng vào thời tiết thu và đông ở quốc gia này Theo Bộ Thương mại Việt Nam, bình quân hàng năm, kim ngạch xuất khẩu hoa tươi của Việt Nam sang Nhật Bản khoảng 6,2 triệu USD, chiếm 1,4% trong tổng kim ngạch nhập khẩu hoa của Nhật Con số này đã tăng lên 6,5 triệu USD trong năm 2005, nhưng trên thực tế vẫn chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của Việt Nam và chưa phản ánh hết sự nỗ lực, tận dụng triệt để mọi cơ hội
để đẩy mạnh xuất khẩu của các doanh nghiệp (DN) Việt Nam Theo các chuyên gia,
Trang 18nguyên nhân là do các DN chưa hiểu được đặc điểm và tập quán tiêu dùng của thị trường Nhật Bộ Thương mại dự báo, nếu thâm nhập tốt, xuất khẩu hoa tươi của Việt Nam sang Nhật trong thời gian tới có thể tăng tới hơn 8 triệu USD/năm, đặc biệt là hoa phong lan và các loại hoa ghép cành (http://bannhanong.vietnetnam.net)
Hà Lan, cường quốc của các loài hoa trên thế giới với kim ngạch xuất khẩu hoa hàng năm luôn đứng ở mức cao so với các nước trong khu vực Liên minh châu
Âu (EU), không chỉ trồng hoa tươi xuất khẩu còn nhập khẩu một lượng lớn hoa tươi
từ các nước khác để xuất khẩu Sản phẩm hoa nhập từ các nước đang phát triển vào
EU thông qua Hà Lan không phải chịu thuế nhập khẩu nên đã tạo điều kiện thuận lợi cho các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam thâm nhập thị trường (http://www.khuyennongvn.gov.vn)
Còn tại Trung Quốc, các loại hoa xuất xứ từ Đà Lạt là hồng, ly, lan được người tiêu dùng rất ưa chuộng Việc xuất khẩu hoa theo đường tiểu ngạch đã hình thành từ lâu
và theo kinh nghiệm của Trung Quốc, nhu cầu hoa trước và sau Tết Nguyên đán rất lớn khi nhu cầu cho các ngày lễ rất cao và thời tiết của Trung Quốc không thuận lợi cho trồng và thu hoạch hoa (http://www.khuyennongvn.gov.vn)
Ở Việt Nam, Đà Lạt là thành phố trồng và xuất khẩu hoa lớn nhất cả nước với diện tích trên 3.500ha, chiếm 40% diện tích và 50% sản lượng Mỗi năm, thành phố cung ứng cho thị trường trong nước và xuất khẩu khoảng 10 triệu cây hoa giống Tuy nhiên, theo Hiệp hội hoa Đà Lạt, diện tích và sản lượng hoa tại địa phương hằng năm không ngừng tăng lên nhưng sản lượng hoa xuất khẩu vẫn giữ nguyên Chủ lực xuất khẩu hoa tại Đà Lạt vẫn là của Công ty trách nhiệm hữu hạn Dalat Hasfarm Các công ty đã từng xuất khẩu hoa cắt cành khác như Đại Việt, Rừng Hoa, Thái Sơn, Langbiangfarm, Ngọc Mai Trang đã không thành công trong xuất khẩu Nguyên nhân chủ yếu vẫn là sản xuất với quy mô nhỏ lẻ, tự phát và manh mún, không có quy hoạch cũng như định hướng phát triển vùng hoa nguyên liệu, chất lượng hoa không được cải thiện so với cả chục năm trước đây Bên cạnh đó, khi các doanh nghiệp nhận được đơn đặt hàng lớn từ phía đối tác thường không kiểm soát được chất lượng, giá cả vì bản thân doanh nghiệp chỉ cung cấp được 50-60% nguồn hàng (http://www.khuyennongvn.gov.vn)
Trang 19Việt Nam cần mở rộng thị trường xuất khẩu Theo bộ NN&PTNT cho biết,năm
2010 diện tích hoa tươi của Việt Nam khoảng 8.000ha với 4,5 tỷ cành, trong đó 1 tỷ cành đã được xuất khẩu trong đó 85% là hoa hồng, cúc và lan Doanh thu từ xuất khẩu hoa đạt 60 triệu USD (http://hanoimoi.com.vn)
