1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ NÔNG DƯỢC ĐẾN SÂU NON RUỒI ĐỤC LÁ Liriomyza huidobrensis VÀ ONG KÝ SINH CỦA CHÚNG TRÊN CÂY KHOAI TÂY TẠI ĐÀ LẠT – LÂM ĐỒNG

87 170 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHOA NÔNG HỌC -------- LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Đề tài: ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ NÔNG DƯỢC ĐẾN SÂU NON RUỒI ĐỤC LÁ Liriomyza huidobrensis VÀ ONG KÝ SINH CỦA CHÚNG TRÊN CÂY KHOAI TÂY TẠI ĐÀ L

Trang 1

KHOA NÔNG HỌC

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

Đề tài:

ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ NÔNG DƯỢC ĐẾN

SÂU NON RUỒI ĐỤC LÁ Liriomyza huidobrensis

VÀ ONG KÝ SINH CỦA CHÚNG TRÊN CÂY KHOAI TÂY TẠI ĐÀ LẠT – LÂM ĐỒNG

Trang 2

ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ NÔNG DƯỢC ĐẾN

SÂU NON RUỒI ĐỤC LÁ Liriomyza huidobrensis

VÀ ONG KÝ SINH CỦA CHÚNG TRÊN CÂY

KHOAI TÂY TẠI ĐÀ LẠT – LÂM ĐỒNG

Tác giả

NGUYỄN THỊ THÙY LOAN

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng kĩ sư ngành Bảo Vệ Thực Vật

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN:

TS TRẦN THỊ THIÊN AN

KS VŨ THỊ THÚY

Tp Hồ Chí Minh, tháng 8/2011

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Con thành kính ghi nhớ công ơn của cha mẹ đã nuôi dạy con nên ngày hôm nay

Để hoàn thành đề tài này tôi đã nhận được nhiều giúp đỡ từ gia đình, bạn bè, nhà trường và địa phương

Tôi xin chân thành cảm ơn bộ môn Bảo vệ thực vật, khoa Nông Học, trường ĐH Nông Lâm TP Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện để tôi thực hiện đề tài này

Em trân trọng biết ơn và luôn ghi nhớ tấm lòng của cô Trần Thị Thiên An đã truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm và tận tình hướng dẫn em để hoàn thành tốt đề tài này

Trân trọng cảm ơn ban lãnh đạo, anh chị phòng kỹ thuật và các phòng ban khác của Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Lâm Đồng đã tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi làm việc tại địa phương

Trân trọng cảm ơn chú Nguyễn Đình Thắng, cô Nguyễn Thị Bích Phương đã cho tôi mượn ruộng và hết lòng giúp đỡ tôi trong lúc tôi thực tập tại ruộng khoai tây

Cảm ơn bạn bè và những người thân của tôi đã giúp đỡ và động viên để tôi hoàn thành tốt công việc trong thời gian làm đề tài này

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Thùy Loan

Trang 4

TÓM TẮT

NGUYỄN THỊ THÙY LOAN, Trường ĐH Nông Lâm TP Hồ Chí Minh Tháng 8

năm 2011 Đề tài “Ảnh hưởng của một số nông dược đến sâu non ruồi đục lá

Liriomyza huidobrensis và ong ký sinh của chúng trên cây khoai tây tại Đà Lạt –

Lâm Đồng” Giảng viên hướng dẫn chính: TS TRẦN THỊ THIÊN AN – Bộ môn bảo

vệ thực vật – ĐH Nông Lâm TP Hồ Chí Minh

Đề tài được thực hiện từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2011 tại Thôn Lộc Quý, xã Xuân Thọ, TP Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng nhằm xác định loại nông dược có khả năng phòng

trừ sâu non ruồi đục lá L huidobrensis và ít độc với ong ký sinh của chúng trên cây khoai

tây làm cơ sở khoa học để xây dựng biện pháp quản lý hiệu quả ruồi đục lá trên khoai tây tại Lâm Đồng

Đề tài thực hiện thu được những kết quả sau:

Thuốc Radian 60SC là loại thuốc mang lại hiệu quả phòng trừ ruồi đục lá tốt nhất vừa hiệu quả với sâu non ruồi đục lá và ít ảnh hưởng tới ong ký sinh sâu non của chúng nhất

Về thành phần ong ký sinh và tỉ lệ ký sinh của chúng trên sâu non ruồi đục lá khoai tây thay đổi theo từng nghiệm thức sử dụng thuốc Không sử dụng thuốc thì phát hiện 4

loài ong ký sinh sâu non ruồi đục lá đó là Opius spp., Spharipalpus sp., Neochrysocharis formosa, Thinodytes cyzius, Dacnusa sasakawai, với loài phổ biến nhất là Opius sp

Trong các loại thuốc sử dụng làm thí nghiệm thì thuốc trừ sâu Radian 60SC và

Neem Nim Xoan Xanh Green 0,15EC ít ảnh hưởng tới ong ký sinh sâu non ruồi đục lá L huidobrensis nhất, tỉ lệ ong ký sinh đạt 29,4 và 29,8%

Về sự ảnh hưởng của 4 loại nông dược đến các loại sâu hại khác (bọ trĩ, bọ phấn) trên ruộng khoai tây thì: trong 4 loại thuốc thí nghiệm thì Radian 60SC và hỗn hợp Oshin 20WP + Netoxin 18SL có khả năng ảnh hưởng tới mật số bọ trĩ trên ruộng cao.Về mật

số bọ phấn thì thuốc Radian 60SC có ảnh hưởng thấp nhất (0,6%) đến mật số bọ phấn, thuốc Trigard 100SL có ảnh hưởng cao nhất đến mật số bọ phấn

Trang 5

Năng suất thực tế thu được trên các NT có sự chệnh lệch nhau Trong đó, nghiệm

thức phòng trừ ruồi đục lá L huidobrensis bằng thuốc trừ sâu Radian 60SC có năng suất

cao nhất

Tóm lại, thuốc trừ sâu Radian 60SC phun ở liều lượng 0,4l/ha có hiệu quả phòng

trừ cao đối với sâu non ruồi đục lá L huidobrensis và ít ảnh hưởng nhất đến ong ký sinh

sâu non của chúng trên ruộng khoai tây

Trang 6

MỤC LỤC

MỤC LỤC ii

LỜI CẢM TẠ ii

TÓM TẮT iii

DANH SÁCH CÁC BẢNG viii

DANH SÁCH CÁC ĐỒ THỊ ix

DANH SÁCH CÁC HÌNH x

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT, KÍ HIỆU xi

Chương 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu 2

1.3 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4 Giới hạn đề tài 3

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Giới thiệu về ruồi đục lá L huidobrensis 4

2.1.1 Đặc điểm hình thái và sinh học của ruồi đục lá L huidobrensis 4

2.1.2 Sự gây hại của ruồi đục lá rau L huidobrensis 5

2.2 Một số kết quả nghiên cứu về ruồi đục lá rau ở Việt Nam 6

2.2.1 Thành phần và loài cây ký chủ của ruồi đục lá 6

2.2.2 Thành phần ong kí sinh sâu non của ruồi đục lá rau 8

2.2.3 Biện pháp phòng trừ ruồi đục lá hại rau 9

2.3 Một số kết quả nghiên cứu về ruồi đục lá rau ở nước ngoài 10

2.3.1 Thành phần và cây kí chủ ruồi đục lá 10

2.3.2 Thành phần ong ký sinh của ruồi đục lá rau L huidobrensis 11

2.3.3 Một số biện pháp quản lý ruồi đục lá 15

2.3 Đặc điểm một số loại thuốc sử dụng trong thí nghiệm 17

2.4 Sơ lược về cây khoai tây 20

Trang 7

2.4.1 Giá trị sử dụng cây khoai tây 20

2.4.2 Đặc điểm thực vật học cây khoai tây 20

2.5 Khí hậu và thời tiết Đà Lạt – Lâm Đồng 21

Chương 3VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

3.1 Địa điểm và thời gian thí nghiệm 23

3.2 Nội dung nghiên cứu 23

3.3 Vật liệu và dụng cụ thí nghiệm 23

3.4 Bố trí thí nghiệm 23

3.4.1 Ruộng và giống khoai tây thí nghiệm 23

3.4.2 Thuốc thí nghiệm 24

3.4.3 Các nghiệm thức thí nghiệm 24

3.4.4 Số lần phun thuốc trên ruộng thí nghiệm 24

3.5 Chỉ tiêu theo dõi 25

3.5.1 Thời gian và phương pháp chọn cây theo dõi 25

3.5.2 Chỉ tiêu theo dõi 25

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32

4.1 Ảnh hưởng của các loại nông dược thí nghiệm đến sự gây hại của ruồi đục lá L huidobrensis trên ruộng khoai tây 32

4.1.1 Hiệu quả quản lý sâu non ruồi đục lá L huidobrensis và ong ký sinh của thuốc thí nghiệm sau 2 lần phun trên ruộng khoai tây 32

4.1.2 Ảnh hưởng của các loại thuốc thí nghiệm đến mật số sâu non ruồi đục lá L huidobrensis trên ruộng khoai tây 34

4.1.3 Ảnh hưởng của các loại thuốc thí nghiệm đến mật số đường đục trên lá của sâu non ruồi L huidobrensis trên ruộng khoai tây 36

4.1.4 Ảnh hưởng của các loại thuốc thí nghiệm đến tỉ lệ lá bị hại và chỉ số lá bị hại do ruồi đục lá L huidobrensis trên ruộng khoai tây 39

4.2 Ảnh hưởng của các loại nông dược đến ong ký sinh của sâu non ruồi đục lá L huidobrensis trên ruộng khoai tây 44

Trang 8

4.2.1 Ảnh hưởng của các loại thuốc thí nghiệm đến thành phần ong ký sinh sâu non ruồi

đục lá L huidobrensis trên ruộng khoai tây 44

4.2.2 Ảnh hưởng của các loại nông dược đến tỷ lệ sâu non và tiền nhộng ruồi L huidobrensis bị ong ký sinh 46

