Mục tiêu của đề tài nhằm tìm hiểu khả năng đền bù của cây lúa trong điều kiện hủy chồi giả sâu đục thân gây hại vào 2 giai đoạn sinh trưởng của cây lúa: đẻ nhánh và trổ bông.. 16 3.3.1
Trang 1NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG ĐỀN BÙ CỦA CÂY LÚA TRONG ĐIỀU KIỆN HỦY CHỒI ĐỂ GIẢ TẠO SÂU ĐỤC THÂN GÂY HẠI TRONG VỤ HÈ THU 2011 TẠI XÃ ĐIỀM HY
CHÂU THÀNH - TIỀN GIANG
Tác giả
NGUYỄN THỊ KIM OANH
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành đề tài tốt nghiệp tôi xin chân thành gởi lời biết ơn đến:
- Ban Giám hiệu nhà trường, Ban Chủ nhiệm khoa Nông Học, Ban quản lý thư viện và các thầy cô giáo trường ĐH Nông Lâm TPHCM đã tận tình giúp đỡ truyền đạt thông tin, kiến thức quý báu trong suốt 4 năm học đại học cũng như trong suốt quá trình thực tập, thực hiện đề tài tốt nghiệp này đạt được kết quả tốt
- Thầy Nguyễn Hữu Trúc đã hướng dẫn tôi trong quá trình thực tập
- Ban Giám đốc Trung Tâm BVTV phía Nam đã luôn tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian thực tập
- Thạc sỹ Lâm Thị Mỹ Nương và các cô, chú, anh chị tại Trung tâm BVTV phía Nam đã tận tình giúp đỡ cho tôi để hoàn thành đề tài tốt nghiệp này
- Gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
TP Hồ Chí Minh, ngày 2 tháng 8 năm 2011
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Kim Oanh
Trang 4TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Nguyễn Thị Kim Oanh – khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm Thành phố
Hồ Chí Minh, tháng 08/2011 Đề tài: “Nghiên cứu khả năng đền bù của cây lúa trong điều kiện hủy chồi để giả tạo sâu đục thân gây hại trong vụ hè thu 2011 tại
xã Điềm Hy – Châu Thành – Tiền Giang”
Giáo viên hướng dẫn: Thầy Nguyễn Hữu Trúc và ThS Lâm Thị Mỹ Nương Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 3/2011 đến tháng 6/2011 tại Trung Tâm Bảo
Vệ Thực Vật Phía Nam huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang Mục tiêu của đề tài nhằm tìm hiểu khả năng đền bù của cây lúa trong điều kiện hủy chồi giả sâu đục thân gây hại vào 2 giai đoạn sinh trưởng của cây lúa: đẻ nhánh và trổ bông Đồng thời đánh giá mức độ thiệt hại về năng suất trong điều kiện giả bị sâu đục thân gây hại ở các tỷ lệ gây hại khác nhau để có các đề xuất về biện pháp quản lý sâu đục thân đạt hiệu quả, tránh việc phun thuốc phòng ngừa làm tăng chi phí sản xuất và ô nhiễm môi trường
Đề tài gồm có 2 thí nghiệm được bố trí vào 2 giai đoạn sinh trưởng khác nhau của cây lúa: đẻ nhánh và trổ bông Cả 2 thí nghiệm đều được bố trí theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lần lặp lại Kết quả thu được cho thấy:
Trong giai đoạn lúa đẻ nhánh: cây lúa có khả năng đền bù rất cao Sau khi bị hủy chồi chúng có khả năng nhảy nhiều chồi mới Nếu bị hủy từ 10% đến 15% số chồi trên một đơn vị diện tích, năng suất thực tế ở các nghiệm thức này không khác biệt so với đối chứng không bị hủy chồi Nhưng trong trường hợp bị hủy 20% số chồi, năng suất thực tế giảm 1,09 tấn/ha so với đối chứng không bị hủy chồi
Trong giai đoạn lúa trổ bông: nếu chỉ bị hủy 3% số bông/một đơn vị diện tích thì năng suất thực tế không khác biệt so với đối chứng không bị hủy bông Nhưng nếu
bị mất từ 5-7% số bông/đơn vị diện tích thì năng suất thực tế bị giảm rất khác biệt so với đối chứng không bị hủy bông Khi hủy 5% bông năng suất thực tế giảm 0,78 tấn/ha và 7% bông giảm 1,12 tấn/ha so với đối chứng không hủy bông
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang tựa i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT ĐỀ TÀI iv
MỤC LỤC v
DANH SÁCH BẢNG ix
DANH SÁCH HÌNH x
Chương 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu 2
Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Giới thiệu về sâu đục thân hại lúa 3
2.1.1 Phân bố và ký chủ 3
2.1.2 Đặc điểm hình thái và sinh học sâu đục thân màu vàng S incertulas 4
2.1.3 Tập quán sinh sống và triệu chứng gây hại của sâu sâu đục thân màu vàng S incertulas 6
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến mật số sâu đục thân 7
2.1.5 Các biện pháp phòng trị sâu đục thân 7
2.1.5.1 Biện pháp canh tác 7
2.1.5.2 Biện pháp sinh học 8
2.1.5.3 Biện pháp hóa học 8
2.2 Những thiệt hại do sâu đục thân gây ra 9
2.2.1 Trên thế giới 9
2.2.2 Trong nước 9
2.3 Sơ lược về các đặc tính sinh trưởng của cây lúa 10
2.3.1 Các giai đoạn sinh trưởng của cây lúa 10
2.3.1.1 Giai đoạn tăng trưởng (sinh trưởng dinh dưỡng) 11
2.3.1.2 Giai đoạn sinh sản 12
Trang 62.4 Sơ lược về đặc tính sinh trưởng của giống lúa IR 50404 13
Chương 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 15
3.1 Điều kiện thí nghiệm 15
3.2 Vật liệu thí nghiệm 16
3.3 Phương pháp thí nghiệm 16
3.3.1 Thí nghiệm 1: Xác định khả năng đền bù của cây lúa trong điều kiện hủy chồi để giả tạo sâu đục thân gây hại ở giai đoạn lúa đẻ nhánh 16
3.3.1.1 Bố trí thí nghiệm 17
3.3.1.2 Phương pháp tiến hành và cách hủy chồi: 17
3.3.1.3 Chỉ tiêu theo dõi 18
3.3.2 Thí nghiệm 2: Xác định khả năng đền bù của cây lúa trong điều kiện hủy bông để giả sâu đục thân gây hại ở giai đoạn lúa trổ bông 19
3.3.2.1 Bố trí thí nghiệm 20
3.3.2.2 Phương pháp tiến hành và cách hủy bông: 21
3.3.2.3 Chỉ tiêu theo dõi 22
3.4 Phương pháp xử lý số liệu 22
Chương 4 23
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 23
4.1 Thí nghiệm 1 23
4.1.1 Ảnh hưởng của việc giả tạo sâu đục thân gây hại vào giai đoạn lúa đẻ nhánh đến số chồi 23
4.1.2 Ảnh hưởng của việc giả tạo sâu đục thân gây hại vào giai đoạn lúa đẻ nhánh đến chỉ số diệp lục tố trong lá 26
4.1.3 Ảnh hưởng của việc giả tạo sâu đục thân gây hại vào giai đoạn lúa đẻ nhánh đến các yếu tố cấu thành năng suất lúa 28
4.1.4 Ảnh hưởng của việc giả tạo sâu đục thân gây hại vào giai đoạn lúa đẻ nhánh đến năng suất lúa 29
4.2 Thí nghiệm 2 30
4.2.1 Ảnh hưởng của việc giả tạo sâu đục thân gây hại vào giai đoạn lúa trổ bông đến chỉ số diệp lục tố trong lá 30
Trang 74.2.2 Ảnh hưởng của việc giả tạo sâu đục thân gây hại vào giai đoạn lúa trổ bông
đến các yếu tố cấu thành năng suất 31
4.2.3 Ảnh hưởng của việc giả tạo sâu đục thân gây hại vào giai đoạn lúa trổ bông đến năng suất lúa 32
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 38
5.1 Kết luận 38
5.2 Đề nghị 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO 39
PHỤ LỤC 41
Trang 9DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 4.1 Số chồi/m2 qua các lần điều tra sau khi hủy chồi giai đoạn lúa đẻ nhánh 25
Bảng 4.2 Chỉ số diệp lục tố qua các tuần sau khi hủy chồi giai đoạn lúa đẻ nhánh 27 Bảng 4.3 Ảnh hưởng đến các yếu tố cấu thành năng suất khi hủy chồi giai đoạn lúa đẻ
nhánh 28
Bảng 4.4 Ảnh hưởng đến năng suất khi hủy chồi giai đoạn lúa đẻ nhánh 29 Bảng 4.5 Chỉ số diệp lục tố qua các tuần sau khi hủy bông giai đoạn lúa trổ bông 30 Bảng 4.6 Ảnh hưởng đến các yếu tố cấu thành năng suất khi hủy bông giai đoạn lúa
trổ bông 31
Bảng 4.7 Ảnh hưởng đến năng suất khi hủy bông giai đoạn lúa trổ bông 32
Trang 10DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 2.1 Vòng đời của sâu đục thân 2 chấm Scirpophaga incertulas 4
Hình 2.2 Các thời kỳ và giai đoạn sinh trưởng của lúa 11
Hình 2.3 Giống IR 50404 14
Hình 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 1 17
Hình 3.2 Triệu chứng “chết đọt” sau khi bị hủy chồi giai đoạn lúa đẻ nhánh 25NSS 18 Hình 3.3 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 2 20
Hình 3.4 Triệu chứng “bông bạc” khi hủy bông giai đoạn lúa trổ 21
Hình 4.1 Phương pháp đo chỉ số Spad 26
Hình 4.2 Toàn cảnh thí nghiệm giai đoạn cắm cọc bố trí thí nghiệm 1 33
Hình 4.3 Toàn cảnh thí nghiệm giai đoạn cắm cọc bố trí thí nghiệm 2 33
Hình 4.4 Lần lặp lại 1 của thí nghiệm 1giai đoạn lúa 30 ngày sau sạ 34
Hình 4.5 Lần lặp lại 2 của thí nghiệm 1giai đoạn lúa 30 ngày sau sạ 34
Hình 4.6 Lần lặp lại 3 của thí nghiệm 1giai đoạn lúa 30 ngày sau sạ 35
Hình 4.7 Toàn cảnh thí nghiệm 2 giai đoạn lúa 7 ngày sau hủy bông 35
Hình 4.8 Lần lặp lại 1 của thí nghiệm 2 giai đoạn lúa 7 ngày sau khi hủy bông 36
Hinh 4.9 Lần lặp lại 2 của thí nghiệm 2 giai đoạn lúa 7 ngày sau khi hủy bông 36
Hình 4.10 Lần lặp lại 3 của thí nghiệm 2 giai đoạn lúa 7 ngày sau khi hủy bông 37
Hình 4.11 Toàn cảnh thí nghiệm 2 giai đoạn lúa chín 37
Trang 11Để đảm bảo tính ổn định và nâng cao năng suất, phẩm chất lúa, ngoài các yếu tố như giống, kỹ thuật canh tác, điều kiện thời tiết khí hậu…, sâu bệnh hại trên lúa là một yếu tố hết sức quan trọng cần phải thường xuyên được quan tâm theo dõi Theo số liệu thống kê tại Trung tâm BVTV phía Nam thành phần dịch hại trên lúa trong những năm gần đây có nhiều biến động Bên cạnh việc xuất hiện thêm một số đối tượng dịch hại
mới như Rầy phấn trắng (Aleurocybotus sp.), hội chứng vàng lá do virus gây ra thì một
số đối tượng dịch hại gần đây có chiều hướng gia tăng diện tích gây hại như muỗi lá
hành (Orseolia oryzae) và sâu đục thân hại lúa
Để có cơ sở đề xuất biện pháp quản lý sâu đục thân đạt hiệu quả, tránh việc phun thuốc phòng ngừa tràn lan vừa làm tăng chi phí sản xuất và ô nhiễm môi trường, đề tài
nghiên cứu “Nghiên cứu khả năng đền bù của cây lúa trong điều kiện hủy chồi để giả tạo sâu đục thân gây hại ” đã được thực hiện trong vụ Hè Thu 2011 tại xã Điềm
Hy, huyện Châu Thành, Tỉnh Tiền Giang
Trang 121.2 Mục đích và yêu cầu
1.2.1 Mục đích
Đánh giá khả năng đền bù của cây lúa trong điều kiện giả tạo sâu đục thân gây hại
ở giai đoạn lúa đẻ nhánh và lúa trổ, từ đó có những khuyến cáo cụ thể trong việc phòng trừ đối tượng sâu hại này
1.2.2 Yêu cầu
Xác định khả năng đền bù của cây lúa trong điều kiện giả tạo sâu đục thân ở 2 giai đoạn sinh trưởng của cây lúa: đẻ nhánh và trổ
Ảnh hưởng của mức độ gây hại của sâu đục thân giả tạo ở 2 giai đoạn lúa đẻ nhánh
và lúa trổ đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lúa
Trang 13Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Giới thiệu về sâu đục thân hại lúa
Sâu đục thân lúa còn gọi là sâu ống hoặc sâu nách Có 6 loài sâu đục thân lúa chính ở Châu Á, nhưng ở Việt Nam chủ yếu có 4 loài đó là: Sâu đục thân màu vàng,
còn gọi là bướm hai chấm có tên khoa học là Scirpophaga incertulas Walker, sâu đục thân sọc nâu đầu đen có tên khoa học là Chilo polychrysus Meyrick, sâu đục thân sọc nâu đầu nâu có tên khoa học là Chilo simplex Walker Cả 3 loài này thuộc họ ngài
sáng (pyralidae), bộ cánh vảy (Lepidoptera) Sâu đục thân màu hồng có tên khoa học
là Sesamia inferens Walker, họ ngài đêm (Noctuidae), bộ cánh vảy (Lepidoptera)
(Nguyễn Văn Huỳnh, 2011)
2.1.1 Phân bố và ký chủ
Các loài sâu đục thân lúa được ghi nhận xuất hiện tại các quốc gia như Afghanistan, Ấn Độ, Bangladesh, Bhutan, Burma, Indonesia, Kampuchea, Lào, Malaysia, Nepal, Tân Guinea, Philippines, Pakistan, Sri Lanka, Việt Nam, miền nam các nước Nhật, Trung Quốc và Triều Tiên
Riêng sâu sọc nâu đầu đen trước kia được ghi nhận chỉ gây hại ở Malaysia nhưng gần đây xuất hiện ở nhiều nơi như Myanmar, Ấn Độ, Campuchia, Lào, Nepal, Philipines, Việt Nam và miền Nam Trung Quốc
Ngoài cây lúa, các loài sâu đục thân lúa có thể sinh sống được trên các loại cây
như mía, bắp, lúa hoang, các loại cỏ như cỏ lồng vực, Sacclolepsis, Scirpus, Etaria,
Phragmites, Typha, Panicum paspalum, Zizania, Echinochloa
Riêng loài S incertulas chỉ sống trên lúa và lúa hoang (Nguyễn Văn Huỳnh,
2011)
Trang 14Ở nước ta Sâu đục thân 2 chấm S incertulas được xem là loài sâu đục thân quan
trọng nhất, nó được ghi nhận ở 44 tỉnh trong cả nước từ miền núi đến đồng bằng cả các tỉnh ven biển (Phạm Văn Lầm, 2000)
Ở trong nước sâu đục thân 2 chấm gây hại phổ biến khắp các vùng trồng lúa Sâu đục thân 2 chấm là loài đơn thực tính khá điển hình Tuy nhiên nghiên cứu mới gần
đây chúng còn phá hại trên 4 loài lúa dại và cỏ Leptoch panicoides (Nguyễn Việt
Tùng, 2006)
2.1.2 Đặc điểm hình thái và sinh học sâu đục thân màu vàng S incertulas
Hình 2.1 Vòng đời của sâu đục thân 2 chấm Scirpophaga incertulas
(Nguồn: http//www.philrice.gov.ph )
Trang 15Thành trùng sâu đục thân 2 chấm là ngài sáng có màu vàng hơi nâu Thành trùng đực và cái khác nhau về ngoại hình Con cái trên giữa cánh trước có một chấm đen, con đực chỉ có một vệt nâu đen mờ xuyên từ đỉnh cánh Kích thước con cái lớn hơn con đực dài 8 – 9 mm sải cánh 23 – 28 mm cuối bụng có chùm lông nhạt
Trứng hình bầu dục được đẻ thành ổ ở mặt trên lá và phía trên có lông bao phủ
Ấu trùng màu vàng nhạt, đầu màu nâu nhạt, chân bụng có móc hình elip gồm 28 móc, đẫy sức có thể dài 18 – 25 mm
Nhộng màu nâu nhạt, dạng nhộng màng, dài 10 – 16 mm
Sau khi vũ hóa 2 – 3 ngày, ngài cái có thể bắt cặp và đẻ trứng Hầu hết ngài đẻ trứng và ban đêm và đẻ thành từng ổ trên mặt lá phần chóp lá Các ổ trứng đẻ ra đều
có lông bao phủ, mỗi ổ có thể có từ 50 – 80 trứng mỗi ngài cái có thể đẻ từ 1 – 5 ổ trứng Ngài đẻ trứng trong khoảng thời gian 3 ngày
Thành trùng chỉ sống được 4 – 6 ngày
Giai đoạn trứng kéo dài 6 – 8 ngày
Sâu non mới nở gần như có màu trắng đục, đầu màu sẫm hơn Càng lớn sâu non càng có màu sẫm và trải qua 4 lần lột xác Giai đoạn ấu trùng kéo dài 30 – 40 ngày Nhộng thường được làm ở gốc lúa, trước khi hóa nhộng sâu thường đục sẵn một
lỗ ở thân chỉ chừa lại một lớp biểu bì mỏng để khi vũ hóa chui ra Giai đoạn nhộng kéo dài 7 – 10 ngày
Ngài sâu đục thân 2 chấm thường hoạt động ban đêm và xu tính ánh sáng rất mạnh Ngài rất thích đẻ trứng ở ruộng lúa xanh non, rậm rạp Những ruộng lúa bón nhiều phân, lá, thân mềm có màu xanh đậm rất thích hợp cho sâu phát sinh và phát triển Sự phát sinh phát triển của sâu đục thân 2 chấm phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện sinh thái như điều kiện thời tiết, khí hậu và thức ăn Trong giai đoạn mạ sâu có thể sống đến tuổi 3 sau đó do thân mạ nhỏ sâu cắt đứt thân mạ chui ra có khi cuốn mẫu
lá lại thành ống trôi đi để xâm nhập vào cây khác lớn hơn Khả năng sống sót và sinh
Trang 16sản của sâu trên mạ kém hơn trên lúa Theo nhiều kết quả nghiên cứu khi mạ 20 ngày tuổi tỷ lệ hại chỉ 19%, mạ 40 ngày tỷ lệ bị hại lên 59% Lúa ở thời kỳ đẻ nhánh sâu đục vào thân rất dễ dàng nhưng ở thời kỳ đứng cái tỷ lệ bị hại thấp đi và khi lúa ở giai đoạn làm đòng thì sâu hại có thể đục vào thân dễ dàng Đặc điểm của sâu đục thân 2 chấm
là chỉ có 1 con sống trong một thân lúa, khi hết thức ăn chui ra ngoài tấn công cây khác Do đó sự phá hại của loài sâu này rất cao Một tập quán nữa là sâu này hóa nhộng trong thân lúa cách mặt đất 1 – 2 cm, khi ruộng khô có thể chui xuống đất hóa nhộng ở độ sâu 10 cm
Nhiệt độ thích hợp cho sâu phát triển từ 23 – 300C và ẩm độ 90% Sâu phá hại nặng vào vụ lúa Đông xuân muộn và hè thu Trên 1 vụ lúa ngắn ngày có thể phát triển
từ 2 – 3 lứa, lúa dài ngày từ 3 – 4 lứa (Nguyễn Thị Chắt, 2006)
2.1.3 Tập quán sinh sống và triệu chứng gây hại của sâu sâu đục thân màu vàng
S incertulas
Bướm vũ hóa vào ban đêm và có thể giao phối ngay sau khi vũ hóa và 2 ngày sau bắt đầu đẻ trứng Bướm thích đẻ trứng trên những đám ruộng xanh tốt, rậm rạp Ban ngày bướm ẩn trong tán lá lúa rậm rạp gần mặt nước Bướm bắt đầu hoạt động mạnh khi trời vừa tối và mạnh nhất từ 19-20 giờ đối với bướm cái và từ 23 giờ khuya đến 1 giờ sáng đối với bướm đực Bướm rất thích ánh sáng đèn và vào đèn nhiều lúc trăng tròn Bướm có thể bay xa đến 2 km để tìm thức ăn
Scirpophaga incertulas có thể tấn công hầu hết các giai đoạn phát triển của cây
lúa, bắt đầu đẻ nhánh đến lúc đâm chồi và làm đòng (Ranasinghe, 1992) Scirpophaga
incertulas đục vào thân cây lúa và làm rỗng trong thân hoàn toàn Các triệu chứng
thiệt hại thay đổi tùy theo giai đoạn sinh trưởng của cây
Sâu non mới nở gặm ăn chất keo và lông phủ lên ổ trứng hay ở đáy ổ trứng chui
ra Sâu tấn công cây lúa bằng hai cách tùy giai đoạn sinh trưởng của cây lúa:
Lúa ở giai đoạn mạ hoặc đẻ nhánh: Sâu mới nở nhả tơ nhờ gió đưa sang các bụi lúa lân cận hoặc một số rớt xuống nước và nhờ gió đưa theo dòng nước phân tán đến các cây khác Khoảng 90% sâu phân tán được đến các cây khác, nhưng chỉ 40% trong
Trang 17số trên là có thể sống và đục được vào thân cây lúa Sau khi phân tán đến các lá, sâu chui vào bên trong bẹ lá, ăn mặt trong của bẹ từ 3-5 ngày Sang tuổi 2, miệng đủ cứng, sâu đục thân cây lúa chui vào bên trong thân, ngay phía trên mắt và thường dùng tơ bịt kín lỗ đục để nước không chui vào Sâu ăn phá đọt non của cây lúa làm cho dưỡng chất và nước không di chuyển lên nuôi đọt được nên đọt bị héo khô, gọi là "chết đọt" Lúa sắp trổ hoặc mới trổ: Sâu đục qua lá bao đòng chui vào giữa thân xong bò dần xuống phía dưới ăn điểm sinh trưởng, cắt đứt các mạch dẫn chất dinh dưỡng nuôi bông làm cho bông bị lép trắng gọi là "bông bạc" (Nguyễn Văn Huỳnh, 2011)
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến mật số sâu đục thân
Thời tiết: Ẩm độ cao (trên 90%) thích hợp đối với hầu hết các loài sâu đục thân lúa Nhiệt độ từ 19 – 300°C thích hợp cho bướm hoạt động và sâu phát triển
Thức ăn: Ở giai đoạn vươn lóng sâu đục vào dễ dàng vì cây lúa mềm Ở giai đoạn phân hóa đòng sâu dễ dàng đục vào bên trong thân cây làm cho cây bị hiện tượng chết đọt nhiều
Thiên địch: Trứng sâu đục thân thường bị ký sinh bởi ong thuộc các họ Eulophidae, Scelionidae, Trichogrammatidae, thành trùng ký sinh đẻ trứng vào trứng sâu trước khi trứng được phủ lông Trứng sâu đục thân còn bị vạc sành, dế ăn và ăn cả lông phủ ổ trứng Sâu và nhộng các loài sâu đục thân cũng bị ký sinh nhưng với tỉ lệ thấp, riêng ấu trùng tuổi 1 thường dễ bị côn trùng có ích ăn vì chưa chui vào bên trong
2.1.5 Các biện pháp phòng trị sâu đục thân
2.1.5.1 Biện pháp canh tác
Trồng lúa ngắn ngày có năng suất cao, có khả năng chống chịu sâu bệnh
Gieo, trồng đồng loạt trong cùng 1 khu vực
Cắt bỏ lá mạ trước khi mang cấy
Bón phân cân đối giữa N:P:K theo đúng qui trình kỹ thuật đối với từng giống, từng giai đoạn và ở từng nơi
Trang 18 Chăm sóc và theo dõi thường xuyên để phát hiện kịp thời sâu đục thân xuất hiện, đặt bẫy đèn theo dõi mật số ngài để dự tính dự báo, ngắt các ổ trứng khi xuất hiện
Cày lật gốc rạ, ngâm nước trước khi gieo cấy vụ sau (Nguyễn Thị Chắt, 2006)
2.1.5.2 Biện pháp sinh học
Sử dụng nhiều loài thiên địch có sẵn trong tự nhiên
Tạo điều kiện một số loài thiên dịch phát triển
Một số ký sinh sâu đục thân: Ong Telenomus rowanl Gahan, Ong Telenomus
dignus Gahan, Ong Tetrastichus schoenobil Fer., Ong Tetrastichus ayyar Rohw., Ong Trichogamma japonicum Ash., Ong Trichogamma chinolis Ishii
Một số ký sinh ấu trùng sâu đục thân: Ong Tropobracon schoenobil Viereck, Ong Bracon chinensis Szepligeti, Ong Chenolus munakatae Munakat, Ong Cotesia
- Lúa ở giai đoạn từ làm đòng đến trổ, 1 ổ trứng/m2 đối với lúa sạ hay 1 ổ trứng/bụi đối với lúa cấy
Theo International Rice Research Institute (IRRI - Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế):
- Ở giai đoạn nhảy chồi, sử dụng thuốc hột hay thuốc nước đều có hiệu quả, nhưng nếu ruộng có mực nước thường xuyên thấp hơn 5 cm, nên phun thuốc nước
Trang 19- Ở giai đoạn phân hóa đòng đến trổ, sử dụng thuốc hột không có hiệu quả, chỉ có thuốc nước để diệt ổ trứng, bướm và sâu tuổi nhỏ chưa chui vào thân cây (Nguyễn Văn Huỳnh, 2006)
Thuốc hóa học sử dụng: thuốc gốc lân hữu cơ dễ phân hủy và cho phép sử dụng như: DDVP, Bi – 58, Sumithion 50ND, có thể sử dụng một số thuốc hạt như: Basudin 10H rãi từ 15 – 20kg/ha khi ngài xuất hiện nhiều.(Nguyễn Thị Chắt, 2006)
2.2 Những thiệt hại do sâu đục thân gây ra
2.2.1 Trên thế giới
Ở châu Á, thiệt hại năng suất do hai loài sâu đục thân màu vàng và sâu đục thân sọc nâu là rất quan trọng Thông thường tỷ lệ gây hại của chúng có thể từ 1-20% Tuy nhiên, trong điều kiện phát sinh thành dịch, thiệt hại năng suất có thể khoảng 3-10% Ngoại trừ sâu đục thân 2 chấm, loài đơn thực với cây lúa, các loài khác cũng phá hại cả ngô, lúa miến, mía hoang và các loài cỏ
Tại SriLanka sâu đục thân hại đã được ước tính giảm đến 50% khả năng thu hoạch lúa (Lumes, 2002)
2.2.2 Trong nước
Theo Nguyễn Công Thuật (1996) tại các tỉnh phía Bắc, sâu đục thân 2 chấm đứng hàng thứ 3 về diện tích lúa bị phá hại sau rầy nâu và sâu cuốn lá nhỏ trong những năm
1990 – 1994
Theo Trung Tâm BVTV phía Bắc 2006,- 2007, mức độ gây hại của sâu đục thân
2 chấm có xu thế tăng lên ở các tỉnh phía Bắc về diện tích phân bố và cả mức độ gây hại Năm 2006 diện tích nhiễm toàn khu vực phía Bắc trong vụ mùa là 111.017 ha trong đó diện tích mất trắng là 276 ha Sâu đục thân 2 chấm gây hại nặng ở một số tỉnh Nam Định, Bắc Ninh, Hải Phòng, Ninh Bình, Hải Dương tỷ lệ bông bạc nơi cao 30 –
50 % cá biệt 70 – 90 %
Trang 20Theo số liệu Cục BVTV trong năm 2010, ở các tỉnh phía Bắc tổng diện tích nhiễm sâu đục thân là 22.500 ha, diện tích nhiễm nặng không đáng kể, cá biệt tại Cao Bằng, Thái Bình tỷ lệ bông bạc nơi cao chiếm tỷ lệ từ 40 – 50%
Theo số liệu Cục BVTV trong năm 2011, sâu đục thân 2 chấm gây hại phổ biến ở các tỉnh Thái Bình, Hải Phòng, Ninh Bình, Vĩnh Phúc và Lào Cai tỷ lệ hại trung bình 0,3-0,5%, nơi cao 1-3%, cá biệt một số nơi tỷ lệ hại lên đến 10-15% số dảnh, gây nên chết đọt
Theo số liệu thống kê của Trung tâm BVTVphía Nam, 1990 – 1992: sâu đục thân gây hại nặng tại các tỉnh phía Nam vào những năm 1980-1985 tại các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu và Đồng Tháp Sau đó do thay đổi cơ cấu giống lúa, sâu đục thân không còn
là đối tượng dịch hại thường xuyên và quan trọng tại các tỉnh phía Nam Tuy nhiên trong những năm gần đây, diện tích nhiễm sâu đục thân có chiều hướng gia tăng
2.3 Sơ lược về các đặc tính sinh trưởng của cây lúa
Cây lúa thuộc loại Hòa thảo (Graminae), tộc Oryzae, loài Oryza Trong đó, Oryza
sativa L là tên của lúa trồng phổ biến nhất hiện nay Hiểu rõ cấu tạo và đặc tính sinh
trưởng của các bộ phận cây lúa mới có thể có những biện pháp kỹ thuật thích hợp, điều khiển sự sinh trưởng của cây lúa trong từng giai đoạn để đạt năng suất cao nhất
2.3.1 Các giai đoạn sinh trưởng của cây lúa
Đời sống cây lúa bắt đầu từ lúc nảy mầm cho đến khi lúa chín Có thể chia làm 3 giai đoạn chính: giai đoạn tăng trưởng (sinh trưởng dinh dưỡng), giai đoạn sinh sản (sinh dục), giai đoạn chín
Trang 21Hình 2.2 Các thời kỳ và giai đoạn sinh trưởng của lúa
2.3.1.1 Giai đoạn tăng trưởng (sinh trưởng dinh dưỡng)
Giai đoạn tăng trưởng bắt đầu từ khi hạt nảy mầm đến khi cây lúa bắt đầu phân hóa đòng Giai đoạn này, cây phát triển về thân lá, chiều cao tăng dần và ra nhiều chồi mới (nở bụi) Cây ra lá ngày càng nhiều và kích thước lá ngày càng lớn giúp cây lúa nhận nhiều ánh sáng mặt trời để quang hợp, hấp thụ dinh dưỡng, gia tăng chiều cao, nở bụi và chuẩn bị cho các giai đoạn sau Trong điều kiện đầy đủ dinh dưỡng, ánh sáng và thời tiết thuận lợi, cây lúa có thể bắt đầu nở bụi khi có lá thứ 5 – 6 Chồi ra sớm trong nương mạ gọi là chồi ngạnh trê Sau khi cấy, cây mạ mất một thời gian để hồi phục, bén rễ ruồi nở bụi rất nhanh, cùng với sự gia tăng chiều cao, kích thước lá đến khi đạt
số chồi tối đa thì không tăng nữa mà các chồi yếu bắt đầu rụi dần (chồi vô hiệu hay chồi vô ích), số chồi giảm xuống Thời điểm có chồi tối đa có thể đạt trước, cùng lúc hay sau thời kỳ bắt đầu phân hóa đòng tùy theo giống
Thời gian sinh trưởng của các giống lúa kéo dài hay ngắn khác nhau chủ yếu do giai đoạn tăng trưởng này dài hay ngắn Thường các giống lúa ngày ngắn và ngắn ngày
có giai đoạn tăng trưởng ngắn và thời điểm phân hóa đòng có thể xảy ra trước hoặc
Sinh trưởng dinh dưỡng
Thời gian này tùy theo giống lúa
Sinh trưởng sinh thực
Thời gian này là 65 ngày
Trang 22ngay khi lúa đạt chồi tối đa Ngược lại, các giống lúa dài ngày (trên 4 tháng) thường đạt chồi tối đa trước khi phân hóa đòng Đặc biệt, các giống lúa mùa quang cảm mạnh, nếu gieo cấy sớm thì sau khi đạt chồi tối đa, cây lúa tăng trưởng chậm lại chờ đến khi
có quang kỳ thích hợp mới bắt đầu phân hóa đòng để trổ bông Thời gian này cây lúa sống chậm, không sinh sản gì thêm nên gọi là thời kỳ ngưng tăng trưởng Do đó, đối với các giống lúa quang cảm mạnh, cần bố trí thời vụ gieo cấy căn cứ vào ngày trổ hàng năm của giống, làm thế nào để thời kỳ ngừng tăng trưởng càng ngắn càng tốt, nhưng phải đảm bảo thời gian từ cấy đến phân hóa đòng ít nhất là 2 tháng, để cây lúa
có đủ thời gian nở bụi, bảo đảm đủ số bông trên đơn vị diện tích sau này
Thông thường, số chồi hình thành bông (chồi hữu hiệu hay còn gọi là chồi có ích) thấp hơn so với số chồi tối đa và ổn định khoảng 10 ngày trước khi đạt được chồi tối
đa Các chồi ra sau đó, thường sẽ tự rụi đi không cho bông được do chồi nhỏ, yếu không đủ khả năng cạnh tranh dinh dưỡng, ánh sáng với các chồi khác, gọi là chồi vô hiệu Trong canh tác người ta hạn chế đến mức thấp nhất việc sản sinh ra số chồi vô hiệu này bằng cách tạo điều kiện cho lúa nở bụi càng sớm càng tốt và hạn chế sự mọc thêm chồi từ khoảng 7 ngày trước khi phân hóa đòng trở đi, để tập trung dinh dưỡng cho những chồi hữu hiệu
2.3.1.2 Giai đoạn sinh sản
Giai đoạn sinh sản bắt đầu từ lúc phân hóa đòng đến khi lúa trổ bông Giai đoạn này kéo dài khoảng 27 – 35 ngày, trung bình 30 ngày và giống lúa ngắn ngày hay dài ngày thường không khác nhau nhiều Lúc này số chồi vô hiệu giảm nhanh, chiều cao tăng lên rõ rệt do sự vươn dài của 5 lóng trên cùng Đòng lúa hình thành và phát triển qua nhiều giai đoạn, cuối cùng thoát ra khỏi bẹ lá của lá cờ: lúa trổ bông Trong suốt thời gian này, nếu đầy đủ dinh dưỡng, mực nước thích hợp, ánh sáng nhiều, không sâu bệnh và thời tiết thuận lợi thì bông lúa sẽ hình thành nhiều hơn và vỏ trấu sẽ đạt kích thước lớn nhất của giống, tạo điều kiện gia tăng trọng lượng hạt sau này
2.3.1.3 Giai đoạn chín
Giai đoạn chính bắt đầu từ lúc trổ bông đến lúc thu hoạch Giai đoạn này trung bình khoảng 30 ngày đối với hầu hết các giống lúa ở vùng nhiệt đới Tuy nhiên, nếu
Trang 23đất ruộng có nhiều nước, thiếu lân, thừa đạm, trời mưa ẩm, ít nắng trong thời gian này thì giai đoạn chín sẽ kéo dài hơn và ngược lại Giai đoạn này cây lúa trải qua các thời
- Thời kỳ chín sáp: hạt mất nước, từ từ cô đặc lại, lúc bấy giờ vỏ trấu vẫn còn xanh
- Thời kỳ chín vàng: hạt tiếp tục mất nước, gạo cứng dần, trấu chuyển sang màu vàng đặc thù của giống lúa, bắt đầu từ những hạt cuối cùng ở chót bông lan dần xuống các hạt ở phần cổ bông nên gọi là “lúa đỏ đuôi”, lá già rụi dần
− Thời kỳ chín hoàn toàn: hạt gạo khô cứng lại, ẩm độ hạt khoảng 20% hoặc thấp hơn, tùy ẩm độ môi trường, lá xanh chuyển vàng và rụi dần Thời điểm thu hoạch tốt nhất là khi 80% hạt lúa ngã sang màu trấu đặc trưng của giống.(Nguyễn Ngọc Đệ, 2009)
2.4 Sơ lược về đặc tính sinh trưởng của giống lúa IR 50404
Giống lúa IR 50404 được chọn lọc từ tập đoàn giống nhập nội của IRRI, được công nhận chính thức theo quyết định số 126 QĐ/BNN-KHCN ngày 21 tháng 5 năm
1992 của Bộ Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn Do đặc điểm giống dễ trồng, không kén đất, kể cả đất phèn; thời gian sinh trưởng ngắn, dưới 90 ngày nên được nông dân trồng nhiều vì năng suất rất cao (khoảng 8 tấn/vụ/ha)
Tuy nhiên chất lượng hạt gạo hơi cứng cơm, hạt ngắn, bạc bụng Chính vì thế giống này bị hạn chế khi xuất khẩu và đang được khuyến khích hạn chế gieo trồng
Trang 24 Một số đặc tính của giống:
Thời gian sinh trưởng: 85-90 ngày
Chiều cao cây: 85 - 90 cm Khả năng chống đổ kém
Thích nghi rộng trên nhiều vùng đất phù sa đến phèn trung bình, canh tác được cả
3 vụ trong năm
Hơi nhiễm Rầy nâu và Đạo ôn Nhiễm nhẹ với bệnh Vàng lá Nhiễm vừa với bệnh Khô vằn
Năng suất: vụ Đông Xuân 6-8 tấn/ha, vụ Hè Thu 5-6 tấn/ha
Hạt gạo bầu, bạc bụng, khô cơm
Hàm lượng amylose (%): 26,0
Trọng lượng 1000 hạt 24 – 25 g
Chiều dài hạt trung bình: 6,74 mm (IRRI, 1992)
Hình 2.3 Giống IR 50404
Trang 25Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM
3.1 Điều kiện thí nghiệm
3.1.1 Thời gian thực hiện thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí trong vụ Hè Thu 2011 từ tháng 03 năm 2011 đến tháng
06 năm 2011
3.1.2 Địa điểm thực hiện thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí tại xã Điềm Hy, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang
Sơ lược về xã Điềm Hy – Châu Thành – Tiền Giang
Xã Điềm Hy nằm ở phía Tây Nam của huyện Châu Thành, phía Đông giáp xã Nhị Bình của huyện Châu Thành, phía Tây giáp xã Tân Hội và xã Tân Phú của huyện Cai Lậy, Nam giáp xã Dưỡng Điềm của huyện Châu Thành, và Bắc giáp xã Phước Lập huyện Tân Phước thuộc tỉnh Tiền Giang
Diện tích tự nhiên 1.349,85 ha: thổ cư 185,00 ha, trong đó diện tích trồng lúa 999,0 ha, vườn cây 58,70 ha, nuôi trồng thủy sản 17,20 ha và chưa khai thác 90,05 ha Dân số: 9.507 nhân khẩu (2.062 hộ), trong đó: nam 4.653, nữ 4.854
Ngành nghề sản xuất chính là trồng lúa (3 vụ lúa/năm) và trồng cây ăn trái Nghề phụ: chăn nuôi gia súc, gia cầm; trồng rau, màu; xay lúa gạo xuất khẩu, mua bán vật tư nông nghiệp, vật liệu xây dựng …
Toàn xã có 124 hộ giàu, đạt 6 % và 1.408 hộ khá, đạt 68,3%, còn 350 hộ nghèo chiếm 25,7%
Trang 263.1.3 Điều kiện khí hậu thời tiết
Số liệu khí hậu thời tiết thu thập được từ đài khí tượng khu vực tỉnh Tiền Giang
Lượng mưa (mm)
Tốc độ gió (m/s) Trung bình Cao nhất
- Máy đo diệp lục tố (chlorophyll meter)
- Cọc tre, Dây nilong, Thước dây, Bảng cấm, Kéo, Tâm tre, Cân điện tử
3.3 Phương pháp thí nghiệm
Giống lúa sử dụng là giống IR 50404, sạ hàng mật độ sạ là 120 kg/ha
Phân bón được sử dụng gồm có Urê (46%), Super Phosphat (16%) và Kali Clorua (60%) với liều lượng sử dụng như sau:
Trang 27nhiều chồi mới để bù số chồi đã bị hủy (giả tạo bị sâu đục thân gây hại) theo các tỷ lệ khác nhau vào giai đoạn lúa đẻ nhánh
3.3.1.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm đơn yếu tố, được bố trí theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên, 3 lần lặp lại, gồm 4 nghiệm thức
- Nghiệm thức 1 (NT1): hủy 10% số chồi
- Nghiệm thức 2 (NT2): hủy 15% số chồi
- Nghiệm thức 3 (NT3): hủy 20% số chồi
- Nghiệm thức 4 (NT4): không hủy chồi (đối chứng)
Kích thước mỗi nghiệm thức là 1m2 Khoảng cách giữa các nghiệm thức và giữa các lần lặp lại là 0,3m
3.3.1.2 Phương pháp tiến hành và cách hủy chồi:
Phương pháp tiến hành: Vào lúc cây lúa được 25 NSS, trong mỗi nghiệm
thức tiến hành nhổ bỏ tỉa bớt số cây lúa, chừa lại đúng 700 chồi/ô nghiệm thức Như
Lần lặp lại 3 Lần lặp lại 2 Lần lặp lại 1
Trang 28vậy nghiệm thức đối chứng không hủy chồi sẽ có 700 chồi/m2 ở thời điểm 25NSS Sau
đó tiến hành hủy chồi (để giả sâu đục thân gây hại) một cách ngẫu nhiên theo tỷ lệ của từng nghiệm thức như đã nêu trên
Cách hủy chồi: Dùng tâm tre nhọn xuyên thủng phần thân sát gốc của mỗi
chồi để gây chết chồi
Hình 3.2 Triệu chứng “chết đọt” sau khi bị hủy chồi giai đoạn lúa đẻ nhánh 25NSS
3.3.1.3 Chỉ tiêu theo dõi
a Số chồi/m2
Đếm số chồi trong mỗi nghiệm thức sau khi bị hủy chồi 7 ngày/lần
Quan sát sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa sau khi bị hủy chồi Ghi nhận những diễn biến bất thường của cây sau khi bị hủy chồi
Trang 29b Chỉ diệp lục tố trong lá (Chỉ số Spad)
Nhằm so sánh hàm lượng diệp lục tố trong lá ở các nghiệm thức sau khi bị hủy chồi Mỗi nghiệm thức chọn ngẫu nhiên 10 lá lúa, dùng máy Chlorophyll meter để đo hàm lượng diệp lục tố trong lá lúa 7 ngày/lần
c Các yếu tố cấu thành năng suất lúa
- Số bông/m2
Quan sát và đếm số bông trên mỗi ô nghiệm thức vào giai đoạn trước lúc thu hoạch lúa 5 ngày
- Chiều dài bông
Chọn 10 bông ngẫu nhiên theo đường chéo gốc ở mỗi ô nghiệm thức để đo chiều dài bông
- Số hạt chắc/bông
Mỗi ô thí nghiệm thu hoạch ngẫu nhiên 50 bông theo đường chéo gốc Tuốt và tách hạt chắc, sau đó đếm toàn bộ hạt chắc của 50 bông và tính trung bình số hạt chắc/bông
- Trọng lượng 1000 hạt
Đếm 1000 hạt chắc, khô (ẩm độ 14%) đem cân trọng lượng (đơn vị tính bằng gram)
- Năng suất lý thuyết (NSLT):
NSLT (tấn/ha)= (Số bông/m2 x số hạt chắc/bông x P1000 hạt)/1000 x 10
Trang 303.3.2.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm đơn yếu tố, được bố trí theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên, 3 lần lặp lại, gồm 4 nghiệm thức như sau:
- Nghiệm thức 1 (NT1): hủy 3% số bông
- Nghiệm thức 2 (NT2): hủy 5% số bông
- Nghiệm thức 3 (NT3): hủy 7% số bông
- Nghiệm thức 4 (NT4): không hủy bông (đối chứng)
Kích thước mỗi nghiệm thức là 1m2 Khoảng cách giữa các nghiệm thức và giữa các lần lặp lại là 0,3m
Trang 313.3.2.2 Phương pháp tiến hành và cách hủy bông:
Phương pháp tiến hành: Vào lúc cây lúa được 55 NSS, trong mỗi ô nghiệm
thức tiến hành đếm số bông/m2 và tỉa bớt chừa lại đúng 421 bông/ô nghiệm thức, sau
đó hủy bông ngẫu nhiên theo tỷ lệ từng nghiệm thức như trên
Cách hủy bông: Dùng tay, rút bông tách rời bông với thân cây nhưng vẫn giữ
bông lúa trên thân
Hình 3.4 Triệu chứng “bông bạc” khi hủy bông giai đoạn lúa trổ
Trang 323.3.2.3 Chỉ tiêu theo dõi
a Chỉ số diệp lục tố (chỉ số Spad)
Nhằm so sánh hàm lượng diệp lục tố trong lá ở các nghiệm thức sau khi bị hủy chồi Mỗi nghiệm thức chọn ngẫu nhiên 10 lá lúa, dùng máy Chlorophyll meter để đo hàm lượng diệp lục tố trong lá lúa 7 ngày/lần
b Các yếu tố cấu thành năng suất lúa
- Số bông/m2
Quan sát và đếm số bông trên mỗi ô nghiệm thức vào giai đoạn lúa thu hoạch
- Chiều dài bông
Chọn 10 bông ngẫu nhiên theo đường chéo gốc ở mỗi ô nghiệm thức để đo chiều dài bông
- Số hạt chắc/bông
Mỗi ô thí nghiệm thu hoạch ngẫu nhiên 50 bông theo đường chéo gốc Tuốt và tách hạt chắc, sau đó đếm toàn bộ hạt chắc/50 bông và tính trung bình số hạt chắc/bông
- Trọng lượng 1000 hạt
Đếm 1000 hạt chắc, khô (ẩm độ 14%) đem cân trọng lượng (đơn vị tính bằng gram)
- Năng suất lý thuyết (NSLT)
NSLT (tấn/ha) = (Số bông/m2 x số hạt chắc/bông x P1000 hạt)/1000 x 10
Trang 33Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Thí nghiệm 1
4.1.1 Ảnh hưởng của việc giả tạo sâu đục thân gây hại vào giai đoạn lúa đẻ nhánh đến số chồi
Ở giai đoạn 7NSXL (32NSS): Số chồi ở mỗi nghiệm thức đều tăng so với số
chồi còn lại SXL NT có số chồi cao nhất là nghiệm thức đối chứng (không hủy chồi) với 728,0 chồi và có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê đối với nghiệm thức hủy 10%, 15% và 20% chồi NT hủy 20% chồi có số chồi thấp nhất là 580,0 chồi và có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê với các NT còn lại NT hủy 10% với số chồi là 649,3 chồi và có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê với các NT còn lại NT hủy 15% chồi với số chồi là 620,0 chồi và cũng có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê với các NT còn lại
Ở giai đoạn 14NSXL (39NSS): Số chồi ở mỗi nghiệm thức vẫn tiếp tục tăng so
với 7NSXL và số chồi còn lại SXL đồng thời lúc này số chồi đạt tối đa Nghiệm thức đối chứng có số chồi cao nhất là 753,0 chồi và có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê với các nghiệm thức hủy 10%, 15%, 20% chồi Số chồi thấp nhất là nghiệm thức hủy 20% chồi với 612,7 chồi và có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê với đối chứng, hủy 10% chồi nhưng không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê với hủy 15% chồi Nghiệm thức hủy 10% chồi có số chồi là 671,7 có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê với hủy 15% và 20% chồi, nhưng không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê với đối chứng không hủy chồi Số chồi của nghiệm thức hủy 15% chồi là 638,7 có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê với đối chứng nhưng không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê với nghiệm thức hủy 10% và 20% chồi
Ở giai đoạn 21NSXL (46NSS): Số chồi ở mỗi nghiệm thức bắt đầu giảm
nhanh do lúc này lúa bước vào giai đoạn làm đòng cho nên chồi vô hiệu sẽ chết dần
Trang 34Nghiệm thức hủy 20% chồi có số chồi thấp nhất với 494,7 chồi và không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê với nghiệm thức hủy 10% và 15% chồi nhưng có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê với đối chứng Ngiệm thức đối chứng có số chồi cao nhất 612,0 chồi và có sự khác biệt mang ý nhĩa thống kê với nghiệm thức hủy 10%, 15% và 20% chồi
Ở giai đoạn 28NSXL (53NSS): Số chồi ở mỗi nghiệm thức vẫn tiếp tục giảm
nhưng chậm hơn so với giai đoạn 21NSXL Hủy 20% chồi là nghiệm thức có số chồi thấp nhất với 411,0 chồi và có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê với nghiệm thức hủy 10%, 15% và 20% Số chồi cao nhất là đối chứng với 571,7 chồi và có sự khác biệt mang ý nhĩa thống kê với hủy 10%, 15%, 20% chồi Nghiệm thức hủy 10% chồi
có số chồi là 502,7 và có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê với hủy 20% và đối chứng nhưng không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê với nghiệm thức hủy 15% chồi Hủy 15% chồi có số chồi là 473,3 và không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống
kê với hủy 10% chồi nhưng có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê với hủy 20% chồi
và đối chứng
Ở giai đoạn 35NSXL (60NSS): Số chồi ở mỗi nghiệm thức vẫn giảm nhưng ít
hơn so với giai đoạn 28NSXL Đối chứng vẫn là nghiệm thức có số chồi cao nhất với 556,7 chồi và có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê với hủy 10%, 15%, 20% chồi Nghiệm thức có số chồi thấp nhất là hủy 20% chồi với 409,7 chồi và có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê với hủy 10%, 15% chồi và đối chứng
Ở giai đoạn 42NSXL (67NSS), 49NSXL (74NSS), 56NSXL (81NSS): Số chồi
ở mỗi nghiệm thức vẫn giảm nhưng rất ít, giai đoạn 49NSXL, 56NSXL hầu như không còn giảm Đối chứng vẫn là nghiệm thức có số chồi cao nhất và có sự khác biệt mang
ý nghĩa thống kê với hủy 10%, 15%, 20% chồi Số chồi ở nghiệm thức hủy 20% chồi vẫn là thấp nhất và có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê với đối chứng và hủy 10%, 20% chồi Còn nghiệm thức hủy 10% và 15% chồi không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê nhưng cả 2 nghiệm thức này có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê với không hủy và hủy 20% chồi
Trang 35Bảng 4.1 Số chồi/m2 qua các lần điều tra sau khi hủy chồi giai đoạn lúa đẻ nhánh
Ghi chú: * khác biệt có ý nghĩa ở mức 5%, **: Khác biệt rất có ý nghĩa ở mức 1%, ns: không có sự khác biệt
Các số trong cùng một cột có chung mẫu tự theo sau thì khác biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê ở mức P ≤ 0,05
NSXL: ngày sau xử lý; SXL: sau xử lý
Trang 364.1.2 Ảnh hưởng của việc giả tạo sâu đục thân gây hại vào giai đoạn lúa đẻ nhánh đến chỉ số diệp lục tố trong lá
Qua Bảng 4.2 ta thấy:
Chỉ số diệp lục tố qua các lần đo TXL hay SXL giữa các nghiệm thức không có
ý nghĩa trong thống kê, đều này chứng minh khi hủy chồi với chế độ bón phân, chăm sóc như nhau thì chỉ số diệp lục tố trong lá lúa giữa các nghiệm thức vẫn không khác biệt, nghĩa là khi hủy chồi khả năng sinh trưởng, quang hợp của lá lúa vẫn không bị ảnh hưởng
Hình 4.1 Phương pháp đo chỉ số Spad