Sản xuất hoa cành của Việt Nam tập trung ở các đô thị lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Lâm Đồng Thành phố Hà Nội và một số vùng lân cận trồng hoa hồng, cúc, đào, lay ơn, cẩm chướng; thị trấn Sapa (Lào Cai) là nơi có tiềm năng trồng hoa xuất khẩu vì có khí hậu lạnh nhưng quy mô nhỏ (http://www.khuyennongvn.gov.vn)
Khu vực miền Trung mới bắt đầu sản xuất hoa cắt cành nhưng chủ yếu phục vụ thị trường tại chỗ Các tỉnh Nam bộ tập trung sản xuất hoa nhưng chủ yếu là các loại hoa vùng nhiệt đới (http://www.khuyennongvn.gov.vn)
Tỉnh Lâm Đồng, nơi được mệnh danh là xứ sở của các loài hoa có diện tích trồng hoa 1.100ha với sản lượng không dưới 800 triệu cành mỗi năm nhưng xuất khẩu vẫn chưa mạnh (http://www.khuyennongvn.gov.vn)
Theo Bộ Công Thương, mục tiêu xuất khẩu hoa của Việt Nam trong năm 2011 theo sẽ là hướng tới mở rộng các thị trường đã có ở châu Á vì thuận lợi khi xuất khẩu hoa sang thị trường này là khoảng cách địa lý không xa, chi phí vận chuyển thấp, bảo quản dễ dàng và tìm kiếm khách hàng dựa vào mối quan hệ thương mại sẵn có, còn mục tiêu lâu dài là mở rộng thị trường sang các nước Bắc Mỹ như Canada, Mỹ và các nước Trung Âu.Ngoài ra, theo Bộ Công Thương để phát triển thị trường hoa tươi, các nhà vườn nên thực hiện các chính sách phát triển cần thiết như áp dụng khoa học-kỹ thuật tiên tiến vào tất cả các khâu sản xuất, xúc tiến thương mại, bán hàng nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng và giảm giá thành sản phẩm Đồng thời, lập hành lang pháp lý phù hợp với tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế; tiếp tục đa dạng hóa các vùng miền trồng hoa phù hợp với điều kiện về địa lý, khí hậu và thị trường của từng loại hoa (http://www.khuyennongvn.gov.vn)
Trang 202.2 Nguồn gốc và đặc điểm thực vật học hoa mười giờ
2.2.1 Nguồn gốc
Hoa mười giờ có nguồn gốc từ Nam Mỹ nhưng được trồng rộng rãi trong các khu vườn ôn đới cũng như trong vai trò của cây trồng một năm theo luống trong vườn Hoa mười giờ sặc sỡ với nhiều màu sắc như đỏ, cam, hồng, trắng hay vàng
(http://vi.wikipedia.org)
Theo tạp chí Bird & Blooms, tháng 6 năm 2006 thì “ hoa mười giờ được đưa vào các khu vườn của châu Âu khoảng 300 năm trước Hoa mười giờ nhanh chóng thu được sự phổ biến vì các tính chất y học của nó, bao gồm làm mất đi tiếng nghiến răng,
co thắt cơ và làm dịu vết bỏng do thuốc súng” (http://thiennhienkybi.blogspot.com)
Mười giờ sam còn được gọi là mười giờ lá, cây có nguồn gốc từ Ấn Độ hay từ Nam Mỹ, mọc hoang, nhưng do cây mọc khỏe, dễ trồng, hoa đẹp nên được lai tạo ra nhiều dạng hoa có màu sắc sặc sỡ Cây được trồng làm cảnh và làm cây che phủ đất trồng ở các bồn hoa Mười giờ ta còn được gọi là mười giờ lớn, cây có nguồn gốc từ Brazin, Achentina (Trần Hợp, 1998)
Tại Việt Nam, hoa mười giờ được trồng làm một loại cây cảnh Trong Đông y, người ta cũng dùng nó trong điều trị một số bệnh như viêm họng, eczema, ghẻ, mụn nhọt (http://vi.wikipedia.org) Trong Bản thảo cương mục của Lý Thời Trân : rau sam
có tác dụng thanh nhiệt giải độc, trị lỵ, lợi tiểu, dưỡng huyết, chữa phù thủng, sang lở Sách Bản thảo cứu hoang có ghi rau Sam phơi khô luộc chín trộn dầu muối ăn thay cơm (Phó Đức Thuần, 2005) Ngoài ra, lá cây mười giờ có chứa 2 chất kích thích sinh trưởng Auxin và Gibberelin để kích thích mau ra rễ (Mai Trần Ngọc Tiếng, 2001)
Cây này có tên “ hoa mười giờ” vì hoa chỉ nở khi nắng cao lúc đứng bóng khoảng 10 h rồi khép lại vào buổi chiều (http://vi.wikipedia.org)
Trang 212.2.2 Đặc điểm thực vật học
2.2.2.1 Hoa mười giờ ta
Tên khoa học: Portulaca grandiflora
Giới (regnum): Plantae
Bộ (ordo): Caryophyllales
Họ (familia): Portulacaceae
Chi (genus): Portulaca
Loài (species): P grandiflora
Hoa mười giờ ta là một trong hai phân loài chính của họ rau sam (Portulacaceae), một họ có khoảng 40-100 loài khác nhau Cây là loài thân thảo, thân mọng nước, nhỏ, màu hồng nhạt có nhiều nhánh và lớn nhanh, cao 10-15 cm, lan xa 15-30 cm, dễ hình thành rễ khi tiếp xúc với đất Lá hình dải hơi dẹp, dài 1,5-2 cm Hoa sặc sỡ, màu sắc có thể là đỏ, hồng hay trắng, cánh kép, thường chỉ nở từ khoảng từ 8-10h sáng trong ngày Đây là cây ưa sáng, phát triển nhanh, thích hợp với đất tơi xốp,
có khả năng chịu hạn tốt.(http://waa.com.vn)
2.2.2.2 Hoa mười giờ Thái
Tên khoa học Portulaca sp
Cây hoa mười giờ Thái là loài thân thảo, thân mọng nước, nhỏ, màu xanh có nhiều nhánh và lớn nhanh, dễ hình thành rễ khi tiếp xúc với đất Lá hình dải hơi dẹp Hoa sặc sỡ, nhiều màu sắc, cánh kép, thường nở từ khoảng 8-10h sáng trong ngày Đây là cây ưa sáng, phát triển nhanh, chịu hạn tốt
2.2.2.3 Hoa mười giờ sam
Tên khoa học Portulaca oleracea
Bộ (ordo): Caryophyllales
Họ (familia): Portulacaceae
Chi (genus): Portulaca
Trang 22Loài (species): P oleracea
Cây mười giờ sam là loài thân thảo, thân mọng nước, màu đỏ nhạt có nhiều nhánh và lớn nhanh, cao 15-30cm, có khả năng hình thành rễ khi tiếp xúc với đất Lá hình bầu dục tròn trĩnh, nhọn ở đầu, dài 1,5-2,5 cm, ăn được Hoa cánh đơn có 5 cánh kích thước khoảng 3mm, có màu vàng ở giống nguyên bản, sau này được lai tạo nên
có nhiều màu sắc khác nhau như đỏ, trắng, tím Hoa thường nở vào khoảng 8-10h sáng trong ngày Đây là cây ưa sáng, phát triển nhanh, chịu hạn tốt (http://waa.com.vn)
2.3 Các loại phân bón lá dùng trong thí nghiệm
Hướng dẫn sử dụng: sản phẩm dạng bột, pha từ 5gr đến 10gr cho 1 bình 8 lít, phun đều trên lá, thân cây và xung quanh gốc Theo định kỳ từ 7-10 ngày 1 lần Nên phun vào sáng sớm hoặc chiều mát, tránh trời mưa
2.3.2 Phân Đầu Trâu 009
Thành phần: 20% N; 20% P2O5; 20% K2O và nguyên tố vi lượng
Hãng sản xuất: là sản phẩm của công ty phân bón Bình Điền
Công dụng: tác dụng phân hóa mầm hoa, giúp hoa ra sớm, nhiều hoa, hoa đẹp, lâu tàn, tăng khả năng ra rễ
Hướng dẫn sử dụng: sản phẩm dạng bột, pha từ 5 - 10 g/8 lít nước, phun định
kỳ 7 -10 ngày/lần
Trang 23Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM
3.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm
3.1.1 Thời gian thực hiện thí nghiệm: từ tháng 03/2011 đến tháng 05/2011
3.1.2 Địa điểm thực hiện thí nghiệm: trại thực nghiệm Nông học - trường đại học
Nông Lâm, phường Linh Trung, huyện Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh
3.2 Điều kiện khí hậu tự nhiên
Điều kiện khí hậu là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đối với sự sinh trưởng và phát
triển của các loài hoa mười giờ
Bảng 3.1 Số liệu khí tượng của khu vực thành phố Hồ Chí Minh từ
3/2011-5/2011
Tháng
Nhiệt độ trung bình
Ẩm độ không khí
Lượng bốc hơi
Lượng mưa