4.3 Ảnh hưởng của thuốc thí nghiệm đến các loại sâu khác trên ruộng thí nghiệm 49

4.3.1 Ảnh hưởng của thuốc thí nghiệm đến bọ trĩ trên ruộng thí nghiệm 49

4.3.1 Ảnh hưởng của thuốc thí nghiệm đến bọ phấn trên ruộng thí nghiệm 49

4.4 Năng suất khoai tây trên ruộng thí nghiệm 50

Chương 5KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 57

5.1 Kết luận 57

5.2 Đề nghị 58

TÀI LIỆU THAM KHẢO 59

Tiếng Việt 59

Tiếng Anh 59

Trang Web 64

PHỤ LỤC 65

Trang 9

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Khí hậu thời tiết 5 tháng đầu năm 2011 ở khu vục Đà Lạt 22 Bảng 3.1 Các loại thuốc sử dụng trong thí nghiệm 24

Bảng 4.1 Hiệu quả quản lý sâu non ruồi đục lá L huidobrensis và ong ký sinh của thuốc

thí nghiệm sau 2 lần phun trên ruộng khoai tây 32

Bảng 4.2 Mật số trung bình sâu non ruồi đục lá L huidobrensis trên ruộng khoai tây

thí nghiệm 36

Bảng 4.3 Mật số trung bình đường đục của sâu non ruồi đục lá L huidobrensis trên ruộng

khoai tây thí nghiệm 38

Bảng 4.4 Tỉ lệ lá bị hại trung bình do sâu non ruồi L huidobrensis gây hại trên ruộng

khoai tây thí nghiệm 41

Bảng 4.5 Chỉ số lá bị hại trung bình do sâu non ruồi L huidobrensis trên ruộng khoai tây

thí nghiệm 43

Bảng 4.6 Thành phần và tần suất xuất hiện của ong ký sinh sâu non ruồi đục lá trên

nghiệm thức thí nghiệm 45

Bảng 4.7 Tỉ lệ sâu non và tiền nhộng ruồi đục lá L huidobrensis bị ong ký sinh trên

ruộng khoai tây thí nghiệm 48

Bảng 4.8 Các chỉ tiêu về năng suất khoai tây trong thí nghiệm 51

Bảng 4.9 Hiệu quả kinh tế về thuốc trừ ruồi đục lá L huidobrensis trên ruộng khoai tây

thí nghiệm 52

Trang 10

DANH SÁCH CÁC ĐỒ THỊ

Trang

Đồ thị 4.1 Diễn biến mật số sâu non ruồi đục lá L huidobrensis trên ruộng khoai tây

thí nghiệm 34

Đồ thị 4.2 Diễn biến mật số đường đục trung bình trên lá của sâu non ruồi đục lá L

huidobrensis trên ruộng khoai tây thí nghiệm 37

Đồ thị 4.3 Diễn biến tỉ lệ lá bị hại do sâu non của ruồi L huidobrensis gây hại trên ruộng

khoai tây thí nghiệm 40

Đồ thị 4.4 Diễn biến chỉ số lá bị hại do sâu non ruồi đục lá L huidobrensis trên ruộng

khoai tây thí nghiệm 42

Đồ thị 4.5 Diễn biến tỉ lệ sâu non ruồi đục lá L huidobrensis bị ong ký sinh trên

ruộng khoai tây 47

Đồ thị 4.6 Mật số trung bình của bọ trĩ trên ruộng khoai tây thí nghiệm 49

Đồ thị 4.7 Mật số trung bình của bọ phấn trên ruộng khoai tây thí nghiệm 50

Trang 11

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Trang

Hình 2.1 Một số loài ong ký sinh của ruồi đục lá Liriomyza spp ở Thái Lan 14

Hình 3.1 Ruộng khoai tây thí nghiệm ở 65 ngày sau trồng 30

Hình 3.2 Nhộng của ruồi L huidobrensis trên lá khoai tây 30

Hình 3.3 Các loại nông dược dùng trong thí nghiệm 31

Hình 3.4 Thu thập ong ký sinh sâu non ruồi đục lá L huidobrensis 31

Hình 4.1 Trưởng thành ruồi đục lá L huidobrensis đang gây hại trên lá khoai tây 54

Hình 4.2 Ong Dacnusa sasakawai ký sinh sâu non của ruồi đục lá L huidobrensis 54

Hình 4.3 Ong Opius spp ký sinh sâu non của ruồi đục lá L huidobrensis 55

Hình 4.4 Ong Thinodytes cizyus ký sinh sâu non của ruồi đục lá L huidobrensis 55

Hình 4.5 Ong Sphaeripalpus sp ký sinh sâu non của ruồi đục lá L huidobrensis 55

Hình 4.6 Ong Neochrysocharis formosa ký sinh sâu non của ruồi đục lá L huidobrensis 55

Hình 4.7 Thu hoạch khoai tây thí nghiệm 56

Trang 12

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT, KÍ HIỆU

Trang 13

Chương 1 MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Cây khoai tây (Solanum tuberosum L.) có nguồn gốc ở vùng cao thuộc dãy núi

Andes, Nam Mỹ Khoai tây được coi là cây lương thực có tầm quan trọng đứng hàng thứ

tư sau lúa mì, lúa nước và ngô Ở Việt Nam khoai tây được coi là một loại thực phẩm cao cấp và đang được trồng phổ biến ở một số tỉnh Miền Bắc và Đà Lạt

Trên cây khoai tây có nhiều loại sâu bệnh hại đang là nỗi lo lắng của bà con nông

dân Những năm gần đây, trên cây khoai tây xuất hiện loài ruồi đục lá L huidobrensis gây

hại nặng làm giảm năng suất củ khoai tây đáng kể Cả thành trùng và sâu non của ruồi đục

lá đều gây hại, ruồi chích vào lá lấy thức ăn và đẻ trứng vào trong mô lá Sâu non của ruồi đục lá sau khi nở đục vào trong lá và ăn diệp lục lá làm giảm nhanh diện tích quang hợp dẫn đến năng suất khoai tây giảm, nếu mật số sâu non ruồi đục lá cao có thể làm chết cả cây con (Gary, 2008) Ở Indonesia, tại Trung tâm Java, Tây Sumatra và Bắc Sumatra năng suất khoai tây giảm từ 30 – 70% (Rauf và ctv., 2000), tại Tây Java thiệt hại năng

suất khoai tây do ruồi đục lá L huidobrensis lên đến 100% trong mùa mưa năm 1996 (Shepard và ctv., 1998) Ở Việt Nam L huidobrensis được tìm thấy ở Lâm Đồng nơi có

độ cao 1000 – 1800 m Loài này đã xâm nhập vào các vùng trồng rau ở Đà Lạt, Lâm

Đồng từ các cây trồng nhập khẩu (Andersen và ctv., 2002) Vấn đề ruồi đục lá L huidobrensis đang là mối lo lắng của nhiều bà con nông dân trồng khoai tây

Để quản lý loài ruồi đục lá, bà con nông dân ở một số nước thường sử dụng đơn thuần các loại thuốc hóa học và sử dụng một cách bừa bãi dần dần hình thành nên tính chống chịu cao ở loài ruồi này và làm phá vỡ cân bằng sinh thái có sẵn trong tự nhiên (Phyllis, 1995)

Để khắc phục tình hình thực tế ở trên, việc áp dụng biện pháp sinh học và biện pháp hóa học trong việc quản lý ruồi đục lá là đều cần được quan tâm Hiện nay, cả hai biện

Trang 14

pháp đều quan trọng và cần thiết, làm sao cho phát huy mặt tích cực của hai biện pháp này, sử dụng kẻ thù tự nhiên và hóa chất một cách hợp lý, hiệu quả nhất, đó là điều cần được tìm hiểu kĩ để đưa ra biện pháp phòng trừ ruồi đục lá đạt hiệu quả cao

Ngày nay, nông dân trồng khoai tây sử dụng thuốc bảo vệ thực vật một cách tràn lan, không chọn lọc làm ảnh hưởng xấu đến môi trường, đồng thời phá vỡ quần thể ong ký sinh có sẵn trong ruộng khoai tây, sâu hại thì ngày càng trở nên kháng với các loại thuốc trừ sâu Việc phòng trừ ruồi đục lá không còn hiệu quả cao như trước Để biết được các loại thuốc hóa học trừ ruồi đục lá đang được sử dụng hiện nay loại nào có khả năng phòng

trừ ruồi đục lá tốt và ít ảnh hưởng đến ong ký sinh của chúng nhất, đề tài: “Ảnh hưởng

của một số nông dược đến sâu non ruồi đục lá Liriomyza huidobrensis và ong ký sinh

của chúng trên cây khoai tây tại Đà Lạt – Lâm Đồng” đã được tiến hành

 Yêu cầu của đề tài

- Xác định được hiệu quả phòng trừ sâu non ruồi đục lá L huidobrensis của các loại

nông dược thí nghiệm

- Đánh giá được ảnh hưởng của các loại nông dược thí nghiệm đến quần thể ong kí

sinh sâu non ruồi đục lá L huidobrensis

Trang 15

1.3 Đối tượng nghiên cứu

- Ruồi đục lá L huidobrensis trên cây khoai tây tại Đà Lạt

- Ong ký sinh trên sâu non ruồi đục lá L huidobrensis trên cây khoai tây tại Đà Lạt

1.4 Giới hạn đề tài

Đề tài được thực hiện từ tháng 2/2011 đến tháng 5/2011 trên ruộng khoai tây tại xã

Xuân Thọ - Tp Đà Lạt - Lâm Đồng

Trang 16

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Giới thiệu về ruồi đục lá L huidobrensis

2.1.1 Đặc điểm hình thái và sinh học của ruồi đục lá L huidobrensis

Phyllis và ctv (1998) đã nghiên cứu và mô tả tổng quát các đặc điểm hình thái và

đặc điểm sinh học của ruồi L huidobrensis ở Israel như sau:

Ruồi đục lá dài khoảng 2,1 ± 0,2 mm Ruồi cái lớn hơn ruồi đực và sống đến 18 ngày còn ruồi đực chỉ sống khoảng 6 ngày Ruồi cái dùng ống đẻ trứng chích lên bề mặt

lá và lấy thức ăn - dịch của mô lá Ruồi đực sau khi vũ hóa sẽ giao phối và chết

Trứng của ruồi đục lá được đẻ trong khoảng 5 – 10% vết chích của ruồi cái trên mặt

lá Theo Phyllis và ctv (1995), có 87% số trứng sẽ nở thành sâu non Mỗi ngày, một ruồi cái đẻ trung bình từ 8 – 14 trứng, trứng ruồi được đẻ riêng lẻ nhưng thường gần nhau Trứng ruồi đục lá màu trắng đục, kích thước trung bình khoảng 0,3 x 0,1 mm Giai đoạn trứng kéo dài từ 1,5 – 4 ngày, phụ thuộc vào nhiệt độ và ký chủ

Sâu non ăn phần nhu mô lá Sâu non có 3 tuổi, phát triển trong biểu bì lá và các đường đục lớn dần sau mỗi lần sâu non lột xác Giai đoạn sâu non có thể ngắn 3 – 6 ngày hoặc kéo dài đến 10 ngày Sâu non tuổi 3 có thể đạt được kích thước 3,2 x 1 mm (dài x

rộng) Sâu non ruồi đục lá L huidobrensis thường đục tiến vào gân lá và hầu hết sâu non

tuổi cuối được tìm thấy ở trong gân

Các sâu non của ruồi đục lá làm nhộng trên mặt lá hoặc dưới đất Sâu non có 3 tuổi

và cuối tuổi 3 có giai đoạn tiền nhộng Giai đoạn này chỉ kéo dài trong vòng 4 – 5 giờ Nhộng biến động về kích thước dài 1,6 – 3,3 mm, rộng 0,7 – 1,1 mm Giai đoạn nhộng kéo dài từ 7,9 – 12,6 ngày và màu sắc thay đổi từ nâu nhạt đến gần đen

Parrella và Bethke (1984), quan sát vòng đời của ruồi đục lá L huidobrensis ở 27 °C

thì cho rằng giai đoạn trứng kéo dài 3 ngày, giai đoạn sâu non khoảng 3 – 5 ngày, và giai đoạn nhộng từ 8 – 9 ngày, với sự thay đổi nhỏ tùy thuộc vào cây chủ Tỉ lệ vũ hóa cao thấp tùy thuộc vào cây ký chủ, 36% trên cây hoa cúc và 74% trên đậu Hà Lan

Trang 17

Sau khi vũ hóa một ngày ruồi đục lá bắt đầu giao phối Ruồi đục lá giao phối chỉ một lần duy nhất là đủ để thụ tinh cho tất cả trứng (Parrella, 1987) Tỷ lệ đẻ trứng nhiều nhất vào lúc 4 – 8 ngày sau khi vũ hóa Trưởng thành chỉ sống khoảng 12 – 14 ngày Thời gian một vòng đời của ruồi ở California là 17 – 30 ngày vào mùa hè và 50 – 65 ngày trong những ngày mùa đông (Lange và ctv., 1957)

2.1.2 Sự gây hại của ruồi đục lá rau L huidobrensis

Năm loài ruồi đục lá L sativae, L trifolii, L huidobrensis, L bryoniae và L strigata

gây thiệt hại kinh tế các cây trồng quan trọng trên thế giới (Spencer, 1973)

Ruồi đục lá là nguyên nhân gây thiệt hại trực tiếp và gián tiếp đến năng suất cây trồng Năng suất đậu Hà Lan giảm 30% nếu không có biện pháp quản lý đảm bảo (Sivapragasam và ctv,1992)

Ruồi đục lá L huidobrensis là loài côn trùng đa thực, chúng gây hại trên rất nhiều

loại cây trồng từ rau, hoa, cây kiểng đến cỏ dại Cả trưởng thành và sâu non (dòi) đều gây hại Trên tán lá, ruồi chích vào mô lá lấy thức ăn và đẻ trứng tạo ra những lỗ nhỏ li ti Dòi đục lá ăn diệp lục lá tạo ra những đường ngoằn ngèo trên lá thường đục đến gân lá Phân của sâu non thải ra để lại ở giữa đường đục một cách thưa thớt, đứt quãng đến liên tục Đường đục phân bố trên mặt lá bánh tẻ và đường đục tiến vào gân lá đặc điểm này để phân biệt chúng với những loài ruồi đục lá khác khi gây hại trên cùng một lá (Spencer, 1973)

Tại California, ruồi đục lá gây hại nặng trên các loại rau và hoa Parrella và Bethke cho rằng, ruồi đục lá trên hoa dễ kiểm soát, rất ít sử dụng thuốc trừ sâu, chỉ sử dụng khi

thật cần thiết Ở thung lũng Salinas và thung lũng ven biển của Nam Mỹ ruồi đục lá L huidobrensis trên hoa ít biến động nhưng chúng là một dịch hại của ngành sản xuất rau

(Parrella và ctv., 1984)

Theo Phyllis và ctv (1995) vết chích của ruồi cái nhiều hay ít tùy thuộc vào ký chủ của chúng Ở Israel số lỗ chích của ruồi cái trung bình khoảng 83 vết/ngày/cây cúc tây và lên tới 277 vết/ngày/cây họ đậu

Ở Indonesia ruồi đục lá gây hại nghiêm trọng nhất trên khoai tây Ruồi đục lá L huidobrensis làm giảm năng suất khoai tây đáng kể từ 30 – 70% ở Trung tâm Java, Tây

Trang 18

Sumatra và Bắc Sumatra (Rauf và ctv., 2000) Ở Tây Java kết quả thiệt hại năng suất khoai tây do ruồi đục lá là 100% trong mùa mưa năm 1996 (Shepard và ctv., 1998)

Ở Indonesia L huidobrensis tấn công và làm giảm 70% năng suất dưa leo, là nguyên nhân của việc cây trồng chết khi cây mọc được 30 – 40 ngày sau trồng L huidobrensis

cũng gây hại nghiêm trọng trên cây kiểng trong nhà kính ở khu vực Puncak Đánh giá về

thiệt hại kinh tế của ngành sản xuất hoa ở Puncak do ruồi đục lá L huidobrensis là 30% (Himma và ctv.) Mật số L huidobrensis thay đổi khác nhau theo mùa (Shepard và ctv.,

1998) Nghiên cứu của Shepard và ctv (1998) năm 1996 trong vụ khoai tây thì sự gây hại

của L huidobrensis giảm dần vào khoảng cuối tháng 5 Sự tấn công của giống Liriomyza

thường thiệt hại có ý nghĩa vào cuối mùa khô (tháng 6 – 7) và tiếp tục kéo dài đến giai đoạn đầu mùa mưa (tháng 8 – 10) Sự phá hại trong ruộng liên quan tới đặc tính cây trồng, ví dụ trên ruộng khoai tây mật số ruồi đục lá tăng chậm trong suốt thời gian sinh trưởng sinh dưỡng và tăng nhanh chóng trong thời gian sinh trưởng sinh thực và giảm dần khi cây vào giai đoạn già cỗi (Shepard và ctv., 1998)

Tại Đài Loan, Chen và Chang (2002) báo cáo rằng L huidobrensis, L trifolii, L sativae và L bryoniae đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho cây trồng trong nhiều năm liền

Nhiều nguyên nhân dẫn đến việc các loài ruồi đục lá khả năng phân bố rộng và gây hại mạnh như kháng thuốc trừ sâu, độc canh cây trồng cao, thương mại giữa các nước và thiếu kiểm dịch thực vật (Murphy và LaSalle, 1999)

Điều tra gần đây ở Cao nguyên Cameron – Malaysia, có 17% nông dân bỏ canh tác rau vì vấn đề ruồi đục lá (Sivapraga và Syed, 1999)

Ở Peru, kết quả báo cáo khoai tây thiệt hại hơn 30% do loài ruồi đục lá L huidobrensis (Gary, 2008)

2.2 Một số kết quả nghiên cứu về ruồi đục lá rau ở Việt Nam

2.2.1 Thành phần và loài cây ký chủ của ruồi đục lá

Thành phần ruồi đục lá rất đa dạng, chỉ riêng giốngLiriomyza chứa hơn 300 loài

phân bố rộng rãi trên trên thế giới (Parrella, 1987) Ở Việt Nam hiện đã thu thập và định

danh được 5 loài ruồi đục lá hại rau, đó là L sativae, L bryoniae, L chinensis, L

huidobrensis và Chrotomyai horticola ( Andersen và ctv., 2002)

Trang 19

Theo Hà Quang Hùng (2001), L sativae là loài phổ biến nhất, gây hại 15 loài rau L sativae được tìm thấy ở 10 tỉnh miền Bắc

Ở Việt Nam, sự gây hại L bryoniae được ghi nhận lần đầu tiên trên cây đậu xanh ở

Hà Nội vào năm 2003 (Grimstad, 2004) L bryoniae là loài phổ biến, gây hại 10 loại rau

ở Thanh Hóa và Nghệ An

Loài L chinensis chỉ xuất hiện trên các cây trồng thuộc họ hành tỏi (Allium spp.) Andersen và ctv (2002), cũng đã tìm thấy L chinensis trên họ hành tỏi ở Bắc Ninh, Đồng Nai và Bà Rịa Vì vậy có thể khẳng định L chinensis là loài phổ biến ở các vùng trồng

hành tỏi trên cả nước

Theo Trần Đăng Hòa (2004) L huidobrensis được tìm thấy trên cải cúc ở thành phố Huế Nghiên cứu trước đây cho thấy L huidobrensis được tìm thấy ở Lâm Đồng nơi có

