BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH KHOA NÔNG HỌC KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LIỀU LƯỢNG PHÂN BÓN HỮU CƠ AHN-HUMIX ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, NĂNG
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA NÔNG HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LIỀU LƯỢNG PHÂN BÓN HỮU CƠ AHN-HUMIX ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, NĂNG
SUẤT VÀ SÂU BỆNH HẠI TRÊN LÚA
Niên khóa : 2007 - 2011
Tp Hồ Chí Minh, Tháng 07 Năm 2011
Trang 2ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LIỀU LƯỢNG PHÂN BÓN HỮU CƠ AHN-HUMIX ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, NĂNG
SUẤT VÀ SÂU BỆNH HẠI TRÊN LÚA
Tác giả
LÊ VĂN TẠI
Khóa luận tốt nghiệp đệ trình để hoàn thành yêu cầu cấp bằng kỹ sư ngành
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn:
Ban giám hiệu trường Đại Học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh, Ban chủ nhiệm khoa Nông Học đã quan tâm giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập tại trường
Quý thầy cô khoa Nông Học đã tận tình dạy bảo những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập
Đặc biệt, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Lê Văn Dũ, thầy Nguyễn Hữu Trúc đã tận tình dạy bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Thành kính ghi ơn cha mẹ đã suốt đời dạy bảo, lo lắng và tận tụy vì con
Cuối cùng, cảm ơn tất cả bạn bè đã động viên và giúp đỡ tôi trong thời gian học tập tại trường và thực hiện đề tài
Tp Hồ Chí Minh, tháng 07 năm 2011 Sinh viên thực hiện
Lê Văn Tại
Trang 4TÓM TẮT
LÊ VĂN TẠI, Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, tháng 7/2011
Đề tài “ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LIỀU LƯỢNG PHÂN BÓN HỮU CƠ AHN-HUMIX ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT VÀ SÂU BỆNH HẠI TRÊN LÚA”
Giáo viên hướng dẫn: Th.S Lê Văn Dũ
KS Nguyễn Hữu Trúc Thí nghiệm nhằm xác định liều lượng phân hữu cơ kết hợp phân hóa học thích hợp cho giống lúa OM6976 cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao, thí nghiệm được tiến hành tại Xã Tân Lập - Huyện Tân Thạnh - Tỉnh Long An, từ ngày 8/3/2011 đến 12/6/2011 Thí nghiệm đơn yếu tố, được bố trí theo kiểu khối đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lần lập lại và 5 nghiệm thức như sau:
- Nghiệm thức 1: nền N – P –K : 120 -92 – 60 (đối chứng)
- Nghiệm thức 2: 1/2 nền + 50 kg phân hữu cơ AHN-HUMIX
- Nghiệm thức 3: 1/2 nền + 100 kg phân hữu cơ AHN-HUMIX
- Nghiệm thức 4: 1/2 nền + 150 kg phân hữu cơ AHN-HUMIX
- Nghiệm thức 5: 1/2 nền + 200 kg phân hữu cơ AHN-HUMIX
Diện tích mỗi ô thí nghiệm là 25 m2, áp dụng phương pháp sạ tay với mật độ sạ
120 kg/ha
Kết quả cho thấy:
Thí nghiệm phân hữu cơ AHN-HUMIX kết hợp với 1/2 lượng phân hóa học theo khuyến cáo, chưa cho kết quả cao về tăng trưởng chiều cao, khả năng đẻ nhánh, chỉ số diện tích lá so với nghiệm thức đối chứng bón 100% phân hóa học, nhưng số hạt chắc/bông nhiều và tỷ lệ hạt lép thấp hơn so với nghiệm thức đối chứng
Về năng suất, hầu hết các nghiệm thức thí nghiệm đều cho năng suất thấp hơn nghiệm thức đối chứng Trong đó, nghiệm thức 5 bón 1/2 lượng phân hóa học kết hợp 200kg phân hữu cơ AHN – HUMIX cho năng suất bằng với nghiệm thức đối chứng
Trang 55,48 tấn/ha Kế đến là nghiệm thức 4 bón 1/2 lượng phân hóa học kết hợp 150kg phân hữu cơ AHN – HUMIX cho năng suất 4,93 tấn/ha và thấp nhất là nghiệm thức 2 bón 1/2 lượng phân hóa học kết hợp 50kg phân hữu cơ AHN – HUMIX cho năng suất 4,7 tấn/ha
Về hiệu quả kinh tế cho thấy các nghiệm thức cho năng suất từ 4,7 tấn/ha – 5,48 tấn/ha đều cho lợi nhuận cao, trong đó nghiệm thức 5 cho năng suất và lợi nhuận cao nhất và nghiệm thức 3 cho lợi nhuận thấp nhất
Tỷ suất lợi nhuận cho thấy hiệu quả đầu tư sử dụng phân bón ở các nghiệm thức trên ruộng thí nghiệm Trong đó nghiệm thức 5 và nghiệm thức 2 có tỷ suất lợi nhuận cao nhất, kế đến là nghiệm thức 3 và nghiệm thức đối chứng cho tỷ suất lợi nhuận thấp nhất
Trang 6MỤC LỤC
Trang
Trang tựa i
LỜI CẢM TẠ ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC v
Chương 1 1
GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích – yêu cầu 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 3
Chương 2 4
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Vai trò và tầm quan trọng của lúa gạo 4
2.2 Nguồn gốc và phân loại thực vật 5
2.2.1 Nguồn gốc 5
2.2.2 Phân loại thực vật 5
2.3 Đặc điểm thực vât học của cây lúa 6
2.4 Tình hình sản xuất lúa gạo trên Thế giới và Việt Nam 8
2.4.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ lúa gạo trên Thế giới 8
2.4.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo ở Việt Nam 9
2.5 Phân bón và bón phân cho cây lúa 11
2.6 Nhu cầu dinh dưỡng của cây lúa và vai trò của phân bón 12
2.7 Vai trò của phân hóa học đối với năng suất lúa 13
2.8 Tình hình sử dụng phân hoá học của một số nước trên thế giới và khu vực Đông Nam Á 13
2.9 Nhu cầu phân bón đối với cây trồng của Việt Nam đến năm 2010 14
Trang 72.10 Sơ lược về phân hữu cơ 14
2.11 Vai trò và tác dụng của phân hữu cơ 15
Chương 3 18
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
3.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm 18
3.1.1 Thời gian nghiên cứu 18
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu 18
3.2 Điều kiện nơi tiến hành thí nghiệm 18
3.2.1 Điều kiện khí hậu 18
3.2.2 Điều kiện tự nhiên huyện Tân Thạnh 18
3.2.3 Đặc điểm và tính chất lý hóa của khu đất thí nghiệm 19
3.3 Vật liệu và phương pháp thí nghiệm 20
3.3.1 Vật liệu thí nghiệm 20
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu 21
