1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH BỆNH THỐI RỄ SẦU RIÊNG, XÁC ĐỊNH TÁC NHÂN GÂY BỆNH VÀ HIỆU QUẢ MỘT SỐ LOẠI THUỐC HÓA HỌC, SINH HỌC Ở ĐIỀU KIỆN PHÒNG THÍ NGHIỆM VÀ NGOÀI ĐỒNG TẠI TIỀN GIANG

98 253 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 5,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHOA NÔNG HỌC KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH BỆNH THỐI RỄ SẦU RIÊNG, XÁC ĐỊNH TÁC NHÂN GÂY BỆNH VÀ HIỆU QUẢ MỘT SỐ LOẠI THUỐC HÓA HỌC, SINH HỌC Ở ĐIỀU KIỆN PHÒNG THÍ NGHIỆM VÀ

Trang 1

KHOA NÔNG HỌC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH BỆNH THỐI RỄ SẦU RIÊNG, XÁC ĐỊNH TÁC NHÂN GÂY BỆNH VÀ HIỆU QUẢ MỘT SỐ LOẠI THUỐC HÓA HỌC, SINH HỌC Ở ĐIỀU KIỆN

PHÒNG THÍ NGHIỆM VÀ NGOÀI ĐỒNG

TẠI TIỀN GIANG

NGÀNH: BẢO VỆ THỰC VẬT KHÓA: 2007 – 2011

SINH VIÊN THỰC HIỆN: NGUYỄN TĂNG THẾ HÀO

Tp Hồ Chí Minh, tháng 08 năm 2011

Trang 2

ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH BỆNH THỐI RỄ SẦU RIÊNG, XÁC ĐỊNH TÁC NHÂN GÂY BỆNH VÀ HIỆU QUẢ MỘT SỐ LOẠI THUỐC HÓA HỌC, SINH HỌC Ở ĐIỀU KIỆN

PHÒNG THÍ NGHIỆM VÀ NGOÀI ĐỒNG

TẠI TIỀN GIANG

Tác giả

NGUYỄN TĂNG THẾ HÀO

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu

cấp bằng kỹ sư ngành Bảo Vệ Thực Vật

Giảng viên và cán bộ hướng dẫn

TS VÕ THỊ THU OANH ThS ĐẶNG THỊ KIM UYÊN

Tp Hồ Chí Minh, tháng 08 năm 2011

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

– Con xin thành kính khắc ghi công ơn nuôi dạy của cha mẹ đã cho con có được như ngày hôm nay

– Tôi xin chân thành biết ơn:

+ TS Võ Thị Thu Oanh và ThS Đặng Thị Kim Uyên đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành Luận Văn Tốt Nghiệp

+ Ban giám hiệu cùng quý thầy cô trường đại học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh Ban chủ nhiệm khoa Nông Học và quý thầy cô trong khoa đã chỉ dạy tôi trong suốt quá trình học tại trường

+ Viện Nghiên Cứu Cây Ăn Quả Miền Nam đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành Luận Văn Tốt Nghiệp Các anh chị bộ môn Bảo Vệ Thực Vật đã chỉ dạy tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp

+ Đặc biệt tôi xin gởi lời cảm ơn sâu sắc đến tất cả bạn bè nói chung và các bạn cùng thực tập tốt nghiệp tại Viện Nghiên Cứu Cây Ăn Quả Miền Nam nói riêng đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thành Luận văn tốt nghiệp

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2011

Nguyễn Tăng Thế Hào

Trang 4

Giảng viên và cán bộ hướng dẫn: TS Võ Thị Thu Oanh, ThS Đặng Thị Kim Uyên

Thời gian thực hiện: từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2011

Mục đích nghiên cứu:

– Nắm bắt tình hình gây hại, xác định tác nhân gây bệnh tại địa phương

– Tìm ra loại thuốc phòng trị bệnh với hiệu quả cao ở điều kiện phòng thí nghiệm và ngoài đồng

Địa điểm thực hiện:

Xã Tam Bình và Ngũ Hiệp huyện Cai Lậy tỉnh Tiền Giang

Bộ môn Bảo vệ thực vật, Viện nghiên cứu cây ăn quả miền nam

Nội dung thực hiện:

Điều tra tình hình bệnh thối rễ sầu riêng tại xã Tam Bình và Ngũ Hiệp huyện Cai Lậy tỉnh Tiền Giang

Xác định tác nhân gây bệnh thối rễ sầu riêng tại địa phương và xác định khoảng nhiệt độ, khoảng pH thích hợp cho sự sinh trưởng của tác nhân gây bệnh

Trang 5

Xác định hiệu quả một số loại thuốc hóa học và sinh học phòng trừ bệnh trong điều kiện phòng thí nghiệm và ngoài đồng

Kết quả thu được:

Qua điều tra cho thấy ở Tam Bình có 22,86 % số cây nhiễm bệnh tại 10 vườn với mức độ gây hại là 13,71 % Ở Ngũ Hiệp tỷ lệ này là 30,71 % với mức độ gây hại đạt 18,43 % Bên cạnh đó còn có các loại bệnh hại khác như: thán thư lá do

Colletotrichum gloeosporioides (chiếm 100 % số vườn điều tra), đốm rong lá do Celphaleuros virescens (100 %), xì mủ thân do Phytophthora palmivora (50 %), sâu

đục thân Plocaederus ruficoruis (100 %), mọt đục thân Xyleborus sp (50 %)

Qua tần số xuất hiện cao khi phân tích mẫu bệnh trong phòng thí nghiệm cộng với kết quả chủng tác nhân gây bệnh trở lại cây theo quy tắc Koch trong nhà lưới đã

đưa đến kết luận nấm Pythium sp là tác nhân gây bệnh chính, các tác nhân phụ có thể

là nấm Phytophthora sp và Fusarium sp đã làm cho mức độ bệnh của cây trầm trọng

thêm

Các thí nghiệm trong phòng đã chỉ ra nhiệt độ tối thích cho nấm Pythium sp

sinh trưởng là 30 oC, và mức pH tối thích cho nấm này là 5,5 – 6

Qua thí nghiệm thuốc trong phòng đã thấy 3 loại thuốc có hiệu lực cao là Ridomil gold, Norshield, Aliette hơn hẳn các loại thuốc còn lại trong việc ức chế sự

phát triển của khuẩn lạc nấm Pythium sp

Kết quả thí nghiệm thuốc ngoài vườn đã cho thấy hiệu quả khá cao của thuốc Ridomil gold trong việc giảm tỷ lệ rễ thối của cây cũng như mật số khuẩn lạc nấm

Pythium sp trong đất Các loại thuốc còn lại cũng thể hiện hiệu quả gần như Ridomil

