BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC VŨ THỊ PHƯƠNG THẢO XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP CÓ BỐI CẢNH THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG HALOGEN LỚP 10 NHẰM TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG HỌC TẬ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
VŨ THỊ PHƯƠNG THẢO
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP CÓ BỐI CẢNH THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG HALOGEN LỚP 10 NHẰM TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Sơn La, tháng 5 năm 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
VŨ THỊ PHƯƠNG THẢO
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP CÓ BỐI CẢNH THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG HALOGEN LỚP 10 NHẰM TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH
Thuộc nhóm ngành khoa học: TN2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: ThS Nguyễn Ngọc Duy
Sơn La, tháng 5 năm 2018
Trang 3Lời cảm ơn
Sau một thời gian cố gắng, nỗ lực học tập và nghiên cứu, đến nay tôi đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo – ThS.Nguyễn Ngọc Duy, người đã tận tình truyền đạt những kiến thức trong quá trình học tập và trực tiếp hướng dẫn những kinh nghiệm quý báu của mình, để tôi có thể hoàn thiện khóa luận này,
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Sinh – Hóa cùng các thầy cô trong khoa đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu, vốn kiến thức ấy không chỉ là nền tảng trong quá trình nghiên cứu khoa học mà còn là hành trang quý báu để tôi bước vào đời một cách tự tin và vững chắc
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, cô giáo Ngô Thị Thúy – giáo viên môn hóa, cùng tập thể lớp 10A1, 10A2 trường THPT Mai Sơn – Huyện Mai Sơn – Tỉnh Sơn La và Ban giám hiệu, cô giáo Nguyễn Thị Huyền Thu – giáo viên môn hóa, cùng với tập thể lớp 10A3, 10A4 trường THPT Yên Châu – Huyện Yên Châu - Tỉnh Sơn La đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện sư phạm để tôi có thể hoàn thành khóa luận này một cách tốt nhất
Bước đầu đi vào thực tế, tìm hiểu và nghiên cứu khoa học, tôi còn nhiều bỡ ngỡ
và kiến thức còn hạn chế Do vậy, không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của thầy cô để khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn
Cuối cùng, tôi xinh kính chúc quý thầy cô dồi dào sức khỏe và thành công trong
sự nghiệp trồng người, chúc các em học sinh chăm ngoan, học giỏi và đạt được ước
mơ của mình Tôi xin chân thành cảm ơn
Sơn La, tháng 5 năm 2018
Trang 4Phương pháp dạy học Dạy học
Phương trình phản ứng
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Những đóng góp của đề tài 4
PHẦN II: NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5
1.1 Lý luận về bài tập hóa học 5
1.1.1 Khái niệm bài tập hóa học 5
1.1.2 Phân loại bài tập hóa học 5
1.1.3 Vai trò của bài tập trong dạy học hóa học 7
1.1.4 Bài tập hóa học có bối cảnh thực tiễn 8
1.1.4.1 Khái niệm 8
1.1.4.2 Vai trò của bài tập có bối cảnh thực tiễn trong dạy học hóa học 8
1.1.4.3 Phân loại bài tập hóa học có bối cảnh thực tiễn 9
1.2 Lý luận về tích cực hóa hoạt động học tập 12
1.2.1 Khái niệm tích cực hóa hoạt động học tập 12
1.2.2 Biểu hiện của tính tích cực trong hoạt động học tập của học sinh 13
1.2.3 Sử dụng bài tập có bối cảnh thực tiễn nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh 14
1.2.3.1 Quy trình sử dụng bài tập có bối cảnh thực tiễn trong dạy học hóa học 14
1.2.3.2 Ưu điểm và hạn chế của việc sử dụng bài tập có bối cảnh thực tiễn trong dạy học hóa học 15
1.3 Một số nguyên tắc khi xây dựng bài tập có bối cảnh thực tiễn 17
1.3.1 Nội dung bài tập có bối cảnh thực tiễn phải đảm bảo tính chính xác, tính khoa học, tính hiện đại 17
1.3.2 Bài tập có bối cảnh thực tiễn phải gần gũi với kinh nghiệm của HS 17
Trang 61.3.3 Bài tập có bối cảnh thực tiễn phải dựa vào nội dung học tập 18
1.3.4 Bài tập có bối cảnh thực tiễn phải đảm bảo logic sư phạm 18
1.3.5 Bài tập có bối cảnh thực tiễn phải có tính hệ thống, logic 18
1.4 Thực trạng của việc sử dụng bài tập có bối cảnh thực tiễn trong dạy học hóa học ở các trường THPT tỉnh Sơn La 19
CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP CÓ BỐI CẢNH THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG HALOGEN LỚP 10 23
2.1 Phân tích nội dung và cấu trúc chương trình chương halogen lớp 10 23
2.1.1 Mục tiêu dạy học chương halogen lớp 10 23
2.1.2 Nội dung kiến thức chương halogen 23
2.2 Xây dựng và sử dụng bài tập có bối cảnh thực tiễn trong dạy học chương halogen lớp 10 24
2.2.1 Nguyên tắc lựa chọn nội dung kiến thức để xây dựng bài tập có bối cảnh thực tiễn trong dạy học chương halogen lớp 10 24
2.2.2 Quy trình thiết kế bài tập có bối cảnh thực tiễn 24
2.2.3 Xây dựng các bài tập có bối cảnh thực tiễn trong dạy học chương halogen lớp 10 25
2.2.4 Sử dụng bài tập có bối cảnh thực tiễn trong dạy học hóa học ở trường phổ thông 35
2.2.4.1 Sử dụng bài tập hóa học thực tiễn trong dạy học 35
2.2.4.2 Hướng dẫn học sinh giải bài tập hóa học thực tiễn 36
2.2.4.3 Thiết kế giáo án giảng dạy chương halogen lớp 10 có sử dụng bài tập có bối cảnh thực tiễn 37
2.2.4.3.1 Giáo án Bài 22 Clo 37
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 43
3.1 Mục đích thực nghiệm 43
3.2 Nhiệm vụ và phương pháp thực nghiệm 43
3.3 Tiến hành thực nghiệm sư phạm 43
3.3.1 Đối tượng thực nghiệm 43
3.3.2 Thời gian thực nghiệm 44
3.3.3 Chuẩn bị cho thực nghiệm 44
3.3.4 Các bước thực nghiệm sư phạm 45
Trang 73.4 Xử lí thống kê kết quả thực nghiệm sƣ phạm 46
3.4.1 Công thức tính tham số đặc trƣng 46
3.4.2 Kết quả thực nghiệm sƣ phạm 47
3.3.5 Đánh giá kết quả thực nghiệm 56
3.3.5.1 Đối với học sinh 56
3.3.5.2 Đối với giáo viên 59
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62
1 KẾT LUẬN 62
2 ĐỀ XUẤT 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Mức độ sử dụng BTCBCTT trong dạy học của GV 20
Bảng 1.2 Tình hình sử dụng dạng BTCBCTT trong dạy học theo các mức độ nhận thức của HS 20
Bảng 3.1 Kết quả số HS đạt điểm Xi của 2 bài kiểm tra 47
Bảng 3.2 Bảng tổng hợp điểm các bài kiểm tra 47
Bảng 3.3 Bảng phân bố tần số, tần suất, tần suất lũy tích bài kiểm tra số 1 -Trường THPT Mai Sơn 48
Bảng 3.4: Bảng phân bố tần số, tần suất, tần suất lũy tích bài kiểm tra số 1 -Trường THPT Yên Châu 49
Bảng 3.5 Bảng phân bố tần số, tần suất, tần suất lũy tích bài kiểm tra số 2 - Trường THP Mai Sơn 50
Bảng 3.6: Bảng phân bố tần số, tần suất, tần suất lũy tích bài kiểm tra số 2 -Trường THPT Yên Châu 51
Bảng 3.7 Kết quả TN tổng hợp - Trường THPT Mai Sơn 52
Bảng 3.8 Kết quả TN tổng hợp - Trường THPT Yên Châu 53
Bảng 3.9 Bảng phân loại kết quả thực nghiệm – Bài kiểm tra số 1 54
Bảng 3.10 Bảng phân loại kết quả thực nghiệm – Bài kiểm tra số 2 54
Bảng 3.11 Phân loại kết quả thực nghiệm tổng hợp 55
Bảng 3.12 Các tham số đặc trưng 56
Bảng 3.13 Nhận xét của GV về tác dụng của việc giải BTCBCTT đối với HS 60
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 1 Đồ thị đường lũy tích kết quả TN bài kiểm tra số 1- Trường THPT Mai Sơn 48 Hình 2 Đồ thị đường lũy tích kết quả TN bài kiểm tra số 1- Trường THPT Yên Châu
49
Hình 3 Đồ thị đường lũy tích kết quả TN bài kiểm tra số 2- Trường THPT Mai Sơn 50 Hình 4 Đồ thị đường lũy tích kết quả TN bài kiểm tra số 2 - Trường THPT Yên Châu 51
Hình 5 Đồ thị đường tích lũy kết quả TN tổng hợp - Trường THPT Mai Sơn 52
Hình 6 Đồ thị đường tích lũy kết quả TN tổng hợp - Trường THPT Yên Châu 53
Hình 7 Biểu đồ biểu diễn phân loại kết quả thực nghiệm - Bài kiểm tra số 1 54
Hình 8 Biểu đồ biểu diễn phân loại kết quả thực nghiệm – Bài kiểm tra số 2 55
Hình 9 Biểu đồ biểu diễn kết quả thực nghiệm tổng hợp 55
Trang 10PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Đổi mới phương pháp dạy học là một trong những vấn đề trung tâm của nền giáo dục thế giới trong những năm gần đây và cũng là một trong những chủ trương quan trọng về giáo dục của Đảng và nhà nước ta Trong chiến lược phát triển giáo dục 2011 – 2020, Tại Quyết định số 711/QĐ–TTG ngày 13/6/2012, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã đưa ra mục tiêu tổng quát cho nền giáo dục
nước ta: “Đến năm 2020, nền giáo dục nước ta được đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế; chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện, gồm: giáo dục đạo đức, kĩ năng sống, năng lực sáng tạo, năng lực thực hành, năng lực ngoại ngữ và tin học; đáp ứng nhu cầu nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và xây dựng nền kinh tế tri thức; đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục và cơ hội học tập suốt đời cho mỗi người dân, từng bước hình thành xã hội học tập.”
