1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU LỰC PHÒNG TRỪ SÂU TƠ (Plutella xylostella L.) CỦA MỘT SỐ LOẠI THUỐC TRÊN CÂY BẮP CẢI (Brassica oleracea var. capitata) TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT – LÂM ĐỒNG

88 230 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số loại thuốc nông dân thường sử dụng để phòng trừ sâu tơ trong đó các hoạt chất như Indoxacarb Ammate 150SC, Cypermethrin Map permethrin 50EC, Chlorantranilliprole Prevathon 5SC, Ab

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA NÔNG HỌC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU LỰC

PHÒNG TRỪ SÂU TƠ (Plutella xylostella L.) CỦA MỘT SỐ LOẠI THUỐC TRÊN CÂY BẮP CẢI (Brassica oleracea var capitata)

TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT – LÂM ĐỒNG

SVTH: LÊ VĂN LÂM Ngành: BẢO VỆ THỰC VẬT Niên khoá: 2007 – 2011

07/2011

Trang 2

ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU LỰC

PHÒNG TRỪ SÂU TƠ (Plutella xylostella L.) CỦA MỘT SỐ LOẠI THUỐC TRÊN CÂY BẮP CẢI (Brassica oleracea var capitata)

TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT – LÂM ĐỒNG

Tác giả

LÊ VĂN LÂM

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng kỹ sư ngành BẢO VỆ THỰC VẬT

Giáo viên hướng dẫn:

TS TRÁC KHƯƠNG LAI

KS NGUYỄN HỮU TRÚC

Tháng 07 năm 2011

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Con xin chân thành cảm ơn ba, má đã sinh thành, nuôi dưỡng, dạy dỗ con nên người và cả gia đình đã tạo mọi điều kiện cho con có được ngày hôm nay

Tôi xin chân chân thành cảm ơn:

• TS Trác Khương Lai và Thầy Nguyễn Hữu Trúc đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp

• Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh

• Toàn thể thầy cô trong Trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh

• Gia đình chú Nguyễn Đình Thắng, thôn Đa Quý xã Xuân Thọ thành phố Đà Lạt đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

• Các cô chú, anh chị nông dân tại các phường 7, phường 8, xã Xuân Thọ thành phố Đà Lạt đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp thông tin cần thiết và tạo điều kiện trong suốt thời gian thực hiện khóa luận

• Bạn bè đã luôn bên cạnh động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập

và thực hiện khóa luận này

Thành phố Đà Lạt, ngày 10 tháng 07 năm 2011

Sinh viên thực hiện

Lê Văn Lâm

Trang 4

TÓM TẮT

Đề tài nghiên cứu “Điều tra tình hình sử dụng thuốc và đánh giá hiệu lực

phòng trừ sâu tơ (Plutella xylostella L.) của một số loại thuốc trên cây bắp cải (Brassica oleracea var capitata) tại thành phố Đà Lạt – Lâm Đồng” Đề tài được

tiến hành tại thành phố Đà Lạt tỉnh Lâm Đồng từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2011

Kết quả thu được như sau:

Điều tra 30 hộ nông dân trồng bắp cải tại thành phố Đà Lạt tôi ghi nhận phần lớn nông dân vẫn sản xuất theo kinh nghiệm, sử dụng giống bắp cải trắng Nova (93,4%)

có lá dày hơn giống bắp cải Shortgun nên hạn chế được sâu bệnh Đa số nông dân đều nhận biết được sâu tơ nhưng không biết mức độ gây hại của loài này và biện pháp phòng trừ chủ yếu là hóa học (100% hộ sử dụng) nhưng vẫn chưa thực hiện theo nguyên tắc 4 đúng, chưa thực hiện phòng trừ sâu tơ theo hướng tổng hợp, chưa được tập huấn về sử dụng thuốc vì vậy tạo điều kiện cho sâu tơ phát triển và gây hại dẫn đến giảm năng suất cũng như hiệu quả kinh tế Tỷ lệ số hộ phun thuốc theo định kì lên đến 86,7%, trong đó định kì 7 – 10 ngày chiếm 76,7% do đó tỷ lệ số hộ phun trên 8 lần trong một vụ chiếm 63,3% và liều lượng thường cao hơn khuyến cáo (63,3%) và trong một lần phun thì sử dụng nhiều loại thuốc (86,7%) Một số loại thuốc nông dân thường

sử dụng để phòng trừ sâu tơ trong đó các hoạt chất như Indoxacarb (Ammate 150SC), Cypermethrin (Map permethrin 50EC), Chlorantranilliprole (Prevathon 5SC), Abamectin (Binhtox 1.8EC, Abatin 5.4EC, Silsau 1.8EC) được sử dụng khá phổ biến chiếm 43,4 – 56%

Và qua thí nghiệm đánh giá hiệu lực phòng trừ sâu tơ của một số loại thuốc trên cây bắp cải tại thành phố Đà Lạt – Lâm Đồng cho thấy các loại thuốc thí nghiệm đều

có hiệu quả và hiệu lực kéo dài trong đó NT 3 ( thuốc GF 1629 ở nồng độ 400 ml.ha-1)

có hiệu quả cao nhất (94,1% ở 7 NSP) và các thuốc thí nghiệm không ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây bắp cải

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

TRANG TỰA i

TÓM TẮT iii

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii

DANH SÁCH CÁC HÌNH ix

DANH SÁCH CÁC BẢNG x

Chương 1 GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích – Yêu cầu 2

1.2.1 Mục đích đề tài 2

1.2.2 Yêu cầu đề tài 2

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Cây bắp cải 3

2.1.1 Nguồn gốc, phân bố 3

2.1.2 Đặc điểm thực vật học 3

2.1.2.1 Rễ 3

2.1.2.2 Thân 3

2.1.2.3 Lá 4

2.1.2.4 Hoa, quả và hạt 4

2.1.3 Giá trị dinh dưỡng 5

2.1.4 Tình hình sản xuất trong và ngoài nuớc 6

2.1.5 Tình hình sản xuất ở Đà Lạt 9

2.2 Sâu tơ 11

2.2.1 Lịch sử phát sinh, phân bố tác hại 11

Trang 6

2.2.2 Phân loại 11

2.2.3 Ký chủ sâu tơ 11

2.2.4 Triệu chứng phá hại của sâu tơ 12

2.2.5 Đặc điểm hình thái và sinh học 12

2.2.6 Phòng trừ 14

2.2.7 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 15

2.2.8 Tình hình nghiên cứu trong nước 16

2.2.9 Tính kháng thuốc của sâu tơ 18

2.2.10 Cơ chế kháng thuốc của sâu tơ 21

2.3 Các loại thuốc thí nghiệm 22

2.3.1 Thuốc GF 1629 22

2.3.2 Proclaim 1.9EC (Syngenta Vietnam Ltd.) 22

2.3.3 Success 120SC (Dow Agro Sciences B.V) 23

2.3.4 Ammate 150SC (Du Pon Vietnam Ltd.) 23

2.3.5 Pegasus 500SC (Syngenta Vietnam Ltd.) 24

2.3.6 Sumi - Alpha 5EC (Sumitomo Chemical Co, Ltd,) 25

2.3.7 Secsaigon 25EC ( công ty TNHH 1 thành viên BVTV Sài Gòn) 25

2.3.8 Prevathon 5SC (Du Pon Vietnam Ltd.) 26

2.3.9 Virtako 40WG 27

Chương 3 VẬT LIỆU – PHƯƠNG PHÁP 28

3.1 Thời gian – Địa điểm thí nghiệm 28

3.2 Điều kiện tự nhiên và thời tiết khí hậu của thành phố Đà Lạt trong thời gian tiến hành thí nghiệm 28

3.2.1 Vị trí địa lý 28

3.2.2 Địa hình 28

Trang 7

3.2.3 Đất đai 29

3.2.4 Khí hậu, thời tiết 29

3.3 Vật liệu thí nghiệm 30

3.4 Phương pháp nghiên cứu 30

3.4.1 Điều tra tình hình sử dụng thuốc phòng trừ sâu tơ trên cây bắp cải của nông dân ở thành phố Đà Lạt Tỉnh Lâm Đồng 30

3.4.2 Đánh giá hiệu lực phòng trừ sâu tơ của một số loại thuốc trên cây bắp cải tại thành phố Đà Lạt 31

3.4.3 Đánh giá ảnh hưởng độc tính của các loại thuốc thí nghiệm đến sinh trưởng bắp cải 33

3.4.4 Đánh giá tỷ lệ và chỉ số lá bị hại trước và sau khi phun thuốc 34

3.5 Xử lý số liệu và phân tích thống kê 34

Chương 4 KẾT QUẢ - THẢO LUẬN 35

4.1 Tình hình sử dụng thuốc phòng trừ sâu tơ trên bắp cải của nông dân tại thành phố Đà Lạt 35

4.2 Đánh giá hiệu lực phòng trừ sâu tơ của một số loại thuốc trên cây bắp cải tại thành phố Đà Lạt 38

4.2.1 Mật số sâu tơ ở các nghiệm thức thí nghiệm 38

4.2.2 Hiệu lực của các loại thuốc thí nghiệm tính theo công thức Henderson – Tilton 42 4.3 Đánh giá ảnh hưởng độc tính của các loại thuốc thí nghiệm đến sinh trưởng bắp cải 45

4.4 Tỷ lệ và chỉ số lá bị hại trước và sau khi phun thuốc 46

4.4.1 Tỷ lệ lá bị hại trung bình ở các nghiệm thức 46

4.4.2 Chỉ số lá bị hại trung bình ở các nghiệm thức 49

Chương 5 KẾT LUẬN – ĐỀ NGHỊ 51

5.1 Kết luận 51

Trang 8

5.2 Đề nghị 51 TÀI LIỆU THAM KHẢO 52 PHỤ LỤC 55

Trang 9

IGR: Insect Growth Regulator (điều hòa sinh trưởng côn trùng)