độ cao 1000 – 1800 m Theo Andersen và ctv (2002) loài này có thể xâm nhập vào các vùng trồng rau ở Đà Lạt, Lâm Đồng từ các cây trồng nhập khẩu Là loài ưa nhiệt độ thấp

(Chen và Kang, 2004) nên sự lây lan của L huidobrensis ở Việt Nam chỉ có thể xảy ra ở

các vùng núi cao (Andersen và ctv., 2002)

C horticola gây hại phổ biến trên cây cải xanh Ngoài ra nó còn gây hại bắp cải, xu hào, cải cúc, cà chua C horticola dễ dàng phân biệt với các loài ruồi đục lá rau khác vì

toàn thân có màu đen và kích thước lớn hơn

Theo Lê Ngọc Anh và Đặng Thị Dung (2006) tại khu vực trồng rau ở Hà Nội và phụ

cận đã thu bắt được 7 loài ruồi đục lá thuộc họ Agromyzidae bộ Diptera, bao gồm L sativae Blanchard, Liriomyza sp., L bryonidae, C horticola Goureau, Phytomyza sp Và

2 loài ruồi vàng và ruồi đen 2 vằn bụng Đây là 2 loài ruồi mới thu bắt còn chưa giám định được tên khoa học

Theo Trần Đăng Hòa (2008), có 5 loài ruồi đục lá gây hại trên rau ở các tỉnh miền

Trung, đó là L sativae, L bryoniae, L chinensis, L huidobrensis và C horticola

Theo Vũ Thị Hằng (1999), qua điều tra tại Lâm Đồng, Hưng Yên, Hải Phòng năm

1998 đã xác định được hai loài ruồi đục lá hại rau ở Việt Nam: L sativae, L huidobrensis

Trang 20

Theo Trần Thị Thiên An (2007), tại thành phố Hồ Chí Minh có hai loài ruồi đục lá

rau phổ biến là L huidobrensis và L trifolii

Ở nước ta hiện nay, ruồi đục lá đang là một trong những loài gây hại nghiêm trọng trên một số loại rau như đậu côve, đậu đũa, đậu trạch, cà chua, dưa chuột…tại các vùng trồng rau chính trong cả nước (Hà Quang Hùng, 2002)

Ba đại diện trong tổng số 300 loài của giống ruồi đục lá Liriomyza của họ Agromyzidae (L sativae, L huidobresis, L trifolii) là những loài dịch hại nguy hiểm đối

với sản xuất nông nghiệp trên thế giới với đặc tính dễ thích nghi với môi trường sống mới, tốc độ phát triển nhanh và nhanh quen với các loại thuốc hoá học (Hà Quang Hùng, 2001)

Nhiều nghiên cứu cho thấy, phổ ký chủ của Liriomyza sp ngày nay càng rộng lớn hơn Theo Trần Thị Thiên An (1998), năm 1995, Liriomyza sp có trên 29 loài cây thuộc

12 họ thực vật và 30 loài cây trồng thuộc 11 họ thực vật và đến năm 1999 số cây bị hại tăng lên 40 loài

Theo Lê Ngọc Anh và Đặng Thị Dung (2006), tại khu vực trồng rau ở Hà Nội và phụ cận, các loài ruồi đục lá gây hại trên 34 loài cây ký chủ khác nhau thuộc 11 họ thực vật

Theo Lê Dũng Minh (2001), tại TP Hồ Chí Minh có 15 loại rau bị dòi đục lá gây hại, trong đó các loại rau cà chua, dưa leo, đậu cô ve, đậu búng là những loại rau bị ruồi đục lá gây hại năng nhất Ruồi đục lá phát sinh trên ruộng rau ngay từ đầu vụ và gia tăng vào cuối vụ Biến động tác hại của dòi đục lá rau tùy thuộc cây trồng và mùa vụ Mức độ gây hại của ruồi đục lá rau trong mùa khô cao hơn trong mùa mưa

2.2.2 Thành phần ong kí sinh sâu non của ruồi đục lá rau

Ở Việt Nam có các loài ong ký sinh của ruồi đục lá như Asecodes spp, Cirrospilus ambiguous, Closterocerus sp., Hemiptarsenus varicornis, Neochrysocharis formosa, Neochrysocharis okazakii, Quadrastichus sp , Gronotoma sp.[Rauf và Shepard (1999); Sivapragasam và Syed (1999); Thang (1999)]

Trang 21

Theo Trần Đăng Hòa ở các tỉnh miền Trung nước ta đã thu thập và định danh được

13 loài ong ký sinh thuộc 3 họ Braconidae, Eucoilidae và Eulophidae Thành phần và mức

độ phổ biến của ong ký sinh khác nhau ở các vùng sinh thái Hầu hết ong ký sinh thu

được thuộc họ Eulophidae Trong đó 2 loài Neochrysocharis okazakii và N formosa là

các loài ong ký sinh sâu non ruồi đục lá phổ biến ở Bắc miền Trung Các loài ong ký sinh

phổ biến ở vùng Duyên hải miền Trung là N okazakii và H varicornis Trong khi đó, C pentheus và A delucchii là các loài ong ký sinh sâu non ruồi đục phổ biến nhất ở Tây

Nguyên

Theo Lê Ngọc Anh và Đặng Thị Dung (2006), tại khu vực trồng rau ở Hà Nội và phụ cận, có 10 loài ong ký sinh trên ruồi đục lá đã được ghi nhận, thuộc 5 họ trong bộ Hemenoptera, trong đó phổ biến nhất là họ Eulophidae và họ Braconidae Trong số các

loài ong ký sinh thu bắt được thì 2 loài ong ký sinh Neochrysocharis formosa và Neochrysochris sp có mức độ phổ biến nhất Trong 4 loại thức ăn thêm là nước lã, nước

đường 20%, mật ong pha loãng 20% và mật ong nguyên chất thì tuổi thọ và tỷ lệ ký sinh

của loài N formosa là cao nhất khi thức ăn thêm là mật ong nguyên chất, đạt trung bình là

15,5 ngày và 58,5% Ở điều kiện nhiệt độ là 28,5 0C, ẩm độ 78,5% thời gian vòng đời

trung bình của loài ong N formosa là 13,1 ngày

2.2.3 Biện pháp phòng trừ ruồi đục lá hại rau

Hiện nay tại các vùng trồng rau ở nước ta đều bị ruồi đục lá gây nặng, việc phòng trừ ruồi đục lá của bà con nông dân chủ yếu là bằng thuốc hóa học (Nguyễn Thị Ngọc, 2002) Theo Lê Dũng Minh (2001), ở TP Hồ Chí Minh để phòng trừ dòi đục lá rau, nông dân chủ yếu dùng thuốc gốc lân hữu cơ và Pyrethroid Đa số nông dân phun khi thấy dòi đục lá và dùng thuốc theo nồng độ khuyến cáo

Theo Lê Dũng Minh (2001), áp dụng biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp IPM đối với dòi đục lá rau mà chủ yếu là bón phân cân đối và sử dụng thuốc BVTV đúng đã thu được hiệu quả kinh tế cao hơn áp dụng theo tập quán nông dân

Ở Việt Nam, Vũ Thị Thắng (1999) tại TP Hồ Chí Minh, Lâm Đồng, Hưng Yên, Hải Phòng năm 1998 có 16 nhóm thuốc BVTV với 57 tên thương mại khác nhau đã được sử dụng trừ sâu non ruồi đục lá

Trang 22

2.3 Một số kết quả nghiên cứu về ruồi đục lá rau ở nước ngoài

2.3.1 Thành phần và cây kí chủ ruồi đục lá

Giống ruồi đục lá Liriomyza chứa hơn 300 loài được phân bố rộng rãi trên thế giới, hầu hết ruồi đục lá Liriomyza có nguồn gốc ở các khu vực ôn đới (Parrella, 1987)

Spencer năm 1973, đã nghiên cứu về sự tiến hóa và phân bố các họ Agromyzidae nói

chung và chỉ có khoảng 23 loài thuộc giống Liriomyza gây hại nghiêm trọng về kinh tế trong đó có 5 loài là loài đa thực: L sativae, L trifolii, L huidobrensis, L bryoniae và L strigata (Spencer, 1973)

Theo Spencer (1973), L trifolii có thể tồn tại ở những nơi có mùa đông nhiệt độ

dưới 00C trong thời gian dài, nhưng nó chỉ phát triển mạnh trong điều kiện nhiệt đới và

cận nhiệt đới Tại Nam Mỹ, L sativae sống trong giới hạn ở những nơi ấm khu vực có độ cao thấp, trong khi đó ở khu vực có địa hình cao thì có L huidobrensis (Spencer, 1989)

Điều này cũng đúng ở vùng Đông Nam Á [Rauf và Shepard (1999); Sivapragasam và Syed (1999); Thang (1999)]

Theo David Henshaw và ctv (2000), giống Liriomyza hiện có 376 loài được công

nhận, trong đó 136 loài được tìm thấy ở Châu Âu Trưởng thành của các loài này trông rất giống nhau Tất cả chúng đều nhỏ (dài 1 – 3 mm), nhìn từ trên xuống chủ yếu là màu đen

và hầu hết đều có màu vàng ở mảnh lưng ngực thứ ba Bốn loài L bryoniae, L huidobrensis, L sativae và L trifolii thì chỉ có L bryoniae là có nguồn gốc ở Châu Âu, ba

loài còn lại bắt nguồn từ Châu Mỹ

Ruồi đục lá L huidobrensis xuất hiện ở những nơi mát mẻ, chủ yếu là vùng cao nguyên của Châu Mỹ La tinh (Spencer, 1992) Tại Nam Mỹ, L huidobrensis được tìm thấy tại Argentina, Brazil, Chile, Colombia, Peru, Venezuela Ở Trung Mỹ, L huidobrensis xuất hiện ở Belize, Costa Rica, El Salvador, Guatemala, Honduras,

