Ngoài sinh sản bằng hạt, nhiều loài cỏ đa niên còn sinh sản bằng các phần của các cơ quan dinh dưởng được tách ra khỏi cây mẹ như một đoạn thân hoặc một khúc Ngoài nhóm cỏ hàng niên, có
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 2KHẢO SÁT HIỆU LỰC DIỆT CỎ CỦA HỖN HỢP THUỐC PENOXSULAM VÀ PENDIMETHALIN XỬ LÝ LÚC 7
NGÀY SAU SẠ TRÊN RUỘNG LÚA VỤ HÈ THU 2011 TẠI XÃ LONG ĐỊNH HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TIỀN GIANG
Tác giả
LÊ XUÂN ÁI
Khoá luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng kỹ sư nông nghiệp ngành
Trang 3Chân thành cảm ơn ban giám đốc và cán bộ công nhân viên Trung Tâm BVTV phía Nam đã trực tiếp giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn bạn bè đã giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Trang 4TÓM TẮT
- Lê Xuân Ái, Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh, tháng 2- 6/2011, Đề tài “Khảo sát hiệu lực diệt cỏ của hỗn hợp thuốc Penoxsulam và Pendimethalin xử lý lúc 7 ngày sau sạ vụ hè thu 2011 tại xã Long Định huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang” dưới sự hướng dẫn của Ths Lâm Thị Mỹ Nương và KS Nguyễn Hữu Trúc
- Mục tiêu và nội dung nghiên cứu:
Mục đích
+ Tìm ra hỗn hợp Penoxsulam và Pendimethalin với liệu lượng thích hợp để
khuyến cáo sử dụng diệt cỏ dại trên ruộng lúa sạ
Yêu cầu
+ Xác định thành phần và mật số cỏ dại hiện diện trên ruộng thí nghiệm
+ Xác định hiệu lực của các thuốc thí nghiệm thông qua chỉ tiêu về mật số và trọng lượng cỏ tươi
+ Xác định độc tính của thuốc thí nghiệm với lúa
+ Ảnh hưởng của các thuốc thí nghiệm đến sinh trưởng và năng suất lúa
- Thí nghiệm được tiến hành ở xã Long Định huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCBD) với 15 nghiệm thức
và 4 lần lặp lại
- Kết quả thu được:
+ Thành phần, mật độ và mức độ phổ biến của các loài cỏ
Trên ruộng thí nghiệm thực hiện tại xã Long Định Huyện Châu Thành Tỉnh
Tiền Giang hiện diện loại cỏ là: Cỏ lồng vực (Echinochloa crus-galli), cỏ đuôi phụng (Leptochloa chinensis), cỏ cháo (Cyperus difformis), cỏ chác (Fimbristylis miliacea), rau mương (Ludwigia octovalvis) Xà bông (Sphaenoclea zeylanica) Trong đó cỏ đuôi
phụng, cỏ chác hiện diện ở mức độ phổ biến Cỏ lồng vực, cỏ cháo, rau mương, xà bông hiện diện ở mức độ ít phổ biến
Trang 5+ Về hiệu quả diệt cỏ của các thuốc thí nghiệm: các loại thuốc trừ cỏ được xử lý vào thời điểm 7 ngày sau sạ đều có tác dụng diệt cỏ cao trong đó:
Đối với cỏ lồng vực: Penoxsulam+Pendimethalin (0,50 +1 l/ha) có hiệu lực cao
Đối với cỏ chác: Penoxsulam+Pendimethalin (0,50+0,50 l/ha), Penoxsulam+Pendimethalin (0,50 +1 l/ha) có hiệu lực cao nhất (100%)
Thuốc Penoxsulam +Pendimethalin (0,375+1,0 l/ha; 0,5+0,5 l/ha; 0,5+1,0 l/ha) gây ngộ độc rất rõ nhưng chưa gây chết cây sau 1 ngày xử lý ở cấp 3 - 4 tăng lên 4 - 5 sau 2 ngày sau xử lý, mức độ ngộ độc cấp 4- 5 kéo đến 28 ngày Sau 28NSXL thì không còn dấu hiệu ngộ độc
NT14 (Turbo 89 OD) cũng bị ngộ độc, mức độ ngộ độc cấp 3 (3NSXL), tăng lên cấp 4 (5NSXL), mức độ ngộ độc kéo dài đến 28NSXL Sau 28NSXL thì không còn dấu hiệu ngộ độc nữa
+Về năng suất thực tế
Các nghiệm thức có phun thuốc trừ cỏ năng suất đạt từ (5,2 -7,4 tấn/ha) Riêng nghiệm thức đối chứng năng suất chỉ đạt (4,7 tấn/ha)
Trang 6Mục lục Trang
Trang bìa i
Lời cảm ơn ii
Tóm tắc iv
Mục lục v
Danh sách các chữ viết tắt vii
Danh sách các bảng viii
Danh sách các hình và biểu đồ ix
CHƯƠNG I GIỚI THIÊU 1
1.1 Đặc vấn đề 1
1.2 Mục đích và giới hạn của đề tài 2
1.2.1Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
CHƯƠNG II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Sơ lược về cỏ dại 3
2.2.1 Khái niệm về cỏ dại 3
2.1.2 Phân loại cỏ dại 3
2.2 Đặc điểm của cỏ dại trên ruộng lúa 7
2.3 Tác động của cỏ dại 11
2.3.1 Tác hại của cỏ dại 12
2.3.2 Lợi ích của cỏ dại 14
2.4 Biện pháp phòng trừ 14
2.4.1 Biện pháp canh tác 14
2.4.2 Biện pháp vật lý, cơ giới 15
2.4.3 Biện pháp hoá học 15
CHƯƠNG III : VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP 25
3.1 Điều kiện thí nghiệm 25
3.2 Vật liệu 27
3.3 Phương pháp khảo nghiệm 27
3.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 27
3.3.2 Kỹ thuật canh tác 31
Trang 73.3.3 Thu thập số liệu 31
3.3.3.1 Xác định thành phần, mật số các loài cỏ dại trên ruộng thí nghiệm 31
3.3.3.2 Xác định hiệu lực của thuốc diệt cỏ trên ruộng lúa 32
3.3.3.3 Ảnh hưởng của thuốc thí nghiệm đến sinh trưởng và năng suất lúa 32
3.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 34
CHƯƠNG IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35
4.1 Thành phần, mật số và mức độ phổ biến của các loại cỏ trên ruộng thí nghiệm 35
4.2 Đặc điểm hình thái của các loại cỏ trên ruộng thí nghiệm 36
4.3 Đánh giá hiệu lực của các loại thuốc cỏ 41
4.3.1 Ảnh hưởng của các loại thuốc đến mât số cỏ 41
4.3.2 Ảnh hưởng của các loại thuốc đến trọng lượng cỏ tươi 55
4.3.3 Hiệu lực diệt trừ cỏ của từng loại thuốc theo mật số và trọng lượng cỏ tươi 58
4.4 Ảnh hưởng của các loại thuốc đến sinh trưởng và năng suất lúa 72
4.4.1 Độc tính đối với lúa 72
4.4.2 Ảnh hưởng của các loại thuốc đến sinh trưởng của cây lúa 77
4.4.3 Ảnh hưởng của các loại thuốc đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 79
CHƯƠNG V : KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 81
5.1 Kết luận 81
5.2 Kiến nghị 82
Tài liệu tham khảo 83
Phụ lục 84
Trang 8NSLT Năng suất hạt lý thuyết
NSTT Năng suất hạt thực thu
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng Trang
Bảng 2.1 Thời gian nẩy mầm của một số loại cỏ phổ biến vụ
đông xuân 1997 -1998 tại Long Định-Châu Thành-Tiền Giang 23
Bảng 3.1 Diễn biến thời tiết trong thời gian thí nghiệm 23
Bảng 3.2 Các nghiệm thức tham gia thí nghiệm 30
Bảng 3.4 Phân cấp độ độc của thuốc đối với lúa 34
Bảng 4.1 Thành phần, mật số và mức độ phổ biến các loại cỏ 35
Bảng 4.2 Ảnh hưởng của các loại thuốc đến mật số lồng vực 44
Bảng 4.3 Ảnh hưởng của các thuốc đến mật số cỏ đuôi phụng 47
Bảng 4.4 Ảnh hưởng của các loại thuốc đến mật số rau mương 50
Bảng 4.5 Ảnh hưởng của các loại thuốc đến mật số cỏ cháo 51
Bảng 4.6 Ảnh hưởng của các loại thuốc đến mật số chác 54
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của các loại thuốc đến trọng lượng cỏ tươi 57
Bảng 4.8 Hiệu lực diệt cỏ của các loại thuốc tính theo mật số lồng vực 60
Bảng 4.9 Hiệu lực diệt cỏ của các loại thuốc tính theo mật số cỏ đuôi phụng 63
Bảng 4.10 Hiệu lực diệt cỏ của các loại thuốc tính theo mật số rau mương 65
Bảng 4.11 Hiệu lực diệt cỏ của các loại thuốc tính theo mật số cháo 67
Bảng 4.12 Hiệu lực diệt cỏ của các thuốc tính theo mật số chác 69
Bảng 4.13 Hiệu lực diệt cỏ từng loại thuốc tính theo trọng lượng cỏ tươi 70
Bảng 4.14 Cấp độ độc của cây lúa quan sát bằng mắt thường 76
Bảng 4.15 Ảnh hưởng của các loại thuốc đến các chỉ tiêu sinh trưởng 78
Bảng 4.16 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 80
Trang 10DANH SÁCH CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
Hình Trang
Hình 3.1 San phẳng mặt ruộng trước khi sạ 28
Hình 3.2 Đắp bờ các nghiệm thức 28
Hình 3.3 Thuốc thí nghiệm 29
Hình 4.1 Cỏ lồng vực trên ruộng thí nghiệm 36
Hình 4.2 Cỏ đuôi phụng trên ruộng thí nghiệm 37
Hình 4.3 Cỏ chác trên ruộng lúa 38
Hình 4.4 Cỏ cháo trên ruộng thí nghiệm 49
Hình 4.5 Rau mương trên ruộng thí nghiệm 40
Hình 4.6 Cỏ xà bông trên ruộng thí nghiệm 41
Hình 4.7 Xử lý thuốc (7NSS) 43
Hình 4.8 Toàn cảnh khu thí nghiệm (50NSS) 43
Hình 4.9 Cỏ đuôi phụng trước trổ giữa NT12 56
Hình 4.10 Cỏ ở ô đối chứng 7NSXL 59
Hình 4.11 Cỏ đuôi phụng ở ô đối chứng (42NSXL) 62
Hình 4.12 Cỏ ở nghiệm thức 12 62
Hình 4.13 Toàn cảnh khu thí nghiệm (28NSXL) 68
Hình 4.14 Cây lúa bị ngộ độc ở NT12 73
Hình 4.15 Nghiệm thức bị ngộ độc NT11 74
Hình 4.16 NT12(Penoxsulam+Pendimethalin (0,50 +1 l/ha)) 3 NSXL 74
Hình 4.17 Nghiệm thức 12 75
Hình 4.18 Các nghiệm thức trước khi trỗ 75
Trang 11Chương I GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Hiện nay tuy có rất nhiều cây khác nhau có thể được dùng làm lương thực, tuy
nhiên vẫn chưa có loại cây nào có thể thay thế được cây lúa (Oryza sativa L.) Trên thế
giới, cây lúa được 250 triệu nông dân trồng, là lương thực chính của 1,3 tỉ người nghèo nhất trên thế giới Là nguồn cung cấp năng lượng lớn nhất cho con người, bình quân 180 - 200 kg gạo/người/năm tại các nước châu Á, khoảng 10 kg/người/năm tại các nước châu Mỹ.(Trích dẩn bởi Hoàng Thị Quỳnh, 2009)
Ở Việt Nam, dân số trên 80 triệu và 100% người Việt Nam sử dụng lúa gạo làm lương thực chính Theo số liệu thống kê của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn về diện tích trồng lúa cả nước trong giai đoạn năm 2006 - 2009 chúng ta có thể nhận thấy diện tích trồng lúa không giảm mà lại có chiều hướng tăng cụ thể như sau:
2006 : 7324,8 ngàn ha, 2007: 7207,4 ngàn ha, 2008 : 7400,2 ngàn ha, 2009: 7440,1 ngàn ha Năng suất cũng ngày càng được nâng cao 2006 : 48,9 tạ/ha, 2007 : 49,9 tạ/ha,
2008 : 52,3 tạ/ha, 2009 : 52,3 tạ/ha Tuy đã có sự gia tăng đáng kể trong những năm gần đây nhưng năng suất lúa ở nước ta vẫn còn thấp hơn nhiều nước trên thế giới Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này như: giống, sâu, bệnh, cỏ dại Trong đó cỏ dại là vấn đề cần được hết sức quan tâm, đặt biệt là trong điều kiện dân số tăng nhanh như hiện nay để đảm bảo an ninh lương thực và nâng cao đời sống của người nông dân thì nghề trồng lúa cần được nghiên cứu và phát triển hơn nữa trong đó vấn đề phòng trừ cỏ dại cần được chú trọng hơn nữa Theo nghiên cứu của viện lúa gạo quốc tế (IRRI ) cỏ dại có thể làm giảm năng suất 44 – 96 % tùy biện pháp canh tác, làm giảm phẩm chất của lúa gạo Cỏ dại cạnh tranh dinh dưỡng, ánh sáng, nước làm giảm năng suất lúa Nhiều loại cỏ dại còn là ký chủ phụ của mầm bệnh
Trang 12Theo thống kê của các trồng lúa ở châu Á thì cỏ dại có thể làm giảm đến 50% năng suất nếu không có biện pháp phòng trừ
Trong các nhóm cỏ có mặt trên ruộng lúa thì nhóm cỏ hòa bản là phổ biến và gây thiện hại lớn nhất Hiện nay để tiến hành thâm canh tăng năng suất lúa thì vấn đề quản lý cỏ dại cần phải được đặt biệt quang tâm và có ý nghĩa to lớn đối với nghề
trồng lúa Nhận thức được vấn đề trên đề tài: “Khảo sát hiệu lực diệt cỏ của hỗn hợp thuốc Penoxsulam và Pendimethalin xử lý lúc 7 ngày sau sạ vụ hè thu 2011 tại xã
Long Định huyện Châu Thành tinh Tiền Giang” Đã được thực hiện
1.2 Mục đích và giới hạn của đề tài
1.2.1 Mục đích
- Tìm ra hỗn hợp Penoxsulam và Pendimethalin với liều lượng thích hợp để
khuyến cáo sử dụng diệt cỏ dại trên ruộng lúa sạ
1.2.2 Yêu cầu
- Xác định thành phần và mật số cỏ dại hiện diện trên ruộng thí nghiệm
- Xác định hiệu lực của các thuốc thí nghiệm thông qua chỉ tiêu về mật số và trọng lượng cỏ tươi
- Xác định độc tính của thuốc thí nghiệm với lúa
- Ảnh hưởng của các thuốc thí nghiệm đến sinh trưởng và năng suất lúa
Trang 13Chương II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Sơ lược về cỏ dại
2.1.1 Khái niệm về cỏ dại
Có nhiều định nghĩa về cỏ dại Theo Bùi Cách Tuyến cỏ dại là những loài thực vật mọc không đúng chổ mong muốn không do gieo trồng mà gây hại nhiều hơn sinh lợi Nó ảnh hưởng đến lợi ích của con người nhưng cũng có những giá trị chưa được biết đến Theo RAO (1998) cỏ dại là những cây mọc không đúng chổ ngoài ý muốn của con người cạnh tranh với cây trồng chính về nước, dinh dưởng, ánh sáng
Những thực vật mọc tự nhiên trên đồng ruộng như cỏ lồng vực cỏ lác hoặc mọc trên các cơ quan thực vật có ích như tằm gởi, tơ hồng lá những thực vật mọc ngoài ý muốn có ảnh hưởng xấu đến sinh trường, năng suất, phẩm chất của cây trồng gây tốn kém chi phí cho sản xuất…Có khả năng thích ứng với ngoại cảnh biến đổi, có tính chống chịu cao với ngoại cảnh khắc nghiệt (Phùng Đăng Chính, Dương Hữu Tuyền,
và Lê Trường (1978)
2.1.2 Phân loại cỏ dại
2.1.2.1 Phân loại theo hệ thống phân loại thực vật
Đây là phương pháp phân loại chuẩn của các nhà khoa học và các nhà cán bộ
kỹ thuật trên toàn thế giới Theo cách phân loại này tất cả các loài thực vật được sắp xếp theo nghành, lớp, bộ, họ, chi loài
Trang 14Đơn vị phân loại cơ sở của hệ thống phân loại này là loài (speccies) Khái niệm
về loài xuất phát từ thực tế quan sát sinh vật trong thiên nhiên sự giống và khác nhau giữa các cá thể
Có nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau về loài Một trong những định nghĩa tương đối hoàn chỉnh là định nghĩa của Komaro (1949): “loài là tập hợp của nhiều cá thể cùng xuất phát từ một tổ chung, trải qua quá trình đấu tranh sinh tồn và chọn lọc tự nhiên mà cách ly với các sinh vật khác đồng thời loài là giai đoạn nhất định trong quá trình tiến hóa chung của sinh vật Trong định nghĩa của mình Komaro
có đặc biệt nhấn mạnh đặc tính di truyền và sự phân bố của loài: “các cá thể cùng loài
có thể giao phối với nhau sinh ra các thế hệ con cái có khả năng sinh sản, mỗi loài có một khu vực phân bố riêng biệt”
Những loài có tính chất giống nhau, có tổ tiên chung hợp lại thành một đơn vị lớn hơn gọi là chi (genus) Cũng theo nguyên tắc chung về nguồn gốc, giống nhau về tính chất, các chi hợp thành họ (familia), họ hợp lại thành bộ (ordo), bộ hợp lại thành lớp (classis), lớp hợp lại thành ngành (divisio)
Đó là bậc phân loại chính ngoài ra.Trong phân loại học đôi khi người ta còn dùng các bậc phân loại trong gian như tông (tribus) là bậc giữa họ và chi, nhánh hay tổ (sectio) và loạt hay dây (series) là bậc trung gian giữa chi và thứ, thứ (varietas) và dạng (forma) là bậc dưới loài Ngoài ra, khi cần có thể thêm vào các bậc phụ, được ghi bằng cách thêm vào các tiếp đầu ngữ “sub” để chỉ các bậc trung gian thấp hơn hoặc
“super”để chỉ các bậc trung gian cao hơn
2.1.2.2 Theo IRRI (1978) cỏ dại được chia làm 3 nhóm
Nhóm hòa bản (Graminae)
Các loài thuộc nhóm này có đặc điểm sau:
- Lá dài và hẹp
- Gân là song song
- Lá đính trên thân theo 2 hàng
- Thân tròn và bọng ruột
Trang 15Các loài cỏ thuộc nhóm này như cỏ lồng vực( Echinochloa–sp), Cỏ đuôi phụng (Leptochloa chinensis), cỏ chỉ (Cynodon dactylon)
Nhóm chác lác (Cyperaceae)
Các loài cỏ thuộc nhóm này có đặc điểm sau:
- Lá dài và hẹp
- Gân là song song
- Lá đính trên thân theo 3 hàng
- Thân thường cứng hình tam giác đặc ruột
Các loài cỏ thuộc nhóm này như: cỏ cháo (Cyperus difformis), cỏ chác (Fimbristy
miliacea)
Nhóm cỏ lá rộng :
Nhóm này cũng hiện diện nhiều trên ruộng lúa, có cách sắp xếp là rất khác nhau, lá thường lớn và rộng và thường là cây 2 lá mầm.Nhóm này có kiểu sinh sản rất khác nhau thường sinh sản bằng hạt, đôi lúc cũng sinh sản bằng vô tính
Trong nhóm này có các loại cỏ như: mác bao (Monochoria vaginais ), Rau mương (ludwigia octovalvis)
2.1.2.3 Phân loại theo chu kỳ sinh trưởng
Trang 16có rễ nhưng mọc lên cũng ra hoa trong vòng một năm rồi chết, có thể để lại đốt thân mọc tiếp năm sau
Phần lớn cỏ dại trong ruộng lúa thuộc nhóm cỏ hằng niên do đặc điểm cày xới đất gieo cấy lúa nhiều lần trong năm Việc phòng trừ cỏ dại hàng năm tương đối dễ và
ít tốn kém, hiệu quả phòng trừ cao.Tốt nhất là diệt cỏ khi hạt mới mọc hoặc trước khi cây cỏ ra hoa bằng thuốc hóa học và nhiều biện pháp khác
- Nhóm cỏ đa niên (nhiều năm):
Chu kỳ sống trên một năm Thuộc nhóm này ở ruộng lúa cũng có nhiều họ lá hẹp và lá rộng như cỏ chỉ, cỏ ống , cỏ bắc (họ hòa bản ), cỏ u du, lác vôi ( họ chác lác), rau bợ, bèo cái, mác bao (nhóm lá rộng)
Ngoài sinh sản bằng hạt, nhiều loài cỏ đa niên còn sinh sản bằng các phần của các cơ quan dinh dưởng được tách ra khỏi cây mẹ như một đoạn thân hoặc một khúc
Ngoài nhóm cỏ hàng niên, có người còn chia thành nhóm cỏ nhị niên ( gồm những loài cỏ có chu kỳ sống hai năm)và nhóm cỏ đa niên (chu kỳ sống trên hai năm)
2.1.2.4 Phân loại theo địa hình
Cách phân loại này thường được những nhà canh tác học sử dụng Chia cỏ dại thành cỏ cạn, cỏ nước, cỏ trên đất trồng trọt, cỏ trong đồn điền Các nhóm cỏ này lại
có thể chia ra làm nhiều nhóm nhỏ
2.1.2.5 Phân loại dựa theo phương thức sống
Theo cách phân loại này cỏ dại được chia thành các nhóm tự dưởng và cỏ ký sinh Phần lớn có dại nằm trong nhóm thứ nhất Chúng có đủ cơ quan dinh dưởng như:rễ để hút nước, dinh dưởng , thân lá để quang hợp
Trang 17- Cỏ dại ký sinh:
Cỏ dại sống hoàn toàn dựa vào muối khoáng và chất hữu cơ do cây ký chủ cung
cấp: tơ hồng (Cuscuta) gọi là cỏ ký chủ hoàn toàn Cỏ dại có thể tự túc được một phần
dinh dưởng như cây tằm gởi ký sinh tên cây ăn quả
- Cỏ dại tự dưởng:
Phần lớn cỏ dại thuộc nhóm này có đầy đủ các cơ quan dinh dưởng như: rễ, thân, lá và được phân chia thành một lá mầm và hai lá mầm
Cỏ một lá mầm: lá của chúng thường hẹp, dày, mọc xiên, lá có lông Rễ thường
là rể chùm ăn nông đỉnh sinh trưởng được bao bọc trong bẹ lá như nhóm cỏ hòa bản là
cỏ một là mầm Một số cỏ dại trong nhóm này có những đặt điểm giống nhau như: cỏ cói lá hẹp mềm, mỏng
Cỏ hai lá mầm: lá của chúng thường rộng, nằm ngang, mỏng mềm ít lông, rễ thường là rể cọc ăn sâu điểm sinh trưởng để lộ ra ngoài như rau mác bao, cỏ xà bông
Tuy nhiên, cỏ một lá mầm và hai lá mầm có những đặc điểm giống nhau ở giai đoạn nhỏ, bộ rể ăn nông điểm sinh trưởng để lộ ra ngoài lúc mới mọc
2.2 Đặc điểm chung của cỏ dại trên ruộng lúa
Cỏ dại trên ruộng lúa có rất nhiều loài chúng có những đặc tính rất khác nhau tuy vậy người ta vẩn tìm thấy ở chúng những đặc điểm:
2.2.1 Cỏ dại có nhiều hình thức sinh sản
Cỏ dại có nhiều hình thức sinh sản thích ứng với từng điều kiện tự nhiên càng nhiều hình thức thì lan truyền càng mạnh và khi điều kiện tự nhiên thay đổi thì có ít nhất một hình thức sinh sản để lan truyền
Các hình thức sinh sản chủ yếu của cỏ dại:
Sinh sản hữu tính:là bộ phận chính để sinh tồn và phát triển
Sinh sản vô tính: thân bò (đoạn thân nhỏ dài phát triển trên măt đất tạo ra rễ và cây con) củ, thân và rễ
2.2.2 Cỏ dại có số hạt và số mầm rất cao
Nhìn chung số hạt của một cây cỏ dại thường lớn hơn một cây trồng rất nhiều
Trong đó đặc biệt một số loài như cỏ dền (Amaranthus Sp) có tới 500.000 hạt trên cây
Trang 18Từ một hạt cỏ lồng vực mọc thành cây chỉ sau 3 tháng có thể sinh ra 200 – 300 hạt cỏ mới Steven (1932) điều tra 101 cây cỏ hàng niên sản sinh 20.832 hạt (trung bình 206 hạt /cây ), 61 cây cỏ đa niên sản sinh 16.629 hạt (trung bình 272 hạt /cây)
Mầm trên một đoạn thân hay trên một đơn vị trọng lượng của cỏ dại sinh sản vô tính cũng nhiều hơn so với một đoạn thân cây trồng có chiều dài và trọng lượng tương đương Ví dụ như một mét dây khoang lang có 20 - 30 mầm ngủ trong khí với cùng chiều dài cỏ tranh có tới 100 – 150 mầm ngủ
2.2.3 Hạt cỏ dại dễ rụng và có nhiều hình thưc lan truyền
Sau khi chín hạt cỏ dại có thể rơi xuống đất Cỏ dại có thể lan truyền từ ruộng này sang ruộng khác, từ vùng này sang vùng khác, nước này sang nước khác và thậm chí từ châu lục này sang châu lục khác bằng nhiều con đường nhờ gió, nước, động vật,
Hạt cỏ cũng được người và súc vật mang đi phát tán một cách vô tình từ nơi này sang nơi khác Có những hạt cỏ nhỏ hoặc có lông, gai dính vào quần áo người hoặc lông trâu bò rồi truyền đi nơi khác như hạt cỏ chỉ, cỏ đuôi phụng Một số hạt cỏ
do trâu bò, chim, gà, vịt… Sau khi ăn vào ống tiêu hóa vẩn còn khả năng nẩy mầm sau khi được thải ra theo đường phân.trong phân chuồng bón vào ruộng lúa nếu chưa được
ủ hoai kỹ thường mang theo hạt cỏ Theo Harmon và Keim, tỉ lệ hạt cỏ còn khả năng nẩy mầm trong phân bò là 9,6% trong phân ngựa là 8,7 %
2.2.4 Tính miên trạng của cỏ dại
Ngủ nghỉ của cỏ dại là trạng thái ngừng phát triển giúp cho cỏ đảm bảo sự tồn sinh của nó Hiện tượng này gây khó khăn cho việc phòng trừ cỏ Hạt cỏ có thời kỳ ngủ nghỉ là thời kỳ cần thiết cho sự biến đổi, hình thành phôi mầm, phôi nhủ đầy đủ về
cơ quan ,về cấu tạo các thành phần sinh hóa, tỷ lệ và khôí lượng của chúng
Trang 192.2.5 Cỏ dại giữ sự nẩy mầm rất lâu
Rất nhiều loại cỏ dại có thể giữ sự nẩy mầm của mình sau 15 – 20 năm Ở Mỹ sau khi chôn 20 năm, 51 loại cỏ trong trong 107 loại thí nghiệm vẫn có những hạt nẩy
mầm thậm chí cỏ Vesbascublattara vẩn còn nẩy mầm được 70% ở năm thứ 80
Khả năng tồn tại của hạt cỏ trong đất cũng rất cao, nhiều thí nghiệm cho biết hạt
cỏ bị chôn trong đất có thể sống lâu vài năm cho đến hàng chục năm tùy theo loài Trong đất ruộng lúa hạt cỏ chỉ nước bị chôn sâu, sau 3 -5 năm nếu được đưa lên phía trên vẩn có thể nẩy mầm Khả năng tồn tại lâu của hạt cỏ chủ yếu do cấu tạo của vỏ hạt
ít bị thấm nước
Ở trong môi trường nước hạt cỏ vẩn có khả năng giữ sự nẩy mầm khá lâu Tuy vậy trong môi trường nước hạt cỏ không giữ được sự nẩy mầm lâu như trong môi trường đất và không khí
2.2.6 Hiện tượng nẩy mầm không đều
Sau khi làm đất gieo cấy, gặp điều kiện ánh sáng và nước đủ, một số hạt cỏ bắt đầu mọc và thường sau 7 – 10 ngày phần lớn mới mọc hết, còn lại một số ít tiếp tục mọc về sau, chậm nhất khoảng 15 ngày
Thời gian mọc mầm không đều do một số nguyên nhân :
- Do hạt chín không đều hạt chín trước sẽ nẩy mầm trước
- Số cây cỏ điều tra trên ruộng lúa (cây/m2)
(vụ đông xuân 1997 – 1998 tại Long Định – Châu Thành – Tiền Giang
Trang 20Bảng 2.1 Thời gian mọc mầm của một số loại cỏ phổ biến vụ đông xuân 1997 – 1998
tại Long Định – Châu Thành – Tiền Giang
Số ngày sau gieo Cỏ hòa bản Cỏ cháo, chác Rau mác bao
Độ sâu chôn vùi của hạt cỏ Các hạt cỏ ở phía trên mặt đất thường nẩy mầm sớm hơn các hạt cỏ bị vùi sâu, do có điều kiện nẩy mầm thuận lợi hơn (ánh sáng , nhiệt độ)
Do đặt điểm canh tác của ruộng lúa nước ( khi làm đất thường có nước, hạt cỏ nổi lên trên mặt đất, hoặc sạ chay không làm đất thì hạt cỏ không bị chôn vùi sâu)
2.2.7 Cỏ dại có tính biến động lớn và khả năng chống chịu cao
Cỏ dại có tính biến động lớn về sinh lý, hình thái và phản ứng với môi trường xung quanh.Đặt tính này của cỏ dại nhiều hơn cây trồng là do nó đã qua chọn lọc tự nhiên khá lâu và những biến đổi ngoại cảnh do con người tác động vào ruộng Các thay đổi đó có thể là:
- Thay đổi về chu kỳ sinh trưởng và thời gian phát dục
- Thay đổi về sinh trưởng và hình thái
Trang 21- Thay đổi về sinh lý
Bên cạnh đó cỏ dại còn có khả năng chống chịu với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt của thời tiết rất tốt như: chống lạnh, chống nóng, chịu hạn, chịu ngập nước Khả năng tồn tại ở đất xấu và nghèo dinh dưỡng.Trong ruộng bị thiếu phân bón và nước cây cỏ vẫn sống tốt hơn hẳn so với cây lúa Phạm vi nhiệt độ thích hợp của cây cỏ rộng hơn cây lúa Ở nhiệt độ thấp 10 – 12oC cây lúa có thể bị chết những cây cỏ vẩn ít bị ảnh hưởng
2.3 Tác động của cỏ dại
Trong nông nghiệp vùng nhiệt đới cỏ sinh trưởng và phát triển mạnh làm ảnh hưởng trực tiếp và tiêu cực đến khả năng sản xuất của các thực vật khác mà hiệu quả cạnh tranh này có thể mô tả rất rõ ràng bằng cách so sánh sản lượng của các ô thí nghiệm được làm cỏ và không làm cỏ
Trong quan hệ giữa cỏ dại với cây trồng, kiểu cỏ dại mức độ xâm nhiểm nhiều hay ít thay đổi với kiểu đất, nhiệt độ, hệ thống địa lý, kỹ thuật làm đất, loại cây trồng, phương pháp kiểm soát khác Ví dụ khi thay đổi các giống lúa truyền thống với đặc điểm thân cao lá mềm rủ bằng các giống hiện đại thân thấp lá đứng lá đứng làm cho ánh sáng chiếu được nhiều hơn trong tán khóm lúa cũng làm cho cỏ dại nẩy mầm và sống sót nhiều hơn hay mô hình bón phân cho lúa cao sản củng làm cho cỏ trong ruộng trở thành vấn đề quang trọng
Tổng kết của Smith (1983) tổn thất do cỏ dai gây ra ở các nước trồng lúa dao động từ 10 – 15 % sản lượng Theo Arai (Nhật Bản, 1972) lúa cấy mà không làm cỏ thì năng suất giảm từ 20 – 40 % lúa gieo không làm cỏ thì năng suất giảm càng nhiều
70 – 90 Ở Việt Nam Phùng Đăng Chính (1978) khi thí nghiệm trên giống NN8 cho thấy ruộng lúa không làm cỏ năng suất chỉ bằng 19,46% so với ruộng được làm cỏ
Kết quả thí nghiệm của Phùng Đăng Chính (1976) cho thấy sự giảm năng suất lúa tỷ lệ với mật độ cỏ dại cứ 100 cây cỏ/m2 làm giảm 17% năng suất từ 100 - 200 cây cỏ/m2 thì năng suất giảm thêm 10%, từ 200 cây trở về sau cứ tăng thêm 100 thì năng suất chỉ giảm thêm 4 - 6%
Trang 22Báo cáo khoa học ở nhiều nước cho thấy rằng ở Trung Quốc có khoảng 10 triệu tấn lúa đã bị mất đi hằng năm do sự cạnh tranh của cỏ dại số lượng này có thể cung cấp đủ ít nhất 56 triệu dân trong một năm (Zang 2001) Theo Abeysekera (2001) quốc gia Sri Lanka được coi là một quốc gia có thể tự cung cấp đủ sản lượng lúa gạo cho mình nhưng do lúa gạo là một yếu tố hạn chế rất lớn trong ngành sản xuất lúa gạo ở nước này và đã làm cho năng suất lúa mất di 30- 40 % Tại Việt Nam cỏ dại ngày trở thành một loại dịch hại quang trọng có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và chất lượng gạo trên ruộng lúa sạ thẳng tại ĐBSCL Ước tính năng suất lúa sạ thằng ở ĐBSCL đã
bị mất đi do cỏ dại gây ra khoảng 46% trong điều kiện chăm sóc không được tốt (Chin, 1997)
Sự gây hại của cỏ dại đối với cây trồng là do quá trình trình phát triển có sự cạnh tranh xuất hiện giữa cỏ và cây trồng Trong quá trình cạnh tranh này thì ưu thế thường nghiêng về cỏ dại vì nhiều lý do mà trước hết là hiệu suất quang hợp của cỏ dại luôn cao hơn cây trồng
2.3.1 Tác hại của cỏ dại
2.3.1.1 Cỏ dại cạnh tranh ánh sáng,nước chất dinh dưởng của cây trồng
Cạnh tranh về nước: nước thì dồi dào có ở bất cứ nơi đâu, sự cạnh tranh nước giữa lúa và cỏ dại thì không lớn Tuy nhiên các loài cỏ có hệ thống rễ trải rộng và sâu
do vây chúng hút nước hiệu quả hơn cây trồng Ở ruộng không làm cỏ độ ẩm nhanh chóng bị hút kiệt hơn ruộng làm cỏ
Cạnh tranh về ánh sáng: lúa cần ánh sáng cho quá trình quang hợp và sinh trưởng Khi cỏ nẩy mầm sớm và sinh trưởng nhanh, cao hơn cây trồng làm cho cây trồng không nhận đủ ánh sáng
Cạnh tranh về dinh dưởng: cỏ mọc trên ruộng canh tác trong quá trình sinh trưởng tích lũy các chất dinh dưởng trong các mô của chúng bởi vậy làm thiếu hụt chất dinh dưỡng cho cây trồng và nếu bón bổ xung sẽ làm cho cỏ sinh trưởng tốt hơn cây trồng
Trang 23Nhiều thực nghiệm cho thấy có sự tương quan rất chặc giữa kiễu và thời gian bón phân và sự cạnh tranh sau đó giữa cỏ với cây trồng Trên lúa sự sinh trưởng và cạnh tranh của cỏ thường được kích thích bởi việc bón phân lân và phân đạm trước khi cấy
2.3.1.2 Cỏ dại tiết ra những chất độc gây hại cho cây trồng và là ký chủ phụ của nhiếu loại sâu bệnh
Trong quá trình sinh trưởng và phát triển bộ rễ của cỏ dại có thể tiết ra những chất độc gây hại cho cây trồng Hơn nữa, cỏ dại còn là ký chủ của nhiều loại sâu bệnh hại cây trồng Một số nghiên cứu cho biết: các cây cỏ dại cùng họ, bộ hay có những đặc tính giống cây trồng thường làm ký chủ cho những nguồn sâu bệnh hại cây trồng tương ứng
2.3.1.3 Cỏ dại gây hại cho gia súc và ảnh hưởng đến sức khỏe của con người
Những cây cỏ dại có chứa các chất độc nếu để lẫn vào thức ăn gia súc sẽ làm ảnh hưởng đến sức khỏe của gia súc, đồng thời người sử dụng sản phẩm của loại động vật này cũng bị ảnh hưởng
Ngoài những tác động chủ yếu nêu trên, cỏ dại còn ảnh hưởng tới giao thông đi lại Cỏ hoặc bèo tây trôi trên sông ngòi sẽ làm cản trở dòng chảy, cản trở sự di lại của tàu thuyền
Cỏ mọc trên đường sắt làm dường sắt bị ẩm, khó khô rào nên mau bị gỉ Hằng năm nhà nước phải bỏ ra một khoảng chi phí không nhỏ để trừ cỏ trên đường giao thông thủy, bộ, đường sắt
2.3.2 Lợi ích của cỏ dại
Bên cạnh những mặt có hại, cỏ dại còn có một số mặt tích cực có ích như:
- Chống xói mòn
- Làm thức ăn che chở cho người và gia súc
Trang 24- Thuốc chữa bệnh
- Nguồn cung cấp chất hữu cơ trong đất
2.4 Biện pháp phòng trừ cỏ dại trên ruộng lúa
Cũng như các loài dịch hại lúa khác, muốn phòng trừ cỏ dại có hiệu quả phải vận dụng phương pháp phòng trừ tổng hợp, nghĩa là phải áp dụng phối hợp nhiều biện pháp từ đầu tới cuối vụ một cách thích hợp
Phòng trừ tổng hợp cỏ dại trong ruộng lúa bao gồm các biện pháp chính là :
- Gieo cấy mật độ dày thích hợp
- Chăm sóc ruộng lúa
- Luân canh
2.4.2 Biện pháp vật lý, cơ giới
- Nhổ cỏ bằng tay:
Tuy là biện pháp thô sơ nhưng nhổ cỏ bằng tay vẫn được sử dụng cho ruộng lúa
sạ và nhất là ở những nơi diện tích canh tác ít
Trang 25Với lúa sạ, thời gian nhổ cỏ lần đầu tiên tốt nhất là khi cây lúa được 4 – 5 lá, bắt đầu đẻ nhánh (thường là sau khi sạ 20 – 25 ngày)
- Dùng dụng cụ làm cỏ:
Thông thường là các loại cào cỏ đẩy tay Cào cỏ có thể là loại cào có răng bằng sắt hay gỗ cố định hoặc cào cỏ có răng xoay
Các loại máy làm cỏ cũng đã được chế tạo và sử dụng ở nhiều nước
Một số ruộng tuy đã dùng thuốc nhưng vì một lý do nào đó mà hiệu quả trừ cỏ không cao, ruộng vẫn còn nhiều cỏ thì biện pháp nhổ cỏ bằng tay hoặc cào vẫn cần thiết
Việc nhổ cỏ bằng tay nói chung không triệt để và rất tốn công lao động Ở đồng bằng sông Cửu Long diện tích canh tác nhiều, việc nhổ cỏ bằng tay khó thực hiện Hầu hết nông dân sử dụng thuốc hóa học trừ cỏ cho ruộng lúa
2.4.3 Biện pháp hóa học
2.4.3.1 Sơ lược lịch sử phát minh thuốc trừ cỏ
Trong lịch sử thuốc hóa học trừ cỏ có ghi nhận một một phát hiện tình cờ đầu tiên vào năm 1896 khi có một số nông dân Pháp dùng dung dịch Booc - Đô (hợp chất
có đồng) để phòng trừ bệnh mốc xám cho cây nho, thấy dung dịch này diệt được một
số loại cỏ lá rộng Sau đó tại Pháp, Đức, Mỹ, nhiều thí nghiệm đã xác nhân Sulfat Đồng (Cu SO4) có thể được sử dụng làm thuốc diệt cỏ lá rộng cho lúa mì và đại mạch
Tiếp sau đó ,nhiều hợp chất vô cơ được dùng diệt cỏ như Sodium chlorate ,Calcium cyanamid, Amononium sulfat.Tuy những hợp chất này phân hũy chậm trong môi trường Do đó gây hại cho con người ảnh hưởng đến đất đai
Đặc biệt, việc phát minh ra chất diệt cỏ 2,4 Dichloro phenoxy acetic (2,4 D) và Methyl chlorophenoxy acetic (MCPA) năm 1945 bởi 2 nhà khoa học nước Anh là W.G.Templeman và W.A Sexlon, đánh dấu mốc quang trọng trong lịch sử phát triển thuốc trừ cỏ.Thước 2,4 D và MCPA với đặc tính chọn lọc cao trên cây hòa bản và ít
Trang 26gây độc, đã nhanh chóng được sử dụng thay thế tất cả các loại thuốc vô cơ đã dùng trước đó Tiếp theo, hàng loạt các hợp chất diệt cỏ khác được phát hiện và sử dụng như TCA, Dalapon(1945), các hợp chất Urea (1946), Thiocarbamate(1954), Chloroacetamid (1956) Tới nay, trên thế giới có trên 400 hóa chất diệt cỏ do khoảng
100 công ty sản xuất Việc tìm kiếm các loại thuốc trừ cỏ mới vẫn đang được xúc tiến mạnh mẽ Tuy vậy cũng chỉ có một số ít được sử dụng rộng rãi trong sản xuất
2.4.3.2 Vai trò của thuốc trừ cỏ
Trong các biện pháp phòng trừ cỏ dại trên ruộng lúa, thuốc hóa học có vai trò rất quang trọng do có nhiều ưu điểm nổi bật:
- Hiệu quả diệt cỏ cao và tương đối triệt để, nhiều loại thuốc có phổ tác dụng rộng, diệt được hầu hết các loại cỏ lá hẹp và lá rộng chủ yếu trong ruộng lúa mà lại rất
an toàn với lúa
- Sử dụng thời gian đầu khi mới gieo cấy lúa, diệt cỏ ngay từ khi mới nẩy mầm
và còn nhỏ trước khi chúng phát sinh cạnh tranh với lúa nên hại chế tác hại của cỏ rõ rệt
- Đỡ tốn chi phí và nhất là đỡ tốn lao động có thể áp dung trên một diện tích rộng lớn trong một thời gian ngắn Số công lao dôi ra để làm việc khác có ích và thu nhập cao hơn Ở đồng bằng sông Cửu Long, trung bình một hecta lúa sạ nếu không dùng thuốc cỏ thường phải tốn từ 100 – 150 công lao động nhổ cỏ, nhiều ruộng phải tốn tới 200 công lao động,theo giá lao động hiện nay tốn khoảng 200.000 – 300.000 đ/
ha trong khi dùng thuốc hóa học chi phí trung bình chỉ khoảng 100.000 – 150.000 đ/ha
- Tuy nhiên để dùng thuốc có hiệu quả cần một số điều kiện cần thiết như mặt ruộng phải tương đối bằng phẳng chủ động nước, bị ảnh hưởng của điều kiện thời tiết bất thường có trường hợp dùng nhiều lần một loại thuốc để trừ nhóm cỏ này thì nhóm
cỏ khác lại phát triển Những khó khăn, hạn chế này đang được giải quyết dần do khả năng thâm canh trên đồng ruộng, trình độ của nông dân và tiến bộ khoa học kỹ thuật này càng nâng cao
Trang 27- Khả năng kháng thuốc của cỏ dại cho tới nay còn ít được phát hiện
Với những lý do trên thuốc trừ cỏ lúa ngày càng được sử dụng rộng rãi và chiếm tỷ lệ ngày càng cao trong tổng số các thuốc BVTT sử dụng cho cây lúa
2.4.3.3 Các đặc tính chủ yếu của thuốc trừ cỏ cho lúa
• Xâm nhập của thuốc cỏ vào cây cỏ
Hầu hết các thuốc trừ cỏ trên lúa đều có thể xâm nhập vào cỏ qua rễ, qua mầm
và qua lá
Đối với thuốc tiền nẩy mầm được phun lên ruộng lúa khi hạt cỏ chưa nẩy mầm, thuốc xâm nhập chủ yếu qua rễ hoặc qua mầm khi hạt nẩy mầm tiếp xúc với lớp thuốc trên mặt đất
Các loại thuốc hậu nẩy mầm phun thuốc khi hạt cỏ đã mọc thành cây, có lá, thì thuốc xâm nhập chủ yếu qua lá, một số thuốc cũng được rễ hút vào, thuốc có thể thấm trực tiếp qua lớp sáp của lá vào bên trong gây hại cây cỏ
• Cơ chế tác động của thuốc đối với lúa
Sau khi vào trong cây cỏ, thuốc có thể tác động theo nhiều cách để diệt cỏ Đối với các thuốc dùng trừ cỏ cho ruộng lúa, tới nay đã nghiên cứu phát hiện ra môt số cách tác động chính sau đây:
- Kích thích sự phát triển quá mức của tế bào làm biến đổi các phản ứng sinh học trong cây cỏ, gây ra hiện tượng biến dạng cây và hủy diệt các đỉnh sinh trưởng, cây cỏ sẽ chết Điển hình cho cơ chế tác động này là nhóm thuốc Pheoxy như 2,4 D, MCPA
- Ức chế quá trình tổng hợp chất diệp lục: chất diệp lục tạo nên màu xanh của cây, là nơi hấp thụ ánh sáng mặt trời để tạo năng lượng cho các phản ứng tổng hợp vật chất trong cây Do dó không có chất diệp lục cây cỏ sẽ chất Các thuốc trừ cỏ có tác dụng ức chế tổng hợp chất diệp lục trong cây điển hình là chất Oxadiazon (trong thuốc trừ cỏ Ronstar)
Trang 28- Ức chế sự tổng hợp chất Lipid: Lipid cùng với Protid và Glucid là 3 thành phần cơ bản trong tế bào của cây Không có Lipid sẽ không taọ thành tế bào, cây cỏ sẽ chết Thuốc trừ cỏ lúa diển hình tác động theo cơ chế này lá các chất Butachor( có trong nhiều loại thuốc như Butoxim, Echo, Michell, Fenoxaprop (trong thuốc Whip-S)
và Quinclorac (trong thuốc Facet)
-Ức chế tổng hợp Aminoacid: các Aminoacid (acid amin) là thành phần cấu tạo thành chất Protid, trong đó một số Aminoacid không thể thiếu trong cây như Valin, Leucin.Thuốc trừ cỏ lúa tác động theo cơ chế này điển hình là chất Pyrazosulfuron (trong thuốc Sirius, Star)
Ngoài ra, có một số loại thuốc trừ cỏ khác tác động bằng ức chế quá trình quang hợp (như các chất Atrazin, Paraquat) ức chế tổng hợp Vitamin và nhiều cơ chế khác đang được nghiên cứu
• Tính chọn lọc của thuốc cỏ
Tính chọn lọc của thuốc cỏ tức là khi phun lên ruộng có cả lúa và cỏ thì thuốc chỉ diệt cỏ mà không hại lúa Hầu hết các thuốc trừ cỏ cho lúa hiện dùng ở nước ta hiện nay đều lá thuốc có tính chọn lọc
Có 3 cơ chế chính tạo nên tính chọn lọc này:
- Chọn lọc sinh lý: khi phun lên ruộng, thuốc được cả cây lúa và cây cỏ hút vào Nhưng đối với cây lúa, thuốc sau khi xâm nhập vào sẽ bị phân giải trước khi gây độc hại hoặc bị cô lập tại một điểm mà không vận chuyển được trong cây Trong cây lúa
có thể hình thành các chất phân giải hoặc cô lập các thuốc trừ cỏ khi xâm nhập vào Đối với cây cỏ thì tính hình ngược lại, thuốc phân giải chậm và vận chuyển trong cây
cỏ, nhất là đỉnh sinh trưởng, làm cây cỏ bị hại chết
- Chọn lọc không gian: sau khi phun lên ruộng lúa, thuốc cỏ thường tập trung nhiếu ở tầng trên mặt đất, khoảng 1 – 2 cm.Phần lớn hạt cỏ lại tập trung ở phấn đất này nên bị thuốc tác động Hạt lúa gieo nhất lá lúa cấy có rễ mọc sâu hơn nên không bị tác động bởi thuốc
Trang 29- Chọn lọc theo cấu tạo cây: một số loại cỏ có lớp sáp trên mặt lá ít, phiến lá rộng hoa mọc xòe ra nên lượng thuốc xâm nhập nhiều hơn và dễ bị hại Cây lúa có lớp sáp trên lá dầy hơn, lá hẹp, mọc đứng nên ít bị thuốc xâm nhập hơn
Các loại thuốc có tính chọn lọc thường được dùng sau khi đã gieo cấy lúa Tuy vậy, khả năng chọn lọc cũng khác nhau giữa các loại thuốc Một số thuốc tuy chọn lọc nhưng có thể lảm ảnh hưởng cây lúa một thời gian ngắn vài ngày sau khi sử lý, sau đó cây lúa hồi phục và phát triển bình thường (như các chất Fenoxaprop Propanil) Một
số thuốc có khả năng chọn lọc cao, với liều lượng sử dụng trừ cỏ hoàn toàn không có biểu hiện ảnh hưởng gì đến cây lúa (như chất Pyrazosulfron Ethyl) Một số thuốc phải
có thêm chất phụ trợ làm tăng khả năng chọn lọc để an toàn với cây lúa gọi là chất an toàn (như với thuốc trừ cỏ Sofit)
Khả năng chọn lọc của thuốc trừ cỏ cũng có tính tương đối, nghĩa là nếu sử dụng quá liều hướng dẫn hoặc không đảm bảo các nhu cầu cần thiết (nhất là nước quá nhiều hoặc quá ít) cũng có thể làm hại lúa
Một số thuốc trừ cỏ không có tình chọn lọc như Glyphosate (trong các thuốc Lyphoxim Round up, Vipphosate) có thể diệt các loại cây, kể cả cây lúa, không được dùng cho ruộng đã gieo cấy lúa Chỉ có thể phun các thuốc này để phòng trừ cỏ chi ruộng lúa trước khi gieo
• Phổ tác dụng của thuốc trừ cỏ
Phổ tác dụng là số lượng các loài hoặc nhóm cỏ mà thuốc có thể diệt được :
- Thuốc có phổ tác dụng rộng là thuốc diệt được cả 3 nhóm cỏ trong ruộng lúa (hòa bản, chác lác, lá rộng)
- Thuốc có phổ tác dụng hẹp là thuốc chỉ diệt được 1 hoặc 2 nhóm cỏ trên Các chất oxadiazon như Pretilachlor, Butachlor, Thiobencard, Propanil là thuốc trừ cỏ phổ hẹp như Fenoxaprop, Quinclorac chỉ tiêu diệt được cỏ hòa bản, Bensulfuron Methyl, Metsufuron methyl, Ethoxysulfuron, 2,4 D chỉ diệt cỏ cói lác và lá rộng
Trang 30• Thời gian tác động của thuốc trừ cỏ
Các thuốc trừ cỏ cũng có thời gian tác động khác nhau đối cỏ Dựa vào thời giai tác động này có thể chia ra làm 2 nhóm chính:
-Thuốc tiền nẩy mẩm tác động diệt cỏ trước khi hạt cỏ nẩy mầm (thường là khi hạt cỏ đã hút nước sắp nẩy mầm) Loại thuốc này phải dùng sớm ngay sau khi làm đất hoặc sau khi gieo cấy từ 1 đến 5 ngày
-Thuốc hậu nẩy mầm tác động khi hạt cỏ đã mọc thành cây, thường dùng sau khi gieo cấy từ 10–20 ngày, khi cây cỏ được 2-4 lá
Ngoài 2 nhóm thuốc chính trên đây, còn có một số loại thuốc tác động ở giai đoạn hạt cỏ sắp nẩy mầm, loại thuốc này thường dùng sau khi gieo cấy từ 3 đến 7 ngày (như Butachlor) Có loại thuốc tác động khi hạt cỏ đang nẩy mầm hoặc đã nẩy mầm nhưng cây còn nhỏ dưới 2 là gọi là thuốc hậu nẩy mầm sớm Các thuốc này phần lớn
là hổn hợp giữa thuốc tiền nẩy mầm và hậu nẩy mầm, thường dùng sau khi cấy 6-10 ngày (như Fortene , Butanil) Chất Pyrazosulfuron Ethyl có thời gian tác động với các loại cỏ cói lác tương đối dài, từ khi hạt cỏ đang nẩy mầm cho tới khi cỏ đã được 3–4
lá, nghĩa là có tác động tiền và hậu nẫy mầm, thời gian sử dụng có thể 3–15 ngày sau khi cấy lúa
• Độ độc của thuốc cỏ
Hầu hết các loại thuốc cỏ cho lúa hiện nay đều có độ độc thấp đối với người, gia súc, các loài thủy sinh (tôm, cá) và các loài côn trùng thiên địch trên ruộng lúa, thuộc nhóm độc III và IV theo qui định của nhà nước Lý do chính là thuốc trừ cỏ có tác động vào cây cỏ là thực vật ,có cấu tạo và các hoạt động sinh lý khác với người và các động vật khác.Cơ thể người và động vật không có chất diệp lục, không có phản ứng quang hợp không thể tự tự tạo được một số Aminoacid cần thiết, là những cơ chất
mà thuốc trừ cỏ tác động vào để diệt cỏ Các thuốc này có thời gian lưu tồn trong đất
và môi trường tương đối ngắn chỉ trong khoảng 7 – 15 ngày.Thời gian cách ly của thuốc trừ cỏ hầu như không được đề cập tới, do thuốc có độ độc thấp lại được dùng cách xa ngày thu hoạch cây trồng
Trang 312.4.3.4 Một loại thuốc trừ cỏ phổ biến
• Pennoxsulam
Nhóm hoá học : Triazolopyrimidine sulfonamid
Nhóm hoá học : Triazolopyrimidine sulfonamid
Tên hóa học: c]pyrimidin-2-yl)-6-(trifluoromethyl)benzenesulfonamide
2-(2,2-difluoroethoxy)-N-(5,8-dimethoxyl[1,2,4]triazolo[1,5-Nhóm thuốc : Triazolopyrimidine sulfonamid
Độc tính : Nhóm độc IV LD50 qua miệng (chuột) : > 5000 mg/kg Rất ít độc với động vật thủy sinh, cá (LC50 : > 100 mg/L), ong (LD50: >100 μg/ong.Không gây dị ứng da, mắt, không gây độc mãn tính, ung thư, quái thai
Là thuốc trừ cỏ chọn lọc cao, dễ sử dụng, rất an toàn cho lúa
Thuốc có tính nội hấp và di chuyển theo 2 chiều lên và xuống qua cả 2 mạch phloem và xylem Thuốc được hấp thụ nhanh chóng chủ yếu qua bộ lá và rễ, một phần qua thân và cành, sau khi phun 1-2 giờ gặp mưa không bị giảm hiệu lực Hướng di chuyển cuối cùng của thuốc ở trong cây cỏ là đến các mô sinh trưởng
Thuốc ức chế enzyme AcetoLactate Synthase (ALS) có vai trò trong việc tổng hợp chuổi phân nhánh amino acid valine, leucine và isoleucine Sự ức chế sản xuất amino acid dẫn đến sự ức chế phân chia tế bào Cỏ tức thời ngừng sinh trưởng sau khi hấp thu thuốc, sau đó cỏ bị úa vàng do điểm sinh trưởng bị phân hủy và chết hoàn toàn sau 2 tuần
Trang 32Là thuốc hậu nảy mầm, tiền nẩy mầm trể Thời gian sử dụng rất rộng : 4-18 ngày cho lúa sạ (tốt nhất 4-15 ngày sau sạ) và 7-18 ngày cho lúa cấy, giúp chủ động quản lý nước, quản lý ốc bươu vàng
• Pendimethalin N - (1 – ethylpropyl) – 3,4 – dimethyl – 2,6 – dinitrobenzen –
amine
Công thức hoá học
Nhóm hoá học : Dinitroaniline
Tính chất: thuốc kỹ thuật dạng tinh thể, màu vàng nhạt Điểm nóng chảy 54 –
58 oC.Hầu như không tan trong nước ( 0,275 mg/l ở 25o C) tan trong một số dung môi hữu cơ như acetone, xylene
Nhóm độc II, LD50 qua miệng 1050 – 1620 mg/kg, LD50 qua da 2200 mg/kg Độc với cá không độc với ong
Thuốc trừ cỏ nội hấp, chọn lọc, tác dụng tiền và hậu nẩy mầm Trừ đuợc nhiều loài cỏ hoà bản và lá rộng
Sử dụng: dùng trừ cỏ cho lúa đậu, khoai tây, thuốc lá, bông, cây ăn quả
Phun thuốc sau khi làm đất, mới gieo trồng, cỏ chưa mọc.Với mía, cây ăn quả
có thể thuốc lên cây đã mọc còn nhỏ (2-3 lá)
Khi phun thuốc cần giữ độ ầm
Khả năng hỗn hợp: có khả năng hổn hợp với Propanil và một số thuốc trừ cỏ khác
Trang 33Phun sau khi sạ hoặc cấy 5- 12 ngày
Khả năng hổn hợp: Có thể pha chung với thuốc trừ hoà bản như Ricozin, WhipS
• Fenoxaprop – P - Ethyl
Trang 34
Nhóm độc III, LD50 qua miệng 2090 – 3040 mg /kg, LD50 qua da >2000 mg/kg Tương đối độc với cá, không độc với ong
Thuốc trừ cỏ nội hấp, chọn lọc, tác động hậu nẩy mầm ,có hiệu quả cao với cỏ hoà bàn, không có tác dụng với cỏ năng lác và là rộng Khả năng hổn hợp với Fluazifop-P-butyl, với 2,4D và MCPA (Tiller-S)
• Topshot 60 OD
Hoạt chất Cyhalofop-butyl 50g/l + Penoxsulam 10g/l
- Penoxsulam như đã trình bày ở trên
- Cyhalofop-butyl
Tên hoá học : butyl (R)-2-[4-(4-cyano-2-fluorophenoxy)phenoxy]propionate
Trang 35Chương III VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
3.1 Điều kiện thí nghiệm
Điều kiện tự nhiên tỉnh Tiền Giang:
Vị trí địa lý:
Tỉnh Tiền Giang nằm về phía đông bắc đồng bằng sông Cửu Long và cách Thành Phố Hồ Chí Minh 70km, có diện tích tự nhiên là 2.481,8 km2 Có 32 km bờ biển và là cửa ngõ ra biển Đông
Ranh giới hành chính:
- Phía đông giáp biển Đông
- Phía tây giáp tỉnh Đồng Tháp
- Phía nam giáp tỉnh Bến Tre và Vỉnh Long
- Phía bắc và đông bắc giáp tỉnh Long An, Thành Phố Hồ Chí Minh
Khí hậu thời tiết:
Khí hậu Tiển Giang khí hậu Tiền Giang mang tính chất chí tuyến – cận xích đạo và khí hậu nhiệt đới gió mùa nhiệt độ bình quân cao và nóng quanh năm nhiệt độ trung bình năm là 27 – 27,9 oC Tổng tích ôn cả năm là 10,183 oC/năm
Có 2 mùa:
- Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau
Trang 36- Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11
Tiền Giang nằm trong dãy ít mưa, lượng mưa trung bình 1.210 – 1.424
mm năm-1 và phân bố ít dần từ bắc xuống nam từ tây sang đông
- Thí nghiệm được bố trí tại xã Long Định huyện Châu Thành tỉnh Tiền Giang
- Ruộng thí nghiệm là ruộng lúa canh tác lâu năm, tương đối bằng phẳng Các điều kiện trồng trọt (loại đất, phân bón, mực nước, mật độ sạ) phải đồng đều giữa các
ô thí nghiệm và phù hợp với điều kiện canh tác của địa phương
3.1.2 Thời gian
Thí nghiệm được tiến hành từ ngày 15/2/2011 đến ngày 15/6/2011 trong vụ hè thu 2011
3.1.3 Điều kiện khí hậu
Thí nghiệm được thực hiện trong vụ hè Thu 2011 số liệu khí hậu thời tiết được thu thập từ đài khí tượng khu vực tỉnh Tiền Giang
Bảng 3.1 Diễn biến thời tiết trong thời gian thí nghiệm
Tháng Nhiệt độ (oC)
Ẩm độ (%)
Lượng mưa (mm)
Tốc độ gió (ms-1) Trung bình Cao nhất
Trang 373.2 Vật liệu
3.2.1 Giống lúa: IR50404
- Nguồn gốc: được chọn lọc từ tập đoàn giống nhập nội của IRRI Được công nhận giống chính thức theo Quyết định số 126 QĐ/BNN-KHCN, ngày 21 tháng 5 năm 1992 của Bộ Nông Nghiệp & PTNT
- Đặc tính:
Thời gian sinh trưởng 85 - 90 ngày
Chiều cao cây: 85 - 90 cm Khả năng chống đổ kém Thích nghi rộng trên nhiều vùng đất phù sa đến phèn trung bình, Canh tác được cả 3 vụ trong năm
+ Hơi nhiễm Rầy nâu và Đạo ôn, nhiễm nhẹ với bệnh Vàng lá, nhiễm vừa với bệnh Khô vằn
Năng suất: vụ Đông Xuân 6 - 8 tấn/ha, vụ Hè Thu 5 - 6 tấn/ha
thức, giữa các ô thí nghiệm có đắp bờ cao 20 cm và phải có đường nước riêng vào mỗi
ô để tránh thuốc cỏ chảy từ ô này sang ô khác
Trang 38Hình 3.1 San phẳng mặt ruộng trước khi sạ
Hình 3.2 Đắp bờ các ô thí nghiệm
Trang 39Bảng 3.1 Các nghiệm thức tham gia thí nghiệm
Ghi chú: Thời gian xử lý 7 ngày sau khi sạ
Hình 3.3 Thuốc thí nghiệm
lượng/20 m2
1 Penoxsulam (0,25 l/ha) 0,25 l/ha 0,5 ml
2 Penoxsulam(0,375 l/ha) 0,375 l/ha 0,75 ml
3 Penoxsulam(0,50 l/ha) 0,50 l/ha 1 ml
4 Pendimethalin (0.50 l/ha) 0,5 l/ha 1 ml
5 Pendimethalin (1 l/ha) 1,0 l/ha 2 ml
6 Pendimethalin (1,5 l/ha) 1,5l/ha 3 ml
7 Penoxsulam+Pendimethalin (0,25 + 0,50 l/ha) 0,25+ 0,5 l/ha 0,5 + 1 ml
8 Penoxsulam+Pendimethalin (0,25 + 1 l/ha) 0,25+1,0 l/ha 0,5 + 2 ml
9 Penoxsulam+Pendimethalin (0,375 +0,5 l/ha) 0,37575+ 0,5 l/ha 0,75 + 1 ml
10 Penoxsulam+Pendimethalin (0,375 +1 l/ha) 0,375+ 1,0 l/ha 0,75 + 2 ml
11 Penoxsulam+Pendimethalin (0,50 +0,50 l/ha) 0,50+ 0,5 l/ha 1 + 1 ml
12 Penoxsulam+Pendimethalin (0,50 +1 l/ha) 0,50+1,0 l/ha 1 + 2 ml
15 Đối chứng (chỉ phun nước)
Trang 40Quản lý nước trên đồng:
- Đối với lúa sạ: đất ruộng được duy trì ở ruộng đủ ẩm nhưng không động nước, sau khi sạ cho đến khi phun thuốc để cỏ có thể phát triển tối đa
- Nước được bơm vào cả ruộng ở thời điểm 3 ngày sau khi phun thuốc và sau
đó giữ lại trong ruộng giống như cách thức canh tác phổ biến tại địa phương