LD: Lethal Dose (liều lượng gây chết)

LC: Letal Concentration (nồng độ gây chết)

LLL: Lần lặp lại

NT: Nghiệm thức

ns: Non significant (không có ý nghĩa)

NTP: Ngày trước phun

NSP: Ngày sau phun

SLTĐ: Số liệu thực đo

SLBĐ: Số liệu biến đổi

TNHH: Trách nhiệm hữu hạn

Trang 10

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình 2.1 Giống bắp cải trắng Nova 10

Hình 2.2 Triệu chứng lá bắp cải bị hại 12

Hình 2.3 Các giai đoạn sinh trưởng của sâu tơ 13

Hình 3.1 Các loại thuốc thí nghiệm 30

Hình 3.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 32

Hình 3.3 Toàn cảnh khu thí nghiệm 32

Hình 4.1 Một số loại thuốc nông dân thường dùng 37

Hình 4.2 Sâu tơ chết do Beauveria sp và ong kí sinh 40

Hình 4.3 Sâu tơ chết do thuốc ở các nghiệm thức 43

Hình 4.4 Giáo viên hướng dẫn thăm ruộng bắp cải thí nghiệm ở 7 NSP 46

Hình 4.5 Bắp cải bị sâu tơ gây hại 47

Trang 11

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Thành phần dinh dưỡng của bắp cải (trong 100g) 5

Bảng 2.2 Thành phần chất khoáng và vitamin của bắp cải (trong 100g) 6

Bảng 2.3 Năng suất (tấn.ha-1) bắp cải của thế giới từ năm 2007 – 2009 7

Bảng 2.4 Diện tích (ha) bắp cải của thế giới từ năm 2007 – 2009 8

Bảng 2.5 Sản lượng (tấn) bắp cải của thế giới từ năm 2007 – 2009 9

Bảng 2.6 Ngưỡng gây hại của sâu tơ đối với bắp cải……… 14

Bảng 3.1 Các yếu tố thời tiết trong các tháng thí nghiệm 29

Bảng 3.2 Các nghiệm thức thí nghiệm 31

Bảng 3.3 Bảng phân cấp xác định độc tính của thuốc với cây đậu bắp 33

Bảng 4.1 Các biện pháp phòng trừ sâu tơ trên bắp cải 36

Bảng 4.2 Một số loại thuốc nông dân thường dùng phòng trừ sâu tơ trên bắp cải 38

Bảng 4.3 Mật số sâu tơ trung bình ở các nghiệm thức trước và sau khi phun thuốc 44

Bảng 4.4 Hiệu lực trung bình phòng trừ sâu tơ trên cây bắp cải ở các nghiệm thức 44

Bảng 4.5 Chiều cao trung bình của cây bắp cải ở các nghiệm thức 45

Bảng 4.6 Tỷ lệ lá bị hại (%) trung bình của cây bắp cải ở các nghiệm thức 48

Bảng 4.7 Chỉ số lá bị hại (%) trung bình của cây bắp cải ở các nghiệm thức 50

Trang 12

Ở Đà Lạt, sâu tơ từ lâu đã là mối lo ngại lớn nhất đối với nông dân vùng trồng rau

vì chúng không những gây thất thu về năng suất mà còn làm ảnh hưởng lớn tới phẩm chất bắp cải và gây khó khăn cho việc tiêu thụ sản phẩm do đó để phòng trừ sâu tơ thông thường nông dân dùng hỗn hợp 2 – 3 loại thuốc và phun 10 – 20 lần trong 1 vụ

để trừ sâu tơ Nhưng nếu sử dụng thuốc hóa học không đúng đắn, thì chẳng những không hạn chế được sự phá hại của sâu tơ mà còn gây ra những hiện tượng tái phát, hiện tượng kháng thuốc, tiêu diệt thiên địch, gây ô nhiễm môi trường và độc cho người tiêu dùng Và việc phòng trừ sâu tơ cũng gặp rất nhiều khó khăn do sâu tơ có vòng đời ngắn, khả năng sinh sản cao và đặc biệt là khả năng kháng thuốc của nó Sâu tơ ở nước

ta có những đặc tính kháng thuốc rất phức tạp, có thể thay đổi tùy từng vùng chuyên canh rau, từ đó có thể ảnh hưởng đến việc đánh giá hiệu quả của các loại thuốc Ví dụ năm 1990, một số thử nghiệm thuốc phòng trừ sâu tơ ở Đà Lạt cho thấy hiệu quả thuốc

Trang 13

deltamethrin chỉ đạt 35,8 – 50,9%, thuốc cypermethrin đạt 13,9%, các thuốc thuộc nhóm pyrethroid khác cũng chỉ đạt 20 – 40% Việc quyết định sử dụng một loại thuốc trong điều kiện cụ thể của địa phương nhất thiết phải qua những khảo nghiệm được tiến hành ngay tại nơi đó (Nguyễn Quí Hùng và ctv, 1995)

Do đó, nhu cầu cần phải tìm ra một loại thuốc vừa phòng trừ hiệu quả đối với sâu

tơ vừa an toàn với môi trường đối với vùng rau Đà Lạt là cần thiết Vì vậy, đề tài

“Điều tra tình hình sử dụng thuốc và đánh giá hiệu lực phòng trừ sâu tơ (Plutella

xylostella L.) của một số loại thuốc trên cây bắp cải (Brassica oleracea var capitata) tại thành phố Đà Lạt – Lâm Đồng” đã được thực hiện.

1.2.2 Yêu cầu đề tài

- Điều tra tình hình sử dụng thuốc phòng trừ sâu tơ trên cây bắp cải của nông dân thành phố Đà Lạt

- Đánh giá hiệu lực phòng trừ sâu tơ trên cây bắp cải của một số loại thuốc

- Đánh giá ảnh hưởng độc tính của các thuốc thí nghiệm đến cây bắp cải

Trang 14

Chương 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cây bắp cải

2.1.1 Nguồn gốc, phân bố

Bắp cải hay cải bắp (Brassica oleracea var capitata) là một loại rau chủ lực trong

họ cải (còn gọi là họ thập tự - Brassicaceae/Cruciferae) Theo nhiều tài liệu thì cây bắp cải có nguồn gốc hoang dại ở Châu Âu hơn 4.000 năm trước và tập trung ở Hy Lạp, ở đây bắp cải được trồng trong các vườn thực vật Đến thế kỷ XIX, bắp cải mới được trồng ở Nga, phía bắc Địa Trung Hải (Pháp, Ý) và ở Anh Đặc điểm của vùng này là mát, mưa nhiều về mùa đông Bắp cải hoang dại vẫn được tìm thấy ở Anh, Đan Mạch, Pháp Trong khi những biến chủng bắp cải trồng đầu tiên được sử dụng cho mục đích

y học thì bắp cải đã trở thành một trong những cây rau quan trọng nhất ở Châu Âu vào thế kỷ XVI Từ đó, bắp cải được biết đến rộng rãi trên khắp thế giới Tuy nhiên do là cây chịu lạnh nên ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, bắp cải chỉ được trồng ở vùng cao nguyên có khí hậu mát mẻ, hay ở những vùng đồng bằng vào tháng 11, 12 khi nhiệt độ thấp hàng năm hoặc sử dụng những giống bắp cải chịu nhiệt (Phạm Hữu Nguyên,

Bắp cải là loại cây thân thảo 2 năm, cao 40 – 60 cm nếu thu hoạch bắp và cao

150 - 200 cm khi cây ra hoa ở năm thứ hai Những giống cải bắp trồng có thân không phân nhánh và to dần ở phần trên Trong trồng trọt, bắp cải có 2 loại thân

Trang 15

Thân ngoài (H) là đoạn thân mang các lá già ở phần gốc, không cuộn thành bắp Tùy giống, thời vụ và điều kiện canh tác mà thân ngoài cao hay thấp Thân ngoài còn

có ý nghĩa rất lớn trong công tác để giống

Thân trong (h) là đoạn thân mang các lá cuộn lại thành bắp Đoạn thân trong càng ngắn thì hiệu số H – h càng lớn hay tỷ lệ h/H càng nhỏ thì năng suất càng cao và ngược lại

2.1.2.3 Lá

Cây con có 2 lá mầm hình tim Những lá thật đầu tiên có hình trứng với cuống lá

có dạng thùy Tuỳ giống mà có hình dạng và đặc điểm lá khác nhau Hình dạng lá: hình tròn, bầu dục Gân lá: thưa hay dày, nổi hay chìm và to hay nhỏ Số lá trong và ngoài nhiều hay ít tùy giống Cuống lá: dẹp, không phân biệt rõ giữa cuống và phiến

lá Lá có màu sắc: xanh đậm, xanh nhạt, vàng hoặc tím

Về phân loại, lá bắp cải được chia làm 2 loại là lá thân ngoài và lá thân trong Lá thân ngoài chủ yếu là dùng cho chăn nuôi, chứa nhiều vitamin C và có nhiệm vụ quang hợp là chính Lá trong chứa nhiều chất dinh dưỡng, là bộ phận sử dụng chủ yếu

Cách thức hình thành bắp: lá cây bắp cải xếp theo hình xoắn ốc, những lá dưới

cách nhau tương đối xa, càng lên trên lá càng mọc sít nhau Mỗi nách lá trên đoạn thân mang một chồi ngủ Sau một thời gian, những lá phía trên được mở ra một phần và hình thành một biểu bì ôm chặt những lá ra sau không trải ra Cứ tiếp tục phân chia và sinh trưởng của những lá non sẽ hình thành một bắp bởi một số lượng lớn lá tươi bao phủ xung quanh một điểm sinh trưởng

2.1.2.4 Hoa, quả và hạt

Hoa: phát hoa là một cành hoa không có lá bắc, được tạo thành từ thân chính và

những nhánh ở nách lá Phát hoa dài 50 – 100 cm Cuống hoa dài 1,5 – 2 cm Hoa mẫu

4, lưỡng tính, giao phấn do tự thụ xung khắc Đài hoa thẳng màu xanh nhạt Cánh hoa dạng thìa có kích thước 25 mm x 10 mm, màu vàng Hoa có 6 nhị với 2 nhị ngắn và 4 nhị dài Bầu nhụy trên có vách ngăn giả, 2 hàng noãn Tuyến mật 2 nằm giữa đáy của bầu nhụy và 2 nhị ngắn Bắp cải có số hoa trên cây nhiều và có khả năng phân cành nhiều, mỗi cành mang nhiều hoa Hoa thường nở vào 7 – 8 giờ sáng Bắp cải thụ phấn nhờ côn trùng, gió

Trang 16

Quả: khi chín rất dễ tách làm hạt rơi ra, do đó thu quả ngay khi quả bắt đầu

chuyển từ màu xanh sang màu hơi vàng Dạng quả bắp cải có kích thước 5 – 10 cm x 0,5 cm, chứa 10 - 30 hạt

Hạt: hình cầu, đường kính 2 – 4 mm, màu nâu Hạt có thể nảy mầm ngay trên mặt

đất Trọng lượng 1.000 hạt từ 3 – 5 g (Phạm Hữu Nguyên, 2009)

2.1.3 Giá trị dinh dưỡng

Bắp cải là cây giàu dinh dưỡng mặc dù có phần thấp hơn so với một số loại rau ăn

lá có màu xanh Lá bắp cải có hàm lượng chất béo, cacbonhydrate và năng lượng thấp tuy nhiên chúng rất giàu protein với sự có mặt của tất cả các loại amino acid cần thiết, đặc biệt là các amino acid có chứa lưu huỳnh Bắp cải còn còn là nguồn dinh dưỡng rất giàu các chất khoáng như Ca, Mg, Fe, Na, K, P và các vitamin Tất cả các loại bắp cải đều có chứa chất glucoside là chất cho vị đắng, là chất kháng sinh nhưng cũng là chất gây ra bệnh bướu cổ Thành phần glucosinolate chứa trong các giống bắp cải biến động từ 299 – 1.288 ppm

Bảng 2.1 Thành phần dinh dưỡng của bắp cải (trong 100g)

Trang 17

Bảng 2.2 Thành phần chất khoáng và vitamin của bắp cải (trong 100g)

(Nguồn: Phạm Hữu Nguyên, 2009)

2.1.4 Tình hình sản xuất trong và ngoài nuớc

Rau được trồng nhiều nước trên thế giới Ở các nước có nền kinh tế phát triển, rau

là nguồn nguyên liệu phục vụ cho công nghiệp chế biến dưới nhiều dạng như sản xuất rau tươi, đông lạnh, đóng hộp, muối, sấy, dùng trong y dược, sản xuất rượu, nước uống rau quả, mỹ phẩm Một số nước có sản lượng rau xuất khẩu lớn trên thế giới: Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ

Ở nước ta cây bắp cải được du nhập và trồng từ thời Pháp và ngày càng được mở rộng diện tích do đã nhập nhiều giống bắp cải chịu nhiệt

Trang 18

Bảng 2.3 Năng suất (tấn.ha-1) bắp cải của thế giới từ năm 2007 – 2009

(Nguồn: www.fao.org/statistics, 2010 trích dẫn bởi Phạm Hữu Nguyên )

Năng suất bắp cải trung bình của thế giới năm 2009 khoảng 22,1 tấn.ha-1 trong đó

Hàn Quốc có năng suất cao nhất 67,3 tấn.ha-1 nhưng Việt Nam chỉ đạt khoảng 17,50

tấn.ha-1 là rất thấp so với thế giới Nhìn chung năng suất trung bình của thế giới

khoảng 22 tấn.ha-1 trong đó Châu Đại Dương có năng suất cao nhất trên 40 tấn.ha-1 và

Châu Phi có năng suất thấp nhất chưa đến 20 tấn.ha-1

Trang 19

Bảng 2.4 Diện tích (ha) bắp cải của thế giới từ năm 2007 – 2009

(Nguồn: www.fao.org/statistics, 2010 trích dẫn bởi Phạm Hữu Nguyên )

Diện tích bắp cải trung bình của thế giới năm 2009 khoảng 3.229.146hatrong đó

Trung Quốc có diện tích lớn nhất 1.869.377 ha chiếm hơn 50% diện tích trồng bắp cải

của thế giới và Việt Nam chỉ đạt khoảng 40.000 ha Nhìn chung diện tích trung bình

của thế giới khoảng 3.000.000 ha trong đó Châu Á có diện tích lớn nhất trên 2.000.000

ha và Châu Đại Dương có diện tích trồng ít nhất khoảng 3.000 ha

Theo bảng 2.5 sản lượng bắp cải trung bình của thế giới năm 2009 khoảng

71.342.347 tấn trong đó Trung Quốc có sản lượng lớn nhất 37.572.750 tấn chiếm hơn

50% sản lượng bắp cải của thế giới và Việt Nam đạt khoảng 700.000 tấn Nhìn chung

sản lượng trung bình của thế giới khoảng gần 70.000.000 tấn trong đó Châu Á có sản

lượng lớn nhất trên 50.000.000 tấn và Châu Mỹ có sản lượng ít nhất khoảng 2.000.000

tấn

Trang 20

Bảng 2.5 Sản lượng (tấn) bắp cải của thế giới từ năm 2007 – 2009

Đà Lạt là một trong những vùng sản xuất rau trọng điểm của cả nước, với điều

kiện tự nhiên, thổ nhưỡng thuận lợi nên việc trồng rau họ thập tự trong đó có cây bắp

cải đã có từ lâu và ngày càng phát triển Cây bắp cải là loại rau được trồng phổ biến tại

Đà Lạt vào những năm 1940 Giống bắp cải trồng ở Đà Lạt có nguồn gốc từ Nhật Bản,

Mỹ, Pháp Trong đó giống bắp cải Nhật Bản đuợc trồng nhiều nhất vì thích hợp với

điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng nơi đây, có khả năng kháng được sâu bệnh tốt, năng

suất cao và ổn định

Hiện nay giống bắp cải được trồng phổ biến ở Đà Lạt là giống bắp cải trắng Nova

và giống bắp cải tím tuy nhiên do giống giống bắp cải tím có năng suất thấp, thời gian

sinh trưởng dài, dễ bị sâu bệnh, thị trường tiêu thụ hạn chế nên ít được trồng Những

năm trước, giống bắp cải trắng Shortgun được trồng nhiều ở Đà Lạt nhưng vài năm

gần đây giồng bắp cải này bị thoái hóa giống làm giảm năng suất, dễ bị sâu bệnh và thị

trường không còn ưu chuộng nên hiện nay hầu hết nông dân ở Đà Lạt đã chuyển sang

trồng giống bắp cải trắng Nova Giống bắp cải trắng Nova có nhiều ưu điểm như có

Trang 21

năng suất cao, lá dày nên ít sâu bệnh, thị trường chấp nhận, ít bị nứt nên có thời gian thu hoạch dài

Hình 2.1 Giống bắp cải trắng Nova

Ở Đà Lạt diện tích rau họ thập tự khoảng 1.800 – 2.000 ha.năm-1 chiếm 30 – 35% diện tích trồng rau tại đây Sản lượng bắp cải hàng năm chiếm khoảng 40% sản lượng rau của Đà Lạt Sản lượng bắp cải phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết Sản lượng bắp cải cao thuờng vào mùa nắng, vụ Đông Xuân từ tháng 11 đến tháng 3, và thấp vào mùa mưa, vụ Hè Thu từ tháng 4 đến tháng 11

Ở Đà Lạt, bắp cải được trồng nhiều ở các phường 7, 8, 11, 12 và một số xã vùng ngoại ô như xã Xuân Thọ, xã Xuân Trường Mỗi năm bắp cải ở đây trồng 3 vụ, mỗi vụ

có thời gian khoảng 3 tháng vào mùa nắng và khoảng 3 tháng 10 ngày vào mùa mưa

Đà Lạt không chỉ là vùng cung cấp rau cho thị trường trong nước mà còn xuất khẩu Hiện nay, qui trình sản xuất rau xuất khẩu sang thị trường truyền thống Đài Loan không có khác biệt nhiều so với qui trình sản xuất bắp cải cung cấp cho thị trường trong nước Bên cạnh đó có một số ít hộ có kí hợp đồng với công ty xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản, Singapore nhưng phải đảm bảo sản xuất theo qui trình do đối tác nước ngoài đưa ra với sự hỗ trợ về kỹ thuật và chịu sự giám sát chặt chẽ của công ty xuất khẩu

Cây bắp cải đã gắn bó với người dân Đà Lạt từ rất lâu và đã trở thành truyền thống sản xuất của người dân nơi đây do đặc tính dễ trồng, thích nghi rộng, chịu bảo quản và vận chuyển và góp phần giải quyết công ăn việc làm tại địa phương, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ rau của người dân ngày một tăng cao Vì vậy, mặc dù giá cả vật tư tăng cao,

Trang 22

giá đầu ra không ổn định nhưng người dân vẫn tiếp tục trồng bắp cải như một phần cuộc sống của họ

2.2 Sâu tơ

2.2.1 Lịch sử phát sinh, phân bố, tác hại

Sâu tơ có nguồn gốc Địa Trung Hải (Châu Âu) và được ghi nhận từ năm 1746 ( Harcourt, 1962) tuy nhiên có tác giả cho rằng ngừơi ta đã nhận biết sớm cách đây ít nhất hơn 3 thế kỷ (Balachowsky A.S, 1966) Hiện nay, sâu tơ đã có mặt ở hầu hết các nước trên thế giới từ các vùng hàn đới ở 60 - 700 vĩ bắc – xứ Iceland và Laponi (Peter Ooi, 1986) đến các nước ôn đới, nhiệt đới xích đạo Ở Châu Âu, đặc biệt ở Anh sâu tơ

có lịch sử phá hoại trên 170 năm nay, nhưng ở các nước khác thuộc Châu Á, Châu Mỹ chỉ mới ghi nhận sự phá hoại của sâu tơ đầu thế kỷ XX Tổng kết đến năm 1972 tối thiểu đã có 128 nuớc ghi nhận sự phá hoại của sâu tơ