Từ mục tiêu chiến lược phát triển này, nền Giáo dục nước ta đã và đang tiến hành đổi mới giáo dục một cách toàn diện , với mục tiêu phát huy được tính tích cực,
tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác đông đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học
tập cho học sinh Việc đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi những điều kiện thích
hợp về phương tiện, cơ sở vật chất và tổ chức dạy học, điều kiện về tổ chức, quản lý Ngoài ra, phương pháp dạy học còn mang tính chủ quan Mỗi giáo viên với kinh nghiệm riêng của mình cần xác định những phương hướng riêng để cải tiến phương
pháp dạy học và kinh nghiệm của cá nhân
Hiện nay có rất nhiều phương pháp dạy học nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh, trong đó dạy học sử dụng bài tập có bối cảnh thực tiễn là một biện pháp dạy học phù hợp với xu hướng đổi mới dạy học hiện đại, mà người học phải mang những hiểu biết lí thuyết để giải quyết các bài tập có bối cảnh thực tế , có sự kết
hợp giữa lý thuyết và thực hành
Phương pháp dạy học sử dụng bài tập có bối cảnh thực tiễn mang lí thuyết lại gần với thực tế, góp phần xây dựng hứng thú học tập và chuẩn bị những kĩ năng cần
Trang 11thiết cho người học bước vào cuộc sống; những ưu điểm đó cùng với tính chưa phổ
biến của phương pháp dạy học đổi mới là lí do chúng tôi chọn đề tài “Xây dựng và sử dụng bài tập có bối cảnh thực tiễn trong dạy học chương halogen lớp 10 nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh”
2 Lịch sử nghiên cứu
Xây dựng và sử dụng bài tập có bối cảnh thực tiễn trong dạy học nói chung và dạy học môn hóa học nói riêng là một trong những nội dung đang được quan tâm triển khai nghiên cứu trong thời gian gần đây Trong lĩnh vực hóa học phải kể đến nghiên cứu của một số tác giả như:
- Nguyễn Thị Phương Thúy (2017), Vận dụng dạy học dự án trong dạy học phần Hóa học hữu cơ nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh ở trường Trung học phổ thông miền núi phía Bắc, 2017, Luận án Tiến sĩ Giáo dục học,
ĐHSP Hà Nội
- Vũ Thái Ngọc (2016), Phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh tỉnh Điện Biên thông qua bài tập hoá học phần Hoá học phi kim lớp 10 trung học phổ thông, Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học, ĐHSP Hà Nội
- Nguyễn Thế Hùng (2016), Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập chương Cacbon-Silic (Hóa học 11) nhằm phát triển năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề cho học sinh THPT, Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học, ĐHSP Hà Nội và một số
tác giả khác, tuy nhiên các nghiên cứu chủ yếu sử dụng bài tập có bối cảnh thực tiễn như một phương pháp bổ trợ trong nghiên cứu của mình và cũng không nghiên cứu một cách đầy đủ về dạng bài tập này Đồng thời, qua tìm hiểu cũng cho thấy chưa có một nghiên cứu nào nghiên cứu cụ thể về việc xây dựng và sử dụng bài tập có bối cảnh thực tiễn trong dạy học chương halogen lớp 10 Do vậy tôi cho rằng việc nghiên cứu
về xây dựng và sử dụng bài tập có bối cảnh thực tiễn trong dạy học chương halogen lớp 10 là có khả thi và có ý nghĩa về mặt thực tiễn
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học môn hóa học ở trường phổ thông
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Sử dụng hệ thống bài tập có bối cảnh thực tiễn trong dạy học hóa học chương
halogen lớp 10
Trang 124 Giả thuyết khoa học
Vận dụng hệ thống bài tập có bối cảnh thực tiễn trong dạy học một cách hợp lí cùng sự kết hợp với một số kĩ thuật dạy học tích cực sẽ giúp tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về bài tập hóa học và bài tập có bối cảnh thực tiễn
- Tìm hiểu cơ sở lý luận về tính tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh
- Nghiên cứu nội dung và cấu trúc chương trình chương halogen lớp 10
- Xây dựng bài tập có bối cảnh thực tiễn trong dạy học chương halogen lớp 10
- Sử dụng bài tập có bối cảnh thực tiễn trong dạy học chương halogen lớp 10
- Thực nghiệm sư phạm đánh giá tính hiệu quả và phù hợp của các đề xuất
6 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu: Chương Halogen lớp 10
- Địa bàn nghiên cứu: Một số trường THPT ở Sơn La
- Thời nghiên cứu: Năm học 2017- 2018
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Phương pháp thu thập các nguồn tài liệu lí luận
- Phương pháp phân tích tổng quan các nguồn tài liệu đã thu thập
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp quan sát
Quan sát hoạt động dạy học chương Halogen lớp 10 thông qua dự giờ, thăm các lớp đang học chương trình chương halogen lớp 10 năm học 2017 - 2018, để thu thập thông tin liên quan đến việc sử dụng bài tập thực nghiệm trong dạy học
7.2.2 Phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia
Thăm dò ý kiến giáo viên phổ thông bằng phiếu trưng cầu ý kiến hoặc phỏng vấn trực tiếp để nắm bắt số liệu sau mỗi tiết dạy
7.2.3 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục
Căn cứ vào các dạng bài tập có bối cảnh thực tiễn trong giáo trình và các tài liệu khác để xây dựng và sử dụng bài tập có bối cảnh thực tiễn trong dạy học cho phù hợp với học sinh phổ thông
7.2.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Trang 13Soạn giáo án và trực tiếp giảng dạy ứng dụng tổ chức phương pháp dạy học có
sử dụng bài tập có bối cảnh thực tiễn trong giờ dạy một số bài thuộc chương Halogen lớp 10
7.2.5 Phương pháp phân tích, tổng hợp và xử lý thông tin
Sau khi thu thập các thông tin và số liệu liên quan, em sẽ tiến hành thống kê, phân tích và đánh giá các số liệu đó
8 Những đóng góp của đề tài
Đề tài hoàn thành sẽ là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị đối với sinh viên sư phạm và giáo viên giảng dạy bộ môn hóa học ở trường phổ thông
Trang 14PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Lý luận về bài tập hóa học
1.1.1 Khái niệm bài tập hóa học
Theo từ điển Tiếng Việt phổ thông : “Bài tập là bài ra cho HS làm để tập vận dụng những điều đã học”
Bài tập hóa học là một vấn đề không lớn mà trong trường hợp tổng quát được giải quyết nhờ những suy luận logic, những phép toán và những thí nghiệm trên cơ sở
các khái niệm, định luật, học thuyết và phương pháp hóa học
Bài tập hóa học gồm những bài toán, những câu hỏi hay đồng thời cả bài toán
và câu hỏi thuộc về hóa học giáo viên đưa ra để học sinh vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế, mà trong khi hoàn thành chúng học sinh nắm được một tri thức hay kỹ
năng nhất định
Câu hỏi là những bài làm mà trong quá trình hoàn thành chúng học sinh phải tiến hành một hoạt động tái hiện, còn bài toán là bài làm mà khi hoàn thành chúng học
sinh phải tiến hành một hoạt động sáng tạo gồm nhiều thao tác và nhiều bước
1.1.2 Phân loại bài tập hóa học
Quá trình dạy học hóa học gồm 3 công đoạn là dạy học bài mới; ôn tập, hệ thống hoá kiến thức và luyện tập; kiểm tra - đánh giá kết quả dạy học
a Ở công đoạn dạy học bài mới ta nên phân loại BTHH theo nội dung để phục
vụ cho việc dạy học và củng cố bài mới Tên của mỗi loại có thể như tên các chương
trong sách giáo khoa
Ví dụ ở lớp 10 THPT ta có:
- Bài tập về cấu tạo nguyên tử
- Bài tập về liên kết hóa học
- Bài tập về xác định số oxi hóa
- Bài tập về phản ứng hóa học nói chung và phản ứng oxi hoá - khử
- Bài tập sử dụng phương pháp bảo toàn electron
- Bài tập về nhóm halogen và các hợp chất
- Bài tập về nhóm Oxi- Lưu huỳnh
- Bài tập về tốc độ phản ứng – cân bằng hóa học
Mỗi loại ta cần có một hệ thống bài tập bảo đảm các yêu cầu sau:
Trang 15- Phủ kín kiến thức của chương hay của một vấn đề
- Số lượng cần đủ để hình thành các kĩ năng cần thiết
- Mở rộng và đào sâu thêm kiến thức của chương
- Có một số bài tập hay để phát triển năng lực tư duy, rèn trí thông minh cho HS Muốn có một hệ thống bài tập như trên (ví dụ khoảng 20 bài) cần tuyển chọn từ hàng
100 bài tập hiện có về loại đó