3.3.2.1 Bố trí thí nghiệm 21
3.3.2.2 Quy trình kỹ thuật chăm sóc thí nghiệm 22
3.3.2.3 Chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thu thập số liệu 22
Chương 4 26
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 26
4.1 Động thái và tốc độ tăng trưởng chiều cao 26
4.1.1 Động thái tăng trưởng chiều cao cây 26
4.1.2 Tốc độ tăng trưởng chiều cao 27
4.2 Động thái và tốc độ đẻ nhánh 28
4.2.1 Động thái đẻ nhánh 28
4.2.2 Tốc độ đẻ nhánh 30
4.3 Chỉ số diện tích lá (LAI) 31
4.4 Tình hình sâu bệnh 32
4.5.1 Năng suất 33
4.6 Hiệu quả kinh tế 36
Chương 5 38
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 38
Trang 85.1 Kết luận 38
5.2 Đề nghị 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
PHỤ LỤC 1 42
Trang 9DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
PHC: Phân hữu cơ
ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
NSLT: Năng suất lý thuyết
NSTT: Năng suất thực thu
P1000 hạt: Trọng lượng ngàn hạt
LAI: Leaf Area Index
FAO: Food Agriculture Organization
NSS: Ngày sau sạ
BVTV: Bảo vệ thực vật
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Bảng tổng hợp sản lượng lúa thế giới và Châu lục giai đoạn 2001- 2005 9
Bảng 2.2 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa ở nước ta giai đoạn 1995 – 2008 10
Bảng 3.1: Tình hình thời tiết, khí hậu nơi thí nghiệm 18
Bảng 3.2: Đặc điểm và tính chất lý hóa của khu đất thí nghiệm 19
Bảng 4.1: Động thái tăng trưởng chiều cao của lúa OM6976 qua các nghiệm thức. 26
Bảng 4.2: Tốc độ tăng trưởng chiều cao (cm/ngày) của lúa OM6976 qua các nghiệm thức. 28
Bảng 4.3: Động thái đẻ nhánh (nhánh/m2) của giống lúa OM6976 qua các nghiệm thức. 29
Bảng 4.4: Tốc độ đẻ nhánh (nhánh/m2) của các nghiệm thức 30
Bảng 4.5: Chỉ số diện tích lá ( m2 lá/ m2 đất) của các nghiệm thức qua các giai đoạn 31
Bảng 4.6: Năng suất và yếu tố cấu thành năng suất của giống lúa OM6976 33
Bảng 4.7: Hiệu quả kinh tế của giống lúa OM6976 qua các nghiệm thức 36
Trang 11Chương 1 GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Lúa là cây trồng lâu đời của nhân dân ta và nhiều dân tộc khác trên thế giới, ngày nay cây lúa được trồng ở Châu Phi, Châu Mỹ, Châu Đại Dương và đặc biệt là ở Châu Á nơi sản xuất và tiêu thụ hơn 90% lúa gạo thế giới Cùng với các cây lương thực khác, cây lúa được thực tế sản xuất hết sức quan tâm, vì vậy nó được trồng phổ biến trên thế giới với 40% dân số sử dụng lúa gạo làm lương thực chính và ảnh hưởng đến đời sống của ít nhất 65% dân số thế giới Việt Nam là một nước nông nghiệp lâu đời, với trên 70% dân số làm nông nghiệp, nông nghiệp chiếm 32,5% thu nhập quốc dân Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nghề trồng lúa ở Việt Nam có nhiều thay đổi tích cực, từ một nước thiếu lương thực thường xuyên, đến nay, số lượng lúa gạo của nước ta không những đáp ứng đủ nhu cầu lương thực trong nước mà còn xuất khẩu đứng hàng thứ 2 trên thế giới
Để đạt được kết quả như trên là nhờ vào những chủ trương, đường lối, chính sách phát triển nông nghiệp của nhà nước và các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất như đầu tư xây dựng hệ thống thủy lợi, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, giống, thâm canh tăng năng suất, đưa cơ giới hóa vào đồng ruộng Ngày nay trong sản xuất nông nghiệp đặc biệt là sản xuất lúa gạo thì giống và phân bón là những biện pháp kỹ thuật quan trọng góp phần làm tăng năng suất nhanh nhất và cải tạo, bảo vệ, bồi dưỡng đất Thế kỷ 19, Libic đã phát hiện ra phân vô cơ đã đẩy năng suất tăng vọt và nhờ nó mà loài người đã tránh được nạn đói
đe dọa khi dân số quá lớn Với sự tiện dụng và hiệu quả của phân vô cơ, con người dần quên phân hữu cơ, khiến cho chất lượng và năng suất cây trồng giảm xuống, dịch bệnh lan tràn, hiệu quả của phân vô cơ bị giảm sút, đất bị phá vỡ kết cấu, trở nên chua, gây
ô nhiễm môi trường, giảm số lượng và khả năng hoạt động của vi sinh vật trong đất
Từ thực tế trên, con người mới nhìn nhận lại vai trò của phân hữu cơ, do đó, để khắc
Trang 12phục những hiện tượng trên đồng thời vẫn đảm bảo năng suất, hiệu quả kinh tế nhất, thì trong quá trình thâm canh cây lúa chúng ta nên bón kết hợp giữa phân hóa học và phân hữu cơ
Phân hữu cơ có tác dụng cải tạo lý hóa tính của đất, quyết định kết cấu của đất,
độ tơi xốp thoáng khí của đất, quyết định độ thấm nước và giữ nước của đất, quyết định tới số lượng và khả năng hoạt động của vi sinh vật trong đất Phân hữu cung cấp dinh dưỡng cho đất tạo nên sự phì nhiêu của đất canh tác và nâng cao khả năng chống chịu sâu bệnh và giữ cho môi trường trong sạch Ngoài các tác dụng cơ bản trên, việc bón phân hữu cơ còn làm tăng hiệu quả sử dụng của phân vô cơ, dinh dưỡng vô cơ tạm thời được giữ lại để cung cấp từ từ cho cây trồng, hạn chế rửa trôi, tạo nên nền nông nghiệp bền vững và hiệu quả
Nếu tất cả các yếu tố sinh thái có liên quan đến sinh trưởng phát triển của cây lúa như: ánh sáng, độ ẩm, nước, nhiệt độ đã được đáp ứng đầy đủ mà lượng phân bón cung cấp cho cây lúa thiếu hoặc không cân đối, không đúng với nhu cầu dinh dưỡng của từng thời kỳ phát triển thì cây lúa cũng không thể có một hiệu suất cao nhất Và ngược lại cung cấp thừa phân bón về chủng loại cũng như lượng bón không những không mang lại hiệu quả mà đôi khi còn gây nên những bất lợi cho sự phát triển của cây lúa và là điều kiện thuận lợi để sâu bệnh phát sinh, phát triển
Việc bón phân với liều lượng hợp lý trong quá trình thâm canh cây lúa sẽ có vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả bón phân nhằm tăng năng suất, giảm sâu bệnh
và giảm chi phí cho sản suất chúng ta nên bón kết hợp giữa phân hóa học và phân hữu