Ở Việt Nam chưa có tài liệu nào ghi chép chính xác sâu tơ từ bao giờ Theo Lê Trường (1982) ở cuối thập niên 40 nhiều vùng ở Hà Nội, Hải Phòng, nông dân đã phải

sử dụng thuốc trừ sâu để hạn chế sâu tơ gây hại Hiện nay, sâu tơ được tìm thấy ở hầu hết các vùng trồng rau cải Tuy nhiên gây hại nghiêm trọng ở Hà Nội, Hải Phòng, Đà Lạt, thành phố Hồ Chí Minh, Tiền Giang là những vùng có diện tích trồng rau lớn (trích dẫn bởi Nguyễn Quí Hùng, 1995)

30 loại cây trồng và hoang dại thuộc họ thập tự là nhóm cây chủ yếu chứa chất

“mustard glucosides” (trích dẫn bởi Nguyễn Quí Hùng, 1995)

Trang 23

Tuy vậy tùy từng vùng của mỗi nước – trừ các cây cải bắp, cải bông là loại cây ưa thích của sâu tơ ở khắp nơi trên thế giới – sự phá hại của sâu tơ ở những cây còn lại ở mỗi quốc gia mỗi khác

2.2.4 Triệu chứng phá hại của sâu tơ

Sâu tơ phá hại chủ yếu ở giai đoạn sâu non Sâu non tuổi 1, tuổi 2 ăn nhu mô lá hay phần mềm của lá non, lá bánh tẻ chừa lại lớp biểu bì trên mặt lá tạo thành những đám trong mờ Sang tuổi 3 sâu ăn lũng lá tạo thành những lỗ thủng Khi mật số sâu cao bắp cải bị hại nghiêm trọng thường dẫn đến bắp cải không cuốn lại được, chất lượng giảm trầm trọng (theo Nguyễn Thị Chắt, 2006)

Hình 2.2 Triệu chứng lá bắp cải bị hại 2.2.5 Đặc điểm hình thái và sinh học

Theo Nguyễn Thị Chắt (2006), thành trùng là một loại ngài nhỏ màu xám nâu Trên cánh trước có nhiều đốm nhỏ màu nâu, mép dưới cánh trước kéo dài từ gốc cánh đến mép ngoài cánh có một vệt trắng hình gợn sóng Khi đậu 2 cánh xếp tên lưng hình mái nhà tạo 3 hình thoi lớn trên lưng Cánh sau màu nhạt hơn, mép cánh

có lông dài Cơ thể ngài dài 6 – 7 mm, sải cánh dài 13 – 16 mm

Trứng màu vàng sáng hình bầu dục Trứng được đẻ thành nhóm 3 – 5 trứng ở mặt trên hoặc mặt dưới lá

Ấu trùng màu xanh nhạt, đẫy sức có thể dài 12 – 15 mm, thân chia đốt rất rõ ràng Mỗi đốt có nhiều lông nhỏ Gần chân bụng có một u lớn, trên có 3 lông nhỏ Trên lưng ngực có mãnh cứng, trên đó có chấm nhỏ xếp hình chữ U

Nhộng nằm trong một cái kén mỏng dài 5 – 7 mm, mới làm nhộng có màu xanh nhạt, sau chuyển sang màu nâu vàng

Trang 24

Hình 2.3 Các giai đoạn sinh trưởng của sâu tơ

Thành trùng sau khi vũ hóa từ 1 – 2 ngày mới bắt cặp và đẻ trứng Chúng có thể sống 15 – 20 ngày Giai đoạn đẻ trứng 2 – 3 ngày, một ngài cái có thể đẻ từ 50 – 320 trứng Giai đoạn ủ trứng 3 – 8 ngày Ấu trùng thường có 4 tuổi, kéo dài 7 – 14 ngày Nhộng phát triển 4 – 7 ngày

Thành trùng hoạt động vào lúc chiều tối, mạnh nhất từ chập tối đến nữa đêm Ban ngày ẩn nấp dưới lá, khi bị động bay lên từng đoạn ngắn Sau khi vũ hóa 1 – 2 ngày sẽ đẻ trứng Trứng đẻ rãi rác hoặc thành từng nhóm trên thân, mặt trên hoặc mặt dưới lá

Sâu non nở ra ăn biểu bì, phần mềm ở mặt dưới lá đặc biệt lá các lá bánh tẻ Sâu tuổi 1 – 2 chủ yếu là ăn phần mềm của lá, chừa lại màng mỏng Sang tuổi 3 sâu ăn lũng lá Khi bị động sâu thường nhả tơ buông mình xuống đất nên còn gọi là sâu dù Khi mật số sâu cao, bắp cải bị hại rất nghiêm trọng, lá cải bị lũng lỗ dày đặc dẫn đến bắp cải không cuộn bắp, chất lượng kém không sử dụng được Đẫy sức sâu tơ nhã kén làm nhộng ngay trên lá bắp cải Mật số sâu tơ cũng phụ thuộc vào yếu tố sinh thái như thời tiết, khí hậu, thức ăn, ký sinh Sâu tơ phát triển thuận lợi ở 20 – 30oC

và ẩm độ từ 70 – 85% nhưng mưa dầm sâu sẽ chết nhiều Sâu tơ gây hại quanh năm nhưng thời điểm gây hại mạnh nhất từ tháng 11 năm trước đến tháng 2 năm sau và gây hại nặng ở giai đoạn trải lá bàng

Sâu tơ có gần 90 loài ký sinh, trong đó quan trọng nhất là Trichogamma sp.,

Apanteles sp

Trang 25

2.2.6 Phòng trừ

- Giống: chọn giống lá dày, màu xanh đậm và bóng

- Biện pháp canh tác: tưới phun mưa vào buổi chiều mát hoặc xẩm tối để giảm

khả năng bắt cặp, sinh sản

Trồng xen 1 liếp cà chua với 2 liếp bắp cải Cà chua trồng trước bắp cải 30 ngày

để cà chua tỏa mùi xua đuổi ngài đến đẻ trứng

Vệ sinh đồng ruộng bằng cách thường xuyên làm cỏ, tỉa bỏ lá già và rắc vôi lên

hố chôn lá già

Xử lý cây con trước trồng bằng cách nhúng ngập phần thân lá của cả bó cây con

vào dung dịch thuốc trừ sâu vi sinh (centari, sandoz, dipel) nồng độ 20 g/10 lít nước

trong 5 giây Để ráo và đem trồng

- Biện pháp cơ giới, vật lý: giết sâu, nhộng bằng tay

Bẫy đèn ở các thời điểm ngài rộ trong khoảng 1 tiếng từ 7 giờ đến 8 giờ tối,

làm đồng loạt trên diện rộng

- Biện pháp sinh học: sâu tơ bị nhiều loại ong ký sinh nhưng quan trọng nhất là

ong kén trắng Cotesia plutellae Trong những tháng mua phùn ẩm ướt, sâu tơ

bị chết hàng loạt do nấm Beauveria bassiana và vi khuẩn BT (Bacillus

thuringiensis)

- Biện pháp hóa học

Đúng lúc: tiến hành phun thuốc khi mật số sâu vượt qua ngưỡng gây hại

Bảng 2.6 Ngưỡng gây hại của sâu tơ đối với bắp cải

Giai đoạn sinh trưởng Ngưỡng trừ sâu

Tuần 1 – 3 sau trồng > 0,50 con/cây

Tuần 4 – 7 sau trồng > 1,00 con/cây

Tuần 7 đến trước thu hoạch > 10,00 con/cây

(Nguồn: theo Phạm Hữu Nguyên)

Trang 26

2.2.7 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Theo Harcourt (1957), bướm sâu tơ hoạt động bay diễn ra mạnh nhất trong khoảng

1 giờ mỗi ngày bắt đầu sau lúc mặt trời lặn khoảng 90 phút và kết thúc khoảng 7 giờ tối Và ở Canada bướm đực sống 3 – 58 ngày, bướm cái sống 7 – 47 ngày, nếu không

có cây kí chủ bướm sống 11 – 27 ngày

Theo Salinas (1972), khi nghiên cứu sâu tơ tại Bỉ nếu có cây kí chủ thời gian trước

đẻ thường dưới 1 ngày, nếu có cây kí chủ thì thường khoảng 1 ngày

Thời gian đẻ trứng thường lúc chiều tối và kết thúc lúc 7 giờ tối (theo Robertsons, 1939)

Tại Nhật, Yamada và Kawasaki (1983), thí nghiệm nuôi bướm ở các nhiệt độ cố định thấy rằng trên 270C khả năng sống của bướm giảm rõ rệt

Theo Koshihara (1986), nhận xét nếu nuôi sâu non bằng lá cải bắp non và lá cải bắp ở giai đoạn sắp cuốn thì thời gian sống của bướm dài hơn nuôi bằng lá cải bắp sau cuốn và thời gian sống của bướm thay đổi theo các tháng trong năm (thời gian sống của bướm ngắn nhất ở mùa hè từ tháng 4 đến tháng 8)

Theo Salinas (1986), số trứng đẻ của bướm phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: di truyền, điều kiện dinh dưỡng của sâu non, điều kiện sống của trưởng thành

Tại Đài Loan, Chen và Su (1986), đã công bố ở vùng bắc Đài Loan vòng đời sâu

tơ khoảng 28 – 49 ngày, ở vùng nam Đài Loan khoảng 18 – 39 ngày và nhấn mạnh yếu

tố mưa lớn là yếu tố chính làm giảm số lượng của sâu tơ trong mùa hè và sâu tơ sẽ nguy hiểm hơn trên cây rau họ thập tự có thời gian sinh trưởng dài

