1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ SINH HỌC CỦA ONG Encarsia transvena (APHELINIDAE – HYMENOPTERA) KÍ SINH SÂU NON BỌ PHẤN TRẮNG (Bemisia tabaci) HẠI RAU TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

94 323 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHOA NÔNG HỌCKHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ SINH HỌC CỦA ONG Encarsia transvena APHELINIDAE – HYMENOPTERA KÍ SINH SÂU NON BỌ PHẤN TRẮNG Bemisia tabaci H

Trang 1

KHOA NÔNG HỌC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ SINH HỌC CỦA

ONG Encarsia transvena (APHELINIDAE – HYMENOPTERA)

KÍ SINH SÂU NON BỌ PHẤN TRẮNG (Bemisia tabaci)

HẠI RAU TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGÀNH: BẢO VỆ THỰC VẬT KHÓA: 2007 – 2011

SINH VIÊN THỰC HIỆN: NGUYỄN THỊ PHỤNG KIỀU

Tp Hồ Chí Minh, tháng 8/2011

Trang 2

ONG Encarsia transvena (APHELINIDAE – HYMENOPTERA)

KÍ SINH SÂU NON BỌ PHẤN TRẮNG (Bemisia tabaci)

HẠI RAU TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 3

- Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh, Ban chủ nhiệm khoa Nông học và các thầy cô đã hết lòng giảng dạy, truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường

- Đặc biệt, cô Trần Thị Thiên An, người đã tận tình hướng dẫn và truyền đạt kinh nghiệm cho tôi trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn này

- Anh Trần Quốc Dũng, người đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ và hỗ trợ tôi trong thời gian thực hiện và hoàn thành đề tài tại trường

- Chị Võ Khoa Chi, anh Nguyễn Quốc Hòa và các bạn tại phòng thí nghiệm đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài tại trường

- Gia đình và bạn bè đã thường xuyên động viên, khuyến khích tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Phụng Kiều

Trang 4

TÓM TẮT

Nguyễn Thị Phụng Kiều – Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh – Tháng 8/2011

Đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái và sinh học của ong Encarsia

transvena (Aphelinidae – Hymenoptera) kí sinh sâu non bọ phấn trắng Bemisia tabaci hại rau tại Tp Hồ Chí Minh”

Giáo viên hướng dẫn: TS Trần Thị Thiên An và KS Trần Quốc Dũng

Việc nghiên cứu một số đặc điểm hình thái và sinh học của ong Encarsia

transvena kí sinh sâu non bọ phấn trắng Bemisia tabaci là bước khởi đầu tạo cơ sở

thực tiễn cho việc xây dựng biện pháp phòng trừ sinh học đối với bọ phấn trắng tại Tp

Hồ Chí Minh Đề tài được thực hiện từ tháng 2/2011 đến tháng 6/2011 tại trường Đại học Nông Lâm nhằm góp phần giải quyết mục đích ở trên

Đề tài đã ghi nhận một số kết quả:

Ong kí sinh E transvena (tên khác là E sophia) thuộc họ Aphelinidae, bộ cánh màng

Hymenoptera E transvena là loại ong kí sinh có cơ thể rất nhỏ màu vàng sáng, ong cái dài

trung bình 0,601 ± 0,049 mm, ong đực dài trung bình 0,531 ± 0,045 mm Râu đầu của ong dạng đầu gối có 8 đốt Ong có 2 cặp cánh trong suốt được phủ 1 lớp lông tơ mịn, cánh trước

có diềm lông dài Bụng ong có 8 đốt, ống đẻ trứng dài từ đốt bụng thứ 4 đến đốt bụng thứ 8

Ở điều kiện nhiệt độ 30 ± 2oC, ẩm độ 65 ± 5%, thời gian phát triển vòng đời trung

bình của ong E transvena là 12,35 ± 0,33 ngày Trong điều kiện không tiếp xúc với kí chủ, ong E transvena sống được từ 3 – 4 ngày với nguồn thức ăn bổ sung thích hợp là mật ong

30% Hoạt động kí sinh không ảnh hưởng đến tuổi thọ của ong cái khi ong được cho ăn đầy

đủ Ong cái đẻ trung bình 22,75 ± 2,35 trứng kí sinh E transvena là ong nội kí sinh chuyên

tính, có tỉ lệ vũ hóa 96,38 ± 5,62%, tỉ lệ ong cái 82,33 ± 3,06% và vòng đời trung bình là

11,48 ± 0,64 ngày trên vật chủ thích hợp (sâu non bọ phấn tuổi 3) Ong E transvena có khả

năng tìm kiếm vật chủ để kí sinh với khoảng cách 0,05 m2 trong khoảng 1,872 giờ và có hoạt động kí sinh cao tại vùng có mật số vật chủ nhiều

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT iii

MỤC LỤC iv

DANH SÁCH CÁC HÌNH vii

DANH SÁCH BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ viii

Chương 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2

1.2.1 Mục đích: 2

1.2.2 Yêu cầu: 2

1.3 Thời gian và địa điểm thực hiện đề tài 2

1.4 Giới hạn đề tài 2

Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Một số kết quả nghiên cứu về bọ phấn trắng B tabaci 3

2.1.1 Lịch sử, phân bố và kí chủ của bọ phấn trắng B tabaci 3

2.1.2 Mức độ gây hại của bọ phấn trắng B tabaci 4

2.1.3 Đặc điểm hình thái và sinh học của bọ phấn trắng B tabaci 5

2.1.3.1 Đặc điểm hình thái 5

2.1.3.2 Đặc điểm sinh học 6

2.1.4 Nghiên cứu về tính kháng thuốc trừ sâu của bọ phấn B tabaci 7

2.1.5 Nghiên cứu về thiên địch của bọ phấn trắng B tabaci 8

2.1.5.1 Nhóm bắt mồi 8

2.1.5.2 Nhóm nấm gây bệnh 9

2.1.5.3 Nhóm kí sinh 10

2.2 Nghiên cứu về ong Encarsia spp 10

2.2.1 Ong kí sinh Encarsia spp 10

2.2.2 Các nghiên cứu về ong kí sinh E transvena 13

2.3 Phản ứng chức năng và phản ứng số lượng 15

2.3.1 Phản ứng chức năng 15

Trang 6

2.3.2 Phản ứng số lượng 19

Chương 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 20

3.2 Nội dung nghiên cứu 20

3.3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 20

3.3.1 Nhân nuôi nguồn kí chủ, kí sinh 20

3.3.2 Thí nghiệm xác định thời gian phát dục các pha cơ thể và vòng đời của ong 22

3.3.3 Mô tả đặc điểm hình thái ong E transvena 22

3.3.4 Thí nghiệm ảnh hưởng của thức ăn đến tuổi thọ ong E transvena 23

3.3.5 Thí nghiệm ảnh hưởng của hoạt động kí sinh đến tuổi thọ ong E transvena 24

3.3.6 Thí nghiệm xác định tuổi vật chủ thích hợp cho ong E transvena kí sinh 25

3.3.7 Thí nghiệm xác định khả năng sinh sản của ong E transvena 26

3.3.8 Thí nghiệm xác định khả năng kí sinh của ong E transvena 26

3.3.8.1 Phản ứng chức năng 27

3.3.8.2 Phản ứng số lượng 27

3.4 Phương pháp thống kê xử lý số liệu 28

Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 29

4.1 Vị trí phân loại và đặc điểm hình thái của ong kí sinh E transvena 29

4.1.1 Vị trí phân loại 29

4.1.2 Đặc điểm hình thái 29

4.2 Thời gian phát dục các pha cơ thể và vòng đời của ong E transvena 36

4.3 Ảnh hưởng của thức ăn đến tuổi thọ ong E transvena trưởng thành 39

4.4 Ảnh hưởng của hoạt động kí sinh đến tuổi thọ ong E transvena 40

4.5 Khả năng sinh sản của ong E transvena 42

4.6 Tuổi vật chủ thích hợp cho ong E transvena kí sinh 43

4.7 Khả năng kí sinh của ong E transvena 46

4.7.1 Phản ứng chức năng 61

4.7.2 Phản ứng số lượng 65

Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 52

5.1 Kết luận 52

5.2 Đề nghị 52

Trang 7

TÀI LIỆU THAM KHẢO 54 PHỤ LỤC 67

Trang 8

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình 3.1 Sâu non bọ phấn bị ong kí sinh trên lá cà tím 21 

Hình 3.2 Lồng thu ong kí sinh 22 

Hình 3.3 Bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của thức ăn đến tuổi thọ ong E transvena 24 

Hình 3.4 Lồng nhựa sử dụng cho thí nghiệm 25 

Hình 3.5 Cây cà tím sử dụng trong thí nghiệm 26 

Hình 3.6 Bố trí thí nghiệm 27 

Hình 4.1 Thành trùng ong kí sinh E transvena 30 

Hình 4.2 Đầu và chi phụ đầu của ong E transvena 30 

Hình 4.3 Mảnh lưng ngực của E transvena quan sát dưới kính hiển vi độ phóng đại ×40 31 

Hình 4.4 Cánh của ong E transvena dưới kính hiển vi độ phóng đại × 10 31 

Hình 4.5 Các đặc điểm cánh trước ong E transvena quan sát dưới kính hiển vi độ phóng đại ×40 32 

Hình 4.6 Chân của E transvena quan sát dưới kính hiển vi độ phóng đại ×10 32 

Hình 4.7 Bụng của ong E transvena 33 

Hình 4.8 Trứng của ong E transvena 33 

Hình 4.9 Sâu non tuổi 1 của ong E transvena 34 

Hình 4.10 Sâu non tuổi 2 của ong E transvena 34 

Hình 4.11 Sâu non tuổi 3 của ong E transvena 34 

Hình 4.12 Các giai đoạn phát triển nhộng của ong E transvena 35 

Hình 4.13 Vòng đời của ong E transvena 38 

Trang 9

DANH SÁCH BẢNG VÀ BIỂU ĐỒBảng

Bảng 2.1 Tính kháng của bọ phấn B tabaci đối với một số hoạt chất thuốc trừ sâu 7  Bảng 4.2 Thời gian phát dục các pha cơ thể và vòng đời của ong kí sinh E transvena.