b Ở công đoạn ôn tập, hệ thống hoá kiến thức và kiểm tra - đánh giá do mang tính chất tổng hợp, có sự phối hợp giữa các chương ta nên phân loại dựa trên các cơ sở sau:
- Dựa vào hình thức, BTHH có thể chia thành: Bài tập TNTL (tự trả lời) bao gồm các dạng trả lời bằng một từ, bằng một câu ngắn, trả lời cả bài (theo cấu trúc hoặc
tự do), giải bài tập; bài tập TNKQ bao gồm các dạng câu hỏi có/không, đúng/sai, nhiều lựa chọn, phức hợp, ghép đôi
+ Bài tập TNTL là dạng bài tập yêu cầu HS phải kết hợp cả kiến thức hoá học, ngôn ngữ hoá học và công cụ toán học để trình bày nội dung của bài toán hoá học + Bài tập TNKQ là loại bài tập hay câu hỏi có kèm theo câu trả lời sẵn và yêu cầu HS suy nghĩ rồi dùng 1 ký hiệu đơn giản đã quy ước để trả lời
- Dựa vào tính chất hoạt động của HS khi giải bài tập có thể chia thành bài tập lí thuyết (khi giải không phải làm thí nghiệm) và bài tập thực nghiệm (khi giải phải làm thí nghiệm)
- Dựa vào chức năng của bài tập có thể chia thành bài tập đòi hỏi sự tái hiện kiến thức (biết, hiểu, vận dụng), bài tập rèn tư duy độc lập, sáng tạo (phân tích, tổng hợp, đánh giá)
- Dựa vào tính chất của bài tập có thể chia thành bài tập định tính và định lượng
- Dựa vào kiểu hay dạng bài tập có thể chia thành:
+ Bài tập xác định công thức phân tử của hợp chất
Trang 16tạp(hoặc cơ bản hay tổng hợp)
- Dựa vào nội dung có thể chia thành: Bài tập có nội dung thuần tuý hoá học, bài tập có nội dung gắn với thực tiễn (bài tập thực tiễn)
- Trên thực tế dạy học, sự phân loại trên chỉ là tương đối Có những bài vừa có nội dung thuộc bài tập định tính lại vừa có nội dung thuộc bài tập định lượng; hoặc trong một bài có thể có phần TNKQ cùng với giải thích, viết phương trình hóa
học…Trong đó chúng tôi tập trung nghiên cứu về bài tập có bối cảnh thực tiễn
1.1.3 Vai trò của bài tập trong dạy học hóa học
- Bài tập có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình dạy học hóa học, gồm
những vai trò sau:
- Rèn luyện cho học sinh khả năng vận dụng được các kiến thức đã học, biến những kiến thức tiếp thu được qua các bài giảng thành kiến thức của chính mình Khi vận dụng được một kiến thức nào đó, kiến thức đó sẽ được nhớ lâu
- Đào sâu và mở rộng kiến thức đã học một cách sing động phong phú, hấp dẫn Chỉ có việc vận dụng kiến thức vào giải bài tập, học sinh mới nắm vững kiến thức một cách sâu sắc
- Ôn tập, củng cố và hệ thống kiến thức một cách thuận lợi nhất Trong khi ôn tập nếu chỉ đơn thuần nhắc lại kiến thức, học sinh sẽ chán vì không có gì mới, hấp dẫn Thự c tế cho thấy học sinh khá, giỏi chỉ thích giải bài tập trong giờ ôn tập
- Rèn luyện được những kỹ năng cần thiết về hóa học như kỹ năng cân bằng phương trình phản ứng; kỹ năng tính toán theo công thức hóa học và phương trình hóa học; kỹ năng thực hành như đun nóng, nung, sấy, hòa tan, lọc,… kỹ năng nhận biết các hóa chất giúp góp phần vào việc giáo dục kỹ năng tổng hợp cho học sinh
- Phát triển năng lực nhận thức, rèn trí thông minh cho học sinh Một bài tập có nhiều cách giải thông thường theo các bước quen thuộc nhưng cũng có cách gải độc đáo, thông minh, rất ngắn gọn mà lại chính xác Đưa ra một bài tập rồi yêu cầu học sinh giải bằng nhiều cách rèn luyện trí thông minh cho các em
- Giáo dục tư tưởng, đạo đức, tác phong như rèn luyện tính kiên nhẫn, trung thực, sáng tạo, chính xác, khoa học Nâng cao lòng yêu thích học tập bộ môn Rèn luyện tác phong lao động có văn hóa, lao động có tổ chức, có kế hoạch, gọn gàng, ngăn nắp, sạch sẽ nơi làm việc thông qua việc giải các bài tập thực nghiệm
Trang 171.1.4 Bài tập hóa học có bối cảnh thực tiễn
1.1.4.1 Khái niệm
Bài tập hóa học có bối cảnh thực tiễn: là những bài tập đòi hỏi HS phải vận dụng kiến thức, kĩ năng hóa học (những điều kiện và yêu cầu) cùng với các kiến thức của các môn học khác kết hợp với kinh nghiệm, kĩ năng sống để giải quyết một số vấn
đề đặt ra từ những bối cảnh và tình huống nảy sinh từ thực tiễn Đây bài tập mở, tạo cơ
hội cho HS có nhiều cách tiếp cận, nhiều con đường giải quyết khác nhau
1.1.4.2 Vai trò của bài tập có bối cảnh thực tiễn trong dạy học hóa học
Trong dạy học hoá học, bài tập có bối cảnh thực tiễn đã được coi là phương
pháp dạy học có hiệu quả cao trong việc rèn luyện kỹ năng hoá học Nó giữ vai trò quan trọng trong mọi khâu, mọi loại bài dạy hoá học, là phương pháp quan trọng nhất
để nâng cao chất lượng dạy học hoá học
Bài tập có bối cảnh thực tiễn vừa là mục đích, vừa là nội dung của việc dạy và học hoá học Bài tập cung cấp cho HS kiến thức, con đường giành lấy kiến thức và còn mang lại niềm vui sướng của sự phát hiện, của sự tìm ra đáp số
Bài tập có bối cảnh thực tiễn có chức năng dạy học, chức năng giáo dục, chức năng kiểm tra, chức năng phát triển Những chức năng này đều hướng tới việc thực hiện các mục đích dạy học Tuy nhiên trong thực tế các chức năng này không tách rời với nhau
Đối với HS, bài tập có bối cảnh thực tiễn là phương pháp học tập tích cực, hiệu quả và không có gì thay thế được, giúp HS nắm vững kiến thức hoá học, phát triển tư duy, hình thành kĩ năng, vận dụng kiến thức hoá học vào thực tế đời sống, sản xuất và nghiên cứu khoa học, từ đó làm giảm nhẹ sự nặng nề căng thẳng của khối lượng kiến thức lý thuyết và gây hứng thú say mê học tập cho HS
Đối với GV, bài tập có bối cảnh thực tiễn là phương tiện, là nguồn kiến thức để hình thành khái niệm hoá học, tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS trong quá trình dạy học Cụ thể là:
+ BTCNCTT được sử dụng như là nguồn kiến thức để HS tìm tòi, phát triển kiến thức, kỹ năng
+ BTCBCTT dùng để mô phỏng một số tình huống thực tế đời sống để HS vận dụng kiến thức vào giải quyết các vấn đề của thực tế đặt ra
+ Sử dụng bài tập để tạo tình huống có vấn đề kích thích hoạt động tư duy tìm
Trang 18tòi sáng tạo và rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề học tập, nâng cao hứng thú học tập
bộ môn
Như vậy BTCBCTT được coi như là một nhiệm vụ học tập cần giải quyết, giúp
HS tìm tòi, nghiên cứu đi sâu vận dụng kiến thức hoá học một cách sáng tạo từ đó giúp
HS có năng lực phát hiện vấn đề - giải quyết vấn đề học tập hoặc thực tiễn đặt ra có liên quan đến hoá học, giúp HS biến những kiến thức đã tiếp thu được qua bài giảng thành kiến thức của chính mình
Kiến thức sẽ nhớ lâu khi được vận dụng thường xuyên như M.A.Đanilôp nhận định: “Kiến thức sẽ được nắm vững thực sự, nếu HS có thể vận dụng thành thạo chúng vào việc hoàn thành những bài tập lý thuyết và thực hành”
BTCBCTT tạo điều kiện cho việc học và hành gắn liền với thực tế, tạo cho học sinh sự hứng thú trong học tập và xây dưng cho học sinh thái độ đúng đắn, phương pháp học tập tích cực, sáng tạo, năng lực tự học, năng lực vận dụng kiến thức được học vào trong cuộc sống
Ngoài ra dạng bài tập này giúp học sinh có những hiểu biết về hệ tự nhiên, hoạt động của nó và tác động của nó đối với cuộc sống của con người, nắm được những ảnh hưởng của hoạt động của con người lên tự nhiên Từ đó, học sinh ý thức được hoạt động của bản thân trong cuộc sống, có ý trách nhiệm về vấn đề môi trường
Xây dựng cho các em kỹ năng quan sát, thu thập thông tin và phân tích thông tin hình thành phương pháp nghiên cứu khoa học Phát triển cho các em kỹ năng nghiên cứu thực tiễn và kỹ năng tư duy để giải thích các hiện tượng, luôn chủ động trong cuộc sống
Bài tập về các hiện tượng tự nhiên làm cho học sinh thấy quá trình hóa học luôn xảy ra quanh ta Giải thích được các hiện tượng tự nhiên, các em sẽ yêu thích môn hóa học hơn
1.1.4.3 Phân loại bài tập hóa học có bối cảnh thực tiễn
Dựa vào lĩnh vực thực tiễn được gắn với nội dung bài tập, có thể chia
thành:
a) Bài tập về sản xuất hoá học
Ví dụ: Các hợp chất canxi silicat là hợp phần chính của xi măng Chúng có thành phần như sau : Cao-73,7% , Si02 – 26,3% ,và CaO – 65,1% , Si02- 34,9% Hỏi trong mỗi hợp chất canxi silicat trên có bao nhiêu mol CaO kết hợp với 1 mol Si02?