Số ngày mưa
Số giờ nắng
Nguồn: Trạm khí tượng miền Nam, thành phố Hồ Chí Minh
Nhận xét: qua các tháng thí nghiệm cho thấy, nhiệt độ trung bình của các tháng
tương đối ổn định dao động khoảng 28,30C – 29,50C Số giờ nắng tương đối cao, số
giờ nắng cao nhất là ở tháng 4 (187 h), số giờ nắng thấp nhất là ở tháng 3 (157,8 h) với
số giờ nắng chiếu cao qua các tháng thí nghiệm như vậy đã giúp cây hoa mười giờ
quang hợp hiệu quả để cây sinh trưởng phát triển tốt Về lượng mưa có biến động lớn
dao động khoảng 40,3mm – 181,9mm, tháng 3 (40,3 mm) có lượng mưa thấp nhất nên
lưu ý nguồn nước cho hoa Số ngày mưa qua các tháng thí nghiệm tương đối thấp, số
Trang 24ngày mưa cao nhất là tháng 5 (16 ngày), số ngày mưa thấp nhất là tháng 4 (7 ngày) nên
chủ động nước tưới trong các tháng thí nghiệm cho cây Độ ẩm không khí dao động từ
67% - 75 % Lượng bốc hơi cao nhất là tháng 3 (4,7 mm), thấp nhất là tháng 5 (3,3 mm)
3.3 Đặc tính lý hóa của đất trước thí nghiệm
Đất là thành phần không thể thiếu đối với cây trồng, đất giữ vai trò quan trọng
trong việc cung cấp dinh dưỡng cho cây và giúp cây đứng vững Qua kết quả phân tích
đất trước thí nghiệm tại trại Nông học, trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí
P2O5(mg/100g)
K+ Ca2+ Mg2+Cát
Nguồn: Phòng phân tích nông hóa Thổ Nhưỡng , 2011
Nhận xét: đất trồng thí nghiệm thuộc loại sa cấu cát pha, đất hơi chua , nghèo
dinh dưỡng như chất hữu cơ, đạm, lân, kali, Ca và Mg nên việc trồng hoa mười giờ có
bổ sung thêm một số phân bón NPK và phân hữu cơ làm phân nền
3.4 Vật liệu thí nghiệm
Dụng cụ: cuốc, cào cỏ, bình tưới nước
Phân nền: vôi (1 kg), phân lân (4,5 kg), phân ure (5 kg), phân kali clorua (0,1 kg)
Phân hữu cơ: tro trấu (10 kg), xơ dừa (30kg), phân bò (90 kg)
Phân bón lá: Growmore 20-20-20 + TE (4,05 g), Đầu Trâu 009 (4,05 g)
Cây giống: chọn cành giâm dài 10-15 cm, cành to, khỏe, còn tươi, không sâu
bệnh, không bị úng nước
3.5 Phương pháp thí nghiệm
3.5.1 Bố trí thí nghiệm: thí nghiệm hai yếu tố bố trí theo kiểu lô phụ, 3 lần lặp lại, 9
cặp tương tác
Yếu tố chính là 3 giống hoa mười giờ được mã hóa là B1, B2, B3
Yếu tố phụ là 2 loại phân bón lá và đối chứng ( nước lã) được mã hóa là A1, A2, A3
Trang 253.5.2 Các nghiệm thức thí nghiệm
Yếu tố chính: 3 giống hoa mười giờ được bố trí trên lô phụ
B1: Hoa mười giờ Thái
B2: Hoa mười giờ ta
B3: Hoa mười giờ sam
Yếu tố phụ: 2 loại phân bón lá + đối chứng ( nước lã ) được bố trí trên lô chính A1: Phân bón lá Đầu Trâu 009
A2: Phân bón lá Growmore 20-20-20 + TE
A3: Nước lã (Đối chứng)
Khoảng cách giữa các lô phụ: 40 cm
Khoảng cách giữa các lô chính: 40 cm
Khoảng cách giữa các lần lặp lại: 60 cm
Khoảng cách trồng: 20 cm x 20 cm
3.6 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
3.6.1 Các chỉ tiêu theo dõi
- Số nhánh: nhánh cấp 1, cấp 2
- Tốc độ ra nhánh của nhánh cấp 1, nhánh cấp 2
- Chiều dài nhánh của nhánh cấp 1, nhánh cấp 2
Trang 26- Tốc độ tăng trưởng chiều dài nhánh cấp 1, cấp 2
- Sinh khối chất khô (g/m2)
- Thời gian phủ đất 100% diện tích ô thí nghiệm (NST)
- Chi phí đầu tư
3.6.2 Phương pháp theo dõi
- Đánh dấu cây theo dõi : chọn ngẫu nhiên 5 cây/ ô thí nghiệm
- Định kỳ theo dõi 7 ngày/ lần và lấy số liệu lần lượt: 7, 14, 21, 28, 35 ngày sau trồng,… cho đến khi cây phủ hết đất ô thí nghiệm