36 

Bảng 4.3 Ảnh hưởng của thức ăn thêm đến tuổi thọ ong E transvena 39  Bảng 4.4 Ảnh hưởng của hoạt động kí sinh và thức ăn đến tuổi thọ ong cái E transvena 41  Bảng 4.5 Khả năng đẻ trứng và tỉ lệ vũ hóa của ong E transvena 42  Bảng 4.6 Sự lựa chọn tuổi vật chủ của ong E transvena 43 

Bảng 4.7 Số sâu non bọ phấn bị kí sinh khi cho 1 ong cái tiếp xúc với mật số kí chủ tăng dần 47 Bảng 4.8 Giá trị 1/Ha và 1/H.T được tính từ kết quả thí nghiệm 49 

Biểu đồ

Đồ thị 4.1 Ảnh hưởng của thức ăn thêm đến tuổi thọ ong E transvena 40 

Đồ thị 4.2 Ảnh hưởng của hoạt động kí sinh đến tuổi thọ ong cái E transvena 41 

Đồ thị 4.3 Sự lựa chọn tuổi kí chủ của ong E transvena 44 

Đồ thị 4.4 Số sâu non bọ phấn bị kí sinh khi cho 1 ong cái tiếp xúc với mật số kí chủ ngày càng tăng 47 

Đồ thị 4.5 Đồ thị thể hiện sự tương quan giữa 1/Ha và 1/H.T 49 

Đồ thị 4.6 Số sâu non bọ phấn bị kí sinh khi cho mật số ong tăng dần tiếp xúc với cùng một lượng kí chủ (100 sâu non bọ phấn trắng) 51 

Trang 10

an toàn cho sức khỏe người tiêu dùng Để đạt được nền sản xuất nông nghiệp không gây

ô nhiễm môi trường, bền vững cho hệ sinh thái tự nhiên, cần phải áp dụng nhiều biện pháp tổng hợp không chỉ ở khâu chọn giống ban đầu cho năng suất cao, phẩm chất tốt

mà còn ở giải pháp quản lý dịch hại tổng hợp IPM (Intergrated Pest Management) Việc giảm sử dụng thuốc hóa học thay vào đó là sử dụng thiên địch phòng trừ sâu bệnh hại là một trong những giải pháp quan trọng đi đầu trong công tác bảo vệ thực vật của nền nông nghiệp đô thị hiện nay

Bọ phấn trắng, Bemisia tabaci (Aleyrodidae – Homoptera) là một dịch hại quan trọng trên rau màu và nhiều loại cây trồng khác trên thế giới B tabaci được ghi nhận

gây hại trên 900 loài cây (Perring, 2001, Berry và ctv., 2004) và là vector truyền hơn

110 bệnh virus cây trồng (Jones, 2003) Không những chích hút làm suy giảm sinh trưởng, năng suất và truyền nhiều bệnh virus nguy hiểm cho cây, bọ phấn còn tiết chất mật, vốn là thức ăn ưa thích của nấm bồ hóng, làm bẩn sản phẩm, hạn chế quá trình quang hợp và hô hấp của cây Biện pháp sử dụng thuốc hóa học đã được áp dụng rộng rãi nhiều nơi trên thế giới từ các nước phát triển đến các nước đang phát triển Điều này dẫn đến hậu quả là tính kháng của bọ phấn được hình thành, hiệu quả sử dụng thuốc giảm và chi phí phòng trừ gia tăng Quan trọng hơn, các hóa chất bảo vệ thực vật gây ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng và làm ô nhiễm môi trường, gây trở ngại cho

Trang 11

phát triển nông nghiệp đô thị Vì vậy, cần chú trọng đến vấn đề bảo vệ và phát huy vai trò của thiên địch trong công tác phòng trừ bọ phấn trắng

Hiện nay, đã có một số công trình nghiên cứu về thiên địch của bọ phấn trắng B

tabaci, tuy nhiên chưa có tài liệu nào công bố về ong Encarsia transvena kí sinh sâu

non bọ phấn trắng B tabaci ở Việt Nam Để có thêm cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng

biện pháp phòng trừ sinh học đối với bọ phấn trắng có hiệu quả, đề tài “Nghiên cứu

một số đặc điểm hình thái và sinh học của ong Encarsia transvena (Aphelinidae – Hymenoptera) kí sinh sâu non bọ phấn trắng Bemisa tabaci hại rau tại Thành phố

Hồ Chí Minh” đã được thực hiện

1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài

3 Xác định được thời gian phát triển các pha và vòng đời của ong E transvena

4 Xác định được khả năng đẻ trứng của ong E transvena

5 Xác định được khả năng kí sinh của ong E transvena trên sâu non bọ phấn

trắng B tabaci

1.3 Thời gian và địa điểm thực hiện đề tài

Đề tài được thực hiện từ 15/02/2011 đến 15/06/2011 tại Bộ môn Bảo Vệ Thực

Vật, khoa Nông Học, trường Đại Học Nông Lâm - TP Hồ Chí Minh

1.4 Giới hạn đề tài

Các nội dung nghiên cứu của đề tài được tiến hành trong điều kiện ổn định của phòng thí nghiệm, chưa tiến hành trong điều kiện tự nhiên

Trang 12

Chương 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Một số kết quả nghiên cứu về bọ phấn trắng B tabaci

2.1.1 Lịch sử, phân bố và kí chủ của bọ phấn trắng B tabaci

Bọ phấn trắng Bemisia tabaci (Aleyrodidae – Homoptera) được ghi nhận gây hại trên cây thuốc lá vào năm 1889 tại Hy Lạp và được đặt tên là Aleyrodes tabaci

(Gennadius, 1889) Theo thời gian, bọ phấn trắng lây lan và xuất hiện khắp các châu lục trên thế giới từ vùng cận nhiệt đới cho đến nhiệt đới Năm 1897, bọ phấn trắng được

phát hiện tại Mĩ trên khoai lang với tên Aleyrodes inconspicua Quaintance (Quaintance, 1900) Tại Brazil, bọ phấn trắng xuất hiện đầu tiên trên cây Euphorbia hirtella vào năm

1928 và được đặt tên Bemisia costalimai Bondar (Mound và Halsey, 1978) Năm 1933, những loài bọ phấn trắng thu được ở Đài Loan được gọi là Bemisia hibisci (Mound và

Halsey, 1978) Theo Martin và ctv (1999) các loài bọ phấn trắng có mặt ở tất cả các lục địa chỉ trừ Nam cực

Với việc xác định phân loại chi Bemisia trong họ Aleyrodidae đã cho thấy rằng bọ

phấn trắng có thể có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới châu Phi và sau đó lan truyền ra các vùng cận nhiệt (Campell và ctv., 1996) Một số dẫn chứng khác cho thấy bọ phấn trắng

là sinh vật bản địa của Ấn Độ và Pakistan, những nơi đa dạng về các thành phần loài kí sinh, chỉ tiêu quan trọng để xác định trung tâm khởi nguyên của một loài (Brown và ctv., 1995)

Bọ phấn trắng có phổ kí chủ rộng, có thể gây hại trên rất nhiều loài từ cây trồng cho đến cây hoang dại Các cây trồng là kí chủ của bọ phấn trắng lên đến 600 loài thuộc

5 họ cây phổ biến bao gồm cây họ đậu (99 loài), cây họ cúc, họ bông, họ cà và họ thầu dầu Theo Butler và Henneberry (1986), một lượng lớn cây trồng và cây dại thuộc nhóm

cây hàng niên và đa niên là thức ăn hay kí chủ phụ của B tabaci Từ những năm 1980,

Trang 13

việc bùng phát B tabaci và virus từ B tabaci trở thành yếu tố giới hạn năng suất trên các cây lương thực và cây trồng lấy củ ở nhiều nơi trên thế giới (Brown, 1994) B

tabaci được báo cáo gây hại trên cây ăn trái đầu tiên vào năm 1986 (Price và ctv.,

1986) Trong điều kiện nhà kính, bọ phấn trắng tấn công mạnh trên cây ăn trái hơn các loại cây rau như cà chua, ớt ngọt, cà tím, dưa leo… (Cock, 1986)

2.1.2 Mức độ gây hại của bọ phấn trắng B tabaci

Việc ước tính thiệt hại do bọ phấn trắng gây ra cho nền nông nghiệp thế giới rất khó khăn do vùng thiệt hại ngày càng mở rộng, số lượng cây trồng mùa vụ và sự khác biệt về đơn vị tiền tệ giữa các quốc gia (Ellsworth, 1999) Bọ phấn không chỉ chích hút

mà chất bài tiết của chúng vốn là thức ăn ưa thích của nấm bồ hóng Đây là những yếu

tố gây thiệt hại đến cả năng suất và phẩm chất của sản phẩm

B tabaci lần đầu tiên được báo cáo là sâu hại nghiêm trọng trên bông vải tại Bắc

Ấn Độ (một phần Pakistan hiện nay) vào thập niên 20 và đầu thập niên 30 (Misra và Lamba, 1929; Husain và Treham, 1933) Basu (1995) cho biết bọ phấn đã bùng phát dữ dội ở Sudan và Iran (thập niên 50), El Salvador (1961), Mexico (1962), Brazil (1968), Thổ Nhĩ Kì (1974), Israel (1976), Thái Lan (1978), Arizona và California, Hoa Kỳ (1981) và Ethiopia (1984) (Basu, 1995)

Ở Hoa Kỳ, bọ phấn từ lâu đã là loài sâu hại phổ biến trên các vùng nông nghiệp khác nhau suốt các tiểu bang từ miền nam đến miền tây nhưng chưa gây thiệt hại kinh tế đáng kể cho đến năm 1981, khi chúng bộc phát thành dịch tại California và Arizona Năm 1986, ở Florida, bọ phấn trắng gây hại nặng trên cây trạng nguyên, đồng thời các triệu chứng bệnh bạc lá do virus truyền từ bọ phấn trắng xuất hiện trên bí (Price và ctv., 1986; Maynard và Cantliffe, 1989) Từ 1991 đến 1992, thiệt hại kinh tế do bọ phấn trắng gây ra tại các bang Florida, Arizona, California, Texas khoảng 200 đến 500 triệu USD Riêng vùng thung lũng Imperial, California trong 5 năm (1991-1995), bọ phấn gây thiệt hại năng suất đến hơn 100 triệu USD mỗi năm Các vùng Arizona, California

và Texas tiêu tốn 153,9 triệu USD đề phòng trừ bọ phấn trong suốt năm 1994 đến 1998 (Ellsworth và ctv., 1999)

Năm 1991 đến 1992, bọ phấn gây thiệt hại đến 33 triệu USD trên dưa lưới, dưa hấu, mè trắng và bông vải tại Mexicali Valley, Mexico Cũng tại đây, diện tích trồng bông giảm từ 39,415 ha năm 1991 xuống chỉ còn 653 ha năm 1992 (R.L Lopéz;

