Ngành sản xuất ngô thế giới tăng liên tục từ đầu thế kỷ 20 đến nay, nhất là trong hơn 40 năm gần đây, ngô là cây trồng có tốc độ tăng trưởng về năng suất cao nhất trong các cây lương thự
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG – PHÁT TRIỂN VÀ
NĂNG SUẤT CỦA NGÔ LAI (Zea mays L.) VỤ
XUÂN HÈ NĂM 2011 TẠI HUYỆN ĐĂKPƠ – TỈNH GIA LAI
Họ và tên sinh viên: HƯỜNG THỊ NGA Ngành: NÔNG HỌC
Niên khoá: 2007 – 2011
Tháng 07/2011
Trang 2KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG – PHÁT TRIỂN VÀ
NĂNG SUẤT CỦA NGÔ LAI (Zea mays L.) VỤ
XUÂN HÈ NĂM 2011 TẠI HUYỆN ĐĂKPƠ – TỈNH GIA LAI
Trang 3Quý thầy cô khoa Nông Học đã tận tình dạy bảo những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập
Xin cảm ơn tất cả các bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt qua trình học tập và thực hiện đề tài
Thành kính ghi công ơn sinh thành, dưỡng dục của ba mẹ, sự động viên khích
lệ và hỗ trợ của gia đình trong suốt thời gian qua
Tp HCM, tháng 07 năm 2011 Sinh viên thực hiện Hường Thị Nga
Trang 4TÓM TẮT
Khóa luận: “Khảo sát đặc điểm sinh trưởng – phát triển và năng suất của ngô
lai (Zea mays L.) vụ xuân hè năm 2011 tại huyện ĐăkPơ – tỉnh Gia Lai” được tiến
hành tại xã Phú An, huyện ĐăkPơ, tỉnh Gia Lai từ tháng 02/2011 đến 06/2011 Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên, đơn yếu tố (giống), 4 lần lặp lại,
6 nghiệm thức trên đất cát pha thịt
Thí nghiệm gồm 6 giống ngô: NK66, NK67, B.9698, G49, CPA88 và giống đối chứng NK54
Kết quả thí nghiệm cho thấy:
Các giống ngô thí nghiệm có thời gian sinh trưởng trung bình từ 91 – 100 ngày Chiều cao cây của các giống ngô thí nghiệm biến thiên từ 194,1 – 215,2 cm
Số lá/cây của các giống ngô thí nghiệm biến thiên trong khoảng 18,6 – 19,7 lá/cây
Các giống ngô có diện tích lá dao động từ 42,0 – 53,1 dm2/cây
Cả 6 giống ngô đều bị sâu đục thân hại với tỷ lệ khá cao (30 – 40 %) Cả 6 giống ngô đều bị nhiễm bệnh rỉ sắt vào giai đoạn sắp thu hoạch nên ít ảnh hưởng đếnnăng suất Các giống ngô nhiễm bệnh đốm lá nhỏ với mức độ thấp, dao động từ (điểm
1 – 2), giống bị nhiễm bệnh đốm lá nhỏ nặng nhất là G49
Năng suất thực thu của các giống ngô thí nghiệm dao động từ 5,7 – 7,1 (tấn/ha)
và giống CPA88 đạt năng suất thực thu cao nhất là (7,1 tấn/ha)
Trang 5
MỤC LỤC
TRANG TỰA i
LỜI CẢM TẠ ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
DANH SÁCH CÁC BẢNG ix
DANH SÁCH CÁC ĐỒ THỊ VÀ HÌNH xi
Chương 1: GIỚI THIỆU CHUNG 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích – yêu cầu 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
1.3 Giới hạn đề tài 2
Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Giới thiệu chung về cây ngô 3
2.1.1 Phân loại ngô 3
2.1.2 Lịch sử phát triển 5
2.2 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới 5
2.3 Tình hình sản xuất ngô tại Việt Nam 7
2.4 Tình hình sản xuất ngô ở tỉnh Gia Lai 8
2.5 Tình hình nghiên cứu về giống ngô trên thế giới và trong nước 9
2.5.1 Tình hình nghiên cứu về giống ngô trên thế giới 9
2.5.2 Tình hình nghiên cứu về giống ngô trong nước 9
2.6 Đặc điểm của một số giống ngô lai 11
Chương 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 13
3.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm 13
3.1.1 Thời gian 13
3.1.2 Địa điểm 13
Trang 63.2 Mô tả địa điểm thí nghiệm 13
3.2.1 Khí hậu thời tiết và thủy văn 13
3.2.2 Điều kiện đất đai 13
3.3 Vật liệu và phương pháp thí nghiệm 14
3.3.1 Vật liệu thí nghiệm 14
3.3.1.1 Giống 14
3.3.1.2 Phân bón 14
3.3.1.3 Một số dụng cụ khác 14
3.3.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 14
3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 15
3.4.1 Thời gian sinh trưởng 15
3.4.2 Chiều cao cây và tốc độ tăng trưởng chiều cao cây 16
3.4.2.1 Chiều cao cây 16
3.4.2.2 Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây 16
3.4.3 Số lá/cây và tốc độ ra lá 16
3.4.4 Diện tích lá và chỉ số diện tích lá 16
3.4.4.1 Diện tích lá 16
3.4.4.2 Chỉ số diện tích lá 17
3.4.5 Thế năng quang hợp 17
3.4.6 Trọng lượng chất khô và tốc độ tích lũy chất khô 17
3.4.7 Một số đặc điểm về thân cây 17
3.4.8 Tình hình sâu bệnh hại 18
3.4.8.1 Sâu hại 18
3.4.8.2 Bệnh hại 18
3.4.9 Đặc điểm hình thái trái 19
3.4.10 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất 19
3.5 Phương pháp xử lý số liệu 20
3.6 Quy trình kỹ thuật 20
3.6.1 Làm đất phân lô 20
3.6.2 Kỹ thuật gieo, khoảng cách, mật độ 20
3.6.3 Chăm sóc 20
Trang 73.6.4 Phân bón 20
Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 21
4.1 Thời gian sinh trưởng 21
4.2 Chiều cao cây và tốc độ tăng trường chiều cao cây 23
4.2.1 Chiều cao 23
4.2.2 Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây 25
4.3 Số lá/cây và tốc độ ra lá 27
4.3.1 Số lá/cây 27
4.3.2 Tốc độ ra lá 29
4.4 Diện tích lá và chỉ số diện tích lá 30
4.4.1 Diện tích lá 30
4.4.2 Chỉ số diện tích lá 31
4.5 Thế năng quang hợp 32
4.6 Trọng lượng chất khô và tốc độ tích lũy chất khô 33
4.7 Tình hình sâu bệnh hại 34
4.8 Một số đặc điểm về thân cây 35
4.8.1 Chiều cao cây thân chính 35
4.8.2 Chiều cao đóng trái 35
4.8.3 Đường kính thân 36
4.8.4 Tỷ lệ chiều cao đóng trái/chiều cao cây 37
4.9 Đặc điểm hình thái trái 37
4.9.1 Chiều dài kết hạt 37
4.9.2 Đường kính trái 37
4.9.3 Đường kính lõi 38
4.9.4 Độ bao phủ lá bi 38
4.10 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất 38
4.10.1 Số bắp hữu hiệu/cây 39
4.10.2 Số hàng hạt/trái 39
4.10.3 Số hạt/hàng 40
4.10.4 Khối lượng 1000 hạt 40
Trang 84.10.6 Năng suất lý thuyết 41
4.10.7 Năng suất thực thu 41
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 42
5.1 Kết luận 42
5.2 Đề nghị 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
PHỤ LỤC PHÂN TÍCH THỐNG KÊ 45
PHỤ LỤC ĐỒ THỊ 82
PHỤ LỤC HÌNH ẢNH 84
Trang 9DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BNN và PTNN: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
CIMMYT: International Maize and Wheat Improvement Center (Trung tâm cải thiện giống Ngô và Lúa mỳ Quốc tế)
CINVESTAV: viện nghiên cứu cao cấp quốc gia Mexico
NSG: ngày sau gieo
NSLT: năng suất lý thuyết
NSTT: năng suất thực thu
TĐTLCK: tốc độ tích lũy chất khô
TNQH: thế năng quang hợp
TLH: tỷ lệ hại
TLB: tỷ lệ bệnh
Trang 10DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Các loài phụ của ngô 4
Bảng 2.2: Phân nhóm giống ngô theo thời gian sinh trưởng (ngày sau gieo) 4
Bảng 2.3: Diện tích, năng suất và sản lượng của ngô, lúa mì, lúa nước trên thế giới giai đoạn 2004 – 2007 6
Bảng 2.4: Tình hình sản xuất ngô ở các nước trên thế giới năm 2006 6
Bảng 2.5: Các vùng sản xuất ngô ở Việt Nam năm 2009 (sơ bộ) 7
Bảng 2.6: Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010 8
Bảng 2.7: Tình hình sản xuất ngô ở Gia Lai giai đoạn 2002 – 2009 8
Bảng 3.1: Số liệu khí hậu thời tiết tại ĐăkPơ – Gia Lai 13
Bảng 3.2: Thành phần lý hóa tính đất trước thí nghiệm 13
Bảng 3.3: Bộ giống thí nghiệm 14
Bảng 4.1: Thời gian sinh trưởng và phát triển của các giống ngô lai vụ Xuân hè, tại ĐăkPơ – Gia Lai, năm 2011 21
Bảng 4.2: Động thái tăng trưởng chiều cao cây (cm) của các giống ngô lai vụ Xuân hè, tại ĐăkPơ – Gia Lai, năm 2011 24
Bảng 4.3: Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây (cm/cây/ngày) qua các thời kỳ sinh trưởng của các giống ngô lai vụ Xuân hè, tại ĐăkPơ – Gia Lai, năm 2011 26
Bảng 4.4: Số lá (lá/cây) qua các thời kỳ sinh trưởng của các giống ngô lai vụ Xuân hè, tại ĐăkPơ – Gia Lai, năm 2011 27
Bảng 4.5: Tốc độ ra lá (lá/cây/ngày) của các giống ngô lai vụ Xuân hè, tại ĐăkPơ – Gia Lai, năm 2011 29
Bảng 4.6: Diện tích lá (dm2) qua các giai đoạn sinh trưởng của các giống ngô lai vụ Xuân hè, tại ĐăkPơ – Gia Lai, năm 2011 30
Bảng 4.7: Chỉ số diện tích lá (m2 lá/m2 đất) của các giống ngô lai vụ Xuân hè, tại ĐăkPơ – Gia Lai, năm 2011 31
Bảng 4.8: Thế năng quang hợp (m2/cây) của các giống ngô lai vụ Xuân hè, tại ĐăkPơ – Gia Lai, năm 2011 32
Trang 11Bảng 4.9: Trọng lượng chất khô và tốc độ tích lũy chất khô qua các thời kỳ
của các giống ngô lai vụ Xuân hè, tại ĐăkPơ – Gia Lai, năm 2011 33
Bảng 4.10: Tình hình sâu bệnh hại của các giống ngô lai vụ Xuân hè, tại
ĐăkPơ – Gia Lai, năm 2011 34
Bảng 4.11: Một số đặc điểm về thân cây của các giống ngô lai vụ Xuân hè, tại
ĐăkPơ – Gia Lai, năm 2011 36
Bảng 4.12: Đặc điểm hình thái trái của các giống ngô lai vụ Xuân hè, tại
ĐăkPơ – Gia Lai, năm 2011 38
Bảng 4.13: Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống ngô lai vụ Xuân hè,
tại ĐăkPơ – Gia Lai, năm 2011 39
Trang 12DANH SÁCH CÁC ĐỒ THỊ VÀ HÌNH
Trang
Đồ thị 1: Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của các giống ngô thí nghiệm 82
Đồ thị 2: Tốc độ ra lá của các giống ngô thí nghiệm 82
Đồ thị 3: Chỉ số diện tích lá của các giống ngô thí nghiệm 83
Đồ thị 4: Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của các giống ngô thí nghiệm 83
Hình 1: Toàn cảnh ruộng ngô thí nghiệm ở giai đoạn 30 ngày sau gieo 84
Hình 2: Ruộng ngô giai đoạn trỗ cờ 84
Hình 3: Sâu bệnh hại ngô 84
Hình 4: Dạng trái của các giống ngô thí nghiệm 84
Trang 13Chương 1 GIỚI THIỆU CHUNG
1.1 Đặt vấn đề
Ngô là một trong những cây lương thực quan trọng của con người Ngoài việc cung cấp lương thực cho con người, ngô còn làm thức ăn gia súc, làm thực phẩm, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp và là nguồn hàng hóa xuất nhập khẩu
Theo FAO (2009), sản lượng ngô của thế giới là 808,6 triệu tấn, trong khi lúa
mì là 687,0 triệu tấn, lúa nước là 685,0 triệu tấn Dự báo đến năm 2020 nhu cầu ngô của thế giới có thể đạt 837 triệu tấn (Trần Hồng Uy, 2001)
Ở Việt Nam ngô là cây lương thực đứng thứ hai sau cây lúa, đặc biệt trong những điều kiện bất thuận, nó được coi là cây màu chính trong sản xuất nông nghiệp Bên cạnh đó, Việt Nam là nước nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa có khí hậu nóng
ẩm thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, cơ cấu cây trồng rất đa dạng, cây ngô được trồng rộng rãi khắp các vùng trong cả nước Vì vậy, cần có những biện pháp thâm canh để cải thiện năng suất ngô
Để góp phần tăng năng suất ngô, ngoài những yếu tố như: phân bón, thời vụ thích hợp, kỹ thuật chăm sóc thì yếu tố giống trồng là yếu tố quyết định
Hiện nay, trên thị trường có rất nhiều giống ngô: giống địa phương, giống được lai tạo trong nước, giống được nhập từ nước ngoài Các giống cũng khác nhau về thời gian sinh trưởng như: ngắn ngày, trung ngày và dài ngày Để tuyển chọn giống ngô năng suất cao phù hợp với từng vùng sinh thái thì phải qua khảo nghiệm tuyển chọn giống
Vì vậy đề tài: “Khảo sát đặc điểm sinh trưởng – phát triển và năng suất của ngô
lai (Zea mays L.) vụ Xuân hè năm 2011 tại huyện ĐăkPơ – tỉnh Gia Lai” đã được tiến
hành
Trang 141.2 Mục đích – yêu cầu
1.2.1 Mục đích
Qua khảo sát đặc điểm nông học của các giống ngô thí nghiệm, chọn những giống ngô lai có năng suất cao, nhiễm sâu bệnh nhẹ, thích hợp với điều kiện sinh thái ở ĐắkPơ – Gia Lai và có thể mở rộng ra các vùng lân cận
Trang 15Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Giới thiệu chung về cây ngô
2.1.1 Phân loại ngô
Khóa hệ thống phân loại thực vật của cây ngô
Ngô thuộc họ hòa thảo Gramineae, tộc Maydeae, chi Zea L., loài Zea mays, tên khoa học Zea mays L (Nguồn: Trần Thị Dạ Thảo, 2008)
Họ: họ hòa thảo (Gramineae), bộ rễ chùm, lá mọc thành hai dãy, gân lá song
song, bọc lá chẻ dọc, có thìa lìa, mấu đốt đặc, hoa mọc thành bông nhỏ, có mày
Tộc: Maydeae hoa đực và hoa cái mọc ở những bông nhỏ khác nhau trên cùng
độ đồng đều không cao và năng suất thấp (trung bình 3 – 4 tấn/ha) (Nguyễn Đăng Nghĩa và Nguyễn Mạnh Chinh, 2008)
- Ngô lai
Ngô lai là các giống được tạo thành do lai tạo Ưu điểm nổi bật của các giống lai là năng suất cao (trung bình 5 – 6 tấn/ha, cao tới 8 – 10 tấn/ha), độ đồng đều cao, thích hợp với điều kiện thâm canh cao Nhược điểm là khả năng thích ứng kém hơn
Trang 16giống ngô lai được chia làm 2 nhóm: giống ngô lai không quy ước và giống ngô lai quy ước Giống ngô lai không quy ước: gồm các giống lai giữa 2 giống thụ phấn tự do, lai giữa 1 giống thụ phấn tự do với 1 dòng thuần hoặc với 1 giống lai quy ước Giống ngô lai quy ước: là giống lai giữa các dòng thuần tự phối, gồm giống lai đơn (A x B)
và lai ba (A x B) x (C) (Nguyễn Đăng Nghĩa và Nguyễn Mạnh Chinh, 2008)
Giống lai không quy ước có năng suất cao hơn giống thụ phấn tự do nhưng thấp hơn giống lai quy ước, khả năng thích ứng tốt hơn giống lai quy ước (Nguyễn Đăng Nghĩa và Nguyễn Mạnh Chinh, 2008)
Các nhà khoa học Koernicke (1873), Von Sturtevant (1899), Kuleshow (1933)
và Grepenscikow (1949) (Trích dẫn từ Trần Thị Dạ Thảo, 2008) đã dựa vào đặc điểm cấu trúc hạt phân ra làm 9 loài phụ (Bảng 2.1)
Bảng 2.1: Các loài phụ của ngô
STT Tên Tiếng Việt Tên Khoa Học
1 Ngô răng ngựa Zea mays var indentata Sturt
2 Ngô đá Zea mays var indurata Sturt
3 Ngô nổ Zea mays var everta Sturt
4 Ngô bột Zea mays var amylacea Sturt
5 Ngô đường Zea mays var saccharata Sturt
6 Ngô bọc Zea mays var tunicata Sturt
7 Ngô nếp Zea mays var ceratina Kulesh
8 Ngô đường bột Zea mays var amylacea saccharata Sturt
9 Ngô bán răng ngựa Zea mays var semiindentata Kulesh
(Nguồn: Trích dẫn từ Trần Thị Dạ Thảo, 2008) Dựa theo thời gian sinh trưởng, có 3 nhóm giống ngô (Bảng 2.2)
Bảng 2.2: Phân nhóm giống ngô theo thời gian sinh trưởng (ngày sau gieo)
Trang 172.1.2 Lịch sử phát triển
Từ trung tâm phát sinh ở miền Trung Nam Mexico cây ngô đi về phía Nam và định vị ở Peru thành lập trung tâm phát sinh thứ cấp Sau đó, ngô lan truyền xuống các nước phía Nam châu Mỹ Đồng thời, từ Mexico cây ngô tiến lên phía Bắc sang Hoa
Kỳ được thuần hóa và lan rộng khắp Hoa Kỳ (Trần Thị Dạ Thảo, 2008)
Năm 1942, đoàn thám hiểm của Christopher Columbus phát hiện ra cây ngô tại nội địa Cuba (châu Mỹ) và đặt tên là maiz Columbus đã mang ngô về châu Âu trồng đầu tiên ở Tây Ban Nha (1943) Từ đây, cây ngô lan sang Bồ Đào Nha, Ý,… Sau đó đến Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ, Pháp, Đức (1517), Ấn Độ và Indonesia (1521), Bắc Âu (1571), bán đảo Ban Căng (1575), Trung Quốc (1516), châu Phi (1550 – 1557), Úc (1595) Cây ngô vào Việt Nam được giả thiết từ Trung Quốc hoặc Ấn Độ vào khoảng năm 1682 – 1723 (Trần Thị Dạ Thảo, 2008)
2.2 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới
So với nhiều cây trồng khác, ngô là cây trồng có lịch sử trồng trọt tương đối trẻ Mãi đến thế kỷ 15 mới nhập vào châu Âu và đầu thế kỷ 16 nhập vào châu Á, nhưng ngô đã phát triển và tỏa rộng với tốc độ khá nhanh đến các nước trên thế giới (Trần Thị Dạ Thảo, 2008)
Ngành sản xuất ngô thế giới tăng liên tục từ đầu thế kỷ 20 đến nay, nhất là trong hơn 40 năm gần đây, ngô là cây trồng có tốc độ tăng trưởng về năng suất cao nhất trong các cây lương thực chủ yếu Vào năm 1961, năng suất ngô trung bình của thế giới chỉ chưa đến 2,0 tấn/ha, năm 2004 đã đạt 4,9 tấn/ha Năm 2007, theo USDA, diện tích ngô đã vượt qua lúa nước, với 157,0 nghìn ha, năng suất 4,9 tấn/ha và sản lượng đạt kỉ lục là 766,2 nghìn tấn Với lúa nước, năm 1961 có diện tích là 115,26 nghìn ha, năng suất đạt 1,9 tấn/ha, sản lượng là 626,7 nghìn tấn Còn lúa mì, năm 1961
có diện tích là 200,9 nghìn ha, năng suất 1,1 tấn/ha, sản lượng 219,2 nghìn tấn và năm
2007 có diện tích là 217,2 nghìn ha, năng suất 2,8 1 tấn/ha, sản lượng 603,6 nghìn tấn (Phan Xuân Hào, 2008)
Trang 18Bảng 2.3: Diện tích, năng suất và sản lượng của ngô, lúa mì, lúa nước trên thế giới
giai đoạn 2004 – 2007
tích Năng suất lượng Sản Diện tích Năng suất lượng Sản Diện tích Năng suất lượng Sản
1000
ha Tấn/ha
1000 tấn
1000
ha Tấn/ha
1000 tấn
1000
ha Tấn/ha
1000 tấn 2004/05 145,0 4,9 714,8 217,2 2,9 625,1 150,6 4,0 595,8
giống, đồng thời không ngừng cải thiện các biện pháp khoa học kỹ thuật canh tác Đặc
biệt từ 10 năm nay, cùng với những thành tựu mới trong chọn tạo giống lai nhờ kết
hợp phương pháp truyền thống với công nghệ sinh học thì việc ứng dụng công nghệ
cao trong canh tác cây ngô đã góp phần đưa sản lượng ngô thế giới vượt lên trên lúa
mì và lúa nước Với 52 % diện tích trồng bằng giống được tạo ra từ công nghệ sinh
học, năng suất ngô nước Mỹ năm 2005 đạt hơn 10 tấn/ha trên diện tích 30 triệu hecta
Năm 2007, diện tích trồng ngô chuyển gen của thế giới đạt 35,2 triệu ha, riêng ở Mỹ
đã lên đến 27,4 triệu ha, chiếm 37 % trong tổng số hơn 37,5 triệu ha ngô của nước này
(Phan Xuân Hào, 2008)
Hiện nay trên thế giới, ngô đứng thứ hai về sản lượng, thứ ba về diện tích, thứ
nhất về năng suất so với các cây cốc khác (Trần Thị Dạ Thảo, 2008)
Bảng 2.4: Tình hình sản xuất ngô ở các nước trên thế giới năm 2006
(triệu ha)
Năng suất (tấn/ha))
Sản lượng (triệu tấn)
Trang 192.3 Tình hình sản xuất ngô tại Việt Nam
Ngô đã được đưa vào Việt Nam khoảng 300 năm trước Ngô là cây lương thực
được xếp thứ hai sau lúa Ngô cũng là một cây trồng rất có ý nghĩa cho sự phát triển
chăn nuôi Do cây ngô có khả năng thích nghi với điều kiện sinh thái rộng nên cây ngô
được trồng khắp các vùng miền trên cả nước (Trần Thị Dạ Thảo, 2008) Hiện nay, cả
nước có 8 vùng sản xuất ngô chính (Bảng 2.5)
Bảng 2.5: Các vùng sản xuất ngô ở Việt Nam năm 2009 (sơ bộ)
(nghìn ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (nghìn tấn)
Từ giữa những năm 1980, nhờ hợp tác với Trung tâm Cải tạo Ngô và Lúa mì
Quốc tế (CIMMYT), nhiều giống ngô cải tiến đã được đưa vào trồng ở nước ta, góp
phần nâng năng suất lên gần 1,5 tấn/ha vào đầu những năm 1990 Tuy nhiên, ngành
sản xuất ngô ở nước ta thực sự có những bước tiến nhảy vọt là từ đầu những năm 1990
đến nay gắn liền với việc không ngừng mở rộng giống ngô lai ra sản xuất (Phan Xuân
Hào, 2008)
Năm 1991, diện tích trồng giống ngô lai chưa đến 1 % trên hơn 400.000 ha
trồng ngô, năm 2007 giống ngô lai chiếm 95 % trong số hơn 1 triệu ha Năng suất ngô
nước ta tăng nhanh liên tục với tốc độ cao hơn trung bình thế giới trong 20 năm qua
Năm 1980, năng suất ngô nước ta chỉ bằng 34 % so với năng suất trung bình của thế
giới (11 tạ/ha so với 32 tạ/ha), năm 1990 bằng 42 % (15,5 tạ/ha so với 37 tạ/ha), năm
2000 bằng 60 % (25 tạ/ha so với 42 tạ/ha), năm 2005 bằng 73 % (36 tạ/ha so với 49
tạ/ha), năm 2007 đạt 81 % (39,6tạ/ha so với 49 tạ/ha) (Phan Xuân Hào, 2008)
Trang 20Bảng 2.6: Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010
Năm Diện tích (nghìn ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (nghìn tấn)
2.4 Tình hình sản xuất ngô ở tỉnh Gia Lai
Gia Lai là tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên, với diện tích 15.494,9 km2, dân số
khoảng hơn 1 triệu người Gia Lai có khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên, một năm
có hai mùa: mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 10, mùa khô từ tháng
11 đến tháng 4 năm sau Vùng Tây Trường Sơn có lượng mưa trung bình từ 2.200 –
2.500mm, vùng Đông Trường Sơn từ 1.200 – 1.750mm Nhiệt độ trung bình là 22 –
25oC Do đặc trưng đất đỏ bazan nên ở thành phố Pleiku và các huyện vùng cao của
tỉnh có thể canh tác các loại cây công nghiêp như: cao su, cà phê, điều,… Riêng huyện
ĐăkPơ và thị xã An Khê thì thích hợp cho trồng cây ngắn ngày, do chịu ảnh hưởng khí
hậu của vùng giáp ranh (Bình Định)
Bảng 2.7: Tình hình sản xuất ngô ở Gia Lai giai đoạn 2002 – 2009
(nghìn ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (nghìn tấn)
Trang 212.5 Tình hình nghiên cứu về giống ngô trên thế giới và trong nước
2.5.1 Tình hình nghiên cứu về giống ngô trên thế giới
Trên thế giới có nhiều nghiên cứu về giống ngô đạt năng suất cao, chịu hạn, hàm lượng protein đạt phẩm chất tốt – QPM
Theo Thông tấn xã Việt Nam (2010), các nhà khoa học thuộc Viện nghiên cứu cao cấp quốc gia Mexico (CINVESTAV) vừa lai tạo và thử nghiệm thành công giống ngô mới, có khả năng chịu khô hạn cao hơn 20% so với các giống hiện hành tại nước này Thành công trên mang lại niềm hy vọng góp phần giải quyết vấn đề lương thực tại các vùng khô cằn hiện chiếm tới trên 50% diện tích đất trồng Theo nữ giáo sư Beatriz Xoconostle, người đứng đầu dự án, Mexico là nước đầu tiên trên thế giới đạt được kết quả ấn tượng này, vì cho đến nay nhiều nước mới chỉ lai tạo thành công trong phòng thí nghiệm, chưa đưa ra trồng trong điều kiện tự nhiên Điều đáng nói ở đây là giống ngô mới lai tạo không phải là dạng biến đổi gen nhưng có thể sinh trưởng trong điều kiện thời tiết nóng trên 40oC, rất phù hợp với điều kiện tự nhiên của các bang miền Tây Bắc Mexico
Tại Indian Center for Agricultural Research (ICAR), chọn giống bằng chỉ thị phân tử đã được áp dụng để cải tiến phẩm chất protein của giống Vivek Hybrid 9 Vivek QPM 9 đã được phát triển và cho thấy năng suất vượt trội hơn giống bố mẹ ở các bang thuộc vùng Himalayan (58 tạ/ha), ở vùng bán đảo Ấn Độ (54 tạ/ha) năm
2005 - 2007 Hơn nữa, giống Vivek Hybrid 9 có phẩm chất tốt hơn với hàm lượng lysine cao hơn 30% và hàm lượng tryptophan cao hơn 44% Protein có phẩm chất tốt trong giống QPM được kỳ vọng là sẽ giúp làm giảm hiện tượng khiếm dưỡng trong cộng đồng dân sống ở nông thôn (Bùi Chí Bửu, 2009)
2.5.2 Tình hình nghiên cứu về giống ngô trong nước
Thành quả trong nghiên cứu khoa học của Viện nghiên cứu ngô là rất đáng trân trọng: 13 giống ngô thụ phấn tự do (TH2A, TH2B, VM1, MSB49, TSB1, TSB2, Q2, VN1, CV1, MSB49B, nếp tổng hợp, nếp VN2, đường VSB3); 8 giống ngô lai (LVN10, LVN4, LVN5, LVN12, LVN17, LVN20, LVN23, LVN 25 được công nhận
là giống quốc gia; 9 giống ngô được khu vực hóa Ngoài ra còn có 8 giống ngô lai không qui ước được dùng rộng rãi trong thời kỳ chuyển tiếp giữa giống ngô thụ phấn
Trang 22các giống ngô HQ2000 (hàm lượng đạm cao); ngô rau; LVN 22 là những giống mới
có triển vọng đang được trình diễn, mở rộng trong sản xuất Viện cũng là nơi lưu trữ, bảo tồn, phân loại gần 500 nguồn gen ngô, trong đó có 206 giống ngô địa phương Quy trình công nghệ ngô bầu trồng trên đất ướt của Viện đã được ứng dụng rộng rãi, góp phần mở rộng diện tích trồng ngô của cả nước thêm hàng trăm ngàn hecta và tạo thêm sản lượng 300 – 400 ngàn tấn/năm Kỹ thuật này đã được Trung tâm nghiên cứu ngô và lúa mỳ quốc tế (CIMMYT) cũng như các nước châu Á đánh giá cao
Để tăng năng suất cũng như sản lượng đáp ứng nhu cầu trong nước, trong những năm qua BNN và PTNT đã xét công nhận được nhiều giống ngô lai mới, các giống này đã phát huy hiệu quả tốt trên đồng ruộng Tuy nhiên, trong sản xuất ngô hiện nay còn phụ thuộc chủ yếu một số giống ngô tồn tại khá lâu như C.P.888, LVN10, G49, B9698, C919 Trong đó, có một số giống biểu hiện mức độ nhiễm bệnh ngày càng tăng, đặc biệt là bệnh cháy lá, khô vằn, rỉ sắt và khảm lá làm cho năng suất giảm đáng kể, mặt khác hầu hết các giống này lại có thời gian sinh trưởng dài ngày nên hạn chế khả năng thâm canh tăng vụ và dễ gặp hạn vào cuối vụ ở những vùng trồng ngô phụ thuộc nước trời, gây ảnh hưởng đến năng suất và thu nhập của người nông dân
Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế đã kéo theo sự phát triển của các vùng sản xuất Mục đích sản xuất ngô hàng hoá với sản lượng cao, quy mô lớn nhằm phục vụ nhu cầu thị trường cần phải có những biện pháp hữu hiệu như: đưa ra các giống ngô mới có nhiều ưu thế vào sản xuất thay thế các giống ngô cũ năng suất thấp Trong sản xuất nông nghiệp, giống đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao năng suất và sản lượng cây trồng nói chung và cây ngô nói riêng Tuy nhiên, với mỗi vùng sinh thái khác nhau thì khả năng phản ứng của cây trồng cũng khác nhau Do đó, để phát huy hiệu quả của mỗi giống ngô cần sử dụng một cách hợp lý, phù hợp với điều kiện sinh thái, khí hậu, đất đai, kinh tế - xã hội của từng vùng Vì vậy, các giống ngô mới cần phải được đưa vào khảo nghiệm ở các vùng sinh thái khác nhau, để đánh giá khách quan, chính xác, kịp thời nhằm đưa ra các giống ngô mới thích hợp cho từng vùng, từng địa phương và hệ thống luân canh mới
Trang 232.6 Đặc điểm của một số giống ngô lai
Giống NK66: nguồn gốc Thái Lan do công ty Syngenta nghiên cứu nhập nội và
chuyển giao giống được tạo từ tổ hợp lai giữa 2 dòng ngô có nguồn gốc nhiệt đới NP5024/NP5063 Giống được khảo nghiệm từ năm 2002 – 2005 Được BNN và PTNT công nhận giống quốc gia năm 2005 Thời gian sinh trưởng trung bình 93 – 98 ngày ở vùng Đông Nam Bộ và 100 – 105 ngày ở vùng cao nguyên Nam Trung Bộ Chiều cao cây trung bình 200 – 225 cm, chiều cao đóng bắp 110 – 120 cm Dạng hình cây gọn, sinh trưởng phát triển rất khoẻ, bộ lá xanh lâu tàn, cứng cây và ít đổ ngã Giống nhiễm nhẹ bệnh cháy lá, nhiễm bệnh khô vằn từ nhẹ đến trung bình Tỷ lệ hạt/bắp cao 78 –
79 %, lá bi kín bắp, hạt dạng nửa đá màu vàng cam nhạt Tiềm năng năng suất cao 100 – 120 tạ/ha và ổn định, trung bình đạt 70 – 85 tạ/ha
Giống NK67: nguồn gốc Syngenta – Thái Lan Giống trung ngày (95 – 97 ngày), trồng nhiều vụ Dạng hạt đá, hạt màu cam đậm, trái to dài, cùi nhỏ, lá bi bao kín trái, chịu hạn khá, kháng bệnh rỉ sắt và đốm lá
Giống Bioseed 9698: có nguồn gốc Xí nghiệp Bioseed genetics Việt Nam Phương pháp chọn tạo: là giống lai đơn có nguồn gốc từ Philippin Giống được BNN
và PTNT công nhận giống chính thức 2004 cho các tỉnh thành trong cả nước Thời gian sinh trưởng vùng miền núi phía Bắc vụ Xuân hè 105 – 110 ngày, vụ Thu Đông 90 – 95 ngày, miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long vụ 1 từ 90 – 95 ngày, vụ
2 từ 87 – 90 ngày; Tây Nguyên vụ 1 từ 95 – 100 ngày, vụ 2 từ 95 – 100 ngày Chiều cao cây 170 – 185 cm, chiều cao đóng bắp 75 – 90 cm, chiều dài bắp 16 – 17 cm, 12 –
14 hàng hạt, tỷ lệ hạt/bắp 77 – 78 %, hạt dạng đá, màu vàng da cam Chịu hạn, chống
đổ tốt, nhiễm nhẹ bệnh khô vằn, cháy lá Tiềm năng năng suất trung bình 5,5 – 6,5 tấn/ha, năng suất cao có thể đạt 8 – 9 tấn
Giống G49: nguồn gốc Syngenta – Thái Lan G-49 là giống ngô lai đơn Thời
gian sinh trưởng: ở đồng bằng sông Cửu Long và miền Đông Nam Bộ (90 – 95 ngày), vùng Tây nguyên và phía Bắc (100 – 105 ngày) Dạng hạt màu cam đậm Trái to, dài, cùi nhỏ, lá bi bao kín trái, chịu hạn khá, kháng bệnh rỉ sắt
Giống CPA88: nguồn gốc từ Thái Lan, được Công ty hạt giống CP Việt Nam
nhập nội và phát triển Giống ngô lai đơn CPA88 được tạo ra từ tổ hợp lai
Trang 24đông), 106 – 111 ngày (vụ xuân); Tây Nguyên 105 – 110 ngày; Đông Nam Bộ 95 –
100 ngày Chiều cao cây trung bình 190 – 210 cm, chiều cao đóng bắp 90 – 100 cm, tán lá đứng, gọn, khả năng chống đổ, chịu hạn khá, nhiễm nhẹ khô vằn, trái dài 18 – 20
cm, có 14 – 16 hàng hạt, hạt màu vàng cam, dạng hạt bán đá, tiềm năng năng suất cao (80 – 95 tạ/ha) và ổn định
Giống ngô lai đơn NK54: nguồn gốc giống ngô lai đơn NK54 do Công ty Syngenta Thái Lan lai tạo từ tổ hợp lai giữa 2 dòng ngô có nguồn gốc nhiệt đới NP5047/NP5070 Giống được đưa vào Việt Nam khảo nghiệm từ năm 2001 – 2004 theo quy phạm khảo nghiệm giống ngô quốc gia (10 TCN 312 – 2003), được BNN & PTNT công nhận giống quốc gia năm 2004 Một số đặc điểm, đặc tính của giống: là giống có thời gian sinh trưởng trung bình, 93 – 98 ngày ở vùng Đông Nam Bộ và 100 – 110 (ngày) ở vùng cao nguyên Nam Trung Bộ Chiều cao cây trung bình 200 – 210 (cm), cao đóng bắp 100 – 110 cm, dạng hình cây đẹp, sinh trưởng phát triển rất khoẻ,
bộ lá xanh lâu tàn, cứng cây và ít đổ ngã, giống nhiễm nhẹ bệnh cháy lá, nhiễm bệnh khô vằn từ nhẹ đến trung bình
Trang 25Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM
3.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm
3.1.1 Thời gian
Thí nghiệm được tiến hành từ tháng 02/2011 đến tháng 06/2011
3.1.2 Địa điểm
Tại xã Phú An, huyện ĐăkPơ, tỉnh Gia Lai
3.2 Mô tả địa điểm thí nghiệm
3.2.1 Khí hậu thời tiết và thủy văn
Bảng 3.1: Số liệu khí hậu thời tiết tại ĐăkPơ – Gia Lai
Tháng Nhiệt độ TB Ẩm độ TB Lượng mưa Tổng giờ nắng
03/2011 21,6 80 24,8 1400 04/2011 24,2 79 29,4 2516
(Nguồn: trạm khí tượng Thị Xã An Khê, 2011)
3.2.2 Điều kiện đất đai
Bảng 3.2: Thành phần lý hóa tính đất trước thí nghiệm
Thành phần cơ giới (%) Chất khoáng dễ tiêu (mg/100g) Cation trao đổi (meg/100g) pHKCl Mùn
(%)Cát Thịt Sét P2O5 K2O Ca2+ Mg2+
(Nguồn: Phòng nông hóa thổ nhưỡng, trường ĐH Nông Lâm TP.HCM, 2011)
Khu đất thí nghiệm thuộc nhóm cát pha thịt vụ trước trồng lúa
Tình hình tưới tiêu: chủ yếu nhờ nước trời
Trang 26Nghiệm thức Giống Kiểu lai Nguồn gốc
6 (Đối chứng) NK54 Lai đơn Syngenta – Thái Lan
3.3.1.2 Phân bón
Công thức phân nền (kg/ha): 160 N + 80 P2O5 + 100 K2O
Phân đạm: dùng 348 kg Urea (46 % N)
Phân lân: dùng 500 kg Super lân (16 % P2O5)
Phân Kali: dùng 167 kg Kali clorua (60 % K2O)
Phân chuồng: 7 tấn/ha (dạng đã được ủ cho hoai mục)
Trang 27Khoảng cách hàng cách hàng x cây cách cây: 0,7 m x 0, 25 m
Mật độ trồng: 57.142 cây/ha
HÀNG BẢO VỆ LLL I LLL II LLL III LLL IV
Sơ đồ bố trí thí nghiệm: Khảo sát đặc điểm sinh trưởng – phát triển và năng suất của
ngô lai (Zea mays L.) vụ Xuân hè năm 2011 trồng tại huyện ĐăkPơ – tỉnh Gia Lai
3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
Tất cả các chỉ tiêu được theo dõi trên 10 cây đại diện cho mỗi giống ở hai hàng giữa của ô (theo phương pháp của Viện nghiên cứu ngô Quốc gia)
3.4.1 Thời gian sinh trưởng
Theo dõi ngày mọc, giai đoạn 3 – 4 lá, giai đoạn 9 - 10 lá, ngày tung phấn, ngày phun râu, ngày chín hoàn toàn
- Ngày mọc mầm: xác định khi có 50 % các hạt trong các ô thí nghiệm mọc
- Giai đoạn 3 – 4 lá: xác định khi có 50 % cây trong các ô thí nghiệm đạt 3 –
4 lá
- Giai đoạn 9 – 10 lá: xác định khi có 50% cây trong các ô thí nghiệm đạt 9 –
10 lá
- Ngày tung phấn: xác định khi có 50% cây trong các ô thí nghiệm tung phấn
- Ngày phun râu: xác định khi có 50% cây trong các ô thí nghiệm có râu nhú
ra 1 – 2 cm
Trang 28- Ngày chín sinh lý: xác định khi có 75 % cây trong các ô thí nghiệm có lá bi chuyển từ màu xanh sang màu vàng hoặc chân hạt có chấm đen
3.4.2 Chiều cao cây và tốc độ tăng trưởng chiều cao cây
3.4.2.1 Chiều cao cây
Thực hiện đo chiều cao cây vào 20 NSG, định kỳ đo 10 ngày/1 lần đến khi cây đạt chiều cao ổn định
Đo bằng phương pháp vuốt lá và đo từ cổ rễ đến chóp lá loa kèn (lá đã thấy rõ
cổ lá)
3.4.2.2 Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây
Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây (Uh) được tính theo công thức:
Uh = (h 2 – h1)/t
Trong đó:
Uh: (cm/cây/ngày)
h1: chiều cao cây đo lần trước (cm)
h2: chiều cao cây đo lần sau (cm)
t: thời gian giữa 2 lần đo
3.4.3 Số lá/cây và tốc độ ra lá
Lá được tính khi thấy rõ cổ lá, thực hiện bằng phương pháp dùng sơn đánh dấu Bắt đầu đếm vào 20 NSG, 10 ngày đếm/1 lần, ghi nhận cho tới khi cây không còn lá mới xuất hiện
Tốc độ ra lá (UL) được tính theo công thức:
Diện tích lá đo vào 20 NSG định kỳ 10 ngày/1 lần đến lúc thu hoạch
Diện tích lá (S) được tính theo công thức: S = a x b x k
Trang 29Chỉ số diện tích lá (LAI) được tính theo công thức:
LAI (m 2 lá/cây) = (Diện tích lá/cây x Mật độ)/10.000
t1: Thời gian giữa hai lần đo 1 và 2 (ngày)
t2: Thời gian giữa hai lần đo 2 và 3 (ngày)
tn: Thời gian giữa hai lần đo thứ n – 1 và n Gồm thế năng quang hợp trước trổ, sau trổ và cả chu kỳ
3.4.6 Trọng lượng chất khô và tốc độ tích lũy chất khô
Trọng lượng chất khô (g/cây): mỗi ô lấy 5 cây cân trọng lượng, băm nhỏ, trộn đều, lấy 200g mẫu đem sấy khô kiệt và cân Từ đó tính trọng lượng chất khô cho từng cây
Tốc độ tích lũy chất khô (TĐTLCK) được tính bằng công thức:
TĐTLCK (g/cây/ngày) = Trọng lượng chất khô/Thời gian sinh trưởng
3.4.7 Một số đặc điểm về thân cây
Xác định vào thời điểm trước thu hoạch
Chiều cao thân chính (cm): đo từ gốc đến điểm phân nhánh cờ đầu tiên
Chiều cao đóng trái (cm): đo từ gốc đến chân trái bắp phía trên
Đường kính thân (cm): đo cách gốc 10 – 15 cm
Trang 30Trạng thái cây (đánh giá sự sinh trưởng, mức độ đồng đều về chiều cao cây, chiều cao đóng bắp, kích thước bắp, sâu bệnh, các cây trong ô vào giai đoạn chín sáp):
Sâu đục thân (Ostrinia nubilalis)
Tiến hành đánh giá hoặc đếm các cây bị sâu bệnh/ô vào giai đoạn chín sáp, tính
tỷ lệ cây bị sâu đục thân hại (TLH):
TLH(%) = (Số cây bị hại/Tổng số cây điều tra) x 100
Tỷ lệ % số cây (điểm):
- Điểm 1: < 5 % số cây, số bắp bị sâu
- Điểm 2: 5 - < 15 % số cây, số bắp bị sâu
- Điểm 3: 15 - < 2 5 % số cây, số bắp bị sâu
- Điểm 4: 25 - < 35 % số cây, số bắp bị sâu
- Điểm 5: 35 - < 50 % số cây, số bắp bị sâu
3.4.8.2 Bệnh hại
Bệnh rỉ sắt (do nấm Puccinia maydis)
Đánh giá tỷ lệ bệnh (TLB) và chỉ số bệnh (CSB) theo công thức:
TLB (%) = (Số lá bị hại/Tổng số lá điều tra) x 100
CSB (%) = (1a + 2b + 3c + 4d + 5e) x 100/5f Trong đó: a: Số lá bị bệnh cấp 1 (diện tích lá bị bệnh từ 1 – 5 %)
b: Số lá bị bệnh cấp 2 (diện tích lá bị bệnh từ 5 – 15 %) c: Số lá bị bệnh cấp 3 (diện tích lá bị bệnh từ 15 – 30 %) d: Số lá bị bệnh cấp 4 (diện tích lá bị bệnh từ 30 – 50 %) e: Số lá bị bệnh cấp 5 (diện tích lá bị bệnh từ > 50 %) f: Tổng số lá điều tra
Trang 31Bệnh đốm lá nhỏ (do nấm Helminthosporium maydis)
- Điểm 1: không nhiễm (không có lá bị bệnh)
- Điểm 2: nhiễm nhẹ (>5 – 15 % diện tích lá bị bệnh)
- Điểm 3: nhiễm vừa (>15 – 30 % diện tích lá bị bệnh)
- Điểm 4: nhiễm nặng (>30 – 50 % diện tích lá bị bệnh)
- Điểm 5: nhiễm rất nặng (> 50 % diện tích lá bị bệnh)
3.4.9 Đặc điểm hình thái trái
Đo 3 trái trên mỗi nghiệm thức và thực hiện trên 4 lần lặp lại
- Chiều dài sinh học (cm): đo từ cuống trái đến chót trái
- Chiều dài kết hạt (cm): đo từ cuống trái đến hết phần kết hạt
- Đường kính trái (cm)
- Đường kính lõi (cm)
- Độ bao phủ lá bi : điểm 1, 2, 3, 4, 5 tương ứng với rất kín, kín, hơi hở, hở, rất hở
3.4.10 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất
Mỗi nghiệm thức đếm 5 trái lấy trung bình, thực hiện 3 lần lặp lại
- Số trái hữu hiệu/cây = Tổng số trái thu hoạch/Tổng số cây thu hoạch
- Số hàng/trái: đếm số hàng trên trái
- Số hạt/hàng: đếm số hạt trên hàng
- Trọng lượng 1000 hạt (P1000 hạt)
- Tỷ lệ hạt/trái (%) = (Khối lượng hạt/Khối lượng trái) x 100
- Năng suất lý thuyết (kg/ha): quy về ẩm độ 15 %
NSLT (kg/ha) = [Bắp hữu hiệu/Cây x Mật độ cây/ha x Hàng/Trái x Hạt/Hàng x
P1000 hạt x (100 – Ao)/(100 – 15) x 10.000
- Năng suất thực thu (kg/ha): quy về ẩm độ 15 %
NSTT (kg/ha) = [P bắp 2 hàng giữa x (100 – A0)/(100 – 15) x Tỷ lệ hạt/trái x 10.000]/S
Trong đó:
P (kg): khối lượng
A0 (%): ẩm độ hạt lúc tách
2
Trang 323.5 Phương pháp xử lý số liệu
Từ kết quả thu thập được trong quá trình tiến hành theo dõi các chỉ tiêu về sinh trưởng – phát triển, năng suất tiến hành tổng hợp và xử lý số liệu dựa trên phần mềm Excel và MSTATC Dùng LSD để trắc nghiệm phân hạng
3.6 Quy trình kỹ thuật
3.6.1 Làm đất phân lô
Thu dọn tàn dư thực vật vụ trước, làm sạch cỏ dại
Cày xới, phơi ải đất, làm đất tơi xốp
Phân lô và rạch hàng
3.6.2 Kỹ thuật gieo, khoảng cách, mật độ
Gieo sâu 4 – 5 cm, mỗi hốc gieo 2 hạt, khi ngô 3 – 4 lá thì tỉa và để mỗi hốc 1 cây
Khoảng cách hàng cách hàng x cây cách cây: 0,7 m x 0,25 m
Mật độ trồng: 57.142 cây/ha
3.6.3 Chăm sóc
Dặm vào thời điểm 5 – 7 NSG, dặm vào chỗ hạt không mọc bằng cây trong bầu
Khi cây 3 – 5 lá: xới vun nhẹ quanh gốc, kết hợp bón thúc lần 1
Khi cây 7 – 9 lá: xới xáo diệt cỏ kết hợp với bón thúc làn 2 và vun cao chống
đổ
3.6.4 Phân bón
Bón lót toàn bộ phân chuồng và phân lân
Bón thúc được chia làm ba đợt như sau:
Thúc đợt 1: từ 10 – 15 NSG, bón 1/3 lượng phân Đạm và 1/2 lượng phân Kali
Thúc đợt 2: từ 25 – 30 NSG, bón 1/3 lượng phân Đạm và 1/2 lượng phân Kali Thúc đợt 3: từ 40 – 45 NSG, bón 1/3 lượng phân Đạm còn lại
Bón phân cách gốc 10 – 15 cm, kết hợp bón phân với làm cỏ, xới xáo, vun gốc
Trang 33Chương 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Thời gian sinh trưởng
Thời gian sinh trưởng của cây ngô từ khi gieo đến khi chín trung bình từ 80 –
160 ngày Thời gian sinh trưởng dài ngắn khác nhau tùy giống và điều kiện ngoại cảnh Để hoàn thành chu kỳ sống, cây ngô phải trải qua nhiều thời kỳ sinh trưởng và nhiều giai đoạn phát dục Thời gian sinh trưởng của cây ngô rất quan trọng, nó ảnh hưởng tới năng suất và chất lượng của ngô khi thu hoạch Thời gian sinh trưởng có ý nghĩa quan trọng trong việc bố trí thời vụ, tận dụng tốt các yếu tố thời tiết của từng vùng nhằm đem lại năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất
Kết quả nghiên cứu về thời gian sinh trưởng của các giống ngô được trình bày ở bảng 4.1
Bảng 4.1: Thời gian sinh trưởng và phát triển của các giống ngô lai vụ xuân hè, tại
ĐăkPơ – Gia Lai, năm 2011
Phun râu Chín
Trang 34Qua bảng 4.1 cho thấy:
Ở giai đoạn mọc: giống mọc sớm nhất là G49 (4 NSG), sớm hơn so với các giống NK66, NK67, B9698, CPA88 (5 NSG) và sớm hơn so với đối chứng NK54 (5 NSG) Ngoài các yếu tố như ẩm độ, kỹ thuật canh tác thì yếu tố giống cũng quyết định đến khả năng mọc của ngô, cần chọn những giống có tỷ lệ nảy mầm cao và đồng đều
để tạo tiền đề sau này cho cây sinh trưởng, phát triển tốt
Giai đoạn 3 – 4 lá: các giống ngô hoàn thành giai đoạn 3 – 4 lá khác nhau và dao động trong khoảng 18 – 20 ngày Theo kết quả xử lý thống kê thì sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức, giống G49 (18 NSG) đạt 3 – 4 lá sớm nhất, không có sự khác biệt mấy so với các giống NK66, NK67, B9698, CPA88 (19 NSG), tuy nhiên sự khác biệt rất có ý nghĩa thống kê so với giống (đ/c) NK54 (20 NSG)
Giai đoạn 9 – 10 lá: các giống ngô hoàn thành giai đoạn 9 – 10 lá dao động khoảng 31 – 34 ngày Thời gian giống G49 đạt 9 – 10 lá (31 NSG) là sớm nhất, không
có sự khác biệt mấy so với giống CPA88 (32 NSG) tuy nhiên sự khác biệt rất có ý nghĩa thống kê so với các giống NK66, NK67, B9698 (33 NSG) và giống (đ/c) NK54 (34 NSG) Các giống NK66, NK67, B9698 đạt 9 – 10 lá (33 NSG) sự khác biệt rất có
ý nghĩa thống kê so với giống G49 (31 NSG), nhưng không có sự khác biệt về mặt thống kê so với các giống CPA88 (32 NSG) và giống đ/c NK54 (34 NSG)
Giai đoạn tung phấn: nhìn chung thời gian các giống ngô tung phấn dao động trong khoảng 53 – 57 NSG Giống NK67 và G49 có thời gian tung phấn sớm nhất (53 NSG), sự khác biệt rất có ý nghĩa thống kê so với giống CPA88 (56 NSG), NK66, B9698 và giống đ/c NK54 (57NSG) Giống tung phấn muộn nhất là NK66, B9698 (57 NSG) sự khác biệt rất có ý nghĩa thống kê so với các giống CPA88 (56 NSG), giống NK67 và G49 (53 NSG), nhưng không có sự khác biệt về mặt thống kê so với giống đ/c NK54 (57NSG)
Giai đoạn phun râu: thời gian tung phấn tới thời gian phun râu của ngô dao động trong khoảng 1 – 2 ngày Theo kết quả bảng 4.1 thấy các giống phun râu sớm là: G49 (53 NSG), NK67 (55 NSG), CPA88 (57 NSG) khác biệt có ý nghĩa thống kê so với giống NK66, B9698 (58 NSG) và giống đ/c NK54 (59 NSG) Giống NK66, B9698
có thời gian phun râu là (58 NSG) khác biệt không có ý nghĩa thống kê so với giống CPA88 (57 NSG) và giống đối chứng NK54 (59 NSG), nhưng khác biệt rất có ý nghĩa
Trang 35thống kê so với giống G49 (53 NSG), NK67 (55 NSG) Đây là giai đoạn hết sức quan trọng vì nó ảnh hưởng tới khả năng thụ tinh của cây ngô và ảnh hưởng trực tiếp tới năng xuất sau này Giai đoạn này để cây ngô có thể phun râu tốt, thụ phấn và kết hạt tốt thì phải cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng và bố trí thời vụ thích hợp
Giai đoạn chín sinh lý: trong thời kỳ này cây ngô đã có sự hình thành và tích lũy vật chất trong hạt Ban đầu các chất được tích lũy ở dạng lỏng sau đó hình thành hạt cứng ở cuối gian đoạn Lúc lá bi chuyển sang màu vàng hoàn toàn, chân hạt xuất hiện chấm đen thì trái đã trong giai đoạn chín sinh lý Đây là thời gian có thể thu hoạch ngô Theo kết qua bảng 4.1 thì giống chín sớm nhất là G49 (92 NSG), sự khác biệt rất có ý nghĩa thống kê so với các giống NK67 (96 NSG), CPA88 (97 NSG), B.9698 (98 NSG), NK66 (100 NSG) và giống đ/c NK54 (100 NSG) Giống chín muộn nhất là NK66 (100 NSG) sự khác biệt rất có ý nghĩa thống kê so với giống G49 (92 NSG), NK67 (96 NSG), CPA88 (97 NSG), B.9698 (98 NSG), nhưng không có sự khác biệt về mặt thống kê so với giống đ/c NK54 (100 NSG)
4.2 Chiều cao cây và tốc độ tăng trường chiều cao cây
4.2.1 Chiều cao cây
Chiều cao cây phản ánh khả năng sinh trưởng của cây ở từng giai đoạn Động thái tăng trưởng chiều cao của ngô phụ thuộc vào nhiều yếu tố, ở thời kỳ khác nhau thì động thái tăng trưởng chiều cao của cây sẽ khác nhau Chiều cao cây là chỉ tiêu phụ thuộc vào yếu tố di truyền, kỹ thuật canh tác, điều kiện ngoại cảnh Vì vậy, chiều cao cây được xem là yếu tố quan trọng các nhà chọn giống lựa chọn và nó là chỉ tiêu có ảnh hưởng tới năng suất sau này; đồng thời đó cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới khả năng chống đổ ngã của giống
Kết quả thí nghiệm về động thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống ngô được trình bày ở bảng 4.2 Theo bảng 4.2 thấy:
Chiều cao của các giống tăng dần theo thời gian sinh trưởng và đạt chiều cao ổn định vào 60 NSG, chiều cao cây dao động trong khoảng 194,1 – 215,2 cm
Giai đoạn 20 ngày sau gieo: kết quả thống kê cho thấy động thái tăng trưởng các giống thí nghiệm trong giai đoạn 20 ngày sau gieo có sự khác biệt rất có ý nghĩa thống kê Theo kết quả thống kê thì có giống G49 (38,0 cm) có động thái tăng trưởng
Trang 36rất có ý nghĩa thống kê Các giống còn lại thấp hơn hoặc tương đương với giống đ/c NK54
Bảng 4.2: Động thái tăng trưởng chiều cao cây (cm) của các giống ngô lai vụ xuân hè,
tại ĐăkPơ – Gia Lai, năm 2011
Giai đoạn 30 ngày sau gieo: cây ngô đã có sự phát triển nhanh về chiều cao, do
bộ rễ đã có thể hút chất dinh dưỡng trực tiếp trong đất để lớn lên Từ kết quả thống kê cho thấy trong giai đoạn này các giống ngô trong thí nghiệm có sự khác biệt rất có ý nghĩa thống kê Theo bảng 4.2 thấy chiều cao cây ngô trong giai đoạn này dao động trong khoảng 62,9 – 75,5 (cm), chiều cao giống G49 (75,5 cm) là cao nhất, sự khác biệt rất có ý nghĩa thống kê so với các giống B9698 (61,0 cm), CPA88 (62,9 cm), NK66 (66,1 cm), NK67 (73,0 cm) và so với với giống đ/c NK54 (73,8 cm) Giống B9698 ở giai đoạn này có chiều cao cây thấp nhất và sự khác biệt rất có ý nghĩa thống
kê so với giống đ/c NK54 (73,8 cm)
Giai đoạn 40 ngày sau gieo: thời gian này cây phát triển rất nhanh về chiều cao
và có sự khác biệt rất ý nghĩa thống kê Trong giai đoạn này sự dao động về trung bình chiều cao cây ngô nằm trong khoảng 101,3 – 124,1 (cm) Từ kết quả thống kê cho thấy tất cả các giống trong giai đoạn này đều có chiều cao cây thấp hơn so với giống đối chứng NK54 (124,1 cm) và sự khác biệt này rất có ý nghĩa
Trang 37Giai đoạn 50 ngày sau gieo: chiều cao cây của các giống trong giai đoạn này dao động trong khoảng 168,9 – 195,4 (cm) Theo kết quả thống kê thì chiều cao cây của giống B9698 (169,3 cm), CPA88 (168,9 cm), NK66 (184,1 cm) thấp hơn so với giống đối chứng và khác biệt rất có ý nghĩa về mặt thống kê
Giai đoạn 60 ngày sau gieo: đây là giai đoạn cuối của quá trình phát triển thân
lá, động thái tăng trưởng của cây có sự chậm hơn những giai đoạn trước vì giai đoạn này cây tập trung dinh dưỡng để kích thích cơ quan sinh sản Theo kết quả thống kê thì các giống trong thí nghiệm giai đoạn này có sự khác biệt rất có ý nghĩa, chiều cao cây dao động trong khoảng 194,1 – 215,2 (cm) Trong đó giống cao nhất là NK67 (215,2 cm), không có sự khác biệt mấy so với giống G49 (213,3 cm) nhưng khác biệt rất có ý nghĩa thống kê so với giống đối chứng NK54 (209,5 cm) Các giống B9698, CPA88 (194,1 cm) có chiều cao cây thấp nhất và thấp hơn so với giống đối chứng NK54, sự khác biệt này rất có ý nghĩa về mặt thống kê
Hiện nay xu hướng chọn giống và lai tạo giống thường chọn những giống ngô
có chiều cao cây trung bình để hạn chế đổ ngã
4.2.2 Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây
Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây là chỉ tiêu đánh giá mức tăng trưởng chiều cao của giống qua các giai đoạn sinh trưởng khác nhau Qua đó, tác động các biện pháp kỹ thuật phù hợp cho từng giai đoạn sinh trưởng giúp cây pháp triển tốt và cho năng suất cao
Tốc độ tăng trưởng cao cây phụ thuộc nhiều vào yếu tố di truyền của giống, điều kiện ngoại cảnh và điều kiện chăm sóc Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây tăng dần qua các giai đoạn, đạt tốc độ cao nhất vào thời kỳ cây được khoảng 40 – 50 ngày sau gieo, sau đó ngô ngừng phát triển về chiều cao
Kết quả thí nghiệm về tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của các giống ngô được trình bày ở bảng 4.3 Kết quả bảng 4.3 cho thấy:
Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của các giống ngô thí nghiệm tăng dần theo thời gian và đạt cao nhất ở giai đoạn 40 – 50 NSG, sau đó giảm dần và ngừng hẳn Giai đoạn 0 – 20 NSG: tốc độ tăng trưởng chiều cao cây thấp, dao động trong khoảng 2,7 – 3,8 (cm/cây/ngày) Giống G49 (3,8 cm/cây/ngày) có tốc độ tăng trưởng
Trang 38cm/cây/ngày), CPA88 (2,8 cm/cây/ngày), B9698 (2,7 cm/cây/ngày) và cao hơn so với giống đối chứng NK54 (3,6 cm/cây/ngày)
Bảng 4.3: Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây (cm/cây/ngày) qua các thời kỳ sinh
trưởng của các giống ngô lai vụ xuân hè, tại ĐăkPơ – Gia Lai, năm 2011
Giai đoạn 30 – 40 NSG: tốc độ tăng trưởng chiều cao cây tiếp tục tăng do cây ngô đã vào thời kỳ phân hóa cơ quan sinh sản Theo bảng 4.3, tất cả các giống thí nghiệm NK66, NK67, B9698, G49 và CPA88 đều có tốc độ tăng trưởng biến thiên trong khoảng 4,0 – 4,6 (cm/cây/ngày) thấp hơn so với giống đối chứng NK54 (5,0 cm/cây/ngày)
Giai đoạn 40 – 50 NSG: tốc độ tăng trưởng chiều cao cây tiếp tục tăng và đạt cao nhất do cây đã hoàn thành các cơ quan sinh sản và bước vào thời kỳ cuối giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng Từ kết quả bảng 4.3 thấy tốc độ tăng trưởng của giống NK67 (7,6 cm/cây/ngày) là cao nhất và khác biệt so với các giống NK67 và G49 (7,3 cm/cây/ngày), giống B9698 (6,8 cm/cây/ngày), CPA88 (6,3 3 cm/cây/ngày) và so với giống đối chứng NK54 (6,53 cm/cây/ngày)
Giai đoạn 50 – 60 NSG: tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của các giống ngô thí nghiệm giảm mạnh do cây đã trỗ cờ xong và đạt chiều cao ổn định Tốc độ tăng trưởng
Trang 39chiều cao cây của các giống NK66 (2,6 cm/cây/ngày), giống B9698 và giống CPA88 (2,5 cm/cây/ngày) cao nhất, cao hơn so với NK67 (2,0 cm/cây/ngày), giống G49 (2,1 cm/cây/ngày) và giống đối chứng NK54 (2,0 cm/cây/ngày)
Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của các giống ngô theo quy luật, giai đoạn đầu tăng chậm, sau đó tăng nhanh và đạt được đỉnh cao ở giai đoạn gần trỗ cờ, sau đó giảm mạnh và ngừng hẳn
4.3 Số lá/cây và tốc độ ra lá
4.3.1 Số lá/cây
Ở mọi cây trồng nói chung lá là bộ phận quan trọng để cây tổng hợp chất hữu
cơ nuôi cây trồng qua quá trình quang hợp Do vậy, ở cây ngô số lá là một yếu tố có ảnh hưởng đến năng suất sau này, số lá nhiều hay ít phụ thuộc vào bản chất di truyền của giống, điều kiện ngoại cảnh và chăm sóc Số lá trên cây nhiều, lá không bị sâu bệnh phá hại sẽ làm tăng hiệu suất quang hợp tạo tiền đề cho việc tăng năng suất ngô
Số lá tăng dần qua các thời kỳ sinh trưởng của cây ngô
Kết quả thí nghiệm về số lá/cây của các giống ngô được trình bày ở bảng 4.4
Bảng 4.4: Số lá (lá/cây) qua các thời kỳ sinh trưởng của các giống ngô lai vụ xuân hè,
tại ĐăkPơ – Gia Lai, năm 2011
Trang 40Theo kết quả bảng 4.4 cho thấy:
Số lá của các giống ngô tăng dần và ổn định vào 60 NSG
Giai đoạn 20 NSG: số lá trên cây của các giống dao động từ 4,0 – 4,5 (lá/cây), giống G49 đạt (4,5 lá/cây) cao hơn so với các giống NK66 (4,2 lá/cây), giống B9698 (4,0 lá/cây), giống CPA88 (4,0 lá/cây) và đối chứng NK54 (4,1 lá/cây), sự khác biệt này rất có ý nghĩa về mặt thống kê; nhưng không có sự khác biệt về mặt thống kê so với giống NK67 (4,3 lá/cây)
Giai đoạn 30 NSG: giai đoạn này số lá bắt đầu tăng nhanh vì trong thời kỳ này cây ngô đã được cung cấp lượng phân bón Giai đoạn này số lá cũng như bộ rễ bắt đầu phát triển mạnh về số lượng, số lá tăng tất yếu chất dinh dưỡng được tích lũy cũng tăng thông qua quá trình quang hợp Số lá/cây của các giống tăng dao động trong khoảng 7,0 – 7,6 lá/cây Số lá của các giống B9698 (7,0 lá/cây), giống CPA88 (7,0 lá/cây) thấp nhất và khác biệt rất có ý nghĩa thống kê so với giống NK67 (7,5 lá/cây), giống G49 (7,5 lá/cây) và giống đối chứng NK54 (7,6 lá/cây), nhưng không khác biệt
về mặt thống kê so với giống NK66 (7,3 lá/cây) Giống NK67, G49 có số lá/cây cao nhất và sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê so với giống đối chứng NK54 (7,6 lá/cây)
Giai đoạn 40 NSG: số lá/cây tiếp tục tăng mạnh, dao động trong khoảng 10,1 – 11,6 (lá/cây) Giống G49 (11,5 lá/cây) có số lá nhiều tương đương so với đối chứng NK54 (11,6 lá/cây) và hơn các giống NK66 (10,6 lá/cây), NK67 (11,3 lá/cây), B9698
và CPA88 (10,1 lá/cây), sự khác biệt này rất có ý nghĩa về mặt thống kê
Giai đoạn 50 NSG: số lá/cây vẫn tiếp tục tăng, nhưng có sự khác biệt rất có ý nghĩa thống kê, dao động trong khoảng 14,8 – 15,7 lá/cây Số lá của giống NK67 (15,7 lá/cây) và giống G49 (15,8 lá/cây) là nhiều nhất, khác biệt rất có ý nghĩa thống kê so với các giống NK66 (15,3 lá/cây), giống B9698 (14,8 lá/cây) và giống CPA88 (14,8 lá/cây), nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê so với giống đối chứng NK54 (15,7 lá/cây)
Giai đoạn 60 NSG: đây là giai đoạn số lá trên cây của các giống tương đối đồng đều, và cây ngô đã trong thời kỳ trổ cờ hoàn toàn do đó số lá trên cây cũng là cố định Giai đoạn này có thể xác định được số lá từng giống, số lá trên cây của các giống dao động trong khoảng 18,6 – 19,7 lá/cây Theo kết quả xử lý thống kê, số lá trên cây