- Định kỳ phun phân: khi cây bắt đầu hồi xanh (14 NST) tiến hành 7 ngày phun phân/ lần
- Số nhánh ( nhánh): tiến hành theo dõi đếm số nhánh trên những cây theo dõi ở mỗi ô nghiệm thức
- Tốc độ ra nhánh (số nhánh/ cây/ngày):được tính bằng cách lấy (số nhánh theo dõi lần sau - số nhánh theo dõi lần trước)/ số ngày theo dõi
- Chiều dài nhánh (cm): đo phần tiếp giáp giữa phần thân chính và nhánh cần
đo tới đỉnh sinh trưởng Lấy trung bình nhánh/cây
- Tốc độ tăng trưởng chiều dài nhánh (cm/ngày): được tính bằng cách lấy (chiều dài nhánh sau – chiều dài trước)/ số ngày theo dõi
- Số lá (lá/nhánh): đếm số lá trên nhánh của các cấp từ khi bắt đầu ra nhánh
- Tốc độ ra lá (lá/nhánh/cây/ngày): lấy số lá đếm lần sau – trước/ số ngày theo dõi
- Số nụ/cây/ m2: đếm số nụ của các cây theo dõi
- Số hoa/cây/ m2: đếm số hoa của các cây theo dõi
- Đường kính hoa (cm): đo khi hoa nở hoàn toàn
- Độ bền của hoa (ngày): tính từ khi hoa nở đến khi hoa bắt đầu tàn
- Trọng lượng chất khô (g/ m2): từ trọng lượng chất xanh, để riêng từng loại cây
và đưa đi sấy Trong thời gian sấy, kiểm tra trọng lượng nhiều lần đến khi trọng lượng
Trang 27không đổi giữa lần cân trước và lần cân sau, tính trọng lượng khô trung bình trên bụi
đó quy ra trọng lượng chất khô của mỗi nghiệm thức Cách tính:
TLK= (trọng lượng mẫu tươi ngoài đồng * trọng lượng sau sấy khô)/ trọng lượng mẫu xác định ẩm độ ban đầu
- Thời gian che phủ đất (NST): tính từ ngày bắt đầu trồng cho đến khi cây che phủ 100% diện tích ô thí nghiệm
- Chi phí đầu tư: dựa vào mỗi loại giống và mỗi loại phân bón lá để tính chi phí
3.7 Chỉ tiêu và phương pháp phân tích
- Lân dễ tiêu: phương pháp Bray N0.1
- Kali dễ tiêu: phương pháp quang kế ngọn lửa
- Ca, Mg: phương pháp Trilon B
3.8 Xử lý số liệu
- Các số liệu được xử lý thống kê bằng phần mềm MSTATC và Excel
Trang 28Chương 4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN
4.1 Chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển của cây hoa mười giờ
4.1.1 Số nhánh
Cây hoa mười giờ có nhiều đốt, mỗi đốt sẽ cho mỗi nhánh Số lượng nhánh
nhiều hay ít thể hiện sự sinh trưởng của mỗi loại giống nhanh hay chậm Số lượng
nhánh quyết định hiệu quả phủ thảm của giống nào tốt nhất
Bảng 4.1 Ảnh hưởng của các giống hoa và các loại phân bón lá lên số lượng
nhánh cấp 1 của hoa mười giờ (nhánh/cây)
Ghi chú: các trị số cùng kí tự không có sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê
Ngày theo
dõi PBL
Giống
TBPBL B1 B2 B3
Trang 29Qua bảng 4.1 thể hiện số liệu
Yếu tố giống: các giai đoạn 7NST, 14 NST, 21 NST, 28 NST nhận thấy không
có sự khác biệt giữa các giống Tuy nhiên, số nhánh cấp 1 luôn cao nhất ở các giai đoạn 7, 14, 21và 28 NST Là giống mười giờ ta đạt 10,13 nhánh (7 NST), 12,42 nhánh (14 NST), 14,96 nhánh (21 NST), 17,67 nhánh (28 NST) Số nhánh cấp 1 thấp nhất ở các giai đoạn 7, 14, 21 và 28 NST là giống mười giờ Thái đạt 8,47 nhánh (7 NST), 11,67 nhánh (14 NST), 13,56 nhánh (21 NST), 16,04 nhánh (28 NST)
Yếu tố phân bón lá: các giai đoạn 7, 14, 21 và 28 NST nhận thấy có sự khác biệt giữa các loại phân bón lá Xét về TNPH phân Đầu Trâu 009 và phân Growmore 20-20-20 + TE có sự khác biệt có ý nghĩa với đối chứng (khác ký tự), giữa phân Đầu Trâu 009 với phân Growmore 20-20-20 + TE không có sự khác biệt có ý nghĩa (cùng
ký tự) Số nhánh cấp 1 cao nhất ở các giai đoạn 7, 14, 21 và 28 NST là phân Đầu Trâu
009 đạt 13,78 nhánh (7 NST), 15,44 nhánh (14 NST), 17,96 nhánh (21 NST), 22,41 nhánh (28 NST) Số nhánh cấp 1 thấp nhất ở các giai đoạn 7, 14, 21 và 28 NST là đối chứng đạt 3,29 nhánh (7 NST), 6,93 nhánh (14 NST), 8,67 nhánh (21 NST), 9,91 nhánh (28 NST)
Tương tác giữa giống với phân bón lá: các giai đoạn 7, 14, 21và 28 NST nhận thấy không có sự khác biệt giữa các nghiệm thức Tuy nhiên, số nhánh cấp 1 cao nhất ở các giai đoạn 7, 14, 21 và 28 NST là A1B2 đạt 15,27 nhánh (7 NST), 16,67 nhánh (14 NST), 18,8 nhánh (21 NST), 23,73 nhánh (28NST).Số nhánh cấp 1 thấp nhất giai đoạn 7 và 21 NST là A3B3 đạt lần lượt 2,8 nhánh và 8,13 nhánh; giai đoạn 14 và 28 NST là A3B1 đạt lần lượt 6,67 nhánh và 9,2 nhánh
Nhận xét: qua bảng 4.1 nhìn chung cho thấy giai đoạn 7 NST hệ thống rễ của cây chưa phát triển nên chưa hấp thụ chất dinh dưỡng, hàm lượng phân bón chưa được phát huy Giai đoạn 14 NST hệ thống rễ của cây đã cứng cáp, hấp thụ dinh dưỡng mạnh, cây có biểu hiện thân lá xanh tươi Giai đoạn 21 NST, 28 NST cây phát triển tối
đa, hấp thụ dinh dưỡng triệt để để phát triển thân lá hoa Đối với giống thì giống mười giờ ta cho số nhánh cấp 1 cao nhất Đối với phân bón lá thì phân Đầu Trâu 009 cho số nhánh cấp 1 cao nhất Đối với tương tác giữa giống với phân bón lá thì A1B2 cho số nhánh cấp 1 cao nhất
Trang 30Bảng 4.2 Ảnh hưởng của các giống hoa và các loại phân bón lá lên số lượng
nhánh cấp 2 của hoa mười giờ (nhánh/cây)
Ngày theo
dõi PBL
Giống
TBPBL B1 B2 B3
Trang 31Qua bảng 4.2 thể hiện số liệu
Yếu tố giống: các giai đoạn 14, 21, 28, 35 và 42 NST cho thấy không có sự khác biệt giữa các giống Tuy nhiên, số nhánh cấp 2 cao nhất ở 14 NST là mười giờ ta đạt 6,29 nhánh, ở 21 NST là mười giờ Thái đạt 11,59 nhánh, các giai đoạn 28, 35 và
42 NST là mười giờ sam lần lượt đạt 13,17 nhánh, 13,82 nhánh, 14,57 nhánh Số nhánh cấp 2 thấp nhất ở 14NST là mười giờ sam đạt 5,73 nhánh, riêng các giai đoạn
21, 28, 35 và 42 NST là mười giờ ta lần lượt đạt 11,01 nhánh, 11,66 nhánh, 12,46 nhánh, 13,18 nhánh
Yếu tố phân bón lá: qua các giai đoạn 14, 21, 28, 35 và 42 NST nhận thấy có sự khác biệt giữa các loại phân bón lá Xét về TNPH giữa phân Đầu Trâu 009 có sự khác biệt với đối chứng, giữa phân Growmore 20-20-20 + TE không có sự khác biệt so với đối chứng Số nhánh cấp 2 cao nhất ở các giai đoạn 14, 21, 28, 35 và 42 NST là ở phân Đầu Trâu 009 lần lượt đạt 7,77 nhánh, 14,11 nhánh, 16,38 nhánh, 17,41 nhánh và 18,10 nhánh Số nhánh cấp 2 thấp nhất ở các giai đoạn 14, 21, 28, 35 và 42 NST là đối chứng lần lượt đạt 4,59 nhánh, 8,71 nhánh, 9,20 nhánh, 10,03 nhánh, 10,57 nhánh
Tương tác giữa giống với phân bón lá nhận thấy không có sự khác biệt giữa các nghiệm thức Tuy nhiên, số nhánh cấp 2 đạt cao nhất ở giai đoạn 14 và 21 NST là A1B2 lần lượt đạt 9,07 nhánh, 14,93 nhánh; giai đoạn 28, 35 và 42 NST là A1B3 lần lượt đạt 17,30 nhánh, 18,70 nhánh, 19,20 nhánh Số nhánh cấp 2 thấp nhất ở giai đoạn
14, 21, 28 và 35 NST là A3B2 lần lượt đạt 4,07 nhánh, 8,23 nhánh, 8,40 nhánh, 9,23 nhánh, riêng giai đoạn 42 NST là A3B1 đạt 10,00 nhánh
Nhận xét: qua bảng 4.2 nhìn chung cho thấy các giai đoạn 14, 21, 28, 35 và 42 NST cây đã phát triển đầy đủ thân lá rễ nên hấp thụ chất dinh dưỡng mạnh để nuôi cây Đối với yếu tố giống có biến động giữa các giai đoạn nên ba giống đều cho số nhánh cấp 2 cao nhất nhưng ưu thế là mười giờ sam Đối với yếu tố phân bón lá thì phân Đầu Trâu 009 cho số nhánh cấp 2 cao nhất Đối với sự tương tác giữa giống với phân bón lá thì A1B2, A1B3 cho số nhánh cấp 2 cao nhất
Trang 32độ ra nhánh cấp 1 cao nhất là A3B1 (0,48 nhánh), thấp nhất là A3B3 (0,11 nhánh).Giai đoạn 21 – 28 NST tốc độ ra nhánh cấp 1 giữa các nghiệm thức có khác biệt Tốc độ ra nhánh cấp 1 cao nhất là A2B1 (0,7 nhánh), thấp nhất là A1B3 (0,11 nhánh)
Nhìn chung các giai đoạn 7, 14, 21 và 28 NST tốc độ ra nhánh cấp 1 có sự biến động tăng do cây đã cứng cáp hấp thụ dinh dưỡng mạnh để nuôi cây Tuy nhiên, tốc độ
ra nhánh cấp 1 ở hoa mười giờ không tăng đều do tốc độ ra nhánh cấp 1 có sự biến động đáng kể
Trang 33
Biểu đồ 4.2 Ảnh hưởng của các giống và các loại phân bón lá lên tốc độ ra nhánh cấp 2
(nhánh/cây/ngày)
Nhận xét biểu đồ 4.2 nhận thấy
Giai đoạn 14 – 21 NST tốc độ ra nhánh cấp 2 giữa các nghiệm thức có sự khác biệt nhưng không đáng kể Tốc độ ra nhánh cấp 2 cao nhất là A1B1 (0,98 nhánh), thấp nhất là A1B3 (0,47 nhánh)
Giai đoạn 21 – 28 NST tốc độ ra nhánh cấp 2 giữa các nghiệm thức không có sự khác biệt (trừ A3B1) Tốc độ ra nhánh cấp 2 cao nhất là A3B1 (0,61 nhánh), thấp nhất
là A2B3 (0,02 nhánh)
Giai đoạn 28 – 35 NST tốc độ ra nhánh cấp 2 giữa các nghiệm thức không khác biệt Tốc độ ra nhánh cấp 2 cao nhất là A3B1 (0,2 nhánh), thấp nhất là A3B2 (-0,05 nhánh)
Giai đoạn 35 – 42 NST tốc độ ra nhánh cấp 2 giữa các nghiệm thức không khác biệt, có xu hướng giảm dần Tốc độ ra nhánh cấp 2 cao nhất là A3B2 (0,13 nhánh), thấp nhất là A1B3 (-0,04 nhánh)
Nhìn chung tốc độ ra nhánh cấp 2 ở các đoạn 14, 21, 28, 35 và 42 NST có xu hướng giảm dần do cây bắt đầu già cỗi không hấp thu dinh dưỡng hiệu quả, lượng phân nền bón trong đất ban đầu được cây hút nhiều ở các giai đoạn đầu nên dinh dưỡng trong đất dần cạn kiệt theo như bảng phân tích đất
Trang 344.1.3 Chiều dài nhánh
Là trong những chỉ tiêu quan trọng đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển
của cây trồng Chiều dài nhánh còn ảnh hưởng đến sinh khối cây
Bảng 4.3 Ảnh hưởng của các giống hoa và các loại phân bón lá lên chiều dài
nhánh cấp 1 của hoa mười giờ (cm/nhánh)
Ngày theo
dõi PBL
Giống
TBPBL B1 B2 B3
Trang 35Ghi chú: các trị số cùng kí tự không có sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê
Qua bảng 4.3 thể hiện số liệu
Yếu tố giống: các giai đoạn 7, 14, 21, 28 và 35 NST cho thấy không có sự biệt giữa các giống Tuy nhiên, chiều dài nhánh cấp 1 cao nhất của giai đoạn 7 và 21 NST là mười giờ Thái lần lượt đạt 2,81 cm, 19,09 cm; giai đoạn 14 NST là mười giờ ta đạt 11,30 cm; các giai đoạn 28 và 35 NST là mười giờ sam lần lượt đạt 23,72 cm, 26,39 cm Chiều dài nhánh cấp 1 ở các giai đoạn 7 và 14 NST là mười giờ sam đạt lần lượt 2,58 cm, 9,93 cm; các giai đoạn 21, 28 và 35 NST là mười giờ ta đạt lần lượt 17,51 cm, 21,34 cm, 23,91 cm