gold nhất là thuốc Norshield và Aliette

Trang 6

MỤC LỤC

Trang tựa i

Lời cảm tạ ii

Tóm tắt iii

Mục lục v

Danh sách các chữ viết tắt viii

Danh sách các bảng và biểu đồ ix

Danh sách các hình x

Chương 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu của nghiên cứu 2

1.2.1 Mục đích nghiên cứu 2

1.2.2 Yêu cầu của nghiên cứu 2

1.3 Nội dung nghiên cứu 3

1.4 Giới hạn đề tài 3

Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Đặc điểm cây sầu riêng 4

2.2 Kỹ thuật canh tác 7

2.2.1 Yêu cầu ngoại cảnh của cây sầu riêng 7

2.2.2 Thiết kế vườn trồng sầu riêng 8

2.2.3 Nhân giống cây sầu riêng 8

2.2.4 Mùa vụ và cách trồng 9

2.2.5 Chế độ nước tưới 9

2.2.6 Chế độ phân bón 10

Trang 7

2.2.7 Tỉa cành và tạo tán 11

2.2.8 Xử lý ra hoa 12

2.3 Sâu bệnh hại trên cây sầu riêng 13

2.3.1 Sâu hại 13

2.3.2 Bệnh hại 15

2.4 Đặc điểm bệnh thối rễ sầu riêng 17

2.5 Một số kết quả nghiên cứu liên quan 20

2.5.1 Trong nước 20

2.5.2 Ngoài nước 21

2.6 Đặc điểm một số loại thuốc dùng thí nghiệm 22

Chương 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 27

3.1.1 Thời gian nghiên cứu 27

3.1.2 Địa điểm nghiên cứu 27

3.2 Vật liệu và thiết bị, dụng cụ nghiên cứu 27

3.3 Phương pháp nghiên cứu 29

3.3.1 Điều tra tình hình bệnh thối rễ sầu riêng 29

3.3.2 Thí nghiệm xác định tác nhân gây bệnh 31

3.3.2.1 Phân lập tác nhân gây bệnh 31

3.3.2.2 Kiểm chứng tác nhân gây bệnh 32

3.3.3 Thí nghiệm nhiệt độ 35

3.3.4 Thí nghiệm pH 36

3.3.5 Thí nghiệm thuốc trong phòng 36

3.3.6 Thí nghiệm thuốc ngoài đồng 38

3.4 Xử lý số liệu 40

Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 42

4.1 Kết quả điều tra tình hình bệnh 42

4.1.1 Thông tin chung về tình hình canh tác 42

4.1.2 Triệu chứng bệnh điển hình 45

Trang 8

4.1.3 Tình hình bệnh 46

4.1.4 Kết quả phân lập tác nhân gây bệnh 48

4.2 Kết quả thí nghiệm kiểm chứng tác nhân gây bệnh 51

4.3 Kết quả thí nghiệm nhiệt độ 53

4.4 Kết quả thí nghiệm pH 54

4.5 Kết quả thí nghiệm thuốc trong phòng 55

4.6 Kết quả thí nghiệm thuốc ngoài đồng 57

Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 63

5.1 Kết luận 63

5.2 Đề nghị 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

PHỤ LỤC 69

Phụ lục 1 69

Phụ lục 2 70

Phụ lục 3 76

Phụ lục 4 77

Trang 10

DANH SÁCH CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ

Bảng 3.1: Qui ước nghiệm thức trong thí nghiệm nhiệt độ 35

Bảng 3.2: Qui ước nghiệm thức trong thí nghiệm pH 36

Bảng 3.3: Qui ước nghiệm thức cho thí nghiệm thuốc trong phòng 37

Bảng 3.4: Qui ước nghiệm thức trong thí nghiệm thuốc ngoài đồng 38

Bảng 4.1: Tần số xuất hiện (%) của các nấm bệnh trên các mẫu theo dõi 48

Bảng 4.2: Kết quả thí nghiệm kiểm chứng tác nhân gây bệnh 51

Bảng 4.3: Đường kính khuẩn lạc nấm Pythium sp (cm) ở thí nghiệm nhiệt độ 53

Bảng 4.4: Đường kính khuẩn lạc nấm Pythium sp (cm) ở thí nghiệm pH 55

Bảng 4.5: Hiệu quả thuốc (%) ở thí nghiệm thuốc trong phòng 56

Bảng 4.6: Tỷ lệ rễ thối (%) ở thí nghiệm thuốc ngoài đồng 57

Bảng 4.7: Mật số khuẩn lạc nấm Pythium sp (cfu/ml) trong thí nghiệm thuốc ngoài đồng 60

Biểu đồ 1: Tình hình bệnh thối rễ sầu riêng tại địa phương điều tra 47

Trang 11

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình 2.1: Các loại thuốc dùng cho thí nghiệm thuốc trong phòng 26

Hình 3.1: Toàn cảnh khu bố trí thí nghiệm thuốc ngoài đồng 41

Hình 4.1: Một số loại sâu bệnh trên sầu riêng trong vườn điều tra 44

Hình 4.2: Cây sầu riêng bị thối rễ vườn ông Mai Chánh Bảo 46

Hình 4.3: Túi bào tử động nấm Pythium sp 49

Hình 4.4: Khuẩn lạc nấm Pythium sp 49

Hình 4.5: Bào tử trứng Pythium sp 49

Hình 4.6: Túi bào tử động Phytophthora sp 50

Hình 4.7: Mẫu lá bẫy bào tử từ đất bị nhiễm bệnh 50

Hình 4.8: Nấm Pythium sp mọc từ mẫu lá bẫy bào tử 50

Hình 4.9: Triệu chứng bệnh thể hiện trên bộ lá 52

Hình 4.10: Triệu chứng bệnh thể hiện trên rễ 53

Hình 4.11: Ảnh hưởng của các mức nhiệt độ đến sự sinh trưởng khuẩn lạc nấm Pythium sp 54

Trang 12

Chương 1 GIỚI THIỆU

1.1 Đặt vấn đề

Theo Nguyễn Văn Kế (2008) sầu riêng là một loại cây ăn quả nhiệt đới có nguồn gốc từ quần đảo Malay, quả sầu riêng là loại trái cây nổi tiếng của vùng Đông Nam Á Trên thế giới các nước trồng sầu riêng nhiều là: Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Việt Nam, Philippines, Campuchia, Srilanka, miền nam Myanmar và miền nam Ấn Độ

Trong nước, sầu riêng chủ yếu được trồng ở miền nam Diện tích trồng sầu riêng ở các tỉnh phía nam nước ta tăng khá nhanh trong vài năm vừa qua Theo số liệu của cục Trồng trọt (2006): năm 2000 diện tích trồng sầu riêng từ 8000 hecta tăng lên

11800 hecta với sản lượng khoảng 53000 tấn vào năm 2002, đến năm 2005 diện tích

đã lên tới 17000 ha với sản lượng ở mức 87000 tấn (trích dẫn bởi Nguyễn Văn Kế, 2008)

Trên cây sầu riêng thường xuất hiện nhiều loại sâu bệnh tấn công như: sâu đục

trái (Conogethes punctiferalis), rầy phấn (Allocaridara malayensis), rệp sáp (Planococcus sp.), bệnh thối rễ, bệnh xì mủ chảy nhựa, bệnh thán thư, bệnh cháy lá

chết ngọn, bệnh đốm rong, bệnh thối quả, … Trong số đó, bệnh thối rễ là một trong số những bệnh khá nguy hại cho cây; vì ban đầu nấm bệnh tấn công vào các rễ non rồi lan dần sang rễ cái gây hư thối các chóp rễ, bộ rễ cây mất chức năng hấp thu dưỡng chất từ đất, triệu chứng bệnh chủ yếu thể hiện trên rễ trong đất khó phát hiện và phòng trị kịp thời

Một số nghiên cứu đã được tiến hành đối với bệnh thối rễ sầu riêng như: Lim (1998) đã xác định các loại nấm đất gây hại sầu riêng ở Malaysia bao gồm Phytophthora, Pythium, Sclerotium xuất hiện phổ biến và nấm Phytophthora gây hại

Trang 13

nặng nhất Cũng theo Lim và Sangtoche (2000) cho rằng trên cây sầu riêng bệnh thối

rễ và chảy mủ thân do nấm Phytophthora palmivora gây ra, bên cạnh đó thối rễ còn do nấm Pythium vexans gây ra Ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, theo ghi nhận của

Huỳnh Văn Thành (2003), bệnh này phát triển khá mạnh trên cây sầu riêng; tuy nhiên, hiệu quả phòng trị bệnh còn thấp Nhằm nắm bắt tình hình gây hại của bệnh thối rễ sầu riêng tại địa phương, đồng thời tìm ra loại thuốc phòng trị bệnh với hiệu quả cao nên

đề tài: “Điều tra tình hình bệnh thối rễ sầu riêng, xác định tác nhân gây bệnh và

hiệu quả một số loại thuốc hóa học, sinh học ở điều kiện phòng thí nghiệm và ngoài đồng tại Tiền Giang” được tiến hành

1.2 Mục đích và yêu cầu của nghiên cứu

1.2.2 Yêu cầu của nghiên cứu

– Điều tra: khái quát tình hình sản xuất sầu riêng, tình hình gây hại của bệnh thối rễ sầu riêng tại địa phương cũng như một số yếu tố ảnh hưởng đến sự phát sinh phát triển của bệnh

– Nuôi cấy, làm thuần, tăng sinh khối, xác định tác nhân gây bệnh Kiểm chứng trở lại tác nhân gây bệnh trong nhà lưới

– Xác định khoảng pH và nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trưởng của tác nhân gây bệnh qua thí nghiệm trong đĩa petri

– Xác định hiệu quả phòng trị của 5 loại thuốc hóa học (Agrifos, Aliette, Norshield, Rampart, Ridomil gold, Siêu lân) và 1 loại thuốc sinh học (Actinovate) đối với tác nhân gây bệnh trong đĩa petri và ngoài đồng

Trang 14

1.3 Nội dung nghiên cứu

– Điều tra tình hình bệnh thối rễ sầu riêng

– Xác định tác nhân gây bệnh

– Kiểm chứng tác nhân gây bệnh

– Xác định khoảng pH thích hợp cho sự sinh trưởng của tác nhân gây bệnh

– Xác định khoảng nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trưởng của tác nhân gây bệnh – Xác định hiệu quả trị bệnh thối rễ sầu riêng của một số loại thuốc hóa học và sinh học trong phòng thí nghiệm

1.4 Giới hạn đề tài

– Điều tra chỉ tiến hành trên 20 vườn tại 2 xã: Tam Bình và Ngũ Hiệp, là 2 xã trồng sầu riêng chủ yếu của tỉnh Tiền Giang Thu mẫu bệnh và xác định tác nhân gây bệnh cũng chỉ tiến hành trên các vườn điều tra

– Do thời gian làm đề tài có hạn nên việc phân lập tác nhân gây bệnh chỉ giới hạn ở các tác nhân là nấm bệnh và các nghiên cứu sau đó cũng chỉ tiến hành đối với tác nhân gây bệnh chính

– Việc định danh nấm bệnh chỉ đến chi (genus)

Trang 15

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Đặc điểm cây sầu riêng

2.1.1 Phân loại thực vật

Giới: Plantae Bộ: Malvales Họ: Malvaceae/Bombacaceae Phân họ:

Helicteroideae Chi: Durio Loài: Durio zibethinus Murr Tên tiếng Anh: Durian

(Vi.wikipedia.org, 2011)

2.1.2 Đặc điểm hình thái

2.1.2.1 Hình thái cây sầu riêng

Theo Nguyễn Văn Kế (2008) đặc điểm hình thái cây sầu riêng như sau:

– Tán cây: cây sầu riêng trồng bằng hạt có thể cao từ 20 – 40 m, đường kính gốc là 1,2 m Cây ghép chỉ cao độ 10 – 20 m Khi còn nhỏ cây có tán hình chóp, phân nhánh thấp và có khá nhiều cành

– Rễ: sầu riêng có rễ cái đâm sâu, rễ con ít

– Lá: lá đơn, bìa nhẵn, mọc cách, rũ xuống, lá dài 12 – 20 cm, rộng 4 – 6 cm, mặt trên màu xanh sáng, mặt dưới có lông mịn màu nâu óng ánh Mầm lá dẹp, khi lá non mới nhú thì còn gấp làm hai ở gân giữa, sau mới bung ra

– Hoa: mọc trên thân chính và cành lớn thành từng chùm 1 – 45 hoa, mỗi cành mang nhiều chùm hoa Hoa lưỡng tính nở về đêm, thụ phấn nhờ dơi và côn trùng ăn về đêm

– Quả: là quả nang nứt theo chiều dọc Quả có nhiều dạng: tròn, trứng, thuôn dài có gai to và cứng Vỏ màu xanh (khổ qua xanh), vàng (sữa hột gà) có 5 ngăn to

Trang 16

nhỏ không đều Mỗi ngăn có từ 1 – 4 hạt Thịt bọc quanh hạt có màu vàng kem tới vàng cam đậm; quắn; có loại ráo, có loại nhão; vị ngọt, béo, mùi thơm vừa tới thơm đậm

2.1.2.2 Đặc điểm một số giống sầu riêng phổ biến hiện nay

Theo Viện cây ăn quả miền nam (2009), trong nước hiện nay thường trồng các giống sầu riêng sau

– Sầu riêng Cơm vàng sữa hạt lép (giống nội địa)

+ Tên gọi khác: sầu riêng Chín Hóa

+ Cây dạng tán hình tháp Lá thuôn có đuôi lá bầu, chót lá ngắn, mặt trên bóng láng, màu xanh đậm, mặt dưới màu vàng đồng Quả khá to (2,60 – 3,20 kg/quả), dạng hình cầu cân đối, vỏ quả màu vàng đồng khi chín, cơm quả màu vàng, độ dày cơm 14,9 mm, không xơ, không sượng, tỷ lệ cơm khá cao (29,5 %) và có vị rất béo, ngọt (độ brix 22,8 %), mùi thơm đậm đà và hạt lép, tỷ lệ hạt thấp (4 %)

+ Cây hơi khó điều khiển ra hoa nhưng tỷ lệ đậu quả cao Từ lúc hoa nở đến thu hoạch là 100 – 110 ngày, vụ quả chính là tháng 5 – 6, cây 5 năm tuổi có thể cho năng suất khoảng 35 kg quả/cây/năm

– Sầu riêng Ri 6 (giống nội địa)

+ Cây phân cành ngang đều và đẹp, tán cây dạng hình tháp rộng Lá hình xoan

và mặt trên có màu xanh đậm, phiến lá không phẳng Quả có hình elip, trọng lượng 2 – 2,5 kg/quả, vỏ quả có màu xanh hơi vàng khi chín, có gai cao, thưa, chân gai hình ngũ cạnh rất rõ Cơm quả có màu vàng đậm, không xơ và thường không sượng, cơm ráo,

độ dày cơm 18,2 mm, tỷ lệ cơm cao (33 %), vị béo ngọt (độ brix 27,3 %), mùi thơm (nồng hơn Cơm vàng sữa hạt lép), hạt lép, tỷ lệ hạt thấp (6 %)

+ Cây dễ điều khiển ra hoa và tỷ lệ đậu quả khá Từ lúc hoa nở đến thu hoạch là

105 – 120 ngày, vụ quả chính là tháng 5 – 7, cây 5 năm tuổi có thể cho năng suất khoảng 46 kg quả/cây/năm

– Sầu riêng Dona (giống Thái Lan)

Trang 17

+ Tên khác: sầu riêng Mongthon

+ Cây có dạng tán hình tháp Lá thuôn khá dài, mặt trên bóng láng, phẳng và có màu xanh hơi sậm Quả khá to (2,5 – 4,5 kg/quả), thường có dạng hình trụ, đỉnh quả nhọn, quả thường chia ngăn rõ ràng, vỏ quả màu vàng nâu khi chín Cơm quả rất dày (25 – 28 mm), màu vàng nhạt, xơ trung bình, dễ bị sượng (2,5 – 4 %) hay cơm có màu trắng, nhất là quả chín vào những tháng mưa nhiều (tháng 7 – 8), tỷ lệ cơm cao (31,3

%), ráo, vị ngọt, béo (độ brix 23 %), thơm trung bình, hạt lép, tỷ lệ hạt thấp (4,1 %)

+ Cây dễ điều khiển ra hoa Từ lúc hoa nở đến thu hoạch là 115 – 120 ngày, vụ quả chính là tháng 5 – 8, cây 5 năm tuổi có thể cho năng suất khoảng 50 kg quả/cây/năm

– Sầu riêng Hạt lép Tiền Giang

+ Tên khác: sầu riêng Chuồng bò

+ Tán cây hình tháp, cành nhánh rậm rạp Lá xanh đậm mặt trên và có chóp lá thắt rõ Quả có hình trứng, trọng lượng 1,7 – 2 kg/quả, vỏ quả màu xám xanh khi chín, cơm ráo, màu vàng nhạt, ít xơ, ít sượng, tỷ lệ cơm trung bình 26 – 29 %, độ dày cơm

12 mm, vị ngọt béo (độ brix 23,2 %), mùi thơm trung bình, hạt lép

+ Từ lúc hoa nở đến thu hoạch là 95 – 105 ngày, vụ quả chính là tháng 4 – 6, cây 6 năm tuổi có thể cho năng suất khoảng 60 kg quả/cây/năm

– Sầu riêng Khổ qua xanh

+ Cây sinh trưởng rất mạnh, cành nhánh xum xuê Lá to, dạng thuôn dài, màu xanh đậm Quả dạng hình thoi, trọng lượng từ 1,4 – 1,6 kg/quả, vỏ màu xanh khi chín, cơm quả mỏng 4,70 mm, béo vừa, ngọt hơi đắng nhưng rất thơm, tỷ lệ cơm thấp (19 –

20 %) và tỷ lệ hạt chắc rất cao (18 – 19 %)

+ Cây khó điều khiển ra hoa nhưng tỷ lệ đậu quả rất cao Từ lúc hoa nở đến thu hoạch là 95 – 100 ngày, vụ quả chính là tháng 5 – 6, cây 6 năm tuổi có thể cho năng suất khoảng 70 kg quả/cây/năm

Trang 18

độ pH khoảng 5,50 – 6,50 để góp phần hạn chế sự phát triển của nấm Phytophthora

palmivora hại cây

– Tầng đất mặt ở ruộng, đất phù sa ven sông, hồ ao, kênh rạch phơi khô, đắp

mô trồng cây rất tốt (Caygiongdakfarm.vn, 2010)

2.2.1.4 Các yếu tố khác

– Sầu riêng không bị ảnh hưởng bởi quang kỳ để phân hóa mầm hoa

– Độ cao: ở Việt Nam sầu riêng trồng được ở độ cao dưới 1000 m (từ Bảo Lộc,

Di Linh trở xuống) Ở Malaysia không quá 800 m, ở Philippines không quá 700 m và

ở Celon không quá 600 m (Nguyễn Văn Kế, 2008)

– Bóng râm: khi sầu riêng còn nhỏ là cây ưa bóng râm Theo Nakasone và Paull (1999), sầu riêng cần che bớt từ 30 – 50 % ánh nắng trước khi chúng đạt được độ cao 0,8 m (trích dẫn bởi Nguyễn Văn Kế, 2008)

Trang 19

2.2.2 Thiết kế vườn trồng sầu riêng

Theo Bùi Xuân Khôi, vùng đồng bằng sông Cửu Long và những nơi có điều kiện tương tự cần có hệ thống mương líp thông nhau để cung cấp và thoát nước kịp thời cho vườn cây khi cần thiết Có thể đào mương lên líp với kích thước như sau: mương rộng 2 m, líp rộng 5 – 6 m (nếu trồng hàng đơn) và 7 – 8 (nếu trồng hàng đôi)

Ở miền Đông Nam Bộ trồng theo đường đồng mức nếu thế đất có hơi bị dốc; nếu thế đất phẳng và thoát nước chậm cần có rãnh thoát nước để tránh bị úng khi mưa lớn (Caygiongdakfarm.vn, 2010)

2.2.3 Nhân giống cây sầu riêng

2.2.3.1 Các cách nhân giống cây sầu riêng

– Cách 1: ghép cành (còn gọi là tháp đọt, tháp ngọn) Khi tháp nên chọn các đọt tháp có đường kính tương đương với gốc tháp vừa cắt để việc tiếp xúc tượng tầng được chặt chẽ hơn Công việc tháp nên được tiến hành trong mùa mưa để cây dễ sống

– Cách 2: chiết cành Trồng cây con theo lối chiết cành thì phải cẩn thận dưỡng cây con ra rễ đầy đủ mới đem trồng, vì cây con rất dễ chết sau khi tách rời khỏi thân

mẹ

– Cách 3: ghép mắt (còn gọi là tháp mắt, tháp mầm, tháp bo)

2.2.3.2 Tiêu chuẩn cây giống tốt

Theo Bùi Xuân Khôi, cây giống tốt phải đạt các tiêu chuẩn sau

– Gốc ghép: phải thẳng, bộ rễ phát triển tốt

– Thân, cành, lá: thân thẳng và vững chắc, có từ 3 cành cấp 1 trở lên, các lá ngọn đã trưởng thành xanh tốt và có hình dạng, kích thước lá đặc trưng của giống Chiều cao cây giống (từ mặt giá thể bầu ươm đến đỉnh chồi đạt 80 cm trở lên)

– Cây phải đúng giống, cây giống phải đang sinh trưởng khỏe, không mang các loại dịch hại chính như bệnh thán thư, bệnh do Phytophthora, rầy phấn, (Nguyệt Hạ, 2010)

Trang 20

1 kg phân lân (P2O5) trộn vào đất phơi khô và lấp xuống hố (Nguyệt Hạ, 2010)

– Theo Bùi Xuân Khôi, có thể cho vào hố đã đào một hỗn hợp phân bón lót theo tỷ lệ: 1 phần phân gà hoai mục + 4 phần đất mặt + 200 g phân N-P-K (15:15:15) hoặc N-P-K-Mg (15:15:6:4) + vôi (0,50 – 1 kg) + thuốc sát trùng regent (10 – 20 g) (Caygiongdakfarm.vn, 2010)

– Ở vùng đất miền Đông Nam Bộ nếu có độ nghiêng lớn hơn (2 – 5 %) chỉ nên đắp mô cao 15 – 25 cm, rộng khoảng 60 cm Nếu độ nghiêng lớn hơn 5 %, có thể không cần làm mô, chỉ cần cuốc xới cho đất tơi xốp và trộn phân khoáng và phân hữu

cơ cho cây trồng mau tốt, mùa mưa phải có kế hoạch chống xói mòn (Nguyệt Hạ, 2010)

b Cách trồng cây

– Đặt cây con: đặt cây vào hố trồng lấp đất ngang mặt bầu cây con, cắm cọc giữ cây khỏi đổ ngã, che bớt ánh sáng và tưới nước ngay sau khi trồng

– Chú ý: khi vận chuyển cây từ vườn ươm ra ruộng sản xuất, lúc tháo bỏ bao

nylon phải thật cẩn thận để cây con không bị tổn thương Mô đất cần được bồi rộng

theo tán cây hàng năm Cần che bóng cho cây còn nhỏ nhưng không nên che quá 50 %

ánh sáng mặt trời (Caygiongdakfarm.vn, 2010)

2.2.5 Chế độ nước tưới

– Nên sử dụng nguồn nước sạch để tưới Tránh tưới nước có độ phèn cao (độ

pH quá thấp) hay nước có hàm lượng muối khoáng quá nhiều Nguồn nước ao tù, nước

Trang 21

bùn, dùng tưới phải tránh dính lên thân lá sẽ làm môi trường thuận lợi cho nấm, địa y phát triển (Nguyệt Hạ, 2010)

– Giai đoạn cây con cần tưới nước để giảm tỷ lệ cây chết, giúp cây khỏe, nhanh cho trái Giai đoạn cây ra hoa cần tưới cách ngày giúp hoa phát triển tốt, hạt phấn mạnh khỏe, nhưng cần giảm khoảng 2/3 lượng nước ở mỗi lần tưới (chu kỳ tưới không thay đổi) vào thời điểm một tuần trước khi hoa nở giúp hạt phấn khỏe có khả năng thụ phấn, đậu quả tốt Sau khi đậu trái tiếp tục tưới, tăng dần lượng nước đến mức bình thường trở lại, giúp quả phát triển và có chất lượng cao (caygiongdakfarm.vn, 2010)

+ Trong năm thứ 2 và 3 : mỗi năm bón cho cây 200 – 300 g N, 100 g P2O5 và

100 g K2O Bón mỗi lần phân nửa vào đầu mùa mưa và cuối mùa mưa

+ Năm bắt đầu cho trái: bón cho mỗi cây 500 g N, 250 g P2O5 và 250 g K2O

Có thể chia làm 3 lần bón:

Lần thứ 1: bón 1/3 đạm, 1/2 kali ở giai đoạn trước khi ra hoa

Lần thứ 2: bón 1/3 đạm và 1/2 kali khi trái có đường kính 10 – 15 cm

Lần thứ 3: bón 1/3 đạm và toàn bộ số phân lân sau khi thu hoạch trái xong

+ Năm cho trái ổn định: tăng dần lượng phân bón từ 2 – 3 kg N-P-K (2-1-1) hàng năm và cần bón thêm 20 – 30 kg phân chuồng hoai mục cho mỗi gốc

+ Năm thứ 1 và thứ 2 nên pha phân để tưới Từ năm thứ 3 trở đi nên xới xung quanh gốc để bón (vòng theo tán cây) (caygiongdakfarm.vn, 2010)

Trang 22

2.2.6.2 Phân hữu cơ

– Dùng phân xanh, phân chuồng bón xung quanh tán cây: đào hố ngang 10 – 30

cm, sâu 10 – 30 cm xung quanh tán cây Nếu phân ít có thể đào ½ tán cây Cho phân xuống rãnh và lấp đất lại Nên kết hợp với việc bón phân hóa học, nhất là ở giai đoạn bón thúc, làm cho cây phát triển nhanh hơn và tránh được sự lãng phí do bốc hơi hay

– Vào thời kỳ trái phát triển có thể sử dụng phân bón lá có hàm lượng kali cao

để góp phần nâng cao năng suất, phẩm chất quả Có thể phun phân bón lá làm 5 lần, mỗi lần cách nhau 1 tuần, bắt đầu từ tuần thứ 5 đến tuần thứ 9 sau khi đậu trái Vào thời gian này tránh phun phân bón lá có hàm lượng đạm cao vì sẽ kích thích cây ra lá mới cạnh tranh dinh dưỡng với trái đang phát triển, làm giảm phẩm chất quả như: thịt quả bị sượng, bị nhão,… (caygiongdakfarm.vn, 2010)

2.2.7 Tỉa cành và tạo tán

2.2.7.1 Tác dụng của tỉa cành tạo tán

– Tỉa cành, tạo tán giúp cho cây được thoáng, cành lá nhận được nhiều ánh sáng

để quang hợp và hạn chế được sâu bệnh Giúp cho cây khỏi phải nuôi những cành ăn hại, tốn hao chất dinh dưỡng mà không có lợi Loại những cành già nằm gần mặt đất nhằm ngăn ngừa bùn đất, phân bón bám vào cành lá tạo môi trường tốt cho vi sinh vật gây hại như các loại nấm, tảo gây bệnh cho cây cũng như cản trở sự hấp thu, bài tiết và quang hợp ở các bộ phận đó

2.2.7.2 Cách thực hiện

Trang 23

– Theo Coronel (1986), trong 2 – 3 năm đầu, khi cây còn tơ nên để cho cây phát triển tự do Khi cây bắt đầu mang quả cần tiến hành việc tỉa cành ngay sau khi thu hoạch nhằm kích thích cho cây sầu riêng ra đọt tập trung sẽ hạn chế được sự ra hoa làm nhiều đợt trong năm dẫn đến hiện tượng cạnh tranh dinh dưỡng giữa quá trình phát triển quả và sự sinh trưởng dinh dưỡng (cây ra đọt non) gây hiện tượng rụng quả non trong giai đoạn 20 – 55 ngày sau khi đậu quả và có thể làm cho quả bị sượng ở

giai đoạn tiếp theo

– Việc tỉa cành kết hợp với tạo tán giúp cho ánh sáng xuyên qua tán cây (trích dẫn bởi Trần Văn Hâu, 2005)

– Tỉa bỏ chồi vượt, cành bị sâu bệnh và những cành đan chéo lẫn nhau, cành mọc đứng, cành bên trong tán, cành ốm yếu, cành già, cành mọc quá gần mặt đất Giữ lại các cành: cành mọc ngang, cành khỏe mạnh, cành ở độ cao 1 m so với mặt đất (khi cây cho trái) Chú ý: Cần quét sơn cho vết cắt (caygiongdakfarm.vn, 2010)

– Cách thực hiện: đốn tỉa bớt các cành cấp 1 Nên phân tầng, mỗi tầng chừa khoảng 3 – 4 cành cấp 1 Tầng nọ cách tầng kia 40 – 60 cm ( đối với những cây trưởng thành) Các cành cấp 2, 3, dày đặc phải tỉa bỏ bớt (Nguyệt Hạ, 2010)

2.2.8 Xử lý ra hoa

2.2.8.1 Mục đích

Giúp cây ra hoa tập trung, tránh được tình trạng cạnh tranh dinh dưỡng giữa quá trình phát triển quả và sự sinh trưởng dinh dưỡng (ra đọt non), tránh cạnh tranh giữa các đợt hoa, giữa hoa và quả non, làm tăng năng suất quả do không bị rụng quả non đồng thời có phẩm chất quả cao do quả không bị sượng (Trần Văn Hâu, 2005)

2.2.8.2 Điều kiện để cây ra hoa

Cây thật khoẻ mạnh và cân đối dinh dưỡng Có thời gian khô hạn liên tục từ 7 –

14 ngày Nhiệt độ không khí từ 20 – 22 oC, ẩm độ 50 – 60 % Chú ý việc tạo khô hạn

phải thật tốt thì cây sầu riêng mới có thể ra hoa (caygiongdakfarm.vn, 2010)

Trang 24

2.2.8.3 Cách thực hiện

– Tạo khô hạn

+ Ngay sau khi thu hoạch vụ trước tiến hành bón phân, tưới nước giúp cây phục hồi nhanh, khi cây đã ra được ít nhất 2 lần đọt (khi lần đọt cuối cùng đã chuyển sang giai đoạn thuần thục) và đã bón phân lần 2 được 30 – 40 ngày chúng ta tiến hành tạo khô hạn như sau

+ Quét dọn tất cả vật liệu tủ gốc, không tưới nước mà tháo cạn nước trong vườn (áp dụng cho vùng có đào mương lên líp) giúp đất quanh vùng rễ cây khô nhanh

+ Phủ vải nhựa: khi đất bên dưới tán cây đã khô ráo ta tiến hành phủ vải nhựa, nhằm đảm bảo nước không đến được vùng rễ cây (caygiongdakfarm.vn, 2010)

– Theo Trần Văn Hâu (2005) phun paclobutrazol nồng độ 1000 – 1500 ppm đều lên 2 mặt lá khi lá đã phát triển hoàn toàn Trước đó nên phun M-K-P (0-52-34) nồng

độ 0,50 – 1 % nhằm ức chế sự ra đọt non

– Thời gian bắt đầu ra hoa phụ thuộc vào từng giống, lượng mưa và ẩm độ đất Sầu riêng Khổ qua xanh bắt đầu ra hoa sau khi kích thích khoảng 20 – 25 ngày, trong khi sầu riêng Sữa hạt lép sẽ ra hoa sau 25 – 30 ngày

– Khi mầm hoa vừa nhú (có kích thước bằng hạt gạo), nếu gặp mưa nên phun Thiourea nồng độ 1000 ppm để phá vỡ miên trạng của mầm hoa và giúp cho hoa ra tập trung

– Cần chấm dứt quá trình kích thích ra hoa khi thấy mầm hoa xuất hiện Dở nylon đậy mặt líp, bón phân và tưới nước cho mầm hoa phát triển Nhà vườn huyện Chợ Lách (Bến Tre) thường bón phân N-P-K (15-15-15) với lượng 0,5 – 1 kg/cây

2.3 Sâu bệnh hại trên cây sầu riêng

2.3.1 Sâu hại

2.3.1.1 Sâu đục trái

Trang 25

– Tên khoa học: Conogethes punctiferalis Guenée Họ Pyralidae Bộ

Lepidoptera

– Đặc điểm sinh học và gây hại:

+ Loài này cũng được ghi nhận gây hại trên nhãn, ổi, chôm chôm và mãng cầu xiêm Trên sầu riêng, thành trùng đẻ trứng trên các vỏ quả non Ấu trùng nở ra thường chọn nơi gần cuống quả để đục vào bên trong quả Đầu tiên sâu tấn công vỏ quả, sau

đó khi tuổi lớn, sâu tiếp tục đục vào phía trong quả

+ Sâu thường gây hại nặng trên các chùm quả, đục vào ngay từ khi quả còn nhỏ, vào giai đoạn này nếu bị gây hại, quả sẽ bị biến dạng và bị rụng sau đó, nếu tấn công vào giai đoạn quả đã phát triển thì sẽ làm mất giá trị thương phẩm của quả Bên cạnh đó, khi bị sâu gây hại, quả thường bị các nấm bệnh cơ hội tấn công làm thối quả Triệu chứng để nhận diện là từng đám phân màu nâu đậm do sâu thải ra bên ngoài lỗ đục Thường quả chùm bị gây hại nhiều hơn quả đơn (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)

1 mm Trứng được đẻ thành từng ổ (12 – 14 trứng) ở trong mô lá non còn xếp lại chưa

mở ra Có thể quan sát thấy trứng nếu đưa lá non về phía ánh sáng và nhờ sự hiện diện của các vòng màu vàng hay nâu trên lá

+ Ấu trùng tuổi 1 màu vàng, di chuyển rất chậm Tuổi 2 có một ít lông tơ màu trắng ở phần cuối bụng và bắt đầu phủ một lớp sáp màu trắng, tuổi 3, 4, 5 có các sợi sáp trắng như bông rất dài ở cuối đuôi Từ tuổi 2 đến tuổi 5, ấu trùng di chuyển rất nhanh khi bị động