Theo Hardy (1938), sâu non có thể sinh sản và phát triển từ 10OC - 40OC và trưởng thành vẫn có thể hoạt động tới 50OC

Cự ly di cư của bướm được nhiều tác giả ghi nhận khoảng trên 3.000 km (Thygesen, 1968; Bertherton, 1982) Năm 1967, French báo cáo đợt di cư dài 3.680

km với bướm bay nhiều ngày liên tục

Theo Lim và ctv (1986), sevithon (carbaryl + malathion) rất độc cho kí sinh nhưng không độc cho sâu tơ, cartap độc cho cả sâu tơ và kí sinh, tỷ lệ kí sinh cao trong

lô phun diphel và đối chứng, lô xử lý sevithon có tỷ lệ kí sinh thấp (khoảng 0,05%) và

tỷ lệ sâu trưởng thành cao (47,9%) cho thấy Costesia plutella rất quan trọng trong việc

hạn chế quần thể sâu tơ

Trang 27

Ở Hawaii, Tabashinik và ctv (1990), đã ghi nhận nguồn sâu tơ bắt được trong khu

vực đã dùng Bt (Bacillus thuringiensis) từ 50 – 100 lần có LC50 cao hơn khoảng 6 lần

so với nguồn sâu tơ ở nơi không dùng Bt

Theo Ho và ctv (1990), ở Malaysia biện pháp nhân nuôi và thả ong kí sinh

Diadegma semiclausum và Diadromus collaris thành công có hiệu quả trong phối hợp

với Bt, virus, và nấm bệnh

Buranday và Raros (1973), Srinivasan (1984), nhận thấy xen canh cà chua với họ thập tự làm giảm thiệt hại do sâu tơ

Gupta và Thorteinson (1960), cho thấy dịch trích từ lá cà chua làm giảm số trứng

đẻ của sâu tơ trên bắp cải và cải bắc thảo

Theo Cartwright B và ctv (1990), ở vùng Rio Grande Valley thuộc vùng tây nam nước Mỹ, vào những năm 1986, mỗi vụ nông dân thường phun trung bình 8 lần để trừ sâu tơ, nhưng tới năm 1989 – 1990, số lần phun thuốc trừ sâu tơ lên đến 12 – 15 lần trên 1 vụ bắp cải đôi khi lên tới 20 lần

Theo Nemotomo H (1990), việc quá lệ thuộc vào biện pháp hóa học, lạm dụng thuốc hóa học đã đưa đến những hậu quả: hiện tượng kháng thuốc, hiện tượng tái phát của sâu tơ, tiêu diệt thiên địch Và tác giả cho biết vào năm 1981 trên cánh đồng phun methomyl 4 lần/vụ để trừ sâu hại cải bông ở Nhật thì sâu tơ đã xuất hiện với mật độ cao hơn nhiều so với nơi không phun thuốc Nguyên nhân của hiện tượng tái phát sâu

tơ khi phun methomyl là tiêu diệt mất thiên địch và kích thích sinh sản ở sâu tơ (trích dẫn bởi Nguyễn Quí Hùng, 1995)

2.2.8 Tình hình nghiên cứu trong nước

Mỗi bướm cải chỉ giao phối 1 lần trong suốt cuộc đời, thời gian giao phối kéo dài

1 – 2 giờ Khi giao phối bướm cái thường bám lên cây đầu hướng lên trên, bướm đực nằm theo hướng ngược lại treo thân lơ lững đầu chúi xuống đất

Theo Nguyễn Quí Hùng và Huỳnh Công Hà (1993), nuôi sâu tơ trong tháng 9 – 10 tại thành phố Hồ Chí Minh có kết quả thời gian sống của bướm 2 – 6 ngày (trung bình

3 – 4 ngày) và sâu nuôi bằng lá bắp cải non bướm sống lâu hơn và đẻ nhiều hơn nuôi bằng lá bắp cải già Vòng đời sâu tơ khoảng 15 – 17 ngày (trứng 2 – 3 ngày, sâu non 8,4 – 8,8 ngày, nhộng 3 – 3,3 ngày)

Trang 28

Theo Nguyễn Quí Hùng và Huỳnh Công Hà (1992), nuôi sâu tơ trong lồng lưới vào tháng 9 – 10 tại thành phố Hồ Chí Minh nhận thấy khả năng đẻ trứng sâu tơ 100 –

150 trứng/bướm cái

Theo Nguyễn Quí Hùng và Huỳnh Công Hà (1993), vùng ven thành phố Hồ Chí Minh ước tính khoảng trên dưới 20 lứa sâu tơ gây hại Bất kí thời gian nào trong năm nêu có cây họ thập tự đều thấy sâu tơ hiện diện Tuy nhiên trong mùa khô mật số thường cao hơn mùa mưa

Ở Việt Nam không có hộ nông dân nào trồng cải mà không phun thuốc để trừ sâu

tơ (Nguyễn Quí Hùng và ctv, 1995)

Việc phun thuốc trừ sâu theo định kì là không cần thiết mà còn có thể góp phần làm cho công tác phòng trừ sâu tơ ngày càng khó khăn hơn Năm 1989 – 1990, tại vùng chuyên canh rau tại huyện Châu Thành – Tiền Giang, có nông dân đã pha 5 loại thuốc trừ sâu trong 1 bình để phun trừ sâu tơ nhưng hiệu quả không quá 1 vụ (trích dẫn bởi Nguyễn Quí Hùng, 1995)

Nghiên cứu về ảnh hưởng của các loại thuốc trừ sâu nông dân thường dùng để trừ sâu tơ được thực hiện trong phòng thí nghiệm đối với giai đoạn nhộng và trưởng thành

của ong D collaris cho thấy các loại thuốc hóa học như fenvalerate, abamectin, fipronil và spinosad ảnh hưởng rất lớn đến sự sống sót và khả năng kí sinh của ong D

collaris Ở liều lượng khuyến cáo chúng có thể giết 72,89 – 90,37% ong trưởng thành

và làm 51,87 – 71,74% nhộng ong không vũ hóa được Thuốc diafenthiuron ảnh hưởng nhẹ hơn (Nguyễn Duy Hải, 2005)

Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thuốc trừ sâu đến ong D semiclausum được

thực hiện trong phòng và ngoài đồng Kết quả thí nghiệm trong phòng cho thấy các

loại thuốc trừ sâu: fenvalerate, cypermethrin, fipronil, Bt đều ảnh hưởng đến ong D

semiclausum đặc biệt các loại thuốc như fenvalerate, cypermethrin, fipronil chúng có

thể gây chết 85,9 – 91,5% ong trưởng thành và làm 65,4 – 66,3% nhộng ong không vũ hóa được Tương tự trên ruộng nông dân khi sử dụng các loại thuốc hóa học tỷ lệ kí

sinh của ong D semiclausum giảm đi đáng kể, có ruộng không thấy sự hiện diện của

ong (Nguyễn Văn Sơn, 2004)

Trang 29

2.2.9 Tính kháng thuốc của sâu tơ

Theo Sakai M (1986), năm 1985 trong số 28 loại thuốc chủ yếu được đăng kí để

sử dụng phòng trừ sâu tơ ở Nhật thì có 25 là các hợp chất lân hữu cơ Vào những năm

80 của thế kỷ trước, có tới 30% diện tích trồng rau họ thập tự ở Nhật đã dùng cartap để trừ sâu tơ

Từ vi khuẩn đất Streptomyces avermitilis người ta thu được những avermectin là

những phức chất disacarid vòng Những phức chất này được chia thành 2 nhóm A và

B, nhóm B có hoạt tính sinh học cao đối với sâu Trong các avermectin, có hợp chất avermectin B1 được đặt tên là abamectin và được nghiên cứu sử dụng làm thuốc trừ sâu (Ray D.E., 1991)

Ở hầu hết các nước, trong những thời gian dài, việc phòng trừ sâu tơ phụ thuộc chủ yếu vào biện pháp hóa học (Yeh R và ctv, 1986)

Sâu tơ có lẽ là loài côn trùng nông nghiệp thuộc bộ cánh vảy đầu tiên được phát hiện đã kháng được một loại thuốc trừ sâu tổng hợp hữu cơ là DDT, điều này xảy ra ở Giava – Indonesia vào năm 1953, chỉ 4 – 5 năm sau khi DDT được sử dụng thay thế cho thuốc thảo mộc trừ sâu tơ retenone (Anker – smith G.W., 1953)

Năm 1981, sâu tơ ở 14 nước đã kháng được 36 loại thuốc trừ sâu khác nhau (Georghiou G.P., 1981); năm 1985, sâu tơ ở các nước đã kháng được 46 loại thuốc trừ sâu (Miyata T và ctv, 1985)

Yun Cheng E (1985), nhận xét về sự hình thành các nòi sâu tơ kháng thuốc ở Đài Loan cho biết: tại những vùng rau họ thập tự được trồng xen với lúa, tuy rau cải vẫn được phun thuốc để trừ sâu tơ nhưng ở những nơi đó không xuất hiện những nòi sâu tơ kháng thuốc Hiện tượng kháng thuốc chỉ xảy ra ở những vùng chuyên canh, quanh năm trồng rau họ thập tự

Tính kháng của sâu tơ đối với các nhóm thuốc trừ sâu khác nhau có những đặc điểm riêng thể hiện trên các mặt: sự sai khác về tốc độ hình thành tính kháng của sâu

tơ đối với các nhóm thuốc, tính bền vững của tính kháng của sâu tơ đối với từng nhóm thuốc có thể không giống nhau, và khả năng kháng chéo của sâu tơ đối với từng nhóm cũng khác nhau

Trong các nhóm thuốc thông dụng để trừ sâu tơ, nhiều tài liệu cho biết tốc độ hình thành tính kháng của sâu tơ đối với các nhóm thuốc pyrethroid và nhóm thuốc điều

Trang 30

hòa sinh trưởng côn trùng diễn ra nhanh nhất còn nhóm lân hữu cơ được xem là rất phức tạp và không đồng nhất

Nhóm thuốc pyrethroid có nhiều nhược điểm: nhanh chóng hình thành tính kháng

ở sâu tơ, khi đã kháng được 1 một hợp chất pyrethroid thì sâu tơ có khả năng kháng chéo với các hợp chất pyrethroid khác, và tính kháng của sâu tơ với nhóm này thì khá bền vững

Yun Cheng (1986), cho biết ở Đài Loan carbofuran (carbamate) có hiệu lực trừ sâu

tơ cao nhưng chỉ sau vài thế hệ sâu tơ đã kháng được thuốc này Và chỉ cần kháng 1 trong 4 loại thuốc fenvalerate, permethrin, cypermethrin hay delatmethrin thì sâu tơ đã kháng ngay được với tất cả 4 loại trừ sâu trên Không những vậy, khi đã kháng được một loại pyrethroid, nòi sâu tơ này còn có khả năng kháng chéo nhiều loại thuốc trừ sâu lân hữu cơ khác

Nhiều tài liệu cho biết thuốc Bt sau gần 30 năm sử dụng mới có những báo cáo về tính kháng của sâu tơ đối với thuốc này (trích dẫn bởi Nguyễn Quí Hùng, 1995)

Năm 1957, sâu tơ đã kháng các loại thuốc như DDT, BHC (Henderson,1957) Khả năng kháng thuốc thường tăng lên đối với loại côn trùng có vòng đời ngắn Điều này được xác nhận khi Ho (1965) phát hiện ra gần như các loại thuốc được sử dụng như malathion, diazinon, dieldrin đã không có hiệu quả trong việc phòng trừ sâu tơ Sau khi phát hiện ra tính kháng thuốc của sâu tơ, một số loại thuốc trừ sâu mới được đưa ra

để phòng trừ, nhưng qua điều tra của Lim (1974) cho thấy 60% nông dân vẫn không thể kiểm soát được sâu tơ Vào thập niên 1980, hàng loạt hóa chất mới được đưa ra để phòng trừ sâu tơ bao gồm: fenvalerate, prothiophos, triazophos, cartap, merhomyl, cypermethrin, bioresmethrin Tuy nhiên các loại hóa chất trên đều kém hiệu quả sau 2 – 3 năm sử dụng Cho đến nay sâu tơ đã kháng với tất cả các nhóm thuốc trừ sâu kể cả nhóm thuốc điều hòa sinh trưởng côn trùng và chế phẩm sinh học Giữa thập niên

1960, mevinphos trừ sâu tơ có hiệu quả cao nhưng đến 1970 thì mất tác dụng Nhóm cúc tổng hợp rất hữu hiệu khi áp dụng năm 1976 nhưng mất hiệu lực sau 2 năm Thập niên 1970, ghi nhận hiệu quả của thuốc trừ sâu Bt, được chương trình IPM đánh giá cao nhờ ngưỡng kinh tế và bảo tồn thiên địch Đầu 1980, chất điều hòa sinh trưởng côn trùng IGR (Insect Growth Regulator) được đưa vào sử dụng, chậm tác động nhưng

có hiệu quả cao, bị tính kháng của sâu tơ đẩy lùi vào năm 1984 Theo Nemato, 1984

Trang 31

nguy hiểm hơn methomyl có thể gây tái bộc phát quần thể sâu tơ do kích thích tiềm năng sinh sản của sâu tơ kháng thuốc (trích dẫn bởi Nguyễn Duy Hải, 2005)

Những năm 1920, cùng với sự du nhập các giống cải bắp vào những vùng nhiệt đới và khách du lịch đến đây là nguyên nhân sâu tơ xuất hiện tại khu vực này Chúng bắt đầu thích nghi tốt với môi trường Giai đoạn này, việc quản lý sâu tơ chủ yếu dựa vào luân canh và sử dụng thuốc được chiết xuất từ rễ cây thuốc cá Việc cây cải bắp được phát triển mạnh về diện tích vào những năm 1930 càng tạo điều kiện cho sâu tơ

du nhập và tích lũy mật số mà không gặp phải bất kì trở ngại nào Cuối năm 1940, thuốc hóa học được sử dụng để kiểm soát sâu tơ như DDT, dieldrin, Gamma – HCl đã cho hiệu quả cao trong phòng trừ dịch hại tạo tâm lý ỷ lại ở người dân mà không quan tâm đến vấn đề ô nhiễm môi trường Đến giữa những năm 1950, nông dân ở cao nguyên Cameron bắt đầu gặp khó khăn trong phòng trừ sâu tơ Năm 1953, ở Indonesia, sâu tơ bắt đầu kháng thuốc Cl hữu cơ Thuốc gốc lân hữu cơ được đưa vào

sử dụng ồ ạt thay thế Cl hữu cơ Đến 1976, sâu tơ đã kháng vói nhóm thuốc malathion Mặc dù thay đổi thường xuyên các loại thuốc, mỗi người nông dân đều nhận thấy rằng sâu tơ ngày càng khó bị kiểm soát và nhanh chóng kháng với cả thuốc thuộc nhóm cúc tổng hợp Vào năm 1988, cùng với sự bọc phát sâu tơ, những nghi ngờ về tính kháng đối với chất điều hòa sinh trưởng côn trùng đã được đặt ra (Huỳnh Cao Phong, 2007)

Lê Trường (1982), ở nước ta DDT được sử dụng từ khoảng đầu thập kỷ 50 của thế

kỷ trước tại các vùng trồng rau ở vùng ven Hà Nội để trừ sâu hại cải Và 10 năm sau (1960 – 1961), tại đây mới xuất hiện hiện tượng sâu tơ kháng thuốc DDT Ở nước ta điều tra trong suốt những năm 1950 – 1980 tại các vùng chuyên canh rau họ thập tự tại

Hà Nội cho thấy khi sâu tơ kháng thuốc DDT thì khi thay thế bằng các loại thuốc trừ sâu khác, thời gian có tác dụng của các loại thuốc thay thế ngày càng rút ngắn: methyl parathion 3 – 4 năm, dipterex 2 – 3 năm, diazinon 1 – 2 năm Ở những nơi sâu tơ đã kháng được một loại thuốc, sâu non tuổi 1 và đầu tuổi 2 vẫn tương đối mẫn cảm với thuốc đó (trích dẫn bởi Nguyễn Quí Hùng, 1995)

Các thuốc trừ sâu sherpa (cypermethrin), decis (decamethrin), được đưa vào sử dụng ở vùng chuyên canh rau Đà Lạt từ những năm 1986 – 1987 nhưng chỉ sau 2 năm thì đã bắt đầu giảm hiệu lực đối với sâu tơ Và thuốc nomolt (telflubenzuron) được đưa

Trang 32

vào sử dụng năm 1989 nhưng chỉ 1 năm sau sâu tơ đã hình thành tính kháng đối với thuốc này (Nguyễn Quí Hùng và ctv, 1995)

2.2.10 Cơ chế kháng thuốc của sâu tơ

Nhiều tài liệu cho biết đối với nhiều loại thuốc trừ sâu như diazinon, methomyl, fenvalerate, phenthoate những nòi sâu tơ kháng thuốc đã có khả năng hạn chế sự xâm nhập của những thuốc này vào bên trong cơ thể

Do sự giảm sút về mức độ nhạy cảm đối với tác động của thuốc trừ sâu ở những vị trí tác động của thuốc ở trong cơ thể sâu tơ Có những nòi sâu tơ kháng được thuốc trừ sâu diazinon cùng nhiều hợp chất lân hữu cơ khác, nhiều loại thuốc carbamate khác nhau là do men cholinesteraza của chúng đã trở nên không mẫn cảm với những thuốc này, và thuốc Bt là do sự giảm sút ái lực của màng ruột giữa đối với chất này (Sun C.N., 1986) Và theo Sawicki (1980), cho biết sâu tơ kháng được các thuốc trừ sâu pyrethroid là do vị trí tác động của các thuốc này trên màng của vỏ sợi trục của nơron thần kinh đã không còn mẫn cảm đối với tác động của thuốc Hai cơ chế kháng thuốc trên còn được gọi là cơ chế không chuyển hóa

Cơ chế kháng thuốc thứ 3 được xem là quan trọng nhất đó là cơ chế chuyển hóa hay còn gọi là cơ chế kháng sinh lý, cơ chế giải độc Dưới tác động của những men khác nhau có trong cơ thể các nòi sâu tơ kháng thuốc, phân tử của các loại thuốc trừ sâu khi xâm nhập vào cơ thể đã bị chuyển hóa, phân rã theo nhiều con đường khác nhau (như oxy hóa, thủy phân, khử alkyl, khử Cl) thành những chất không độc Cơ chế này tạo ra mức độ kháng mạnh mẽ nhất của sâu tơ với thuốc Cơ chế giải độc quan trọng nhất của sâu tơ là sự chuyển hóa oxy hóa của nhiều hợp chất thuốc trừ sâu thuộc nhiều nhóm khác nhau trong cơ thể sâu non (Cheng E.Y và ctv, 1990) Ví dụ nòi sâu

tơ kháng được DDT là do bên trong cơ thể có chứa men DDT aza hoạt động, khử Cl của phân tử DDT, chuyển DDT thành DDE là hợp chất không có tính độc

Cơ chế kháng chéo (cross resistance) và đa kháng (multiple resistance) là khi tiếp xúc với một loại thuốc liên tục qua nhiều thế hệ thì sâu tơ chẳng những hình thành tính kháng với thuốc đó mà còn kháng được một hay nhiều loại thuốc mà nòi sâu tơ đó chưa hề tiếp xúc Syed A.R (1990), khảo sát ở vùng cao nguyên Cameron của Malaysia cho biết sau nhiều năm sử dụng permethrin và decamethrin trên cải bắp, thì