Yếu tố phân bón lá: các giai đoạn 7, 14, 21, 28 và 35 NST cho thấy có sự khác biệt giữa các loại phân bón lá Xét về TNPH thì ở 7 NST phân Đầu Trâu 009 và phân Growmore 20-20-20 không có sự khá biệt so với đối chứng; 14 NST phân Đầu Trâu 009 và phân Growmore 20-20-20 có sự khác biệt so với đối chứng; giai đoạn 21, 28 và 35 NST phân Đầu Trâu có sự khác biệt so với đối chứng và phân Growmore 20-20-20 không có sự khác biệt so với đối chứng Ở các giai đoạn 7, 14, 21, 28 và 35 NST chiều dài nhánh cấp 1 cao nhất là phân Đầu Trâu lần lượt đạt 3,34 cm, 13,05 cm, 21,52 cm, 25,54 cm, 28,81 cm
Trang 36Bảng 4.4 Ảnh hưởng của các giống hoa và các loại phân bón lá lên chiều dài
nhánh cấp 2 của hoa mười giờ (cm/nhánh)
Ghi chú: các trị số cùng kí tự không có sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê
Ngày theo
dõi PBL
Giống
TBPBL B1 B2 B3
Trang 37Qua bảng 4.4 thể hiện số liệu
Yếu tố giống: qua các giai đoạn từ 14, 28, 35 và 42 NST không có sự khác biệt giữa các giống, riêng giai đoạn 21 NST có sự khác biệt nhưng xét về TNPH thì ba giống không có sự khác biệt Tuy nhiên, chiều dài nhánh cấp 2 cao nhất ở giai đoạn 14 NST là mười giờ ta đạt 0,42 cm; giai đoạn 21 NST là mười giờ sam đạt 3,06 cm; các giai đoạn
28, 35 và 42 NST là mười giờ Thái đạt lần lượt 7,87 cm, 10,24 cm, 13,71 cm Chiều dài nhánh cấp 2 thấp nhất ở giai đoạn 14 NST là mười giờ Thái đạt 0,34 cm; giai đoạn 21 NST là mười giờ mười giờ ta đạt 2,29 cm; các giai đoạn 28, 35 và 42 NST là mười giờ
Tương tác giữa giống với phân bón lá: qua các giai đoạn từ 14, 21, 28, 35 và 42 NST cho thấy không có sự khác biệt giữa các nghiệm thức.Tuy nhiên, chiều dài nhánh cấp 2 cao nhất ở giai đoạn 14 NST là A1B2 đạt 0,69 cm; giai đoạn 21 NST là A1B3 đạt 4,26 cm; các giai đoạn từ 28, 35 và 42 NST là mười giờ Thái đạt lần lượt 9,16 cm, 12,15
cm, 16,78 cm Chiều dài nhánh cấp 2 thấp nhất ở các giai đoạn từ 14, 21, 28, 35 và 42 NST là A3B1 đạt lần lượt 0,20 cm, 1,64 cm, 5,60 cm, 6,40 cm, 9,24 cm
Nhận xét: các giai đoạn 14, 21, 28, 35, 42 NST là cây đã hút dinh dưỡng hiệu quả
và tăng dần qua từng giai đoạn
Trang 384.1.4 Tốc độ tăng trưởng chiều dài nhánh (cm/nhánh/7 ngày)
Biểu đồ 4.3 Ảnh hưởng của các giống và các loại phân bón lá đến tốc độ tăng trưởng
chiều dài nhánh cấp 1 (cm/nhánh/7 ngày) Nhận xét biểu đồ 4.3 nhận thấy
Giai đoạn 7 – 14 NST cây tăng trưởng chiều dài nhánh cấp 1 giữa các nghiệm thức rất có khác biệt Động thái tăng trưởng chiều dài nhánh cấp 1 cao nhất là A3B1 (1,46 cm), thấp nhất là A3B3 (0,57 cm)
Giai đoạn 14 – 21 NST cây tăng trưởng chiều dài nhánh cấp 1 giữa các nghiệm thức có biến động, rất có khác biệt Động thái tăng trưởng chiều dài nhánh cấp 1 cao nhất là A1B3 (1,46 cm), thấp nhất là A2B2 (0,72 cm)
Giai đoạn 21 – 28 NST cây tăng trưởng chiều dài nhánh cấp 1 giữa các nghiệm thức có biến động nhưng ít hơn so với 2 giai đoạn trước Động thái tăng trưởng chiều dài nhánh cấp 1 cao nhất là A3B3 (0,86 cm), thấp nhất là A2B2 (0,45 cm)
Giai đoạn 28 – 35 NST cây tăng trưởng chiều dài nhánh cấp 1 giữa các nghiệm thức không có khác biệt, có xu hướng giảm dần so với các giai đoạn trước Động thái tăng trưởng chiều dài nhánh cấp 1 cao nhất là A3B1 (0,60 cm), thấp nhất là A1B3 (0,20 cm)