BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HCM KHOA NÔNG HỌC KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN BỆNH HẠI CHÍNH TRÊN CÂY ĐẬU PHỘNG NGOÀI ĐỒNG, SAU THU HOẠCH VÀ HIỆU QUẢ P
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HCM
KHOA NÔNG HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN BỆNH HẠI CHÍNH TRÊN CÂY ĐẬU PHỘNG NGOÀI ĐỒNG, SAU THU HOẠCH
VÀ HIỆU QUẢ PHÒNG TRỪ CỦA MỘT SỐ
Trang 2i
XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN BỆNH HẠI CHÍNH TRÊN CÂY
ĐẬU PHỘNG NGOÀI ĐỒNG, SAU THU HOẠCH
VÀ HIỆU QUẢ PHÒNG TRỪ CỦA MỘT SỐ
CHẾ PHẨM SINH HỌC
Tác giả
LÊ THỊ PHƯƠNG LOAN
Đề cương khóa luận được đề nghị thực hiện để đáp ứng yêu cầu
cấp bằng kỹ sư ngành BẢO VỆ THỰC VẬT
Giảng viên hướng dẫn:
TS Võ Thị Thu Oanh ThS Bùi Thị Thùy Trang
Tháng 8 năm 2011
Trang 3ii
LỜI CÁM ƠN
Con thành kính biết ơn ông bà, cha mẹ đã sinh thành, dưỡng dục để con có
được như ngày hôm nay
Xin chân thành cảm ơn:
Ban giám hiệu trường Đại Học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh và Ban Chủ Nhiệm
khoa Nông Học đã tạo môi trường học tập thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian theo
học tại trường
Quý thầy cô trong khoa Nông Học - trường Đại Học Nông Lâm Tp Hồ Chí
Minh đã truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt bốn năm học vừa qua
Xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến:
TS Võ Thị Thu Oanh, ThS Bùi Thị Thùy Trang đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi
trong quá trình thực hiện đề tài với tất cả lòng nhiệt thành và trách nhiệm
Cảm ơn tất cả bạn bè trong và ngoài khoa Nông Học đã luôn động viên và giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp
Sinh viên thực hiện
Trang 4iii
TÓM TẮT
Lê Thị Phương Loan, Đại học Nông Lâm Tp.HCM, tháng 7/2011:
Đề tài “Xác định thành bệnh hại chính trên cây đậu phộng ngoài đồng, sau thu
hoạch và hiệu quả phòng trừ của một số chế phẩm sinh học” được thực hiện từ
15/03/2011 – 30/06/2011 Nhằm xác định bệnh hại chính trên cây đậu phộng ở ngoài đồng, hạt đậu phộng sau thu hoạch và so sánh hiệu quả phòng trừ nấm bệnh của một
số chế phẩm sinh học
Bằng các phương pháp như điều tra ngẫu nhiên một số ruộng đậu phộng tại 2 huyện Châu Thành và Dương Minh Châu của tỉnh Tây Ninh; phương pháp giấy thấm, đánh giá tỷ lệ nảy mầm trên 10 giống đậu phộng thu thập và so sánh hiệu lực của 3 chế phẩm sinh học (nấm đối kháng NLU – Tri, tổ hợp dầu thực vật Chubeca 1.8 DD, tổ hợp các vi sinh vật hữu hiệu E.M) được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên trong điều kiện in-vitro tại phòng thí nghiệm Bệnh Cây – bộ môn Bảo Vệ Thực Vật, khoa Nông Học và nhà lưới của Trại Khoa Nông Học, trường Đại học Nông Lâm Tp.HCM
Kết quả cho thấy, đậu phộng giai đoạn hạt vào chắc và chuẩn bị thu hoạch có 3
loại bệnh gây hại chủ yếu là bệnh đốm nâu do Cercospora archidicola Hori, gỉ sắt do Puccinia archidis Speg và héo rũ gốc mốc trắng do nấm Sclerotium rolfsii Sacc gây ra
Giống đậu phộng VD1 có tỷ lệ nhiễm nấm bệnh nhiều nhất với tỷ lệ nhiễm là 73,77 %
và xác định được 7 loài nấm xuất hiện chủ yếu gây hại trên hạt đậu phộng sau thu
hoạch là nấm Macrophomina phaseolina (Tassi) Goidanich, Aspergillus flavus Link, Aspergillus niger Van Tiegh, Aspergillus famigatus Fresenius, Aspergillus parasiticus Speare , Rhizopus sp., Sclerotium rolfsii Sacc Mỗi loài nấm khác nhau có
mức độ phổ biến và tần suất xuất hiện khác nhau trên từng giống đậu phộng khác nhau Chế phẩm nấm đối kháng NLU – Tri, tổ hợp các vi sinh vật hữu hiệu E.M có hiệu quả trong việc xử lý hạt giống đậu phộng trước khi gieo trồng Chế phẩm tổ hợp dầu thực vật Chubeca 1.8 DD không phù hợp với việc xử lý hạt trước khi gieo trồng
do làm giảm tỷ lệ nảy mầm của hạt giống xuống 32,30 % so với hạt giống không xử lý trong điều kiện in-vitro, và giảm xuống 15,00 % trong điều kiện nhà lưới
Trang 5iv
MỤC LỤC
Lời cám ơn ii
Tóm tắt iii
Mục lục iv
Danh sách các chữ viết tắt viii
Danh sách các bảng ix
Danh sách các hình xi
Danh sách các biểu đồ xii
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2
1.2.1 Mục đích đề tài 2
1.2.2 Yêu cầu của đề tài 3
1.3 Giới hạn đề tài 3
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Sơ lược về cây đậu phộng 4
2.1.1 Phân loại thực vật 4
2.1.2 Đặc điểm phân bố của cây đậu phộng 5
2.1.3 Giá trị của đậu phộng 5
2.1.3.1 Giá trị dinh dưỡng 5
2.1.3.2 Giá trị kinh tế 7
Trang 6v
2.2 Tình hình sản xuất đậu phộng trong và ngoài nước 8
2.2.1 Tình hình sản xuất đậu phộng trên thế giới 8
2.2.2 Tình hình sản xuất đậu phộng của nước ta 9
2.2.3 Sơ lược về tỉnh Tây Ninh 11
2.2.3.1 Điều kiện tự nhiên và xã hội tỉnh Tây Ninh 11
2.2.3.2 Tình hình sản xuất đậu phộng của tỉnh Tây Ninh 12
2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về đậu phộng 13
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 13
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 14
2.4 Các bệnh hại đậu phộng chủ yếu 16
2.4.1 Các bệnh hại đậu phộng ngoài đồng chủ yếu 16
2.4.2 Bệnh hại hạt trong quá trình sau thu hoạch và bảo quản trong kho 20
2.5 Tác dụng của chế phẩm sinh học trong bảo vệ thực vật và một số vi sinh vật đối kháng sử dụng phổ biến 22
Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.1 Vật liệu 23
3.2 Thời gian và địa điểm thực hiện đề tài 24
3.3 Nội dung nghiên cứu 24
3.4 Phương pháp nghiên cứu 25
3.4.1 Điều tra tình hình bệnh hại trên đậu phộng ngoài đồng 25
3.4.2 Thu thập và xác định thành phần nấm bệnh sau thu hoạch của một số giống đậu phộng thu thập năm 2011 25
3.4.2.1 Thu thập mẫu hạt đậu phộng 25
3.4.2.2 Xác định thành phần nấm bệnh sau thu hoạch của một số giống đậu phộng sau thu thập năm 2011 26
Trang 7vi
3.4.3 Đánh giá tỷ lệ nảy mầm của các mẫu đậu phộng thu thập trong điều
kiện in-vitro và nhà lưới 29
3.4.3.1 Đánh giá tỷ lệ nảy mầm của các mẫu đậu phộng thu thập trong điều kiện in-vitro 29
3.4.3.2 Đánh giá tỷ lệ nảy mầm của các mẫu đậu phộng thu thập trong điều kiện nhà lưới 31
3.4.4 So sánh hiệu quả của các chế phẩm sinh học trong điều kiện in-vitro và nhà lưới 32
3.4.4.1 So sánh hiệu quả của các chế phẩm sinh học trong điều kiện in-vitro 32
3.4.4.2 So sánh hiệu quả của các chế phẩm sinh học trong điều kiện nhà lưới 34
3.5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 36
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 37
4.1 Thành phần bệnh hại trên đậu phộng ngoài đồng 37
4.2 Thành phần nấm bệnh trên hạt đậu phộng sau thu hoạch thu thập năm 2011 39
4.2.1 Nấm Macrophomina phaseolina (Tassi) Goidanich 44
4.2.2 Nấm Aspergillus flavus Link 45
4.2.3 Nấm Aspergillus niger Van Tiegh 46
4.2.4 Nấm Aspergillus parasiticus Speare 47
4.2.5 Nấm Aspergillus sp 48
4.2.6 Nấm Rhizopus sp 49
4.2.7 Nấm Sclerotium rolfsii Sacc 50
4.3 Tỷ lệ nảy mầm của các mẫu hạt đậu phộng thu thập trong điều kiện in-vitro và nhà lưới 53
4.3.1 Tỷ lệ nảy mầm của các mẫu hạt đậu phộng trong điều kiện in-vitro 53
Trang 8vii
4.3.2 Tỷ lệ nảy mầm của các mẫu hạt đậu phộng trong điều kiện nhà lưới 55
4.4 Ảnh hưởng của các chế phẩm sinh học đến khả năng phòng trừ nấm bệnh trên hạt giống đậu phộng trong điều kiện in-vitro và nhà lưới 57
4.4.1 Ảnh hưởng của các chế phẩm sinh học đến khả năng phòng trừ nấm bệnh trên hạt giống đậu phộng trong điều kiện in-vitro 58
4.4.1 Ảnh hưởng của các chế phẩm sinh học đến khả năng phòng trừ nấm bệnh trên hạt giống đậu phộng trong điều kiện nhà lưới 60
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 67
5.1 Kết luận 67
5.2 Đề nghị 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Tài liệu trong nước 69
Tài liệu ngoài nước 71
PHỤ LỤC 72
Trang 9viii
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
A flavus Aspergillus flavus Link
A niger Aspergillus niger Van Tiegh
CCC Chiều cao cây
FAO Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc DGISP Viện nghiên cứu bệnh hạt giống chính phủ Đan Mạch cho
các nước đang phát triển ICRISAT Viện nghiên cứu hoa màu Quốc tế cho vùng Nhiệt đới bán
khô hạn ISTA Hội kiểm nghiệm hạt giống Quốc Tế
NT Nghiệm thức
LLL Lần lặp lại
OPI Viện nghiên cứu dầu thực vật - tinh dầu hương liệu - mỹ phẩm Việt Nam
TLB Tỷ lệ bệnh
Trang 106/2008 8 Bảng 2.4 Diện tích, sản lượng và năng suất đậu phộng của Việt Nam 1995 –
2009 10 Bảng 2.5 Diện tích và sản lượng đậu phộng của tỉnh Tây Ninh 1995 – 2009 12 Bảng 2.7 Các bệnh phổ biến trên đậu phộng và phương pháp chẩn đoán
bệnh 17 Bảng 3.1 Phả hệ của 10 giống đậu phộng thu thập 23 Bảng 3.2 Đặc điểm các chế phẩm sinh học dùng trong thí ngiệm xử lý hạt
giống 33 Bảng 4.1 Thành phần và tỷ lệ bệnh gây hại đậu phộng ngoài đồng giai đoạn
vào chắc tại 2 huyện Châu Thành và Dương Minh Châu tỉnh Tây Ninh 38 Bảng 4.2 Tỷ lệ nhiễm nấm trên 10 giống đậu phộng điều tra 41 Bảng 4.3 Thành phần và mức độ phổ biến một số loài nấm gây hại trên hạt
của 10 giống đậu phộng điều tra 43 Bảng 4.4 Tỷ lệ nhiễm của từng loài nấm trên 10 giống đậu phộng khả sát 51 Bảng 4.5 Khả năng nảy mầm của 10 giống đậu phộng thu thập trong điều
kiện in-vitro ở giai đoạn 7 ngày sau gieo 54 Bảng 4.6 Tỷ lệ nảy mầm và khả năng sinh trưởng của 10 giống đậu phộng ở
giai đoạn 14 ngày sau gieo 56
Trang 11x
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của 3 loại chế phẩm sinh học đến tỷ lệ nhiễm nấm và
khả năng nảy mầm của hạt đậu phộng trong điều kiện in-vitro 58 Bảng 4.8 Ảnh hưởng của 3 loại chế phẩm sinh học đến khả năng nảy mầm
của hạt đậu phộng trong điều kiện nhà lưới 60
Bảng 4.9 Ảnh hưởng của 3 loại chế phẩm sinh học đến khả năng sinh trưởng
của cây đậu phộng trong điều kiện nhà lưới 62
Trang 12xi
DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 2.1 Các bệnh ở đậu phộng 19
Hình 2.2 Khuẩn lạc và một số nấm bệnh thông thường trên môi trường PGA 21
Hình 3.1 10 giống đậu phộng đã được tách vỏ 26
Hình 3.2 A - Đĩa petri Ф = 9 cm đã được đặt giấy lọc làm ẩm; B - Đĩa petri Ф = 9 cm đã được đặt giấy lọc làm ẩm và đặt hạt 27
Hình 3.3 Môi trường thí nghiệm và các dạng hạt theo dõi trong điều kiện in-vitro 30
Hình 3.4 Cây đậu phộng gieo trong nhà lưới 36
Hình 4.1 Các bệnh hại chính trên cây đậu phộng điều tra ngoài đồng 39
Hình 4.2 Nấm Macrophomina phaseolina (Tassi) Goidanich 44
Hình 4.3 Nấm Aspergillus flavus Link 45
Hình 4.4 Nấm Aspergillus niger Van Tiegh 46
Hình 4.5 Nấm Aspergillus parasiticus Speare 47
Hình 4.6 Nấm Aspergillus sp 48
Hình 4.7 Nấm Rhizopus sp 49
Hình 4.8 Nấm Sclerotium rolfsii Sacc 50
Hình 4.9 Khu thí nghiệm so sánh hiệu lực thuốc trong điều kiện nhà lưới 63
Trang 13xii
DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1 Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của đậu phộng sau khi xử lý
hạt giống trong điều kiện nhà lưới ở 21 ngày sau gieo 64 Biểu đồ 4.2 Tốc độ tăng trưởng số lá của cây đậu phộng sau khi xử lý hạt
giống trong điều kiện nhà lưới ở 21 ngày sau gieo 65 Biểu đồ 4.3 Tốc độ tăng trưởng số cành của cây đậu phộng sau khi xử lý hạt
giống trong điều kiện nhà lưới ở 21 ngày sau gieo 66
Trang 141
Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Đậu phộng, còn được gọi là lạc hay đậu phụng (Danh pháp khoa học:
Arachis hypogaea L.), là một loài cây thực phẩm thuộc họ Đậu, có giá trị dinh dưỡng
và giá trị kinh tế cao Thành phần dinh dưỡng của hạt đậu phộng gồm có từ 40 – 50 % lipid, 22 – 27 % protein, khoảng 15,5 % gluxit, 2,5 % cellulose, một số axit amin không thể thay thế (Threonine, Lysine, Leusine, Triptophan,…) và một số vitamin (Vitamin B1, B2, B3,…) là các chất dinh dưỡng có thể cung cấp được nhiều năng lượng
và rất tốt cho sức khỏe của con người… Hạt đậu phộng có nhiều công dụng trong ngành công nghiệp thực phẩm như sản xuất dầu thực phẩm, thức ăn cho người và cho gia súc và được chế biến thành nhiều loại sản phẩm khác nhau (như đậu phộng muối, đậu phộng giòn và bơ đậu phộng, kẹo đậu phộng, khô dầu, … ) và được sử dụng rộng rãi trên thế giới Trung Quốc, Ấn Độ, và Nigeria là các nhà sản xuất đậu phộng hàng đầu thế giới Việt Nam là một trong những nước sản xuất đậu phộng hàng đầu trong châu Á và trên thế giới Đậu phộng là cây có giá trị kinh tế lớn, là cây lấy dầu quan trọng lớn thứ ba của thế giới bên cạnh đậu tương và bông (FAO Food Outlook, 1990), xếp hạng thứ 13 trong các cây thực phẩm trên thế giới (Varnell và Mo Cloud, 1975)
Nhìn chung, hạt đậu phộng là một loại hạt được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng và được sử dụng phổ biến trên thế giới Nhưng bên cạnh đó, hạt đậu phộng lại
dễ bị xâm nhiễm và là nơi trú ẩn của nhiều loài vi sinh vật, đặc biệt là các loài nấm gây
bệnh như Aspergillus spp., Sclerotium spp., Rhizoctonia spp., Rhizopus spp.,… Chúng
thường có nguồn gốc từ đất, trong không khí, dụng cụ bảo quản dưới các dạng lưu tồn như các sợi nấm, bào tử hay hạch nấm, … Chúng có khả năng xâm nhiễm vào hạt đậu phộng qua giai đoạn sinh trưởng trên đồng ruộng hoặc trong quá trình bảo quản hạt Các loài nấm này có thể gây thiệt hại đến sản lượng, làm giảm phẩm chất, chất lượng hạt, làm giảm hoặc mất sức nảy mầm của hạt giống đậu phộng Trong đó, có một số
Trang 152
loài nấm có khả năng gây bệnh cho cây đậu phộng sau khi gieo làm ảnh hưởng đến năng suất đậu phộng, gây thiệt hại cho người nông dân Ngoài ra, một số loài nấm có khả năng tiết ra độc tố gây hại đến sức khỏe con người và động vật sử dụng (như nấm
Aspergillus flavus Link có khả năng tiết ra độc tố Aflatoxin gây bệnh ung thư cho
người)
Vì vậy, cần có những biện pháp nhằm hạn chế sự gây hại của các loài nấm này đến hạt đậu phộng từ giai đoạn gieo trồng đến thu hoạch và bảo quản hạt giống đậu phộng Lâu nay, người nông dân thường có thói quen là sử dụng thuốc hóa học trong phòng trừ bệnh cho cây trồng và cho hạt bảo quản vì hiệu quả nhanh, nhưng lại gây hại đến sức khỏe cho người sử dụng do để lại dư lượng trên nông sản, gây ô nhiễm môi trường, làm mất cân bằng sinh thái Với mục tiêu an toàn, thân thiện với môi trường và đảm bảo một nền nông nghiệp bền vững thì ngày nay, các biện pháp sinh học và sử dụng các chế phẩm sinh học đang được các nước trên thế giới khuyến khích sử dụng
Do đó, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Xác định thành phần bệnh
hại chính trên cây đậu phộng ngoài đồng, sau thu hoạch và hiệu quả phòng trừ
của một số chế phẩm sinh học”
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục đích đề tài
- Xác định thành phần nấm gây bệnh trên đậu phộng ngoài đồng và trong bảo
quản sau thu hoạch
- So sánh hiệu quả phòng trừ nấm bệnh trên hạt giống của một số chế phẩm sinh học
Trang 163
1.2.2 Yêu cầu của đề tài
- Điều tra thành phần bệnh trên đậu phộng giai đoạn đồng ruộng
- Thu thập và giám định thành phần bệnh nấm gây hại trên hạt đậu phộng sau thu hoạch
- Xác định mức độ gây hại của từng loại nấm gây hại trên mẫu hạt giống thu thập
- Mô tả đặc điểm hình thái của nấm gây bệnh trên hạt giống và trong môi trường nuôi cấy
- Xác định sự ảnh hưởng của các tác nhân nấm gây bệnh đến khả năng nảy mầm của hạt giống đậu phộng
- So sánh hiệu quả của một số chế phẩm sinh học trong điều kiện in-vitro và nhà lưới
Trang 174
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Sơ lược về cây đậu phộng
+ Nhóm phân nhánh xen kẽ (Dạng Virginia)
• Thân chính không bao giờ có hoa
• Trên cành thứ cấp, 2 đốt đầu tiên luôn phát sinh cành dinh dưỡng xen kẽ với 2 đốt mang cành sinh thực Cứ kế tiếp như vậy tới gần đầu cành tận cùng bằng 1 một số đốt bất dục
• Số lượng cành và số cấp cành nhiều Cấp cành có thể đạt tới n + 4, n + 5
• Dạng cây có thể dạng bò (phổ biến) hoặc nửa bò, dạng bụi
+ Nhóm phân nhánh liên tục (Dạng Valencia và Spanish) thuộc loài phụ Fastigiata
• Có hoa trên thân chính
• Trên cành thứ cấp, những đốt đầu tiên thường phát sinh cành sinh sản
Có thể thấy 6-8 đốt mang cành sinh sản liên tục Sau đó các đốt dinh
Trang 182.1.2 Đặc điểm phân bố của cây đậu phộng
Theo nhiều nhà khoa học đã xác định cây đậu phộng được trồng các đây 3200 –
3500 năm Đậu phộng có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới châu Mỹ (Braxin, Bolivia, Aragoay,…), được phân bố rộng rãi từ vĩ độ 56o Bắc và Nam, từ vùng nhiệt đới nóng
ẩm và nóng khô, tới vùng nhiệt đới tương đối ẩm và có nhiều mưa
Đậu phộng không đòi hỏi nghiêm ngặt về đất, thậm chí cả loại đất bị rửa trôi thoái hóa vẫn trồng được đậu phộng, chỉ cần thành phần cơ giới của đất tương đối nhẹ,
có đủ độ ẩm, nhiệt độ và lượng mưa cần thiết trong thời gian sinh trưởng của cây
2.1.3 Giá trị của đậu phộng
2.1.3.1 Giá trị dinh dưỡng
- Hạt đậu phộng chứa từ 22 – 27 % protein, 40 – 50 % lipid, khoảng 15,5 % gluxit, 2,5 % cellulose,… Đậu phộng là 1 loại thực phẩm có giá trị cao đối với con người cả về mặt cung cấp năng lượng (calo), cung cấp protein và dầu thực phẩm cho con người
Trang 19Tryptophan 0,2445 g Aspartic acid 3,060 g
Cystine 0,322 g Thiamine (Vit.B1 ) 0,6 mg (46%)
Phenylalanine 1,300 g Riboflavin (Vit.B2) 0,3 mg (20%)
Canxi 62 mg (6%) Niacin (Vit.B3) 12,9 mg (86%) Pantothenic acid (B5) 1,8 mg (36%) Kẽm 3,3 mg (33%)
Trang 207
2.1.3.2 Giá trị kinh tế
Trong công nghiệp đậu phộng có nhiều công dụng Trong công nghiệp ép dầu, người ta thu được 2 sản phẩm chính là dầu và khô dầu, toàn bộ protein của hạt nằm trong khô dầu
Trong chăn nuôi, khô dầu đậu phộng có giá trị cao, thành phần dinh dưỡng tương đương với các loại khô dầu khác Trong khẩu phần thức ăn gia súc khô dầu đậu phộng có thể chiếm 25-30% Hiện nay, khô dầu đậu phộng đứng hàng thứ 3 trogn các loại khô dầu thực vật dùng trong chăn nuôi (sau khô dầu đậu tương và bông)
Bảng 2.2 Thành phần dinh dưỡng của một số khô dầu thực vật dùng trong chăn nuôi
Loại khô
dầu
Lượng tổng số (%) Lượng dễ tiêu (%)
Protein Lipit Gluxit Xenlulo Protein Lipit Gluxit Xenlulo
7,0 5,2 6,5 10,2 12,6
24,3 25,9 26,3 27,9 20,6
4,4 6,5 25,0 11,1 6,8
46,7 40,7 18,1 27,4 35,8
6,3 4,6 6,1 8,1 11,3
20,6 20,6 24,3 13,4 22,3
0,5 5,1 4,0 0,9 2,1
(Nguồn: Sở nghiên cứu đậu phộng Trung Quốc, 1964)
Đậu phộng là cây trồng có giá trị lớn trong việc cải tạo đất do khả năng cố định
N nhờ vi khuẩn cộng sinh Rhizobium vigna Rhizobium vigna tạo thành các nốt sần ở
rễ một số cây họ đậu nhưng ở đậu phộng thì nốt sần lớn và khả năng cố định N cao hơn hết
Trang 218
2.2 Tình hình sản xuất đậu phộng trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình sản xuất đậu phộng trên thế giới
Cây đậu phộng được trồng lâu đời ở nhiều nơi trên thế giới, khoảng 90% diện tích trồng đậu phộng tập trung ở lục địa Á Phi, trong đó châu Á là 60% và châu Phi là 30% Châu Á luôn đứng đầu về sản lượng đậu phộng trên thế giới (chiếm trên 70% sản lượng đậu phộng của thế giới trong thời gian trước đại chiến thế giới thứ hai) Năm
2008, theo Tổ chức Lương Thực và Nông Nghiệp của Hoa Kỳ trên 70% sản lượng đậu
phộng thuộc về 5 quốc gia sản xuất chính là Trung Quốc (chiếm khoảng 37,5%), Ấn
Độ (khoảng 20%), Nigeria (11%), Mỹ (4,9%), Indonesia (4,2%)
Bảng 2.3 Mười quốc gia hàng đầu sản xuất đậu phộng trên thế giới tháng 6/2008
(Nguồn: Tổ chức Lương Thực và Nông Nghiệp của Hoa Kỳ)
Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 13.090.000
Ghi chú: F = FAO ước đoán, * = nguồn bán chính thức, C = nguồn ước tính,
A = nguồn tổng hợp (gồm sản lượng chính thức, bán chính thức và ước đoán)
Trang 229
Về năng suất, những nước có diện tích trồng đậu phộng lớn lại có năng suất thấp và mức tăng năng suất không đáng kể trong thời gian qua Trong thời gian sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, nang suất đậu phộng của châu Mỹ La Tinh giảm 2% trong khi Viễn Đông tăng 3%, Cận Đông tăng 15%, châu Phi tăng 19%, Bắc Mỹ 47%, châu Âu 60% và châu Đại Dương 67% Tình trạng chênh lệch năng suất giữa các nước rất đáng kể Trong khi năng suất đậu phộng của Ixraen trong 20 năm vẫn luôn luôn ổn định ở mức trên dưới 35 tạ/ha thì nhiều nước châu Phi và châu Á chỉ đạt năng suất 5 –
6 tạ/ha Số nước có năng suất đậu phộng bình quân cả nước trên 20 tạ/ha không ít, nhiều vùng như Virginia, Carolina năng suất bình quân là 21 tạ/ha trên 11 – 12 vạn ha (1965 – 1967) Lưu lượng xuất khẩu hằng năm trên thế giới là 1,3 – 1,7 triệu tấn đậu phộng dạng quả, 350.000 – 400.000 tấn dầu phộng, các nước xuất khẩu nhiều là Xenegan, Nigieria
Trong nền kinh tế của nhiều nước đang phát triển đậu phộng giữ vai trò khá quan trọng Ở Xenegan, đậu phộng cung cấp ¾ thu nhập của nông dân và chiếm 80% giá trị xuất khẩu Ở Nigeria đậu phộng và các sản phẩm chế biến từ đậu phộng thường chiếm trên 60% giá trị xuất khẩu, tuy nước này chỉ đem bán 15% sản lượng hằng năm
2.2.2 Tình hình sản xuất đậu phộng của nước ta
Cây đậu phộng đã được nông dân ta trồng từ lâu đời trong phạm vi toàn quốc
Từ năm 1980 trở về trước, diện tích, năng suất và sản lượng đậu phộng của nước ta rất thấp Sau đó diện tích và sản lượng tăng lên khá nhanh, nhưng năng suất vẫn không tăng, mãi cho đến năm 1992 năng suất đậu phộng của nước ta vẫn xoay quanh con số
10 tạ/ha (Phạm Văn Thiều – 2001) Năm 1990, sản lượng đậu phộng đạt 218.000 tấn, bằng 2,2 lần so với năm 1980 Trong vòng 10 năm (1981 – 1990), diện tích trồng đậu phộng tăng bình quân mỗi năm 7% và sản lượng tăng bình quân 9% trong 1 năm
Từ 1990 – 1995 sản lượng đậu phộng tiếp tục tăng Kể từ năm 1995 đến nay mặc dù diện tích trồng đậu phộng của nước ta không có nhiều sự thay đổi chủ yếu tập trung ở 4 vùng lớn là miền núi và trung du Bắc bộ, đồng bằng sông Hồng, khu 4 cũ (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh) và miền Đông Nam bộ Trên thực tế, diện tích trồng đậu phộng ở nước còn phân tán quá nhỏ, chỉ trừ một vài vùng đã hình thành vùng đậu
Trang 2310
phộng tập trung như Diễn Châu (Nghệ An), Hậu Lộc (Thanh Hóa), còn các huyện có diện tích trồng đậu phộng khoảng trên 1000 ha rất ít chỉ khoảng 10 – 12 huyện Nhưng sản lượng và năng suất đậu phộng của nước ta thì có xu hướng tăng lên
Bảng 2.4 Diện tích, sản lượng và năng suất đậu phộng của Việt Nam 1995 – 2009
(Nghìn ha)
Sản lượng (Nghìn tấn)
Năng suất (tấn/ha)
(Nguồn: Tổng Cục Thống Kê Việt Nam)
Đến năm 1995 thì năng suất đã tăng lên 12,9 tạ/ha với diện tích trồng là 259,9 nghìn ha, năm 1998 với diện tích trồng 269,4 nghìn ha thì năng suất đã vượt lên 14,3 tạ/ha, đạt mức chỉ tiêu kế hoạch đề ra năm 2000 Đến năm 2005 thì năng suất đậu phộng đã tăng lên 18,1 tạ/ha cũng chỉ với diện tích trồng là 269,6 nghìn ha Và đến năm 2009 theo kết quả thống kê sơ bộ của Tổng Cục Thống Kê Việt Nam đã đạt được khoảng 21,1 tạ/ha nhưng diện tích đã giảm xuống còn 249,2 nghìn ha
Trang 2411
Nhờ những thành tựu lớn trong cống tác cải tạo giống (có giống lạc năng suất
đã đạt tới 60 – 70 tạ/ha), những tiến bộ trong việc phòng trừ cỏ dại và sâu, bệnh, những thành tựu trong cơ giới hóa nhất là trong thu hoạch và xử lý sau thu hoạch đã giúp cho ngành trồng lạc có nhiều phát triển
Gần đây, cây đậu phộng đã được khuyến khích phát triển mạnh Người ta đã tận dụng trồng đậu phộng trong mọi điều kiện đất đai Những đất trồng cây công nghiệp lâu năm, trồng cây lâm nghiệp khi cây còn nhỏ có thể trồng xen đậu phộng giữa hàng,
để tăng thu nhập vừa làm cây phủ đất và cây phân xanh vùi tại chỗ Các đất đồi trồng các cây dễ bị xói mòn như sắn, đã được trồng xen đậu phộng
Lâu nay, bà con nông dân thường trồng đậu phộng bằng các giống địa phương lâu đời như Lì, Nù, Mỏ két do thiếu chọn lọc, phục tráng nên năng suất giảm sút dần Trong các giống trên, giống Lì được nông dân ưa chuộng hơn cả nhờ tính thích ứng cao, vỏ mỏng, tỷ lệ nhân cao nhưng quả và hạt nhỏ, tỷ lệ đậu nhân đạt tiêu chuẩn xuất khẩu thấp, hiệu quả kém
2.2.3 Sơ lược về tỉnh Tây Ninh
2.2.3.1 Điều kiện tự nhiên và xã hội tỉnh Tây Ninh
- Diện tích: 4.035,45 km
- Dân số trung bình: 1.058.526 người (năm 2008)
- Các dân tộc chính: Kinh (98%), còn lại là dân tộc thiểu số (chủ yếu là Khơme, Hoa, Chăm)
này đã tạo được nguồn nguyên liệu chủ động cho công nghiệp chế biến xuất khẩu
Trang 2512
2.2.3.2 Tình hình sản xuất đậu phộng của tỉnh Tây Ninh
Bảng 2.5 Diện tích và sản lượng đậu phộng của tỉnh Tây Ninh 1995 – 2009
Năm Diện tích
(Nghìn ha)
Sản lượng (Nghìn tấn)
(Nguồn: Tổng Cục Thống Kê Việt Nam)
Tây Ninh là vùng trồng đậu phộng với diện tích nhiều nhất vùng Đông Nam
Bộ Theo sơ bộ của Tổng Cục Thống Kê Việt Nam năm 2009, diện tích trồng đậu phộng của vùng Đông Nam Bộ là 29,1 nghìn ha Trong đó, diện tích trồng đậu phộng của tỉnh Tây Ninh là 21,7 nghìn ha, chiếm 74,6 % so với toàn vùng
Diện tích trồng đậu phộng của tỉnh Tây Ninh có chiều hướng giảm từ năm 1995 đến năm 2009 Năm 1995, Tây Ninh có diện tích trồng đậu phộng là 41,2 nghìn ha với sản lượng là 85,2 nghìn tấn nhưng đến năm 2000 chỉ còn lại 23,8 nghìn ha với sản lượng là 56,4 nghìn tấn và đến năm 2009 là 21,7 nghìn ha và sản lượng là 73,4 nghìn tấn (Theo Tổng Cục Thống Kê Việt Nam) Tuy diện tích giảm gần ½ so với năm
1995 nhưng sản lượng đậu phộng năm 2009 là 73,4 nghìn tấn chỉ giảm 11,8 nghìn tấn
so với năm 1995
Tuy diện tích sản xuất đậu hằng năm giảm nhưng sản lượng, năng suất đậu phộng từ năm 2000 trở lại có xu hướng tăng cao Năng suất năm 1999 là 2,29 tấn/ha
Trang 2613
nhưng sau 10 năm (năm 2009) thì sản lượng đạt 3,38 tấn/ha, tăng so với năm 1999 là 1,09 tấn/ha Những phát triển trên là nhờ vào những tiến bộ trong cải tạo giống và những ứng dụng khoa học kỹ thuật trong canh tác và cơ giới hóa trong thu hoạch và sau thu hoạch
2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về đậu phộng
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Năm 2009, theo Ngô Thị Mai Vi, các loài nấm hại trên hạt đậu phộng của
huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An chủ yếu là các loài nấm Aspergillus niger, Aspergillus flavus, và Penicillium sp Một số loài nấm ít phổ biến hơn là Aspergillus parasiticus, Rhizopus sp và Fusarium sp Ít phổ biến nhất là nấm Sclerotium rolfsii
Năm 2009, theo Ngô Thị Mai Vi, xử lý hạt giống bằng dịch chiết thực vật,
thuốc hóa học và sử dụng chế phẩm nấm Trichoderma viride để ủ vào phân chuồng
đều có tác dụng giảm TLB héo rũ gốc mốc đen và héo rũ gốc mốc trắng, đồng thời còn
có tác dụng giúp cây sinh trưởng tốt, làm tăng năng suất Trong đó, xử lý hạt giống bằng dịch chiết tỏi 10% trong 5 phút kết hợp phun dịch chiết tỏi 10% lúc cây vừa mọc
có tỷ lệ bệnh thấp nhất, hiệu lực phòng trừ của dịch chiết đối với Aspergillus niger là 73,3% và đối với Sclerotium rolfsii là 54,5%
Theo kết quả nghiên cứu của Lê Như Cương - 2004 (trích: Ngô Thị Mai Vi, 2009), tại một số vùng sinh thái ở tỉnh Thừa Thiên Huế có 6 loại bệnh héo rũ lạc là: Lở
cổ rễ (Rhizoctonia solani), Thối gốc mốc đen (Aspergillus niger), héo rũ gốc mốc trắng (Sclerotium rolfsii), héo rũ vàng (Fusarium sp.), héo rũ tái xanh (Ralstonia solanaearum), héo do tuyến trùng (Meloidogyne sp.) Tại Việt Nam, hiện nay đã tìm thấy 4 loài Fusarium gây bệnh cho lạc là: F oxysporum, F solani, F roseum và F.tricinetum (Nguyễn Kim Vân và cộng sự, 2001)
Kết quả của Ngô Bích Hảo (trích: Ngô Thị Mai Vi, 2009) về bệnh hại hạt cho biết
trong một số loại hạt giống như ngô, lạc, đậu đỗ thì tỷ lệ hạt giống lạc nhiễm A.flavus là
cao nhất với 30,12% Trong khi, tác giả Nguyễn Thị Ly (1993) đã xác định có khoảng 33% - 85% số mẫu lạc kiểm tra có khả năng sinh độc tố aflatoxin
Theo Ngô Bích Hảo – 2004 (trích: Ngô Thị Mai Vi, 2009), tiến hành khảo sát hiệu
quả ức chế của hai loài nấm đối kháng Trichoderma harzianum và Trichoderma viride đối
Trang 272.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Aspergillus flavus được coi là một trong những loại nấm ở trong kho đã từ lâu
và có thể nghĩ rằng sự hình thành Aflatoxin xảy ra khi phơi sau thu hoạch hoặc ở trong kho Cho đến những năm 1970, nghiên cứu của nhiều tác giả cho biết hạt đậu phộng
nguyên vẹn, quả dù chín rồi hay chưa chín rất ít bị A flavus xâm nhập Từ những nam
1970 thì đã rõ là đậu phộng có thể, ở một mức đáng kể bị A flavus xâm nhập ngoài
đồng, trước khi thu hoạch (Diener và Davis, 1977) (trích: Ngô Thị Mai Vi, 2009) Trong thí nghiệm phơi ngoài đồng ở Georgia (Mỹ) nhiều Aflatoxin, cũng như
tỷ lệ bị A flavus xâm nhiễm cao nếu phơi khô lâu so với phơi khô nhanh chống
(Jackson, 1967) Wilson và Flowers (1974) cho biết, nếu lấy mẫu hằng ngày đem phân
tích, từ thu hoạch đến khi đập máy (0 – 7 ngày) chỉ có 0,1% hạt đậu phộng chứa A flavus Tuy nhiên, một ngày sau khi đập máy và phơi cho tới khi chỉ còn độ ẩm 10 –
12 %, 12 – 25 % hạt đậu phộng có A flavus (trích: Vũ Công Hậu, Ngô Thế Dân, Trần
1980) (trích: Vũ Công Hậu, Ngô Thế Dân, Trần Thị Dung, 1995)
Khi trồng trong điều kiện ngày ngắn, cây đậu phộng ra hoa chậm lại và nở ít hoa hơn khi trồng trong điều kiện ngày dài (Wynne và Emery, 1974) Hudgens và Mac Cloud (1974) thấy rằng nở hoa rất mẫn cảm với ánh sang yếu, và nếu ánh sáng yếu vào
Trang 2815
thời kỳ ra tia quả thì số lượng tia quả và quả ít đi và trọng lượng quả giảm (trích: Vũ Công Hậu, Ngô Thế Dân, Trần Thị Dung, 1995)
Kết quả nghiên cứu của Muthamilan, M và Jayarajan (1996) cũng cho thấy
Trichoderma Harzianum và Rhizobium carbendazin có khả năng kiểm soát nấm Sclerotium rolfsii đồng thời còn làm tăng khả năng sinh trưởng của lạc, không ảnh
hưởng tới sự nảy mầm của cây lạc (trích: Ngô Thị Mai Vi, 2009)
Ở Ấn Độ, Subrahmanyam (1975) nghiên cứu ảnh hưởng của những phương pháp phơi đậu phộng khác nhau đến xâm nhập của nấm và hình thành aflatoxin Tốc
độ phơi nhanh hơn nhiều khi phơi ra nắng và trên chiếu (3 – 5 ngày) so với trong bóng râm (14 – 18 ngày) về mùa mưa Tuy nhiên, khác nhau giữa 2 cách phơi về mùa khô không đáng kể Tỷ lệ hạt đậu phộng bị nhiễm nấm khi phơi nhanh bao giờ cũng thấp hơn khi khô chậm, và phơi chậm thì quả bị mốc, có thể trông thấy nhiều hơn (trích: Vũ Công Hậu, Ngô Thế Dân, Trần Thị Dung, 1995)
Ở Mỹ, Tây Phi, Ấn Độ người ta đã tìm thấy những giống đậu phộng có khả
năng chống lại sự xâm nhập của A flavus vào hạt đậu phộng đã phơi khô nhưng bị ẩm
lại Người ta làm thí nghiệm bằng cách phơi kỹ, để khô một tháng rồi làm ẩm lại, đưa
độ ẩm đồng loạt lên 20% sau đó nhiễm A flavus dưới dạng đính bào tử Giống nào chỉ
có dưới 15% hạt bị xâm nhập coi như kháng, 16 – 30% là tương đối kháng, 30 – 50%
là mẫn cảm (trích: Vũ Công Hậu, Ngô Thế Dân, Trần Thị Dung, 1995)
Ở Ấn Độ, Santha và Sreenivasamurthy (1975) cho biết: dầu thô khi ép cho thêm dung dịch 10% muối (natri – clorua) giữ nhiệt độ 80 trong 30 phút, có thể loại bỏ được 85% aflatoxin có trong dầu (trích: Vũ Công Hậu, Ngô Thế Dân, Trần Thị Dung, 1995)
Raghavaiah (1982) nghiên cứu hiệu lực của Ca và S đối với sinh trưởng năng suất và hấp thụ chất dinh dưỡng của giống TMV2, trên đất li mông cát đỏ cả trong điều kiện nước trời và nước tưới Ông thấy bón 250 kg SO4Ca/ha cho đậu phộng có tưới (khi Ca trao đổi trong đất là 5,5 – 5,8 meq/100 g đất) và Ca, S cung cấp qua nước tưới là 160 kg Ca và 25 ka S – và bón 500 kg/ha cho đậu phộng trồng nhờ nước trời (Ca trao đổi trong đất là 1,42 đến 1,50 meq/100 g và S dễ tiêu rất thấp = 3 ppm) thì
Trang 2916
năng suất cao hơn và lợi cũng nhiều hơn (trích: Vũ Công Hậu, Ngô Thế Dân, Trần Thị Dung, 1995)
2.4 Các bệnh hại đậu phộng chủ yếu
2.4.1 Các bệnh hại đậu phộng ngoài đồng chủ yếu
Một số loài nấm chủ yếu gây hại trước thu hoạch, xâm nhiễm đậu phộng từ giai đoạn ngoài đồng trong quá trình sinh trưởng, phát triển của cây, hoặc xâm nhiễm trong quá trình thu hoạch Chúng được đưa vào kho cùng với sản phẩm hoặc nhiều các vật lẫn tạp khác như đất cát, bụi bẩn bằng nhiều cách khác nhau và trong những điều kiện phù hợp, có thể tiếp tục phát sinh gây hại Thành phần và tần suất xuất hiện của các loại nấm ngoài đồng tùy thuộc vào vùng trồng, vị trí địa lý và điều kiện thời tiết
Trang 3017
Bảng 2.7 Các bệnh phổ biến trên đậu phộng và phương pháp chẩn đoán bệnh
1 Thối rễ và quả Pythium spp./Rhizoctonia
spp
-Chết cây con/Thối rễ -Cây biến vàng và héo -Còi cọc
-Rễ bên bị biến màu ở giai đoạn giữa vụ
-Rễ cái bị thối ở cuối vụ
và thối quả
2 Thối gốc mốc trắng Sclerotium roflsii -Hạch nấm tròn nhỏ màu
nâu và sợi nấm màu trắng trên gốc
3 Thối gốc mốc đen Aspergillus niger -Cây còi cọc và héo
-Sợi nấm và bào tử màu đen ở gốc thân và lá mầm
4 Thối thân Sclerotinia sclerotiorum -Héo, thối ướt thân và lá,
(Nguồn: Cẩm nang chẩn đoán bệnh cây Việt Nam, 2009)
Các loài nấm gây bệnh hại quả và hạt đậu phộng trong các giai đoạn đồng ruộng:
Trang 3118
- Trong suốt quá trình sinh trưởng của đậu phộng: đây là các loài nấm xuất hiện trong đất, chủ yếu là đất thuộc khu hệ quả và đất dính vào quả
+ Các loài nấm hại quả chủ yếu là Fusarium spp., Aspergillus spp
+ Các loài nấm hại quả thứ yếu là Macrophoma phaseoli, Rhizoctonia spp., Rhizopus spp
- Giai đoạn trước khi chín và thu hoạch: (trước thu hoạch 5-6 tuần) các nấm
chiếm ưu thế là Fusarium spp., Penicillium spp., Aspergillus spp., Rhizopus spp
- Giai đoạn phơi hoặc sấy quả và hạt đậu phộng: chiếm ưu thế là Fusarium spp., Aspergillus spp., Penicillium spp
Người ta đã phát hiện hơn 40 giống nấm đồng ruộng chiếm ưu thế trong đất, quả và hạt ở những vùng trồng đậu phộng Các loài nấm này gây nhiều bệnh hại làm
hư hại phẩm chất lạc, một số có thể tồn tại trong khi cất giữ và có thể xâm hại quả đậu phộng khi gặp những điều kiện thuận lợi trong quá trình sinh trưởng phát triển của đậu phộng vụ sau
Tất cả các loài nấm gây hại ngoài đồng ruộng cần độ ẩm cao để phát triển Một
số nấm đồng ruộng có thể sống sót trên hạt tới một vài năm, nhưng chết rất nhanh nếu
độ ẩm môi trường bảo quản hạ xuống tương ứng với thủy phần hạt dưới 7,5% đối với đậu phộng
Trang 3219
(Nguồn: Cẩm nang chẩn đoán bệnh cây Việt Nam - 2009)
Hình 2.1 Các bệnh ở đậu phộng: (a) – Gỉ sắt đậu phộng do nấm Puccinia
arachidis gây ra, (b) – Đốm lá Cercospora (Cercospora arachidicola) và gỉ sắt, (c) –
rễ đậu phộng bị thối gây hiện tượng biến vàng và còi cọc, (d) – thối rễ con và thối quả
do Pythium sp., (e) – vết bệnh trên lá mầm có rất nhiều bào tử Aspergillus niger, (f) – thối rễ cây con do Pythium sp., (g) – cây khỏe (trái) và cây bị thối rễ gây còi cọc (phải)
Trang 3320
2.4.2 Bệnh hại hạt trong quá trình sau thu hoạch và bảo quản trong kho
Nhiều loài VSV xâm nhiễm nông sản trong quá trình vận chuyển, chăm sóc sau thu hoạch và trong bảo quản Nấm có thể lan truyền khi nông sản tiếp xúc với nhau và qua các dụng cụ Phổ biến hơn, trong môi trường không khí có sẵn vô số khối bào tử nấm lơ lửng, sẵn sàng xâm nhập và gây hại nông sản Những loài nấm này có khả năng thích nghi hơn các loài nấm ngoài đồng ruộng trong các điều kiện bảo quản nông sản Chúng không những phát triển gây hại mà còn tiếp tục sinh bào tử lây truyền sang nông sản khác trong kho bảo quản
Với các sản phẩm hạt, các nấm kho bao gồm khoảng 10 loài Aspergillus (trong
đó có 5 loài phổ biến ), một số loài Penicillium, một loài Sporendonema, ngoài ra có
thể có một số loài nấm men Chúng có khả năng gây hại trên hạt có độ thủy phần tương ứng với độ ẩm tương đối từ 70-90% và có thể thường xuyên bắt gặp chúng trên hầu hết các vật chất hữu cơ hay phi vô cơ, đặc biệt là các vật thối hỏng Chúng xuất hiện ở hầu hết mọi nơi trên trái đất, được coi như những vật sống phong phú và thành công nhất, vì thế mà việc nhiễm nấm là rất phổ biến Nhưng tốc độ lan truyền của chúng cũng phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện ẩm độ và nhiệt độ của môi trường bảo quản
Người ta đã phát hiện 150 loài nấm ở quả và hạt đậu phộng bảo quản trong kho Các loài nấm phổ biến bao gồm:
- Aspergillus spp.: Aspergillus flavus, Aspergillus glaucus, Aspergillus niger
- Penicillium spp.: Penicillium rubram, Penicillium funicularum, Penicillium citrum
Trong số này cần chú ý nhất là Aspergillus flavus gây nên chất độc Aflatoxin
rất nguy hiễm cho sức khỏe của người và động vật khi sử dụng phải Độc tố này có khả năng tích lũy lại trong gan động vật và không bị phân hủy ở nhiệt độ 105
Trang 3421
Các loài nấm này sinh ra các sợi nấm phát triển trên hạt giống sẽ phân hủy các lớp tế bào ngoài, rồi xâm nhập phá hủy phôi Khi nấm phát triển mạnh sẽ tấn công cả phần nội nhũ và phôi hạt, phân hủy các chất dinh dưỡng dự trữ của hạt sử dụng cho hoạt động sống, sinh sản và lây lan của chúng, làm biến màu phôi, giảm sức sống hoặc chết phôi Những trường hợp bị hại nặng, tỷ lệ nảy mầm hạt giống có thể bị giảm đến 80-100%
(Nguồn: Cẩm nang chẩn đoán bệnh cây Việt Nam - 2009)
Hình 2.2 Khuẩn lạc và một số nấm bệnh thông thường trên môi trường PGA
Trang 35Chế phẩm sinh học có tác dụng phòng trừ bệnh hại, côn trùng trên đồng ruộng nhưng vẫn đảm bảo được nền nông nghiệp bền vững Nó không gây ô nhiễm môi trường tự nhiên, không gây độc cho người tiêu dùng, không gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người và động vật sử dụng sản phẩm nông nghiệp
Một số vi sinh vật đối kháng sử dụng phổ biến:
Nấm đối kháng Trichoderma sp vừa có tác dụng đề kháng một số nấm bệnh
gây hại trên bộ rễ cây trồng như: bệnh vàng lá chết nhanh, còn gọi là bệnh thối rễ do
nấm Phytophthora palmirova gây ra, bệnh vàng héo rũ hay còn gọi là bệnh héo chậm
do một số nấm bệnh gây ra: Furasium solari, Pythium sp., Sclerotium rolfosii
Nấm Aspergillus niger đối kháng với nấm Fusarium solani, Rhizoctonia solania, Alternaria alternata Nấm Aureobasidium pollulans và Sporobolomyces roseus là nấm đối kháng với nấm Septoria nodorum Nấm Cercospora kikuchii đối kháng nấm Diaporthe phaseolorum var sojae
Vi khuẩn đối kháng được nghiên cứu nhiều để phòng trừ vi sinh vật gây bệnh
cây ở trong đất Vi khuẩn Agrobacterium radiobacter dòng K-84 là loài đối kháng vi khuẩn gây bệnh Agrobacterium tumefaciens Vi khuẩn Bacillus subtilis đối kháng với nhiều loài nấm gây bệnh cây Các vi khuẩn Pseudomonas fluorescens, P putida, P aureofaciens là những loài nấm đối kháng với nấm Rhizoctonia solani Có nhiều loài
vi khuẩn giống Streptomyces đối kháng với nhiều vi sinh vật gây bệnh cây trồng
Trang 3623
Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
8 HL25 ICGSE 56 chọn lọc nhập nội từ IRRI
9 L24 Chọn lọc từ tập đoàn nhập nội từ Trung Quốc
Trang 3724
- Giấy thấm, hộp nhựa, thước đo
- Các dụng cụ trong phòng thí nghiệm: đĩa petri, dao, kéo, pen, lam, lamel, cân điện tử, tủ cấy, tủ sấy, máy hấp,
- Rỗ nhựa, vỉ xốp, đất sạch
- Chế phẩm sinh học: tổ hợp dầu thực vật Chubeca 1.8DD, tổ hợp các vi sinh
vật hữu ích E.M và nấm đối kháng NLU-Tri
3.2 Thời gian và địa điểm thực hiện đề tài
- Thời gian: từ tháng 3/2011 đến tháng 6/2011
- Địa điểm thực hiện:
+ Điều tra ngoài đồng ruộng tại 2 huyện Châu Thành và Dương Minh Châu của tỉnh Tây Ninh
+ Nghiên cứu tại phòng thí nghiệm Bệnh Cây – bộ môn Bảo Vệ Thực Vật, khoa Nông Học, trường Đại học Nông Lâm Tp.HCM
+ Nghiên cứu tại nhà lưới của Trại Khoa Nông Học, trường Đại học Nông Lâm Tp.HCM
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra tình hình bệnh hại trên đậu phộng ngoài đồng
- Thu thập và xác định thành phần nấm bệnh sau thu hoạch của một số giống đậu phộng
- Đánh giá tỷ lệ nảy mầm của 10 giống đậu phộng thu thập trong điều kiện vitro và nhà lưới
in So sánh hiệu quả của 3 chế phẩm sinh học trong điều kiện inin vitro và nhà lưới
Trang 3825
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Điều tra tình hình bệnh hại trên đậu phộng ngoài đồng
Điều tra đồng ruộng được thực hiện tại 2 huyện Châu Thành và Dương Minh Châu của tỉnh Tây Ninh, theo phương pháp ngẫu nhiên mỗi huyện 2 xã, mỗi xã 3 ruộng, mỗi ruộng quan sát 5 điểm chéo góc, mỗi điểm quan sát 20 cây, ở giai đoạn quả vào chắc và chuẩn thu hoạch
Chẩn đoán bệnh: dựa vào triệu chứng biểu hiện bệnh bên ngoài điển hình
Chỉ tiêu theo dõi và công thức tính:
TLB (%) =
3.4.2 Thu thập và xác định thành phần nấm bệnh sau thu hoạch của một số giống đậu phộng thu thập năm 2011
3.4.2.1 Thu thập mẫu hạt đậu phộng
Thu thập mẫu của 10 giống đậu phộng còn nguyên vỏ tại Trung tâm giống Nông Nghiệp Tây Ninh - ấp Bình Phong, xã Thái Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh Mỗi mẫu lấy ngẫu nhiên 10 điểm trong kho bảo quản, thu 100 g đậu mỗi điểm, mỗi giống thu 1000 (g) Sau khi mang về đậu được tách vỏ và lấy ngẫu nhiên hạt để làm mẫu điều tra
Trang 3926
Hình 3.1 10 giống đậu phộng đã được tách vỏ 3.4.2.2 Xác định thành phần nấm bệnh sau thu hoạch của một số giống đậu phộng sau thu thập năm 2011
Địa điểm: phòng thí nghiệm Bệnh Cây – bộ môn Bảo Vệ Thực Vật, khoa Nông Học, trường Đại học Nông Lâm Tp.HCM
Bố trí thí nghiệm: theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên, sắp xếp 10 hạt trên 1 đĩa petri (6 hạt vòng ngoài, 3 hạt vòng trong và 1 hạt ở giữa tâm của đĩa), 10 giống tương ứng với 10 NT, mỗi giống bố trí 100 hạt chia làm 5 lần lập lại (tương ứng với 10 đĩa petri) Tổng số hạt đậu phộng thí nghiệm là 1000 hạt
Phương pháp tiến hành: dùng phương pháp Blotter – giấy thấm của Mathur và Olga Kongsdal, 2000, Neergard, 1998, Mew và Gonzale, 2002 (trích: Lê Văn Minh, 2010), và được thực hiện theo tiêu chuẩn của Hội kiểm nghiệm hạt giống Quốc Tế
Trang 4027
(ISTA) và Viện nghiên cứu bệnh hạt giống chính phủ Đan Mạch cho các nước đang phát triển (DGISP) Đây là một trong những phương pháp ủ dùng để xác định thành phần nấm bệnh trên mẫu hạt sau thu hoạch Mẫu hạt đậu phộng phân tích được đặt trên
3 lớp giấy lọc đã hút no nước hấp vô trùng trong đĩa petri đường kính 9 cm với số lượng 10 hạt trên 1 đĩa Mẫu hạt được ủ trong 7 ngày ở nhiệt độ 30 20C, chu kì ánh sáng là 12h sáng và 12h tối Tiến hành quan sát sự phát triển nấm gây bệnh trên hạt đậu phộng và định danh tác nhân nấm gây bệnh trên mẫu hạt phân tích ở các giai đoạn: 3,
5, 7 NSU
Hình 3.2 A - Đĩa petri Ф = 9 cm đã được đặt giấy lọc làm ẩm; B - Đĩa petri Ф = 9 cm
đã được đặt giấy lọc làm ẩm và đặt hạt Các hạt trong đĩa được kiểm tra lần lượt từ vòng ngoài cho đến vòng trong dưới kính lúp soi nổi với 6 - 50 lần phóng đại để xem đặc điểm phát triển của nấm gây bệnh, khi thấy nấm thì đánh dấu bằng tên viết tắt hoặc đánh số theo thứ tự từ 1 – 10 theo chiều ngược kim đồng hồ
Xác định thành phần nấm dựa vào đặc điểm hình thái sợi nấm, quả thể, bào tử dưới kính hiển vi quang học, xác định nấm phát triển trên hạt qua các đặc điểm của nấm Nếu khi phát hiện nấm còn chưa rõ ràng thì làm tiêu bản để quan sát hình dạng kích thước, màu sắc của bào tử, sợi nấm dưới kính hiển vi quang học