Nicaragua, Panama, vùng biển Caribbean, Cộng hoà Dominicana , Guadeloupe (Martinez

và ctv., 1993) Ở Bắc Mỹ, ruồi đục lá L huidobrensis có mặt ở bang California (có thể là

trong tất cả các quận phía Nam và dọc theo các thung lũng ven biển và nội địa nhất là xa phía bắc như Placer (Spencer, 1981), sâu trong thung lũng Salinas Monterey, Hawaii Tại

Trang 23

Châu Âu ruồi đục lá L huidobrensis được tìm thấy ở các nước Bỉ, Hà Lan, Anh, Trung

Đông, Israel

Theo Shepard và ctv (1998) ruồi đục lá L huidobrensis lần đầu tiên được báo cáo

tại Java, Indonesia vào năm 1994

Ruồi đục lá L huidobrensis là loài đa thực phá hại nhiều loại rau màu và hoa trồng trong và ngoài nhà kính Spencer (1973, 1990) đã ghi nhận được L huidobrensis gây hại trên 14 họ thực vật

Ruồi đục lá L huidobrensis gây hại một lượng rất lớn các loại hoa, rau và cỏ dại

Một số họ thực vật có tầm quan trọng về kinh tế bị ruồi đục lá phá hại như họ bầu bí (dưa chuột, dưa leo, dưa gang), họ đậu, cây họ cà (cà chua, khoai tây, cà tím), họ cẩm chướng

(Dianthus spp, Gypsophila spp), họ rau muối (rau bina, củ cải đường), cây họ cúc (cây kế,

rau diếp quăn, cúc tây, hoa cúc, hoa đồng tiền, xà lách), cây họ thập tự (cải bắp, củ cải),

họ hoa tán (cà rốt, cần tây, mùi tây), họ hoa tím (Viola spp ) (Spencer, 1989)

Những năm 90, trên đậu Hà Lan và họ thập tự chỉ có ruồi đục lá C horticola gây hại (Sivapragasam, 1992) Tuy nhiên sau này trên các loại cây trồng đó xuất hiện Liriomyza spp và chúng được xác định là loài L huidobrensis.

Ruồi đục lá L huidobrensis lần đầu tiên được ghi nhận trên toàn miền Tây, Trung

Âu và ở một số nước sản xuất hoa cúc cắt cành tại Nam Mỹ vào những năm 1989 – 1990 Khảo sát ở Indonesia của Shepard, Samsudin và Brauns (1998), cho thấy ruồi đục lá

L huidobrensis tấn công hơn 20 loài ký chủ thuộc các nhóm rau, cây kiểng và cỏ dại

Ruồi đục lá gây hại nghiêm trọng nhất trên cây khoai tây nhất là vào mùa mưa Cây khoai

tây rất dễ bị L huidobrensis gây hại

2.3.2 Thành phần ong ký sinh của ruồi đục lá rau L huidobrensis

Kết quả điều tra ong ký sinh của ruồi đục lá rau được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới cho thấy thành phần loài và mức độ phổ biến của các loài rất khác nhau Một số loài phân bố hẹp, trong khi một số loài có khả năng phân bố rất rộng Sự phân bố của các loài ong ký sinh ruồi đục lá ở các vùng sinh thái khác nhau phụ thuộc vào khí hậu, thời tiết

(Murphy và LaSalle, 1999) Liriomyza spp được biết là có nhiều ong ký sinh, đặc biệt là

Trang 24

ở trung tâm khởi nguyên của ruồi đục lá là Châu Mỹ (Murphy and LaSalle, 1999; Waterhouse and Norris, 1987)

Ong ký sinh ruồi đục lá được nghiên cứu và đánh giá ở nhiều nước với hơn 100 loài

như Diglyphus begini Ashmead và Dacnasa sibirica Telenga được sử dụng thành công

trong kiểm soát sinh học trên rau, hoa kiểng được trồng trong nhà kính, đặc biệt cà chua, hoa cúc ở Châu Âu và Bắc Mỹ (Chen và ctv., 2001)

Các loài ong ký sinh ký sinh giai đoạn sâu non của ruồi đục lá gồm có các loài như

Diglyphus spp (Eulophidae) và các loài ký sinh giai đoạn tiền nhộng của ruồi đục lá như Chrysocharis spp (Eulophidae) (Minkenberg và van Lenteren, 1986)

Các loài ong ký sinh của ruồi đục lá trong tự nhiên đa dạng, có hơn 40 loài ong ký

sinh trên 3 loài ruồi đục lá là L sativae, L trifolii và L huidobrensis (Waterhouse và

Norris, 1987)

Ở Peru, một số loài ong ký sinh H arduine, D websteri, D begini, Ganaspidium sp

và C phytomyzae có vai trò quan trọng trong việc quản lý L huidobrensis khi quần thể

của ong ký sinh không bị thuốc hóa học làm phá vỡ (Vignez và Redolfi de Huiza, 1992) Nghiên cứu ở Hawaii cho biết có nhiều loài thiên địch cần thiết cho việc quản lý ruồi

đục lá Loài H circulus, G utilis và C oscinidis là những ong ký sinh có hiệu quả đối với

L huidobrensis trên cần tây ở Hawaii Ong ký sinh có sự thay đổi theo từng loại cây kí

chủ [Johnson và Hara (1987); Johnson (1993)]

Các ong ký sinh thuộc giống Opius (Braconidae), Chrysocharis và Diglyphus (Eulophidae) và Halticoptera (Pteromalidae) và loài khác đều phân bố toàn cầu, các loài

từ các giống này đã được ghi nhận gần như tất cả các vùng có ruồi đục lá tấn công (Murphy và LaSalle, 1999)

Trong điều kiện tự nhiên ở Malaysia ruồi đục lá bị tấn công bởi nhiều loài ong ký sinh khác nhau Theo Sivapragasam và ctv (1992), có 2 loài ong ký sinh thuộc họ

Eulophidae là Hemiptrasenus varicornis và Chrysocharis sp Đến năm 1995 Sivapragasam và ctv báo cáo có thêm một loài khác là Goniozus sp Theo Myint (1997), cho biết có 3 loài ong ký sinh thuộc giống Opius là O pallipes, O phaseoli và Opius sp

Năm 1997 trong dự án này của Myint đã tìm ra và định danh được loài mới như

Trang 25

Neochrysoris formosa, Neochrysocharis sp., Cirrospilus ambiguous, Acecodes sp.A, Asecodes sp.B và Gronotoma sp Điều thú vị là H varicornis, N formosa, Opius sp và Asecodes sp.A tìm thấy được ở cả đồng bằng và cao nguyên

Tại Malaysia, Sivapragasam và Syed (1999) báo cáo rằng ong ký sinh ấu trùng ruồi đục lá có thể là góp phần quan trọng gây biến động mật số ruồi đục lá

Rauf và Shepard (1999), báo cáo rằng ở Indonesia, mật số ong ký sinh khác nhau giữa các loại cây trồng, địa điểm và khí hậu Mật số ong ký sinh rất cao trên đậu, cà tím, đậu tương và củ cải đường (50 – 90%) nhưng rất thấp trên khoai tây, cần tây và củ hành (thường ít hơn 10%)

Tại Indonesia có 11 loài ong ký sinh của Liriomyza spp được tìm thấy phổ biến nhất

là loài Hemiptarsenus varicornis, tuy nhiên mật số của H varicornis trên cây khoai tây

tương đối thấp (Rauf và ctv., 2000) Thế nhưng ong ký sinh trên cải bông xanh và hành tăm cao hơn trên khoai tây (Shepard, Samsudin và Brauns, 1998) Mật số ong ký sinh trên khoai tây ở khu vực Puncak, Tây Java vào khoảng cuối mùa mưa là cao nhất

Ở miền Nam Thái Lan, theo Petcharat và ctv (2002), đã tìm thấy có 6 loài ong ký

sinh là Asecodes sp., Cirrospilus ambiguus, Hemiptarsenus variconis, Neochrysocharis formosa, Opius dissitus, Quadrastichus sp thể hiện ở hình 2.1

Trang 26

Hình 2.1 Một số loài ong ký sinh của ruồi đục lá Liriomyza spp ở Thái Lan

(Bar = 0,05 mm)

A) Ong cái Asecodes sp nr notandus (Silvestri) (Hymenoptera : Eulophidae)

B) Ong cái Cirrospilus ambiguus Hansson & LaSalle (Hymenoptera : Eulophidae)

C) Ong cái và ong đực Hemiptarsenus variconis (Girault) (Hymenoptera : Eulophidae) D) Ong cái Neochrysocharis formosa (Westwood) (Hymenoptera : Eulophidae)

E) Ong cái Opius dissitus (Muesebeck) (Hymenoptera : Braconidae)

F) Ong cái Quadrastichus sp nr liriomyzae (Hymenoptera : Eulophidae)

(Nguồn: Jiraporn Petcharat , Zeng Ling, Zhang Weiqiu , Xu Zaifu And Wu

Quisong, 2002 Larval parasitoids of agromyzid leaf miner genus Liriomyza in the southern Thailand : species and their host plants Songklanakarin J Sci Technol , 24(3)

: 467-472)

Trang 27

2.3.3 Một số biện pháp quản lý ruồi đục lá

 Biện pháp sinh học

Trước những năm 70, ruồi đục lá ở Peru được kiểm soát bởi quần thể ong ký sinh, nhưng vào những năm 70 thuốc hóa học trừ sâu trên cây khoai tây trong đó có ruồi đục đã

bắt đầu được sử dụng Kể từ đó, ruồi đục lá L huidobrensis một phần được kiểm soát

bằng hóa chất, một phần được kiểm soát bằng ong ký sinh tự nhiên trên đồng

Theo Phyllis và ctv (1995), trong các nhà kính ở châu Âu, ruồi đục lá đã được kiểm

soát thành công với việc phóng thích các loài ong ký sinh Dacnusa sibirica, Opius pailipes và Diglyphus isaea Điều này cũng nằm trong kế hoạch kiểm soát sinh học trong

các nhà kính ở Bỉ (D Dagheele) Tuy nhiên, các ong ký sinh có thể kiểm soát các ruồi đục lá chỉ khi không sử dụng chất hóa học để trừ dịch hại khác

Trong một nguyên cứu của Chen và ctv (2003), trên nghiệm thức sử dụng thuốc hóa học trong suốt vụ ong ký sinh chỉ có 10 – 20% Điều này khác biệt có ý nghĩa với nghiệm thức không dùng thuốc và dùng ít thuốc là 48,5 – 68,8% ong ký sinh trong suốt vụ rau, và

tỉ lệ ong ký sinh > 83,7% trên cỏ dại

 Biện pháp canh tác

Các nghiên cứu về phương pháp biện pháp canh tác đã được thực hiện ở nhiều nước nhưng không cho nhiều kết quả khả quan

Nghiên cứu ngoài đồng ở Hà Lan cho thấy, màng phủ nông nghiệp (0,6 x 0,6 mm)

có hiệu quả chống lại L huidobrensis, nhưng đắt hơn so với kiểm soát hóa học (Phyllis và

ctv., 1995)

Chavez và Raman đã cố gắng giảm mật số ruồi đục lá bằng các bẫy dính màu vàng Mặc dù số lượng trưởng thành giảm đáng kể, không có sự khác biệt về số lượng sâu non trên lá giữa dùng bẫy và ô đối chứng (Phyllis và ctv., 1995)

Ở Trung Quốc bẫy dính màu vàng được sử dụng rộng rãi rất sớm từ những năm 90 nhưng dần dần bẫy màu vàng không có hiệu quả trong việc quản lý ruồi đục lá Ví dụ trên ruộng hoa cúc số đường đục/lá và số sâu non/lá của ô dùng bẫy màu vàng cao hơn (3,81 đường/10 lá và 3,63/10 lá) so với nghiệm thức không dùng bẫy (2,66 đường/10 lá và 2,51 sâu non/10 lá) Tuy nhiên bẫy màu vàng nên được sử dụng như một phần của công cụ

Trang 28

kiểm soát trong quản lý dịch hại tổng hợp IPM để theo dõi mật số ruồi mà áp dụng các biện pháp khác (Myint, 1997)

Ở Anh, bẫy màu vàng bằng nhựa có phủ chất dính, kích thước 150 x 150 mm, đã được phát triển như là một chiến lược trong chương trình phòng trừ ruồi đục lá và được thương mại hóa Ở Pháp, Trouve cũng đề nghị biện pháp dùng bẫy màu vàng như là một phương tiện kiểm soát ruồi đục lá trong các nhà kính

Nghiên cứu về trồng xen trên ruộng (đậu Hà Lan và hành làm hàng rào bảo vệ) để tăng mật độ các ký sinh cho thấy cây đậu giảm bốc thoát hơi nước do gió, cho phép ruồi

đục lá (96% trong số đó là L huidobrensis) nhiều hơn trên các tán lá hành tươi tốt, trong

khi ký sinh tập trung chủ yếu trên đậu Vì vậy cây đậu không phải phục vụ cho việc thu hút ruồi đục lá mà còn là nơi để tăng mật số ong ký sinh

Ở Indonesia, hướng giải quyết khác để quản lý ruồi đục lá là cải biến sức chống chịu của cây trồng bằng việc sử dụng phân bón hữu cơ đã được giới thiệu trong vài năm gần đây, đặc biệt là trong nông nghiệp hữu cơ [Subler và ctv., 1998; Atiyeh và ctv., 2000; Atiyeh và ctv., 2001]

 Biện pháp hóa học

Ở Châu Âu và Israel đã chứng minh kiểm soát bằng hóa chất rất khó khăn Mac Donald ghi nhận rằng ruồi đục lá tại Vương quốc Anh kháng thuốc trừ sâu Sử dụng thuốc

trừ sâu thông thường trừ L trifolii là không có hiệu quả trong phòng trừ L huidobrensis

Trong thực tế, danh sách các thuốc trừ sâu đang sử dụng lúc bấy giờ không có hiệu quả đối với ruồi đục lá Thuốc trừ sâu phần nào hiệu quả đối với ruồi đục lá trong các thử nghiệm thực địa trên rau diếp và khoai tây là deltamethrin, deltamethrin trộn với oxamyl

và oxamyl Tuy nhiên deltamethrin có độc tính cao đối với ong ký sinh Oxamyl hạt cũng

đã được báo cáo có hiệu quả và có thể ít gây tổn hại cho ong ký sinh (Phyllis và ctv., 1995)

Các giai đoạn quan trọng nhất để nhằm mục tiêu kiểm soát hóa chất là trứng và sâu non, mặc dù cho đến nay không có gì là hiệu quả đối với trứng Trong khi đó con cái ruồi

đục lá L huidobrensis tạo lỗ nhỏ li ti trên bề mặt lá bằng những vết chích làm giảm hiệu

Trang 29

suất quang hợp và giảm giá trị thẩm mỹ thì vẫn không kiểm soát được bằng thuốc hóa học

Trong thí nghiệm trong phòng và ngoài đồng, bốn hoạt chất đã được tìm thấy có hiệu quả tốt trong việc phòng trừ ruồi đục lá là abamectin, oxamyl, cyromazine và oxalate hydrogen thiocyclam (Phyllis và ctv., 1995)

Trên 35 loại thuốc trừ sâu thông thường được sử dụng để kiểm soát Liriomyza spp

trên cây khoai tây ở Indonesia (Rauf và ctv., 2000) nhưng chỉ abamectin và cyromazine cho hiệu quả Tuy nhiên, cả hai loại thuốc trừ sâu đó đều đắt tiền Do đó, chỉ có vài người nông dân có thể sử dụng thuốc hóa học này[Mujica và ctv., 2000; Rauf và ctv., 2000; Prijono và ctv., 2004]

Ở Tây Nguyên, Cameron khảo sát về việc quản lý ruồi của nông dân cho thấy 100% nông dân có sử dụng thuốc hóa học, sử dụng bẫy màu vàng là 20%, canh tác truyền thống làm cỏ 0,67% và luân canh 0,33% Hầu hết nông dân phun thuốc hàng tuần chiếm 46%, phun 5 ngày/lần có 25%, 3 – 4 ngày/lần chiếm 17%, có 50% nông dân phun thuốc 10 – 12 ngày/lần

Việc sử dụng thuốc trừ sâu để kiểm soát ruồi không hiệu quả và gây hại cho mật số thiên địch trong tự nhiên [Nugaliyada, 2000; Civelek và Yoldas, 2003]

Có nhiều yếu tố làm dịch hại ruồi bùng phát, một trong những vấn đề quan trọng là làm mất kẻ thù tự nhiên, nguyên nhân là dùng thuốc hóa học bừa bãi, thiếu thận trọng ( Johnson, 1980) Ong ký sinh là nhóm kẻ thù tự nhiên chính của ruồi đục lá [Parrella, 1987; Kang, 1996] và chúng có vai trò quan trọng trong việc kiểm soát ruồi đục lá trong

hệ sinh thái và khu vực ít sử dụng thuốc hóa học [Johnson, 1980; Kang, 1996]

2.3 Đặc điểm một số loại thuốc sử dụng trong thí nghiệm

 Dinotefuran

Tên thương mại: Oshin 20 WP ( Mitsui Chemicals Inc)

Tính chất: thuốc kỹ thuật ở thể rắn, điểm nóng chảy 94,5 – 101,5 0C Tan trong nước 54,3 g/l ( ở 20 0C )

Trang 30

Nhóm độc III, LD50 qua miệng 2804 mg/kg, qua da >2000 mg/kg Ít độc với cá (LD50 với cá chép >1 g/l trong 96 giờ) Thời gian cách ly 7 ngày

Thuốc trừ sâu vị độc và tiếp xúc, có khả năng nội hấp mạnh Phổ tác dụng rộng, phòng trừ được nhiều loại sâu miệng nhai và chích hút cho nhiều loại cây trồng

Khả năng hỗn hợp: khi sử dụng có thể pha chung với nhiều loại thuốc trừ bệnh khác Không pha chung với thuốc có tính kiềm như Bordeaux

Nhóm độc II, LD50 qua miệng 996 – 1021 mg/kg Ít độc với ong và cá Thời gian cách ly 14 ngày

Tác động tiếp xúc, vị độc, có khả năng xông hơi và nội hấp nhẹ Phổ tác dụng rộng Khả năng hỗn hợp: có thể pha chung với nhiều thuốc trừ sâu bệnh khác

Nhóm độc III, LD50 qua miệng 3387 mg/l, LD50 qua da 3100 mg/kg Rất ít độc với

cá (LD50= 87.9 – 92,4 mg/l trong 96 giờ) không độc với ong Thời gian cách ly 7 ngày

Là thuốc điều hòa sinh trưởng côn trùng, tác dụng tiếp xúc, vị độc

Khả năng hỗn hợp: Có thể pha chung với nhiều thuốc trừ sâu bệnh khác

Trang 31

 Azadirachtin

Tên thương mại: Neem bond – AEC (Rangsit Agri- economic Ltd); Neem Nim Xoan Xanh Green 0,15EC

Tính chất: thuốc trừ sâu có nguồn gốc thảo mộc, là một hợp chất có trong cây Neem

Ấn Độ (Azdirachta indica) và cây xoan Trung Quốc ( Melia azedarach) Thuốc nguyên

chất dạng rắn, tương đối bền trong tự nhiên, dễ phân hủy trong môi trường kiềm, tan trong nước và trong nhiều dung môi hữu cơ

Nmbecidine 0,003EC là thuốc nước màu nâu nhạt, mùi hắt mồng nhẹ ( như mùi lưu huỳnh)

Nhóm độc III (nhóm II với mắt), LD50 qua miệng 3450 mg/kg qua da >2000 mg/kg Độc với cá, ít độc với ong.TGCL 5 ngày

Tác động vị động và tiếp xúc, phổ tác dụng rộng, hiệu lực diệt sâu tương đối chậm (sau 2 – 3 ngày) nhưng kéo dài đến 7 - 10 ngày

Khả năng hỗn hợp: có thể pha chung với thuốc trừ sâu bệnh khác, không pha chung với thuốc Bordeaux Rất có hiệu quả khi sử dụng luân phiên vối thuốc hóa học khác thuộc các nhóm lân hữu cơ, Pyrethroid đối với các sâu dễ chống chịu

 Spinetoram

Tên thương mại: Radian 60SC

Spinetoram là sản phẩm mới quản lý sâu hại của công ty Dow AgroSciences Những thử nghiệm tính hiệu quả của hoạt chất spinetoram được tiến hành trên nhiều loại cây trồng và có hiệu quả trong việc phòng trừ bọ trĩ, ruồi đục lá, sâu ăn tạp và nhiều loài dịch hại khác Spinetoram ít tác động đến hầu hết các côn trùng có ích

Liều lượng khuyến cáo là 30 – 120 g/ha tùy vào loại cây trồng và dịch hại

Cơ chế: Spinetoram gây kích thích làm rối loạn hệ thần kinh của côn trùng bằng cách thay đổi chức năng của nicotinic và các kênh ion GABA Nó không tương tác với các loại thuốc như neonicitinoids, fiproles, hoặc avermectins

Trang 32

2.4 Sơ lược về cây khoai tây

2.4.1 Giá trị sử dụng cây khoai tây

Khoai tây có thời gian sinh trưởng ngắn, từ 80 - 100 ngày, nhưng có khả năng cho năng suất từ 15 - 30 tấn củ/ha với giá trị dinh dưỡng cao Trong quá trình phát triển kinh

tế xã hội, nhu cầu tiêu thụ khoai tây của thị trường nói chung, đặc biệt là các đô thị, khu công nghiệp và khu du lịch sẽ ngày càng tăng

Khoai tây có thể cung cấp cho cơ thể những thành phần dinh dưỡng cao nếu chúng được chế biến tốt Theo các chuyên gia Dinh dưỡng của Trung tâm Y tế Texas (Mỹ) thì dùng khoảng 203 g khoai tây/ngày có thể cung cấp được 50% số lượng vitamin C và B6 cần thiết cho một người lớn/ngày Với thành phần cao kali, khoai tây còn có tác dụng củng cố khung xương vững chắc, nhất là những người thường chơi thể thao nên năng dùng khoai tây Hàm lượng dinh dưỡng trong 100 g củ khoai tây ăn được là glucid 21%, protit 2%, chất xơ 1% Khoai tây cung cấp cho con người năng lượng gấp 2 lần cà rốt, 3 lần bắp cải và 4 lần cà chua, ngoài ra còn cung cấp một số loại vitamine như B1, B2, PP, C

và khoáng chất P, Ca, Fe Khoai tây còn dùng như một loại thuốc giảm nhiều căn bệnh Vitamin B trong khoai tây cũng giúp bảo vệ động mạch Vitamin B6 tìm thấy trong khoai tây thì có tác dụng làm giảm nồng độ phân tử Homxystein.Viện Nghiên cứu Nông nghiệp tại Navarre, Mỹ đã nhận diện 60 loại Phytochemical và Vitamin chứa trong vỏ khoai tây Nhiều loại trong số chúng là Flavonoit, giúp bảo vệ cơ thể chống lại bệnh tim mạch thông qua tác dụng làm giảm LDL (các Cholesteron xấu) và giữ cho không có mỡ trong động mạch Các nhà nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Thực phẩm tại Norwich cho rằng khoai tây làm giảm huyết áp.Y học hiện đại cho rằng chất nightshade có trong khoai tây có thể làm giảm sự tiết ra dịch vị, có tác dụng chống co giật dạ dày, có hiệu quả nhất định đối với chữa bệnh đau dạ dày

2.4.2 Đặc điểm thực vật học cây khoai tây

Rễ: Thuộc loại rễ chùm, phân bố ở tầng đất 30 cm Nếu trồng bằng hạt thì rễ có thể phân bố sâu hơn và có nhiều rễ phụ

Trang 33

Thân: Thân khí sinh cao từ 50 – 80 cm hoặc có thể cao hơn, thân nhỏ, yếu, có lông

tơ và lông cứng thân màu xanh phớt hồng

Lá: Lá kép lông chim không đối xứng, mỗi lá kép gồm một số đôi lá chét hợp thành, thường có từ 1 – 4 đôi lá chét, trên ngọn có một lá riêng biệt

Hoa: Hoa lưỡng tính, tự thụ

Quả: Quả mọng, hình tròn hoặc hình trứng, màu ngà xanh, chín màu vàng

2.5 Khí hậu và thời tiết Đà Lạt – Lâm Đồng

Lâm Đồng nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa biến thiên theo độ cao, trong năm có 2 mùa rõ rệt Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô

từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau

Nhiệt độ thay đổi rõ rệt giữa các khu vực, càng lên cao nhiệt độ càng giảm Nhiệt độ trung bình năm của tỉnh dao động từ 18 – 250C, thời tiết ôn hòa và mát mẻ quanh năm, thường ít có những biến động lớn trong chu kỳ năm

Lượng mưa trung bình 1.750 – 3.150 mm/năm, độ ẩm tương đối trung bình cả năm

85 – 87%, số giờ nắng trung bình cả năm 1.890 – 2.500 giờ, thuận lợi cho phát triển du lịch nghỉ dưỡng và phát triển các loại cây trồng, vật nuôi có nguồn gốc ôn đới Đặc biệt Lâm Đồng có khí hậu ôn đới ngay trong vùng khí hậu nhiệt đới điển hình và nằm không

xa các trung tâm đô thị lớn và vùng đồng bằng đông dân

Theo số liệu thống kê của Trung tâm khí tượng thủy văn tỉnh Lâm Đồng các tháng đầu năm 2011 thì khí hậu Đà Lạt có nhiệt độ, ẩm độ, lượng mưa, tổng giờ chiếu sáng được trình bày trong bảng 2.1

Trang 34

Bảng 2.1 Khí hậu thời tiết 5 tháng đầu năm 2011 ở khu vục Đà Lạt

Tháng

không khí (%)

Lượng mưa phổ biến (mm)

Tổng giờ chiếu sáng (giờ)

Ẩm độ: Tháng 2 có ẩm độ không khí thấp nhất trong 5 tháng đầu năm (70 – 80%) Tháng 1, 3, 5 có ẩm độ không khí cao hơn tháng 2, 4

Lượng mưa phổ biến: Tháng 1, 2 rất ít mưa, không đáng kể Lượng mưa tăng dần từ tháng 3 – 5 Tháng 3 xuất hiện những cơn mưa rải rác theo thống kê có 12 ngày mưa với tổng lượng mưa chỉ 57,9 mm trên toàn khu vực Đà Lạt Tháng 4 mưa nhiều hơn tháng 3,

có những cơn mưa đầu mùa lượng mưa tăng từ 99 – 107 mm với 7 ngày mưa tổng lượng

là 99,5 mm Tháng 5 bước vào mùa mưa lượng mưa phổ biến cao (209 – 280 mm)

Tổng giờ chiếu sáng: Tháng 2 có số giờ chiếu sáng lớn nhất (200 – 220 giờ)

Trang 35

Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Địa điểm và thời gian thí nghiệm

Thí nghiệm được thực hiện từ 2/2011 đến tháng 5/2011 Tại thôn Lộc Quý – xã Xuân Thọ – Đà Lạt – Lâm Đồng

3.2 Nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu sự ảnh hưởng của một số nông dược đến sâu non ruồi đục lá L huidobrensis và ong ký sinh của chúng trên cây khoai tây tại Đà Lạt – Lâm Đồng

3.3 Vật liệu và dụng cụ thí nghiệm

Vật liệu thí nghiệm: Cây khoai tây, sâu non ruồi đục lá L huidobrensis và ong ký sinh

sâu non

Dụng cụ thí nghiệm:

 Lồng lưới (30 cm x 30 cm x 30 cm), hộp nuôi sâu, ly nhựa

 Lưới, kéo, pen, giấy thấm, đĩa Petri, kim gút, băng keo, kẽm, nhiệt kế

 Kính lúp cầm tay, kính lúp soi nổi, máy ảnh

 Bình phun thuốc, dung cụ đo lường thuốc

3.4 Bố trí thí nghiệm

3.4.1 Ruộng và giống khoai tây thí nghiệm

Ruộng có diện tích 1200 m2 Đất ruộng là đất đỏ Badan Ruộng trồng giống khoai tây hồng O7 Thời gian sinh trưởng của cây khoai tây từ 90 – 100 ngày Lá khoai tây O7

to màu xanh đậm Củ ít mầm nhưng mầm to khỏe, hình bầu dục Vỏ củ khoai tây màu hồng, hơi sầm sùi, ruột củ màu vàng Tia củ dài, củ thường phát triển rộng Năng suất củ khoai tây đạt 25 – 30 tấn/ha

Khoai tây được trồng theo quy trình kỹ thuật canh tác khoai tây của Trung tâm nghiên cứu Rau, hoa và khoai tây (Phần phụ lục 3)

Trang 36

3.4.2 Thuốc thí nghiệm

 Thuốc: Oshin 20WP, Netoxin 18SL, Trigard 100SL, Neem Nim Xoan Xanh Green 0,15EC, Radian 60SC với hoạt chất, liều lượng trong bảng 3.1