đã hình thành nòi sâu tơ chẳng những kháng được cả 2 loại thuốc này mà còn kháng

Trang 33

được thuốc cypermethrin chưa từng được sử dụng trên cao nguyên này Hiện tượng này là hiện tượng kháng chéo của sâu tơ với cypermethrin Tính đa kháng nói lên khả năng của một loài sâu hại có thể kháng được nhiều loại thuốc trừ sâu khác nhau đã được sử dụng đồng thời hay liên tiếp trong một thời gian dài Liu (1982), ở Đài Loan nòi sâu tơ ở vùng Ban Chau đã kháng được cùng một lúc 15 loại thuốc trừ sâu gồm: 6 hợp chất lân hữu cơ, 3 loại thuốc trừ sâu carbamate, 4 loại thuốc trừ sâu pyrethroid, 1 loại thuốc trừ sâu Clo hữu cơ và 1 loại thuốc trừ sâu amin bậc 3 Hiện tượng đa kháng xảy ra do nhiều cơ chế kháng khác nhau cùng tồn tại và cùng hoạt động đồng thời trong cơ thể của 1 nòi sâu tơ, tạo một phổ kháng riêng biệt cho từng nòi sâu hại Metcalf R.L (1984), cho biết rất nhiều công trình nghiên cứu trong phòng và trên đồng ruộng đã cho thấy những côn trùng bị xử lý bằng hỗn hợp nhiều thuốc trừ sâu cuối cùng sẽ kháng được tất cả những loại thuốc cấu tạo nên hỗn hợp đó Biện pháp hỗn hợp thuốc không ngăn cản được sự xuất hiện tính kháng mà còn thúc đẩy và làm cho nó phức tạp hơn lên (trích dẫn bởi Nguyễn Quí Hùng, 1995)

2.3 Các loại thuốc thí nghiệm

Công thức hóa học: C49H75NO13 (emamectin B1a) + C48H73NO13 (emamectin B1b)

Tính chất: thuốc được sản xuất từ dịch phân lập qua lên men nấm Streptomyces

avermitilis Nguyên chất dạng bột rắn, màu vàng nhạt, điểm nóng chảy 150 – 155oC, tan ít trong nước (0,01 mg.l-1), tan nhiều trong dung môi hữu cơ

Nhóm độc II, LD50 qua miệng 300 mg.kg-1, LD50 qua da > 1800 mg.kg-1, dễ kích thích da và mắt, tương đối độc với cá, ít độc với ong Thời gian cách ly 14 ngày

Thuốc trừ sâu và nhện tiếp xúc, vị độc Phổ tác dụng tương đối hẹp

Sử dụng: phòng trừ các loại sâu tơ, sâu xanh, dòi đục lá, rầy, rệp, bọ phấn và nhện

hại cà chua, các loại rau, cam, quít, và cây ăn quả khác

Trang 34

Liều lượng sử dụng trừ sâu 10 – 20g a.i.ha-1, trừ nhện 15 – 25g a.i.ha-1

Chế phẩm Proclaim 1.9EC không những diệt tốt sâu non mà còn có thể diệt trứng

ở một số loài sâu hại Khi sâu non nhiễm thuốc sẽ lập tức biếng ăn, ngưng hoạt động

và chết vào 1 – 2 ngày sau đó Proclaim 1.9EC có tác dụng thấm sâu, chuyển vị nhanh

và lưu lại trong các bộ phận của cây trồng đến 10 ngày sau khi xử lý Khi phun lên lá cây, Proclaim 1.9EC được hấp thu và chuyển vị từ mặt trên xuống mặt dưới lá nên có thể diệt được trứng của sâu hại hoặc sâu non nằm ở mặt dưới lá Liều dùng của Proclaim 1.9EC: đối với sâu tơ trên bắp cải: pha 20 ml/bình 16 lít, phun ướt đều bộ lá

Khả năng hỗn hợp: có thể pha chung với nhiều loại thuốc trừ sâu bệnh khác 2.3.3 Success 120SC (Dow Agro Sciences B.V)

Hoạt chất: spinosad

Tên hóa học: Sacharopolyspora spinosa ( nấm thuộc nhóm Actinomyces)

Nhóm hóa học: thuốc vi sinh

Tính chất: thuốc rất ít độc với người, gia súc, cá và ong mật Nhóm độc III, LD50 qua miệng > 5000 mg.kg-1 Thời gian cách ly 7 ngày

Tác động tiếp xúc và vị độc Phổ tác dụng rộng

Sử dụng: phòng trừ các loại sâu ăn lá cho rau, bông, thuốc lá

Khả năng hỗn hợp: không pha chung với các thuốc trừ nấm

2.3.4 Ammate 150SC (Du Pon Vietnam Ltd.)

Hoạt chất: indoxacarb

Tên hóa học:

[(S)-methyl-7-choro-2,5-dihydro-2-[(methoxycarboxyl)[4-(trifluoromethoxy) phenyl]amino] carbonyl] indeno [1,2-e][1,3,4] oxadiazine-4a carboxylate]

(3H)-Nhóm hóa học: oxadiazine

Tính chất : rất ít tan trong nuớc Nhóm độc II LD50 qua miệng 751 mg.kg-1 LD50qua da > 2000 mg.kg-1, ít độc với cá, thiên địch và ong, tương đối an toàn cho người

và môi trường Thời gian cách ly 5 – 7 ngày

Tác động tiếp xúc và vị độc, có tính thấm sâu Trong cơ thể của sâu, ion Na+ đóng vai trò truyền các xung động về hệ thần kinh trung ương, từ đó tạo ra các phản xạ cần thiết để cơ thể hoạt động Indoxacarb có tác dụng bao bọc các ion Na+ lại nên các xung

Trang 35

động thần kinh không được truyền về thần kinh trung ương, nên toàn bộ hệ thần kinh trung ương bị tê liệt dẫn đến tình trạng sâu chết

Thuốc diệt sâu hại ở 3 giai đoạn : sâu non - nhộng - trứng Sâu ngưng ăn sau khi nhiễm thuốc vài phút cho đến 4 giờ và chết hẳn sau 4 đến 48 giờ Khi chết sâu bị co quặp lại như hình chử V hay hình chử C và rơi xuống đất Hiệu lực của thuốc kéo dài

từ 7 – 14 ngày

Thuốc bám dính tốt trên bề mặt trơn láng và thấm nhanh vào cây trồng, ít bị phân hủy bởi ánh sáng mặt trời, khó bị rửa trôi, sau khi phun thuốc khoảng 2 giờ gặp trời mưa thì không cần phải phun lại Thuốc vẫn đạt hiệu quả khi nhiệt độ là 5oC hoặc nhiệt độ là 45oC, nhiệt độ càng cao thì thuốc càng phát huy tác dụng nhanh hơn

Sử dụng: Ammate 150SC diệt trừ hiệu quả các loài sâu hại thuộc các bộ

Lepidoptera, Coleoptera, Homoptera, Hemiptera như sâu tơ, sâu xanh da láng, sâu xanh, sâu ăn tạp, sâu đục trái đậu, bọ cánh cứng, rầy, bọ xít cho nhiều loại cây trồng

(rau, đậu, bông, thuốc lá, cây ăn quả) Liều lượng sử dụng : 0,27 – 0,33 lít.ha-1 Pha 8 ml/bình phun 8 – 10 lít nước Lượng nước : 320 – 480 lít.ha-1 (tùy theo tuổi của cây trồng)

Khả năng hỗn hợp: có thể pha chung với nhiều thuốc trừ sâu bệnh khác

2.3.5 Pegasus 500SC (Syngenta Vietnam Ltd.)

Nhóm độc III, LD50 qua miệng 2.068 mg.kg-1, LD50 qua da > 2000 mg.kg-1 Ít độc với cá, độc với ong Thời gian cách ly 7 ngày

Tác động tiếp xúc, vị độc và xông hơi, có khả năng thấm sâu Phổ tác dụng rộng, diệt được cả trứng sâu

Trang 36

Sử dụng: phòng trừ nhiều loại sâu và nhện hại cây trồng như sâu tơ, sâu xanh, rệp hại cải, sâu xanh da láng, sâu khoang, sâu đục quả, rệp hại đậu, sâu hại bông, sâu ăn lá, rệp sáp, bọ xít, rầy, nhện đỏ hại cây ăn quả, chè, cà phê

Pegasus 500SC sử dụng với liều lượng 0,5 – 1 l.ha-1 pha với 300 – 400 lít nước phun trừ sâu cho rau, đậu, bông, hoặc pha nước với nồng độ 0,1% phun ướt đều lên cây lâu năm

Khả năng hỗn hợp: có thể pha chung với nhiều loại thuốc trừ sâu bệnh khác

2.3.6 Sumi - Alpha 5EC (Sumitomo Chemical Co, Ltd,)

Tên họat chất: esfenvalerate

Tên hóa học: (S) – cyano (3-phenoxyphenyl) methyl (αS) – 4 – chloro – α - (1 -

methylethyl) benzeneacetate

Công thức hóa học: C25H22ClNO3

Phân tử lượng: 419,9

Nhóm hóa học: pyrethroid

Tính chất: thuốc kỹ thuật ở dạng lỏng, màu nâu nhạt Áp suất hơi ở 25OC là 5 x

10-7 mmHg Không tan trong nước, tan nhiều trong dung môi hữu cơ như acetone, chloroform, xylene Không ăn mòn kim loại Bền trong acid nhẹ, dễ phân hủy trong kiềm

Nhóm độc II, LD50 qua miệng 325 mg.kg-1, LD50 qua da > 5.000 mg.kg-1 Tương đối độc với cá và ong Thời gian cách ly 7 ngày

Tác động tiếp xúc, vị độc, có tính xua đuổi côn trùng Phổ tác dụng rộng

Sử dụng: phòng trừ nhiều loại sâu ăn lá và chích hút như sâu tơ, sâu xanh, bọ nhảy, rệp hại rau, sâu khoang, sâu đục quả Chế phẩm sữa 5% hoạt chất dùng cho rau với liều lượng 0,5 – 0,75 l.ha-1

Khả năng hỗn hợp: có thể pha chung với nhiều thuốc trừ sâu bệnh khác Không pha chung với thuốc có tính kiềm như Bordeaux

2.3.7 Secsaigon 25EC ( công ty TNHH 1 thành viên BVTV Sài Gòn)

Hoạt chất: cypermethrin

Tên hóa học: (RS )- cyano (3 - phenoxyphenyl) methyl (1RS) – cis – trans – 3 - (2,2 - dichloroethenyl) - 2,2 - dimethylcyclopropane carboxylate

Công thức hóa học: C22H19Cl2NO3

Trang 37

Phân tử lượng: 416,3

Nhóm hóa học: pyrethroid

Tính chất: thuốc kỹ thuật ở dạng đặc sệt, điểm nóng chảy 60 – 800C, điểm cháy 115,60C Không tan trong nước, tan nhiều trong dung môi hữu cơ như methanol, acetone, xylene Tương đối bền trong môi trường trung tính và acid nhẹ, thủy phân trong môi trường kiềm Không ăn mòn kim loại

Nhóm độc II, LD50 qua miệng 250 mg.kg-1, LD50 qua da 1.600 mg.kg-1 Độc với

cá và ong Thời gian cách ly với bắp cải là 14 ngày

Tác dụng tiếp xúc và vị độc, ngoài ra còn có tác dụng xua đuổi và làm sâu biếng

ăn Phổ tác dụng rộng

Sử dụng: phòng trừ nhiều loại sâu ăn lá, chích hút và nhện cho nhiều loại cây trồng như sâu tơ, sâu xanh, rệp hại rau, sâu xanh da láng, sâu khoang hại đậu, thuốc lá Liều lượng sử dụng: từ 50 – 100 g.a.i.ha-1 Chế phẩm 25EC dùng 0,2 – 2,4 l.ha-1pha với 300 – 400 lít nước phun cho rau

Khả năng hỗn hợp: có thể pha chung với nhiều thuốc trừ sâu bệnh khác

2.3.8 Prevathon 5SC (Du Pon Vietnam Ltd.)

Hoạt chất: chlorantraniliprole (Rynaxypyr)

Tên hoá học: 1-(3-chloro-2pyridinyl)-1H-pyrazole-5-carboxamide

3-Bromo-N-[4-chloro-2-methyl-6[(methylamino)carbonyl]phenyl]-Nhóm hoá học: anthranilic diamide

Công thức hóa học: C18H14BrCl2N6O2

Trọng lượng phân tử: 483,15

Tính chất: Thuốc ở dạng bột mịn tinh thể, điểm tan chảy 200 – 202oC, màu nâu Tan ít trong nước (1.0 mg.l-1 ở 20oC)

Nhóm độc III, LD50 cấp tính qua miệng > 5000 mg.kg-1, LD50 cấp tính qua da >

5000 mg kg-1 Thuốc ít độc với cá, ong Thời gian cách ly 3 ngày

Cơ chế tác động: Rynaxypyr kích hoạt điểm thụ cảm Ryanodine, làm mở các kênh vận chuyển Calcium và giải phóng hết Ion calcium (Ca 2+) dự trữ trong tế bào cơ làm côn trùng bị liệt

Thuốc có tác dụng thấm sâu, lưu dẫn; phụ gia dầu thực vật và chất không phân ly làm tăng tính chống rữa trôi, tăng hiệu lực phòng trừ sâu hại và kéo dài thời gian hiệu

Trang 38

lực (18 ngày sau khi xử lý) Triệu chứng ngộ độc thuốc là sâu ngừng ăn nhanh, hôn

mê, liệt cơ; và chết với cơ thể teo lại

Sâu ngừng ăn nhanh (7 phút sau khi ăn cây trồng có xử lý thuốc), do đó không còn khả năng gây hại cây trồng nữa mặc dù chết chậm (1 – 4 ngày sau khi ăn các bộ phận cây trồng có xử lý thuốc)

Prevathon là thuốc trừ sâu phổ rộng; tác dụng vị độc là chính, tiếp xúc; phòng trừ hữu hiệu nhiều loài sâu hại thuộc bộ cánh vảy (Lepidoptera); một số loài thuộc bộ cánh cứng (Coleoptera), cánh nửa cứng (Hemiptera) và hai cánh (Diptera) trên nhiều loại cây trồng Đối với cải bắp: sâu tơ: 300 – 500 ml.ha-1

2.3.9 Virtako 40WG (Syngenta Vietnam Ltd.)

Hoạt chất: chlorantraniliprole (như Prevathon 5SC) + Thiamethoxam

Tính chất: trọng lượng riêng 0,47 g/cm3 (200C), mùi hôi nhẹ Điểm nóng chảy

139oC, tan trong nước ( 4,1 g.l-1 ở 250C), tan nhiều trong dung môi hữu cơ methanol, acetone, acetronitrile

Nhóm độc II, LD50 qua miệng 1563 mg.kg-1, LD50 qua da > 2000 mg.kg-1 Ít độc với cá và ong Thời gian cách ly 7 – 14 ngày

Tác động vị độc và tiếp xúc, khả năng nội hấp mạnh Phổ tác dụng rộng, phòng trừ nhiều loại sâu ăn lá và chích hút cho nhiều loại cây trồng

Khả năng hỗn hợp: có thể pha chung với nhiều thuốc trừ sâu bệnh khác

Liều lượng: 50 – 60 g.ha-1

Nhận xét: Qua đây ta thấy sự nguy hại của sâu tơ đối với rau họ thập tự nói chung

và rau bắp cải nói riêng nên việc phòng trừ sâu tơ là vấn đề rất được nông dân trồng bắp cải quan tâm Trong việc quản lý sâu tơ theo hướng tổng hợp IPM thì không thể không dùng thuốc hóa học, đó là phương pháp được nông dân sử dụng phổ biến nhưng việc lựa chọn loại thuốc nào, liều lượng bao nhiêu để có hiệu quả đối với sâu tơ đó là vấn đề nông dân trồng rau tại Đà Lạt quan tâm

Trang 39

Chương 3

VẬT LIỆU – PHƯƠNG PHÁP

3.1 Thời gian – Địa điểm thí nghiệm

Thời gian tiến hành: từ tháng 3 năm 2011 đến tháng 6 năm 2011

Địa điểm: tại thành phố Đà Lạt tỉnh Lâm Đồng

3.2 Điều kiện tự nhiên và thời tiết khí hậu của thành phố Đà Lạt trong thời gian tiến hành thí nghiệm

3.2.1 Vị trí địa lý

Đà Lạt nằm trên cao nguyên Lâm Viên và nằm trong cao nguyên Lang Biang, phía bắc tỉnh Lâm Đồng Vĩ độ 10056”, kinh độ 108020”

Về phía Bắc, giáp với huyện Lạc Dương

Về phía Đông và Đông Nam giáp với huyện Đơn Dương

Về phía Tây và Tây Nam giáp với hai huyện Lâm Hà và Đức Trọng

Đà Lạt được bao bọc bởi các đỉnh núi cao và dãy núi liên tiếp

3.2.2 Địa hình

Điạ hình Đà Lạt thuộc dạng sơn nguyên với độ cao trung bình 1.520 m so với mực nước biển, cơ bản có thể phân thành 3 dạng: núi cao, đồi thấp và thung lũng Nét đặc trưng của địa hình là mức độ phân cắt mạnh

Phía Bắc là vùng núi cao, vùng bình nguyên Đà Lạt với đỉnh cao từ 1.500 – 2.000

m so với mặt nước biển như đỉnh Langbiang ( 2.153 m) Phía Đông và Tây có dạng địa hình núi thấp ( cao từ 500 – 1.000 m) Phía Nam, vùng chuyển tiếp giữa cao nguyên Di Linh và bán bình nguyên là những vùng có độ cao chênh lệch từ 400 – 500 m

Một bình nguyên có địa hình phức tạp, nằm trên 3 cao nguyên lớn xen kẽ giữa núi cao, bình nguyên và thung lũng, chính đặc điểm này đã tạo nên những biến đổi của những yếu tố tự nhiên khác như khí hậu, thổ nhưỡng, thảm thực vật rất thích hợp cho các loại rau họ thập tự

Trang 40

Đất đai Đà Lạt được phong hóa từ nhiều nguồn khác nhau như đá macma, đá trầm tích, đá biến chất Các loại đất thường gặp ở Đà Lạt là: đất feralite đỏ vàng (Fs), đất feralite vàng đỏ (Fa), đất mùn vàng xám (Fha), đất feralite nâu vàng (Fda), đất feralite nâu đỏ phát triển trên đá bazan (Fk), đất feralite nâu tím phát triển trên đá biến chất (Ft), đất đỏ vàng phát triển trên đá biến chất (Fj), đất phù sa (P), đất dốc tụ (Dt)

3.2.4 Khí hậu, thời tiết

Do ảnh hưởng của độ cao và rừng thông bao bọc, Đà Lạt mang nhiều đặc tính của miền ôn đới Nhiệt độ trung bình 18 – 21°C, nhiệt độ cao nhất chưa bao giờ quá 30°C

và thấp nhất không dưới 5°C, biên độ trong ngày 11 – 12°C Đà Lạt có hai mùa rõ rệt mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa nắng từ tháng 11 đến tháng 4 Lượng mưa trung bình năm là 1800 mm, cường độ mưa tập trung vào các tháng 8, 9 hàng năm và

Ngày đăng: 10/06/2018, 22:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w