Trang 19b) Bài tập về các vấn đề trong đời sống, học tập và lao động sản xuất Bao
gồm các dạng bài tập về:
* Giải quyết các tình huống có vấn đề trong quá trình làm thực hành, thí nghiệm như: Sử dụng dụng cụ thí nghiệm, sử dụng hoá chất hợp lí, xử lí tai nạn xảy ra, phòng chống độc hại, ô nhiễm trong khi làm thí nghiệm…
Ví dụ:
1) Khi làm thí nghiệm với photpho trắng, cần chú ý gì?
A Cầm P trắng bằng tay có đeo găng cao su
B Dùng cặp gắp nhanh mẩu P trắng ra khỏi lọ và ngâm ngay vào chậu đựng đầy nước khi chưa dùng đến
C Tránh cho P trắng tiếp xúc với nước
2) Cà rốt là loại củ có chứa đường và có hàm lượng vitamin A rất cao Nhiều người thích ăn cà rốt sống và làm nộm cà rốt vì cho rằng sẽ hấp thụ hết lượng tiền vitamin A trong đó Quan điểm đó có đúng không? Tại sao?
* Sơ cứu tai nạn do hóa chất:
Ví dụ: Brom lỏng là chất độc hại, khi dây vào da nó làm bỏng rất sâu và nặng Khi bị nước brom dây vào tay cần rửa ngay bằng chất nào sau đây?
A Nước
B Dung dịch amoniac loãng
C Dung dịch giấm ăn
Trang 20c) Bài tập có liên quan đến môi trường và vấn đề bảo vệ môi trường
Ví dụ: Mức tối thiểu cho phép của H2S trong không khí là 0,01 ml/l Để đánh giá sự ô nhiễm không khí của một nhà máy người ta làm như sau: điện phân dung dịch
KI trong 2 phút bằng dòng điện 2mA Sau đó cho 2 lít không khí lội từ từ trong dung dịch điện phân trên cho đến khi iot hoàn toàn mất màu Thêm hồ tinh bột vào bình và tiếp tục điện phân trong 35 giây nữa với dòng điện trên thì thấy dung dịch bắt đầu xuất hiện màu xanh Giải thích thí nghiệm trên và cho biết sự ô nhiễm không khí ở nhà máy trên nằm dưới hoặc trên mức cho phép Tính hàm lượng của H2S trong không khí theo thể tích
Mỗi lĩnh vực thực tiễn trên lại bao gồm tất cả các loại bài tập định tính, định lượng, tổng hợp; bài tập lí thuyết, bài tập thực hành
Dựa vào mức độ nhận thức của HS Căn cứ vào chất lượng của quá trình
lĩnh hội và kết quả học tập, có thể đưa ra 4 trình độ lĩnh hội (4 mức độ) như sau:
Mức 1: Chỉ yêu cầu HS tái hiện kiến thức để trả lời câu hỏi lí thuyết
Ví dụ: Để tráng bên trong ruột phích, người ta dùng phản ứng của glucozơ với AgNO3 trong dung dịch NH3
a) Viết phương trình hóa học của phản ứng xảy ra
b) Vì sao người ta không dùng fomalin để tráng ruột phích?
Mức 2: Yêu cầu HS vận dụng kiến thức để giải thích được các sự kiện, hiện
tượng của câu hỏi lí thuyết
Ví dụ:
1) Trong khẩu phần ăn, tinh bột có vai trò như thế nào?
2) Vì sao xà phòng bị giảm tác dụng giặt rửa trong nước cứng còn bột giặt tổng hợp thì không?
Mức 3: Yêu cầu HS vận dụng kiến thức hoá học để giải thích những tình
huống xảy ra trong thực tiễn
Ví dụ:
1) Dân gian có câu: “Nhai kĩ no lâu, cày sâu tốt lúa” Vì sao nhai kĩ no lâu? 2) Trong cuộc chiến tranh kháng chiến chống Pháp, nhân dân ta đã điều chế diêm tiêu (KNO3), thành phần chính của thuốc nổ, bằng cách lấy đất ở trong các hang
đá vôi có dơi ở trộn với tro bếp rồi dùng nước sôi dội nhiều lần qua hỗn hợp đó để tách
ra KNO3 Hãy giải thích cách làm đó
Trang 21 Mức 4: Yêu cầu HS vận dụng kiến thức, kĩ năng hoá học để giải quyết những
tình huống thực tiễn hoặc để thực hiện một công trình nghiên cứu khoa học nhỏ, đơn giản, đề ra kế hoạch hành động cụ thể, viết báo cáo
Ví dụ: Điesel sinh học là một loại nhiên liệu có tính chất tương đương với nhiên liệu dầu điesel nhưng không phải sản xuất từ dầu mỏ mà từ dầu thực vật (cây cải dầu, cây đậu nành, cây hướng dương, dầu dừa, dầu hạt cau) hay mỡ động vật (cá da trơn) Nhìn theo phương diện hoá học thì điesel sinh học là metyl este của những axit béo
Để sản xuất điesel sinh học người ta pha khoảng 10% metanol vào dầu thực vật (mỡ động vật) và dùng nhiều chất xúc tác khác nhau (KOH, NaOH, ancolat) Phản ứng tiến hành ở áp suất thường, nhiệt độ 600 C Hãy viết phản ứng hoá học xảy ra trong quá trình sản xuất điesel sinh học Phân tích ưu, nhược điểm của việc sản xuất loại nhiên liệu này
Từng mức độ trên có thể được chia làm nhiều mức độ nhỏ hơn nữa để phù hợp với trình độ của HS đồng thời cũng thể hiện sự phân hoá HS trong cùng một bài, trong
hệ thống BTCBCTT Trên đây là một số cách phân loại BTCBCTT Tuy nhiên, có nhiều BTCBCTT lại là tổng hợp của rất nhiều loại bài
1.2 Lý luận về tích cực hóa hoạt động học tập
1.2.1 Khái niệm tích cực hóa hoạt động học tập
Tính tích cực (TTC) là một phẩm chất vốn có của con người, bởi vì để tồn tại
và phát triển con người luôn phải chủ động, tích cực cải biến môi trường tự nhiên, cải tạo xã hội Vì vậy, hình thành và phát triển TTC xã hội là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục
Tính tích cực học tập - về thực chất là TTC nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí lực và có nghị lực cao trong qúa trình chiếm lĩnh tri thức TTC nhận thức trong hoạt động học tập liên quan trước hết với động cơ học tập Động cơ đúng tạo ra hứng thú Hứng thú là tiền đề của tự giác Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tạo nên tính tích cực Tính tích cực sản sinh nếp tư duy độc lập Suy nghĩ độc lập là mầm mống của sáng tạo Ngược lại, phong cách học tập tích cực độc lập sáng tạo sẽ phát triển tự giác, hứng thú, bồi dưỡng động cơ học tập TTC học tập biểu hiện ở những dấu hiệu như: hăng hái trả lời các câu hỏi của giáo viên, bổ sung các câu trả lời của bạn, thích phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra; hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa đủ rõ; chủ động vận dụng kiến thức, kĩ năng
Trang 22đã học để nhận thức vấn đề mới; tập trung chú ý vào vấn đề đang học; kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản trước những tình huống khó khăn,…
TTC học tập thể hiện qua các cấp độ từ thấp lên cao như:
- Bắt chước: gắng sức làm theo mẫu hành động của thầy, của ban…
- Tìm tòi: độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm kiếm cách giải quyết khác nhau
về một số vấn đề…
- Sáng tạo: tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo hữu hiệu
1.2.2 Biểu hiện của tính tích cực trong hoạt động học tập của học sinh
Tính tích cực nhận thức biểu hiện sự nỗ lực của chủ thể khi tương tác với đối tượng trong quá trình học tập, nghiên cứu; thể hiện sự nỗ lực của hoạt động trí tuệ, sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lí (như hứng thú, chú ý, ý chí ) nhằm đạt