cơ xuất phát từ thực tế trên đề tài: “Ảnh hưởng của các liều lượng phân bón hữu cơ AHN-HUMIX đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và sâu bệnh hại trên lúa” đã được thực hiện
1.2 Mục đích – yêu cầu
1.2.1 Mục đích
Xác định liều lượng phân hữu cơ AHN-HUMIX phù hợp cho cây lúa trên vùng đất phèn ở xã Tân Lập - huyện Tân Thạnh – tỉnh Long An, nhằm tăng năng suất, hiệu quả kinh tế cao
Trang 131.2.2 Yêu cầu
Theo dõi ảnh hưởng của một số liều lượng phân bón hữu cơ AHN-HUMIX đến các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển, năng suất và sâu bệnh hại trên lúa để làm cơ sở cho việc lựa chọn liều lượng thích hợp để đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao
Trang 14Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Vai trò và tầm quan trọng của lúa gạo
Cây lúa Oryza sp sativa là một trong những cây lương thực chính, cung cấp
lương thực cho hơn 65% dân số trên thế giới, sản lượng gạo đạt cao nhất
Lúa gạo giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp dinh dưỡng cho con người Hạt gạo chứa 80% tinh bột, 7,5% prôtêin, vitamin và các khoáng chất cần thiết cho con người, ngành sản xuất lúa gạo còn cung cấp công ăn việc làm cho hàng triệu người dân
cả nông thôn lẫn thành thị, đồng thời nó còn đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, chính trị và xã hội ở những nước mà lúa gạo là nguồn lương thực chính (Trần Văn Đạt, 2005)
Hiện nay, hơn 100 nước trên thế giới sản xuất lúa Châu Á là vùng sản xuất lúa gạo chủ yếu chiếm 90% về sản lượng cũng như về diện tích, là nơi có nền nông nghiệp lâu đời nhất gắn liền với canh tác lúa nước Cây lúa có khả năng thích ứng rộng với vùng trồng từ 530 vĩ Bắc đến 400 vĩ Nam
Việt Nam: từ bao đời nay cây lúa đã gắn liền với đời sống dân tộc, với lịch sử dựng nước và giữ nước Nông dân ta rất giàu kinh nghiệm và giỏi nghề trồng lúa Việt Nam cũng là một trong những trung tâm phát sinh cây lúa và nghề trồng lúa của loài người Cây lúa luôn là cây lương thực chiếm tuyệt đối trong sản xuất nông nghiệp và
là nhân tố quan trọng ổn định tình hình kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của đất nước Trong những thập kỷ qua loài người đang đứng trước nguy cơ bùng nổ về dân
số và theo FAO để đảm mức tiêu dùng lương thực ổn định, mức tăng sản lượng hàng năm gấp hai lần so với mức tăng dân số Đến năm 2030 toàn thế giới phải sản xuất lượng lúa gạo nhiều hơn khoảng 60% so với những năm gần đây để đáp ứng nhu cầu tăng dân số Trước tình hình đó cây lúa đã và đang là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học
Trang 152.2 Nguồn gốc và phân loại thực vật
2.2.1 Nguồn gốc
Lúa là một trong những cây trồng lâu đời nhất loài người Căn cứ vào các tài liệu khảo cổ học ở Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, cây lúa đã có mặt từ 3000 - 2000 năm trước công nguyên Nhưng cho đến nay nguồn gốc xuất xứ chính xác của cây lúa ở đâu vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau Có một điều là lịch sử cây lúa đã có từ lâu và gắn liền với lịch sử phát triển của nhân dân các nước Châu Á Tuy có nhiều ý kiến chưa thống nhất, nhưng căn cứ vào các tài liệu lịch sử, di tích khảo cổ, đặc điểm sinh thái học của cây lúa trồng và sự hiện diện rộng rãi của các loài lúa hoang dại trong khu vực, nhiều người đồng ý rằng nguồn gốc cây lúa là ở vùng đầm lầy Đông Nam Á, rồi
từ đó lan dần đi các nơi Thêm vào đó, sự kiện thực tế là cây lúa và nghề trồng lúa đã
có từ rất lâu ở vùng này, lịch sử và đời sống của các dân tộc Đông Nam Á lại gắn liền với lúa gạo đã minh chứng nguồn gốc của lúa trồng
Nhiều kết quả nghiên cứu gần đây thống nhất cho rằng lúa trồng ở Châu Á xuất hiện cách đây 8000 năm (Lu.B.R và cộng sự, 1996) Tổ tiên trực tiếp của lúa
trồng châu Á là Oryza sativa vẫn còn chưa được kết luận chắc chắn Một số tác giả: Sampath và Rao (1951), Sampath và Govidaswami (1958), Oka (1974) cho rằng O
sativa có nguồn gốc từ lúa dại lâu năm O rufipogon Còn các tác giả khác như
Chatterjee (1951), Chang (1976) lại cho rằng O sativa được tiến hóa từ lúa dại hàng năm O nivara
Trang 16Lúa là cây hằng niên có tổng số nhiễm sắc thể 2n = 24 Oryza có khoảng 20 loài phụ phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới ẩm của của Châu Phi, Nam và Đông Nam Châu Á, nam Trung Quốc, Nam và Trung Mỹ và một phần ở Úc Châu (Chang, 1976 theo De Datta, 1981) Trong đó, chỉ có hai loài là lúa trồng, còn lại là lúa hoang hằng niên và đa niên Loài lúa trồng quang trọng nhất, thích nghi rộng rãi
và chiếm đại bộ phận diện tích lúa thế giới là Oryza sativa L
2.3 Đặc điểm thực vât học của cây lúa
a Rễ lúa: rễ mầm và rễ phụ
Rễ mầm: là rễ mọc ra đầu tiên khi hạt lúa nẩy mầm Thường mỗi hạt lúa chỉ
có một rễ mầm Rễ mầm giữ nhiệm vụ chủ yếu là hút nước cung cấp cho phôi phát triển và sẽ chết sau 10 – 15 ngày
Rễ phụ (còn gọi là rễ bất định): là rễ mọc ra từ các mắt trên thân lúa Mỗi mắt
có từ 5 – 25 rễ phụ, rễ phụ mọc dài, có nhiều nhánh và lông hút Trong giai đoạn tăng trưởng, các mắt này thường rất khít nhau và nằm ở dưới mặt đất, nên rễ lúa thường tạo thành một chùm, do đó, rễ lúa còn gọi là rễ chùm
Rễ lúa có nhiệm vụ hút nước và chất dinh dưỡng nuôi cây, giúp cây bám chặt vào đất, cho nên bộ rễ có khỏe mạnh thì cây lúa mới tốt được Trong điều kiện bình thường rễ non có màu trắng sữa, rễ già sẽ chuyển sang màu vàng, nâu nhạt rồi nâu đậm, tuy nhiên phần chóp rễ vẫn còn màu trắng
b Thân lúa
Thân lúa là loại thân thảo gồm những mắt và lóng nối tiếp nhau, lóng là phần thân rỗng ở giữa hai mắt và thường được bẹ lá ôm chặt Thông thường các lóng bên dưới ít phát triển nên các mắt rất khít nhau, chỉ có khoảng 3 -8 lóng trên cùng bắt đầu vươn dài khi lúa có đòng đòng Thiết diện của lóng có hình tròn hay bầu dục với thành lóng dày hay mỏng và lóng dài hay ngắn tùy từng loại giống và điều kiện môi trường, đặc biệt là nước
Cây lúa có thể đẻ nhánh khi có 4 -5 lá thật Lúa kết thúc đẻ nhánh vào thời kỳ làm đốt, làm đòng
Thân giữ cho cây đứng vững, vận chuyển và dự trữ nước, muối khoáng được
Trang 17cây vận chuyển lên lá để thực hiện quang hợp và các sản phẩm đồng hóa chuyển đi các bộ phận khác điều phải qua thân Thân dự trữ đường, bột cho bông phát dục ở thời kỳ sau
lá có nhiều lông để hạn chế thoát hơi nước và điều hòa nhiệt độ
Bẹ lá: là phần ôm lấy thân lúa Bẹ lá ôm sát thân thì cây lúa đứng vững khó đổ ngã Bẹ lá có nhiều khoảng trống nối liền các khí khổng ở phiến lá thông với thân
và rễ, dẫn khí từ trên lá xuống rễ giúp rễ có thể hô hấp được trong điều kiện ngập nước
Chức năng của lá ở thời kỳ nào thường quyết định đến sinh trưởng của cây trong thời kỳ đó Ba lá cuối cùng thường liên quan và ảnh hưởng trực tiếp đến thời kỳ làm đòng và hình thành hạt
Thìa lá là phần kéo dài của bẹ lá, ôm lấy thân, ở cuối chẻ đôi
Lá lúa làm nhiệm vụ quang hợp chăm sóc hợp lí, đảm bảo cho bộ lá khỏe lúa
sẽ chắc hạt năng suất cao
e Bông lúa
Bông lúa là loại hoa chùm gồm có: trục bông, nhánh (gié cấp 1), chẽn (gié cấp 2) và hoa Thường mỗi mắt là một nhánh, mọc xen kẽ nhau, chỉ có mắt ở gốc bông
Trang 18mới có thể có 2 đến 3 mắt mọc chung nhau Bông lúa dài hay ngắn tùy thuộc vào điều kiện ngoại cảnh và tùy theo giống
2.4 Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới và Việt Nam
2.4.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ lúa gạo trên thế giới
Lúa là cây trồng có nguồn gốc nhiệt đới và có khả năng thích ứng rộng với nhiều vùng khí hậu Trên thế giới lúa được gieo trồng ở 114 nước và phân bố ở tất cả các châu lục trên thế giới, trong đó, Châu Phi có 41 nước trồng lúa, Châu Á có 30 nước, Bắc Trung Mỹ 14 nước, Nam Mỹ 13 nước, Châu Âu 11 nước và Châu Đại Dương 5 nước (FAO, 2006) Trong 25 nước sản xuất chủ yếu thì 17 nước thuộc khu vực Châu
Á chiếm 91% diện tích, trong đó Trung Quốc và Ấn Độ là hai nước có sản lượng lúa chiếm 55% tổng sản lượng lúa trên thế giới (Nguyễn Hữu Tề và cs, 1997) Theo thống
kê của FAO năm 2006 thì diện tích đất trồng lúa liên tục tăng từ 149,49 triệu ha năm
1995 lên 156,94 triệu ha năm 1999 Nhưng sau đó lại giảm dần và đến năm 2005 còn 153,51 triệu ha Diện tích giảm nhưng năng suất lúa không ngừng tăng từ 3,867 tấn /
ha năm 2000 lên 4,04 tấn / ha năm 2005 Từ đó dẫn tới tổng sản lượng lúa gạo trên thế giới tăng từ 598,5 triệu tấn năm 2000 lên 614,5 triệu tấn năm 2005
Theo thống kê của Viện Nghiên cứu lúa quốc tế, cho đến nay lúa vẫn là cây lương thực được con người sản xuất và tiêu thụ nhiều nhất Chính vì vậy, tổng sản lượng lúa trong vòng 30 năm qua đã tăng lên hơn 2 lần: từ 257 triệu tấn năm 1965 lên tới 535 triệu tấn năm 1994 Cùng với nó, diện tích trồng lúa cũng tăng lên đáng kể, năm 1970 diện tích trồng lúa toàn thế giới là 134,390 triệu ha, đến năm
1994 con số này đã lên tới 146,452 triệu ha Trong đó, các nước Châu Á vẫn giữ vai trò chủ đạo trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo
Đầu năm 2008, thế giới đối đầu với cuộc khủng hoảng lương thực, giá gạo xuất khẩu đạt mức kỷ lục 1060 – 1100 USD / tấn Giá lương thực, thực phẩm tăng đe dọa
100 triệu người Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này: Sự gia tăng dân số thế giới, cùng lúc gây áp lực đến một loạt các tài nguyên như đất, nước, dầu mỏ Thêm nữa, một số nước trên thế giới như Phillipin chuyển dịch trong sản xuất nông nghiệp từ lương thực sang nhiên liệu sinh học Đến cuối tháng 5, đầu tháng 6/2008, giá gạo giảm
Trang 19mạnh còn 860 – 900 USD / tấn do dự báo sản lượng ngũ cốc ở châu Á nơi cung cấp lương thực lớn tăng
Bảng 2.1: Bảng tổng hợp sản lượng lúa thế giới và Châu lục giai đoạn 2001- 2005
(Số liệu thống kê của FAO, 2006 - Đơn vị tính: Triệu tấn)
2.4.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo ở Việt Nam
Nước ta có địa hình trải dài từ Bắc vào Nam hình thành hai vựa lúa khổng lồ là Đồng bằng Sông Hồng và Đồng bằng Sông Cửu Long Cây lúa là cây trồng chính trong hệ thống sản xuất nông nghiệp của nước ta Nhờ việc đưa giống mới, tăng diện tích và áp dụng các biện pháp kỷ thuật trong thâm canh, từ một nước thiếu ăn phải nhập khẩu gạo đã trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới như ngày nay Những năm gần đây diện tích trồng lúa ở nước ta dần bị thu hẹp, từ 7,666 triệu
ha năm 2000 xuống còn 7,414 triệu ha năm 2008 Nguyên nhân do chuyển đổi mục đích sử dụng đất, một phần diện tích trồng lúa sang trồng cây ăn quả, nuôi trồng thủy sản và trồng một số cây có giá trị kinh tế cao hơn Một phần đất trồng lúa bị cắt sang mục đích phi nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá nông nghiệp nông thôn
569,035 515,255 3,210 1,218 19,601 12,195 17,556
584,272 530,736 2,260 1,457 19,973 11,623 18,223
606,268 546,919 2,468 1,574 23,726 12,816 18,765
618,441 559,349 2,340 1,344 24,020 12,537 18,851
Trang 20Bảng 2.2: Diện tích, năng suất và sản lượng lúa ở nước ta giai đoạn 1995 – 2008
(triệu ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
3,68 4,24 4,88 4,89 4,86 5,22
24,96 32,52 35,79 35,82 35,56 38,72
(FAOSTAT 2009 được tổng tổng hợp và trích dẫn bởi Hoàng Kim 2010)
Mặc dù diện tích lúa bị thu hẹp nhưng năng suất lúa lại tăng đáng kể (năng suất lúa năm 2004; 2005; 2006 lần lượt là 4,86; 4,89; 4,89 tấn/ha) Năng suất lúa năm 2008 cao hơn các năm do ứng dụng các giống lúa năng suất cao vào sản xuất và đầu tư phân bón, khoa học kỹ thuật