Trang 14

Medina Esparza và Leon Paul, 1994) Vùng trồng bông Sonora, Mexico, từ 1995 đến

1996, diện tích đã giảm 65% (Silva Sanchez, 1997) Ở Trung Mĩ và vùng biển Caribê,

bọ phấn trắng gây mất mùa trên cà chua, đậu bắp, bông vải, thuốc lá và dưa gang ở các quốc gia Cuba, Barbados, Costa Rica, Cộng hòa Dominica, El Salvador, Haiti, Honduras, Guatemala, Jamaica, Monserrat, Nicaragua và Santa Lucia (Hilje, 1996; Vazquez, 1999) Ở Guatemala, chi phí cho việc phòng trừ bọ phấn trắng tăng từ 30% đến 50% trên dưa gang, cà chua và ớt ngọt Từ 1998 -1999, thiệt hại trên dưa gang lên đến 40% do bệnh nấm bồ hóng và bệnh virus (Davila, 1999)

Năm 1995, bọ phấn trắng gây thiệt hại ước tính lên đến 5 tỉ USD ở Brazil trên cà chua, đậu, bông vải, dưa hấu, dưa gang, đậu bắp, bắp cải và nhiều loại cây trồng khác (Lima và ctv., 2000) Ngoài ra, các quốc gia Nam Mĩ khác cũng có báo cáo về vấn đề bùng phát bọ phấn như Argentina (Viscarret và ctv., 2000), Colombia (Quiintero và ctv., 1998) và Bolivia (Morales và Anderson, 2000)

Nhiều nước ở Địa Trung Hải bắt đầu gặp trở ngại do bọ phấn từ năm 1974 Ở Ý và miền Nam nước Pháp, bọ phấn gây thiệt hại nghiêm trọng trên cây trạng nguyên và cà

chua B tabaci được ghi nhận ở Azerbaijan và Georgia, đồng thời trên các vườn cây có

múi phía Nam Crimea và bờ biển Hắc Hải cũng thấy xuất hiện bọ phấn (Dantsing và Shedorovska, 1988; Traboulsi, 1994)

Tại Trung Quốc, sự bùng phát bọ phấn trắng được ghi nhận vào năm 1953 ở Đài Loan, năm 1972 ở Yunnan và hiện tại chúng phân bố rộng khắp từ miền Nam đến miền Bắc đất nước (Rumei, 1996) Rumei cũng ghi nhận sự xuất hiện bọ phấn tại 6 tỉnh trong các cuộc khảo sát trước đây (1953 – 1992) và lên đến 12 tỉnh vào năm 1995

De Barro và ctv (1998) cho biết giữa thập niên 90, tại vùng Thái Bình Dương, B

tabaci được tìm thấy trên 18 đảo bao gồm đảo Cook, Guam, New Caledonia, American

Samoa, Fiji, Marshall Island, Niue, Federated States of Micronesia, Kiribati, Papua New Guinea và Solomon Island

2.1.3 Đặc điểm hình thái và sinh học của bọ phấn trắng B tabaci

Trang 15

bàn chân 2 đốt, cuối bàn có 2 vuốt, giữa 2 vuốt có đệm lồi Bụng 9 đốt, đốt ngực bụng nhỏ dạng ong

Theo CABI, trứng có hình quả lê, dài 2 mm, mới đẻ trong suốt sau chuyển sang màu nâu Trứng đính trên lá nhờ vào cuống ghim vào khe nhỏ trên mô lá Ấu trùng có 4 giai đoạn Lúc mới nở (tuổi 1), ấu trùng có dạng dẹp, hình ovan, hình dáng giống như cái vẩy Sau khi nở, ấu trùng bò trên mặt lá khoảng vài giờ và ở cố định lại một chỗ để hút nhựa cây; sau khi lột xác lần đầu, ấu trùng không còn chân, dùng vòi hút bám chặt vào lá, không di chuyển Nhộng giả (tuổi 4) có chiều dài khoảng 0,7mm Trên những lá trơn láng nhộng không có gai lưng, nhưng trên lá có nhiều lông thì nhộng có từ 2-8 gai lưng dài Nhộng có 2 đốm mắt màu đỏ mà sau này trở thành mắt của thành trùng

Thành trùng nở ra thông qua ngấn lột xác hình chữ T trên vỏ nhộng và trải rộng cánh trong khoảng vài phút trước khi cánh được phủ phấn bằng chất sáp bài tiết từ tuyến đặc biệt trên bụng, cơ thể có màu vàng nhạt hoặc trắng nhạt

2.1.3.2 Đặc điểm sinh học

Theo Nguyễn Thị Chắt, trứng bọ phấn thường được đẻ dưới mặt lá thành từng cụm 4-6 trứng hay rải rác trong mô lá nhất là lá bánh tẻ Ấu trùng mới nở màu vàng nhạt, có đầy đủ râu và chân, bò rất nhanh ở mặt dưới lá Sang tuổi 2, chân sâu non bọ phấn bị thoái hóa, bò chậm chạp gần như ở cố định một chỗ Sâu non bọ phấn tuổi 3 ở cố định Cuối tuổi 3, sâu non chuyển sang dạng nhộng giả có hình bầu dục, màu nâu, hai bên sườn có lông tơ dạng như răng cưa

Bọ trưởng thành thường hoạt động vào sáng sớm hay chiều mát Trời nắng hoặc mưa, chúng đậu ở mặt dưới là Khi bị động chúng bay lên từng đoạn ngắn Bọ phấn thường giao phối nhanh vào sáng sớm hoặc chiều mát Một con cái có thể đẻ được từ 45 – 100 trứng, ấu trùng có 3 tuổi

Nhiệt độ thích hợp cho bọ phấn phát triển T = 18 – 33oC, nhiệt độ tối hảo T = 25 –

33oC Ở nhiệt độ này, vòng đời của bọ phấn kéo dài 22 – 23 ngày Nhiệt độ thấp T = 18 – 19oC vòng đời của bọ phấn kéo dài đến 50 ngày Ẩm độ thích hợp cho bọ phấn là 80 – 90% Bọ phấn phát triển quanh năm nhưng mật số bọ phấn cao khi số lá cây xuất hiện nhiều

Theo Byrne và ctv (1990), vòng đời của bọ phấn bao gồm giai đoạn trứng, 4 giai đoạn ấu trùng và thành trùng Trứng được đẻ dưới mặt lá của cây kí chủ Ấu trùng tuổi 1

Trang 16

có thể di chuyển khoảng cách ngắn Từ tuổi 2 trở đi, ấu trùng ở cố định dưới mặt lá và

ăn thức ăn trước khi thành trùng nở ra Khoảng 4 – 5 ngày trước khi xuất hiện, có thể quan sát được mắt đỏ của những thành trùng đang phát triển, giai đoạn này được gọi là nhộng giả Một con bọ phấn trưởng thành có thể đẻ đến 800 trứng và sống được khoảng

từ 25 đến 30 ngày tùy điều kiện môi trường

2.1.4 Nghiên cứu về tính kháng thuốc trừ sâu của bọ phấn B tabaci

B tabaci đã phát sinh tính kháng đối với khoảng 35 chất hoạt động (a.i) của thuốc

trừ sâu, được báo cáo trên ít nhất 20 nước trên thế giới (Elbert và Nauen, 2000; Cahill

và ctv., 1995; Ahmad và ctv., 2002; Kranthi và ctv., 2002; Horowitz và ctv., 1998; Prabhaker và ctv., 1992; Cahill và ctv., 1996a; Dittrich và ctv., 1990; Denholm và ctv.,

1998) B tabaci đã được ghi nhận phát triển tính kháng với nhiều loại thuốc hóa học thuộc các nhóm khác nhau Các báo cáo về tính kháng của B tabaci được tổng hợp trong bảng 2.1 cho thấy B tabaci đã thể hiện tính kháng đối với nhiều hoạt chất của

Dittrich và ctv., 1983) Prabhaker và ctv., (1985) Dittrich V và ctv., (1985) Dittrich V và ctv., (1985) Immaraju, (1985)

Immaraju, (1985) Ahmed và ctv., (1987) Moore và ctv., (1989) Moore và ctv., (1989) Moore và ctv., (1989) Dittrich V., và Ernst G.H., (1988) Dittrich V., Uk S., và Ernst, G.H., (1988) Prabhaker và ctv., (1988)

Dittrich V., Uk S., và Ernst G.H., (1988) Omer và ctv., (1993); Qiu và ctv., (2009)

Trang 17

Cahill và ctv., (1996a) Grafton – Cardwell và ctv., (1998) Elbert và Nauen, (2000); Ishaaya và ctv., (2003) Elbert và ctv., (2000)

Kranthi và ctv., (2001) Cardona và ctv., (2001) Cardona và ctv., (2001) Cardona và ctv., (2001) Roditakis và ctv., (2005) Erdogan và ctv., (2008) Erdogan và ctv., (2008) Erdogan và ctv., (2008)

Qiu và ctv., (2009) Qiu và ctv., (2009) Roditakis và ctv., (2009) Roditakis và ctv., (2009) Crowder và ctv., (2009) Feng và ctv., (2010) Tính kháng của bọ phấn đối với thuốc trừ sâu đã được báo cáo ở nhiều nước như Đức, Guatemala, Israel, Ý, Mexico, Nicaragua, Pakistan, Tây Ban Nha, Sudan, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Mỹ, Ấn Độ, Colombia, Hy Lạp, Trung Quốc, Brazil Bọ phấn cũng phát sinh tính kháng thuốc trừ sâu ở nhiều quốc gia khác nhưng các báo cáo vẫn chưa được tài liệu hóa chính thức Tính kháng thuốc trừ sâu của bọ phấn thể hiện trên các

quần thể B tabaci ở nhiều nơi trên thế giới chứng tỏ tầm quan trọng của vấn đề và sự

cấp thiết của việc quản lý tính kháng

2.1.5 Nghiên cứu về thiên địch của bọ phấn trắng B tabaci

2.1.5.1 Nhóm bắt mồi

Theo George S Wise (1985), trong nhóm ăn mồi, nhện là loài được ghi nhận ăn ấu

trùng bọ phấn B tabaci bao gồm một số loài như Amblyseius sp., Typhlodromus sp

Bên cạnh đó tác giả cũng ghi nhận được bọ mắt vàng Chrysoperla sp cũng là một loài

Trang 18

bắt mồi ăn ấu trùng bọ phấn trắng Tuy nhiên, trong những loài trên không có loài nào

có chức năng kiểm soát bọ phấn một cách hiệu quả

Theo Lopez-Avila (1986) Gerling (1990), có 19 loài côn trùng thuộc 14 họ

(Chrysophidae, Miridae, Anthocoridae và Cocinellidae) và 11 loài nhện thuộc 12 họ (Phytoseiidae và Stigmaeidae) là những loài thiên địch bắt mồi của bọ phấn B tabaci

Amblyseius swirskii có khả năng ăn trứng và sâu non bọ phấn tuổi một A swirskii có

khả năng thiết lập quần thể tốt trên cây ớt ngọt ngay cả khi không có con mồi (Karel và ctv., 2008)

Delphastus pusillus Leconte (Coleoptera: Coccinellidae) là loài bọ rùa có thể tấn

công tất cả các giai đoạn sống của bọ phấn (Heinz và ctv., 1996) Nhiều loài bọ xít bắt

mồi như Cyrtopeltis, Dicyphus, Macrolophus và Deraocoris cũng được ghi nhận là loài

ăn mồi có hiệu quả đối với bọ phấn trắng (Kapadia và Puri, 1991) Tuy nhiên, các loài này không có khả năng kiểm soát bọ phấn xuống dưới ngưỡng gây hại (Heinz và ctv., 1996) Hơn nữa, chúng có thể ăn lẫn nhau và việc nhân nuôi hàng loạt các nhóm bọ xít

ăn mồi này phải thực hiện trong điều kiện đặc biệt để giảm thiểu sự cạnh tranh

Gần đây, hai loài Euseius scutalis (Phytoseiidae – Acari) và Typhlodromips swiskii (Phytoseiidae – Acari) cũng đã được ghi nhận là thiên địch của B tabaci Chúng không

chỉ ăn các loài côn trùng gây hại cây trồng mà còn ăn được phấn hoa và mật hoa Do đó chúng có thể sống sót khi mật số kí chủ thấp Vì vậy, chúng có khả năng gây hại khi sử dụng các mô cây làm nguồn thức ăn trong điều kiện thiếu kí chủ (Nomikou và ctv., 2003)

2.1.5.2 Nhóm nấm gây bệnh

Trên đồng ruộng, loài nấm phổ biến kí sinh B tabaci hiệu quả là Paecilomyces

fumosoroceus Các loại nấm kí sinh trên côn trùng khác cũng có hiệu quả đối với B tabaci bao gồm Paecilomyces spp., Lecanicillium lecanii, Beauveria bassiana và Aschersonia spp (Lawrence và ctv., 2008) Các nấm thuộc chi Archersonia đặc biệt

dùng cho bọ phấn trắng và côn trùng bộ cánh vảy có thể sử dụng là tác nhân sinh học

phòng trừ bọ phấn B tabaci và T vaporariorum (Meek và ctv., 2002) Gindin và ctv (2000) kết luận Verticillium lecanii có thể kiểm soát 95-98% ấu trùng Bemisia

argentifolii đang nở Còn theo Poprawski và Jones (2001), Beauveria bassiana và Paecilomyces fumosoroseus có khả năng phòng trừ tốt ấu trùng của bọ phấn gây hại trên

Trang 19

các cây trồng thuộc họ bầu bí Tuy nhiên, các nấm gây bệnh không phải là tác nhân biến động, vì vậy hiệu quả của chúng có thể bị ảnh hưởng bởi phương pháp và tần số áp dụng và kết quả là tốn nhiều chi phí (Ardeh, 2004)

2.1.5.3 Nhóm kí sinh

Gerling và ctv (2001) đã ghi nhận có 34 loài thuộc chi Encarsia , 12 loài thuộc chi

Eretmocerus, 2 loài thuộc chi Amitus, 1 loài thuộc mỗi chi Signiphora và Methycus là

các loài ong kí sinh sâu non bọ phấn trắng Amitus fuscipennis có triển vọng trong phòng trừ bọ phấn trắng T vaporariorum ở môi trường nhà kính không quá khô hoặc quá ấm (Manzano và ctv., 2000; Devis, 2001) Loài Amitus khác, Amitus hesperidium cùng với Encarsia opulenta đã được phóng thích tại đảo Carribean của Cộng hòa

Dominica để kiểm soát rầy đen (blackfly) trên vườn cây có múi (Martin, 1999) Theo Zhang và ctv (2003, 2004), ở Trung Quốc có 19 loài ong kí sinh bọ phấn trong đó có

Encarsia formosa Gahan, Encarsia pergandiella Howard và Encarsia mundus Mercet

(Aphelinidae – Hymenoptera) Encarsia formosa là loài kí sinh được sử dụng rộng rãi

trên thế giới để phòng trừ bọ phấn trên các loại cây rau và cây cảnh trồng trong nhà kính (Hoddle và ctv., 1998)

2.2 Nghiên cứu về ong Encarsia spp

2.2.1 Ong kí sinh Encarsia spp

Các loài ong kí sinh thuộc giống Encarsia có vai trò quan trọng trong việc phòng trừ sinh học đối với bọ phấn trắng như E formosa kiểm soát bọ phấn trắng nhà lưới (van Lenteren, 1986), E inaron kiểm soát bọ phấn đen (ash whitefly) (Gould và ctv., 1992) và E lahorensis kiểm soát bọ phấn trên cây có múi (Argov, 1986) Ở California (Hoa Kì), một số loài Encarsia khác đã được bổ sung trong công tác phòng trừ bọ phấn gồm các loài E protransvena, E transvena (E sophia) đối với B tabaci và E variegata

đối với bọ phấn trắng cây có múi (Gerling và ctv, 2001)

Mặc dù được sử dụng thường xuyên nhưng những hiểu biết về đặc tính sinh học

cũng như các đặc điểm phân loại của một số loài Encarsia vẫn còn rất hạn chế (Gerling

và ctv., 2001) Trước đây, các loài thuộc giống Encarsia được xếp theo nhóm chuyên

biệt dựa trên các đặc tính giống nhau về hình thái của chúng Điều này có thể dẫn đến

sự nhầm lẫn về tập tính hoạt động và sự tương thích kí chủ, những yếu tố quan trọng trong các chương trình kiểm soát sinh học bọ phấn (van Lenteren và Martin, 1999)

Trang 20

Nhiều nỗ lực đã được thực hiện trong việc phân loại và định danh loài trong giống

Encarsia Ngoài phương pháp phân loại dựa vào các đặc điểm hình thái, phương pháp

phân tích cấu trúc ADN (phương pháp sinh học phân tử) cũng đã được sử dụng nhằm đưa ra hệ thống phân loại hoàn chỉnh (Heraty và Polaszek, 2000) Theo báo cáo gần đây

của Heraty và ctv (2007), giống Encarsia có 336 loài ong kí sinh đã được ghi nhận và

mô tả trên thế giới

Các loài ong thuộc chi Encarsia thuộc loại nội kí sinh đơn Con cái phát triển trên

sâu non bọ phấn trắng hay rệp vảy Con đực có thể phát triển trên cùng loại kí chủ như con cái hoặc phát triển dưới dạng kí sinh bậc hai trên các loài côn trùng kí sinh họ Aphelinidae, kí sinh trứng của côn trùng bộ cánh vảy hay các loại vật chủ khác (Walter,

1983; Gerling, 1990b; Hunter và ctv., 1996b) Ong Encarsia spp đều kí sinh trong cơ thể

sâu non bọ phấn và vũ hóa từ xác sâu non bọ phấn tuổi 4 Chúng tấn công sâu non bọ phấn từ tuổi 2 đến tuổi 4 và đặc biệt ưa thích đẻ trứng trên sâu non bọ phấn tuổi nhỏ Ong trưởng thành thuộc dạng “synovigenic”, chúng vừa đẻ trứng vừa ăn thêm để tiếp tục phát triển trứng trong buồng trứng (Gerling, 1990b) Mặc dù thời gian phát triển vòng đời và khả năng đẻ trứng rất khác biệt giữa các loài và tùy thuộc vào điều kiện môi trường, tuy

nhiên có một vài điểm tổng quát ghi nhận về ong Encarsia spp như sau Vòng đời của ong Encarsia spp kéo dài khoảng từ 12 – 25 ngày tùy điều kiện môi trường và loại kí chủ (Gerling và ctv, 2001) Khả năng đẻ trứng của ong Encarsia spp thấp hơn ong

Eretmocerus spp nhưng khả năng đẻ trứng của cả 2 nhóm ong này đều không đạt được

mức độ lí tưởng như ong Amitus spp (trên 60 trứng/con cái) (Arakawa, 1982)

Các thí nghiệm trước đây cho thấy rằng ong không thể nhận biết được cây bị nhiễm bọ phấn khi cho ong tiếp xúc với quần thể gồm cây bị nhiễm và cây không bị nhiễm bọ phấn (van Lenteren và Martin, 1999) Quá trình tìm kiếm kí chủ được thực hiện qua sự kiểm tra ngẫu nhiên trên mặt lá trong tầm nhìn hạn chế của ong (khoảng 1 mm) (van Lenteren và Martin, 1999; các quan sát cá nhân của Gerling) Khứu giác đóng vai trò quan trọng trong việc tìm kiếm kí chủ và ong cái nhanh chóng tìm được đối tượng khi chúng bắt gặp chất mật do bọ phấn tiết ra trên mặt lá (Shimron và ctv., 1992) Nghiên cứu của Shimron và ctv (1992) cũng cho thấy rằng ong có phản ứng bắt mồi rất tốt với liều lượng mật chỉ do 1 sâu non bọ phấn tiết ra Thời gian tìm kiếm trên một lá phụ thuộc vào các kết quả tìm kiếm trước đó, vì vậy thời gian tìm kiếm 1 kí chủ sẽ dài

Trang 21

ra nếu ong tìm được kí chủ đã bị kí sinh (Shimron và ctv., 1992; van Lenteren và Martin, 1999) Theo Shimron và ctv (1992), khi bắt gặp chất bài tiết của sâu non bọ phấn, tốc độ di chuyển của ong giảm xuống (từ 0,8 mm/s còn 0,3 mm/s) nhưng góc độ tìm kiếm tăng lên (từ 267.9o lên 979.2o/cm)

Nhiều loài ong kí sinh thuộc giống Encarsia đã được nhân nuôi thiết lập quần thể

và phóng thích ngoài đồng trong kiểm soát sinh học sâu non bọ phấn trắng Được biết

đến nhiều nhất là E formosa, loài ong thường được sử dụng phòng trừ bọ phấn trắng

trong nhà lưới (van Lenteren và Martin, 1999) Một số loài khác đã được phóng thích để

kiểm soát bọ phấn trắng B tabaci như E nigricephala, E pergandiella và E sophia (Hoelmer, 1996; Goolsby và ctv., 2000) Quần thể sinh sản vô tính của ong E hispida đã cho thấy triển vọng đối với việc kiểm soát sinh học bọ phấn trắng B tabaci trên cây cà chua trồng trong nhà kính (Onillon và Maignet, 2000) Tuy nhiên, ong E pergandiella

lại cho kết quả ngược lại, làm giảm lượng kí sinh bọ phấn trắng (Onillon và ctv., 1994)

Tương tự, Gabarra và ctv (1999) ghi nhận rằng hiệu quả kí sinh của E formosa trên bọ

phấn trắng nhà lưới ở vùng Địa Trung Hải bị giảm khi kết hợp phòng trừ với ong ngoại

lai E pergandiella Theo Gerling và ctv (2001), sự giảm hiệu quả kí sinh khi sử dụng kết hợp 2 loài E formosa và E pergandiella có thể do đặc tính kí sinh bậc hai của con đực E pergandiella lên sâu non ong họ Aphelinidae Ngược lại, Heinz và Nelson (1996) lại cho rằng tương tác giữa E formosa và E pergandiella có thể thuận lợi cho kiểm soát

sinh học bằng việc sử dụng nguồn ong kí sinh ban đầu có khả năng thích ứng từ loại kí chủ này sang loại kí chủ khác Bográn và ctv (2002) báo cáo rằng phóng thích đồng thời

E formosa và E pergandiella đã làm giảm mức độ kí sinh vật chủ của ong Tuy nhiên,

theo Gerling và ctv (2001) mật số quần thể ong ban đầu đã tác động dẫn đến kết quả

xảy ra tương tác cạnh tranh giữa E formosa và E pergandiella Các nghiên cứu tương

tự được thực hiện bởi Hunter và ctv (2002) cũng chỉ ra rằng hiện tượng kí sinh bậc hai

của E sophia trên E eremicus có ảnh hưởng không lớn trong kiểm soát bọ phấn trắng B

tabaci Điều đáng ghi nhận khác nữa trong kết quả nghiên cứu của Mills và Gutierrez

(1996) đó là chỉ trong những điều kiện cụ thể thích hợp, sự kí sinh bậc hai mới có thể phá vỡ việc kiểm soát bọ phấn của nguồn ong kí sinh ban đầu

Trang 22

2.2.2 Các nghiên cứu về ong kí sinh E transvena

Ong kí sinh E transvena được báo cáo và miêu tả đầu tiên bởi Timberlake (1926)

với tên gọi Prospaltella transvena Ngoài ra, E transvena còn có tên gọi khác E sophia (Heraty và Polaszek, 2000) E transvena phân bố chủ yếu từ vùng nhiệt đới châu Phi kéo dài sang châu Á và châu Đại Dương (Heraty và ctv., 2007) Phổ kí chủ của E

transvena chủ yếu là côn trùng thuộc họ Aleyrodidae, bộ cánh đều Homoptera trong đó

có 2 loài phổ biến là B tabaci Gennadius (Polaszek và ctv., 1992; Hayat, 1989a; Gerling, 1985; Schmidt và ctv., 2001) và T vaporariorum Westwood (Polaszek và ctv.,

1992; Timberlake, 1926; Gerling, 1985; Schmidth và ctv., 2001)

Theo Huang và Polaszek (1998), trưởng thành cái của E transvena là một loại ong

nhỏ toàn thân màu vàng nhạt Râu màu vàng với đoạn cuối roi râu màu nâu vàng nhạt Cặp cánh trước và các cặp chân trong suốt Con đực sậm màu hơn con cái, đặc biệt là ở một vài đốt bụng đầu tiên, phần nách giữa mảnh lưng ngực giữa, mảnh lưng ngực sau

và phần phía trước của mảnh lưng ngực giữa đều có màu nâu sậm Về đặc điểm hình

thái để phân loại và định danh E transvena, Huang và Polaszek (1998) đã mô tả là trên

đầu của ong có vùng “stemmaticum” với 3 mắt đơn, 5 gai lông và những vân ngang tại vùng mắt này Râu đầu gối gồm 1 đốt cuống râu, 1 đốt chân râu và 6 đốt roi râu Các đốt roi râu từ 1 đến 6 có những vân dọc trên đốt theo thứ tự sau 0 – 1 hoặc 2 – 1 – 2 – 2 – 2 Phần giữa của mảnh lưng ngực giữa có số gai lông sắp xếp theo công thức 4 + 2 + 2, 4 +

1 + 2 + 2 hay 4 + 2 + 2 + 2 Mỗi phần bên của mảnh lưng ngực giữa có 3 gai lông Gần vùng rìa mép sau cánh trước có 1 vùng lông mọc dài hơn các lông tơ Trên mạch phụ cánh trước có 2 gai lông, mạch chính cánh trước có từ 6 – 9 gai lông Các đốt bàn chân

có cấu tạo 5 – 5 – 5 Các đốt bụng từ thứ 2 đến thứ 7 có số gai lông lần lượt 1 + 1, 1 + 1,

1 + 1, 2 + 2, 2 + 2, 4

Gerling (1983) đã có những quan sát, nghiên cứu ban đầu về E transvena và ghi

nhận các con cái đã giao phối được tìm thấy hầu hết trên những lá có sâu non bọ phấn tuổi nhỏ Thời gian phát triển từ trứng đến khi ong vũ hóa là 15 ngày Cũng như các loài

khác trong cùng giống, các con đực của E transvena phát triển kí sinh bậc hai trên con cái hoặc trên các loài khác cùng họ Aphelinidae như E formosa hay E nr haldemani

Hoạt động giao phối của ong diễn ra trong thời gian ngắn sau khi vũ hóa Tỉ lệ giới tính khi điều tra trên đồng ruộng thiên về con cái, tuy nhiên tại thời điểm nghiên cứu, chưa

Trang 23

có tính toán thống kê quần thể nào được thực hiện nên không có số liệu chính xác Gerling chỉ ghi nhận theo ước lượng cá nhân của ông thì tỉ lệ ong đực – cái trên đồng ruộng thường ở mức rất thấp 1: 33 hoặc không tìm thấy con đực nào

Các kết quả thí nghiệm của Antony và ctv (2003) cho thấy E transvena là loại

ong nội kí sinh đơn, ngoài hình thức sinh sản hữu tính còn có sinh sản đơn tính toàn đực Trứng đã thụ tinh được đẻ bên trong sâu non bọ phấn trắng và phát triển thành ong

kí sinh đực hoặc cái Ong đực sinh ra từ trứng không thụ tinh và phát triển dưới dạng kí sinh bậc 2 trên con cái cùng loài hoặc ong kí sinh thuộc họ Aphelinidae Sự phát triển của cá thể cái và đực đều trải qua các giai đoạn trứng, 3 tuổi sâu non, tiền nhộng và nhộng Vòng đời của ong cái từ 11,3 – 15,0 ngày và của ong đực từ 12,1 – 14,6 ngày

Ong E transvena cái có thể phát triển trên tất cả các tuổi sâu non bọ phấn nhưng tuổi kí

chủ ưa thích là tuổi 3 và đầu tuổi 4 Tỉ lệ sâu non bị kí sinh cao nhất ở tuổi 3 và đầu tuổi

4, thấp nhất ở tuổi 1 và cuối tuổi 4

Nghiên cứu về cấu tạo bộ phận đẻ trứng của ong E transvena, Gerling (1998) đã

chỉ ra rằng cấu tạo máng đẻ trứng trên đã ảnh hưởng đến tập tính đẻ trứng của ong Ong

E transvena có máng đẻ trứng trên thon gọn và khá cứng chắc với những mấu răng cưa

sắc nhọn Cấu tạo thuôn nhọn và cứng chắc của máng đẻ trứng trên rất phù hợp với vai trò của một kim chích để đâm thủng cơ thể sâu non bọ phấn Ngoài ra, máng đẻ trứng trên còn có tác dụng như lưỡi cưa và những mấu răng sắc nhọn giúp tăng hiệu quả khi ong cắt cơ thể kí chủ (Quicke, 1997) Hơn nữa, sự hiện diện của những chóp nhọn được bọc lớp cutin dày trên máng đẻ trứng dưới của ong cũng có tác dụng hỗ trợ cho quá trình xuyên thủng cơ thể vật chủ Kết quả trên đã giúp giải thích được những quan sát

về tập tính đẻ trứng của ong Encarsia spp của các tác giả trước Ong cái đẻ trứng bằng

cách đứng trên lưng sâu non bọ phấn trắng, dùng bộ phận đẻ trứng đâm thủng lớp cutin trên mặt lưng sâu non bọ phấn và đẻ trứng vào bên trong cơ thể sâu non bọ phấn (van Lenteren và ctv., 1976)

Simmon và Abd – Rabou (2005) đã nghiên cứu hiệu quả kí sinh của E transvena đối với bọ phấn trắng B tabaci trên 3 loại cây trồng bắp cải, dưa leo và cà tím Kết quả cho thấy hiệu quả kí sinh sâu non B tabaci của ong E transvena trên bắp cải là cao nhất

(45,7 ± 6,2 %/ tuần), tiếp theo là trên cà tím (42,7 ± 6,4%/ tuần), thấp nhất là trên dưa leo (30.7 ± 4,4%/ tuần)

Trang 24

Luo và Liu (2010) đã khảo sát sự tương thích kí chủ và hiệu quả phòng trừ bọ

phấn của E transvena trên 2 loài T vaporariorum và B tabaci Kết quả ghi nhận được ong vũ hóa từ vật chủ T vaporariorum có kích thước lớn hơn ong vũ hóa từ vật chủ B

tabaci Trong điều kiện thiếu thức ăn, tuổi thọ của ong vũ hóa từ vật chủ T vaporariorum cao hơn tuổi thọ ong vũ hóa từ vật chủ B tabaci Tuy nhiên vòng đời của

E transvena khi phát triển trên 2 loại vật chủ là như nhau Hơn nữa, ong vũ hóa từ T vaporariorum kí sinh sâu non bọ phấn nhiều hơn ong vũ hóa từ B tabaci

Đối với hiện tượng ăn thêm (host – feeding) và kí sinh bậc hai (autoparasitism), Gerling và Rejouan (2003) đã báo cáo rằng thời kì nhộng non (tiền nhộng) của ong dễ bị tấn công hơn thời kì nhộng tuổi lớn

Kết quả báo cáo về nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc trừ sâu lên ong E transvena

của Aggarwal và Brar (2006) đã cho thấy các nhóm thuốc chlorpyriphos, endosulfan và triazophos thể hiện độc tính cao đối với ong ở cả hai phương pháp xông hơi và tiếp xúc Trong khi đó, nhóm thuốc thảo dược chiết xuất từ cây neem không gây độc với thành

trùng E transvena ở phương pháp xông hơi và chỉ thể hiện độc tính đáng kể với thành trùng E transvena ở một mức liều lượng nhất định khi cho ăn trực tiếp Thêm nữa,

thuốc trừ sâu thảo dược NeemAzal T/S (1,0%) khi khảo nghiệm với liều lượng thấp (200mg/l) không ảnh hưởng đến tỉ lệ vũ hóa của ong nhưng có sự giảm tỉ lệ vũ hóa đáng

kể khi áp dụng với liều lượng cao hơn (800mg/l)

2.3 Phản ứng chức năng và phản ứng số lượng

Holling (1959) đã nghiên cứu sự ăn mồi của những động vật có vú nhỏ với ong ăn

lá thông và nhận thấy mức độ ăn mồi tăng khi mật số con mồi trong quần thể tăng Kết quả này xảy ra từ 2 tác động:

(1) Mỗi con ăn mồi sẽ tăng lượng tiêu thụ thức ăn khi tiếp xúc với quần thể con mồi có mật số cao hơn

(2) Mật số con ăn mồi tăng lên khi mật số con mồi tăng

Holling gọi 2 tác động này của quần thể con ăn mồi đối với con mồi dưới 2 dạng phản ứng khác nhau là phản ứng chức năng (1) và phản ứng số lượng (2)

2.3.1 Phản ứng chức năng

Holling (1959) đã đề ra phương trình phản ứng chức năng mà cho đến nay trở nên rất phổ biến đối với các nhà sinh thái học Phương trình này thường được gọi là

Trang 25

“phương trình đĩa” (“disc equation”) vì Holling đã sử dụng các đĩa giấy để ước lượng vùng tìm kiếm của con ăn mồi Xét về mặt toán học, phương trình này tương đương với phương trình “enzyme kinetics” được phát triển bởi Lenor Michaelis và Maude Menten năm 1913

Phương trình này minh họa chủ yếu về thời gian trong sinh thái hành vi của động vật Qua đó, tác giả cho rằng một con ăn mồi dành thời gian của nó cho 2 hoạt động chính

ƒ Thời gian tìm kiếm con mồi

ƒ Thời gian tiêu diệt con mồi bao gồm các hoạt động: săn đuổi, giết, ăn và tiêu hóa mồi

Mức tiêu thụ của một con ăn mồi bị giới hạn trong phương trình này vì nếu mật số con mồi rất dồi dào đến mức không tốn thời gian cho việc tìm kiếm, con ăn mồi vẫn phải cần thời gian để tiêu diệt con mồi

Như vậy, tổng thời gian mà một con ăn mồi dành ra trong hoạt động ăn mồi của chúng bằng thời gian tìm kiếm cộng với thời gian tiêu diệt con mồi Ta có phương trình

T = Tsearch + Thandlingtrong đó, T là tổng thời gian, Tsearch là thời gian tìm kiếm con mồi và Thandling là thời gian tiêu diệt con mồi

Giả sử 1 con ăn mồi bắt được Ha con mồi trong suốt thời gian T Tổng thời gian tiêu diệt mồi tỉ lệ thuận với số con mồi bắt được

Thandling = HaThvới Th là thời gian tiêu diệt 1 con mồi

Bắt mồi được cho là một quá trình ngẫu nhiên Một con ăn mồi thực hiện tìm kiếm trên một vùng diện tích a trong một đơn vị thời gian (ở đây chỉ tính thời gian tìm kiếm)

và bắt tất cả con mồi được tìm thấy trên diện tích đó Vùng diện tích giới hạn a thường được gọi là “vùng truy tìm”, tuy nhiên nó cũng được gọi là “mức tìm kiếm”

Sau khi dành thời gian Tsearch để tìm kiếm con mồi, con ăn mồi kiểm tra trên vùng diện tích = a.Tsearch và bắt được a.H.Tsearch con mồi trong đó H là mật số con mồi trên một đơn vị diện tích

Ha = a.H.Tsearch

Do đó

Trang 26

Tsearch = -

a.H Thay vào phương trình về tổng thời gian hoạt động của con ăn mồi, ta có

Hàm số này biểu thị số lượng con mồi bị giết bởi 1 con ăn mồi ở các mật số con mồi khác nhau Đây là dạng đồ thị điển hình của phản ứng chức năng cho rất nhiều loài

ăn mồi Khi mật số con mồi thấp, con ăn mồi dành hầu hết thời gian để tìm kiếm, ngược lại, khi mật số con mồi cao, con ăn mồi dành hầu hết thời gian để tiêu diệt con mồi Holling (1959) cũng đưa ra 3 dạng đồ thị điển hình của phản ứng chức năng

Trang 27

Đồ thị loại I là phản ứng chức năng được tìm thấy ở các loài ăn mồi thụ động như nhện Số lượng ruồi bị bắt trên lưới nhện tỉ lệ với mật số ruồi trong quần thể Số con mồi chết do sự tiêu thụ là hằng số

Đồ thị loại II là phản ứng chức năng điển hình nhất và tương ứng với phương trình trên Mức tìm kiếm a là hằng số Đoạn đồ thị bằng thể hiện sự bão hòa về mật số con ăn mồi Số lượng con mồi chết giảm dần cùng với mật số con mồi Ở dạng đồ thị này, con

ăn mồi giết được số con mồi lớn nhất khi mật số con mồi thấp Ví dụ, các động vật có

vú nhỏ tiêu diệt hầu hết nhộng của ngài sâu róm trong quần thể chỉ có rất ít ngài sâu róm Tuy nhiên trong quần thể với mật độ lá rụng cao, các động vật có vú nhỏ giết một lượng nhỏ ngài sâu róm tỉ lệ với số nhộng

Đồ thị loại III là phản ứng chức năng thường xảy ra với động vật ăn mồi có tập tính tăng hoạt động tìm kiếm khi mật số vật mồi tăng Nhiều loài ăn mồi có phản ứng với kairomone (chất thải của con mồi) và tăng cường hoạt động của chúng Các loài ăn mồi đa thực có xương sống (như các loài chim) có thể di chuyển nhanh đến những vùng

có nhiều loại con mồi bằng cách nhận biết trong tầm nhìn của chúng Lúc đầu số con mồi chết tăng khi mật số con mồi tăng, và sau đó giảm dần

Nếu mật số con ăn mồi là hằng số (như chim, động vật có vú nhỏ) thì chúng ta chỉ

có thể điều chỉnh mật số con mồi nếu như chúng ta có phương trình phản ứng chức năng loại III vì chỉ với phương trình loại này thì số lượng con mồi chết tăng khi mật số con mồi tăng lên Tuy nhiên, khi điều chỉnh mật số con mồi, cần chú ý đến tác động tiêu diệt

Trang 28

mồi của con ăn mồi Tác động này chỉ có hiệu quả, tức là số con mồi bị tiêu diệt ngày càng tăng khi mật số con mồi trong một khoảng giới hạn nhất định Nếu mật số con mồi vượt quá ngưỡng trên của khoảng giới hạn, tỉ lệ chết của con mồi bắt đầu giảm dần và

sự tiêu diệt mồi sẽ gây ra hiệu ứng ngược Kết quả là, số lượng con mồi sẽ vượt ngoài tầm kiểm soát Chúng sẽ phát triển ngày càng đông đúc về số lượng cho đến khi những yếu tố khác (bệnh tật hay sự khan hiếm thức ăn) cản trở sự sinh sản của chúng

2.3.2 Phản ứng số lượng

Phản ứng số lượng nêu lên rằng số lượng con ăn mồi sẽ tăng lên khi mật số con mồi tăng Tuy nhiên, cụm từ “phản ứng số lượng” (numerical response) ít nhiều gây khó hiểu cho người đọc bởi vì kết quả của phản ứng này được suy ra từ 2 giả thuyết khác nhau

- Mức sinh sản của con ăn mồi tăng khi lượng con mồi dồi dào

- Sự thu hút con ăn mồi khi có sự tập hợp đông đúc của con mồi (“phản ứng tập hợp”) Mức sinh sản tự nhiên của con ăn mồi phụ thuộc vào mức tiêu thụ thức ăn của nó

Số con mồi bị tiêu thụ càng nhiều, năng lượng tạo ra càng nhiều để cung cấp cho con ăn mồi sử dụng cho hoạt động sinh sản của chúng Mức tử vong của con ăn mồi cũng giảm khi lượng con mồi bị tiêu thụ tăng

Mô hình toán học đơn giản nhất về phản ứng chức năng của con ăn mồi dựa trên

sự tiêu thụ con mồi sử dụng cho hoạt động sinh sản của con ăn mồi tỉ lệ với số lượng con mồi được tiêu thụ Điều này giống như việc chuyển đổi tương đương từ số con mồi được tiêu thụ thành một con ăn mồi mới Ví dụ khi có 10 con mồi được tiêu thụ thì 1 con ăn mồi mới được sinh ra

Sự tập trung nhiều con ăn mồi ở khu vực có mật số con mồi cao thường gọi là

“phản ứng tập hợp” (“agregrational response”) Thuật ngữ này tốt hơn “phản ứng chức năng” vì ý nghĩa của nó không quá mơ hồ Phản ứng tập hợp có vai trò rất quan trọng trong nhiều hệ thống quan hệ giữa con ăn mồi và con mồi Con ăn mồi được lựa chọn sử dụng cho kiểm soát sinh học côn trùng gây hại phải có phản ứng tập hợp mạnh, nếu không chúng không thể ngăn chặn sự phát triển của quần thể con mồi Phản ứng tập hợp cũng làm tăng tính ổn định hệ thống phân phối trong không gian giữa con ăn mồi và con mồi (hay giữa kí chủ và kí sinh)

Trang 29

Chương 3

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Đề tài được thực hiện từ 15/02/2011 đến 15/06/2011 tại Bộ môn Bảo Vệ Thực Vật, khoa Nông Học, trường Đại Học Nông Lâm - TP Hồ Chí Minh

3.2 Nội dung nghiên cứu

Nội dung 1: Mô tả đặc điểm hình thái của ong kí sinh E transvena

Nội dung 2: Xác định thời gian phát triển các pha cơ thể và vòng đời ong kí sinh

E transvena

Nội dung 3: Xác định ảnh hưởng của thức ăn đến tuổi thọ của ong E transvena

Nội dung 4: Xác định ảnh hưởng của hoạt động kí sinh đến tuổi thọ của ong kí

sinh E transvena

Nội dung 5: Xác định tuổi vật chủ thích hợp cho ong E transvena kí sinh

Nội dung 6: Xác định khả năng sinh sản của ong E transvena

Nội dung 7: Xác định khả năng kí sinh của ong E transvena

3.3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

Các nghiên cứu được tiến hành trong điều kiện nhiệt độ To = 30 ± 2oC, Ao = 65 ± 5%, ánh sáng 12L: 12D

3.3.1 Nhân nuôi nguồn kí chủ, kí sinh

Vật liệu: cây cà tím, sâu non bọ phấn trắng, ong kí sinh, dung dịch mật ong

Dụng cụ thu mẫu: túi nilon, kéo, hộp nhựa, lồng thu bọ phấn và ong kí sinh

Trang 30

Nhân nuôi sâu non bọ phấn trắng B tabaci

Mục đích: thu được nguồn sâu non bọ phấn “sạch” có cùng độ tuổi làm vật chủ

cho ong kí sinh

Tiến hành trồng cây cà tím trong ly nhựa để vào lồng lưới Khi cây có 3 – 4 lá thật

thì sử dụng làm cây kí chủ để nhân sinh khối sâu non bọ phấn

Tiến hành thu thập bọ phấn trưởng thành trên những cây kí chủ như cà, ớt, bầu bí, dưa leo (cây không có biểu hiện triệu chứng bệnh virus) mang về thả vào lồng lưới có cây kí chủ trên Cho cây kí chủ tiếp xúc với bọ phấn trưởng thành trong 24 giờ rồi thay cây kí chủ mới để thu trứng bọ phấn có cùng ngày tuổi trên cây kí chủ phục vụ làm vật liệu thí nghiệm

Nhân nuôi ong kí sinh E transvena

Mục đích: thu được nguồn ong có cùng ngày tuổi để tiến hành thí nghiệm

Phương pháp: Tiến hành thu thập ấu trùng bọ phấn trắng có dấu hiệu bị ong kí sinh (hình 3.1) tại các ruộng cà, ớt, bầu bí, dưa leo sắp tàn cho vào lồng thu ong kí sinh trong phòng thí nghiệm, tiếp tục nuôi để thu ong trưởng thành vũ hóa cùng ngày tuổi

Lựa chọn riêng loài E transvena để nhân sinh khối

Tách riêng những ong E transvena vũ hóa cùng ngày tuổi, cho ong ăn mật ong và

thay mật ong hàng ngày Cho ong tiếp xúc với vật chủ là sâu non bọ phấn trắng để nhân sinh khối ong kí sinh làm vật liệu cho thí nghiệm

Nhân sinh khối ong E transvena đực bằng cách thu nhộng ong E transvena để

riêng trong các ống nghiệm, mỗi ống nghiệm 1 nhộng ong Sau khi ong vũ hóa, không

để ong cái bắt cặp, chỉ cho ăn thêm mật ong 30% rồi cho tiếp xúc với sâu non bọ phấn trắng để nhân sinh khối ong đực

Hình 3.1 Sâu non bọ phấn bị ong kí sinh trên lá cà tím

Trang 31

Hình 3.2 Lồng thu ong kí sinh

3.3.2 Thí nghiệm xác định thời gian phát dục các pha cơ thể và vòng đời của ong Mục đích: Biết được chu kỳ phát triển của ong ký sinh từ đó có thể tính toán được

thời gian phóng thích và khoảng cách giữa mỗi lần phóng thích Vòng đời của ong ký

sinh tính từ trứng đến trứng, tức là tính từ giai đoàn trứng được đẻ vào ấu trùng bọ phấn

cho đến khi trứng phát triển thành trùng, vũ hóa và bắt đầu đẻ trứng

Vật liệu: Ong ký sinh đã bắt cặp, sâu non bọ phấn tuổi 3

Phương pháp: Tiến hành cho 20 cặp ong mới vũ hóa 2 – 3h đã bắt cặp vào lồng tiếp xúc với sâu non bọ phấn trắng tuổi 3, mỗi lồng một cặp ong Sau 24h tiếp xúc, di chuyển kí chủ ra khỏi lồng và thay kí chủ mới Mỗi ngày giải phẫu 10 sâu non bọ phấn

bị kí sinh để quan sát các giai đoạn phát triển của ong kí sinh dưới kính lúp soi nổi xác định thời điểm trứng nở, sâu non, nhộng và trưởng thành, từ đó xác định được vòng đời

của ong

Chỉ tiêu theo dõi: Ghi nhận thời gian phát dục các pha trứng, ấu trùng, nhộng,

trưởng thành và vòng đời của ong E transvena

3.3.3 Mô tả đặc điểm hình thái ong E transvena

Mục đích: xác định chính xác tên loài, vị trí phân loại của ong E transvena

Vật liệu: thành trùng đực và cái của ong E transvena, trứng, sâu non tuổi 1, tuổi 2, tuổi 3 và nhộng của ong E transvena, cồn 70o, nước cất

Dụng cụ: kim nhỏ đầu nhọn, cọ lông đầu nhỏ, lam, lamelle, kính lúp soi nổi, kính hiển vi, thước vi trắc kế

Trang 32

Phương pháp thực hiện

Quan sát và mô tả đặc điểm hình thái

Ngâm ong trưởng thành vào cồn 70o trong vòng 30 giây cho ong chết Nhỏ 1 – 2 giọt nước cất lên lam, đặt ong đã ngâm cồn vào giọt nước, tiến hành giải phẫu Dùng kim đầu nhỏ tách riêng từng bộ phận cơ thể của ong, sau đó sắp xếp theo thứ tự đầu, ngực, bụng, râu đầu, cánh, chân trước, chân giữa, chân sau Đặt lamelle lên mẫu sao cho không có bọt khí rồi dùng băng keo dán cố định lamelle lại

Quan sát mẫu dưới kính hiển vi độ phóng đại ×40 lần Mô tả màu sắc, đặc điểm của râu đầu, cánh, chân, đầu, ngực, bụng

Sử dụng kim đầu nhỏ để tách trứng, các pha sâu non và nhộng của ong E

transvena ra khỏi cơ thể vật chủ Quan sát và mô tả đặc điểm hình thái các pha cơ thể

của ong E transvena dưới kính lúp soi nổi

Đo đếm kích thước các pha cơ thể của ong E transvena

Thực hiện việc đo kích thước các pha cơ thể của ong dưới kính lúp soi nổi kết hợp với thước vi trắc kế Đo chiều dài, chiều rộng các pha cơ thể Số mẫu thực hiện n = 30

3.3.4 Thí nghiệm ảnh hưởng của thức ăn đến tuổi thọ ong E transvena

Mục đích: xác định được thức ăn thêm có hiệu quả gia tăng tuổi thọ của ong trong điều kiện không tiếp xúc với kí chủ

Vật liệu: ong E transvena đực và cái vừa vũ hóa, nước lã, đường, mật ong

Dụng cụ: ống nghiệm thủy tinh, giấy sáp, vải mỏng, dây thun

Trang 33

Thả 4 ong trưởng thành vừa vũ hóa vào ống nghiệm có dán giấy thấm tẩm thức ăn trên thành ống tương ứng với các nghiệm thức Dùng vải mỏng bịt đầu ống nghiệm lại

để tránh ong bay ra Sau 12 giờ, thay thức ăn mới cho đến khi ong chết

Thời gian theo dõi: 24 giờ một lần, ghi nhận số ong chết

Tiến hành thí nghiệm đối với cả ong đực và ong cái

Chỉ tiêu theo dõi: tuổi thọ trung bình của ong đực và ong cái (ngày)

Hình 3.3 Bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của thức ăn đến tuổi thọ ong E transvena

3.3.5 Thí nghiệm ảnh hưởng của hoạt động kí sinh đến tuổi thọ ong E transvena

Mục đích: xác định ảnh hưởng của hoạt động kí sinh đến tuổi thọ ong

Vật liệu: ong E transvena cái đã bắt cặp, sâu non bọ phấn tuổi 3 trên cây cà tím có

NT 1: có ăn, không hoạt động kí sinh

NT 2: có ăn, có hoạt động kí sinh

Các nghiệm thức được bố trí cụ thể

NT1: thả ong cái đã bắt cặp vào lồng có chứa cây cà tím sạch không có sâu non bọ phấn trắng, bên trong lồng có đính giấy thấm mật ong 30% Sau 24 giờ, thay thức ăn cho đến khi ong cái cuối cùng chết

Trang 34

NT2: cho ong cái đã bắt cặp tiếp xúc với vật chủ (sâu non bọ phấn trắng tuổi 3 trên cây cà tím) trong lồng lưới có đính giấy tẩm mật ong 30% Sau 24 giờ, thay kí chủ và thức ăn mới Tiến hành như thế cho đến khi ong cái cuối cùng chết

Thời gian theo dõi: 24 giờ một lần, ghi nhận số ong chết

Chỉ tiêu theo dõi: tuổi thọ trung bình của ong cái (ngày)

3.3.6 Thí nghiệm xác định tuổi vật chủ thích hợp cho ong E transvena kí sinh

Mục đích: Biết được giai đoạn nào của ký chủ mà ong ký sinh tốt nhất, để tổ chức nhân nuôi có hiệu quả và phóng thích phù hợp

Vật liệu: Sâu non bọ phấn trắng tuổi 1, tuổi 2, tuổi 3, ong cái E transvena đã giao

phối, mật ong

Dụng cụ: Lồng nhựa hình trụ đường kính 16 cm, cao 27 cm, giấy sáp

Hình 3.4 Lồng nhựa sử dụng cho thí nghiệm

Phương pháp thực hiện: Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn tòan ngẫu nhiên đơn yếu tố với 3 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức 1 cá thể ong cái, 10 lần lặp lại

ƒ NT 1: 30 sâu non bọ phấn trắng tuổi 1

ƒ NT 2: 30 sâu non bọ phấn trắng tuổi 2

ƒ NT 3: 30 sâu non bọ phấn trắng tuổi 3

Ong kí sinh được nuôi với mật ong loãng 30% trên giấy sáp 1 ong kí sinh đực và

1 ong kí sinh cái vừa vũ hóa cùng ngày cho bắt cặp Sau khi bắt cặp, thả ong cái vào trong lồng chứa sẵn kí chủ tương ứng với từng nghiệm thức Sâu non nào bị kí sinh được giữ lại để quan sát tiếp tục

Trang 35

Chỉ tiêu theo dõi: Thời gian phát triển của ong từ lúc kí sinh đến khi vũ hóa (vòng đời của ong), tỷ lệ kí sinh, tỉ lệ vũ hóa và tỉ lệ ong cái

3.3.7 Thí nghiệm xác định khả năng sinh sản của ong E transvena

Mục đích: Xác định được lượng trứng đẻ trên 1 con ong cái từ đó tính toán được lượng ong phóng thích phù hợp để quản lý sâu hại

Vật liệu: Sâu non bọ phấn tuổi 3 trên cây cà tím có 3 – 4 lá thật, ong cái E

transvena đã giao phối

Dụng cụ: Lồng nhựa hình trụ đường kính 16 cm, cao 27 cm, kim đầu nhỏ, hũ nhựa, vải mỏng

Tiến hành thả 20 ong cái vừa vũ hóa, đã cho ăn và giao phối vào lồng lưới chứa cây cà có sâu non bọ phấn trắng, mỗi ong cái tương ứng với 1 lồng Sau 24 giờ chuyển cây cà ra và đưa cây cà mới có sâu non bọ phấn trắng vào lồng, theo dõi sâu non bọ phấn cũ Tiếp tục như vậy cho đến khi ong cái cuối cùng chết

Tiến hành mổ những ong cái đã chết, đếm trứng còn trong bụng con cái

Đếm số lượng sâu non bọ phấn trắng bị kí sinh

Chỉ tiêu theo dõi: ∑ trứng ong đẻ = số sâu non bọ phấn bị kí sinh + số trứng còn lại trong bụng con cái (trứng), tỉ lệ vũ hóa, tỉ lệ ong cái

3.3.8 Thí nghiệm xác định khả năng kí sinh của ong E transvena

Vật liệu: sâu non bọ phấn trắng tuổi 3 trên cây cà tím, ong cái E transvena đã giao

phối, mật ong

Dụng cụ: lồng nhựa hình trụ đường kính 16 cm, cao 27 cm, giấy sáp

Hình 3.5 Cây cà tím sử dụng trong thí nghiệm

Trang 36

Hình 3.6 Bố trí thí nghiệm 3.3.8.1 Phản ứng chức năng

Mục đích: Khảo sát phản ứng chức năng cho ta biết được khả năng kí sinh của một

cá thể ong trong điều kiện gia tăng dần mật số vật chủ Kết quả thí nghiệm sẽ giúp xác định được khả năng tìm kiếm vật chủ của ong trong phạm vi thích hợp cho hoạt động kí sinh của chúng

Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn tòan ngẫu nhiên đơn yếu tố với 5 nghiệm thức, 10 lần lặp lại

ƒ NT 1: 1 ong cái đã bắt cặp và 5 sâu non bọ phấn trắng tuổi 3

ƒ NT 2: 1 ong cái đã bắt cặp và 10 sâu non bọ phấn trắng tuổi 3

ƒ NT 3: 1 ong cái đã bắt cặp và 20 sâu non bọ phấn trắng tuổi 3

ƒ NT 4: 1 ong cái đã bắt cặp và 40 sâu non bọ phấn trắng tuổi 3

ƒ NT 5: 1 ong cái đã bắt cặp và 80 sâu non bọ phấn trắng tuổi 3

Ong cái được thả vào trong lồng chứa cây cà có kí chủ tương ứng với các nghiệm thức trên Đính giấy thấm mật ong loãng 30% bên trong lồng và thay thức ăn hằng ngày 24h sau khi ong tiếp xúc với kí chủ, thay cây cà có kí chủ mới vào lồng, theo dõi kí chủ cũ.Tiếp tục thực hiện tương tự trong vòng 4 ngày

Chỉ tiêu theo dõi: số lượng sâu non bọ phấn trắng bị kí sinh

Trang 37

Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn tòan ngẫu nhiên đơn yếu tố với 5 nghiệm thức, 10 lần lặp lại

ƒ NT 1: 100 sâu non bọ phấn trắng tuổi 3 và 1 ong cái đã bắt cặp

ƒ NT 2: 100 sâu non bọ phấn trắng tuổi 3 và 3 ong cái đã bắt cặp

ƒ NT 3: 100 sâu non bọ phấn trắng tuổi 3 và 5 ong cái đã bắt cặp

ƒ NT 4: 100 sâu non bọ phấn trắng tuổi 3 và 10 ong cái đã bắt cặp

ƒ NT 5: 100 sâu non bọ phấn trắng tuổi 3 và 15 ong cái đã bắt cặp

Ong cái được thả vào trong lồng chứa cây cà có kí chủ tương ứng với các nghiệm thức trên Đính giấy thấm mật ong loãng 30% bên trong lồng và thay thức ăn hằng ngày 24h sau khi ong tiếp xúc với sâu non, thay kí chủ mới vào lồng, theo dõi kí chủ cũ Tiếp tục thực hiện tương tự trong vòng 4 ngày

Chỉ tiêu theo dõi: tổng số lượng sâu non bọ phấn bị kí sinh, tỉ lệ sâu non bọ phấn

bị kí sinh

3.4 Phương pháp thống kê xử lý số liệu

Số liệu được thu thập và chuyển đổi bằng phần mềm Excel 2007

Các số liệu được phân tích biến lượng ANOVA – 1, trắc nghiệm nghiệm phân hạng LSD và xác định phương trình tương quan tuyến tính bằng phần mềm MSTATC

Đồ thị và bảng biểu được vẽ bằng phần mềm Excel 2007

Trang 38

Chương 4

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Vị trí phân loại và đặc điểm hình thái của ong kí sinh E transvena

(Aphelinidae – Hymenoptera)

4.1.1 Vị trí phân loại

Ong E transvena là loại ong kí sinh thuộc họ Aphelinidae, bộ cánh màng

Hymenoptera Aphelinidae là họ ong kí sinh thuộc tổng họ ong đùi Chalcidoidea, bộ

phụ bụng treo Apocrita trong bộ cánh màng Hymenoptera

Sâu non tuổi 1 0,165 – 0,227 0,204 ± 0,018 0,041 – 0,062 0,054 ± 0,010

Sâu non tuổi 2 0,330 – 0,392 0,366 ± 0,019 0,103 – 0,144 0,125 ± 0,014

Sâu non tuổi 3 0,515 – 0,577 0,543 ± 0,014 0,247– 0,289 0,256 ± 0,012

Trang 39

Qua quá trình quan sát, theo dõi đặc điểm hình thái các pha cơ thể của ong E

transvena, chúng tôi đã ghi nhận được một số đặc điểm nổi bật Bảng 4.1 thể hiện kích

thước các pha cơ thể của ong E transvena

Thành trùng của ong E transvena

Ong E transvena trưởng thành màu vàng sáng, có kích thước rất nhỏ Cơ thể ong

cái dài trung bình 0,601 ± 0,049 mm, rộng trung bình 0,243 ± 0,019 mm, sải cánh rộng trung bình 1,261 ± 0,057 mm Ong đực có kích thước cơ thể nhỏ hơn ong cái, dài trung bình 0,531 ± 0,045 mm, rộng trung bình 0,232 ± 0,013 mm, sải cánh rộng trung bình 1,207 ± 0,054 mm

Hình 4.1 Thành trùng ong kí sinh E transvena

a Ong cái, b Ong đực Đầu của ong có 2 mắt kép màu tím đen Trên đỉnh đầu, khoảng giữa 2 mắt kép là 3 mắt đơn màu nâu đỏ xếp thành hình tam giác Tại vùng mắt đơn có 5 lông nhỏ rải rác Râu đầu dạng đầu gối có 8 đốt bao gồm đốt chân râu, đốt cuống râu và 6 đốt roi râu dạng hình ống Trên các đốt râu có nhiều lông nhỏ, các đốt roi râu từ 2 đến 6 có 1 – 2 gân dọc trên mỗi đốt

Hình 4.2 Đầu và chi phụ đầu của ong E transvena

a 1 – Râu đầu, 2 – Mắt kép, 3 – Mắt đơn

b Râu đầu quan sát dưới kính hiển vi độ phóng đại ×40

ba

2 1

Trang 40

Ong E transvena trưởng thành có 2 cặp cánh trong suốt, mạch cánh tiêu biến gần

hết, chỉ còn một mạch chính duy nhất ở mép trước cánh kéo dài từ gốc cánh đến hơn 1/2 cánh, không có buồng cánh Trên cánh có nhiều lông tơ mịn và mép cánh có hàng diềm lông dài Cánh trước có 2 gai lông cứng trên đoạn mạch cánh phụ và 6 – 9 gai lông trên đoạn mạch cánh chính Gần mép dưới cánh trước có chùm lông mọc ngược từ 7 – 11 sợi

và dài hơn so với các lông tơ Đặc điểm này giúp phân biệt E transvena với các loài ong kí sinh bọ phấn khác trong cùng giống Encarsia như loài E protransvena (Huang

và Polaszek, 1998) Trên mảnh lưng ngực giữa có 14 gai lông mọc theo kiểu đối xứng 7 – 7 bao gồm 4 gai lông ở thùy giữa và 3 gai lông ở thùy bên Mảnh lưng ngực sau cũng

có 4 gai lông mọc đối xứng 2 –2 Chân E transvena thuộc kiểu chân chạy, đốt bàn chân

có cấu tạo 5 – 5 – 5

Hình 4.3 Mảnh lưng ngực của E transvena quan sát dưới kính hiển vi

độ phóng đại ×40

a 1 – 8 gai lông trên thùy giữa mảnh lưng ngực giữa (mesoscutum), 2 – 4 gai lông

trên mảnh lưng ngực sau (scutellum)

b 3 gai lông trên thùy bên (side lobe) mảnh lưng ngực giữa

Hình 4.4 Cánh của ong E transvena dưới kính hiển vi độ phóng đại × 10

a Cánh trước, b Cánh sau

ba

1

2

Ngày đăng: 11/06/2018, 08:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w