3 Có hoàn thành những nhiệm vụ được giao không?
4 Có ghi nhớ tốt những điều đã được học không?
5 Có hiểu bài học không?
6 Có thể trình bày lại nội dung bài học theo ngôn ngữ riêng không?
7 Có vận dụng được các kiến thức đã học vào thực tiễn không?
8 Tốc độ học tập có nhanh không?
9 Có hứng thú trong học tập hay chỉ vì một ngoại lực nào đó mà phải học?
10 Có quyết tâm, có ý chí vượt khó khăn trong học tập không?
11 Có sáng tạo trong học tập không?
Về mức độ tích cực của HS trong quá trình học tập có thể không giống nhau,
GV có thể phát hiện được điều đó nhờ vào một số dấu hiệu sau đây:
1 Tự giác học tập hay bị bắt buộc bởi những tác động bên ngoài (gia đình, bạn
bè, xã hội)
2 Thực hiện yêu cẩu của thầy giáo theo yêu cầu tối thiểu hay tối đa?
3 Tích cực nhất thời hay thường xuyên liên tục?
Trang 234 Tích cực tăng lên hay giảm dần?
5 Có kiên trì vượt khó hay không?
Một vài đặc điểm về tính cực của HS
1 Tính tính cực của HS có mặt tự phát và mặt tự giác:
+ Mặt tự phát: là những yếu tố tiềm ẩn, bẩm sinh thể hiện ở tính tò mò, hiếu kì, hiếu động, linh hoạt và sôi nổi trong hành vi mà trẻ đều có ở những mức độ khác nhau Cần coi trọng những yếu tố tự phát này, nuôi dưỡng, phát triển chúng trong DH
+ Mặt tự giác: là trạng thái tâm lí có mục đích và đối tượng rõ rệt, do đó có haojt động để chiếm lĩnh đối tượng đó TTC tự giác thể hiện ở óc quan sát, tình phê phán trong tư duy, trí tò mò khoa học
2 TTC nhận thức phát sinh không chỉ trong nhu cầu nhận thức mà còn từ nhu cầu sinh học, nhu cầu đạo đức thẩm mỹ, nhu cầu giao lưu văn hóa Hạt nhân cơ bản của TTC nhận thức là hoạt đồn tư duy của cá nhân được tạo nên do sự thúc đẩy của hệ thống nhu cầu đa dạng
3 TTC nhận thức và TTC học tập có liên quan chặt chẽ với nhau nhưng không phải là một Có một số trường hợp, TTC học tập thể hiện ở hành động bên ngoài, mà không phải là TTC trong tư duy
Đó là những điều cần lưu ý khi đánh giá TTC nhận thức của HS Gần đây, một
số nhà lí luạn cho rẳng: với những HS khá, Giời, thông minh,….việc sử dụng giáo cụ trực quan, PPDH nêu vấn đề đôi khi như là một vật cản, làm chậm quá trình tư duy vốn diễn ra rất nhanh vầ diễn qua trực quan của các em này
1.2.3 Sử dụng bài tập có bối cảnh thực tiễn nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh
1.2.3.1 Quy trình sử dụng bài tập có bối cảnh thực tiễn trong dạy học hóa học
BTCBCTT gắn với bối cảnh/tình huống đòi hỏi sự phân tích, tổng hợp, đánh giá và vận dụng kiến thức riêng lẻ vào những bối cảnh, tình huống thực xảy ra trong thực tiễn Với những bài tập mở tạo cơ hội cho nhiều cách tiếp cận, nhiều phương án giải quyết khác nhau, góp phần hình thành ở HS các năng lực như: năng lực xử lí thông tin, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn Với các bài tập này không có một đáp án duy nhất, có thể chia thành các mức: Mức đầy đủ,
chưa đầy đủ và không đạt
Trong dạy học hóa học, BTCBCTT có thể sử dụng trong các dạng bài học khác
Trang 24nhau và theo các mục đích khác nhau như hình thành kiến thức mới, ôn tập củng cố hoặc kiểm tra đánh giá
Với bài dạy nghiên cứu tài liệu mới, GV có thể sử dụng BTCBCTT để tạo tình huống có vấn đề, kích thích hoạt động tư duy của HS và tổ chức cho HS thảo luận nhóm để đưa ra các câu trả lời cho các bài tập mở hoặc các cách giải quyết vấn đề thực tiễn khác nhau Từ đó, yêu cầu HS đánh giá và xác định câu trả lời đầy đủ nhất, cách giải quyết vấn đề tối ưu nhất
Với bài dạy luyện tập, GV dùng BTCBCTT để mở rộng, phát triển kiến thức, rèn kĩ năng và phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho HS GV có thể
tổ chức cho HS tự đề xuất các vấn đề thực tiễn cần được tìm hiểu, giải thích và nêu ra dưới dạng câu đố để các bạn cùng tìm câu trả lời Ví dụ: Kim cương nhân tạo dược sản xuất từ các nguyên liệu nào? Có viên kim cương nào có kích thước to bằng trái đất không?
Với đặc điểm đa dạng và phong phú của BTCBCTT, việc phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh có thể thực hiện bằng việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực và nhiều hình thức tổ chức dạy học khác nhau trong các loại bài dạy, kiểm tra đánh giá, hoạt động ngoại khóa (các cuộc thi, thăm quan,…) hoặc thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học
1.2.3.2 Ưu điểm và hạn chế của việc sử dụng bài tập có bối cảnh thực tiễn trong dạy học hóa học
* Ưu điểm :
a) Về kiến thức
Thông qua giải BTCBCTT, HS hiểu kĩ hơn các khái niệm, tính chất hoá học; củng cố kiến thức một cách thường xuyên và hệ thống hoá kiến thức; mở rộng sự hiểu biết một cách sinh động, phong phú mà không làm nặng nề khối lượng kiến thức của
Trang 25- Rèn luyện và phát triển cho HS năng lực nhận thức, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề liên quan đến thực tế cuộc sống
- Rèn luyện và phát triển các kĩ năng thu thập thông tin, vận dụng kiến thức để giải quyết tình huống có vấn đề của thực tế một cách linh hoạt, sáng tạo
c) Về giáo dục tư tưởng
Việc giải BTCBCTT có tác dụng:
- Rèn luyện cho HS tính kiên nhẫn, tự giác, chủ động, chính xác, sáng tạo trong học tập và trong quá trình giải quyết các vấn đề thực tiễn
- Thông qua nội dung bài tập giúp HS thấy rõ lợi ích của việc học môn hóa học
từ đó tạo động cơ học tập tích cực, kích thích trí tò mò, óc quan sát, sự ham hiểu biết, làm tăng hứng thú học môn hóa học và từ đó có thể làm cho HS say mê nghiên cứu khoa học và công nghệ giúp HS có những định hướng nghề nghiệp tương lai Ngoài ra,
vì các BTCBCTT gắn liền với đời sống của chính bản thân HS, của gia đình, của địa phương và với môi trường xung quanh nên càng góp phần tăng độn cơ học tập của HS: học tập để nâng cao chất lượng cuộc sống của bản thân và của cộng đồng Với những kết quả ban đầu của việc vận dụng kiến thức hóa học phổ thông để giải quyết các vấn
đề thực tiễn HS thêm tự tin vào bản thân mình để tiếp tục học hỏi, tiếp tục phấn đấu và phát triển
d) Giáo dục kĩ thuật tổng hợp
Bộ môn hóa học có nhiệm vụ giáo dục kĩ thuật tổng hợp cho HS, BTHH tạo điều kiện tốt cho GV làm nhiệm vụ này Những vấn đề của kĩ thuật của nền sản xuất yêu cầu được biến thành nội dung các BTCBCTT, lôi cuốn HS suy nghĩ về các vấn đề
kĩ thuật BTCBCTT còn cung cấp cho HS những số liệu lí thú của kĩ thuật, những số liệu mới về phát minh, về năng suất lao động, về sản lượng ngành sản xuất hỗn hợp đạt được giúp HS hòa nhịp với sự phát triền của khoa học kĩ thuật thời đại mình đang sống
Ví dụ: Tính hàm lượng có thể điều chế được từ 1 tạ cromit cố định (FeCr2O4)
Trang 26đại; gần gũi với kinh nghiệm của học sinh; dựa trên nội dung học tập; đảm bảo tính logic sư phạm
- Đối với HS: đòi hỏi HS phải có kiến thức sâu rộng, kinh nghiệm sống phong phú, tư duy logic
1.3 Một số nguyên tắc khi xây dựng bài tập có bối cảnh thực tiễn
1.3.1 Nội dung bài tập có bối cảnh thực tiễn phải đảm bảo tính chính xác, tính khoa học, tính hiện đại
Trong một BTCBCTT, bên cạnh nội dung hoá học nó còn có những dữ liệu thực tiễn Những dữ liệu đó cần phải được đưa vào một cách chính xác, không tuỳ tiện thay đổi Ví dụ: Na được thu nhận vào cơ thể chủ yếu dưới dạng ion Na+ (muối NaCl) Thường mỗi ngày mỗi người trưởng thành thì cần khoảng 4-5 gam Na+ tương ứng với 10-12,5 gam muối ăn được đưa vào cơ thể Khi xây dựng bài tập thực tiễn không thể tuỳ tiện thay đổi hàm lượng này Làm như vậy là phi thực tế, không chính xác khoa học
Trong một số bài tập về sản xuất hoá học nên đưa vào các dây chuyền công nghệ đang được sử dụng ở Việt Nam hoặc trên Thế giới, không nên đưa các công nghệ
đã quá cũ và lạc hậu hiện không dùng hoặc ít dùng
1.3.2 Bài tập có bối cảnh thực tiễn phải gần gũi với kinh nghiệm của HS
Những vấn đề thực tiễn có liên quan đến hoá học thì rất nhiều, rất rộng Nếu BTCBCTT có nội dung về những vấn đề gần gũi với kinh nghiệm, với đời sống và môi trường xung quanh HS thì sẽ tạo cho các em động cơ và hứng thú mạnh mẽ khi giải
Ví dụ:
1) Khi người ta bị cảm thường đánh cảm bằng dây bạc và khi đó dây bạc bị hóa đen Hãy giải thích hiện tượng đó và cho biết để dây bạc sáng trắng trở lại trong dân gian người ta thường làm gì?
2) Các chữ mạ vàng trên bìa sách có phải làm từ vàng thật không? Đó là gì? 3) Ở các cây xăng ta thường nhìn thấy ghi A83, A90, A92 Các con số 83, 90,
92 có nghĩa gì? Tại sao ở các cây xăng người ta cấm sử dụng lửa và cấm cả sử dụng điện thoại di động?
HS với kinh nghiệm có được trong đời sống và kiến thức hoá học đã được học
sẽ lựa chọn phương án trả lời, giải thích sự lựa chọn của mình
Trang 27HS sẽ có sự háo hức chờ đợi thầy cô đưa ra đáp án đúng để khẳng định mình Trong bài tập này khi HS giải sẽ có một số khả năng xảy ra như sau:
- HS phân tích và giải thích đúng Đây sẽ là niềm vui rất lớn đối với HS vì kinh nghiệm của mình là đúng theo khoa học hoá học
- HS phân tích và giải thích gần đúng hoặc đúng một phần nào đó
Khi HS phân tích và giải thích gần đúng hoặc đúng một phần nào đó thì HS sẽ cảm thấy tiếc nuối vì bản thân đã gần tìm ra câu trả lời, từ đó HS sẽ có động lực để quan sát thực tiễn và vận dụng kiến thức hoá học một cách linh hoạt hơn để giải thích các tình huống thực tiễn hoặc thay đổi việc làm theo thói quen chưa đúng khoa học của bản thân
1.3.3 Bài tập có bối cảnh thực tiễn phải dựa vào nội dung học tập
Các BTCBCTT cần có nội dung sát với chương trình mà HS được học Nếu BTCBCTT có nội dung hoàn toàn mới về kiến thức hoá học thì sẽ không tạo được động lực cho HS để giải bài tập đó
Ví dụ: khi dạy bài Ankin (SGK hóa học 11) có thể đưa câu hỏi “Ở ngoài chợ, tại các vựa trái cây, người ta thường giấm trái cây bằng gì? Giải thích?”
Hoặc khi dạy bài Nguồn hiđrocacbon thiên nhiên (SGK hóa học 11) có thể đưa câu hỏi “Hắc ín là 1 sản phẩm của quá trình chưng cất dầu mỏ, thường dùng làm nhựa trải đường Nếu bị hắc ín dính vào quần áo, người ta phải dùng xăng (dầu hoả) để tẩy
mà không dùng nước thường Em hãy giải thích tại sao?”
1.3.4 Bài tập có bối cảnh thực tiễn phải đảm bảo logic sư phạm
Các tình huống thực tiễn thường phức tạp hơn những kiến thức hoá học phổ thông trong chương trình, nên khi xây dựng BTCBCTT cho HS phổ thông cần phải có bước xử lý sư phạm để làm đơn giản tình huống thực tiễn Các yêu cầu giải BTCBCTT cũng phải phù hợp với trình độ, khả năng của HS Cụ thể:
- Với HS yếu hoặc trung bình nên sử dụng câu hỏi mức 1 và 2 (dựa trên mức độ nhận thức của HS)
- Với HS khá hoặc giỏi nên sử dụng câu hỏi mức 3 và 4
- Khi kiểm tra-đánh giá cần sử dụng các loại BTHH ở các mức 1, 2 và 3 để tạo điều kiện cho tất cả các HS đều có thể trả lời được câu hỏi kiểm tra
1.3.5 Bài tập có bối cảnh thực tiễn phải có tính hệ thống, logic
Các BTCBCTT trong chương trình cần phải sắp xếp theo chương, bài, theo
Trang 28mức độ phát triển của HS Trong mỗi chương, bài nên có tất cả các loại, dạng BTCBCTT
Trong quá trình DH, thông qua kiểm tra, đánh giá, cần phải xây dựng những bài tập thực tiễn ở mức độ vừa và cao hơn một chút so với mức độ nhận thức của HS để nâng dần trình độ, khả năng nhận thức của HS
Biến hoá nội dung bài tập thực tiễn theo phương pháp tiếp cận mođun Xây dựng một số bài tập thực tiễn điển hình (xây dựng theo phương pháp tiếp cận mođun)
và từ đó có thể lắp ráp chúng vào các tình huống thực tiễn cụ thể, nội dung bài học cụ thể, hoặc tháo gỡ bài toán phức tạp thành những bài toán đơn giản, tạo ra những bài tập mới
1.4 Thực trạng của việc sử dụng bài tập có bối cảnh thực tiễn trong dạy học hóa học ở các trường THPT tỉnh Sơn La
Qua thực tế giảng dạy, tìm hiểu và tham khảo các GV tại các trường THPT, chúng tôi nhận thấy:
- BTCBCTT đã được GV các trường THPT quan tâm sử dụng trong quá trình
DH, tuy nhiên mức độ chưa thường xuyên do còn gặp nhiều khó khăn trong sử dụng
- Phần lớn GV sử dụng BT có sẵn trong SGK, SBT cho nhanh, ít khi cho HS làm bài tập vận dụng, thực nghiệm, thí nghiệm hay vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống, sản xuất
- GV thường lựa chọn các dạng BTHH truyền thống, quen thuộc, ít phải đầu tư thời gian, kinh phí để chuẩn bị cho mặt bài dạy
- Xuất phát từ thực tế đó dẫn tới hiệu quả mà BTCBCTT đem lại trong quá trình DH chưa cao, chưa khuyến kích được TTC, chủ động, sáng tạo của HS
Nguồn tư liệu hiện nay: tôi đã thực hiện phương pháp điều tra, tham khảo ý kiến của 50GV dạy ở các trường THPT thuộc tỉnh, thành phố Sơn La
Kết quả như sau:
Trang 29Bảng 1.1 Mức độ sử dụng BTCBCTT trong dạy học của GV
Bảng 1.2 Tình hình sử dụng dạng BTCBCTT trong dạy học theo các mức độ
nhận thức của HS
Rất thường xuyên
Thường xuyên
Đôi khi
Không sử dụng
Chỉ yêu cầu HS tái hiện kiến thức để
trả lời câu hỏi lí thuyết 6,93% 54,36% 38,71% 0% Yêu cầu HS vận dụng kiến thức để
giải thích được các sự kiện, hiện
tượng của câu hỏi lí thuyết
Yêu cầu HS vận dụng kiến thức, kĩ
năng hoá học để giải quyết những
tình huống thực tiễn hoặc để thực
hiện một công trình nghiên cứu
khoa học nhỏ, đơn giản, đề ra kế
Thường xuyên
Đôi khi Không sử
dụng
Khi luyện tập, ôn tập, tổng kết 11,71% 18,57% 53,57% 8,14% Khi kiểm tra – đánh giá kiến thức 10,50% 24,00% 54,79% 10,71%
Trang 30bài tập này vào trong dạy học thường xuyên, tập trung chủ yếu các hoạt động ngoại khóa
- Dạng bài tập đưa vào chủ yếu ở mức độ tái hiện kiến thức và vận dụng kiến thức để giải thích được các sự kiện,hiện tượng câu hỏi lí thuyết Còn ở mức độ cao hơn thì ít sử dụng
- Các thầy cô giáo cô đưa ra những lí do vì sao ít hoặc không sử dụng BTHH gắn với thực tiễn trong dạy học Đó là:
Mất nhiều thời gian tìm kiếm tài liệu 17/50 (34%)
Trong cá kì kiểm tra, kì thi không yêu cầu có
nhiều câu hỏi có nội dung gắn với thực tiễn 25/50 (50%)
- Chỉ sử dụng khi nội dung bài học có liên quan
- Mất nhiều thời gian, nếu HS chỉ làm dạng bài tập này thì không còn nhiều thời gian cho các dạng khác
Nhận xét chung:
- GV ít liên hệ kiến thức hóa học với thực tế Do cách thi cử có ảnh hưởng quan trọng tới cách dạy vì trong các kì kiểm tra, kì thi không yêu cầu có nhiều câu hỏi có nội dụng gắn với thực tiễn Do vậy, đa số GV chỉ đưa những kiến thức hóa học thự c tiễn vào các hoạt động ngoại khóa, còn những tiết học truyền thụ kiến thức mới thì ít đưa vào hoặc tiết luyện tập, ôn tập, tổng kết chuẩn bị cho các kì kiểm tra thì GV chỉ tập trung các kĩ năng khác có nội dung thuần túy hóa học để có thể đáp ứng được yêu cầu của bài kiểm tra
Trang 31- Thời gian dành cho tiết học không nhiều do đó giáo viên không có cơ hội đƣa những kiến thức thực tế vào bài học
- Năng lực vận dụng kiến thức hóa học để giait thích những tình huống xảy ra trong thực tế của HS còn hạn chế
- Vốn hiểu biết thực tế của HS về các hiện tƣợng có liên quan đến hóa học trong đời sống hàng ngày còn ít
Trang 32CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP CÓ BỐI CẢNH THỰC
TIỄN TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG HALOGEN LỚP 10
2.1 Phân tích nội dung và cấu trúc chương trình chương halogen lớp 10
2.1.1 Mục tiêu dạy học chương halogen lớp 10
a Mục tiêu về kiến thức
Thông qua các bài giảng trong chương halogen lớp 10 giúp học sinh nắm được
các kiến thức sau:
- Vị trí nhóm halogen trong bảng tuần hoàn
- Sự biến đổi độ âm điện, bán kính nguyên tử và một số tính chất vật lí của các nguyên tố trong nhóm
- Cấu hình electron ngoài cùng của các nguyên tố halogen tương tự nhau Tính chất hóa học cơ bản của các nguyên tố halogen là tính oxi hoá mạnh
- Sự biến đổi tính chất hoá học của các đơn chất trong nhóm halogen
b Mục tiêu về kỹ năng
Rèn luyện cho học sinh các kỹ năng sau:
- Viết cấu hình electron lớp ngoài cùng của nguyên tử F, Cl, Br, I
- Dựa vào cấu hình electron lớp ngoài cùng và một số tính chất khác của các nguyên tử, dự đoán tính chất hoá học cơ bản của các nguyên tố halogen là tính oxi hoá mạnh
- Viết được các phương trình hoá học chứng minh tính chất oxi hoá mạnh của các nguyên tố halogen, quy luật biến đổi tính chất của các nguyên tố trong nhóm
- Tính thể tích hoặc khối lượng dung dịch chất tham gia hoặc tạo thành sau phản ứng
c Mục tiêu về thái độ
Qua các bài giảng giúp học sinh:
- Có ý thức tích cực, tự giác và hợp tác trong học tập Nâng cao hứng thú học
tập bộ môn
- Có ý thức bảo vệ môi trường
2.1.2 Nội dung kiến thức chương halogen
Trang 33Chương 5: Halogen Tiết Tên bài dạy
37 Bài 21: Khái quát về nhóm halogen
38 Bài 22: Clo
39,40 Bài 25: Flo-Brom-Iot
41,42 Bài 23: Hiđro clorua, axit clohiđric Muối clorua
43 Bài 24: Sơ lược về hợp chất có oxi của clo
44,45 Luyện tập: Nhóm Halogen
46, 47 Nội dung 5: Thực hành
48 Kiểm tra 1 tiết
2.2 Xây dựng và sử dụng bài tập có bối cảnh thực tiễn trong dạy học chương halogen lớp 10
2.2.1 Nguyên tắc lựa chọn nội dung kiến thức để xây dựng bài tập có bối cảnh thực tiễn trong dạy học chương halogen lớp 10
Trong chương halogen lớp 10 lượng kiến thức lớn nhưng để xây dựng bài tập
hóa học có bối cảnh thực tiễn có thể lựa chọn dựa theo những nguyên tắc sau:
- Nội dung kiến thức có ứng dụng nhiều trong thực tiễn
- Nội dung kiến thức đơn giản gần gũi với học sinh
- Kiến thức đưa vào bài tập phải là kiến thức đã học
2.2.2 Quy trình thiết kế bài tập có bối cảnh thực tiễn
Theo thực tiễn dạy học, bài tập thực tiễn được xây dựng theo các bước sau:
Bước 1: Lựa chọn đơn vị kiến thức, hiện tượng, bối cảnh/tình huống thực tiễn
có liên quan
Bước 2: Xác định mục tiêu giáo dục của đơn vị kiến thức, xây dựng mâu thuẫn nhận thức từ bối cảnh/tình huống lựa chọn và xác định các điều kiện (kiến thức, kĩ
năng,…) cần thiết để giải quyết mâu thuẫn này
Bước 3: Thiết kế bài tập theo mục tiêu
Trang 34Bước 4: Xây dựng đáp án, lời giải và kiểm tra thử
Bước 5: Chỉnh sửa, hoàn thiện bài tập
Ví dụ 1: Chọn kiến thức về tính chất hóa học, sinh học của CO và CO2; Bối
cảnh là thông tin về việc sử dụng bếp than tổ ong để sưởi (hoặc chạy xe ô tô, mô tô, máy phát điện,…) trong phòng kín gây chết người được đăng tải trên các báo Từ đó
GV có thể xây dựng các BTCBCTT có liên quan đến các kiến thức này
GV nêu thông tin (hoặc cho HS đọc một đoạn thông tin), yêu cầu HS trả lời các câu hỏi:
a) Theo em loại khí nào đã gây ra hiện tượng chết người trên? Các khí đó gây độc cho con người như thế nào? Nó dược tạo ra từ các quá trình biến đổi hóa học nào?
Em hãy đưa ra những khuyến cáo để phòng tránh nguy cơ này
b) Khi gặp người bị ngạt khí từ thông tin của bài báo nêu ra thì cần phải xử lí như thế nào?
c) Việc để nhiều cây xanh, hoa trong phòng ngủ đóng kín vào ban đêm cũng có thể gây tử vong cho con người Hiện tượng này xảy ra do nguyên nhân nào? Có loại cây nào để trong phòng ngủ vào ban đêm lại hấp thụ khí thải và sinh ra khí oxi không?
d) Hai hiện tượng gây chết người do ngạt khí khi đốt than tổ ong trong phòng kín để sưởi và để nhiều hoa, cây trong phòng ngủ ban đêm giống và khác nhau thế nào?
GV xác định câu trả lời cho các bài tập trên ở các mức độ đầy đủ, chưa đầy đủ
và không đạt GV sử dụng các bài tập này trong bài dạy Các hợp chất của cacbon (Hóa học lớp 11 Nâng cao) để thử nghiệm và chỉnh sửa cho phù hợp với đối tượng trên cơ
sở các câu trả lời, kết quả bài kiểm tra của HS
2.2.3 Xây dựng các bài tập có bối cảnh thực tiễn trong dạy học chương halogen lớp 10
a) Bài tập có lời giải
Bài 1: Khi sử dụng nước máy trong sinh
hoạt hoặc khi đi bơi tại các hồ bơi ta thường
ngửi thấy nước có mùi hắc, nồng, khó chịu
Nguyên nhân là do sử dụng clo để khử trùng
nước trước khi sử dụng Vậy vì sao clo lại
được sử dụng để khử trùng nước sinh hoạt?
Trang 35Bài 2: Khi quần áo bị dính các vết bẩn, vệt ố do bị dính nhựa cây, dầu nhớt…
hay bị phai màu từ quần áo khác thì chúng ta thường dùng đến “thuốc tẩy” hay còn gọi là nước Javen để loại bỏ những vết bẩn, vệt ố đó Vậy “ Javen” đó là gì? Vì sao nó lại làm sạch được các vết bẩn, vệt ố?
Trả lời :
- Để tẩy sạch vết bẩn, vệt ố đó thì
người ta hay dùng nước Javen : hỗn hợp
NaCl+ NaClO+ H2O
- Vì NaClO trong dung dịch đều
có tính oxi hóa rất mạnh nên nước Javen
có tính tẩy màu và sát trùng, dùng để
tẩy trắng vải, sợi , giấy ngoài ra còn
dùng để tẩy uế chuồng trại chăn nuôi,
nhà vệ sinh
Bài 3: Theo kênh thông tin của trang web khoahoc.tv, trong những năm gần
đây, do sự phát triển của khoa học và công nghệ, sự gia tăng dân số làm gia tăng áp lực đối với môi trường sống, thêm vào đó cá dịch bệnh ngày càng gia tăng trong mùa nắng nóng, đặc biệt là các bệnh về da, đục thủy tinh thể và là mối de dọa đối với hệ sinh thái Các nhà khoa học đã tìm ra nguyên nhân của dịch bệnh ngày càng gia tăng là
do một phần tác động của biến đổi khí hậu làm trái đất nóng lên Một trong những nguyên nhân gây ra sự thay đổi nhiệt độ của trái đất là do suy suy giảm tầng ozon
Tầng ozon có tác dụng bảo vệ trái đất khỏi tia cực tím của ánh sáng mặt trời, tác nhân
gây ra bệnh ung thư Theo những nghiên cứu, từ những năm 1980, lỗ thủng tầng ozon tại vùng Nam cực ngày càng rộng ra do lượng khí CFC thải ra quá nhiều Khí CFC này
Trang 36được thải ra từ các tủ lạnh, các hệ thống máy điều hòa, các loại sơn, thuốc trừ sâu,dung môi trong mĩ phẩm …Vậy CFC là gì? Và CFC phá hủy tầng ozon như thế nào?
Trả lời:
- CFC là cholorofluorocarbones (đặc biệt là CFCl3 , CF2Cl2 - CFC cứng, khó bị kết hợp hoặc phá hủy nên chúng dần dần khuếch tán khắp bầu khí quyển và tồn tại lâu hàng trăm năm)
- CFC phá hủy tầng ozon thông qua những phản ứng hóa học diễn ra trên cao với ánh sáng mặt trời
CFC trong tầng bình lưu sẽ bị tác động của tia UV ngắn và bật gốc Cl* ( Clo gốc tự do) sẽ tiếp tục tác dụng với ozon ( O3) và các gốc oxy ( *O*) để thành phản ứng tiếp diễn liên tục phá hủy tầng ozon
CFC → Cl*
Cl* + O3 → ClO* + O2
ClO* + *O* → Cl* + O2
Trang 37
Bài 4: Việc sản xuất thủy tinh lần đầu tiên được lưu trữ chứng tích là ở Ai Cập
khoảng 200 năm trước công nguyên, khi đó thủy tinh được sử dụng như là men màu cho nghề gốm và các mặt hàng khác Thủy tinh đó có nguồn gốc từ thiên nhiên, chúng được tạo ra từ các dung nham núi lửa và được người nguyên thủy sử dụng làm các con dao hoàn toàn đơn giản, thô xơ Ngày này ứng dụng của thủy tinh đa dạng và phong phú hơn có thể làm vật dụng trang trí hay đồ gia dụng, dụng cụ … rất sắc sảo, bắt mắt Thủy tinh là vật liệu cứng và trơn, rất khó có thể dùng trạm khác thông thường để tạo các hình vẽ, hoa văn một cách chính xác Nhưng trong thực tế chúng ta vẫn thấy những bình hoa, hay chùm đèn bằng thủy tinh… có những họa tiết rất sinh động và đặc sắc Vậy để có thể chạm khắc những hoa văn đó thì người ta làm thế nào? Vì sao lại làm được như vậy?
- Phản ứng xảy ra theo công thức: HF + SiO2 ===> SiF4 + H2O
Trang 38Bài 5: Với người Việt, mỗi gia đình hẳn đều phảng phất bóng dáng chiếc chảo gang “huyền thoa ̣i” Chiếc chảo dày, chắc chắn đã đồng hành cùng bao gia đình qua các thế hê ̣ Ngoài những công dụng như giữ nhiệt, dễ làm sạch, bền ….thì nó lại có
nhược điểm, nếu dùng chảo bằng gang hay nhôm thường để chiên cá, trứng…sẽ bị
dính chảo Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học và kĩ thuật nhược điểm của chảo gang đã được giải quyết, thay vì sử dụng chảo gang thì dùng chảo chống dính thì thức ăn sẽ không bị dính chảo Câu hỏi đặt ra là tại sao chảo chống dính lại làm được như vậy ?
Trả lời:
- Bời vì mặt trong của chảo chống dính người ta có trải một lớp hợp chất cao phân tử Đó là Politetra floetylen (-CF2-CF2-)n được tôn vin là “vua chất dẻo” thường gọi là “teflon”
- Politetra floetylen chỉ chưa hai nguyên tố C và F nên liên kết với nhau rất bền chắc Khi choTeflon vào axit vô cơ hay axit đậm đặc, nước cường thủy ( hỗn hợp HNO3 Và HCl) , dung dịch kiềm đun sôi thì teflon không hề biến chất
- Vậy nên dung teflon tráng lên đáy chảo khi đun với nước sôi không hề xảy ra tác dụng nào Các loại dầu ăn, muối, dấm,….cũng không xảy ra hiện tượng gì Chính
vì vậy mà khí chiên, rán các món ăn bằng chảo chống dính thì thức ăn sẽ không bị dính chảo
Trang 39Bài 6: Ngày nay, nhờ sự phát triển của khoa học kĩ thuật các nhà khoa học đã
sản xuất ra máy quay, máy chụp ảnh kĩ thuật số để phục vụ thị yếu của người dân về ngành công nghệ điện ảnh một cách nhanh chóng, tiện lợi hơn Khác với máy ảnh kĩ thuật số, đối với máy ảnh thời cổ, để có
được những thước phim hay bức ảnh đẹp thì
phải trải qua công đoạn tráng phim ảnh Để
thu được những hình ảnh thì trong công
đoạn tráng phim ảnh phải sử dụng một loại
hợp chất hóa học, được biết hợp chất này là
hợp chất của Brom, và đây cũng là một ứng
dụng quan trọng của Brom Vậy hợp chất
này là gi? Vì sao lại dùng chất đó?
Trả lời:
Hợp chất hóa học người ta dùng để tráng phim ảnh đó là AgBr
Phim ảnh và giấy ảnh gồm chủ yếu một lớp mỏng huyền phù AgBr được phân tán trong Gelatin tráng trên nền chất dẻo trong suốt và được giữ trong bóng tối
AgBr là một chất rất nhạy cảm với ánh sáng nên nó sẽ bị ánh sáng phân hủy ngay khi gặp ánh sáng Phân hủy thành kim loại bạc (dạng bột màu đen) và brom (dạng hơi )
AgBr → Ag+ +1/2 Br2
Brom tạo thành hóa hợp với Gelatin còn Ag được tạo ra sẽ dính lại trên màn phim, giúp ghi lại hình ảnh
Bài 7: Theo thông tin của trang web tuoitre.vn Hiện nay, không chỉ có người
dân vùng sâu vùng xa bị mắc căn bệnh “bướu tuyến giáp” hay dân dã gọi là bệnh
“bướu cổ” mà ngay cả người dân ở các đô thị lớn cũng đang phải đối mặt với căn bệnh này khi số người mắc có chiều hướng gia tăng.Tại Bệnh viện Ung bướu TP.HCM, mỗi ngày có hàng trăm lượt bệnh nhân đến khám và điều trị bướu cổ Nhìn chung bệnh bướu cổ đang có xu hướng tăng và chiếm gần 50% tổng số bệnh nhân.Nguyên nhân dẫn đến căn bệnh này rất nhiều nhưng chủ yếu vẫn do thiếu iot Theo khuyến cáo của
bộ y tế thế giới cần bổ sung một lượng iot phù hợp trong sinh hoạt hằng ngày Vậy vì sao thiếu iot lại dẫn đến bệnh bướu cổ?
Trang 40Trả lời:
- Nói đến bướu cổ, nguyên nhân hàng đầu chính là tình trạng thiếu i-ốt trong khẩu phần ăn hàng ngày Iot là thành phần cấu tạo của hoocmon tuyến giáp trạng (tyroxin và tridotyroxin), giữ vai trò chuyển hóa quan trọng Khi thiếu iot trong khẩu phần ăn, tuyến giáp dưới dự kích thích của tuyến yên sẽ tăng hoạt động, cố gắng bù chỗ thiếu từ nguồn iot và vì thế cổ phình ra, gây ra bệnh bướu cổ
Bài 8: Khi tiến hành thí nghiệm thì có thể có nhiều rủi ro xảy ra vì lí
do khách quan cũng như chủ quan, chúng ta đã biết Brom là chất lỏng rất dễ bay hơi, Brom lỏng hay hơi đều rất độc hại khi dây vào da nó làm bỏng rất sâu
và nặng Nếu đang tiến hành thí nghiệm mà lại không may làm đổ lọ chứa brom lỏng ra phòng thí nghiệm.Trong trường hợp đó chúng ta cần xử lí ngay lượng brom lỏng đó bằng chất dễ kiếm nào sau đây?
vôi ( Ca(OH)2 ) Nước vôi này sẽ hòa tan
được lượng brom, như vậy sẽ không còn
nguy hiểm đến mọi người xung quanh