Tính đến trung tuần tháng 3 năm 2008, cả nước đã gieo cấy được 2,911 triệu ha lúa Đông Xuân bằng 99,1% so với cùng kỳ năm 2007 Đầu vụ gặp rét đậm, rét hại cộng với việc giá phân bón, vật tư nông nghiệp tăng đã khiến cho bà con nông dân gặp nhiều khó khăn Tính đến trung tuần tháng 5/2008 các địa phương phía Nam đã thu hoạch được 1835,5 nghìn ha lúa Đông Xuân, năng suất ước tính đạt 6,11 tấn/hecta bằng 101,7%, sản lượng đạt 11,5 triệu tấn bằng 105,8% so với cùng kỳ năm 2007 (Báo cáo sơ kết sản xuất 6 tháng đầu năm 2008 - Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)
Năm 2008, cả nước phấn đấu đạt 4 triệu tấn gạo xuất khẩu Theo Bộ Công thương, 4 tháng đầu năm 2008, nước ta đã xuất khẩu được 1,674 triệu tấn gạo, trị giá
816 triệu USD, tăng 19,2% về sản lượng và 81% về giá trị Xuất khẩu gạo của Việt Nam tiếp tục thuận lợi do nhu cầu nhập khẩu gạo của các nước sau cuộc khủng hoảng lương thực đầu năm 2008
Trang 212.5 Phân bón và bón phân cho cây lúa
Phân bón chứa những chất dinh dưỡng quan trọng cần thiết cho cây lúa phát triển, các loại dinh dưỡng này cần phải thường xuyên bổ sung cho cây lúa Trong đất luôn tồn dư một lượng dinh dưỡng nhất định nhưng lượng dinh dưỡng từ đất thường không đủ cho cây lúa phát triển để đạt hiệu quả, hiệu suất cao nhất về năng suất, chất lượng khi thu hoạch Người ta bổ sung dinh dưỡng cho cây lúa bằng cách bón các loại phân bón vào đất hoặc phun lên lá các loại phân bón khác nhau, vào các giai đoạn khác nhau để đạt được kết quả sản xuất cao nhất
Phân bón vào đất đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng cho cây lúa trong suốt thời gian sinh trưởng và phát triển Phân bón vào đất thường ở dạng thô (phân hữu cơ: phân chuồng, phân rác, phân xanh, phân vi sinh), dạng bột, viên (phân bón vô cơ: phân đạm, phân lân, phân kali, vôi, phân khoáng hỗn hợp, phân vi lượng)
Đối với cây lúa người ta thường áp dụng chủ yếu biện pháp bón phân vào đất vì nguồn dinh dưỡng chủ yếu và cần thiết cho cây lúa thường tồn tại trong các loại phân bón vào đất Sử dụng phân bón vào đất người ta dùng các loại phân hữu cơ để bón lót vào đất trước khi gieo mạ hay trước khi cấy cùng với một lượng nhất định phân vô cơ, còn phần lớn lượng phân bón vô cơ dùng để bón thúc vào các giai đoạn cần thiết bổ sung dinh dưỡng cho lúa
Từ khi phân hóa học ra đời, năng suất cây trồng trên thế giới cũng như ở nước ta ngày được tăng lên rõ rệt Trong những thập kỷ cuối thế kỷ 20 (từ 1960 – 1997), diện tích trồng lúa toàn thế giới chỉ tăng 23,6% nhưng năng suất lúa đã tăng 108% và sản lượng lúa tăng lên 164,4%, tương ứng với mức sử dụng phân hóa học tăng lên là 242% Nhờ vậy đã góp phần vào việc ổn định lương thực thế giới Tuy nhiên, nếu tất
cả các yếu tố sinh thái có liên quan đến sinh trưởng phát triển của cây lúa như: ánh sáng, độ ẩm, nước, nhiệt độ đã được đáp ứng đầy đủ mà lượng phân bón cung cấp cho cây lúa thiếu hoặc không cân đối, không đúng với nhu cầu dinh dưỡng của từng thời
kỳ phát triển thì cây lúa cũng không thể có một năng suất cao nhất Và ngược lại cung cấp thừa phân bón về thành phần các nguyên tố dinh dưỡng cũng như lượng phân bón không những không mang lại hiệu quả mà đôi khi còn gây nên những bất lợi cho sự phát triển của cây lúa và là điều kiện thuận lợi để sâu bệnh phát sinh, phát triển
Trang 222.6 Nhu cầu dinh dưỡng của cây lúa và vai trò của phân bón
Nhu cầu dinh dưỡng của cây lúa hay nói cách khác là các chất dinh dưỡng cần thiết, không thể thiếu được đối với sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa bao gồm: đạm (N), lân (P), kali (K), vôi, sắt, kẽm, đồng, magiê, mangan, môlípđen, bo, silic, lưu huỳnh và carbon, ôxy, hyđrô Tất cả các chất trên đây (trừ các-bon, ô-xy, hyđrô) phân bón đều có thể cung cấp được Có nhiều chất dinh dưỡng khoáng mà cây lúa cần, nhưng 3 yếu tố dinh dưỡng mà cây lúa cần với lượng lớn là: đạm, lân và kali là những chất cần thiết cho những quá trình sống diễn ra trong cây lúa Các nguyên tố khoáng còn lại, cây lúa cần với lượng rất ít và hầu như đã có sẵn ở trong đất, nếu thiếu thì tuỳ theo điều kiện cụ thể mà bón bổ sung
Phân bón có vai trò tối quan trọng trong quá trình sinh trưởng, phát triển của cây lúa, nó cần thiết cho suốt quá trình phát triển, từ giai đoạn mạ cho đến lúc thu hoạch Cùng với các yếu tố năng lượng khác, phân bón cung cấp cho cây là nguồn nguyên liệu để tái tạo ra các chất dinh dưỡng như: tinh bột, chất đường, chất béo, prôtêin Ngoài ra chúng còn giữ vai trò duy trì sự sống của toàn bộ cây lúa, không có nguồn dinh dưỡng thì cây lúa sẽ chết, không thể tồn tại
Các yếu tố dinh dưỡng trong phân bón cung cấp cho cây lúa có vai trò khác nhau, với hàm lượng cung cấp khác nhau trong quá trình sinh trưởng, phát triển của cây lúa
Vì vậy, việc bón phân, bổ sung dinh dưỡng cho lúa người ta đã nghiên cứu và đưa ra những công thức bón phân hợp lý cho từng giống lúa, cho từng giai đoạn sinh trưởng, phát triển, theo từng điều kiện đất đai, khí hậu cụ thể
Theo nghiên cứu, để có năng suất 5 tấn hạt/hecta/vụ thì các chất dinh dưỡng chủ yếu cây lúa hút từ đất và phân bón là: 110kg N, 34kg P2O5, 156kg K2O, 23kg MgO, 20kg CaO, 5kg S, 3,2kg Fe, 2 kg Mn, 200g Zn, 150g B, 250g Si và 25gCl Tuy nhiên không phải cứ bón bao nhiêu phân bón trong đất là cây lúa hút hết được, trong thực tế, cây lúa chỉ hút được khoảng 2/3 - 3/4 lượng phân bón, còn lại bị rửa trôi theo nước, bốc hơi và tồn dư trong đất
Trang 232.7 Vai trò của phân hóa học đối với năng suất lúa
Trong vòng 30 năm cuối thế kỷ 20 diện tích trồng lúa toàn thế giới chỉ tăng có 24% nhưng năng suất lúa đã tăng 108% và sản lượng lúa tăng lên 164%, tương ứng với mức sử dụng phân hoá học tăng lên là 242% Nhờ vậy đã góp phần vào việc ổn định lương thực trên thế giới Ở nước ta, do chiến tranh kéo dài, công nghiệp sản xuất phân hoá học phát triển rất chậm và thiết bị còn rất lạc hậu Chỉ đến sau ngày đất nước được hoàn toàn giải phóng, nông dân mới có điều kiện sử dụng phân hoá học bón cho cây trồng ngày một nhiều hơn Số lượng phân hoá học bón vào đã trở thành nhân tố quyết định làm tăng năng suất và sản lượng cây trồng lên rất rõ, đặc biệt là cây lúa Rõ ràng năng suất cây trồng phụ thuộc rất chặt chẽ với lượng phân hoá học bón vào Tuy nhiên, không phải cứ bón nhiều phân hoá học thì năng suất cây trồng cứ tăng lên mãi Cây cối cũng như con người phải được nuôi đủ chất, đúng cách và cân bằng dinh dưỡng thì cây mới tốt, năng suất mới cao và ổn định được
2.8 Tình hình sử dụng phân hoá học của một số nước trên thế giới và khu vực Đông Nam Á
Từ lâu nông dân ta đã có câu "người đẹp nhờ lụa, lúa tốt nhờ phân" Phân bón đã
là một trong những nhân tố chính làm tăng năng suất cây trồng để nuôi sống nhân loại trên thế giới Tuy nhiên, nhiều nước không có công nghệ sản xuất phân bón, nhưng ngoại tệ lại có hạn nên việc sử dụng phân hóa học ở các nước có sự chênh lệch khá lớn Sự chênh lệch này không phải do tính chất đất đai khác nhau quyết định mà chủ yếu là do điều kiện tài chánh cũng như trình độ hiểu biết về khoa học dinh dưỡng cho cây trồng quyết định Còn trong các nước phát triển mức độ sử dụng phân hóa học khác nhau là do họ sử dụng cây trồng khác nhau, điều kiện khí hậu khác nhau, cơ cấu cây trồng khác nhau và họ cũng sử dụng các chủng loại phân khác nhau để bón bổ sung
Các số liệu khảo sát cho thấy, bình quân các nước châu Á sử dụng phân hóa học nhiều hơn bình quân thế giới Tuy nhiên, Ấn Độ (nước có khí hậu nóng) lại dùng phân hóa học ít hơn bình quân toàn châu Á Trong lúc đó Trung Quốc và Nhật lại sử dụng phân hóa học nhiều hơn bình quân toàn châu Á Tuy nhiên, lượng phân chủ yếu bón nhiều cho đồng cỏ, rau và hoa để thu sản lượng chất xanh cao Việt Nam được coi là
Trang 24nước sử dụng nhiều phân hóa học trong số các nước ở Đông Nam Á, số liệu tham khảo năm 1999 như sau: - Việt Nam: bình quân 241,82 kg NPK/ha - Malaysia: bình quân 192,60 - Thái Lan: bình quân 95,83 - Philippin: bình quân 65,62 - Indonesia: bình quân 63,0 - Myanma: bình quân 14,93 - Lào: bình quân 4,50 - Campuchia: bình quân 1,49 Theo số liệu ghi nhận được ở trên cho thấy Campuchia, Lào và Myanma sử dụng phân khoáng ít nhất, đặc biệt là Campuchia
2.9 Nhu cầu phân bón đối với cây trồng của Việt Nam đến năm 2010
Tính nhu cầu phân bón cho cây trồng là dựa trên cơ sở đặc điểm của đất đai, đặc điểm của cây trồng để tính số lượng phân cần cung cấp làm cho cây trồng có thể đạt được năng suất tối ưu (năng suất cao nhưng hiệu quả kinh tế cũng cao) Cho đến năm
2010, ước tính tổng diện tích gieo trồng ở nước ta vào khoảng 12.285.500 ha, trong đó cây có thời gian sinh trưởng hàng năm là 9.855.500 ha và cây lâu năm khoảng 2.431.000 ha (Theo số liệu của Vũ Năng Dũng, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, 2002) Để thoả mãn nhu cầu phân bón cho các loại cây trồng trên các diện tích này, đến năm 2010 ta cần có 2.100.000 tấn phân Urê, 300.000 tấn phân DAP, 3.000.000 tấn phân NPK các loại, 1.400.000 tấn phân lân dạng super và nung chảy và 400.000 tấn phân Kali (Nguyễn Văn Bộ, 2002)
2.10 Sơ lược về phân hữu cơ
Phân hữu cơ (phân chuồng, phân bắc, phân xanh) sau khi hoai mục bón cho cây trồng đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho con người và hạn chế được sự lây lan của một số bệnh hại nguy hiểm qua tàn dư thực vật
Phân hữu cơ được chế biến từ những sản phẩm thực vật và động vật Phân hữu
cơ được bón với khối lượng lớn, nhưng nó chỉ chứa một lượng rất ít những chất dinh dưỡng khoáng mà cây lúa cần Tuy nhiên, phân hữu cơ không thể thiếu trong sản xuất lúa, nó không chỉ cung cấp dinh dưỡng cho cây lúa, mà còn làm cho cấu trúc của đất tốt hơn, đất tơi xốp hơn, bộ rễ lúa phát triển mạnh Có hai loại phân hữu cơ là: phân hữu cơ truyền thống và phân hữu cơ công nghiệp, nhưng đối với cây lúa hiện nay dùng chủ yếu là phân hữu cơ truyền thống
Trang 25Phân hữu cơ truyền thống bao gồm: phân chuồng, phân rác, than bùn và phân xanh Ngoài ra còn có một số loại phân bón khác như: tro, phân bắc, phân gia cầm, bùn ao, bùn hồ, bùn sông, nước phù sa, khô dầu (bả còn lại sau khi ép dầu từ một số loại thực phẩm)
Phân hữu cơ công nghiệp bao gồm: phân hữu cơ khoáng (được sản xuất từ nguyên liệu hữu cơ được trộn thêm một hay nhiều yếu tố dinh dưỡng khoáng); Phân hữu cơ sinh học (được sản xuất từ nguyên liệu hữu cơ có sự tham gia của vi sinh vật sống có ích hoặc các tác nhân sinh học khác) và phân hữu cơ vi sinh – còn gọi là phân
vi sinh (là sản phẩm phân bón chứa vi sinh vật sống, đã được tuyển chọn có mật độ phù hợp với tiêu chuẩn ban hành, thông qua các hoạt động sống của các vi sinh vật có ích tạo nên các chất dinh dưỡng mà cây trồng có thể sử dụng được hay các hoạt chất sinh học, đối kháng vi khuẩn, vi nấm gây bệnh vùng rễ cây để góp phần nâng cao năng suất, chất lượng nông sản)
Phân hữu cơ truyền thống được sử dụng cho lúa trong đó chủ yếu là phân chuồng (được ủ hoai mục từ phân bắc, phân gia súc cùng với rơm rạ, thân lá ngô hay các phụ phẩm hữu cơ khác trong vòng từ 2 – 6 tháng, hoặc cũng có thể ủ phân chuồng với đất bột, phân lân và vôi bột
2.11 Vai trò và tác dụng của phân hữu cơ
a Vai trò của phân hữu cơ
Hữu cơ là chỉ tiêu đánh giá độ phì nhiêu của đất, quyết định kết cấu của đất, độ tơi xốp thoáng khí của đất, quyết định độ thấm nước và giữ nước của đất, quyết định
hệ đệm của đất, quyết định tới số lượng và khả năng hoạt động của vi sinh vật trong đất Tuy có vai trò quan trọng như vậy nhưng sự hiểu biết và sử dụng của nông dân về phân hữu cơ lại rất khác nhau, trong đó nông dân trồng lúa gần như không biết, không dùng đến phân hữu cơ, ngược lại các nhà vườn lại đã biết cách bón lót phân hữu cơ kết
hợp bón trực tiếp lên liếp hàng năm để tăng năng suất và chất lượng rau quả
Ngoài các tác dụng cơ bản trên, việc bón phân hữu cơ còn làm tăng hiệu quả sử dụng của phân vô cơ, dinh dưỡng vô cơ tạm thời được giữ lại để cung cấp từ từ cho
Trang 26cây trồng, hạn chế rửa trôi Từ đấy mà làm giảm số lượng sử dụng phân vô cơ tạo nên nền nông nghiệp bền vững và hiệu quả
b Tác dụng của phân hữu cơ
Cung cấp chất dinh dưỡng đa, trung, vi lượng ở dạng rễ hấp thụ, kịp thời và cân đối qua các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây
Cung cấp cho cây trồng các chất điều hòa sinh trưởng thực vật, giúp cây trồng gia tăng tốc độ phân bào, gia tăng kích cỡ tế bào, kích thích sự tích tụ đường và tinh dầu trong các mô thực vật từ đó nâng cao chất lượng nông sản, gia tăng hương vị thực phẩm
Trả lại độ phì nhiêu cho đất sau quá trình canh tác, tái tạo hệ sinh thái đất
Phân hữu cơ là loại phân chứa những chất dinh dưỡng ở dạng những hợp chất hữu cơ, bón vào đất có tác dụng cải tạo và nâng cao độ phì nhiêu của đất, thúc đẩy sự sống của các loài vi sinh vật trong đất Phân hữu cơ góp phần cải thiện điều kiện nước
và không khí trong đất cho cây trồng, giúp cây tăng cường sức đề kháng sâu bệnh Nó cung cấp chất mùn làm kết cấu đất tốt lên, tơi xốp hơn, giúp bộ rễ phát triển mạnh, hạn chế nước bốc hơi, chống xói mòn Trong phân hữu cơ có chứa đầy đủ các nguyên tố dinh dưỡng như: đạm, lân, kali, magiê, natri, silic, các nguyên tố vi lượng ( đồng, kẽm, mangan, boron, molipden) tuy hàm lượng không cao nhưng phân hữu cơ làm tăng chất lượng nông sản và tăng giá trị nông sản hàng hóa
Theo Trần Thị Ngọc Sơn và cs (1997), bón phân hữu cơ có ảnh hưởng tích cực đến hóa lý tính và đặc tính sinh vật học của đất, làm gia tăng các chất mùn 0,23 – 0,31%, đạm 8 – 15,3%, canxi 22,9 – 28,8%, độ dẫn thủy 22,4 – 43,4% Bón phân NPK kết hợp với phân hữu cơ làm tăng năng suất lúa cao sản đến 20,7 – 43,49% và đối với lúa thường là 20,7 – 34,9%
Theo Đỗ Khắc Thịnh (2003) các công thức chỉ bón phân hóa học đơn thuần thì mùi thơm của gạo không ổn định, trong khi các công thức phối hợp giữa NPK với phân hữu cơ, phân chuồng thì mùi thơm của Jasmine 85 điều có cấp độ thơm cao ngay
cả trong vụ đông xuân và hè thu Phân hữu cơ cải thiện mùi thơm của lúa
Trang 27Theo Schnitzer (1991), chất hữu cơ có khả năng điều tiết các qua trình sinh lý sinh hóa, kết hợp tế bào thực vật làm giảm chất độc từ kim loại nặng và chất độc hữu
cơ Phân hữu cơ không chỉ là nguồn dinh dưỡng bổ sung mà còn có vai trò quan trọng giúp duy trì độ phì trong thời gian dài cho đồng lúa do cải thiện được các tính chất vật
Trang 28Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm
3.1.1 Thời gian nghiên cứu
Thí nghiệm được thực hiện từ tháng 03/2011 đến tháng 06/2011 vụ Hè Thu 3.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Thí nghiệm được bố trí trên khu đất ở Xã Tân Lập - Huyện Tân Thạnh - Tỉnh Long An
3.2 Điều kiện nơi tiến hành thí nghiệm
3.2.1 Điều kiện khí hậu
Bảng 3.1: Tình hình thời tiết nơi thí nghiệm
Thời
gian
Nhiệt độ không khí (0C) Ẩm độ
không khí (%)
Lượng mưa trung bình (mm)
Số giờ nắng/ngày (giờ)
Trung
bình
Cao nhất
Thấp nhất
(Nguồn: Theo Trạm Khí tượng thủy văn huyện Mộc Hóa, 2011)
3.2.2 Điều kiện tự nhiên huyện Tân Thạnh
Tân Thạnh là huyện nằm ở vùng sâu của Đồng Tháp Mười, hàng năm chịu ảnh hưởng nặng nề của lũ lụt Đất đai của huyện chia làm 3 nhóm: đất phù sa, đất phèn và
Trang 29đất xáo trộn Trong đó, chiếm diện tích cao nhất là đất phèn với trên 80% Đất phù sa chỉ chiếm một diện tích nhỏ khoảng 414 hecta
Khí hậu huyện Tân Thạnh mang tính chất đặc trưng nhiệt đới gió mùa Nhiệt độ bình quân năm là 27,2oC, cao nhất vào tháng 5 với 29,3oC, thấp nhất vào và tháng 1 với khoảng 25oC Biên độ nhiệt trong năm dao động khoảng 4,3oC, biên độ nhiệt ngày
và đêm dao động cao (từ 8oC đến 10oC) Lượng mưa trung bình năm khá lớn (1.447,7 mm/năm) và phân bố theo mùa rõ rệt Mùa mưa trùng với mùa lũ gây ngập úng nặng Nguồn cung cấp nước chủ yếu cho huyện là sông Tiền qua kênh trục chính Dương Văn Dương, hệ thống kênh cấp I cấp II và kênh mương thủy lợi nội đồng Nước ngầm nằm ở tầng sâu, giá thành khai thác cao, nên ít được khai thác Huyện là khu vực chịu ảnh hưởng nặng của lũ lụt hằng năm Tuy nhiên, lũ mang đến lượng phù
sa đáng kể tăng thêm màu mở cho ruộng đồng, tháo chua rữa phèn, tăng nguồn lợi thủy sản, vệ sinh môi trường
Tài nguyên rừng: tính đến năm 2001 diện tích rừng là 6.920 ha, đạt tỷ lệ che phủ 20,75% Chủ yếu là rừng tràm, hệ động thực vật trong rừng cũng đang được phục hồi nhanh chóng
3.2.3 Đặc điểm và tính chất lý hóa của khu đất thí nghiệm
Bảng 3.2: Đặc điểm và tính chất lý hóa của khu đất thí nghiệm
Trang 303.3 Vật liệu và phương pháp thí nghiệm
3.3.1 Vật liệu thí nghiệm
a Phân bón :
Phân bón hữu cơ AHN- HUMIX
Thành phần
- Nguồn nguyên liệu hữu cơ
- Phân chuồng, bột tôm, cua, cá, ghẹ, bột prôtein, bột xương động vật, rong biển, than bùn
- Các khoáng chất giàu dinh dưỡng
- Đa lượng: NPK Thành phần(%): NPK: 5-7-2, Mg, S, Bo, Zn, Fe, Mn
Phân vô cơ : phân urê, phân DAP, phân kali
b Giống: Thí nghiệm sử dụng giống lúa OM 6976
Giống lúa OM 6976 được chọn từ tổ hợp lai IR 68144/OM 997/OM 2718 Đây là giống có hàm lượng vi chất dinh dưỡng sắt trong gạo khá cao Đây là giống lúa triển vọng mới được giới thiệu trong vụ Hè Thu 2009
Thời gian sinh trưởng: 95-100 ngày
Chiều cao cây: 95 - 100cm, dạng hình đẹp, rất cứng cây, đẻ nhánh ít, bông to chùm, đóng hạt dầy
Chống chịu rầy nâu và bệnh đạo ôn tốt, chống chịu bệnh Vàng lùn – Lùn xoắn lá khá
Năng suất trung bình vụ Đông Xuân: 7 - 9 tấn/ hecta, Hè Thu: 5,0 - 6,0 tấn/ hecta Trọng lượng 1000 hạt: 25 - 26g
Hạt gạo dài trung bình, trong, ít bạc bụng, cơm vẫn còn hơi mềm khi nguội Giống thuộc nhóm lúa bông to, thích nghi rộng trên nhiều loại đất, từ phù sa ngọt đến phèn nặng
Tiềm năng năng suất OM 6976 cao và ổn định trong cả 2 vụ Đông Xuân và Hè Thu
Trang 31chiều biến thiên
Diện tích mỗi ô thí nghiệm: 25 m2 (5m x 5m)
Diện tích toàn ô thí nghiệm : 500m2
Giữa các ô thí nghiêm có đắp bờ
Sơ đồ bố trí thí nghiệm
Ghi chú:
- NT1: nền N-P-K = 120 - 92 -60 (đối chứng) (1 ha)
- NT2: 1/2 nền + 50 kg phân hữu cơ AHN-HUMIX (1 ha)
- NT3: 1/2 nền + 100 kg phân hữu cơ AHN-HUMIX (1 ha)
- NT4: 1/2 nền + 150 kg phân hữu cơ AHN-HUMIX (1 ha)
- NT5: 1/2 nền + 200 kg phân hữu cơ AHN-HUMIX (1 ha)
Trang 323.3.2.2 Quy trình kỹ thuật chăm sóc lúa thí nghiệm
Gieo hạt theo phương pháp sạ tay thủ công của địa phương
Lượng giống gieo sạ: 120 kg/hecta
Bón phân
Công thức phân bón NPK tương đương với N = 200kg urê/ha, P = 200 kg DAP/ha, K = 100 kg KCl /ha
Các nghiệm thức được bón như sau:
Lần 1:10-15 ngày sau sạ (bón toàn bộ lân + 1/3 N + 1/3 phân hữu cơ) Bón toàn
bộ lân vào lần đầu do hàm lượng lân hòa tan chậm, lân có tác dụng thúc đẩy việc sử dụng và tổng hợp chất đạm trong cây, kích thích rễ phát triển, giúp lúa mau lại sức sau khi cấy, nở bụi mạnh, giúp lúa chín sớm và tập trung hơn
Lần 2: 20-25 ngày sau sạ (1/3 N +1/2 K + 1/3 phân hữu cơ)
Lần 3: 40-45 ngày sau sạ (1/3 N +1/2 K + 1/3 phân hữu cơ)
3.3.2.3 Chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thu thập số liệu
a Các chỉ tiêu nông học
Động thái và tốc độ tăng trưởng chiều cao: điều tra 4 điểm trên ô cố định, mỗi điểm theo dõi trên diện tích khung 0,2 m2 (40 cm x 50 cm) Cách 10 ngày ghi nhận 1 lần đến khi lúa trổ (thời kỳ trước trổ đo từ mặt đất đến chóp lá cao nhất của cây, thời
kỳ sau trổ đo từ mặt đất đến chóp bông cao nhất của cây)
Trang 33Động thái đẻ nhánh và tốc độ đẻ nhánh: đếm số nhánh kể cả thân chính khi đo chiều cao Mỗi ô thí nghiệm điều tra 4 điểm cố định, mỗi điểm theo dõi trên diện tích khung 0,2 m2 (40 cm x 50 cm)
Động thái đẻ nhánh và tỷ lệ đẻ nhánh hữu hiệu: mỗi ô thí nghiệm theo dõi 4 điểm
cố định, mỗi điểm theo dõi trên diện tích khung 0,2 m2 (40 cm x 50 cm) đếm toàn bộ
số nhánh trong khung, quy đổi ra nhánh/m2
Tỷ lệ nhánh hữu hiệu ( %) = (số bông /m2 * 100)/(số nhánh tối đa/m2)
b Chỉ tiêu sinh lý
Diện tích lá được tính bằng công thức:
S = LTB x RTB x k x ∑số lá (m2 lá) Trong đó:
LTB là chiều dài trung bình của các lá trên cây
RTB là chiều rộng trung bình của các lá trên cây
Đo chỉ số diện tích lá LAI
LAI = số m2 lá/ m2 đất
K=0,75 trong các giai đoạn, riêng giai đoạn chín k=0,65
Thời gian theo dõi tương ứng với các giai đoạn bắt đầu đẻ nhánh, đẻ nhánh tối
đa, làm đòng, trổ và chín sáp
c Chỉ tiêu sâu bệnh hại
Sâu bệnh hại được đánh giá ngoài đồng trong từng ô thí nghiệm và có sự can thiệp các biện pháp bảo vệ thực vật đối với từng loại sâu bệnh xuất hiện
Sâu cuốn lá:
Phương pháp theo dõi: mỗi ô điều tra 5 điểm ngẫu nhiên theo đường chéo góc, mỗi điểm theo dõi trên diện tích khung 0,2 m2 (40 cm x 50 cm) đếm toàn bộ số lá và
số lá bị hại trong khung
Tỷ lệ lá bị hại( %) = ( số lá bị hại/ tổng số lá điều tra)* 100
Trang 34 Rầy nâu
Phương pháp theo dõi: mỗi ô điều tra 5 điểm, mỗi điểm là một khung có kích thước 20cm x 20cm Đếm số rầy nâu có trong khung Từ đó qui ra mật độ rầy nâu (con/m2 )
d Chỉ tiêu về năng suất
- Số bông/m2: mỗi ô điều tra 4 điểm, mỗi điểm là một khung 0,2m2, đếm tổng số bông có trong khung Từ đó qui ra số bông/m2
- Số hạt chắc trên bông: mỗi ô lấy ngẫu nhiên 10 bông, đếm số hạt chắc và lép
Trang 35- Tỷ lệ hạt lép: sau khi tính được số hạt chắc và số hạt lép tỷ lệ hạt lép được tính theo công thức
Tỷ lệ hạt lép = (tổng số hạt lép*100)/(tổng số hạt chắc + tổng số hạt lép)
- Trọng lượng 1000 hạt (P1000 hạt): mỗi nghiệm thức đếm 1000 hạt chắc đem cân, lập lại 3 lần Sau đó tính giá trị trung bình, đo độ ẩm lúc cân quy về độ ẩm chuẩn 14%
- Năng suất thực thu: thu hoạch toàn bộ ô thí nghiệm, phơi khô hạt đem cân trọng lượng rồi quy ra sản lượng tấn/ ha
- Năng suất lý thuyết (NSLT) được tính theo công thức:
NSLT (tấn/ha) = ((số bông/m2)*(số hạt chắc/bông)*P1000 hạt)/1000*100
1000: là hệ số chuyển đổi từ trọng lượng 1000 hạt thành trọng lượng 1 hạt
100: là hệ số chuyển đổi từ m2 ra ha và từ gram ra tạ
e Hiệu quả kinh tế và bội thu năng suất của phân hữu cơ
- Tỷ lệ đầu tư và thu hoạch thực tế giữa các lượng phân trong thí nghiệm để từ đó rút ra được lượng phân bón cho lúa có hiệu quả kinh tế nhất
- Năng suất(tấn/ha): qui thành tiền (đồng)
- Chi phí phân bón (đồng/hecta)
- Lợi nhuận thu được = tổng thu – chi phí
Trang 36Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Động thái và tốc độ tăng trưởng chiều cao
4.1.1 Động thái tăng trưởng chiều cao cây
Mỗi giống lúa điều có chiều cao cây nhất định, tuy nhiên sự tăng trưởng chiều cao nhanh hay chậm còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố: thời tiết, khí hậu, đất đai, sâu bệnh, phân bón Do đó, cần có biện pháp tác động thích hợp để giúp cho cây lúa sinh trưởng, phát triển tốt và đồng điều góp phần làm tăng năng suất ruộng lúa
Bảng 4.1: Động thái tăng trưởng chiều cao của lúa (cm)