Bảng 3.1 Các loại thuốc sử dụng trong thí nghiệm

Loại thuốc Hoạt chất Liều lượng Công ty sx - phân phối

1/ Oshin 20WP +

Netoxin 18SL

Dinotefuran + Nereistoxin

0,2 kg/ha + 1,25 l/ha

Mitsui Chemicals Inc và Cty TNHH 1TV BVTV

Sài Gòn

3/ Neem Nim Xoan

Rangsit Agri - economic

Nghiệm thức 3: Phun Neem Nim Xoan Xanh Green 0,15EC, liều lượng 1,5 l/ha

Nghiệm thức 4: Phun Radian 60SC, liều lượng 1,5 l/ha

Nghiệm thức 5: Đối chứng phun thuốc trừ ruồi đục lá theo tập quán nông dân

Nghiệm thức 6: Đối chứng phun nước lã

3.4.4 Số lần phun thuốc trên ruộng thí nghiệm

Ở nghiệm thức thí nghiệm:

- Phun thuốc lần 1 khi có ≤ 5% lá bị hại, giai đoạn cây được 32NST, với liều lượng trên từng nghiệm thức như ở bảng 3.1

Trang 37

- Phun thuốc lần 2: 10 ngày sau phun lần 1, khi cây được 42 NST, với liều lượng trên từng nghiệm thức như ở bảng 3.1

- Phun lần 3: khi cây khoai tây được 67 NST Phun thuốc là Radian 60SC cho nghiệm thức 1, 2, 3, 4 với liều lượng 0,4 l/ha

Ở nghiệm thức đối chứng theo nông dân: phun 6 lần

Phun lần 1: Vào giai đoạn 27 NST sử dụng: Abatin 5.4EC + Trigard 100SL + Sherbush 25ND với liều lượng lần lượt là 1,4 L/ha + 1 L/ha + 1,4 L/ha

Phun lần 2: Vào giai đoạn 34 NST sử dụng: Abatin 5.4EC + Trigard 100SL + Visher 25ND với liều lượng lần lượt là 1,4 L/ha + 1 L/ha + 1,4 L/ha

Phun lần 3: Vào giai đoạn 37 NST sử dụng: Elicol 12ME + Caster 630WP với liều lượng 1,5 L/ha + 1,5 kg/ha

Phun lần 4: Giai đoạn 40 NST sử dụng: Yamida 10WP + Sherbush 25ND + Visher 25ND với liều lượng 1,4 kg/ha + 1,4 l/ha + 1,4 l/ha

Phun lần 5: Vào giai đoạn 47 NST: Newsgard 25WP + Yamida 10WP + Abatin 5.4EC với liều lượng 1,5 kg/ha + 4kg/ha + 1,4 l/ha

Phun lần 6: Vào giai đoạn 69 NST: Trigard 100SL + Callous 500EC + Abatin 5.4EC với liều lượng 0,5 l/ha + 2 l/ha + 1,4 l/ha

3.5 Chỉ tiêu theo dõi

3.5.1 Thời gian và phương pháp chọn cây theo dõi

Trên các nghiệm thức tiến hành theo dõi trên 5 điểm chéo góc được cố định bằng cột tre Tại mỗi điểm theo dõi 6 cây được đánh dấu bằng dây nilon

Điều tra định kỳ 5 ngày/lần đối với các chỉ tiêu mật độ sâu non, tỷ lệ lá bị hại, thành phần ong ký sinh, tỷ lệ sâu non bị ong ký sinh, tỷ lệ tiền nhộng bị ong ký sinh, các loại sâu hại khác Riêng chỉ tiêu năng suất theo dõi vào thời điểm thu hoạch cây khoai tây

3.5.2 Chỉ tiêu theo dõi

Ảnh hưởng của thuốc thí nghiệm đến sự gây hại của ruồi đục lá L huidobrensis trên ruộng khoai tây thí nghiệm

Trang 38

Hiệu quả quản lý sâu non ruồi đục lá L huidobrensis và ong ký sinh của chúng sau

2 lần phun thuốc thí nghiệm trên ruộng khoai tây

Dựa theo số liệu mật số sâu non trung bình còn sống trên lá để tính hiệu lực thuốc thí nghiệm sau 2 lần phun thuốc theo công thức:

H(%)= [1-(Ta*Ca)/(Tb*Cb)]*100 Trong đó:

H(%) : Hiệu lực thuốc

Ta : Số sâu sống ở NT xử lý sau 2 lần phun

Ca : Số sâu sống ở NT đối chứng sau 2 lần phun

Tb : Số sâu sống ở NT xử lý trước 2 lần phun

Cb : Số sâu sống ở NT đối chứng trước 2 lần phun

Mật số sâu non ruồi đục lá L huidobrensis trên ruộng khoai tây thí nghiệm

Mật số sâu non trung bình trên lá: được theo dõi như sau:

- Cây nhỏ (Trồng  trước 30NST) điều tra bằng cách đếm toàn bộ số sâu non còn sống trên 5 lá bánh tẻ từ dưới gốc lên trên, cây đã được cố định ở các nghiệm thức

- Cây phân nhánh đến thu hoạch (Sau 30NST) đếm số sâu non còn sống trên các lá bánh tẻ trên 1 nhánh cố định Các lá bánh tẻ đó được chọn bằng cách trừ 4 lá ngọn trở xuống, bắt đầu điều tra lá thứ 5 trở xuống 5 lá tiếp theo trở xuống

Số đường đục trên lá khoai tây ở các nghiệm thức thí nghiệm

Số đường đục trên lá được theo dõi như sau:

- Cây nhỏ (Trồng  trước 30NST) điều tra bằng cách đếm toàn bộ số đường đục trên 5 lá bánh tẻ từ dưới gốc lên trên, cây đã được cố định ở các nghiệm thức

- Cây phân nhánh đến thu hoạch (Sau 30NST) đếm số đường đục trên 5 lá bánh tẻ trên 1 nhánh cố định Các lá bánh tẻ đó được chọn bằng cách trừ 4

lá ngọn, bắt đầu điều tra lá thứ 5 trở xuống 5 lá tiếp theo trở xuống

Trang 39

Quy định đếm số đường đục: Đếm toàn bộ đường đục của sâu non tuổi 1 Sâu non tuổi 2,

3 chỉ đếm đường có sâu non trong đó

Tỉ lệ (%) và chỉ số (%) lá khoai tây bị hại trên các nghiệm thức thí nghiệm

Quan sát 5 lá trên cây, sau đó phân cấp hại theo bảng phân cấp để áp dụng vào công thức bên dưới tính tỷ lệ lá bị hại (%), chỉ số hại (%) Các lá trên cây được chọn như sau:

- Cây nhỏ (Trồng  trước 30NST) chọn 5 lá tính từ dưới gốc lên trên, cây đã được cố định ở các nghiệm thức

- Cây phân nhánh đến thu hoạch (Sau 30NST) trên 5 lá bánh tẻ trên 1 nhánh

cố định Các lá bánh tẻ đó được chọn bằng cách trừ 4 lá ngọn, bắt đầu điều tra lá thứ 5 trở xuống 5 lá tiếp theo trở xuống

Phần trăm (%) diện tích lá bị hại được đánh giá theo bảng phân cấp sau đây:

Trang 40

Kết hợp với mỗi kỳ điều tra các chỉ tiêu trên, tiến hành thu thập những lá bị sâu non gây hại (trừ các cây theo dõi chỉ tiêu) Mỗi nghiệm thức thu thập 50 cá thể sâu non/lần điều tra/NT Sau đó rửa sạch để loại bỏ các côn trùng khác rồi đặt lá vào một lồng nuôi sâu trong điều kiện nhiệt độ phòng (22 ± 20C) Để theo dõi thành phần và tần suất xuất

hiện các loài ong ký sinh sâu non ruồi đục lá L huidobrensis của mỗi nghiệm thức hàng

ngày thu và đếm số ong ký sinh vũ hóa/tổng số sâu non Sau đó cho ong ký sinh vào lọ thủy tinh có chứa ethanol 70% có dán nhãn ghi tên nghiệm thức, ngày thu mẫu để gửi cho các chuyên gia giám định

Định danh ong ký sinh

Kết hợp với TS Trần Thị Thiên An, Bộ môn Bảo vệ thực vật, khoa Nông học, trường Đại học Nông lâm TP Hồ Chí Minh, tiến hành phân tích định danh đến loài các ong ký sinh dựa vào Khóa phân loại ong ký sinh của Konishi (2004)

Tần suất xuất hiện = (Tổng số OKS của 1 loài/ Tổng số OKS thu được)*100

Tỉ lệ ong ký sinh sâu non trên nghiệm thức: dựa trên số mẫu xác định thành phần ong ký sinh ở trên, thu và đếm số OKS để tính tỉ lệ sâu non bị ký sinh theo công thức sau: Sau đó tính tỉ lệ sâu non bị ký sinh bằng công thức sau:

tỉ lệ ong ký sin tiền nhộng trên các nghiệm thức: Thu thập từ 10 – 30 tiền nhộng hoặc nhộng ruồi ở trên lá ngoài đồng/lần điều tra/NT Sau đó thả vào hộp nuôi nhộng để tiếp tục theo dõi và thu thập ong ký sinh tương tự như ở pha sâu non Phun sương hằng ngày

để giữ ẩm

Tỷ lệ SN (nhộng) bị ký sinh = (Tổng số OKS hiện diện/ Tổng số SN (nhộng))*100

Ảnh hưởng của thuốc thí nghiệm đến các loại sâu khác trên ruộng khoai tây

Mật độ sâu (con/lá) đối với bọ trĩ, bọ phấn

Mỗi nghiệm thức theo dõi 20 cây

o Bọ trĩ đếm toàn bộ số con bọ trĩ trưởng thành sống trên 3 lá quanh ngọn khoai tây Nhánh được cố định để điều tra định kỳ tương tự các chỉ tiêu ở trên

o Bọ phấn đếm toàn bộ số bọ phấn có trên 3 lá kép của cây điều tra và các lá được tịnh tiến dần lên ngọn khi cây lớn lên, bằng cách điều tra 3 lá bánh tẻ

Ngày đăng: 11/06/2018, 08:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm