1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO SÁT SỰ PHÂN BỐ VÀ ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG HẠN CHẾ MẬT SỐ NẤM Phytophthora capsici GÂY BỆNH CHẾT NHANH CÂY HỒ TIÊU CỦA MỘT SỐ LOẠI THUỐC

63 266 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỒ CHÍ MINH KHOA NÔNG HỌC ---o0o‐‐‐ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP KHẢO SÁT SỰ PHÂN BỐ VÀ ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG HẠN CHẾ MẬT SỐ NẤM Phytophthora capsici GÂY BỆNH CHẾT NHANH CÂY HỒ TIÊU CỦA... KHẢO

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

KHOA NÔNG HỌC

-o0o‐‐‐

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

KHẢO SÁT SỰ PHÂN BỐ VÀ ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG

HẠN CHẾ MẬT SỐ NẤM Phytophthora capsici GÂY

BỆNH CHẾT NHANH CÂY HỒ TIÊU CỦA

Trang 2

KHẢO SÁT SỰ PHÂN BỐ VÀ ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG HẠN CHẾ MẬT SỐ NẤM Phytophthora capsici GÂY

BỆNH CHẾT NHANH CÂY HỒ TIÊU CỦA

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Xin chân thành cảm ơn:

- Ban Giám Hiệu, Ban Chủ Nhiệm Khoa Nông Học cùng toàn thể các thầy cô trường Đại Học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình giảng dạy và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian theo học tại trường

- Thầy Lê Đình Đôn và anh chị trong viện Công nghệ sinh học và Môi trường, trường Đại Học Nông Lâm TP HCM và khu Cẩm Tú đã tận tình hướng dẫn và động viên trong thời gian thực hiện đề tài tốt nghiệp Và cảm ơn thầy Trí (Công

Trang 4

TÓM TẮT

Đề tài nghiên cứu “Khảo sát sự phân bố và đánh giá khả năng hạn chế mật số

nấm Phytophthora capsici gây bệnh chết nhanh cây hồ tiêu của một số loại thuốc”

được tiến hành tại Vườn tiêu tại huyện Châu Đức tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Phân lập nấm tại phòng thí nghiệm Viện Nghiên cứu Công nghệ sinh học và Môi trường, trường Đại Học Nông Lâm TP HCM, thời gian từ tháng 02/2011 đến tháng 06/2011 Đề tài được tiến hành với 3 nội dung:

Nội dung 1: Sự phân bố của nấm Phytophthora capsici theo tầng đất

Nội dung 2: Xác định ảnh hưởng của thuốc đối với sự phát triển của nấm

Phytophthora capsici trong phòng thí nghiệm.

Nội dung 3: Đánh giá hiệu lực thuốc trên vườn trồng tiêu

Kết quả nghiên cứu cho thấy, các thuốc dùng trong thí nghiệm cho hiệu quả tốt,

hạn chế mật số nấm Phytophthora capsici trong đất cao, nhưng kết quả xử lý có khác

biệt giữa các mùa, thuốc được xử lý Trong thí nghiệm tính kháng của nấm đã xuất hiện mức kháng trung bình của nấm đối với thuốc sử dụng, phụ thuộc vào nồng độ thuốc xử lý và thời gian nấm tiếp xúc với thuốc

Tỉ lệ mẫu lá bị bệnh trong bẫy nấm bằng dung dịch đất dưới tán tiêu và hàng tiêu có sự khác biệt nhau Cho thấy mật số nấm dưới tán cao hơn ngoài hàng tiêu vào mùa khô, vào mùa mưa tỉ lệ này không khác biệt nhiều

Sự phân bố của nấm Phytophthora capsici phụ thuộc nhiều vào điều kiện nhiệt

độ, ẩm độ và môi trường đất Nấm tập trung mật số cao ở tầng mặt dưới tán tiêu và giảm dần khi xuống các tầng đất sâu hơn

Trang 5

2.1 Nguồn gốc và lịch sử phát triển của cây hồ tiêu 3

2.3 Giới thiệu chung về nấm Phytophthora 5

2.5 Giới thiệu 4 loại thuốc sử dụng trong nghiên cứu 14

3.1 Thời gian và địa điểm thực hiện nghiên cứu 16

3.2 Vật liệu nghiên cứu 16

3.3 Phương pháp nghiên cứu 16

3.3.1 Khảo sát sự phân bố của nấm Phytophthora capsici theo tầng đất 16

3.3.2 Đánh giá hiệu lực các loại thuốc đến mật độ phân bố của nấm Phytophthora

capsici 17

3.3.2.1 Thí nghiệm 1: Xác định ảnh hưởng của thuốc đối với sự phát triển của nấm

Phytophthora capsici trong phòng thí nghiệm 17

3.3.2.2 Thí nghiệm 2: Đánh giá hiệu lực thuốc trên vườn trồng tiêu 19

3.4 Phương pháp xử lý số liệu 21

Trang 6

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 22

4.1 Xác định sự phân bố của nấm Phytophthora capsici trên vườn tiêu 22

4.2 Kết quả phân lập nấm Phytophthora capsici 24

4.3 Kết quả ảnh hưởng của thuốc đối với sự phát triển của nấm Phytophthora capsici

trong phòng thí nghiệm 27

4.4 Kết quả đánh giá hiệu lực thuốc trên vườn trồng tiêu 33

5.1 Kết luận 39 5.2 Đề nghị 39

Trang 7

FAO Food and Agriculture Organization 

IPM Integrated pest management

NSC Ngày sau cấy

NT Nghiệm thức

Trang 8

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình 4.1 Triệu chứng Phytopthora capsici gây ra trên các mẫu lá tiêu dùng để xác định

tác nhân gây bệnh trong đất sau 4 ngày theo dõi, ở 25- 300C.  24 

Hình 4.2 Đặc điểm hình thái nấm Phytophthora capsici phân lập.  26 

Hình 4.3 Hình thái tản nấm P capsici trên môi trường CRA có chứa thuốc sau 5 ngày

Hình 4.4 Hình thái tản nấm của P capsici trên môi trường CRA chứa thuốc sau 5 ngày

cấy, ở các nồng độ 1, 10, 100 và 1000 ppm, ở 250C.  29 Hình 4.5 Triệu chứng bệnh chết nhanh trên cây tiêu tại vườn tiêu.  34 

Trang 9

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Liều lượng thuốc sử dụng trên cây tiêu ở ngoài đồng 19

Bảng 4.1 Tỉ lệ mẫu lá bẫy bị bệnh của các mẫu tiêu thu thập 22

Bảng 4.2 Sự phân bố của nấm P capsici theo tầng đất 23

Bảng 4.3 Sự phát triển của nấm P capsici trên môi trường CRA chứa thuốc ở các

Bảng 4.4 Khả năng đối kháng của nấm Trichoderma spp (chế phẩm NLU – Tri) với

nấm Phytophthora capsici trên môi trường CRA, ở 250C - 300C 30

Bảng 4.5 Phản ứng với thuốc của nấm Phytophthora capsici ở các nồng độ 1, 10, 100,

Bảng 4.6 Tỉ lệ mẫu lá bị bệnh trong dung dịch đất 35 

Trang 10

Chương 1 GIỚI THIỆU

1.1 Đặt vấn đề

Cây hồ tiêu (Piper nigrum L.) là cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao, là

nguồn thu nhập chính cho nhiều hộ gia đình trong cả nước Hạt tiêu là một loại gia vị rất được ưa chuộng ở nhiều nơi trên thế giới Hạt tiêu có vị cay, mùi thơm hấp dẫn nên được sử dụng làm gia vị cho nhiều món ăn Ngoài ra, tiêu còn được dùng trong công nghiệp chế biến hương liệu, nước hoa và y dược Hiện nay, hồ tiêu là mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế và mang lại lợi nhuận cao

Việt Nam có điều kiện khí hậu rất thuận lợi cho việc trồng và phát triển cây tiêu Trong những năm gần đây, diện tích trồng hồ tiêu của nước ta đã tăng rất nhanh, nhất là vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên Cùng với việc gia tăng về diện tích là việc gia tăng về sản lượng xuất khẩu Do đó, áp lực dịch bệnh ngày càng gia tăng trong các vườn trồng tiêu Thành phần sâu, bệnh hại trên cây tiêu rất đa dạng và phong phú, chúng làm cây suy yếu, héo vàng hoặc làm cây chết rất nhanh và phổ biến ở tất cả vùng trồng tiêu trên thế giới như Malaysia, Indonesia, Ấn Độ, Brazil, Sri Lanka, Thái Lan và Việt Nam

Trong các loại bệnh hại trên tiêu như bệnh đốm lá (Rosellina sp.), bệnh đen lá (Lasiodiplodia theobromae), bệnh thán thư (Colletotrichum gloeosporioides), bệnh khô vằn (Rhizoctonia solani), bệnh tuyến trùng, bệnh virus, thì bệnh chết nhanh dây tiêu do nấm Phytophthora capsici gây ra thực sự nghiêm trọng cho nhà vườn trồng

tiêu Bệnh xuất hiện, lây lan rất nhanh từ khi cây tiêu có triệu chứng rũ lá cho đến khi

lá vàng rụng hàng loạt chỉ trong vòng 5 – 7 ngày Hiện nay các nhà vườn tiêu chuyên canh ở Bình Phước, Bà Rịa – Vũng Tàu và Đông Nai bị bệnh tàn phá nặng, có vườn

Trang 11

hầu như bị mất trắng và giảm năng suất trầm trọng Cho đến nay, chưa có biện pháp phòng trừ thật sự hữu hiệu đối với bệnh chết nhanh trên tiêu Người dân chủ yếu sử dụng biện pháp hóa học Tuy nhiên, nhiều nhà vườn không hiểu về cách sử dụng nên

sử dụng thuốc phòng trừ mang tính thời vụ, lạm dụng thuốc do đó có nguy cơ bùng phát dịch bệnh chết nhanh cây hồ tiêu rất cao

Để góp phần hạn chế thiệt hại do bệnh này gây ra, cần phải biết chính xác triệu chứng, tác nhân gây bệnh cũng như sự phân bố của mầm bệnh, từ đó có thể đưa ra biện pháp canh tác và phòng trừ bệnh này hiệu quả, giảm thiệt hại do bệnh này gây ra

Trước yêu cầu đó, chúng tôi thực hiện đề tài: “Khảo sát sự phân bố và đánh giá khả

năng hạn chế mật số nấm Phytophthora capsici gây bệnh chết nhanh cây hồ tiêu

của một số loại thuốc”

1.2 Mục đích

Xác định sự phân bố của nấm Phytophthora capsici trong đất

Chọn loại thuốc có khả năng hạn chế mật số nấm Phytophthora capsici gây

bệnh trên cây tiêu

1.3 Yêu cầu

Phân lập nấm Phytophthora capsici

Sử dụng các loại thuốc trong việc đánh giá hiệu quả phòng trừ bệnh chết nhanh cây hồ tiêu

Trang 12

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Nguồn gốc và lịch sử phát triển của cây hồ tiêu

Cây hồ tiêu được phát hiện sớm trong các vùng nhiệt đới ẩm của vùng Assam

và Ghats ở Ấn Độ Ở đây, có nhiều giống tiêu hoang dại mọc rất lâu đời Đến cuối thế

kỷ 13, tiêu được trồng rộng rãi từ Châu Á sang Châu Âu với công dụng chủ yếu là làm gia vị trong các bữa ăn hàng ngày Đến cuối thế kỷ 19, cây hồ tiêu mới được mang sang trồng ở Châu Phi và Châu Mỹ

Hạt hồ tiêu là mặt hàng có giá trị xuất khẩu cao Tuy nhiên do cây hồ tiêu chỉ trồng được ở những vùng gần xích đạo và có khí hậu nhiệt đới nên phạm vi sản xuất tiêu thường tập trung ở các nước vùng Châu Á, Châu Phi, bắc trung Mỹ, chính vì thế

mà tiêu được xem là mặt hàng có giá trị xuất khẩu quan trọng đối với các nước trong khu vực này

Theo thống kê của FAO, cây hồ tiêu được trồng khắp thế giới bắt đầu từ thế kỷ

19, cho đến nay có khoảng 70 quốc gia trồng hồ tiêu, các nước đứng đầu về diện tích

và sản lượng có ảnh hưởng đến thị trường thế giới gồm: Brazil, Ấn Độ, Việt Nam, Indonesia và Malaysia chiếm 90% sản lượng của toàn thế giới

Theo thông tin của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, 6 tháng đầu năm 2001 và 2002 Việt Nam đứng đầu về xuất khẩu hồ tiêu trên thế giới Trong những năm gần đây thì diện tích trồng cây hồ tiêu không ngừng gia tăng, đặc biệt là ở các tỉnh Đông Nam Bộ và Tây Nguyên

Trang 13

2.2 Đặc điểm thực vật học của cây tiêu

Rễ tiêu có bốn loại gồm rễ cọc, rễ cái, rễ phụ và rễ bám Rễ cọc có ở cây tiêu trồng bằng hạt, ăn sâu 1 – 1,2 m Rễ cái có ở cây tiêu khi nhân giống bằng hom, rễ này

có nhiệm vụ hút nước, ăn sâu vào đất Rễ phụ mọc từ rễ cái hoặc rễ cọc, mọc thành chùm, phát triển theo chiều ngang lớn hơn chiều sâu, tập trung chủ yếu ở vùng đất mặt (0 – 40 cm), có nhiều lông hút Rễ bám mọc từ các đốt trên thân của cây tiêu, giúp cây bám chắc vào cọc, khả năng hút nước và chất dinh dưỡng của rễ bám rất hạn chế

Thân cây tiêu thuộc loại thân bò, tốc độ tăng trưởng 5 – 7 cm/ngày Thân chính

có thể mọc dài cách mặt đất 10 m Cành lươn là cành non trẻ nhất, mọc ra từ các mầm

ở các đốt dưới sát mặt đất Cành lươn hợp với thân chính một gốc lớn hơn 900, có lóng dài không cho trái, là cành gây bệnh lan truyền từ mặt đất, tiêu hao chất dinh dưỡng nên cần cắt bỏ, có thể dùng làm vật liệu nhân giống Cành tược mọc lưng chừng của thân chính, hợp với thân chính một góc nhỏ hơn hoặc bằng 450, mọc ra từ nách lá, không mang trái, phát triển mạnh khi cây tiêu được một năm tuổi, cành này dùng nhân giống và tạo tán tiêu Cành ác là cành cho trái khi cây trưởng thành (trên một năm tuổi) Từ cành cấp một hay cành tược cho ra một loại cành nằm ngang, hợp với thân chính một góc 45 – 600, mọc theo dạng chữ chi, khi nhân giống cành này rất mau cho trái nhưng tuổi thọ ngắn

Lá tiêu thuộc loại lá đơn, có nhiều dạng: bầu tròn, thuôn dài, hình trứng Gân lá chìm hay nổi, nhiều hay ít tùy theo giống

Hoa tiêu thuộc loại đơn tính hoặc lưỡng tính, thụ tinh địa hướng động Các giống tiêu trồng đa số là đơn tính Quả tiêu thuộc loại quả mọng, lúc non màu xanh, khi chín chuyển sang màu vàng và đỏ (Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa, 2007)

Trang 14

2.3 Giới thiệu chung về nấm Phytophthora

Phytophthora được đặt tên bởi Bary (1887) Đây là loại nấm rất phổ biến thuộc

giới Chromista và thuộc lớp Oomycetes Với một số đặt trưng của nấm tương tự các

bộ phận từ nấm thật bao gồm:

Động bào tử có 2 lông roi

Vách tế bào bao gồm cellulose và polysacarit nhiều hơn chitin

Thể lưỡng bội

Với khoảng 67 loài đã được mô tả (Erwin và Ribeiro, 1996) Các loài

Phytophthora tấn công gây hại rất nhiều loại cây trồng và là một trong những tác nhân

gây ra một số dịch bệnh cho cây trồng trên thế giới Phytophthora spp gây bệnh chết nhanh, thối rễ trên cây hồ tiêu Nấm Phytophthora đã được nghiên cứu khá nhiều ở

Châu Âu, tuy nhiên đây là loại bệnh phổ biến ở vùng nhiệt đới và gây ra nhiều bệnh nguy hiểm, làm mất mùa cũng như ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự sinh trưởng và phát triển của các loại cây ăn quả ở vùng này như bệnh thối rễ, thối lở cổ rễ, loét thân,

lụi tàn lá và thối trái Phytophthora là một nhóm nấm lớn có mặt hầu như khắp nơi trên thế giới và có khoảng hơn 1000 ký chủ, một số loài trong chi Phytophthora đã trở thành tác nhân chính gây dịch hại (Gregory, 1983) Trong khi đó Phytophthora

cinnamoni là đặc trưng của vùng nhiệt đới thì Phytophthora palmivora, Phytophthora parasitica (Phytophthora nicotianae) và Phytophthora citropthora là đặc trưng của

vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, Phytophthora infestans, Phytophthora syringae, và

Phytophthora fragaria xuất hiện phổ biến ở vùng ôn đới

Lớp Oomycetes có những đặc trưng về hình thái và chu kỳ sống gần giống nấm thật Tuy nhiên, chúng được phân biệt rất rõ ràng với lớp Basidiomycetes và Ascomycetes dựa trên những đặc điểm di truyền học và cơ chế sinh sản của chúng (Erwin và Ribeiro, 1996) Việc xếp nấm này vào ngành (giới) Chromista và lớp Oomycetes được chứng minh bằng các đặc trưng và các biến đổi trong con đường tiến hóa (Elliott, 1983; Hendrix, 1973; Wrong và Garcia, 1973) Sự hiện diện β – glucans nhiều hơn chitin trong vách tế bào (Bartnichi và ctv, 1983) Hình thành động bào tử có

Trang 15

lông roi không đều (Desjardins và ctv, 1969) và sự chiếm ưu thế của giai đoạn lưỡng bội trong chu kỳ sinh trưởng, phát triển của nấm (Erwin và Ribeiro, 1996) Ngoài ra, Oomycetes là dạng nấm phát triển đơn bào, sinh sản vô tính bằng động bào tử và sinh sản hữu tính bằng bào tử trứng (Oospore) (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998) Túi bào tử: là một cấu trúc sinh sản, đôi khi chúng được xem như là bào tử vô tính Túi bào tử nảy mầm trực tiếp trong điều kiện môi trường giàu dinh dưỡng, lượng nước tự do thấp và nhiệt độ cao Sự hiện diện của nước và sterol là những yếu tố hình thành túi bào tử, bên cạnh đó O2 cũng rất quan trọng trong quá trình hình thành túi bào

tử Khi chiếu sáng ở phạm vi gần có bước sóng 320 – 475 nm kích thích sự hình thành túi bào tử và chúng sẽ không hình thành trong môi trường có pH quá cao (pH > 7) Sự hiện diện của ion Cu++ hạn chế sự hình thành túi bào tử (Drenth và Sendall, 2001)

Động bào tử: được hình thành như ở điều kiện hình thành túi bào tử, chúng đòi hỏi có nhiều nước tự do và nhiệt độ thấp hơn khoảng từ 15 – 180C Động bào tử là bào

tử vách mỏng, vô tính, có dạng hình bầu dục và có khả năng bơi bằng 2 lông roi Khi bơi thì động bào tử bơi theo đường xoắn ốc và độ lớn của đường bơi khoảng từ 26 – 70

µm Trong môi trường nước nếu không bị tắc nghẽn (yêu cầu khoảng trống của hạt đất

có đường kính khoảng từ 50 – 140 µm) động bào tử có thể bơi với tốc độ 563 mm/h Những va chạm với bề mặt xung quanh làm cho động bào tử trở nên mất phương hướng cũng như làm giảm phạm vi hoạt động của động bào tử Sự di chuyển cũng như quá trình nảy mầm của động bào tử có khả năng dị hóa các acid amino serine, glutamate và asparagine và bị hấp thu bởi acid amino của dịch tiết ra từ rễ cây Động bào tử trở nên ít di động khi nhiệt độ môi trường tăng, pH thấp, tiếp xúc với bề mặt và nồng độ động bào tử thấp Động bào tử được sinh ra từ túi bào tử và thoát ra ngoài qua một lỗ nhỏ ở đầu túi khi túi trưởng thành Có nhiều động bào tử được hình thành trong

mỗi túi bào tử, điều này cho phép nấm Phytophthora sản xuất một số lượng lớn nguồn

lây hiễm đến những ký chủ mới Động bào tử bơi trong khoảng vài phút đến 1 giờ và bơi hầu như không có phương hướng, nhưng lại bị hấp dẫn trực tiếp bởi dịch tiết ra từ

rễ cây Chỗ vết thương hay những phần mọng nước của rễ và chồi ngọn là những vùng thích hợp nhất cho sự lay nhiễm của nấm Khi động bào tử tiếp xúc với một bề mặt

Trang 16

thích hợp thì chúng sẽ biến đổi thành dạng tròn, 2 lông roi biến mất, nhanh chóng hình thành ống mầm để xâm nhiễm vào cây, bắt đầu sinh trưởng sợi nấm Khi tiến hành xâm nhiễm thì động bào tử xuyên thẳng vào cây ký chủ qua rễ hoặc qua khí khổng, chúng hình thành các giác mút (bộ phận để xuyên qua các tế bào của cây)

Bào tử noãn: là dạng bào tử hữu tính, được hình thành từ sự kết hợp của các túi giao tử được gọi là túi noãn và túi đực Trong đó sterol là thành phần thiết yếu cho sự hình thành bào tử noãn Bào tử noãn bị ức chế bởi điều kiện ánh sáng Nhiệt độ cần thiết cho sự hình thành bào tử noãn thấp hơn so với sự phát triển của túi noãn Tỷ lệ C/N 94:1 thúc đẩy sự hình thành các bào tử noãn (Ca cũng có ý nghĩa tương tự) Bên cạnh đó, bào tử noãn được xem như là cấu trúc nghỉ trong điều kiện không thích hợp cho sự phát triển thì chúng sẽ đi vào giai đoạn ngủ nghỉ Điều kiện thích hợp trở lại cho sự sinh trưởng thì bào tử noãn sẽ hình thành sợi nấm sau đó hình thành túi bào tử

và động bào tử (Drenth và Sendall, 2001)

Chlamydospore (bào tử vách dày): đây là dạng cấu trúc nghỉ vô tính Chúng là những tế bào sinh dưỡng được hình thành bên trong sợi nấm hay tại các đầu chóp của sợi nấm Chlamydopore phát triển vách dày và có thể tồn tại trong điều kiện khắc nghiệt Điều kiện tối thích cho sự hình thành bào tử vách dày là nhiệt độ trong khoảng

150C, có sự hiện diện của sterol trong môi trường nuôi cấy với một tỷ lệ C/N 30:1 Sự nảy mầm có thể xảy ra khi nồng độ dinh dưỡng cao, nhất là 2 thành phần glucose và asparagine

Tất cả các dạng bào tử đều yêu cầu nước tự do cho sự nảy mầm Bào tử thường tồn tại trong tàn dư thực vật hay trong đất Mầm bệnh lan rộng là dựa vào khả năng có thể khuếch tán nhờ gió, nước mưa, côn trùng, các loại động vật và nhất là con người Bào tử sống tự do như một loài hoại sinh trong một thời gian nhất định trước khi tìm được ký chủ thích hợp (Drenth và Sendall, 2001)

Trang 17

Điều kiện phát sinh phát triển của nấm Phytophthora capsici

Bệnh chết nhanh do nấm Phytophthora capsici tấn công trên cây hồ tiêu thường

xảy ra trong mùa mưa, khi có khí hậu nóng và ẩm Bệnh xảy ra nhiều trên những ruộng thoát nước kém, đất bị ngập nước, là điều kiện thích hợp cho nấm phát triển Cây tiêu đang sinh trưởng bình thường xanh tốt, vài ngày sau thấy lá vàng héo rồi rụng, sau đó các đốt thân cũng biến màu thâm đen và rụng Hiện tượng rụng lá và đốt thường bắt đầu từ ngọn trở xuống và xảy ra tương đối nhanh, sau khoảng 1 đến 2 tháng cả cây tiêu héo chết Nhổ gốc lên thấy bộ rễ tiêu bị thối đen, gốc thân cũng bị thối

Nấm Phytophthora capsici sống trong đất dưới nhiều hình thức, các sợi nấm

(mycelia) hoặc các bào tử có vách dày hay còn gọi là noãn bào tử (oospores), các noãn bào tử tồn tại hàng năm trong đất Khi đất ẩm, các noãn bào tử nảy mầm cho ra các sợi nấm, các sợi nấm sinh ra các bào tử nang (sporangia), các bào tử nang chứa các cá thể gây bệnh gọi là động bào tử (zoospores) Động bào tử chỉ phóng thích ra ngoài bào tử nang để gây bệnh khi đất bị ngập nước hoàn toàn Khi ra ngoài các động bào tử dùng lông roi (flagella) bơi tới các rễ cây để gây bệnh hay bơi theo các dòng nước mưa tới các nơi khác trong vườn, làm lây lan bệnh rất nhanh Vườn bị ngập nước càng lâu thì

áp lực bệnh càng lớn Nấm trong đất phát triển mạnh vào mùa mưa, xâm nhập phá hủy

bộ rễ, hiện tượng cây tiêu bị chết xảy ra đồng loạt vào đầu mùa khô khi cây bị thiếu nước

Những vườn tiêu ẩm thấp, bị đọng nước trong mùa mưa thường bị bệnh nặng

Tuy động bào tử của nấm Phytophthora capsici có khả năng xâm nhiễm trực tiếp vào

mô cây, nhưng trong trường hợp có vết thương quá trình xâm nhiễm trở nên đễ dàng hơn Tác nhân gây vết thương ở bộ rễ tiêu đa số là tuyến trùng, tạo điều kiện thuận lợi cho nấm phát triển, tuyến trùng xâm nhập vào rễ tạo vết thương hở cho nấm xâm nhập vào gây bệnh (Trần Văn Hòa, 2001)

Trang 18

2.4 Bệnh chết nhanh cây hồ tiêu

Một trong những vi sinh vật quan trọng sống trong đất gây hại cho cây hồ tiêu

đó là nấm Phytophthora spp Nấm gây hiện tượng chết nhanh và phân bố rộng rải trên

thế giới ở các nước trồng tiêu, đặc biệt là vùng Đông Nam Á, Châu Á, Úc (Barbara, 2001)

Theo Kularatne (2002), các bệnh quan trọng nhất trên cây hồ tiêu gồm bệnh

chết nhanh do Phytophthora spp., bệnh chết chậm do Fusarium, và bệnh lá nhỏ do virus ở Mã Lai Đối với bệnh chết nhanh, Phytophthora spp là tác nhân gây bệnh chính Bệnh chết nhanh trước tiên ghi nhận là do Phytophthora palmivora var piperis, nhưng sau đó nấm được đặt lại tên là Phytophthora palmivora MF4 (Tsao ctv, 1985) Tên nấm bệnh được Alizadeh và Tsao (1985) đã xác nhận lại, chủng Phytophthora

palmivora MF4 phân lập từ cây ca cao và hồ tiêu với tên Phytophthora capsici Theo

nghĩa rộng, và cuối cùng là Phytophthora capsici sensu lato (Tsao và Alizadeh, 1988)

Việc làm cỏ trong vườn tiêu bị bệnh sẽ làm phát tán nguồn bệnh nhanh hơn (Manohara ctv, 2002), và nấm có thể tồn tại 20 tuần trong đất ở độ thủy dung 100%

Theo Ngô Vĩnh Viễn (2007), trên hồ tiêu có 3 dịch hại có ý nghĩa kinh tế và cần được quan tâm nghiên cứu giải quyết là: 1 Bệnh chết nhanh; 2 Bệnh chết chậm; 3.Bệnh virus Tác giả cũng cho rằng bệnh chết nhanh là nguyên nhân gây suy thoái vườn tiêu của nhiều địa phương Về nguyên nhân gây bệnh chết nhanh, tác giả cho

rằng do 2 nhóm nấm Phytophthora và Pythium gây ra bao gồm Phytophthora capsici,

Phytophthora nicotianea, Phytophthora cinnamoni, và Pythium sp

Những nghiên cứu mới nhất của trường Đại học tổng hợp Sydney trong khuôn

khổ của dự án ACIAR đã cho thấy có tới 3 loài nấm Phytophthora tham gia gây triệu chứng chết nhanh: Phytophthora capsici, Phytophthora nicotianae, Phytophthora

cinnamoni, trong đó loài nấm Phytophthora capsici là phổ biến hơn ở tất cả các vùng

trồng tiêu

Trang 19

Bệnh chết nhanh trên cây hồ tiêu rất nguy hiểm, nấm bệnh tấn công trên tất cả các phần của cây tiêu, và ở tất cả các thời kỳ sinh trưởng của cây, trường hợp nấm tấn công vào rễ hoặc cổ rễ sẽ gây cây chết đột ngột (Phan Quốc Sủng, 2000) Bệnh thường phát triển nhiều trong mùa mưa, những lá bên dưới sẽ dễ nhiễm nấm bệnh sau những cơn mưa lớn vào đầu mùa mưa Nấm bệnh xâm nhập trực tiếp qua biểu bì hoặc gián tiếp qua khí khổng Cây bị bệnh ở cổ rễ sẽ bị chết héo đột ngột, lá chuyển sang màu đen, khô sớm nhưng còn dính lại trên cây Ngược lại, nếu cây bị nhiễm từ rễ, lá bị héo vàng, và cây rụng lá từ từ

Từ khi dây tiêu rũ lá vàng và rụng hàng loạt chỉ trong vòng 5 – 7 ngày Nấm gây bệnh lây lan rất nhanh trong đất, qua nước tưới, cả vườn tiêu có thể bị chết trong vòng vài tuần hay 1 tháng Khi thấy triệu chứng héo dây thì bộ rễ đã bị tấn công trước

từ 1 - 2 tháng, do đó bệnh này rất khó phòng trị (Trần Văn Hòa, 2001)

Các vườn tiêu ở Bình Phước, Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai bị bệnh nặng, có vườn hầu như bị chết cây hoàn toàn Triệu chứng bệnh có ở hầu hết các bộ phận của cây hồ tiêu: thân, lá, rễ, cổ rễ, trái Bộ rễ và phần thân ngầm bị nấm tấn công làm vỏ bong ra khỏi rễ, phần dây trên mặt đất bị héo, lá chuyển sang màu vàng và rụng hàng loạt trong 7 – 14 ngày, để lại cành trơ trụi và khô đi, cây bị héo đen và chết Vào mùa mưa vết bệnh xuất hiện ở những lá dưới những vòng nâu đen, tập trung ở đầu lá, các đốm lớn dần, có màu nâu sậm và rất dễ rụng, và lóng (đốt) cũng bị rụng (Võ Thị Thu Oanh, 2004)

Theo Đoàn Nhân Ái (2007), triệu chứng bệnh vàng lá chết nhanh thể hiện trên

hồ tiêu gồm có các triệu chứng:

Thối rễ: triệu chứng đầu tiên là dây có biểu hiện mất nước Lá vàng, trên rễ có những đốm màu nâu tối và có hiện tượng rỉ nước, rễ bị thối đen Cuối cùng dây rũ xuống, lá rụng, quả bị khô và nhăn nheo, lóng thân bị thối đen, dễ gẫy và rụng

Thối gốc (cổ rễ): triệu chứng trên lá, thân, hoa, quả tương tựu như thối rễ, nhưng thối gốc xảy ra nhanh làm tắc đường vận chuyển nước và dinh dưỡng từ rễ lên thân lá làm cây chết nhanh, lá chuyển vàng rồi đen, không kịp rụng Dây chết khô mà

Trang 20

lá vẫn còn trên cây Khi phát hiện cây có dấu hiệu bị héo thì chỉ 7 – 14 ngày sau là rụng khoảng 75% số lá, chỉ còn trơ thân dây leo

Trên lá: những lá bị nhiễm thường là những lá mọc sát mặt đất Ban đầu là những đốm nhỏ, sau vết bệnh phát triển thành đốm tròn to, màu nâu tối hoặc đen có rìa

rõ ràng Nếu thời tiết khô, vết bệnh hầu như không phát triển Nhiều vết bệnh có thể liên kết với nhau làm lá rụng đi

Trên thân cành: vết bệnh ban đầu là những đốm nhỏ thâm nâu tối hoặc đen, dạng thấm nước, sau đó loang ra bao lấy toàn bộ thân cành làm héo và chết cành Sau

đó thân dễ gãy và rụng Vết bệnh trên cành thường có một viền ngăn cách phần mô đen và phần vỏ xanh không nhiễm bệnh rất rõ ràng

Nguyễn Tăng Tôn (2005), cho rằng bệnh chết nhanh do nấm Phytophthora

capsici là bệnh quan trọng nhất hiện nay trên cây tiêu ở Việt Nam Và khuyến cáo sử

dụng phân hữu cơ giúp đất tơi xốp đây là điều kiện cần thiết cho bộ rễ tiêu sinh trưởng tốt, ngoài ra còn cung cấp lượng lớn vi sinh vật vào trong đất, tạo cân bằng sinh học cho vùng đất quanh cây tiêu Việc sử dụng các phân hữu cơ như phân bò, phân gà, phân rác đã hạn chế được sự phát triển của bệnh

Kết quả nghiên cứu của Trần Thị Thu Hà (2007) cho thấy bệnh chết nhanh do

nấm Phytophthora capsici trên cây tiêu ở Quảng Trị là cản ngại chính cho sản xuất hồ

tiêu tại địa phương Xử lý hom tiêu trước khi trồng với thuốc trừ nấm có khả năng

giảm thiệt hại do nấm Phytophthora capsici gây ra cho vườn hồ tiêu

Bệnh hại nghiệm trọng nhất trên cây hồ tiêu là bệnh chết nhanh, nguyên nhân

gây bệnh là do nấm Phytophthora palmivora (Nguyễn Đăng Long, 1987 – 1988) ký

sinh trên rễ và thân ngầm gây ra Bệnh phụ thuộc rất nhiều vào quá trình tích lũy của nấm bệnh vào trong đất, nếu có thêm những tác nhân từ bên ngoài, bệnh sẽ dễ dàng phát triển thành dịch Khi dịch đã phát sinh, sự lây lan nhanh chóng của bệnh theo kiểu vết dầu loang do nước mưa chảy tràn

Nghiên cứu bệnh thối nõn dứa do nhóm nấm Phytophthora spp gây ra, Ngô

Vĩnh Viễn và ctv (2003) cho rằng độ pH của đất có ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển

Trang 21

của nấm, đất có pH cao bệnh phát triển nặng hơn so với đất có độ pH thấp Vì vậy, trong phòng trừ bệnh trên cây tiêu, cần chú ý đến ảnh hưởng của độ pH đến sự phát

triển của bệnh Bệnh chết nhanh gây thối rễ do Phytophthora spp có thể điều trị bằng

thuốc Phosacide 200 nồng độ 0,4%, Alliete 80 WP nồng độ 0,2% có hiệu quả (Ngô Vĩnh Viễn và ctv, 2003)

Biện pháp phòng trừ bệnh chết nhanh

Ở nước ta hiện nay, việc phòng trừ dịch hại trên cây tiêu chủ yếu bằng biện pháp hóa học và thường gặp nhiều khó khăn Nguyên nhân chính là sinh vật gây hại sống trong đất và phát triển nhanh trong điều kiện ẩm ướt, vì thế hiệu lực thuốc không cao do bị rửa trôi và hòa tan Trong những tháng mùa khô, nấm gây bệnh hình thành bào tử có vách dày, đây là cấu trúc để tồn tại trong những điều kiện khắc nghiệt và không bị tác động bởi thuốc hóa học Bào tử chỉ nảy mầm khi gặp ẩm độ thích hợp và môi trường dinh dưỡng cao Hơn nữa thuốc hóa học có thể tiêu diệt cả vi sinh vật gây bệnh và vi sinh vật có ích, điều này rất dễ làm bùng phát dịch bệnh do quần thể sinh vật trong đất bị mất cân bằng nghiêm trọng

Thuốc hóa học sử dụng trong phòng trừ dịch hại phát sinh từ đất thường được

áp dụng bằng cách tưới dung dịch thuốc vào đất gây ô nhiễm môi trường đất mặt và

vùng nước ngầm ở vườn tiêu Bệnh chết nhanh gây thối rễ do Phytophthora capsici,

điều trị bằng metalaxyl, hoặc acid phosphoric, fosetyl-Al rất có hiệu quả (Manohara và Rizal, 2002; Wong, 2002)

Các loại thuốc hóa học có thể phòng trừ bệnh Phytophthora gồm: các thuốc gốc

Đồng như Bordeaux, Oxyclorua đồng, chỉ có khả năng phòng bệnh, thường được xử lý trước mùa mưa Các thuốc nhóm Metalaxyl như Ridomil 70WP, Fortazeb 72WP phải tưới vào đất mới hiệu quả Các loại thuốc nhóm Phosphonate như Alliete, Fungal, Agrifos 400 có thể dùng để phun lên lá hay tưới vào đất (Đoàn Xuân Ái, 2007)

Nhiều tác giả cho rằng sự cân bằng dinh dưỡng trong đất, nhất là bổ sung nhiều chất hữu cơ vào đất, các vi sinh vật trong đất phát triển rất phong phú và chính quần

Trang 22

thể vi sinh vật có ích này sẽ giúp cho cây trồng hấp thu đủ dinh dưỡng, phát triển khỏe mạnh, tăng sức đề kháng sâu bệnh Các vi sinh vật đối kháng phát triển phong phú sẽ khống chế, kìm hãm các vi sinh vật gây bệnh, đây chính là hiệu quả của việc quản lý dịch hại dựa trên cơ sở bảo vệ cân bằng sinh thái trong đất (Nguyễn Thơ, 2007) Trong tương lai biện pháp sinh học sẽ được khuyến khích sử dụng trong quy trình chăm sóc cây hồ tiêu để hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật

Anith và ctv (2002) đã thành công trong việc phân lập dòng vi khuẩn đối kháng

với Phytophthora capsici từ vùng rễ cây tiêu, đã chọn được chủng PN-026, có khả năng hạn chế Phytophthora capsici gây héo cây trong vườn ươm

Đối với nấm đối kháng trong phòng trừ sinh học, cần quan tâm đến các thông

số môi trường có khả năng ảnh hưởng đến tác nhân phòng trừ sinh học này trong đất Các thông số có thể kể là nhiệt độ đất, ẩm độ đất, pH đất, thuốc trừ sâu, các ion kim loại, và các vi khuẩn đối kháng của nấm trong đất kể cả kỹ thuật canh tác Nhiệt độ thấp cũng có thể làm giảm hoạt tính của nấm (Eng, 2001; Kredics và ctv, 2003)

Theo Eng (2002) chỉ có thể áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp phòng bệnh cho cây tiêu như dùng giống kháng, vật liệu trồng sạch bệnh, vườn ươm sạch bệnh, luân canh, quảng canh, loại bỏ tàn dư thực vật và rửa sạch dụng cụ làm vườn

Nguyên tắc phòng trừ tổng hợp bệnh chết nhanh dây tiêu như sau: (1) Kiểm dịch không cho nguồn bệnh lây vào vườn (2) Vệ sinh vườn tiêu: tỉa và hủy bỏ các bộ phận của tiêu bị bệnh để giảm nguồn bệnh ban đầu và nguồn bệnh tích lũy, dùng giống sạch bệnh (3) Vườn tiêu thông thoáng, thoát nước tốt: mật độ trồng thích hợp, không

có nước bão hòa (4) Tăng cường chất hữu cơ cho đất vừa nâng cao độ phì cho đất vừa

tạo điều kiện cho vi sinh vật đối kháng với Phytophthora phát triển mạnh (5) Luân

canh nếu trường hợp vườn bị hại quá nặng (6) Biện pháp hóa học chỉ sử dụng khi cần thiết, đây là biện pháp cuối cùng khi tất cả các biện pháp nêu trên không cho hiệu quả Biện pháp quản lý cây trồng tổng hợp (ICM) và biện pháp canh tác hữu cơ cho cây tiêu đã được nghiên cứu và áp dụng tại các nước sản xuất hồ tiêu thế giới nhưng chưa được nghiên cứu sâu và ứng dụng ở nước ta Biện pháp ICM cho cây tiêu bao

Trang 23

gồm việc sử dụng giống ít nhiễm bệnh, hom giống tốt, phát hiện và phòng trừ dịch bệnh kịp thời, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật thân thiện với môi trường và áp dụng đúng kỹ thuật, khuyến cáo các biện pháp sản xuất nông nghiệp tốt (GAP) như bồi dưỡng đất, dùng cây họ đậu làm cây che phủ đất nhằm tạo môi trường đất tốt và cây tiêu khỏe, giúp cây tiêu chống chịu với dịch hại và điều kiện bất lợi của môi trường

2.5 Giới thiệu 4 loại thuốc sử dụng trong nghiên cứu

Norshield 86,2 WG (đồng đỏ) (Công ty TNHH Hóa Nông Hợp Trí)

Hoạt chất Cuprous Oxid 86,2% w/w (75% đồng nguyên chất), tính chất tiếp xúc, vị độc Norshield 86,2 WG với hạt thuốc cực mịn và đồng nhất tạo nên sự che phủ và bám dính hoàn hảo trên bề mặt phun, ngăn chặn hiệu quả rửa trôi do mưa hay nước tưới

Norshield 86,2 WG làm mất hoạt tính men hô hấp có các nguồn gốc sulphydryl, hydroxyl, amino, carboxyl dẫn đến việc phá vỡ cơ chế hô hấp và làm chết tế bào nấm

và vi khuẩn Liều lượng khuyến cáo sử dụng 0,5 – 1 kg/ha

Norshield 86,2 WG dùng để phun phòng hay phun khi bệnh chớm xuất hiện, phun ướt đều tán lá, quét lên vùng bệnh trên gốc, thân, cành

Norshield 86,2 WG còn rất hiệu quả khi tưới đất hoặc sau khi trồng để ngăn ngừa các bệnh phát sinh từ trong đất

Phytocide 50 WP (Công ty TNHH Hóa Nông Hợp Trí)

Hoạt chất Dimethomorph 50% (500 g/kg), có tính nội hấp, lưu dẫn Dimethomorph làm phá vở vách tế bào sợi nấm làm cho sợi nấm không phát triển, chết dần Dimethomorph có tác động đến tất cả các giai đoạn trong chu kỳ sinh trưởng phát triển của nấm ngoại trừ động bào tử của nấm Dimethomorph hạn chế sự hình thành túi bào tử và bào tử trứng cũng như sự nảy mầm tạo ra sợi nấm từ các bào tử

Đối với việc phòng trừ bệnh chết nhanh/vàng lá/thối rễ (Phytophthora sp.) trên

cây tiêu, sử dụng Phytocide 50 WP với liều lượng 0,3 – 0,4%, phun ướt đều tán lá và

tưới quanh gốc Xử lý ít nhất 3 lần trong năm (đầu mưa, giữa và cuối mưa)

Trang 24

NORDOX 75WG 72 % (NORDOX 75 WG) (Công ty TNHH Hóa Nông Hợp

Trí)

Hoạt chất Cuprous oxide 60% + Dimethomorph 12% Tính chất tương tự Cuprous oxide và Dimethomorph

Liều dùng 0,3 – 0,4% phun trên lá và tưới vào đất khi bệnh mới xuất hiện

NLU – Tri (chế phẩm Trichoderma virens T41)

Thành phần là Trichoderma virens (T41), 109 bào tử/gram Dạng bột, phòng trị

các bệnh do nấm Fusarium solani, Fusarium oxysporum, Sclerotium rolfsii,

Phytophthora palmivora, Phytophthora capsici, Rhizoctonia solani

Dùng để tưới (1 g/lít nước) và bón vào gốc (1 – 2 kg/1 tấn phân chuồng hoai), hay dùng để ủ với phân hữu cơ (0,5 – 1 kg/1 tấn nguyên liệu ủ)

Trang 25

Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

3.1 Thời gian và địa điểm thực hiện nghiên cứu

Thời gian: từ tháng 02 đến tháng 06 năm 2011

Địa điểm: Vườn tiêu của anh Đặng Xuân Trí, thôn 3, xã Bình Trung, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu Phân lập nấm tại phòng thí Viện Nghiên cứu Công nghệ sinh học và Môi trường, trường Đại Học Nông Lâm TP HCM

3.2 Vật liệu nghiên cứu

Dụng cụ: Đĩa petri, kính hiển vi, một số hóa chất và dụng cụ khác

Vật liệu: Thuốc sử dụng trong nghiên cứu: Norshield 86,2 WG; Phytocide 50 WP; EDDY 72 % (NORDOX 75 WG); NLU – Tri (chế phẩm Trichoderma)

Vườn tiêu giống Vĩnh Linh 5 năm tuổi

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Khảo sát sự phân bố của nấm Phytophthora capsici theo tầng đất

Phương pháp thực hiện: Chọn các trụ tiêu nhiễm bệnh chết nhanh, 3 trụ Tại mỗi trụ tiến hành lấy mẫu đất ở các tầng đất khác nhau, lấy trong tán cây, gần gốc tiêu, lây theo 4 hướng, trộn đều và lấy 200 g mẫu để phân tích

Các tầng đất: Lớp mặt → 5 cm

> 5 cm → 10 cm

> 10 cm → 20 cm

> 20 cm → 30 cm Tại 60 cm

Trang 26

Bẫy nấm từ đất (James, 2003): Đất thu thập được cho 50 g vào 3 cốc nhựa, sau

đó đổ 150 ml nước cất vào cốc, để dung dịch lắng xuống khoảng 60 phút, lá tiêu Vĩnh Linh được lấy nơi thí nghiệm sạch bệnh cắt 10 mẫu có kích thước 1 x 1 cm cho vào cốc Các cốc đặt ở nhiệt độ 25 – 280C, trong điều kiện che tối Quan sát sau 4 ngày và xác định dưới kính hiển vi, đếm số mẫu lá bị nhiễm bệnh và xác định tỷ lệ (%) lá tiêu mẫu bị nhiễm bệnh

Tỷ lệ (%) lá nhiễm bệnh = (số lá nhiễm bệnh/tổng số lá mẫu)/3

3.3.2 Đánh giá hiệu lực các loại thuốc đến mật độ phân bố của nấm Phytophthora capsici

3.3.2.1 Thí nghiệm 1: Xác định ảnh hưởng của thuốc đối với sự phát triển của

nấm Phytophthora capsici trong phòng thí nghiệm

™ Thu thập và phân lập mẫu nấm Phytophthora capsici

Mẫu rễ và gốc: Thu từ rìa vết bệnh có triệu chứng điển hình trên rễ, lấy phần

mô tiếp giáp vết bệnh khi phân lập

Cách phân lập nấm từ rễ và gốc: Cắt rễ và gốc tiêu bệnh thu thập được thành đoạn nhỏ dài 1 – 2 cm, rửa qua nước cất 3 lần, khử cồn 700 trong 10 – 15 giây, rửa lại với nước cất 3 lần, hong khô mẫu và cấy lên môi trường agar nước (15 g agar, 1000 ml

nước cất) Làm thuần mẫu nấm Phytophthora capsici trên môi trường PGA (200 g

khoai tây, 20 g glucose và 15 g agar) (Chee và Foong, 1968)

Cách phân lập nấm từ mẫu lá bẫy nấm: mẫu lá rửa bằng nước cất, sau đó khử trùng bề mặt bằng cồn 700 trong 30 giây, và rửa lại bằng nước cất vô trùng 3 lần Mẫu

lá được thấm khô bằng giấy thấm vô trùng và cấy lên môi trường agar nước (15 g agar,

1000 ml nước cất) Làm thuần mẫu nấm Phytophthora capsici trên môi trường PGA

™ Ảnh hưởng của thuốc đối với sự phát triển của sợi nấm :

Thí nghiệm được tiến hành theo phương pháp của Shiew (1985) Môi trường được sử dụng cho thí nghiệm là môi trường CRA(600 g cà rốt, 15g CaCO3, 15 g agar,

Trang 27

1.000 ml nước cất vừa đủ) Môi trường được hấp khử trùng ở 1210C, 1 atm để nguội đến 40 – 500C thì thêm thuốc vào (NORSHIELD 86.2WG, PHYTOCIDE 50WP, EDDY (NORDOX 75WG)) theo các nồng độ 1, 10, 100 và 1000 ppm và đổ ra đĩa petri đường kính 9 mm, mỗi nồng độ lập lại 3 lần,1 lần lập lại là 1 đĩa petri Cấy từng khoanh nấm có cùng độ tuổi 3 ngày sau khi cấy vào trung tâm đĩa môi trường Ủ ở điều kiện tối, ở nhiệt độ 250C

Đánh giá kết quả: Mô tả hình thái tản nấm trên môi trường, đánh giá mức độ hữu hiệu của thuốc đối với nấm theo công thức (Ngô Thị Xuyên và Hoàng Văn Thọ, 2004) :

ĐHH (%) = ((D – d)/D)*100 Trong đó: D là đường kính tản nấm trên môi trường CRA không chứa thuốc (đối chứng) (mm), d là đường kính tản nấm trên môi trường CRA chứa thuốc (mm)

Nếu ĐHH ≥ 60% kí hiệu là S: mẫn cảm với thuốc Nếu ĐHH ≤ 10% kí hiệu là R: kháng thuốc Nếu ĐHH 10% < ĐHH < 60% kí hiệu là I: phản ứng trung bình với thuốc

Đối với NT4 (chế phẩm Trichoderma virens T41): nấm được cấy lên môi trường PGA, sau đó thực hiện thí nghiệm nấm đối kháng với nấm bệnh Phytophthora

capsici trên môi trường CRA Nấm Trichoderma virens T41và Phytophthora được cấy

đối xứng nhau qua đường kính đĩa petri Quan sát 1 ngày/lần, sau 7 ngày đánh giá kết quả:

Kháng mạnh: nấm Trichoderma tấn công và phân hủy hoàn toàn nấm

Phytophthora, kí hiệu “+++”

Kháng trung bình: nấm Trichoderma tấn công và phân hủy một phần nấm Phytophthora, kí hiệu “++”

Kháng yếu: nấm Trichoderma ngăn chặn sự phát triển của nấm

Phytophthora, không gây chết, kí hiệu “+”

Không kháng: nấm Phytophthora phát triển bình thường, xâm nhập vùng phát triển của Trichoderma, kí hiệu “-“

Trang 28

3.3.2.2 Thí nghiệm 2: Đánh giá hiệu lực thuốc trên vườn trồng tiêu

™ Bố trí thí nghiệm: tại vườn tiêugiống Vĩnh Linh, 5 năm tuổi trồng thuần

Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên, đơn yếu tố,

3 lần lặp lại Thí nghiệm gồm 5 nghiệm thức với 4 nghiệm thức xử lý thuốc và 1

nghiệm thức đối chứng (tưới nước sạch), mỗi nghiệm thức 8 trụ tiêu giống Vĩnh Linh

5 năm tuổi

Bảng 3.1: Liều lượng thuốc sử dụng trên cây tiêu ở ngoài đồng

NT2  NT1  NT3 

NT4 

Trang 29

Hình 3.1 Vườn tiêu thí nghiệm

™ Phương pháp thực hiện:

Xử lý thuốc sau khi đã bố trí các nghiệm thức Thuốc được hòa tan vào nước tưới vào gốc, 4 lít/gốc, với liều lượng như trên Bảng 1 Ngoài ra đối với NLU – Tri được bón vào gốc 2 g/1 kg phân chuồng hoai Thuốc được xử lý 2 lần

™ Chỉ tiêu theo dõi:

Xác định mật độ nấm Phytophthora capsici trong đất

Lấy mẫu đất: Mỗi nghiệm thức chọn 3 trụ, lấy 4 điểm, trong đó 3 điểm lấy đất dưới tán cây, lấy theo 4 hướng quanh gốc trụ tiêu ở độ sâu 0 – 10 cm, còn 1 điểm lấy đất giữa hàng tiêu ở độ sâu 0 – 10 cm, mỗi điểm lấy 200 g đất sau khi đã trộn đều để phân tích

Bẫy nấm từ đất (James, 2003): Đất thu thập được cho 50 g vào 2 cốc nhựa, sau

đó đổ 150 ml nước cất vào cốc, để dung dịch lắng xuống khoảng 60 phút, lá tiêu Vĩnh Linh sạch bệnh cắt 10 mẫu có kích thước 1 x 1 cm cho vào cốc Các cốc đặt ở nhiệt độ

25 – 280C, trong điều kiện che tối Quan sát sau 4 ngày và xác định dưới kính hiển vi, đếm số mẫu lá bị nhiễm bệnh và xác định tỷ lệ (%) mẫu lá tiêu bị nhiễm bệnh

Tỷ lệ (%) lá nhiễm bệnh = (số lá nhiễm bệnh/tổng số lá mẫu)/2

Thời gian theo dõi: Trước khi xử lý thuốc và sau khi xử lý thuốc 15 ngày

™ Thời gian tiến hành: tháng 3/2011 (cuối mùa khô) và tháng 5/2011 (đầu mùa mưa)

Trang 30

3.4 Phương pháp xử lý số liệu

Các số liệu được phân tích ANOVA, T-Test bằng phần mềm MSTATC và bằng phần mềm Excel 2000

Trang 31

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Xác định sự phân bố của nấm Phytophthora capsici trên vườn tiêu

Bảng 4.1 Tỉ lệ mẫu lá bẫy bị bệnh của các mẫu tiêu thu thập

LLL

Tỉ lệ mẫu lá bẫy bị bệnh (%) Lần 1 (mùa khô) Lần 2 (đầu mùa mưa) Hàng Tán Hàng Tán

Ngày đăng: 10/06/2018, 21:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm