Với những hệ thống thủy canh chuyên nghiệp và chế độ dinh dưỡng phù hợp thì sản lượng rau an toàn của các nước có nền nông nghiệp tiên tiến cung cấp đủ cho nhu cầu rau an toàn của người
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ẢNH HƯỞNG CỦA 03 MÔI TRƯỜNG DINH DƯỠNG THỦY CANH ĐẾN SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ HÀM LƯỢNG
NITRAT CỦA CÂY XÀ LÁCH (Lactuca sativa var capitata L.)
TRỒNG TRÊN GIÁ THỂ XƠ DỪA
Họ và tên sinh viên: NGÔ THỊ KIỀU TIÊN Ngành: NÔNG HỌC
Niên khóa: 2007 - 2011
Tháng 08/2011
Trang 2ẢNH HƯỞNG CỦA 03 MÔI TRƯỜNG DINH DƯỠNG THỦY CANH ĐẾN SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ HÀM LƯỢNG NITRAT CỦA
CÂY XÀ LÁCH (Lactuca sativa var capitata L.)
TRỒNG TRÊN GIÁ THỂ XƠ DỪA
Tác giả
NGÔ THỊ KIỀU TIÊN
Khóa luận được đề trình để đáp ứng yêu cầu
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Con xin gửi lời biết ơn đến Ông Bà, Mẹ Cha đã sinh thành, nuôi dưỡng, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho con học tập và rèn luyện để có được ngày hôm nay
Xin chân thành cảm ơn:
- Ban Giám Hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh và Ban chủ nhiệm Khoa Nông học
- Quý Thầy Cô trong khoa Nông học đã tận tình giảng dạy tôi trong suốt thời gian học tập vừa qua
- Đặc biệt là Thầy Phạm Hữu Nguyên đã trực tiếp hướng dẫn và hết lòng giúp
đỡ tôi hoàn thành khóa luận này
Cuối cùng xin gửi lời biết ơn đến tất cả các anh chị em, bạn bè và người thân đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt những năm tháng ngồi trên ghế nhà trường và trong quá trình thực hiện đề tài
Tp Hồ Chí Minh, 8/2011 Sinh viên thực tập
Ngô Thị Kiều Tiên
Trang 4TÓM TẮT
Khóa luận “ Ảnh hưởng của 03 môi trường dinh dưỡng thủy canh đến sinh
trưởng, năng suất và hàm lượng nitrat của cây xà lách (Lactuca sativa var capitata L.)
trồng trên giá thể xơ dừa” đã được tiến hành tại Trại thực nghiệm Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, thời gian từ 03/2011 đến 05/2011 Thí nghiệm được tiến hành 2 đợt, bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên đơn yếu tố, 3 lần lặp lại với 3 môi trường dinh dưỡng:
Nghiệm thức 1: Môi trường dinh dưỡng NQ
Nghiệm thức 2: Môi trường dinh dưỡng Hoaglan
Nghiệm thức 3: Môi trường dinh dưỡng Florida
Kết quả thí nghiệm đạt được:
Thí nghiệm 1: Ở môi trường dinh dưỡng NQ cho năng suất 27,8 tấn.ha-1, đem lại lợi nhuận 404.871.600 đồng/havà hàm lượng nitrat trong rau nằm trong ngưỡng cho phép về rau an toàn (459,18 mg/kg rau tươi) Ở môi trường dinh dưỡng Hoaglan năng suất đạt 1,7 tấn.ha-1 và môi trường dinh dưỡng Florida đạt năng suất 2,5 tấn.ha-1, nhưng không mang lại lợi nhuận cho người sản xuất do sản phẩm thu hoạch không có giá trị về mặt kinh tế
Thí nghiệm 2: Ở môi trường dinh dưỡng NQ cho năng suất và lợi nhuận cao nhất (năng suất 13,3 tấn.ha-1, lợi nhuận 134.933.800 đồng/ha) và hàm lượng nitrat nằm trong ngưỡng cho phép về rau an toàn (667,91 mg/kg rau tươi) Môi trường dinh dưỡng Hoaglan cho năng suất và lợi nhuận thấp nhất (năng suất 11,1 tấn.ha-1, lợi nhuận 93.681.300 đồng/ha) và hàm lượng nitrat cũng nằm trong ngưỡng cho phép về rau an toàn (520,78 mg/kg rau tươi)
Qua hai đợt thí nghiệm cho thấy môi trường dinh dưỡng NQ có ảnh hưởng tốt nhất đến sự sinh trưởng, năng suất và hàm lượng nitrat của cây xà lách so với môi trường dinh dưỡng Hoaglan và môi trường dinh dưỡng Florida
Trang 5MỤC LỤC
TRANG TỰA i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH SÁCH CÁC BẢNG viii
DANH SÁCH CÁC HÌNH x
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT xii
Chương 1 GIỚI THIỆU CHUNG 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
1.3 Giới hạn đề tài 2
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Rau an toàn 3
2.1.1 Tiêu chuẩn rau an toàn 3
2.1.2 Nguyên nhân rau chưa an toàn 3
2.2 Sơ lược về cây xà lách 6
2.3 Giới thiệu về thủy canh 8
2.3.1 Định nghĩa về thủy canh 8
2.3.1 Ưu và nhược điểm của phương pháp thủy canh 8
2.3.2.1 Ưu điểm 8
2.3.2.2 Nhược điểm 8
2.3.3 Các hệ thống thủy canh và cách thức hoạt động 9
2.3.4 Một số giá thể dùng trong phương pháp thủy canh 15
2.3.4.1 Xơ dừa 15
2.3.4.2 Trấu hun 15
2.3.4.3 Perlite 15
Trang 62.3.4.4 Vermiculite 15
2.3.4.5 Rockwool 16
2.3.4.6 Giá thể hữu cơ tổng hợp 16
2.3.5 Ảnh hưởng của các điều kiện bên ngoài đến việc hấp thu dinh dưỡng trong phương pháp thủy canh 16
2.3.5.1 Nhiệt độ 16
2.3.5.2 Ánh sáng 17
2.3.5.3 Nước 17
2.3.5.4 pH dung dịch 17
2.3.5.5 Độ dẫn điện EC (Electrical conductivity) 18
2.4 Tình hình trồng cây thủy canh trên thế giới và Việt Nam 18
2.4.1 Tình hình thế giới 18
2.4.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 21
2.5 Môi trường dung dịch dinh dưỡng cho thủy canh 22
2.5.1 Khái niệm dung dịch dinh dưỡng 22
2.5.2 Thành phần dinh dưỡng khoáng 23
2.5.3 Chuẩn bị dung dịch dinh dưỡng 23
2.5.4 Giới thiệu một số môi trường dinh dưỡng 23
Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 27
3.1 Thời gian và địa điểm thực hiện 27
3.1.1 Thời gian 27
3.1.2 Địa điểm 27
3.2 Điều kiện khí hậu thời tiết trong thời gian thí nghiệm 27
3.3 Vật liệu thí nghiệm 27
3.3.1 Giống và vật liệu gieo hạt 27
3.3.2 Môi trường dinh dưỡng 28
3.3.3 Các dụng cụ thí nghiệm khác 29
3.4 Phương pháp thí nghiệm 29
3.4.1 Bố trí thí nghiệm 29
3.4.2 Quy mô thí nghiệm 30
3.5 Quy trình kỹ thuật 31
Trang 73.6 Phương pháp thu thập số liệu và các chỉ tiêu theo dõi 32
3.6.1 Các chỉ tiêu về sinh trưởng 32
3.6.2 Tình hình sâu bệnh hại 33
3.6.3 Các chỉ tiêu về năng suất 33
3.6.4 Hàm lượng Nitrate và hàm lượng chất khô 33
3.6.5 Chỉ số EC và pH của dung dịch 34
3.6.6 Lượng dung dịch dinh dưỡng dùng cho cây 34
3.6.7 Hiệu quả kinh tế 34
3.7 Phương pháp xử lý số liệu 34
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35
4.1 Kết quả thí nghiệm đợt 1 35
4.1.1 Kết quả theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng 35
4.1.1.1 Ảnh hưởng của 03 môi trường dinh dưỡng đến động thái tăng trưởng và tốc độ tăng trưởng chiều cao cây 35
4.1.1.2 Ảnh hưởng của 03 môi trường dinh dưỡng đến động thái tăng trưởng số lá và tốc độ ra lá của cây xà lách 37
4.1.1.3 Ảnh hưởng của 03 môi trường dinh dưỡng đến động thái tăng trưởng chiều dài phiến lá 39
4.1.1.4 Ảnh hưởng của 03 môi trường dinh dưỡng đến động thái tăng trưởng chiều rộng phiến lá 40
4.1.1.5 Diện tích lá 40
4.1.2 Chỉ số EC và pH dung dịch 41
4.1.2.1 Chỉ số EC 41
4.1.2.2 pH dung dịch 42
4.1.3 Lượng dung dịch dinh dưỡng tưới cho một ô thí nghiệm (1,2 m2) 42
4.1.4 Đánh giá tình hình sâu bệnh hại 43
4.1.5 Các chỉ tiêu năng suất 44
4.1.6 Đánh giá lượng NO3- và tỷ lệ (%) chất khô trong xà lách sau thu hoạch 45
4.1.7 Hiệu quả kinh tế 45
4.2 Kết quả thí nghiệm đợt 2 45
4.2.1 Kết quả theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng 46
Trang 84.2.1.1 Ảnh hưởng của 03 môi trường dinh dưỡng đến động thái tăng trưởng và tốc độ
tăng trưởng chiều cao cây của cây xà lách 46
4.2.1.2 Ảnh hưởng của 03 môi trường dinh dưỡng đến động thái tăng trưởng số lá và tốc độ ra lá của cây xà lách 48
4.2.1.3 Ảnh hưởng của 03 môi trường dinh dưỡng đến động thái tăng trưởng chiều dài phiến lá 50
4.2.1.4 Ảnh hưởng của 03 môi trường dinh dưỡng đến động thái tăng trưởng chiều rộng phiến lá 50
4.2.1.5 Diện tích lá 51
4.2.2 Đánh giá tình hình sâu bệnh hại 51
4.2.3 Chỉ số EC và pH dung dịch 52
4.2.3.1 Chỉ số EC 52
4.2.3.2 pH dung dịch 52
4.2.4 Lượng dung dịch dinh dưỡng tưới cho một ô thí nghiệm (1,2 m2) 53
4.2.5 Các chỉ tiêu năng suất 53
4.2.6 Đánh giá lượng NO3- và tỷ lệ (%) chất khô trong xà lách sau thu hoạch 54
4.2.7 Hiệu quả kinh tế 54
Chương 5 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 56
5.1 Kết luận 56
5.2 Đề nghị 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
PHỤ LỤC 60
Trang 9DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Mức giới hạn tối đa cho phép của một số vi sinh vật gây hại 3
Bảng 2.2: Mức giới hạn tối đa cho phép của hàm lượng NO3 (quy định cho rau) 4
Bảng 2.3: Mức giới hạn tối đa cho phép của hàm lượng kim loại nặng 5
Bảng 2.4: Mức giới hạn tối đa cho phép của dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) 6
Bảng 2.5: Tình hình sản xuất thủy canh của một số nước trên thế giới 19
Bảng 2.6: Năng suất rau diếp trồng thủy canh của trường Đại học Nông Nghiệp I Hà Nội 21
Bảng 2.7: Thành phần dinh dưỡng cho rau, cây ăn quả và hoa 26
Bảng 3.1: Các yếu tố khí hậu thời tiết trong thời gian thí nghiệm 27
Bảng 3.2: Thành phần 03 môi trường dinh dưỡng trong thí nghiệm 28
Bảng 3.3: Quy trình kỹ thuật canh tác thí nghiệm đợt 1 31
Bảng 3.4: Quy trình kỹ thuật canh tác thí nghiệm đợt 2 32
Bảng 4.1: Động thái tăng trưởng chiều cao cây (cm/cây) 36
Bảng 4.2: Động thái tăng trưởng số lá (lá/cây) 37
Bảng 4.3: Động thái tăng trưởng chiều dài phiến lá (cm) 39
Bảng 4.4: Động thái tăng trưởng chiều rộng phiến lá (cm) 40
Bảng 4.5: Trung bình diện tích lá (cm2) 41
Bảng 4.6: Chỉ số EC dung dịch (mS.cm-1) 41
Bảng 4.7: Giá trị pH dung dịch 42
Bảng 4.8: Lượng dung dịch dinh dưỡng tưới cho 1 ô nghiệm thức (1,2 m2) 43
Bảng 4.9: Các chỉ tiêu năng suất 44
Bảng 4.10: Tổng thu, tổng chi và lợi nhuận thu được 45
Bảng 4.11: Động thái tăng trưởng chiều cao cây (cm/cây) 47
Bảng 4.12: Động thái tăng trưởng số lá (lá/cây) 49
Bảng 4.13: Động thái tăng trưởng chiều dài phiến lá (cm) 50
Bảng 4.14: Động thái tăng trưởng chiều rộng phiến lá (cm) 51
Bảng 4.15: Trung bình diện tích lá (cm2/lá) 51
Bảng 4.16: Chỉ số EC dung dịch (mS.cm-1) 52
Trang 10Bảng 4.17: Giá trị pH dung dịch 52
Bảng 4.18: Lượng dung dịch dinh dưỡng tưới cho 1 ô nghiệm thức (1,2 m2) 53
Bảng 4.19: Các chỉ tiêu năng suất 53
Bảng 4.20: Hàm lượng NO3- (mg/kg) và tỷ lệ (%) chất khô trong xà lách sau thu hoạch 54 Bảng 4.21: Tổng thu, tổng chi và lợi nhuận thu được 54
Bảng 7.1: Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây (cm/ngày) của cây xà lách 62
Bảng 7.2: Tốc độ ra lá (số lá/ngày) của cây xà lách 62
Bảng 7.3: Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây (cm/ngày) của cây xà lách 65
Bảng 7.4: Tốc độ ra lá (lá/ngày) của cây xà lách 65
Bảng 7.5: Chi phí đầu tư cho thí nghiệm trên diện tích 10.000 m2 72
Bảng 7.6: Bảng giá hóa chất trong môi trường dinh dưỡng NQ tính trên 10.000 m2 73
Bảng 7.7: Bảng giá hóa chất trong môi trường dinh dưỡng Hoaglan tính trên 10.000m2 73
Bảng 7.8: Bảng giá hóa chất trong môi trường dinh dưỡng Florida tính trên 10.000 m2 74
Trang 11DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 2.1: Hệ thống dạng bấc (Simple Hydro, 2008) 11
Hình 2.2: Hệ thống thủy canh (Simple Hydro, 2008) 11
Hình 2.3: Hệ thống ngập và rút định kỳ (Simple Hydro, 2008) 12
Hình 2.4: Hệ thống nhỏ giọt (Simple Hydro, 2008) 13
Hình 2.5: Hệ thống “màng dinh dưỡng” (Simple Hydro, 2008) 14
Hình 2.6: Hệ thống khí canh (Simple Hydro, 2008) 14
Hình 3.1: Mô hình hệ thống thủy canh kiểu mao dẫn 30
Hình 4.1: Cây con khi xuất vườn ươm 35
Hình 4.2: Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây (cm/ngày) của cây xà lách 37
Hình 4.3: Tốc độ ra lá (lá/ngày) của cây xà lách 38
Hình 4.4: Xà lách lúc thu hoạch 45
Hình 4.5: Cây con trước khi trồng 46
Hình 4.6: Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây (cm/ngày) của cây xà lách 47
Hình 4.7: Tốc độ ra lá (lá/ngày) của cây xà lách 49
Hình 4.8: Xà lách lúc thu hoạch 54
Hình 7.1: Động thái tăng trưởng chiều cao cây (cm/cây) 60
Hình 7.2: Động thái tăng trưởng số lá (lá/cây) 60
Hình 7.3: Động thái tăng trưởng chiều dài phiến lá (cm) 61
Hình 7.4: Động thái tăng trưởng chiều rộng phiến lá (cm) 61
Hình 7.5: Trung bình diện tích lá (cm2) 62
Hình 7.6: Động thái tăng trưởng chiều cao cây (cm) 63
Hình 7.7: Động thái tăng trưởng số lá (số lá) 63
Hình 7.8: Động thái tăng trưởng chiều dài phiến lá (cm) 64
Hình 7.9: Động thái tăng trưởng chiều rộng phiến lá (cm) 64
Hình 7.10: Trung bình diện tích lá (cm2/lá) 65
Hình 7.11: Cây con được gieo trong khay nhựa 66
Hình 7.12: Xà lách 3 NST 66
Hình 7.13: Xà lách 9 NST 67
Trang 12Hình 7.14: Xà lách 15 NST 67
Hình 7.15: Xà lách 21 NST 68
Hình 7.16: Cây xà lách lúc thu hoạch 68
Hình 7.17: Cây bị héo tạm thời 69
Hình 7.18: Triệu chứng rối loạn dinh dưỡng 69
Hình 7.19: Dòi đục lá 69
Hình 7.20: Rệp mềm 69
Hình 7.21: Sâu tơ 69
Hình 7.22: Xà lách khi cấy 70
Hình 7.23: Xà lách 6 NST 70
Hình 7.24: Xà lách 9 NST 71
Hình 7.25: Xà lách 21 NST 71
Trang 13DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CV Coefficient of Variation LSD Least significant Difference Test NST Ngày sau trồng
NT Nghiệm thức NSLT Năng suất lý thuyết NSTT Năng suất thực thu NS/ô TN Năng suất/ô thí nghiệm TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam TLTB/cây Trọng lượng trung bình/cây GAP Good Agriculture practice WTO World Trade Organization
Trang 14Chương 1 GIỚI THIỆU CHUNG
1.1 Đặt vấn đề
Rau là thực phẩm không thể thiếu và không thể thay thế được trong khẩu phần
ăn của con người Các loại rau củ quả được coi là nguồn cung cấp các chất bổ dưỡng như chất khoáng, đường, đạm, vitamin cho cơ thể con người và động vật
Đến cuối năm 2010, Thành phố Hồ Chí Minh có 102 xã, phường sản xuất rau với diện tích canh tác là 2.874 ha, diện tích gieo trồng là 13.000 ha, sản lượng đạt 284.336 tấn.năm-1, diện tích canh tác rau an toàn là 2.735 ha và diện tích gieo trồng rau an toàn là 12.740 ha So với năm 2006 thì diện tích canh tác tăng 849 ha (41,9 %), diện tích gieo trồng rau tăng 3.765 ha (40,8 %), sản lượng rau tăng 108.190 ha (61,4 %), diện tích canh tác rau an toàn tăng 1.023 ha (59,8 %), diện tích gieo trồng rau an toàn tăng 3.967 ha (45,2 %) Nhưng thành phố vẫn chưa xây dựng được vùng chuyên canh sản xuất rau tập trung, sản phẩm đa dạng, sản xuất rau chưa ổn định do chịu ảnh hưởng của thời tiết bất thường, giá cả vật tư đầu vào biến động, giá cả trị trường không ổn định, vẫn còn một số nông dân sử dụng thuốc bảo vệ thực vật chưa đúng quy định (http://www.sonongnghiep.hochiminhcity)
Mặt khác, tốc độ đô thị hóa ở nước ta trong những năm gần đây tăng khá nhanh, đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập WTO Nhân loại đang đứng trước một thách thức lớn là nền nông nghiệp thế giới phải đảm bảo nuôi sống số dân không ngừng gia tăng trong điều kiện đất canh tác ngày càng bị thu hẹp, khí hậu trái đất nóng lên, thiên tai càng ác liệt Ở nhiều nước trên thế giới người ta đã sử dụng rộng rãi phương pháp thủy canh để sản xuất rau an toàn Với những hệ thống thủy canh chuyên nghiệp và chế độ dinh dưỡng phù hợp thì sản lượng rau an toàn của các nước có nền nông nghiệp tiên tiến cung cấp đủ cho nhu cầu rau an toàn của người dân Riêng ở Việt Nam, các
mô hình rau thủy canh đã được thí nghiệm trong các trường học và cơ sở sản xuất nhưng còn ở quy mô nhỏ và đơn giản Để tăng sản lượng rau an toàn nhằm cung cấp
Trang 15càng nhiều cho người tiêu dùng thì cần có các hệ thống sản xuất hiệu quả, chi phí phù hợp và một chế độ dinh dưỡng hợp lý cho cây trồng thủy canh ở Việt Nam Đây sẽ là một kỹ thuật sản xuất rau an toàn đảm bảo cung cấp đủ thức ăn xanh cho bữa ăn gia đình Đồng thời triển khai các mô hình trồng rau theo phương pháp này sẽ làm tăng thêm thảm xanh cho môi trường đô thị
Vì vậy, đề tài “Ảnh hưởng của 03 môi trường dinh dưỡng thủy canh đến
sinh trưởng, năng suất và hàm lượng nitrat của cây xà lách (Lactuca sativa var
capitata L.) trồng trên giá thể xơ dừa” đã được thực hiện
1.2 Mục đích và yêu cầu
1.2.1 Mục đích
Tìm ra môi trường dinh dưỡng thích hợp để trồng cây xà lách bằng phương pháp thủy canh kiểu mao dẫn nhằm góp phần đáp ứng nhu cầu rau an toàn cho người tiêu dùng
1.2.2 Yêu cầu
- Theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng, chỉ tiêu năng suất của cây xà lách trồng bằng phương pháp thủy canh trong nhà lưới trên 3 môi trường dinh dưỡng khác nhau tại Trại thực nghiệm khoa Nông học
- Đo pH, EC dung dịch định kỳ trong suốt thời gian sinh trưởng và tính lượng dung dịch dinh dưỡng cần tưới cho cây
- Phân tích hàm lượng nitrat trong cây xà lách khi thu hoạch và tỷ lệ (%) chất khô sau thu hoạch
- Đánh giá sơ bộ hiệu quả kinh tế khi áp dụng 3 môi trường dinh dưỡng
1.3 Giới hạn đề tài
Do giới hạn về thời gian, qui mô diện tích nhỏ nên thí nghiệm chỉ thực hiện 2
vụ, trồng tại nhà lưới Trại thực nghiệm Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 16Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Rau an toàn
2.1.1 Tiêu chuẩn rau an toàn
Theo Quyết định số 99/2008/QĐ-BNN ngày 15/10/2008 của Bộ trưởng Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn Về việc Ban hành Quy định quản lý sản xuất, kinh doanh rau, quả, chè an toàn: rau, quả an toàn là sản phẩm rau, quả tươi được sản xuất, sơ chế phù hợp với các quy định về đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm có trong VietGAP (Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho rau, quả tươi an toàn tại Việt Nam) hoặc các tiêu chuẩn GAP khác tương đương VietGAP và mẫu điển hình đạt chỉ tiêu vệ sinh an toàn thực phẩm (Cục trồng trọt – Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, 2008)
2.1.2 Nguyên nhân rau chưa an toàn
+ Các vi sinh vật có hại trong rau xanh: Trong quá trình sản xuất nhiều nhà vườn chưa thực hiện nghiêm túc quy trình kỹ thuật Tập quán dùng phân tươi, nước rửa chuồng, nước của thành phố chưa qua xử lý làm cho cây rau nhiễm ký sinh trùng (giun, sán) và vi sinh vật gây hại Mức giới hạn dư lượng tối đa cho phép của một số vi sinh vật trong sản phẩm rau tươi được trình bày ở bảng 2.1
Bảng 2.1: Mức giới hạn tối đa cho phép của một số vi sinh vật gây hại
STT Vi sinh vật gây hại
(quy định cho rau, quả)
Mức giới hạn tối đa cho phép (CFU/g **)
Phương pháp thử*
Trang 17Ghi chú:
* Có thể sử dụng phương pháp thử khác có độ chính xác tương đương
** Tính trên 25 g đối với Salmonella
+ Dư lượng nitrat (NO3-): nguyên nhân dẫn đến sự tích lũy dư lượng nitrat
trong rau cao là do sử dụng lượng phân đạm hóa học quá nhiều và bón gần thời gian
thu hoạch Trong rau khi chứa quá nhiều nitrat mà chúng ta ăn vào trong cơ thể nitrat
bị khử thành nitrit (NO2), nitrit làm giảm hô hấp của tế bào, ảnh hưởng tới hoạt động
của tuyến giáp, hình thành khối u Nitrat tích tụ ở mức độ cao, có điều kiện nó sẽ kết
hợp với amin bậc 2, 3 tạo thành Nitrosamin là chất gây ung thư (Tạ Thu Cúc, 2005)
Mức giới hạn dư lượng tối đa của hàm lượng nitrat trong sản phẩm rau tươi được trình
Phương pháp thử*
(TCVN 5247:1990)
9 Dưa bở 90
11 Dưa hấu 60
(nguồn: Cục trồng trọt – Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông Thôn, 2008)
Ghi chú: * Có thể sử dụng phương pháp thử khác có độ chính xác tương đương
+ Kim loại nặng: các kim loại nặng như Asen (As), Chì (Pb), Thủy ngân (Hg),
Cardimi (Cd) khi chúng tồn dư vượt ngưỡng cho phép trong sản phẩm rau sẽ nguy
Trang 18nặng trên rau chủ yếu là do đất trồng bị ô nhiễm, sử dụng các loại phân rác có chứa kim loại nặng, lạm dụng hóa chất bảo vệ thực vật, sử dụng nguồn nước thải của các khu công nghiệp bị ô nhiễm chứa nhiều kim loại nặng tưới cho rau (Trần Viết Mỹ, 2009) Mức giới hạn dư lượng tối đa của hàm lượng kim loại nặng trong sản phẩm rau tươi được trình bày ở bảng 2.3
Bảng 2.3: Mức giới hạn tối đa cho phép của hàm lượng kim loại nặng
STT Hàm lượng kim loại nặng
(quy định cho rau, quả, chè)
Mức giới hạn tối đa cho phép (mg/kg)
Phương pháp thử*
- Rau ăn thân, rau ăn củ, khoai tây 0,2
- Rau khác và quả 0,05
(nguồn: Cục trồng trọt – Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông Thôn, 2008)
Ghi chú: * Có thể sử dụng phương pháp thử khác có độ chính xác tương đương
+ Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật: do quá lạm dụng thuốc hóa học (sử dụng nồng độ cao, không đảm bảo thời gian cách ly) trong sản xuất rau dẫn đến dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong các bộ phận của cây rau vượt ngưỡng cho phép; sử dụng những loại thuốc bị cấm như Wofatox, Monior… hậu quả là làm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người và động vật, gây ngộ độc thức ăn dẫn đến tử vong (Tạ Thu Cúc, 2005) Mức giới hạn tối đa cho phép của dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) được trình bày ở bảng 2.4
Trang 19Bảng 2.4: Mức giới hạn tối đa cho phép của dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV)
STT Dư lượng thuốc BVTV
(quy định cho rau, quả, chè)
Mức giới hạn tối đa cho phép
Phương pháp thử*
1 Những hóa chất có trong
Quyết định 46/2007/QĐ-BYT
ngày 19/12/2007 của Bộ Y tế
Theo Quyết định 46/2007/QĐ BYT ngày 19/12/2007 của Bộ Y tế
Theo TCVN hoặc ISO, CODEX tương ứng
2.2 Sơ lược về cây xà lách
Tên khoa học: Lactuca sativa var capitata L
Tên tiếng Anh: Lettuce
Họ cúc: Asteraceae
Xà lách thích hợp trong khoảng nhiệt độ 15 – 20oC, vào ban ngày và đêm lạnh Nhiệt độ trên 25oC bắp hình thành không chặt Quá trình tạo bắp sẽ không diễn ra khi nhiệt độ trên 28oC Xà lách xoăn khả năng chịu nhiệt độ cao tốt hơn xà lách cuốn Bộ
rễ xà lách rất yếu, vì vậy cần trồng trên đất giàu dinh dưỡng, khả năng giữ nước tốt, đất pha cát hơi kiềm Xà lách không chịu được hạn và đất chua (pH < 6) (Trần Khắc Thi – Trần Ngọc Hùng, 2005)
Xà lách là cây rau quan trọng thứ 4 sau cà chua, dưa leo, ớt trồng bằng phương pháp thủy canh ở Châu Âu Các loại giống được trồng như Romaine, Oakleaf, Lolla Rosa, Ruby, Red sails, New Red Fire, Brunia Trong mùa hè với điều kiện ngày dài cây xà lách sẽ trưởng thành trong 40 – 48 ngày Chọn giống xà lách trồng chủ yếu dựa vào điều kiện khí hậu, đặc biệt là ánh sáng và nhiệt độ, khả năng nhiễm bệnh và thị trường tiêu thụ Cây xà lách thích hợp với nhiệt độ lạnh Cây con được trồng 14 - 21 ngày trước khi trồng trong nhà kính Hạt giống được gieo trên giá thể rockwool, khối
Trang 20oasis với một ít than bùn hoặc vermiculite Giá thể phải ngâm với một ít dung dịch pha loãng 0,5 mS.cm-1 EC trước khi gieo, sau khi hạt nảy mầm sẽ sử dụng dung dịch 1,5 mS.cm-1 Đối với rockwool sẽ sử dụng độ pH của dung dịch từ 5,2 – 5,4 để làm giảm
độ pH của rockwool ban đầu là 7,5 hoặc lớn hơn Xà lách đòi hỏi nhiệt độ mát mẻ để nảy mầm Các khay gieo hạt nên sắp xếp để nơi nhiệt độ mát từ 400F (4,50C) 1 đến 2 ngày để nứt hạt Ngay khi hạt giống nứt ra và bắt đầu phát triển đặt chúng trong nhà kính ở nhiệt độ 60 – 650F (15 – 180C) Giữ cây con ở nhiệt độ 64 – 700F (18 – 210C) vào ban ngày và 55 – 610F (13 – 160C) vào ban đêm trong nhà kính, độ pH tối ưu cho các dung dịch là 5,5 – 6,0 và EC là 1,0 – 2,3 mS.cm-1, duy trì ẩm độ tương đối 60 – 80
% Cây con được 2 - 3 lá thật sẽ bắt đầu đem đi cấy ra hệ thống (http://www.howardresh.com)
Theo kết quả thí nghiệm của Võ Thị Hoa (2010) về ảnh hưởng của lượng nước tưới đến sinh trưởng và năng suất của cây xà lách trồng trên giá thể xơ dừa:
- Thí nghiệm được thực hiện với 3 nghiệm thức (NT)
NT 1: 50 % nhu cầu nước theo từng giai đoạn phát triển của cây: 8 lít/ngày/3 m2
NT 2: 75 % nhu cầu nước theo từng giai đoạn phát triển của cây: 12 lít/ngày/3 m2
NT 3: 75 % nhu cầu nước theo từng giai đoạn phát triển của cây: 16 lít/ngày/3 m2
- Khi tưới nước bằng 75 % nhu cầu nước của cây thì cho số lá/cây, tốc độ ra lá, động thái tăng trưởng chiều cao cây, tốc độ tăng trưởng chiều cao cây, diện tích lá, năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất, khi tưới nước bằng 100 % nhu cầu nước của cây thì cho kết quả thấp nhất Nguyên nhân là do khi trồng cây trên giá thể xơ dừa trong điều kiện nhà lưới thì khả năng giữ ẩm của giá thể sẽ tốt hơn và lượng bốc thoát hơi nước trong môi trường này cũng sẽ ít hơn so với khi trồng cây trong điều kiện ngoài trời Do đó khi áp dụng lượng nước tưới bằng 100 % nhu cầu theo từng giai đoạn của cây đối với cây trồng ngoài trời cho thấy cây trồng trong nhà lưới có thể bị úng và phát triển không bình thường
- Tùy theo giai đoạn phát triển của cây mà nhu cầu về nước của cây khác nhau Đối với xà lách nhu cầu nước ở từng giai đoạn cây con ít hơn nhiều so với giai đoạn trưởng thành, khi đưa từ cây con từ vườn uơm ra ruộng sản xuất là kết thúc thời kỳ cây con, khi cây đã hồi xanh hoàn toàn là bước vào thời kỳ trưởng thành Do đó lượng
nước tưới cho từng nghiệm thức ứng với ETc ở thời kỳ cây trưởng thành, tưới 2
Trang 21lần/ngày vào buổi sáng sớm và chiều mát, nước được đo bằng bình có chia vạch theo thể tích Các giai đoạn sau 15 – 18 ngày sau trồng và 18 – 21 ngày sau trồng là giai đoạn cây phát triển mạnh nhất, khả năng hấp thu nước và dinh dưỡng của bộ rễ hoạt động mạnh vì vậy cần cung cấp đủ nước và chất dinh dưỡng cho cây phát triển tốt (Võ Thị Hoa, 2010)
2.3 Giới thiệu về thủy canh
2.3.1 Định nghĩa thủy canh
Từ "Hydroponics" được đặt ra bởi WF Gericke năm 1936 để diễn tả việc trồng cây ăn được và cây trang trí trong một dung dịch nước và chất dinh dưỡng hòa tan
“Hydroponic” có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp “Hydro” nghĩa là nước, và "Ponos" có nghĩa là lao động Trong phương pháp canh tác này cây trồng được cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết cho sự tăng trưởng của một dung dịch dinh dưỡng gồm nước và
các nguyên tố cần thiết (Keith Roberto, 2003)
2.3.2 Ưu và nhược điểm của phương pháp thủy canh
2.3.2.1 Ưu điểm
- Theo Winterborne (2005), trồng cây theo phương pháp thủy canh có thể năng
suất cây trồng khoảng 2 đến 10 lần trong một khoảng thời gian ngắn Không có sâu bệnh hại truyền qua đất, không có cỏ dại vì vậy không cần sử dụng thuốc bảo vệ thực vật; tiết kiệm được lượng lớn nước và phân bón, chỉ cung cấp nước và chất dinh dưỡng khi cây trồng có nhu cầu Có cơ hội để quản lý chặt chẽ các nhu cầu của cây trồng do
đó có thể kích thích sự tăng trưởng của nó Cung cấp các môi trường dinh dưỡng tối
ưu thúc đẩy việc sử dụng tốt các tiềm năng di truyền của cây trồng, do đó rút ngắn thời gian phát triển của cây trồng
- Theo Vũ Quang Sáng và ctv (2007), ưu điểm của phương pháp thủy canh là điều chỉnh được lượng dung dịch dinh dưỡng cho cây trồng, giảm bớt yêu cầu về lao động, dễ tưới nước, dễ thanh trùng, nâng cao năng suất cây trồng, tiết kiệm nước tưới, đặc biệt ở những nơi đất không thích hợp cho việc trồng cây hay không có đất như hải đảo thành phố, nhà cao tầng ở các khu chung cư thì phương pháp thủy canh đã tạo ra khả năng cung cấp rau quả tại chỗ, cung cấp rau quả tươi, có chất lượng cao
Trang 222.3.2.2 Nhược điểm
Theo Vũ Quang Sáng và ctv (2007), nhược điểm của phương pháp thủy canh là đầu tư cho hệ thống ban đầu lớn, giá thành cao, yêu cầu trình độ kỹ thuật cao, đòi hỏi nguồn nước sạch và sự lan truyền bệnh nhanh
2.3.3 Các hệ thống canh tác không dùng đất và cách thức hoạt động
Theo Van Panten (2004), có 8 hệ thống thủy canh: hệ thống dạng bấc (Wick), Air table, trồng trong nước (Water Culture), ngập và rút định kỳ (Ebb and flow hay Flood and drain), hệ thống Top - feed Bucket, hệ thống “màng dinh dưỡng” (N.F.T - Nutrient Film Technique), khí canh (aeroponics) và aquaponics
Theo Winterborne (2005), có 7 hệ thống thủy canh đó là hệ thống “màng dinh dưỡng” (N.F.T - Nutrient Film Technique), hệ thống nhỏ giọt (Drip irrigation systems), hệ thống Ventura action drip, Deep water culture (DWC hay The Bubbler), ngập và rút định kỳ (Ebb and Flow hay Flood and Drain), Future Grow Magazine excerpt và khí canh (Aeroponics)
Theo Vũ Quang Sáng và ctv (2007), các hệ thống trồng cây trong dung dịch liên tục được cải tiến từ hệ thống trồng trong dung dịch sâu của Gerick (1930) đến hệ thống trồng cây trong dung dịch sâu hoàn toàn của Kyowa và Kobuta (1977 – 1983) Sau đó là kỹ thuật màng mỏng dung dịch (NFT – Nutrient Film Technique), kỹ thuật khí canh (Aeroponics) Tiếp theo, người ta dùng các hệ thống có chi phí tương đối thấp (các giá thể nhân tạo, trơ như len đá - rockwool) hay các kiểu trồng cây tiên tiến trong dung dịch không có giá thể rắn Tuy nhiên các hệ thống kể trên đều phức tạp và khó triển khai do đầu tư ban đầu quá cao cho hệ thống bơm tuần hoàn dung dịch để đảm bảo cung cấp đủ oxy cho rễ cây và chỉnh pH kịp thời cũng như hàm lượng các chất trong dung dịch Hơn thế nữa khi trồng cây trong điều kiện nước chảy tuần hoàn thì khả năng lây lan bệnh rất nhanh chóng nếu trong hệ thống xuất hiện chỉ một cây bị bệnh Hideo Imai và David J Mimore ở Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau Châu
Á (Asian Vegetable Research and Development Center – AVRDC) đã nghiên cứu và hoàn thiện hệ thống trồng cây trong dung dịch không tuần hoàn, đơn giản không cần
bộ sục khí hoặc hồi lưu dung dịch dinh dưỡng mà vẫn đảm bảo pH của dung dịch ổn định Hệ thống bao gồm:
Trang 23+ Thùng chứa dung dịch dinh dưỡng (hộp xốp bằng polystyrene) có kích cỡ xác định cho rau ăn lá và rau ăn quả
+ Rọ nhựa có nhiều lỗ xung quanh để đựng giá thể trồng cây, gieo hạt
+ Trên nắp hộp xốp được đục các lỗ để đặt rọ trồng cây
Theo Nhóm sinh viên lớp Công nghệ sinh học khóa 30, Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh (2007) nghiên cứu hệ thống thủy canh kiểu mao dẫn, hệ thống bao gồm:
1- Khung xốp: kích thước chiều dài 1,2 m x chiều rộng 1 m x chiều cao 0,1 m 2- Dùng nilong đen lót dưới đáy khung xốp để chứa dung dịch dinh dưỡng và hạn chế ánh sáng làm hại rễ cây
3- Thanh xốp hình răng lược bề dày 0,05 m, chiều dài 1 m, là giá đỡ giữa dung dịch và giá thể
4- Đặt giá đỡ vào khung xốp đã lót nilong đen
5- Đặt lưới lên giá đỡ, lưới có kích thước lỗ nhỏ tránh giá thể rơi xuống dung dịch
6- Giá thể sử dụng cho mô hình này là xơ dừa, xơ dừa đổ dày từ 5 – 7 cm tạo chỗ bám cho rễ cây Xơ dừa thoát nước tốt, giữ ẩm lâu thích hợp cho thủy canh kiểu mao dẫn
Hệ thống thủy canh kiểu mao dẫn hoạt động không cần máy bơm để cung cấp oxy cho dung dịch chứa trong hệ thống Dinh dưỡng được tưới một góc vào khung chứa, sau đó ngấm dần vào giá thể xơ dừa để nuôi cây Dung dịch được ngấm dần do
đó không có hiện tượng ngập úng, hệ thống thoáng khí, cây phát triển tốt
Tuy nhiên theo Simply Hydro (2008), có 6 hệ thống thủy canh cơ bản đó là hệ thống dạng bấc (Wick system), trồng trong nước (Water Culture), ngập và rút định kỳ (Ebb and Flow hay Flood and Drain), nhỏ giọt (Drip) (có hoàn lưu và không), kỹ thuật
“Màng dinh dưỡng” (N.F.T - Nutrient Film Technique) và khí canh (Aeroponic) Từ 6
hệ thống cơ bản này, có hàng trăm kiểu khác nhau nhưng nhìn chung, tất cả các hệ thống thủy canh đều là biến thể của 6 loại này:
+ Hệ thống dạng bấc (Wick system):
Hệ thống dạng bấc cho đến nay là hệ thống thủy canh đơn giản nhất
Trang 24Nguyên lý hoạt động: Dung dịch dinh dưỡng được đặt trong bể chứa, giá thể và khay trồng được đặt phía trên bể chứa dung dịch dinh dưỡng, có một máy bơm cung cấp khí vào dung dịch, dinh dưỡng được hút vào môi trường trồng thông qua cái bấc hút và dẫn nước (hình 2.1)
Hệ thống này có thể sử dụng với nhiều loại giá thể khác nhau trong đó perlite, vermiculite, pro-mix và sợi xơ dừa là những loại phổ biến nhất
Nhược điểm chính của hệ thống này là cung cấp không đủ dinh dưỡng khi cây lớn vì lượng dinh dưỡng bấc hút lên ít hơn nhu cầu cây cần sử dụng
Hình 2.1: Hệ thống dạng bấc (Simple Hydro, 2008)
+ Hệ thống trồng trong nước (Water Culture):
Hình 2.2: Hệ thống thủy canh (Simple Hydro, 2008)
Hệ thống trồng cây trong nước là hệ thống đơn giản nhất trong các hệ thống thủy canh
Trang 25Nguyên lý hoạt động: phần bệ giữ các cây thường làm bằng styrofoam và đặt nổi ngay trên dung dịch dinh dưỡng Có 1 máy bơm cung cấp khí vào dung dịch dinh dưỡng và cung cấp oxy cho rễ cây (hình 2.2)
Trồng cây trong nước là hệ thống được lựa chọn cho nuôi cấy rau diếp, loại cây phát triển mạnh khi gặp nước Rất ít loại cây khác phát triển tốt trên hệ thống này Hệ thống thủy canh dạng này thường dùng phổ biến trong dạy học
Hệ thống ít tốn kém, có thể tận dụng bể chứa nước hay những bình chứa không
rỉ khác Vấn đề lớn nhất của hệ thống này là nó không hoạt động tốt đối với những cây
có kích thước lớn hay cây có thời gian sinh trưởng dài
+ Hệ thống ngập và rút định kỳ (Ebb and Flow system hay Flood and Drain):
Hình 2.3: Hệ thống ngập và rút định kỳ (Simple Hydro, 2008)
Nguyên lý hoạt động: hệ thống ngập và rút định kỳ hoạt động bằng cách làm khay trồng ngập tạm thời trong dung dịch dinh dưỡng sau đó rút ngược trở lại dung dịch này vào bồn chứa Hoạt động này được thực hiện với 1 cái bơm chìm trong bể có nối với đồng hồ hẹn giờ Khi đồng hồ bấm giờ bật máy bơm chạy, dung dịch dinh dưỡng được bơm vào khay trồng Khi đồng hồ hẹn giờ tắt máy bơm tắt, dung dịch dinh dưỡng rút ngược lại vào bồn chứa (hình 2.3)
Đồng hồ hẹn giờ được lặp lại với chu kỳ vài lần/ngày, tùy theo kích cỡ và loại cây trồng, nhiệt độ và độ ẩm cũng như loại giá thể sử dụng
Hệ thống ngập và rút định kỳ là một hệ thống linh hoạt có thể sử dụng với nhiều loại giá thể khác nhau Toàn bộ giá thể có thể dùng grow rocks, sỏi hay rockwool Bất lợi lớn của hệ thống này là với một số loại giá thể (sỏi, grow rocks, perlite) có khả năng dễ hư khi mất điện, hư bơm và đồng hồ hẹn giờ Rễ có thể khô nhanh khi chu kỳ
Trang 26nước bị ngưng Vấn đề này có thể giảm bớt phần nào khi sử dụng giá thể giữ nhiều nước hơn (rockwool, vermiculite, xơ dừa hay hỗn hợp không phải đất tốt như pro-mix hay faffard's)
+ Hệ thống nhỏ giọt (Drip systems – recovery/non – recovery):
Hình 2.4: Hệ thống nhỏ giọt (Simple Hydro, 2008)
Hệ thống nhỏ giọt có thể là loại hệ thống thủy canh được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới
Nguyên lý hoạt động: đồng hồ hẹn giờ điều khiển bơm ngập chìm Đồng hồ hẹn giờ bật máy bơm hoạt động và dung dịch dinh dưỡng được nhỏ trực tiếp lên gốc của mỗi cây bởi những đường ống nhỏ giọt (hình 2.4)
Trong hệ thống nhỏ giọt hồi lưu, dung dịch dinh dưỡng dư chảy xuống sẽ được thu hồi trong bể để tái sử dụng Hệ thống không hồi lưu không thu lại những nước dư chảy xuống Hệ thống hồi lưu sử dụng dung dịch dinh dưỡng khá hiệu quả, nước dư ra được tái sử dụng, cho phép sử dụng đồng hồ hẹn giờ ít tốn kém hơn bởi vì hệ thống hồi lưu không yêu cầu việc kiểm soát chính xác chu kỳ nước Hệ thống không hồi lưu cần đồng hồ hẹn giờ có độ chính xác cao hơn sao cho chu kỳ nước có thể điều chỉnh nhằm đảm bảo cây có đủ chất dinh dưỡng và nước dư xuống ở mức thấp nhất Hệ thống không hồi lưu yêu cầu ít sự bảo dưỡng do dung dịch dinh dưỡng dùng dư không tái sử dụng vào bồn chứa, do đó nồng độ dinh dưỡng và pH của dung dịch dinh dưỡng không thay đổi Điều này có nghĩa rằng bạn có thể đổ đầy bồn bằng dung dịch dinh dưỡng đã chỉnh pH Hệ thống hồi lưu có thể có những thay đổi lớn về pH và nồng độ dinh dưỡng đòi hỏi phải kiểm tra và điều chỉnh định kỳ
Trang 27+ Kỹ thuật “màng dinh dưỡng” N.F.T ( Nutrient Film Technique):
Các hệ thống N.F.T có 1 dòng chảy liên tục dung dịch dinh dưỡng vì vậy không cần đồng hồ hẹn giờ cho máy bơm ngập chìm
Nguyên lý hoạt động: Dung dịch dinh dưỡng được bơm vào khay trồng (thường dạng ống) bằng máy bơm, khay trồng được đặt có độ dốc để dung dịch dinh dưỡng có thể dễ dàng chảy qua các rễ của các cây trồng, sau đó chúng chảy về bồn chứa (hình 2.5)
Thường thì không cần giá thể nào ngoài không khí, giúp tiết kiệm chi phí thay giá thể sau mỗi vụ mùa Nhược điểm chính của hệ thống N.F.T là rất dễ bị ảnh hưởng khi mất điện hay bơm hư Rễ sẽ khô rất nhanh chóng khi dòng chảy chất dinh dưỡng bị ngưng
Hình 2.5: Hệ thống “màng dinh dưỡng” (Simple Hydro, 2008)
+ Khí canh (Aeroponic):
Hình 2.6: Hệ thống khí canh (Simple Hydro, 2008)
Trang 28Khí canh là hệ thống thủy canh dạng công nghệ cao nhất Giống như hệ thống N.F.T, giá thể chủ yếu là không khí, rễ phơi trong không khí và được phun sương bằng dung dịch dinh dưỡng, việc phun sương thường được thực hiện mỗi vài phút (hình 2.6) Do rễ phơi ra không khí giống như hệ thống N.F.T, nên rễ sẽ khô nhanh chóng nếu chu kỳ phun sương bị gián đoạn Đồng hồ hẹn giờ điều khiển bơm dinh dưỡng cũng giống như những loại bơm của hệ thống thủy canh khác, ngoại trừ việc hệ thống khí canh cần một đồng hồ hẹn giờ chu kỳ ngắn giúp chạy máy bơm vài giây trong mỗi chu kỳ vài phút.
2.3.4 Một số giá thể dùng trong phương pháp thủy canh
2.3.4.1 Xơ dừa
Xơ dừa được lấy từ vỏ quả dừa, nghiền nhỏ, là một loại giá thể rất dễ tìm và rẻ tiền Khi sử dụng cần ngâm nước, xơ dừa là giá thể có khả năng giữ nước tốt nhưng dễ gây úng cho một số loại cây trồng (Vũ Quang Sáng và ctv, 2007)
Xơ dừa có độ thông thoát cao giúp bộ rễ hô hấp tối đa, khả năng giữ ẩm tốt hơn rockwool, cung cấp một số kích thích tố giúp chống lại các bệnh do nấm (Simple hydro, 2008) Theo Van Patten (2004) sử dụng 50 % xơ dừa trộn với 50 % trộn với perlite làm tăng sự lưu dẫn
2.3.4.2 Trấu hun
Trấu hun là giá thể hữu cơ, thoát nước tốt, thích hợp với nhiều loại cây trồng Trong trấu hun chứa một lượng lớn kali có tính kiềm, có thể tái sử dụng Trấu hun là loại phế phẩm rất phổ biến trong nông nghiệp, có sẵn ở Việt Nam (Vũ Quang Sáng và ctv, 2007)
2.3.4.3 Perlite
Perlite là dẫn xuất của núi đá lửa chứa silic, ở nhiệt độ 10000C Perlite nhẹ, xốp, tiêu nước và thông thoáng tốt Perlite có chứa 76,9 % nhôm (Al), do một phần Al này giải phóng ra ngoài làm giảm độ pH (đây cũng là nhược điểm chính của perlite) nên người ta thường sử dụng perlite cùng với các giá thể khác (Vũ Quang Sáng và ctv,
2007) Theo Keith Roberto (2003) pertile có cấu trúc không chặt nên dễ bị rửa trôi
2.3.4.4 Vermiculite
Vermiculite là một loại magiê – nhôm silicat ngậm nước dưới dạng tinh thể dẹt,
có cấu trúc tương tự mica Dưới tác dụng của nhiệt, giá thể này nở ra, tách thành lá và
Trang 29trở thành vật liệu nhẹ, khi đó nó có tính kiềm (do có đá vôi magiê trong quặng nguyên thủy), giữ nước tốt
Vermiculite chứa nước, chất dinh dưỡng, và không khí, được sử dụng nhiều trong hệ thống dạng bấc (Van Patten, 2004)
Hỗn hợp 50 % vermicultie với 50 % perlite là giá thể rất tốt cho cây hệ thống nhỏ giọt, ngập và rút định kỳ trong phương pháp canh tác không dung đất Hạn chế lớn nhất của vermiculite là giữ lại quá nhiều nước, có thể gây úng cho cây trồng (Simple hydro, 2008)
2.3.4.5 Rockwool
Rockwool làm từ đá bazan, nung ở 1.4000C, thổi ra thành sợi, sau đó được nén lại thành tấm hoặc miếng, kích thước phụ thuộc khuôn nén Ưu điểm của rockwool có khả năng giữ nước và thoáng khí tốt, sạch sẽ và tiện lợi, nhược điểm là không thân thiện với môi trường vì rất khó xử lý phế phẩm, có độ pH cao nên phải điều chỉnh pH của dung dịch thấp (Simple hydro, 2008)
2.3.4.6 Giá thể hữu cơ tổng hợp
Đây là những chất liệu hữu cơ nhân tạo, có tính trơ hóa học đối với phần lớn các mục đích sử dụng như polystyrene xốp, bọt ureaformadehyt, polyurethane…Đặc biệt các chất bọt có gốc phenol ở dạng hạt được nhiều người quan tâm để trồng cây trong túi Loại giá thể này được sử dụng trồng nhiều loại rau ăn lá, rau ăn quả như cà chua, dưa leo, ớt, rau cải…cho năng suất cao nhưng hiệu quả không cao do giá thành đắt (Vũ Quang Sáng và ctv, 2007)
2.3.5 Ảnh hưởng của các điều kiện bên ngoài đến việc hấp thu dinh dưỡng trong phương pháp thủy canh
2.3.5.1 Nhiệt độ
Do nhiệt độ có ảnh hưởng lên tất cả các quá trình sống của cây nên rất khó nếu muốn tách riêng quan hệ giữa nhiệt độ và quá trình hút khoáng Người ta thấy rằng khi nhiệt độ ở mức giới hạn hẹp thì làm tăng sự hút các chất dinh dưỡng Nhiệt độ đã ảnh hưởng lên quá trình trao đổi chất, lên quá trình liên kết giữa các phân tử trong chất nguyên sinh với các nguyên tố khoáng (Nguyễn Ngọc Trì, 2007)
Trang 302.3.5.2 Ánh sáng
Ánh sáng có ảnh hưởng rất mạnh tới việc hút chất khoáng Thí dụ nếu để cây bắp trong tối bốn ngày thì nó không còn khả năng hút P và khả năng này chỉ được phục hồi dần khi đưa cây bắp ra ngoài sáng Ánh sáng có ảnh hưởng mạnh tới sự hấp thu NH4 hơn là đối với NO3(Nguyễn Ngọc Trì, 2007)
Mặt khác ánh sáng còn ảnh hưởng tới cường độ quang hợp, khi tăng cường độ ánh sáng thì cường độ quang hợp tăng theo và sau đó nếu tiếp tục tăng cường độ ánh sáng thì cường độ quang hợp giảm dần (Nguyễn Ngọc Trì, 2007)
Theo Nguyễn Kim Thanh và Nguyễn Thuận Châu (2005) thì khi bắt đầu có ánh sáng thì cũng bắt đầu có quang hợp, nhưng lúc này cường độ quang hợp (Iqh) rất thấp
và luôn nhỏ hơn cường độ hô hấp (Ihh) Khi cường độ ánh sáng tăng dần thì Iqh cũng tăng dần, nhưng vì cường độ hô hấp tối không phụ thuộc vào ánh sáng nên không tăng
Iqh tăng đến một mức nào đó thì Iqh = Ihh Cường độ ánh sáng là tại đó Iqh = Ihh gọi là điểm bù ánh sáng của quang hợp Chỉ khi cường độ ánh sáng lớn hơn điểm bù thì Iqh >
Ihh và lúc đó cây tích lũy vào năng suất
2.3.5.3 Nước
Hàm lượng nước trong cây rau lớn chiếm từ 75 – 95 %, vì vậy có thể nói nước
là nguyên nhân hạn chế lớn nhất đến năng suất, chất lượng cây rau hơn bất kỳ yếu tố nào khác (Tạ Thu Cúc, 2005)
Nước pha dung dịch dinh dưỡng càng tinh khiết càng tốt, đảm bảo không ảnh hưởng xấu làm thay đổi thành phần các nguyên tố của dinh dưỡng đem pha ban đầu Nếu nước quá kiềm hay hay quá axit thì chất dinh dưỡng hòa tan trong nước sẽ giảm
và cây trồng không hấp thu được dinh dưỡng (Winterborne, 2005)
2.3.5.4 pH dung dịch
Độ pH dung dịch ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng hấp thu khoáng chất của cây trồng Nếu pH cao sẽ làm giảm khả năng hấp thụ Fe, Mn, Bo, Cu, Zn pH thấp sẽ làm giảm khả năng hấp thụ K, S, Ca, Mg (Winterborne, 2005)
Sự thay đổi pH trong dung dịch dinh dưỡng thường xảy ra khá nhanh, phụ thuộc vào độ lớn của hệ thống rễ và thể tích dinh dưỡng của một cây Do đó nên kiểm tra thường xuyên pH dung dịch và thực hiện các hình thức kiểm tra này vào thời điểm nhiệt độ giống nhau bởi vì pH của môi trường có thể dao động theo ánh sáng và nhiệt
Trang 31độ vào ban ngày là nguyên nhân làm pH tăng, và khi trời tối hoạt động hô hấp của cây tăng là nguyên nhân làm pH hạ xuống
Theo Van Patten (2004), hầu hết các cây trồng thủy canh phát triển tốt với
khoảng pH dung dịch thay đổi từ 5,5 - 6,5
Khoảng pH từ 5,5 - 5,8 là điều kiện tốt nhất cho cây xà lách phát triển (http://www.howardresh.com)
2.3.5.5 Độ dẫn điện EC (Electrical conductivity)
Theo Van Patten (2004), chỉ số EC diễn tả tổng nồng độ ion hòa tan trong dung dịch, không thể hiện được nồng độ của từng thành phần riêng biệt Theo Vũ Quang Sáng và ctv (2005), EC là số đo của phần muối hòa tan trong dung dịch dinh dưỡng thủy canh, EC là một nhân tố dẫn điện, giá trị của EC cho biết chỉ số của chất dinh dưỡng có mặt trong dung dịch mà chúng chuẩn bị hấp thu bởi rễ
Trong suốt quá trình tăng trưởng, cây hấp thu khoáng chất mà chúng cần, do vậy duy trì EC ở một mức ổn định là rất quan trọng Nếu dung dịch có chỉ số EC cao thì sự hấp thu nước của cây diễn ra nhanh hơn sự hấp thu khoáng chất, hậu quả là nồng
độ dung dịch sẽ rất cao và gây độc cho cây Khi đó ta phải bổ sung thêm nước vào môi trường Ngược lại, nếu EC thấp, cây sẽ hấp thu khoáng chất nhanh hơn hấp thu nước
và khi đó ta phải bổ sung thêm khoáng chất vào dung dịch (Keith Roberto, 2003)
Theo khuyến cáo của những nhà chuyên môn thì giá trị EC thích hợp cho hầu hết các loại cây trồng thủy canh là 0,5 - 2,5 mS.cm-1 (Vũ Quang Sáng và ctv, 2007) v (http://www.howardresh.com)
2.4 Tình hình trồng cây thủy canh trên thế giới và Việt Nam
2.4.1 Tình hình thế giới
Trồng cây trong dung dịch (thủy canh) được Boyle nghiên cứu đầu tiên năm
1666, ông trồng cây trong những lọ con chỉ có nước mà cây vẫn sống Sau đó (1969), John Woodwald đã trồng cây bạc hà trong nước có độ tinh khiết khác nhau và ông đã nhận xét rằng cây trồng trong nước tự nhiên (không tinh khiết) tốt hơn trong nước tinh khiết (nước cất) và cây sinh trưởng tốt khi cây trồng trong nước đục (dung dịch đất) Weighman (1771 – 1853), Polstoff (1781 – 1844), Boussingault (1802 – 1887) là những người trồng cây trên các giá thể trơ (cát, sỏi…) và dung dịch dinh dưỡng để tưới cho cây (Vũ Quang Sáng và ctv, 2007)
Trang 32Bảng 2.5: Tình hình sản xuất thủy canh của một số nước trên thế giới
Tên nước Năm Diện tích
Hà Lan 1987 3.500 Cà chua, cà tím, dưa leo, ớt, hoa cắt cành, đậu,
rau diếp
2001 10.000 Cà chua, dưa leo, ớt, hoa cúc, cà tím, đậu, rau
diếp, dâu tây, củ cải, hoa hồng, phong lan, cẩm chướng
Tây Ban Nha 1996 1.000 Rau diếp, dưa leo, ớt, cà chua
Canada 1987 100 Cà chua, dưa leo, rau diếp
2001 2.000 Cà chua, dưa leo, ớtPháp 1996 1.000 Dưa leo, ớt, cà chua, hoa cắt cành
Nhật 1984 293 Cà chua, hành lá, dưa hương, rau diếp, dưa leo
tây, dưa leo, rau diếp
Đức 1996 560 Hoa cắt cành, dâu tây, cà chua
2001 460 Cà chua, dưa leo, ớt, hoa cắt cành Newzealand 1996 200 Ớt, dưa chili, dưa leo, dâu tây, rau diếp
2001 550 Hoa cắt cành, cà chua, rau diếp, dưa leo, dâu tây,
cây dược liệu
Nam phi 1984 75 Cà chua, dưa leo, rau diếp, hoa
1996 420 Cà chua, dưa leo, rau diếp
Trung quốc 1987 5 Cà chua, dưa leo, rau diếp, ớt
1999 120 Cà chua, dưa leo, cần tây, ớt, rau diếp, cải
soong, rau thơm
1999 60 Cà chua, dưa leo, rau diếp, ớt
Trang 33Theo Hassall và ctv (2001), tình hình sản xuất thủy canh của một số nước trên thế giới được trình bày ở bảng 2.5 cho thấy:
- Sản xuất thủy canh bị cho phối bởi các nước phát triển phương Tây
- Các khu vực trên thế giới sản xuất thủy canh tăng từ bốn đến năm lần trong những năm cuối thập niên 1980 đến năm 2000
- Các loại cây trồng sản xuất thủy canh chủ yếu là cà chua, dưa leo, hoa, rau diếp và ớt
Tổng diện tích : Cuối thập niên 1980: 5.000 đến 6.000 ha
Năm 2001: 20.000 đến 25.000 ha Theo Vũ Quang Sáng và ctv (2007):
+ Nhật Bản là nước phát triển trồng cây không dùng đất khá phổ biến, người Nhật chỉ ăn dâu tây trồng thủy canh cũng như trồng các loại rau quả khác cho năng suất đạt kỷ lục cao: cà chua 130 -140 tấn/ha/năm, dưa leo 250 tấn/ha/năm và xà lách
70 tấn/ha/năm
+ Ở Pháp, đến năm 1975 việc trồng cây không dùng đất chỉ giới hạn trong nghiên cứu và những ứng dụng đặc biệt, tổng diện tích chỉ khoảng 10 ha Ngày nay nước Pháp đang phát triển mạnh kỹ thuật trồng cây không dùng đất cho hoa và rau ăn
lá, rau ăn quả với diện tích trên 300 ha
+ Hà Lan là nước phát triển công nghệ trồng cây không dùng đất mạnh nhất thế giới, tổng diện tích trên 3.600 ha Nam Phi trên 400 ha, Anh, Ý, Tây Ban Nha, Hàn Quốc, … mỗi nước có hàng trăm ha trồng cây trong dung dịch
+ Ở Mỹ người ta ươm cây giống thuốc lá trong khay nổi, giá thể trong khay thường làm bằng than bùn trộn lẫn với các than thực vật, perlite để sản xuất hàng triệu cây giống thuốc lá có chất lượng cao trước khi đem ra ngoài đồng ruộng
Năm 1997, Sakuma và Suzuki nghiên cứu hệ thống thủy canh kiểu mao dẫn với tên gọi: “Energy - saving Hydroponic” ở vùng Đông Bắc Thái Lan trên cây rau diếp
Hệ thống được sử dụng đơn giản, vật liệu dễ kiếm tại các chợ ở Thái Lan, giá thể sử dụng trong hệ thống là hỗn hợp xơ dừa và cát Lượng dinh dưỡng cây rau tiêu thụ có thể kiểm soát được, tuần đầu tiên khoảng 42 – 54 ml/cây/ngày, tuần sau cùng trước khi thu hoạch khoảng 72 – 112 ml/cây/ngày Trọng lượng trung bình cây rau diếp sau 37
ngày gieo là 75 g, với lượng dinh dưỡng tiêu thụ là 2,8 lít
Trang 342.4.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Theo Vũ Quang Sáng và ctv (2007), Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội có
600 m2 nhà lưới do dự án KC.07.20 đầu tư để nghiên cứu và sản xuất rau an toàn theo công nghệ trồng cây không dùng đất Tại đây nghiên cứu và sản xuất rau ăn lá và rau
ăn quả như súp lơ xanh, dưa leo, cà chua, xà lách thu được kết quả khả quan Trung tâm công nghệ cao Kiến An (Hải Phòng) cũng xây dựng gần 8.000 m2 nhà lưới tiên tiến để sản xuất rau an toàn theo công nghệ này
Bảng 2.6: Năng suất rau diếp trồng thủy canh của trường Đại học Nông Nghiệp I Hà
Nội
g/0,25 m2 Kg/m2Lectuce
Lý Bảo Vinh và Nguyễn Vũ Hoàng Uyên là sinh viên ngành Công nghệ sinh, trường Đại học Khoa Học Tự Nhiên, đã nghiên cứu về đề tài trồng cây trong dung dịch Chỉ 5 ml dung dịch là có cây đẹp và tươi tốt trong phòng, khỏi cần tưới 2 - 3 tuần (Kinh tế nông thôn, 2008)
Phương pháp trồng thủy canh cũng được một số hộ nông dân thực hiện đạt năng suất cao Ông Nguyễn Văn Đẹp (ở Bến Cát, Bình Dương) trồng 2.000 m2 cà chua theo
Trang 35phương pháp thủy canh trong nhà lưới ngăn chặn sự xâm nhập của côn trùng, hệ thống nước và phân bón hòa tan với nồng độ thích hợp được tưới nhỏ giọt hoàn toàn tự động (Mễ Thuận, 2008)
Bộ môn Sinh lý - Sinh hóa khoa Nông học trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh nghiên cứu về thiết lập mô hình sản xuất thủy canh cho cây rau (xà lách, ớt, cà chua), hoa (cẩm chướng, lily, cúc), cây ăn trái (dâu tây) đạt kết quả khả quan: mô hình trồng thủy canh cải ngọt, dâu tây kiểu mao dẫn trên giá thể xơ dừa; mô hình thủy canh cây ớt kiểu nhỏ giọt trong chậu trên giá thể xơ dừa kết hợp bên ngoài trồng hoa cẩm chướng trên luống xơ dừa
- Kết quả thí nghiệm của Đoàn Quang Thanh (2004) “Nghiên cứu cải tiến hệ thống thủy canh hồi lưu nhỏ và khảo ảnh hưởng của các kích cỡ ống đỡ đến sinh
trưởng của cây rau muống hạt (Ipomoea aquatica) trong môi trường dinh dưỡng Murashige – Skoog (MS) trên hệ thống thủy canh hồi lưu nhỏ cải tiến” chọn được 3
loại kích cỡ ống khác nhau là 34 mm, 42 mm, 49 mm để làm ống trồng cây cho hệ thống Hệ thống sau khi cải tiến hoạt động rất an toàn, dung dịch trong hệ thống được bơm tuần hoàn thông suốt, hiện tượng bị nghẹt bởi rác hay sỏi hiếm xảy ra, và nếu có thì dung dịch vẫn không tràn ra ngoài, hệ thống bố trí được nhiều ống trồng cây và trên mỗi ống tận dụng tối đa diện tích ống để trồng cây, nên gia tăng được năng suất cây trồng
- Kết quả thí nghiệm của Nguyễn Thị Thúy Nga (2008) “Khảo nghiệm một số
công thức dung dịch dinh dưỡng trồng cây cải ngọt (Brassica chinensis L.) trên giá thể
xơ dừa dùng hệ thống thủy canh kiểu mao dẫn” cho biết công thức dinh dưỡng NQ có ảnh hưởng tốt đến sự sinh trưởng phát triển trên cây cải ngọt cao hơn các công thức Hoaglan, Alan Cooper, Arnon và Hoaglan Các chỉ tiêu năng suất (trọng lượng trung bình cây, năng suất 1 ô thí nghiệm, năng suất lý thuyết, năng suất thực thu) đạt cao nhất ở môi trường dinh dưỡng NQ, thấp nhất ở môi trường Alan Cooper
2.5 Môi trường dung dịch dinh dưỡng cho thủy canh
2.5.1 Khái niệm dung dịch dinh dưỡng
Khái niệm dung dịch dinh dưỡng có thể hiểu là hỗn hợp các muối khoáng và các chất hữu cơ hòa tan trong nước Đối với việc trồng cây tự dưỡng (các cây xanh có khả năng quang hợp) thì dung dịch dinh dưỡng cần thiết cho sự sinh trưởng và phát
Trang 36triển bình thường của cây chỉ cần gồm các nguyên tố dinh dưỡng khoáng – các nguyên
tố khoáng đa lượng và vi lượng Dung dịch dinh dưỡng gồm tất cả các nguyên tố đa
lượng và vi lượng gọi là dung dịch dinh dưỡng đầy đủ, dung dịch dinh dưỡng thiếu
một số nguyên tố nào đó gọi là dung dịch dinh dưỡng không đầy đủ (Vũ Văn Vụ,
1999)
2.5.2 Thành phần dinh dưỡng khoáng
Cùng với nước dinh dưỡng khoáng là thành phần rất quan trọng, là cơ sở quyết
định sự tồn tại, sinh trưởng, phát triển, năng suất và phẩm chất của cây Rễ và lá là các
cơ quan chủ yếu có khả năng hấp thu các chất dinh dưỡng để cung cấp cho sự chuyển
hóa, tạo mới các yếu tố cấu trúc, duy trì các hoạt động của chúng trong cây và tạo nên
các sản phẩm thu hoạch Các chất dinh dưỡng được cây hút chủ yếu dưới dạng các ion
khoáng hòa tan có trong dung dịch đất (Vũ Quang Sáng và ctv, 2007)
Cây cần 16 nguyên tố cho sự tăng trưởng và các chất dinh dưỡng khác có thể
được cung cấp từ không khí, nước và phân bón 16 nguyên tố đó là C, H, O, P, K, N,
S, Ca, Fe, Mg, B, Mn, Cu, Zn, Mo, Cl Chìa khóa để quản lý thành công một loại phân
bón là đảm bảo cung cấp chúng đầy đủ nồng độ của các chất dinh dưỡng trong suốt
chu kỳ sống của cây trồng Cung cấp không đủ hoặc quá nhiều chất dinh dưỡng sẽ làm
giảm năng suất cây trồng, lãng phí tiền bạc, phân bón, và gây ô nhiễm môi trường khi
phân bón được xả ra trong hệ thống cung cấp chất dinh dưỡng
(http://edis.ifas.ufl.edu/cv216)
2.5.3 Chuẩn bị dung dịch dinh dưỡng
Sự chuẩn bị dung dịch dinh dưỡng nói chung rất đơn giản Phần lớn các trường
hợp cần thiết phải hòa tan các muối khoáng theo thứ tự nhất định Sau đó đổ dồn vào
một bình lớn, khuấy đều, rồi đổ nước cất đến mức nhất định để đạt được nồng độ dung
dịch nhất định (Vũ Văn Vụ, 1999)
2.5.4 Giới thiệu một số môi trường dinh dưỡng
Theo Vũ Văn Vụ (1999), có một số dung dịch dinh dưỡng đầy đủ:
- Dung dịch do Alten và những người cộng tác (1939) chuẩn bị và thí nghiệm:
Trang 37Ca(H2PO4)2 không ngậm nước 0,117 g/l
Cây thí nghiệm: Cà chua
Theo Vũ Quang Sáng và ctv (2007), dung dịch dinh dưỡng đầu tiên để trồng
cây do nhà sinh lý thực vật Knop sản xuất vào giữa thế kỷ 19 (gọi là dung dịch Knop)
Loại dung dịch này có thành phần rất đơn giản chỉ gồm 6 muối vô cơ, trong đó chứa
các muối vi lượng Sau đó hàng loạt các dung dịch dinh dưỡng để nuôi trồng cây ra
đời từ dung dịch đơn giản nhất như dung dịch Hoagland - Arnon chỉ gồm 4 hợp chất
Trang 38muối vô cơ cho đến những dung dịch phức tạp gồm hàng loạt muối vô cơ khác nhau
như dung dịch của Arnon, của Sisnadze, của Olsen,…Ngày nay người ta đã sử dụng
rất nhiều loại dung dịch khác nhau, tùy theo từng loại cây mà sử dụng dung dịch cho
thich hợp Tuy nhiên mỗi dung dịch dinh dưỡng trồng cây thì các muối khoáng đều
được lựa chọn sao cho có một tỷ lệ thích hợp giữa các nguyên tố trong dung dịch và
tránh hiện tượng đối kháng ion Tất cả các dung dịch đều có một nồng độ nhất định
theo % hoặc theo mol hay g/lít và mg/lít Một số hỗn hợp dinh dưỡng phổ biến để
Trang 39Theo Keith Roberto (2003), có 3 công thức dinh dưỡng dùng cho 3 giai đoạn
sinh trưởng của cây được trình bày ở bảng 2.5
Bảng 2.7: Thành phần dinh dưỡng cho rau, cây ăn quả và hoa
Trọng lượng (g/lít) Giai đoạn sinh
trưởng sinh dưỡng
Giai đoạn sinh trưởng sinh thực
Giai đoạn ra hoa
Trang 40Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM
3.1 Thời gian và địa điểm thực hiện
3.2 Điều kiện khí hậu thời tiết trong thời gian thí nghiệm
Bảng 3.1: Các yếu tố khí hậu thời tiết trong thời gian thí nghiệm
trung bình (0 C)
Lượng mưa trung bình (mm)
Ẩm độ trung bình (%)
Tổng số giờ nắng (giờ)
3.3 Vật liệu thí nghiệm
3.3.1 Giống và vật liệu gieo hạt
- Giống:
+ Thí nghiệm 1: Giống xà lách cao sản VK 22 của công ty Vinh Nông
+ Thí nghiệm 2: Giống xà lách cao sản Dream của công ty East West Seed International