Trang 26

– Triệu chứng: lá khô, rụng hàng loạt; có sự hiện diện của nấm bồ hóng trên lá làm lá bị đen; có sự hiện của rầy nhảy ở mặt dưới lá và trong lá non (còn xếp chưa mở); có sự hiện diện của trứng trong lá non (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)

2.3.1.3 Rệp sáp Planococcus sp

– Họ Pseudococcidae Bộ Homoptera

– Cách gây hại: loài này chủ yếu gây hại trên quả, tấn công quả khi quả còn non, bám vào cuống quả non hoặc các rãnh giữa các gai để hút dịch vỏ quả Vào giai đoạn quả non, nếu mật số rệp sáp cao, quả sẽ bị biến dạng và rụng Nếu tấn công vào giai đoạn quả lớn, quả sẽ phát triển kém Bên cạnh đó mật ngọt do rầy tiết ra sẽ làm nấm bồ hóng phát triển, làm vỏ quả bị đen, ảnh hưởng đến vẻ đẹp bên ngoài của quả (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)

2.3.2 Bệnh hại

2.3.2.1 Bệnh xì mủ chảy nhựa

– Tác nhân gây bệnh: nấm Phytophthora palmivora Butler

– Ký chủ: tiêu, dừa, cao su, ca cao, cà phê, táo, thuốc lá, bông vải

+ Sau nhiều tháng, bệnh lan dần giáp chu vi gốc thân, rễ bị thối, các chồi ngọn

bị rụng lá và chết khô, các nhánh khác cũng rụng lá cho đến khi cây chết

– Tồn lưu: nấm lưu tồn trong đất và nước, bộ phận bị bệnh

Trang 27

– Điều kiện phát sinh phát triển: khi mưa nhiều, độ ẩm đất và độ ẩm không khí cao (Nguyệt Hạ, 2010)

2.3.2.2 Bệnh thán thư

– Tác nhân gây bệnh: nấm Colletotrichum zibethinum Petr gây ra và có cả

Colletotrichum gloeosporioides Penz

– Triệu chứng: bệnh phát triển nhiều trên lá, tạo những đốm bệnh riêng biệt, tròn và hoại tử hoặc có hình bất dạng, thường ở rìa và chóp lá Xung quanh vết bệnh thường có ranh giới màu nâu vàng (Nguyệt Hạ, 2010)

đó có khi khô chúng dính lại với nhau nhưng không rụng Bệnh có thể tấn công trên thân non làm khô chết phần ngọn phía trên và sau đó có màu trắng xám (Nguyệt Hạ, 2010)

2.3.2.4 Bệnh đốm rong

– Tác nhân gây bệnh: Cephaleuros virescens Kunze

– Tác hại: bệnh chủ yếu là làm giảm quang hợp của cây do tấn công trên lá Trên nhánh và cành non, bệnh làm nứt vỏ

Trang 28

+ Bệnh còn tấn công trên cành cây vết bệnh cũng tương tự như trên lá, làm cành non bị nứt ra, vị trí nứt này sẽ dễ nhiễm các loại nấm khác, đặc biệt là nấm

Phytophthora palmivora trong mùa mưa (Bùi Xuân Khôi, 2003)

+ Đôi khi nấm còn tấn công các cành phía trên cao Bệnh tấn công trên lá, làm cháy lá Quan trọng hơn cả, nấm gây hại trên trái, làm trái bị thối hàng loạt Vết bệnh khởi đầu một vài chấm nhỏ màu nâu đen, thường xuất hiện dọc theo chiều từ cuống trái sầu riêng trở xuống chung quanh trái Sau đó, phát triển từng lõm lan rộng và ăn sâu vào thịt trái, làm thịt trái bị nhũn thối có mùi hôi chua, khó chịu Trời ẩm thấp, trên vết bệnh hình thành những tơ nấm trắng

– Tác hại: bệnh làm trái nhỏ, chín sớm (chín háp), bệnh nặng làm thối cả trái và lây lan sang những trái khác Bệnh có thể gây hại trong mọi giai đoạn của trái và cả trái sau thu hoạch (Nguyệt Hạ, 2010)

Trang 29

2.4 Đặc điểm bệnh thối rễ sầu riêng

2.4.1 Tác nhân gây bệnh

– Theo Bruce (2006) tác nhân gây bệnh thối rễ trên sầu riêng là một loài nấm

Pythium sp Ngoài ra tác nhân gây bệnh thối rễ sầu riêng còn do nấm (Phytophthora palmivora) (New Zealand MAF, 2007) Theo Aisworth (1973) cả 2 tác nhân trên đều

thuộc lớp Oomycetes: có những bào tử động có 2 roi; không có chitin trong vách tế bào và hình thức sinh sản hữu tính là noãn giao

2.4.1.1 Đặc điểm chi Pythium

Theo Alexopoulos và Mims (1979) chi Pythium có các đặc điểm

– Hệ sợi khuẩn ty phát triển mạnh, khuẩn ty mịn, phân nhánh nhiều và không tạo giác mút

– Bào tử vô tính được hình thành trong các túi hình cầu có nhiều tơ nhỏ hay bề mặt phồng lên Những bào tử động được hình thành và di chuyển rất nhanh bên trong túi cho đến khi túi vỡ ra và phóng thích các bào tử này theo mọi hướng

– Những bào tử động có hình quả thận, có 2 roi gắn ở mặt bên của chúng Sau một thời gian 2 roi này rụng đi và bào tử được bao vào nang, khi gặp điều kiện thuận lợi chúng sẽ sinh ra sợi nấm mới và xâm nhiễm vào vật chủ

– Sự sinh sản hữu tính (noãn giao) thường xảy ra khi độ ẩm môi trường không

đủ cho sinh trưởng thông thường

2.4.1.2 Đặc điểm loài Phytophthora palmivora

– Tên khoa học: Phytophthora palmivora Butler Tên gọi khác: Kawakamia

carica, Phytophthora carica (New Zealand MAF., 2007)

– Vị trí phân loại: giới Chromista, ngành Oomycota, lớp Oomycetes, bộ

Peronosporales, họ Pythiaceae, chi Phytophthora (Agrios, 1998)

Trang 30

– Bộ phận gây hại: nấm gây hại trên tất cả các bộ phận của cây (New Zealand MAF, 2007)

– Ký chủ

+ Nấm có phổ ký chủ rộng Phytophthora xâm nhiễm trên 200 loài cây có giá

trị kinh tế, thẩm mỹ, tán che, hàng rào Ở xứ lạnh, nấm ít gây hại nhưng ở vùng nhiệt đới nó là nguồn bệnh quan trọng Tất cả các cây thuộc họ cọ đều là ký chủ tiềm năng,

cây dừa và cây keo cau (Areca catechu) thường bị nấm này xâm nhiễm (CPCI., 2005)

+ Ký chủ chính: keo cau, đu đủ, dừa, cao su, ca cao

+ Ký chủ phụ: điều, dứa, bình bát, cau, mít tố nữ, chanh, bưởi chùm, sầu riêng,

cọ dầu châu Phi, cây sung, cây sắn, xapoche, nhục đậu khấu (nutmeg), cây hồ tiêu (CPCI, 2005) Ngoài ra còn thấy nấm gây hại trên xoài (ASPnet, 2/9/2005), nhãn (Coates & cs., 2003), vải (Thailand lychee, 10/2004), măng cụt (SBML, 2005) (Trích dẫn bởi New Zealand MAF, 2007)

– Vùng phân bố

+ Nấm Phytophthora palmivora thường được tìm thấy ở vùng nhiệt đới và cận

nhiệt đới với lượng mưa lớn và phân bố rải rác khắp thế giới

+ Châu Úc: Australia, American Samoa, Fiji, French Polynesia, New Caledonia, Norther Mariana Islands, Papua New Guinea, Samoa, Solomon Islands, Tonga, Vanuatu

+ Châu Á: Afghanistan, Brunei, Darussalam, China, India, Indonesia, Iran, Japan, Jordan, Lebanon, Malaysia, Myanmar, Pakistan, Philippines, Singapore, Sri Lanka, Thailand

+ Châu Phi: Angola, Cameroom, Central African Repudlic, Congo, Congo Democratic Repudlic, Côte d’Ivoire, Equatorial Guinea, Gabon, Ghana, Liberia, Madagasca, Malawi, Mauritius, Morocco, Nigeria, Réunion, Sao Tome và Principe, Senegal, Seychelles, Sierra Leone, Somalia, Tanzania, Togo, Uganda, Zimbabwe

Trang 31

+ Bắc Mỹ: Mexico, USA

+ Nam Mỹ: Argentina, Bolivia, Brazil, Bahia, Espirito Santo, Colombia, Ecuador, Guyana, Peru, Suriname, Venezuela

+ Châu Âu: Pháp, Greece, Ý, Spain (New Zealand MAF, 2007)

– Đặc điểm hình thái nấm: hệ sợi khuẩn ty hình ống ghồ ghề, trong suốt, phân nhánh và cùng tán, tuy nhiên vách ngăn có thể phát triển ở sợi nấm già (Webster, 1908) Túi bào tử phát triển ở đầu chóp của mỗi nhánh thể mang bọc bào tử, bọc bào

tử có vách dày, trong suốt, đa nhân, có hình hạt đậu hay quả lê Sự nảy chồi của bọc bào tử thuận lợi khi nhiệt độ thấp và điều kiện ẩm ướt (Cao Ngọc Điệp và Nguyễn Văn Thành, 2010)

– Dương Minh & cs (2006) đã phân lập và chọn lọc được 3/45 chủng nấm

Tricoderma spp đối kháng tốt với 12 chủng nấm Phytophthora palmivora trong điều

kiện in-vitro Kết quả xử lý các chủng Tricoderma này trên vườn sầu riêng bị cháy lá, chảy mủ gốc do nấm Phytophthora palmivora ở Ô Môn đã giúp rễ và lá bệnh phục hồi

nhanh sau 53 ngày xử lý đồng thời hiệu quả kéo dài đến 150 ngày

Trang 32

– Cũng từ nghiên cứu trên, kết quả xử lý tại Chợ Lách (Bến Tre) bằng cách bón

phân hữu cơ cho sầu riêng (30 kg/cây) có bổ sung Trichoderma (sản phẩm

Tricô-ĐHCT, 5 g/cây) và vôi (1,7 tấn CaO/ha) đã giúp giảm tỷ lệ bệnh chảy mủ do

tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai

– Huỳnh Văn Thành & cs (2003) trong “Kết quả đánh giá tính chống chịu bệnh Phytophthora palmivora trên sầu riêng tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long” đã cho thấy tất cả các giống sầu riêng đang trồng ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long đều bị

nhiễm bệnh với dòng nấm Phytophthora palmivora được phân lập từ đất ở Tiền Giang

Tuy nhiên, mức độ rất khác nhau, trong đó có giống D101, D2, Tứ quý và Lá quéo có phản ứng nhiễm nấm thấp tương đương với giống Chanee, trong khi đó các giống như Ri6, Khổ qua xanh, Sữa hạt lép Bến Tre có phản ứng nhiễm bệnh cao, nhất là giống Ri6

– Nguyễn Thị Lan Phương (1998) đã thử hiệu lực một số thuốc hóa học tác

dụng lên nấm Phytophthora palmivora gây bệnh xì mủ thối gốc sầu riêng trong đĩa

petri đã cho thấy hai thuốc Aliette và Curzate khống chế nấm bệnh hoàn toàn còn Carbenzim thì tác dụng thấp hơn và cả 3 đều cho kết quả thống kê khác biệt so với đối chứng không xử lý thuốc

2.5.2 Ngoài nước

– Lim (1998) đã xác định các loại nấm đất gây hại sầu riêng ở Malaysia bao

gồm Phytophthora, Pythium, Sclerotium xuất hiện phổ biến và nấm Phytophthora gây

hại nặng nhất

Trang 33

– Cũng theo Lim và Sangchote (2000) cho rằng trên cây sầu riêng bệnh thối rễ

và chảy mủ thân do nấm Phytophthora palmivora gây ra, bên cạnh đó thối rễ còn do nấm Pythium vexans gây ra

2.6 Đặc điểm một số loại thuốc dùng thí nghiệm

2.6.1 Actinovate 1SP

Theo công ty hóa nông Lúa Vàng, sản phẩm actinovate có các đặc điểm sau:

– Thành phần: Streptomyces lydicus WYEC 108 (1 %)

– Công dụng: trị bệnh thối rễ, thối củ, thối thân, xì mủ thân, thối trái, loét do nấm/vi khuẩn gây hại trên nhiều loại cây trồng: cây ăn quả, rau màu, các loại hoa kiểng Trị bệnh thối bẹ, vàng lá, cháy bìa lá vi khuẩn trên lúa Xử lý giống bằng actinovate sẽ ngăn ngừa được bệnh chết rạp cây con, bệnh thối củ do nấm và vi khuẩn gây ra

– Sử dụng: pha một gói 10 gam/16 lít nước phun cho 500 m2 Tốt nhất là nên phun phòng ngừa trước khi cây trồng bị nhiễm bệnh, hoặc khi bệnh vừa chớm xuất hiện

– Theo EPA (2011), Streptomyces lydicus WYEC 108 là vi khuẩn phổ biến

trong tự nhiên thường được tìm thấy trong môi trường đất Vi khuẩn này tác động bằng cách xâm nhập từ phần chóp rễ đang phát triển của cây và kí sinh trên các loài nấm gây thối rễ Đối tượng mà vi khuẩn tác động là các loài nấm gây bệnh thối rễ thuộc các

chi: Fusarium, Rhizoctonia, Pythium, Phytophthora, Phytomatotricum, Aphanomyces,

Monosprascus, Armillaria, Sclerotinia, Postia, Verticillium, Geotrichum Ngoài ra còn

có các loài nấm gây bệnh phấn trắng và gây bệnh trên lá khác

Trang 34

– Tính chất: dạng lỏng, màu xanh nhạt, tương đối ít độc hại cho con người, sinh vật và môi trường Độ độc hại : thuộc nhóm IV Độ tan trong nước : 100 % hòa tan

– Đặc tính: agrifos là thuốc có tính lưu dẫn toàn thân theo 2 chiều đi lên ra cành

lá và đi xuống rễ theo đường mạch dẫn Ngoài ra thuốc có tác dụng tiếp xúc, thấm sâu khi phun lên cành lá hoặc quét lên vết bệnh

– Đối tượng tác động: là nấm thuộc các chi Phytophthora và Pythium gây bệnh

chết cây con, thối rễ, phấn trắng

– Công dụng: thuốc agrifos có tác dụng phòng và trị bệnh thối gốc, thối rễ, thối thân, xì mủ, vàng lá khô đọt, và thối trái trên cây sầu riêng Đồng thời trong thành phần thuốc có chứa hàm lượng dinh dưỡng lân và kali giúp cây tăng khả năng sinh trưởng phát triển, tăng khả năng tái tạo và hình thành tế bào (Donatechno.com, 2010)

2.6.3 Aliette 800WG

– Thành phần: fosetyl aluminium 800 g/kg

– Sử dụng:

+ Bệnh chết nhanh tiêu: pha 20 gam thuốc cho 8 lít nước, phun đều lên lá, phun

1 tháng/1 lần trong mùa mưa Bệnh thối rễ, lở cổ rễ cam quýt: pha 20 gam thuốc cho 8 lít nước, phun đều lên lá, phun 3 tháng/1 lần Lượng nước phun/ha là 500 – 600 lít

+ Không pha chung aliette với thuốc gốc đồng, gốc lưu huỳnh hay phân bón lá

có đạm (Bayer cropscience, 2010)

+ Thuốc có thể hỗn hợp với các hoạt chất captan, thiabendazole hay hỗn hợp

với bendiocard, folbet, mancozeb (Trần Văn Hai, 2008)

– Tính chất: thuộc nhóm độc III, LD50 (qua miệng) = 5800 mg/kg, LD50 (qua da thỏ) > 2000 mg/kg

– Đặc tính: lưu dẫn hai chiều, kích thích sinh trưởng cây trồng là loại thuốc trừ bệnh tác dụng nội hấp

Trang 35

2.6.4 Rampart 35SD

– Thành phần: metalaxyl 35 %

– Công dụng: trừ nấm bệnh nội hấp Phòng và trị bệnh chết ẻo cây con thuốc lá

do nấm Pythium và Phytophthora và một số loại nấm đất khác

– Sử dụng: chết ẻo cây con thuốc lá 1,25 – 2 kg/ha hay 20 – 32 gam/bình 8 lít hay 8 gam cho bình 8 lít Phun phòng bệnh cho cây con khi mới nảy mầm, phun trị bệnh ngay khi cây có dấu hiệu bị bệnh và có thể phun lặp lại nếu thấy cần thiết (công

ty trách nhiệm hữu hạn Thần Nông, 10/2009)

– Tính chất: thuộc nhóm độc III, LD50 (qua miệng) = 669 mg/kg, LD50 (qua da)

– LD50 (qua miệng chuột) = 470 mg/kg Không tan trong nước Không dùng vật chứa làm từ nhôm để chứa thuốc

2.6.6 Ridomil gold 68WG

– Thành phần: 40 g metalexyl m + 640 g mancozeb cho 1 kg thuốc

– Công dụng: thuốc nội hấp trị vàng lá chín sớm hại lúa; sương mai cà chua, dưa hấu, vải thiều; thán thư xoài; xì mủ cam; loét sọc mặt cạo cao su; chết cây con thuốc lá/lạc; thối nõn dứa; mốc sương nho; đốm cành thanh long

Trang 36

2.6.7 Siêu lân

– Thành phần: P2O5 500 g/l + K2O 150 g/l + MgO 75 g/l

– Liều dùng: phun hoặc tưới gốc: pha 25 – 40 ml cho bình 16 lít Tiêm hoặc quét trực tiếp: pha thuốc với nước sạch với tỷ lệ 1:1

– Thời điểm phun: cây ăn quả (đặc biệt những cây dễ nhiễm bệnh

Phytophthora, Fusarium, Pythium gây bệnh nứt thân, xì mủ, đốm đen quả sầu

riêng/xoài, chảy gôm cam quýt, thối đen quả nho) Phun 3 lần vào đầu – giữa – cuối mùa mưa và thời điểm cây mang quả (Arrow, 2010)

Trang 37

Hình 2.1: Các loại thuốc dùng cho thí nghiệm thuốc trong phòng

Trang 38

Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

3.1.1 Thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2011

3.1.2 Địa điểm nghiên cứu

– Điều tra tình hình bệnh thối rễ sầu riêng được tiến hành tại 20 vườn thuộc 2 xã: Tam Bình và Ngũ Hiệp của huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang

– Thí nghiệm xác định hiệu quả phòng trị bệnh của một số loại thuốc hóa học, sinh học ở điều kiện ngoài vườn được tiến hành tại vườn sầu riêng nhiễm bệnh của ông Mai Chánh Bảo; ngụ ấp Long Quới, xã Ngũ Hiệp, huyện Cai Lậy, Tiền Giang

– Các thí nghiệm còn lại được tiến hành tại phòng Bảo vệ thực vật – Viện nghiên cứu cây ăn quả miền nam

3.2 Vật liệu và thiết bị, dụng cụ nghiên cứu

– Sử dụng trong điều tra tình hình bệnh gồm

+ Các vườn sầu riêng nằm trong vùng điều tra

+ Xe máy, máy chụp hình, thanh lấy mẫu đất (đường kính 3 cm), bọc đựng mẫu, nhãn ký hiệu mẫu, viết lông; phiếu điều tra đã soạn sẵn, viết

– Sử dụng trong nuôi cấy mẫu xác định tác nhân gây bệnh

+ Mẫu đất và rễ thu thập từ các cây nhiễm bệnh thối rễ khi điều tra Các nguyên liệu nấu môi trường nuôi cấy Lá “lụa” sầu riêng để bẫy bào tử

Trang 39

+ Cân bàn, cân điện tử, bếp nấu, máy hấp khử trùng bằng hơi nước nóng (121oC, 1 atm trong 30 phút), máy sấy khử trùng bằng nhiệt độ khô (180oC trong 30 phút), máy quay lỏng môi trường, tủ cấy mẫu, kính hiển vi quang học

+ Ly nhựa bẫy bào tử; dao; cốc đong 50, 100, 500, 1000 ml; nồi nấu, vải lọc, quặng đong, bông gòn loại thấm và không thấm nước, giấy báo, bình tam giác đựng môi trường; đĩa petri đã sấy tiệt trùng; dao – kéo – kẹp cấy, giấy thấm khô mẫu cấy, cồn etyl 70 % và 90 %, nước cất hấp khử trùng, bọc polyetylen đựng đĩa cấy, keo bịt đĩa petri; lame và lamella

– Sử dụng trong thí nghiệm chủng Koch kiểm chứng tác nhân gây bệnh gồm: nguồn nấm bệnh có được qua phân lập, làm thuần, nuôi cấy tăng sinh khối từ mẫu thu thập trong điều tra Các cây sầu riêng con thuộc giống Khổ qua xanh Máy xay dung dịch chủng bệnh, ống bơm chủng bệnh

– Sử dụng trong thí nghiệm xác định khoảng pH và nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trưởng của tác nhân gây bệnh Xác định hiệu quả một số loại thuốc hóa học, sinh học trong điều kiện phòng thí nghiệm gồm có:

+ Nguồn nấm bệnh có được qua phân lập, làm thuần, nuôi cấy tăng sinh khối từ mẫu thu thập trong điều tra Các loại thuốc hóa học (Agrifos, Aliette, Norshield, Rampart, Ridomil gold, Siêu lân) và sinh học (Actinovate)

+ Máy chuẩn độ pH, tủ ổn nhiệt, khoan nấm (đầu đục tròn, đường kính 0,5 cm), thước đo; efvendof hòa tan thuốc

– Sử dụng trong thí nghiệm xác định hiệu quả một số loại thuốc hóa học, sinh học trong điều kiện ngoài vườn

+ Vườn sầu riêng bị bệnh thối rễ Các loại thuốc hóa học (Agrifos, Aliette, Norshield, Ridomil gold) và sinh học (Actinovate)

+ Găng tay và khẩu trang bảo hộ, thùng tưới vòi sen; máy lắc hòa tan dung dịch đất loại lớn và nhỏ, bình tam giác đựng dung dịch đất; đầu col 50 µl, pipette 1000 µl

để hút và đũa tam giác trải đều dung dịch đất

– Các môi trường dùng trong nghiên cứu gồm

Trang 40

+ Môi trường PDA đặc: 200 g khoai tây, 20 g đường dextrose, 20 g agar, 1000

ml nước cất

+ Môi trường PCA đặc: 20 g cà rốt, 20 g khoai tây dextrose, 20 g agar, 1000 ml nước cất

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Điều tra tình hình bệnh thối rễ sầu riêng

3.3.1.1 Bố trí điều tra và thu mẫu

Thời gian điều tra từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2011 Điều tra bắt đầu vào sáng sớm, kết hợp phỏng vấn chủ vườn và điều tra ngoài vườn cùng lúc Bố trí chọn mẫu điều tra và thu mẫu theo Đặng Vũ Thị Thanh & Hà Minh Trung (1997):

+ Điều tra được tiến hành tại 2 xã trồng sầu riêng chủ yếu của Tiền Giang là Tam Bình và Ngũ Hiệp, huyện Cai Lậy; mỗi xã điều tra ngẫu nhiên 10 vườn trải đều

+ Mỗi vườn điều tra theo điểm, mỗi điểm là một cây, các điểm phân bố đều trên hai đường chéo góc qua vườn Đối với các vườn có tổng số cây nhỏ hơn 50 điều tra 10 điểm, các vườn trên 50 cây điều tra 20 điểm

+ Thu mẫu tại tất cả các cây điều tra bao gồm mẫu đất trong vùng rễ của cây và mẫu rễ bệnh Đánh dấu cây bệnh, ký hiệu mẫu thu

3.3.1.2 Phương pháp điều tra và thu mẫu

– Các bước phỏng vấn chủ vườn và điều tra ngoài vườn theo phương pháp của

Mc Maugh (2005)

+ Quan sát bao quát và đi chậm qua vườn để ghi nhận thành phần sâu bệnh hại, triệu chứng, đánh giá mức độ phổ biến, mức độ gây hại và giống bị hại chủ yếu

Ngày đăng: 11/06/2018, 08:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm